Xuất phát từ cách giải quyết đúng đắn vấn đề cơ bản của triết học, Mác đã xem xét hoạt động nhận thức trên cơ sở hoạt động thực tiễn, nên đã đưa ra được những quan điểm đúng đắn về hàng
Trang 1MỤC LỤC
A LỜI MỞ ĐẦU
Trang 2
3
I MỐI QUAN HỆ GIỮA LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1 Thực tiễn là gì?
2 Lý luận là gì?
Trang 5
3 Mối quan hệ giữa lý luận và thực tiễn
Trang 7
a Vai trò của thực tiễn đối với nhận thức
b Sự tác động trở lại của nhận thức đối với thực
c Ý nghĩa phương pháp luận của mối quan hệ giữa lý luận và thực tiễn
Trang 9
II SỰ VẬN DỤNG QUAN HỆ GIỮA LÝ LUẬN VÀ
THỰC TIỄN TRONG SỰ NGHIỆP CÁCH MẠNG Ở
1 Lý luận Mác-Lênin và các lý luận khoa học khác trong
tư tưởng Hồ Chí Minh
2 Sự vận dụng lý luận Mác-Lênin (mối quan hệ giữa thực tiễn và lý luận) trong sự nghiệp cách mạng ở
nước ta nói chung và công cuộc đổi mới hiện nay Trang 11
a Sự vận dụng mối quan hệ giữa thực tiễn và lý luận trong sự nghiệp cách mạng ở nước ta vào thời kỳ (1930-1975)
b Sự vận dụng mối quan hệ giữa thực tiễn và lý luận trong sự nghiệp cách mạng ở nước ta từ năm
Trang 2C KẾT LUẬN
Trang 16
Trang 3LỜI MỞ ĐẦU
Lý luận nhận thức hay còn gọi là nhận thức luận được hình thành ngay từ khi triết học mới ra đời Nó nghiên cứu bản chất của nhận thức, những tính qui luật, những hình thức, những giai đoạn, trình độ của nhận thức cũng như con đường đi đến chân lý v.v Vấn đề này đã được rất nhiều quan điểm triết học đề cập, phân tích trên cơ sở thế giới quan khác nhau
Đó cũng là vấn đề căn bản của triết học Mác-Lênin Sự ra đời của chủ nghĩa Mác-Lênin đã thật sự là cuộc cách mạng làm cho triết học thay đổi cả về vai trò, vị trí, chức năng Đồng thời cũng mang lại một quan niệm đúng đắn, khoa học về thực tiễn và vai trò của nó đối với nhận thức cũng như sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người
Xuất phát từ cách giải quyết đúng đắn vấn đề cơ bản của triết học, Mác đã xem xét hoạt động nhận thức trên cơ sở hoạt động thực tiễn, nên đã đưa ra được những quan điểm đúng đắn về hàng loạt vấn đề phức tạp, nan giải của nhận thức, hình thành nên lý luận nhận thức thật sự khoa học, một bộ phận quan trọng và không thể thiếu được của triết học mácxít
Đối với Mác, Ăngghen và Lênin, nghiên cứu triết học không phải là mục đích tự thân mà là nhằm giải quyết những nhiệm vụ thực tiễn của nhân loại Tư tưởng cao cả này được thực hiện trong triết học thông qua việc nghiên cứu kinh nghiệm thực tiễn chung và kinh nghiệm tinh thần chung của nhân loại Các ông không những trực tiếp tham gia vào hoạt động thực tiễn cách mạng của giai cấp vô sản mà còn dựa trên thực tiễn xã hội để khái quát, phát triển thành lý luận cách mạng Nhờ đó làm cho lý luận gắn bó chặt chẽ với thực tiễn, trở thành vũ khí nhận thức và cải tạo thế giới Với việc đưa phạm trù thực tiễn vào lý luận của mình, Mác và Ăngghen đã thực hiện một bước chuyển biến cách mạng trong lý luận nói chung và trong lý luận nhận thức nói riêng
Vậy thực tiễn là gì? lý luận là gì? mối quan hệ giữa lý luận và thực tiễn như thế nào? Đảng và Nhà nước ta đã vận dụng mối quan hệ đó trong sự nghiệp cách mạng ở nước ta ra sao? Trong khuôn khổ bài tiểu luận này, em sẽ phân tích và làm rõ vấn đề trên
Trang 4NỘI DUNG
I MỐI QUAN HỆ GIỮA LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN : 1.THỰC TIỄN LÀ GÌ?
Các trào lưu triết học trước đây (kể cả triết học duy vật của Phơbách) xem xét nhận thức tách rời hoạt động thực tiễn của con người C.Mác đã chỉ rõ nhược điểm căn bản này của chủ nghiã duy vật và gọi chủ nghĩa duy vật của Phơbách là chủ nghĩa duy vật “trực quan”
Chủ nghĩa duy tâm đã đề cập, nói đúng ra là, cảm thấy vai trò tích cực sáng tạo của con người, nhưng lại chỉ giới hạn tính tích cực sáng tạo đó trong lĩnh vực tinh thần Theo Hêghen, nhà duy tâm khách quan, thực tiễn là “hoạt động có ý chí của tư tưởng” Những nhà duy tâm chủ quan thì lại cho rằng hoạt động thực tiễn bị chế định bởi ý chí, bản năng hoặc những nhân tố tiềm thức Thí dụ, Đơgiêmxê coi thực tiễn là những kinh nghiệm tôn giáo, tức là những hoạt động tinh thần đặc biệt Một số đại biểu của chủ nghĩa xét lại cũng coi thực tiễn là những hoạt động tự ý thức Tóm lại, sai lầm căn bản của quan niệm duy tâm về thực tiễn là ở chỗ tuyệt đối hóa yếu tố tinh thần, tư tưởng của nó, chỉ hiểu thực tiễn như là hoạt động tinh thần, hoạt động lý luận và như vậy, thực chất là họ đã gạt bỏ vai trò của thực tiễn
Theo C.Mác, quan hệ đầu tiên, khởi nguyên của con người đối với thế giới xung quanh là quan hệ thực tiễn Ông viết: “Con người hoàn toàn không bắt đầu từ chỗ họ đứng ở quan hệ lý luận với các đối tượng của thế giới bên ngoài mà là tác động một cách tích cực ”(C.Mác-Ph.Ăngghen-Toàn tập, t.19, tr 377) C.Mác đã khẳng định rằng con người không ngừng tác động vào thế giới xung quanh, mọi hoạt động của con người, xét đến cùng, đều dựa trên cơ sở sự trao đổi chất và trao đổi năng lượng với giới tự nhiên Sự khác biệt căn bản giữa con người với tất cả các thực thể tự nhiên khác là ở chỗ con người có khả năng nhận thức các quá trình của thế giới khách quan và không ngừng tác động bằng thực tiễn vào thế giới, biến đổi, cải tạo thế giới đó theo những nhu cầu của mình Tất nhiên sự tác động vào thế giới bên ngoài cũng đòi hỏi hoạt động tích cực của nhận thức Nhận thức là một hoạt động đặc trưng của con người, nhưng sự xuất hiện và
Trang 5bản chất của nó chỉ có thể được hiểu một cách đúng đắn trong mối quan hệ của nó với hoạt động thực tiễn Nói cách khác, nhận thức nảy sinh, tác động và phát triển như là một điều kiện cần thiết cho hoạt động thực tiễn của con người
Vì vậy, Lênin viết: “Quan điểm về đời sống, về thực tiễn phải là quan điểm thứ nhất và cơ bản của lý luận về nhận thức”(V.I.Lênin-Toàn tập, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva,
1980, t.18, tr.167)
Vậy, thực tiễn là gì?
Thực tiễn là những hoạt động vật chất cảm tính có mục đích, có tính lịch sử-xã hội của con người, nhằm cải tạo tự nhiên và xã hội Thực tiễn tạo thành cơ sở chung
nhất và là động lực của sự phát triển của xã hội loài người và của nhận thức
Thực tiễn không phải bao gồm toàn bộ hoạt động của con người mà chỉ là những hoạt động vật chất (để phân biệt với hoạt động tinh thần, hoạt động lý luận) hay nói theo thuật ngữ của Mác là hoạt động cảm tính của con người Trong hoạt động thực tiễn, con người phải sử dụng các phương tiện, công cụ vật chất, sức mạnh vật chất của mình tác động vào thiên nhiên, xã hội để cải tạo, làm biến đổi chúng phù hợp với nhu cầu của mình Bằng hoạt động thực tiễn, con người làm biến đổi bản thân sự vật trong hiện thực, từ đó làm cơ sở để biến đổi hình ảnh của sự vật trong nhận thức
Ví dụ: từ thời xa xưa, con người đã có mơ ước được bay lên bầu trời như loài chim Xuất phát từ mong muốn đó, khinh khí cầu và tiếp sau đó máy bay đã ra đời đáp ứng nhu cầu của con người trong việc đi lại
Do đó, hoạt động thực tiễn là hoạt động có tính năng động, sáng tạo, là hoạt động đối tượng hóa, là quá trình chuyển hóa cái tinh thần thành cái vật chất Hoạt động thực tiễn là quá trình tương tác giữa chủ thể và khách thể Trong đo,ï chủ thể hướng vào việc cải tạo khách thể, trên cơ sở đó nhận thức khách thể Vì vậy, thực tiễn trở thành khâu trung gian nối liền ý thức con người với thế giới bên ngoài
Thực tiễn mang tính lịch sử-xã hội bởi vì nó thay đổi qua các giai đoạn lịch sử và chỉ được tiến hành trong các quan hệ xã hội
Hoạt động thực tiễn là hoạt động bản chất của con người, là hoạt động đặc trưng cho con người Nếu động
Trang 6vật chỉ hoạt động theo bản năng, nhằm thích nghi một cách thụ động với thế giới bên ngoài, thì con người nhờ vào thực tiễn như là hoạt động có ý thức, có mục đích của mình mà cải tạo thế giới để thỏa mãn nhu cầu của mình, thích nghi một cách chủ động, tích cực với thế giới và để làm chủ thế giới Con người không thể thỏa mãn với những
gì mà tự nhiên cung cấp cho mình dưới dạng có sẵn Con người phải biết chế tạo và sử dụng công cụ lao động để sản xuất ra của cải vật chất nuôi sống mình Bằng hoạt động thực tiễn, trước hết là lao động sản xuất, con người tạo nên vật phẩm vốn không có sẵn trong tự nhiên Không có hoạt động đó, con người và xã hội loài người không thể tồn tại và phát triển được Vì vậy, có thể nói rằng, thực tiễn là phương thức tồn tại cơ bản của con người và xã hội, là phương thức đầu tiên và chủ yếu của mối quan hệ giữa con người với thế giới
Thực tiễn có kết cấu phức tạp, bao gồm nhiều yếu tố và nhiều dạng hoạt động Bất kỳ quá trình hoạt động thực tiễn nào cũng có những yếu tố như nhu cầu, lợi ích, mục đích, phương tiện và kết quả Các yếu tố đó có liên hệ với nhau, qui định lẫn nhau và nếu thiếu chúng thì hoạt động thực tiễn không thể diễn ra được
Thực tiễn gồm những dạng cơ bản và không cơ bản Dạng cơ bản đầu tiên của thực tiễn là lao động sản xuất tạo ra của cải vật chất Đây là dạng hoạt động thực tiễn nguyên thủy nhất và cơ bản nhất vì nó quyết định sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người và quyết định các dạng khác nhau của hoạt động thực tiễn; nó tạo thành cơ sở của tất cả các hình thức khác của hoạt động sống của con người, giúp con người thoát khỏi giới hạn tồn tại của động vật
Một dạng cơ bản khác của thực tiễn là hoạt động chính trị-xã hội nhằm cải tạo, biến đổi xã hội, phát triển các quan hệ xã hội, chế độ xã hội Ngoài ra, với sự ra đời và phát triển của khoa học, một dạng cơ bản khác của thực tiễn cũng xuất hiện, đó là hoạt động thực nghiệm khoa học Dạng hoạt động thực tiễn này ngày càng trở nên quan trọng do sự phát triển mạnh mẽ của cuộc cách mạng khoa học-kỹ thuật hiện đại
Trên cơ sở những dạng cơ bản, những dạng không cơ bản được hình thành Đó là các hoạt động trong một số lĩnh vực như đạo đức, nghệ thuật, giáo dục, tôn giáo Sở
dĩ gọi là “không cơ bản” không phải vì những dạng này kém
Trang 7quan trọng, mà chỉ vì chúng được hình thành và phát triển từ những dạng cơ bản, chúng là dạng thực tiễn phái sinh
Qua đó, chúng ta thấy được vai trò quan trọng của thực tiễn: Thực tiễn là cơ sở, động lực và là mục đích của nhận thức, tiêu chuẩn của chân lý Thực tiễn đề ra nhu cầu, nhiệm vụ và phương hướng phát triển của nhận thức Nhu cầu thực tiễn đòi hỏi phải có tri thức mới, phải tổng kết kinh nghiệm, khái quát lý luận Do đó nó thúc đẩy sự ra đời và phát triển của của các ngành khoa học Vì vậy Mác viết: “ Thực tiễn, nhất là thực tiễn của lao động sản xuất đã thúc đẩy khoa học phát triển nhanh hơn mười trường học”
2.LÝ LUẬN LÀ GÌ?
Để có thể biến đổi sự vật, cải tạo thế giới khách quan, con người phải hiểu biết sự vật, phải có những tri thức về thế giới Tri thức không có sẵn trong con người, không được đem lại cho con người dưới dạng “bẩm sinh” Muốn có tri thức, con người phải tiến hành một loạt hoạt động đặc biệt - hoạt động nhận thức Chính thông qua hoạt động nhận thức mà con người có tri thức Nhưng, những tri thức mà con người thu nhận trong quá trình nhận thức là gì? Chúng có quan hệ như thế nào với sự vật, hiện tượng, quá trình của thế giới khách quan? Trong lịch sử triết học đã diễn ra tranh luận gay gắt giữa các nhà triết học duy vật và duy tâm xoay quanh vấn đề này
Trong thời cổ đại, nhà triết học Đêmôcrit coi nhận thức như là sự phản ánh, là sự tri giác những hình ảnh đã tách khỏi sự vật
Nhà triết học duy tâm Platôn coi nhận thức chỉ là sự hồi tưởng của linh hồn về những điều mà nó đã thấy và đã trải qua khi còn ở thế giới bên kia - vương quốc của những tư tưởng đẹp và cái đẹp thuần túy Họ cho rằng, nhận thức chỉ là một quá trình sản sinh ra tư tưởng từ trong chiều sâu ý thức của chủ thể, là quá trình tự sinh của tri thức
Tiếp thu tất cả những yếu tố hợp lý và tích cực mà các trào lưu triết học trước đó, C.Mác và Ph.Ăngghen đã giải thích một cách biện chứng nhận thức như là một quá trình phản ánh tích cực, sáng tạo thế giới khách quan của con người Các ông đã quán triệt những nguyên tắc căn bản của thế giới quan duy vật biện chứng trong lý luận nhận
Trang 8thức Thế giới không phải là cái gì khác ngoài vật chất vận động và phát triển Không phải ý thức con người sản sinh ra thế giới vật chất như các nhà duy tâm quan niệm, mà ngược lại, vật chất tồn tại độc lập với con người Vì vậy, nhận thức là sự phản áính hiện thực khách quan vào bộ óc của con người Sự phản ánh đó không phải là một hành động nhất thời, máy móc, giản đơn và thụ động mà là một quá trình phức tạp của hoạt động trí tuệ tích cực và sáng tạo Lênin viết: “Ý thức con người không phải chỉ phản ánh thế giới khách quan, mà còn tạo ra thế giới khách quan”.(V.I.Lênin: Toàn tập, Nxb Tiến bộ, Matxcơva,
1981, t.29, tr.228) Tính chất sáng tạo trong hoạt động phản ánh của con người để thể hiện qua nhiều khía cạnh, nhiều mức độ; không chỉ tái hiện nguyên xi mà tiến hành phân tích, tổng hợp để từ những nguyên liệu có sẵn trong thực tại khách quan hình dung, tưởng tượng ra những cái chưa có, nhưng cần có cho con người; không phải chỉ phản ánh cái bề ngoài, những mối liên hệ đơn nhất, ngẫu nhiên mà cả cái bên trong, những mối liên hệ phổ biến mang tính quy luật Đây là sự phản ánh riêng của con người khác hẳn hành vi phản ánh của động vật
Sự phát triển của nhận thức loài người tất yếu dẫn
đến sự xuất hiện của lý luận Lý luận là sản phẩm của
sự phát triển cao của nhận thức,là hệ thống những tri thức được khái quát từ thực tiễn, là sự tổng kết những kinh nghiệm của loài người, là sự tổng hợp giữa những tri thức tự nhiên và xã hội được tích lũy trong quá trình lịch sử.
Nhờ lý luận mang tính trừu tượng và khái quát cao mà nó đem lại sự hiểu biết sâu sắc về bản chất, tính tất nhiên, tính quy luật của các sự vật, hiện tượng khách quan Bởi vậy, theo Mác, nhiệm vụ của nhận thức lý luận là :” đem qui sự vận động bề ngoài chỉ biểu hiện trong hiện tượng về sự vận động bên trong thực sự ”(C.Mác và Ph.Ăngghen toàn tập, tập 25, ph.I, tr.343)
Vậy lý luận tác động như thế nào đối với thực tiễn và thực tiễn có vai trò gì đối với lý luận, chúng ta hãy cùng xem xét
3 MỐI QUAN HỆ GIỮA LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN :
Giữa lý luận và thực tiễn có mối quan hệ biện chứng với nhau, tác động qua lại lẫn nhau, trong đó thực
Trang 9tiễn giữ vai trò quyết định Lênin nhận xét rằng:” Thực tiễn cao hơn nhận thức(lý luận) vì nó có ưu điểm không những của tính phổ biến mà cả của tính hiện thực trực tiếp.”( V.I.Lênin: Toàn tập, tập 29, Nxb Tiến bộ Matxcơva
1981, tr 230)
a.Vai trò của thực tiễn đối với nhận thức :
Vai trò của thực tiễn được biểu hiện trước hết ở chỗ thực tiễn là cơ sở và động lực của nhận thức Trong hoạt động thực tiễn, con người làm biến đổi thế giới khách quan, bắt các sự vật, hiện tượng của thế giới khách quan phải bộc lộ những thuộc tính và tính qui luật của chúng Những tri thức mà chúng ta có được cho đến hôm nay xét đến cùng hoặc trực tiếp, hoặc gián tiếp đều nảy sinh từ hoạt động thực tiễn Loài người đã nhờ hoạt động thực tiễn mà có được những hiểu biết, thể hiện trong nền văn hóa mà chúng ta đang thừa hưởng; nhưng cũng chính từ thực tiễn hiện nay và mai sau mà chúng ta sẽ lại thu nhận và làm phong phú thêm mình bằng những trí thức mới Thực tiễn đã, đang và sẽ mãi mãi là ngọc nguồn bất tận của mọi hiểu biết của con người Là một hoạt động lịch sử mang tính chủ động, tự giác, công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội của chúng ta không thể thiếu được lý luận khoa học Mác - Lênin với tính cách là kim chỉ nam cho hoạt động thực tiễn Nhưng chúng ta đừng bao giờ coi lý luận Mác - Lênin như một thứ giáo điều trong đó đã có sẵn lời giải đáp cho mọi vấn đề của thời đại chúng
ta Trên cơ sở những định hướng cơ bản chủ yếu mang tính chất thế giới quan và phương pháp luận của lý luận Mác -Lênin, chúng ta còn phải đi vào tổ chức hoạt động thực tiễn, từ diễn biến và những kết quả cụ thể trong thực tiễn mà làm sáng tỏ, thậm chí khám phá thêm nhiều vấn đề, tìm ra những phương pháp và cách thức cụ thể để giải quyết những vấn đề do chính cuộc sống hôm nay đặt ra
Chính trong quá trình cải tạo, biến đổi thế giới khách quan, con người cũng biến đổi luôn cả bản thân mình Quá trình hoạt động sản xuất vật chất và hoạt động cách mạng xã hội cũng đồng thời là quá trình phát triển và hoàn thiện những năng lực bên trong của con người, phát huy năng lực trí tuệ của con người
Trang 10Ph.Ăngghen viết: “Từ trước tới nay, khoa học tự nhiên cũng như triết học cũng đã hoàn toàn coi thường ảnh hưởng của hoạt động con người đối với tư duy của họ Hai môn ấy một mặt chỉ biết có tự nhiên, mặt khác chỉ biết có tư tưởng Nhưng chính việc người ta biến đổi tự nhiên là cơ sở chủ yếu nhất và trực tiếp nhất của tư duy con người, và trí tuệ con người đã phát triển song song với việc người ta đã học cải biến tự nhiên” (Ph.Ăngghen: Biện chứng của tự nhiện Nxb Sự thật, Hà Nội, 1971, tr.357)
Sau đến, thực tiễn còn là mục đích của nhận thức Nhưng tri thức khoa học chỉ có ý nghĩa thực tiễn khi nó được vận dụng vào thực tiễn Mục đích cuối cùng của nhận thức không phải là bản thân các tri thức mà là nhằm cải tạo hiện thực khách quan, đáp ứng những nhu cầu vật chất và tinh thần của xã hội Thực tiễn nêu ra những vấn đề cho nhận thức hướng tới để giải đáp, đồng thời cũng tạo ra những phương tiện cần thiết cho việc nghiên cứu, đem lại những tài liệu, dữ kiện để tổng kết, khái quát thành tri thức lý luận Nhận thức, lý luận sau khi ra đời phải quay về phục vụ thực tiễn, hướng dẫn, chỉ đạo thực tiễn, phải biến thành hành động của quần chúng Lý luận, khoa học chỉ có ý nghĩa khi chúng được vận dụng vào tực tiễn, cải tạo thực tiễn, phục vụ mục tiêu phát triển nói chung
Và cuối cùng, thực tiễn là tiêu chuẩn của chân lý Mác viết: “Vấn đề tìm hiểu xem tư duy của con người có thể đạt tới chân lý khách quan không, hoàn toàn không phải là một vấn đề lý luận mà là một vấn đề thực tiễn Chính từ trong thực tiễn mà con người phải chứng minh chân lý.” (C.Mác và Ph.Ăngghen-Toàn tập, tập 3, Nxb Sự thật Hà Nội 1986) Nghĩa là chỉ có lấy thực tiễn kiểm nghiệm mới xác nhận được tri thức đạt được là đúng hay sai, là chân lý hay sai lầm Thực tiễn sẽ chứng minh chân lý, bác bỏ sai lầm Chẳng hạn ông Galilê khẳng định: “Trái đất là một hình cầu”, đây là chân lý khách quan vì nó phản ánh sự kiện có thực, khách quan, không phụ thuộc vào ý thức con người Sau này, khoa học đã chứng minh bằng việc chụp ảnh từ vệ tinh nhân tạo Vậy là từ hoạt động thực tiễn mà chân lý được sáng tỏ
b Sự tác động trở lại của nhận thức đối với thực tiễn: