Bài tiểu luận sau với đề tài: Mối quan hệ Việt Nam ASEAN về vấn đề bảo vệ biển Đông trong giai đoạn từ năm 2010 đến nay là kết quả tìm hiểu về các đường lối, chính sách của Đảng Việt Nam về bảo vệ chủ quyền biển đảo, cũng như những quy định của tổ chức ASEAN về chủ quyền biển đảo của các quốc gia thành viên; nhấn mạnh về sự phù hợp của đường lối của Việt Nam về vấn đề này qua hai kì ĐẠI HỘI ĐẠI BIỂU TOÀN QUỐC LẦN THỨ XI VÀ LẦN THỨ XII với DOC và COC. Qua đó bài tiểu luận có mục tiêu giúp người đọc hiểu rõ hơn về chủ trương bảo vệ chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ dân tộc, nâng cao ý thức chủ quyền biển đảo không chỉ với đất nước mà còn đặt trong mối quan hệ với các nước thành viên ASEAN.
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
-********** -TIỂU LUẬN MÔN ĐƯỜNG LỐI CÁC MẠNG CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN
VIỆT NAM
MỐI QUAN HỆ VIỆT NAM-ASEAN VỀ VẤN ĐỀ BIỂN ĐÔNG TRONG
GIAI ĐOẠN 2010-NAY
(SỰ PHÙ HỢP GIỮA ĐƯỜNG LỐI BẢO VỆ CHỦ QUYỀN BIỂN ĐẢO CỦA
VIỆT NAM VỚI DOC VÀ COC)
Nhóm: Nhóm 9
Lớp tín chỉ: TRI106(1-1718).6_LT
Giảng viên hướng dẫn: Tiến sĩ Nguyễn Thu Hải
Hà Nội, tháng 11 năm 2017
Trang 2MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 3 PHẦN NỘI DUNG 4
CHƯƠNG I:ASEAN VÀ VIỆT NAM VỚI TƯ CÁCH LÀ THÀNH VIÊN CỦA ASEAN .4
I HIỆP HỘI CÁC NƯỚC ĐÔNG NAM Á ASEAN 4
II VIỆT NAM VỚI TƯ CÁCH LÀ THÀNH VIÊN CỦA ASEAN 4
CHƯƠNG II: ĐƯỜNG LỐI BẢO VỆ CHỦ QUYỀN BIỂN ĐÔNG CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2010-NAY 6
I ĐƯỜNG LỐI BẢO VỆ CHỦ QUYỀN BIỂN ĐÔNG CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2010-2015 6
II ĐƯỜNG LỐI BẢO VỆ CHỦ QUYỀN BIỂN ĐÔNG CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2015-NAY 8
CHƯƠNG III: DOC, COC VÀ MỐI LIÊN HỆ ĐẾN ĐƯỜNG LỐI BẢO VỆ CHỦ QUYỀN BIỂN ĐÔNG CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM 11
I TUYÊN BỐ VỀ ỨNG XỬ CỦA CÁC BÊN Ở BIỂN ĐÔNG (DOC) 11
II BỘ QUY TẮC ỨNG XỬ Ở BIỂN ĐÔNG (COC) 12 III SỰ PHÙ HỢP CỦA DOC VÀ COC ĐỐI VỚI ĐƯỜNG LỐI BẢO VỆ CHỦ QUYỀN BIỂN ĐÔNG CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM 13 PHẦN KẾT LUẬN 15 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 16
Trang 3PHẦN MỞ ĐẦU
Trong quá trình đổi mới và hội nhập, Việt Nam luôn thực hiện phát triển đất nước trên mọi mặt kinh tế, văn hóa, chính trị, khoa học kĩ thuật,… đồng thời nỗ lực bắt kịp xu hướng phát triển với các quốc gia trong khu vực cũng như trên thế giới Cho đến nay, qua quá trình từng bước đi lên của đất nước, Đảng và toàn dân đều nhận thấy việc hội nhập là bước đi quan trọng và đúng đắn trong đường lối phát triển Trong đó phải kể đến việc gia nhập Hiệp hội các nước Đông Nam Á ASEAN Tuy nhiên trong bối cảnh hội nhập toàn cầu hóa hiện nay, đi đôi với việc phát triển kinh tế, văn hóa, KHKT,… vẫn là nhiệm vụ xây dựng xã hội chủ nghĩa ngày càng tốt đẹp và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam, hòa nhập chứ không hòa tan Đó luôn là hai nhiệm vụ chiến lược của cách mạng nước ta Đặc biệt, trong bối cảnh tình hình tranh chấp trên biển Đông ngày càng gay gắt, bảo vệ vững chắc chủ quyền biển đảo Việt Nam là trách nhiệm thiêng liêng không chỉ đối với lịch sử dân tộc, mà còn là nhân tố quan trọng đảm bảo cho đất nước phát triển bền vững Những quan điểm tư tưởng cơ bản về bảo vệ chủ quyền biển, đảo Việt Nam trong tình hình mới được thể hiện trong các nghị quyết của Đảng, tập trung chủ yếu ở Chiến lược bảo vệ Tổ quốc và Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020
Bài tiểu luận sau với đề tài: Mối quan hệ Việt Nam- ASEAN về vấn đề bảo vệ biển Đông trong giai đoạn từ năm 2010 đến nay là kết quả tìm hiểu về các đường lối,
chính sách của Đảng Việt Nam về bảo vệ chủ quyền biển đảo, cũng như những quy định của tổ chức ASEAN về chủ quyền biển đảo của các quốc gia thành viên; nhấn mạnh về
sự phù hợp của đường lối của Việt Nam về vấn đề này qua hai kì ĐẠI HỘI ĐẠI BIỂU TOÀN QUỐC LẦN THỨ XI VÀ LẦN THỨ XII với DOC và COC Qua đó bài tiểu luận
có mục tiêu giúp người đọc hiểu rõ hơn về chủ trương bảo vệ chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ dân tộc, nâng cao ý thức chủ quyền biển đảo không chỉ với đất nước mà còn đặt trong mối quan hệ với các nước thành viên ASEAN
Trang 4PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG I: ASEAN VÀ VIỆT NAM VỚI TƯ CÁCH LÀ THÀNH VIÊN CỦA ASEAN
I HIỆP HỘI CÁC NƯỚC ĐÔNG NAM Á ASEAN
1 Sự hình thành hiệp hội các nước Đông Nam Á ASEAN
Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) là một liên minh chính trị, kinh tế, văn hóa và xã hội của các nước trong khu vực Đông Nam Á Tổ chức này được thành lập ngày 8/8/1967 sau cuộc họp của Bộ trưởng Bộ ngoại giao các nước Thái Lan, Indonesia, Malaysia, Singapore và Philippines tại Bangkok (Thái Lan), để biểu hiện tinh thần đoàn kết giữa các nước, đồng thời hợp tác chống tình trạng bạo động và bất ổn tại những nước thành viên Đến nay, sau hơn 50 năm phát triển, ASEAN đã thành công trong việc hiện thực hóa ý tưởng thành lập một hiệp hội bao gồm tất cả các quốc gia trong khu vực Đông Nam Á (10 nước thành viên và một quan sát viên-Đông Timo)
2 Mục tiêu và nguyên tắc hoạt động chính của ASEAN
Tuyên bố Bangkok (Tuyên bố của Hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao ASEAN -8/8/1967) – được coi là Tuyên bố khai sinh ra ASEAN - nêu rõ tôn chỉ và mục đích của Hiệp hội là:
“Thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế, tiến bộ xã hội và phát triển văn hóa trong khu vực thông qua các nỗ lực chung trên tinh thần bình đẳng và hợp tác nhằm tăng cường cơ sở cho một cộng đồng các nước Đông Nam Á hòa bình và thịnh vượng.”
Với mục tiêu hoạt động trên, hiến chương ASEAN đã khẳng định 13 nguyên tắc cơ
bản của ASEAN như sau: Tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, bình đẳng, bản sắc dân tộc; không xâm lược hoặc đe dọa sử dụng vũ lực; giải quyết hòa bình các tranh chấp; không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau…, bên cạnh đó là các nguyên tắc mới về: Tăng cường tham vấn về những vấn đề có ảnh hưởng nghiêm trọng đến lợi ích chung của ASEAN; không tham gia vào bất kỳ hoạt động nào nhằm sử dụng lãnh thổ của một nước thành viên đe dọa đến chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và ổn định kinh tế của các nước thành viên khác…
II VIỆT NAM VỚI TƯ CÁCH LÀ THÀNH VIÊN CỦA ASEAN
Ngày 28/7/1995, Việt Nam chính thức trở thành thành viên thứ 7 của Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) Sau những bước khởi đầu chập chững tại một "sân chơi" mới, Việt Nam đã ngày càng trưởng thành và thể hiện vai trò thành viên quan trọng trong đại gia đình ASEAN Gần một nửa chặng đường trong suốt chiều dài 50 năm hình thành và phát triển của ASEAN đã ghi lại nhiều dấu ấn Việt Nam với những đóng góp tích cực, góp phần tăng cường đoàn kết và liên kết ASEAN, mở rộng quan hệ đối ngoại
và nâng cao vai trò, vị thế quốc tế của ASEAN, cùng ASEAN vượt qua những giai đoạn
Trang 5thăng trầm, qua đó góp phần không nhỏ vào những thành công ASEAN có được ngày nay
Đối với Việt Nam, việc gia nhập ASEAN cách đây hơn 2 thập kỷ là một trong những điểm đột phá đầu tiên để triển khai phương châm đối ngoại đa phương hóa, đa dạng hóa mà Đại hội Đảng lần thứ VII đã đề ra Quyết sách đúng đắn của Đảng và Nhà nước đã đem lại nhiều lợi ích cho đất nước trong bối cảnh lúc bấy giờ, khi Việt Nam đang tiến hành công cuộc đổi mới, khắc phục hậu quả chiến tranh để hướng tới hội nhập khu vực và quốc tế Gia nhập ASEAN, Việt Nam đã góp phần biến đổi môi trường khu vực từ trạng thái đối đầu, nghi kỵ lẫn nhau sang bắt tay hợp tác Việc mở rộng thị trường, tăng thêm đối tác cũng giúp Việt Nam phát triển về kinh tế, tranh thủ sự giúp đỡ, đầu tư của các đối tác nước ngoài và nâng cao vị thế của Việt Nam trong khu vực cũng như trên trường quốc tế…Để đạt được những thành tựu trên, Việt Nam có sự chuẩn bị để hội nhập sâu rộng với nền kinh tế thế giới ở các sân chơi lớn, như tham gia Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), là thành viên đàm phán Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP), đàm phán Hiệp định Thương mại tự do với Liên minh châu Âu (EU); thúc đẩy thương mại, đầu tư và tiếp cận thị trường tiềm năng thông qua Khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA), Hiệp định Đối tác kinh tế toàn diện khu vực (RCEP)…
Tuy không phải là thành viên sáng lập, nhưng từ khi gia nhập tổ chức khu vực này, Việt Nam đã ngày càng trưởng thành, chủ động tham gia và đóng góp tích cực vào các hoạt động chung của ASEAN với tinh thần trách nhiệm, được các nước đánh giá cao Việt Nam đã cùng các nước tích cực thúc đẩy việc hoàn thành ý tưởng về một ASEAN bao gồm tất cả 10 quốc gia Đông Nam Á (ASEAN 10), mở ra một chương mới cho khu vực và tạo nền tảng thiết yếu cho ASEAN trở thành một tổ chức khu vực toàn diện, liên kết sâu rộng, có vai trò quan trọng ở Đông Nam Á và Đông Á như ngày nay Cũng trong hơn 20 năm qua, Việt Nam đã cùng các thành viên khác của ASEAN vượt qua những khác biệt và tồn tại do lịch sử để lại, đoàn kết đẩy mạnh hợp tác toàn diện và cùng chung tay xây dựng một khu vực hòa bình, ổn định và thịnh vượng ở Đông Nam Á
Trong bối cảnh ASEAN thời gian gần đây đứng trước nhiều khó khăn, thách thức liên quan đến sự cạnh tranh của các nước lớn, sự khác biệt trong nhận thức, lợi ích và ứng
xử, Việt Nam đã nỗ lực củng cố đoàn kết, thống nhất vai trò của ASEAN trong các vấn
đề khu vực, trong xử lý những thách thức an ninh truyền thống và phi truyền thống, cũng như những vấn đề nảy sinh trong quan hệ với các đối tác; đồng thời thúc đẩy hợp tác thực tiễn trong các cơ chế, diễn đàn khu vực quan trọng do ASEAN khởi xướng và dẫn dắt như EAS, ADMM+…Đặc biệt là đối với vấn đề Biển Đông, Việt Nam tiếp tục chủ động trao đổi và phối hợp với các nước nhằm tạo dựng đồng thuận trong ASEAN và giữa ASEAN và đối tác về vai trò của ASEAN và lợi ích chung của tất cả các nước nhằm duy trì hòa bình, ổn định, an ninh, an toàn hàng hải và hàng không ở Biển Đông; thúc đẩy đưa vấn đề Biển Đông vào văn kiện các hội nghị, diễn đàn ASEAN với những nội dung tích cực; nhấn mạnh thực hiện đầy đủ và hiệu quả Tuyên bố của các bên về ứng xử tại Biển Đông (DOC) và sớm hoàn tất Bộ quy tắc ứng xử tại Biển Đông (COC)
Trang 6CHƯƠNG II: ĐƯỜNG LỐI BẢO VỆ CHỦ QUYỀN BIỂN ĐÔNG CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2010-NAY
I ĐƯỜNG LỐI BẢO VỆ CHỦ QUYỀN BIỂN ĐÔNG CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2010-2015
1) Hoàn cảnh lịch sử:
Những năm 2010-2015 đánh dấu thời điểm Trung Quốc đẩy mạnh cuộc tranh chấp Biển Đông ở cường độ cao
Ngày 7/5/2009, lần đầu tiên Trung Quốc chính thức hóa yêu sách đường lưỡi bò chiếm hơn 80% diện tích Biển Đông mà không có cơ sở pháp lý nào
Năm 2011, căng thẳng dâng lên khi các tranh chấp giữa Trung Quốc với Việt Nam
và Philippines nổ ra Ngày 26/5/2011, 3 tàu hải giám của Trung Quốc xâm nhập lãnh hải của Việt Nam, phá hoại thiết bị và cản trở tàu khảo sát địa chấn Bình Minh 02 của Tập đoàn Dầu khí quốc gia Việt Nam đang hoạt động tại vùng biển miền Trung chỉ cách mũi Đại Lãnh của tỉnh Phú Yên 120 hải lý Ngày 9/6/2011, 2 tuần sau vụ tàu Bình Minh 02, một tàu thăm dò dầu khí khác của Việt Nam thuê lại tiếp tục bị tàu Trung Quốc phá hoại thiết bị
Tháng 5/2014, Trung Quốc đưa giàn khoan HD-981 vào khu vực Biển Đông vào ngày1/5/2014, đồng thời tàu thuyền của Việt Nam cũng nhiều lần xảy ra va chạm với tàu quân sự của Trung Quốc
Đối với Bắc Kinh, Biển Đông là trọng điểm của chiến lược xây dựng Trung Quốc thành “cường quốc biển”, Biển Đông như “đường huyết mạch” đối với chiến lược hải dương của Trung Quốc, không có Biển Đông, chủ trương chính trị hải dương của Trung Quốc hầu như không tồn tại Nhưng cũng chính sự leo thang tranh chấp của Trung Quốc tại Biển Đông đã thúc đẩy các nước lớn khác tái can dự vào vùng biển này Cụ thể, sau
20 năm Mỹ đã trở lại Philippines để thông qua các chương trình hợp tác quốc phòng, trong đó có việc tăng sự hiện diện của quân đội Mỹ tại Philipines Các nước lớn liên quan khác như Nga, Nhật Bản, Ấn Độ cũng tích cực can dự, góp phần hình thành nên cục diện cân bằng quyền lực đa dạng hóa tại Biển Đông
Biển Đông giờ đã thành nơi “ngọa hổ tàng long” Biển Đông từ vấn đề của quan hệ song phương đã trở thành vấn đề khu vực với sự tham gia của ASEAN và từ năm 2010 trở thành vấn đề quốc tế Nó liên quan chủ quyền biển đảo, luật pháp quốc tế, kinh tế và
an ninh hàng hải quốc tế Đây là một trong các cuộc tranh chấp chủ quyền biển đảo phức tạp nhất trên thế giới, không chỉ liên quan đến nhiều nước ven bờ Biển Đông, mà còn liên quan đến lợi ích địa – chính trị của nhiều nước ở châu Á - Thái Bình Dương và hầu hết các nước lớn trên thế giới
Đối với ASEAN, sau hơn 10 năm thực hiện DOC, con đường để đạt tới COC vẫn đầy quanh co, khúc khuỷu tuy nhận được sự ủng hộ của nhiều cộng đồng trên thế giới
Trang 7Những giải pháp mới được thực hiện và giải quyết vẫn đang còn rất nhiều tranh cãi Nói tóm lại, vấn đề Biển Đông tạo ra nhiều phức tạp trong quan hệ Việt - Trung, cũng như sự phức tạp trong mối quan hệ quốc tế chưa từng có trong tiền lệ trong lịch sử bang giao giữa các nước
2) Nội dung đường lối
Nghị quyết Đại hội lần thứ XI của Đảng xác định: “Mục tiêu, nhiệm vụ quốc phòng,
an ninh là bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ; giữ vững chủ quyền biển, đảo, biên giới, vùng trời; bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ
xã hội chủ nghĩa…” Đồng thời, Đảng ta chủ trương: “Phát triển mạnh kinh tế biển tương xứng với vị thế và tiềm năng biển của nước ta, gắn phát triển kinh tế biển với bảo đảm quốc phòng, an ninh, bảo vệ chủ quyền vùng biển Đẩy nhanh tốc độ đô thị hóa, tạo thành các trung tâm kinh tế biển mạnh, tạo thế tiến ra biển, gắn với phát triển đa dạng các ngành dịch vụ, nhất là các ngành có giá trị gia tăng cao như dịch vụ xuất, nhập khẩu, du lịch, dịch vụ nghề cá, dịch vụ dầu khí, vận tải… Phát triển kinh tế đảo phù hợp với vị trí, tiềm năng và lợi thế của từng đảo” Quan điểm, chủ trương của Đảng về phát
huy lợi thế kết hợp bảo vệ chủ quyền biển, đảo Việt Nam không chỉ thể hiện sự phát triển năng lực tư duy lãnh đạo của Đảng đối với nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình mới, mà còn là ý chí, nguyện vọng của nhân dân Việt Nam trước bối cảnh quốc tế phức tạp như hiện nay
Bảo vệ chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ đặt ra nhiệm vụ cấp bách không ngừng củng cố, tăng cường sức mạnh quốc gia, xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân trên biển Trong đó, xây dựng thế trận lòng dân, đảm bảo bảo vệ vững chắc chủ quyền biển, đảo thiêng liêng của Tổ quốc là vấn đề chiến lược, mang tính cấp bách, then chốt Vì vậy,
để phát huy lợi thế kết hợp với bảo vệ chủ quyền biển, đảo Việt Nam trước mắt và lâu
dài, cần tập trung thực hiện tốt rất nhiều vấn đề, trong đó bao gồm “Kiên trì đối thoại tìm kiếm giải pháp hoà bình, tham gia xây dựng Bộ Quy tắc ứng xử trên Biển Đông, kết hợp chặt chẽ các hình thức, biện pháp chính trị, ngoại giao, pháp lý, kinh tế, quốc phòng trong quản lý vùng trời, bảo vệ biển, đảo.”
Quán triệt đường lối, chủ trương của Đảng và Nhà nước, công tác dân sự hóa trên các vùng biển, đảo, nhất là ở những vùng biển, đảo chiến lược đã được đẩy mạnh, tác động tích cực đến sự phát triển kinh tế - xã hội, tạo điều kiện thuận lợi để củng cố và xây dựng thế trận lòng dân trên biển
Kết hợp chặt chẽ hơn nữa giữa phát triển kinh tế - xã hội với tăng cường quốc phòng - an ninh ở các khu vực ven biển, trên biển và các đảo, tuân thủ các yêu cầu đặt ra trong kế hoạch tổng thể của khu vực phòng thủ địa phương, phải mang tính hệ thống, bảo đảm sự liên kết chặt chẽ giữa biển, đảo với đất liền; kết hợp chặt chẽ giữa thế trận “tĩnh” của đảo và bờ với thế “động” của lực lượng tác chiến cơ động trên biển tạo nên thế trận liên hoàn, vững chắc Trang bị kỹ thuật phục vụ cho mục đích kinh tế - xã hội phải phù hợp với hệ thống trang bị kỹ thuật quốc phòng - an ninh trong hệ thống các cụm lực lượng trên biển, thực hiện kiểm soát, giám sát, báo động, chi viện, hỗ trợ nhau trong đấu tranh phòng chống các hoạt động xâm phạm chủ quyền, lợi ích quốc gia Các cơ sở hậu
Trang 8cần, kỹ thuật kinh tế - xã hội ven bờ, trên biển và trên các đảo phải sẵn sàng huy động cho nhiệm vụ quốc phòng, ưu tiên xây dựng các đảo tiền tiêu xa bờ có công sự kiên cố, trang bị hoả lực mạnh, có khả năng tác chiến dài ngày Quá trình thiết kế, xây dựng hạ tầng cơ sở trên biển, đảo phải mang tính lưỡng dụng cao, không chỉ bền vững trước tác động của môi trường biển mà còn phải bền vững khi chuyển sang phục vụ mục đích quốc phòng - an ninh
Xây dựng lực lượng kiểm ngư đủ mạnh để bảo vệ việc khai thác, đánh bắt hải sản của ngư dân trên biển, sẵn sàng thực hiện nhiệm vụ cứu hộ, cứu nạn trên biển; đồng thời kiểm tra, giám sát, phát hiện, ngăn chặn các hành động khai thác hải sản trái phép của nước ngoài trên vùng biển của Việt Nam Các địa phương ven biển, huyện đảo phải có lực lượng dân quân tự vệ vừa tham gia sản xuất, khai thác hải sản, vừa làm nhiệm vụ giữ gìn an ninh trật tự trên biển, kịp thời phát hiện, đấu tranh ngăn chặn các hành động xâm phạm lợi ích, chủ quyền quốc gia
II ĐƯỜNG LỐI BẢO VỆ CHỦ QUYỀN BIỂN ĐÔNG CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2015-NAY
1) Hoàn cảnh lịch sử
Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam (khóa XI) trình Đại hội XII của Đảng chỉ rõ: Vấn đề đáng lo ngại nhất hiện nay là những nhân
tố gây mất ổn định, xâm phạm chủ quyền, an ninh vùng biển, đảo Việt Nam vẫn đang diễn ra gay gắt; nguy cơ xung đột vũ trang, tranh chấp trên biển, đảo và thềm lục địa của nước ta chưa được loại trừ; còn tồn tại những vấn đề xâm phạm chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam, đe dọa trực tiếp đến hòa bình, ổn định, an ninh,
an toàn hàng hải ở Biển Đông
Ngay từ tháng 1/2015, Trung Quốc đã bắt đầu quá trình bồi đắp, tôn tạo các công trình tại biển Đông một cách trái phép bằng việc xây dựng đường băng trên đá Chữ Thập (Công trình này được hoàn thành vào tháng 9/2015 với độ dài 3km và có đủ điều kiện để bất kỳ loại máy bay quân sự nào cũng có thể hoạt động)
Ngày 2/1/2016: Trung Quốc bất chấp sự phản đối của dư luận quốc tế và các nước, tuyên bố tiến hành các hoạt động bay thử ra đá Chữ Thập Bốn ngày sau đó, Trung Quốc tiếp tục thực hiện 2 chuyến bay ra đá Chữ Thập, từ đảo Hải Nam
Ngày 11/1/2016: Truyền thông Trung Quốc đưa tin nước này đã hoàn tất việc đóng chiếc tàu tuần duyên thứ hai có trọng tải lên tới 10.000 tấn để phục vụ cho các hoạt động tại Biển Đông Chiếc tàu mang số hiệu CCG3901 được trang bị pháo liên thanh 76 mm
và bãi đỗ cho máy bay trực thăng cỡ lớn
Ngày 13/2/2016: Bức ảnh chụp từ vệ tinhcho thấy Trung Quốc đang tiến hành các hoạt động nạo vét tại các đảo san hô (đảo Cây và đảo Bắc) thuộc nhóm đảo An Vĩnh thuộc quần đảo Hoàng Sa
Trang 9Ngày 17/2/2016: Đài Loan cho biết Trung Quốc đã lắp đặt hệ thống tên lửa đất đối không tại đảo Phú Lâm thuộc quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam
Trung Quốc đẩy mạnh các hoạt động tăng cường ảnh hưởng tại Biển Đông đã đe dọa đến an ninh và lợi ích của nhiều nước lớn như Ấn Độ, Nga, Nhật Bản, Hàn Quốc, Australia… và kể cả Mỹ Hiện nay, Biển Đông hiện nay đang là địa bàn đóng quân và hoạt động của các hạm đội hải quân của nhiều nước trong và ngoài khu vực Hơn nữa,với việc các văn bản pháp lý như Công ước Liên hợp quốc về luật biển 1982, Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông, tiến tới là Bộ Quy tắc ứng xử trên Biển Đông (COC)… hiện vẫn chưa đạt được sự thống và triển khai trên thực tế Cuộc tranh chấp Biển Đông đã trở thành “nguy cơ” số một gây bất ổn trong khu vực Tranh chấp Biển Đông đã trở thành một trong những cuộc tranh chấp phức tạp bậc nhất trên thế giới Sự phức tạp của tranh chấp Biển Đông đến từ các yêu sách phức tạp về chủ quyền của nhiều quốc gia đối với các khu vực chồng lấn, hơn thế nữa, nó không chỉ đơn thuần là tranh chấp về mặt luật pháp quốc tế về biên giới biển, lãnh thổ trên biển mà còn được đan xen với những lợi ích
về địa – chính trị, về kiểm soát con đường vận tải biển chiến lược, và về khai thác các nguồn tài nguyên biển, đặc biệt là dầu mỏ Thực tế cho thấy tranh chấp các đảo trong Biển Đông sẽ có tác động rất lớn đến việc phân định các đường biên giới biển của khu vực này trong tương lai, và cũng ảnh hưởng nghiêm trọng đến chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ cũng như quyền lợi trên biển của nhiều nước trong khu vực, trong đó có Việt Nam
2) Nội dung đường lối
Nghị quyết Đại hội XII của Đảng chỉ rõ: Mục tiêu, phương hướng, nhiệm vụ quốc
phòng, an ninh là: “Phát huy mạnh mẽ sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc, của cả hệ thống chính trị, tranh thủ tối đa sự đồng tình, ủng hộ của cộng đồng quốc tế, kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa; bảo vệ công cuộc đổi mới, sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, bảo vệ lợi ích quốc gia-dân tộc; bảo vệ nền văn hóa dân tộc; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định chính trị, an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội.” Như vậy, Đảng đã có sự đổi mới tư duy so với Nghị
quyết Đại hội XI, trong đó nhấn mạnh: Phát huy mạnh mẽ sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc, của cả hệ thống chính trị, tranh thủ tối đa sự đồng tình, ủng hộ của cộng đồng quốc tế, kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ XHCN
Để bảo vệ vững chắc chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc, cần kết hợp chặt chẽ các nhân tố cơ bản của sức mạnh quốc phòng gồm: Lực lượng, tiềm lực, thế trận quốc phòng gắn với lực lượng, thế trận an ninh nhân dân trên các vùng biển, đảo; xây dựng biên chế
tổ chức lực lượng phù hợp, bảo đảm chất lượng đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ, nâng cao tiềm lực, củng cố thế trận quốc phòng toàn dân gắn với lực lượng và thế trận an ninh trên các địa bàn chiến lược; chăm lo xây dựng “thế trận lòng dân”, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân, thực hiện “quân với dân một ý chí”; phát huy quyền làm chủ của nhân dân, đẩy
Trang 10mạnh phát triển kinh tế biển, cải thiện, nâng cao đời sống vật chất tinh thần của nhân dân, hạn chế tiêu cực, tạo sự đồng thuận xã hội Tận dụng mọi tiềm năng, thế mạnh của biển, đảo, động viên, thu hút mọi nguồn lực trong nước và ngoài nước để phát triển kinh tế, tăng cường quốc phòng, an ninh trên biển; vừa hợp tác vừa đấu tranh, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển kinh tế biển và bảo vệ vững chắc chủ quyền biển, đảo
Tính chất nhất quán của quốc phòng Việt Nam là: Tự vệ, chính nghĩa, quốc phòng hòa bình, dựa vào sức mạnh của cả hệ thống chính trị và của toàn dân, lực lượng vũ trang nhân dân làm nòng cốt, dưới sự lãnh đạo của Đảng Trong bối cảnh tình hình quốc tế và khu vực hiện nay đòi hỏi phải tập trung xây dựng các lực lượng: Hải quân, Phòng không
- Không quân, Pháo binh, Cảnh sát biển, Bộ đội Biên phòng, Dân quân tự vệ biển, Kiểm ngư, có số lượng hợp lý, chất lượng cao; trong đó, các binh chủng kỹ thuật chiến đấu cần được trang bị hiện đại, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao nhiệm vụ quản lý, bảo vệ chủ quyền biển, đảo, là chỗ dựa vững chắc cho các hoạt động phát triển kinh tế biển trong thời bình, đồng thời đáp ứng nhiệm vụ tác chiến trên biển trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc
Đảng ta đặc biệt nhấn mạnh tầm quan trọng của việc kết hợp chặt chẽ các hình thức, biện pháp chính trị, ngoại giao, pháp lý, kinh tế, quốc phòng, an ninh trong quản lý, bảo vệ chủ quyền biển, đảo
Để kết hợp đấu tranh hiệu quả, cần xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật biển, làm cơ sở cho việc xác lập chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán quốc gia; triển khai chặt chẽ việc phân vùng, bố trí dân cư ven biển với tổ chức các lực lượng bảo
vệ chủ quyền biển, đảo; ban hành chính sách khuyến khích mạnh mẽ nhân dân định cư, sinh sống ổn định lâu dài trên đảo và làm ăn trên biển dài ngày Các địa phương có biển, đảo cần có chủ trương, giải pháp, kế hoạch phù hợp, nhằm tăng cường nghĩa vụ, trách nhiệm của các doanh nghiệp và nhân dân trong quản lý, bảo vệ, khai thác các lợi ích từ biển
Trên cơ sở các văn bản pháp lý công bố rộng rãi trong nước và quốc tế, cần kiên trì đấu tranh ngoại giao, đàm phán với các nước láng giềng, các nước có tranh chấp thềm lục địa, vùng chồng lấn, phân chia vùng biển lịch sử và đảo; xây dựng vùng biển hòa bình, ổn định và hợp tác cùng phát triển
Nghị quyết Đại hội XII của Đảng cũng chỉ rõ: “Kết hợp chặt chẽ kinh tế, văn hoá,
xã hội với quốc phòng, an ninh và quốc phòng, an ninh với kinh tế, văn hoá, xã hội trong từng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội, chú trọng vùng sâu, vùng
xa, biên giới, biển, đảo.” Khắc phục triệt để những sơ hở, thiếu sót trong việc kết hợp kinh tế và quốc phòng, an ninh tại các địa bàn, nhất là địa bàn chiến lược.”
Làm tốt công tác tuyên truyền, nhằm tạo sự chuyển biến thực sự trong nhận thức của các cấp, ngành và trong nhân dân về vị trí, vai trò chiến lược của biển, đảo; làm cho