1. Trang chủ
  2. » Nông - Lâm - Ngư

Ảnh hưởng của bổ sung vôi và phân hữu cơ vi sinh đến năng suất và hiệu quả kinh tế của trồng dưa leo (Cucumis sativus l.) trên đất phèn tại huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang

7 30 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 368,48 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục tiêu của nghiên cứu là đánh giá ảnh hưởng của bổ sung vôi và phân hữu cơ vi sinh đến sinh trưởng, năng suất và hiệu quả kinh tế của dưa leo trồng trên đất phèn tại huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang. Thí nghiệm được bố trí theo khối hoàn toàn ngẫu nhiên gồm bốn nghiệm thức với đối chứng (công thức 1, được coi như nền thí nghiệm) là lượng bón hiện tại của nông dân, không bổ sung vôi và phân hữu cơ vi sinh.

Trang 1

ẢNH HƯỞNG CỦA BỔ SUNG VÔI VÀ PHÂN HỮU CƠ

VI SINH ĐẾN NĂNG SUẤT VÀ HIỆU QUẢ KINH TẾ CỦA TRỒNG DƯA LEO ( Cucumis sativus L.) TRÊN ĐẤT PHÈN TẠI HUYỆN VỊ THỦY, TỈNH HẬU GIANG

Trần Ngọc Hữu1, Nguyễn Hồng Huế1, Nguyễn Quốc Khương1, Lê Vĩnh Thúc1*, Tất Anh Thư1 và Võ Quang Minh2

TÓM TẮT

Mô hình trồng rau ăn trái đạt hiệu quả kinh tế cao trên nền đất lúa kém hiệu quả, nhưng do bón phân vô cơ liên tục dẫn đến giảm độ phì nhiêu đất và năng suất cây trồng Mục tiêu của nghiên cứu là đánh giá ảnh hưởng của bổ sung vôi và phân hữu cơ vi sinh đến sinh trưởng, năng suất và hiệu quả kinh tế của dưa leo trồng trên đất phèn tại huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang Thí nghiệm được bố trí theo khối hoàn toàn ngẫu nhiên gồm bốn nghiệm thức với đối chứng (công thức 1, được coi như nền thí nghiệm) là lượng bón hiện tại của nông dân, không bổ sung vôi và phân hữu cơ vi sinh Kết quả thí nghiệm cho thấy bón phân cho dưa leo với liều lượng 140N-100P2O5-90K2O (kg/ha) có bổ sung vôi (800 kg/ha) kết hợp với phân hữu cơ vi sinh (2.000 kg/ha) làm tăng chiều dài dây, số nhánh, đường kính gốc, chiều dài trái, số trái/dây và năng suất so với không bổ sung cả vôi và phân hữu cơ vi sinh, qua đó lợi nhuận thuần thu được cũng tăng lên 11,4%

Từ khóa: Dưa leo, đất phèn, phân hữu cơ vi sinh, vôi

1 ĐẶT VẤN ĐỀ 5

Dưa leo (Cucumis sativus L.) là cây rau quan

trọng thứ tư tại châu Á sau cà chua, bắp cải và củ

hành (Tatlioglu, 1997), quả dưa leo chứa

carbohydrate, protein, vitamins C, B1, B2 và nhiều

chất khoáng khác (Matlub et al., 1989) có lợi cho sức

khỏe con người Hiện nay, tại huyện Vị Thủy, tỉnh

Hậu Giang nông dân đang dần chuyển đổi sang mô

hình trồng rau, màu trên nền đất lúa kém hiệu quả,

đem lại thu nhập cao hơn (Nguyễn Duy Cần và ctv.,

2009) Để đạt năng suất cao trong canh tác nông

nghiệp, phân bón vô cơ được nông dân ưu tiên sử

dụng do có ưu điểm gọn, nhẹ dễ dàng sử dụng, hàm

lượng dinh dưỡng cao và tác động nhanh (Thy và

Buntha, 2005) Tuy nhiên, bón nhiều phân vô cơ làm

giảm độ pH, một số vi sinh vật có lợi dẫn đến giảm

độ phì đất đồng thời làm tăng sự rửa trôi, xói mòn,

đất nhanh chóng bị thoái hóa (Chen, 2006) Phân

hữu cơ giúp cho cây trồng hấp thu dinh dưỡng tốt

hơn và cải thiện đặc tính vật lý đất (El-Shakweer et

al., 1998) Bên cạnh đó, vôi cũng giúp cải thiện phức

hệ keo trong đất, làm giảm sự xói mòn, độ chua, các

1

Khoa Nông nghiệp, Trường Đại học Cần Thơ

2

Khoa Môi trường và Tài nguyên thiên nhiên, Trường Đại

học Cần Thơ

*Email: lvthuc@ctu.edu.vn

độc tố, tạo môi trường tốt cho cây khai thác nguồn khoáng chất hữu cơ và nước nhất là với các loại đất

có kết cấu cơ giới nặng như đất sét (Chen và Dick, 2011) Xuất phát từ lý do đó, đã tiến hành nghiên cứu này, với mục tiêu đánh giá ảnh hưởng của bổ sung vôi và phân hữu cơ vi sinh đến sinh trưởng, năng suất

và hiệu quả kinh tế của dưa leo trồng trên đất phèn tại huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang

2 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Vật liệu nghiên cứu

Giống dưa leo Hoa Sen VL-639 F1 có thời gian thu hoạch 32-55 ngày sau gieo, kháng bệnh mốc sương, trồng được quanh năm

Vôi bột sử dụng trong thí nghiệm là CaCO3 có ≥ 64,73% CaO Phân hữu cơ vi sinh thương mại được sử dụng có dạng bột chứa 23% hữu cơ, 1% N, 0,5% P2O5, 0,5% K2O, axit humic 3% và độ ẩm 25%

Thí nghiệm được thực hiện từ tháng 5 đến tháng

7 năm 2018 tại huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang 2.2 Phương pháp nghiên cứu

Bố trí thí nghiệm: Thí nghiệm được bố trí theo thể thức khối ngẫu nhiên đầy đủ với 4 nghiệm thức, 3 lần lặp lại, mỗi lặp lại là một lô có diện tích 500 m2 Các nghiệm thức thí nghiệm gồm: (i) bón phân theo nông dân (170N-110P2O5-120K2O), không có bổ sung

Trang 2

vôi và phân hữu cơ vi sinh; (ii) chỉ bón bổ sung vôi

800 kg/ha, (iii) chỉ bón bổ sung phân hữu cơ vi sinh

2.000 kg/ha và (iv) bón kết hợp vôi 800 kg/ha và

phân hữu cơ vi sinh 2.000 kg/ha Tất cả các nghiệm

thức (ii), (iii) và (iv) được bón cùng lượng phân N, P,

K (kg/ha) theo công thức 140N-100P2O5-90K2O

Phân tích đất: Mẫu đất đầu vụ thí nghiệm được

thu ở độ sâu 0-20 cm ở tại 5 điểm theo đường chéo

góc, trộn đều lại với nhau để lấy một mẫu đại diện

500 g Sử dụng khoảng 250 g để phơi khô mẫu trong

không khí rồi nghiền nhỏ qua rây 0,5 mm và 2,0 mm

cho phân tích các chỉ tiêu pH, EC, khả năng trao đổi

cation (CEC), chất hữu cơ (CHC), lân dễ tiêu (Pdt),

sa cấu Khoảng 250 g được trữ ở 4º0C để xác định mật

số vi khuẩn cố định đạm và vi khuẩn hòa tan lân

Phương pháp xác định các chỉ tiêu hóa lý trong

đất: Phân tích các đặc tính vật lý và hóa học đất theo

quy trình được Sparks et al (1996) tổng hợp và đề

xuất, cụ thể: pHH2O được trích tỷ lệ đất: nước (1:5), đo bằng pH kế Dung dịch trích pH bằng nước được sử dụng để đo EC bằng EC kế Lân dễ tiêu được xác định bằng phương pháp trích đất với 0,1 N HCl + 0,03

N NH4F, tỉ lệ đất: nước là 1:7, kết cấu đất xác định theo phương pháp ống hút Robinson Định lượng vi khuẩn được xác định theo phương pháp mật số tương đối trong đó với vi khuẩn cố định đạm, sử dụng môi trường Burk và vi khuẩn phân giải lân dùng môi trường NBRIP bổ sung 5% Ca3(PO4)2)

Kỹ thuật canh tác: Liếp được thiết kế cao cách mặt nước 0,5 m, ngang liếp 2,0 m, dài liếp 60 m Dưa leo được trồng với khoảng cách của cây cách cây 0,4

m, hàng cách hàng 1,6 m Thí nghiệm trên cây dưa leo được thực hiện đến 52 ngày sau gieo (NSG) Công thức phân hóa học được bón cho các nghiệm thức được trình bày ở bảng 1

Bảng 1 Tỷ lệ (%) lượng phân bón hóa học theo công thức phân bón (kg/ha) của các nghiệm thức

(i)

(ii), (iii) và (iv)

Ghi chú: HCVS: phân hữu cơ vi sinh, NSG: ngày sau gieo

Các chỉ tiêu theo dõi:

- Chiều dài dây (cm): đo từ mặt đất đến chóp lá

cao nhất tại thời điểm 35 NSG

- Chiều dài nhánh (cm): đo chiều dài tất cả các

nhánh và tính trung bình tại thời điểm 35 NSG

- Dài lóng thân (cm): đo 10 lóng thân ở giữa thân

chính và tính trung bình tại thời điểm 35 NSG

- Số nhánh (nhánh): đếm toàn bộ số nhánh trên

thân chính

- Dài lá, rộng lá (cm): đo chiều dài, chiều rộng lá

đã trưởng thành tính từ trên ngọn

- Đường kính gốc, thân, ngọn (mm): đo bằng thước kẹp chia vạch mm tại thời điểm 35 NSG

- Số lá/thân chính (lá): đếm trên cây tại thời điểm 35 NSG

Tất cả các chỉ tiêu trên được xác định 10 cây cho mỗi lặp lại

- Chiều dài trái (cm): đo từ cuống trái đến đầu trái tại thời điểm thu hoạch

- Chiều rộng trái (cm): đo ở vị trí giữa trái tại thời

Trang 3

điểm thu hoạch

- Số trái trên dây (trái): đếm tổng số trái trên dây

đến khi kết thúc thí nghiệm

- Khối lượng 10 trái (kg): cân khối lượng 10 trái

- Năng suất dưa leo: cân tổng khối lượng trái

thương phẩm (loại 1) trên 100 m2 và quy về năng suất

(tấn/ha)

- Phần trăm gia tăng năng suất (%): là tỷ số giữa

phần gia tăng hoặc giảm của các nghiệm thức so với

nghiệm thức nông dân

- Lợi nhuận thuần = Doanh thu – chi phí

Chi phí nguyên vật liệu (phân bón vô cơ, vôi,

phân hữu cơ vi sinh, thuốc bảo vệ thực vật), công lao

động, giá bán sản phẩm được tính theo thời giá năm

2018

2.3 Xử lý số liệu

Số liệu được xử lý bằng phần mềm Microsoft

Excel 2010 Sử dụng phần mềm SPSS 16.0 phân tích

phương sai, so sánh khác biệt trung bình giữa các nghiệm thức thí nghiệm

3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 3.1 Đặc tính đất thí nghiệm Giá trị pH đất đầu vụ khoảng 5,6 được đánh giá ở ngưỡng chua ít và hàm lượng lân dễ tiêu là 3,15 mg/kg ở mức thấp theo thang đánh giá của Horneck

et al (2011) Hàm lượng chất hữu cơ trong đất (%C)

là 4,74 là cao theo kết quả nghiên cứu của Hazelton

và Murphy (2016) khi đất có giá trị pH từ 5-6 sẽ có hàm lượng chất hữu cơ là 1,5-2,5% Khả năng trao đổi cation (CEC) được xác định là 20,42 cmol kg-1 ở mức trung bình (Metson, 1961) Thành phần sa cấu đất gồm sét, thịt, cát lần lượt là 62,7, 35,6 và 1,7% (Bảng 2) được phân loại là đất sét pha thịt, có khả năng giữ nước và chất dinh dưỡng thấp Mật số vi khuẩn cố định đạm khoảng 2,83 x 105 (CFU/g) và vi khuẩn hòa tan lân là 2,1 x 105 (CFU/g)

Bảng 2 Đặc tính hóa, lý và sinh học của đất đầu vụ thí nghiệm

Sa cấu (%)

pHH2O EC (mS cm-1) CEC (cmol

kg-1)

CHC (%C)

Pdt (mg

kg-1) Sét Thịt Cát

Vi khuẩn hòa tan lân (CFU g-1)

Vi khuẩn cố định đạm (CFU g-1)

Ghi chú: Pdt: lân dễ tiêu

3.2 Sinh trưởng cây dưa leo

Hình 1 Chiều dài dây dưa leo của bốn nghiệm thức

thí nghiệm

Ghi chú: những số có chữ đi kèm khác nhau thể

hiện sự khác biệt có ý nghĩa thống kê ở mức 5%

Kết quả thể hiện ở hình 1 cho thấy bổ sung vôi

kết hợp với phân hữu cơ vi sinh cho chiều dài dây cao

hơn có ý nghĩa thống kê ở mức 5% so với nghiệm

thức chỉ bón bổ sung vôi Giữa ba nghiệm thức bón

bổ sung vôi kết hợp với phân hữu cơ vi sinh, chỉ bón

bổ sung phân hữu cơ và nghiệm thức nông dân không bón bổ sung vôi và phân hữu cơ có chiều dài dây gần tương đương nhau, với các giá trị lần lượt là 216,7, 207,3 và 201,7 cm Điều này phù hợp với kết quả của Ghasem et al (2014) khi nghiên cứu bổ sung phân hữu cơ (phân bò) cho dưa leo

Về chỉ tiêu số lá, số liệu ở bảng 3 cho thấy số lá/thân chính giữa các nghiệm thức sai khác nhau có

ý nghĩa (mức xác suất 95%) trong đó, nghiệm thức bón vôi kết hợp với phân hữu cơ vi sinh có số lá/thân chính nhiều nhất (28,7 lá) và ít nhất là nghiệm thức chỉ bón bổ sung vôi (21,7 lá) Đối với chiều dài lóng thân, bốn nghiệm thức khác biệt nhau có ý nghĩa ở mức 1%, dao động trong khoảng từ 8,9 đến 10,1 cm Tuy nhiên, chỉ tiêu chiều dài nhánh giữa các nghiệm thức lại không khác biệt rõ rệt Riêng về chỉ tiêu số nhánh, sự khác biệt giữa nghiệm thức bón bổ sung phân hữu cơ vi sinh, bổ sung vôi kết hợp phân hữu cơ

vi sinh và nông dân nằm trong phạm vi sai số trong lúc nghiệm thức bón vôi kết hợp phân hữu cơ chênh

Trang 4

nhau có ý nghĩa ở mức 5% Kết quả này cũng phù hợp

với nghiên cứu trên cây dưa leo của Trần Thị Thiêm

và ctv (2019): khi giảm lượng phân hóa học 25% và

bón thay thế bằng phân trùn quế giúp tăng chiều dài dây dưa leo và số lá dưa leo trồng tại Hòa Bình, Hà Nội, Hưng Yên và Hà Nam

Bảng 3 Chiều dài dây, số lá/thân chính, dài lóng, dài nhánh và số nhánh dưa leo

(lá)

Dài lóng thân (cm)

Dài nhánh (cm)

Số nhánh (nhánh)

Ghi chú: Các giá trị có chữ số đi kèm khác nhau trong cùng một cột biểu thị sự sai khác có ý nghĩa ở các mức khác nhau; *: khác biệt ở mức ý nghĩa 5%, **: khác biệt ở mức ý nghĩa 1%, ns: khác biệt không có ý nghĩa thống kê

Chiều dài lá, chiều rộng lá và đường kính gốc

dưa leo giữa bốn nghiệm thức khác biệt ý nghĩa ở

mức 5% Nghiệm thức bón bổ sung vôi và phân hữu

cơ vi sinh có chiều dài lá 8,5 cm, chiều rộng lá 7,3 cm

và đường kính gốc là 12,3 mm lớn hơn nghiệm thức

chỉ bổ sung vôi (Bảng 4) Đường kính thân và đường

kính ngọn dưa leo giữa các nghiệm thức khác biệt không có ý nghĩa thống kê Đường kính thân đạt từ 4,7 mm (nghiệm thức chỉ bón bổ sung vôi) đến 5,7

mm (nghiệm thức bón bổ sung vôi và phân hữu cơ vi sinh) Đường kính ngọn giữa các nghiệm thức dao động trong khoảng từ 2,7 mm đến 3,7 mm (Bảng 4)

Bảng 4 Chiều dài lá, rộng lá, đường kính gốc, đường kính thân và đường kính ngọn dưa leo

(cm)

Rộng lá (cm)

Đường kính gốc (mm)

Đường kính thân (mm)

Đường kính ngọn (mm)

Ghi chú: Các giá trị có chữ số đi kèm khác nhau trong cùng một cột biểu thị sự sai khác có ý nghĩa ở các mức khác nhau; *: khác biệt ở mức ý nghĩa 5%, ns: khác biệt không có ý nghĩa thống kê

3.3 Các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất

dưa leo

3.3.1 Thành phần năng suất dưa leo

Kết quả ở bảng 5 cho thấy chiều dài trái dưa leo

ở nghiệm thức bón bổ sung vôi kết hợp với phân hữu

cơ vi sinh và nghiệm thức bón bổ sung phân hữu cơ

vi sinh đạt 14,6-15,1 cm cao khác biệt ý nghĩa ở mức

5% so với nghiệm thức chỉ bổ sung vôi (12,9 cm) Tuy

nhiên, sự khác biệt về chiều dài trái giữa nghiệm

thức bón bổ sung vôi kết hợp với phân hữu cơ vi sinh,

nghiệm thức bón bổ sung phân hữu cơ vi sinh và

nghiệm thức bón phân theo nông dân không có sự

sai khác rõ rệt Tương tự, chiều rộng trái giữa các nghiệm thức cũng gần như xấp xỉ nhau, dao động trong khoảng 3,8 đến 4,2 cm Nghiệm thức bón bổ sung vôi kết hợp với phân hữu cơ vi sinh cho số trái/dây cao nhất (15,7 trái/dây) khác biệt ở mức 1%

so với nghiệm thức bón phân theo nông dân (12,3 trái/dây) và nghiệm thức chỉ bón bổ sung vôi (10,6 trái/dây) Một nghiên cứu ở Ai Cập cho thấy, việc áp dụng phân hữu cơ trên dưa leo làm tăng khác biệt về chiều dài trái, đường kính trái và khả năng đậu trái so với không bổ sung phân hữu cơ (Aly, 2002)

Trang 5

Bảng 5 Các yếu tố cấu thành năng suất dưa leo Nghiệm thức Dài trái (cm) Rộng trái (cm) Số trái/dây (trái) Khối lượng

10 trái (kg)

Ghi chú: Các giá trị có chữ số đi kèm khác nhau trong cùng một cột biểu thị sự sai khác có ý nghĩa ở các mức khác nhau; *: khác biệt ở mức ý nghĩa 5%, **: khác biệt ở mức ý nghĩa 1%, ns: khác biệt không có ý nghĩa thống kê

3.3.2 Năng suất và phần trăm gia tăng năng suất

dưa leo

Kết quả ở hình 2 cho thấy năng suất dưa leo giữa

bốn nghiệm thức khác biệt có ý nghĩa ở mức 1%

trong đó, nghiệm thức bón bổ sung vôi kết hợp với

phân hữu cơ vi sinh cho năng suất dưa leo cao nhất

(19,0 tấn/ha) nhưng chưa có sự khác biệt có ý nghĩa

so với nghiệm thức chỉ bón bổ sung phân hữu cơ vi

sinh và nghiệm thức bón theo nông dân, với năng

suất lần lượt là 18,0 tấn/ha và 17,8 tấn/ha Nghiệm

thức chỉ bón bổ sung vôi có năng suất dưa leo thấp

nhất (16,5 tấn/ha), thấp hơn cả nghiệm thức đối

chứng nông dân do lượng phân N, P, K sử dụng ít,

chưa đáp ứng đủ nhu cầu dưỡng chất cho dưa leo Do

đất thí nghiệm có pH ở ngưỡng chua ít (Bảng 2) nên

hiệu quả bón vôi trong việc cải thiện pH đất không rõ

ràng Chính vì vậy mà năng suất giữa nghiệm thức

bón vôi kết hợp phân hữu cơ vi sinh không khác biệt

có ý nghĩa so với chỉ bón phân hữu cơ vi sinh Theo

Alimi et al (2007), phân hữu cơ cung cấp những

nguyên tố dinh dưỡng cần thiết, làm tăng sinh trưởng

và năng suất cây trồng, tùy thuộc vào mức bón và đặc

tính giống Trong nghiên cứu này, nghiệm thức bón

bổ sung kết hợp vôi và phân hữu cơ vi sinh cho phần

trăm gia tăng năng suất cao nhất (6,7%) so với

nghiệm thức bón phân của nông dân Tiếp theo là

nghiệm thức chỉ bón bổ sung phân hữu cơ với phần

trăm gia tăng năng suất so với nghiệm thức nông dân

là 1,1% Riêng nghiệm thức chỉ bón bổ sung vôi cho

năng suất thấp hơn nghiệm thức nông dân do lượng

phân vô cơ ít hơn

Hình 2 Năng suất và phần trăm gia tăng năng suất

dưa leo so với nông dân

3.4 Hiệu quả kinh tế của dưa leo ở các chế độ bón phân khác nhau

Thí nghiệm bón bổ sung vôi kết hợp với phân hữu cơ vi sinh cho thấy tăng chi phí đầu tư vôi và phân hữu cơ nhưng giúp tăng năng suất, dẫn đến đạt lợi nhuận cao hơn Lợi nhuận thuần của nghiệm thức bón bổ sung vôi kết hợp với phân hữu cơ vi sinh là 34.374.243 đồng/ha và đạt tỷ lệ lợi nhuận thuần cao hơn (11,4%) so với nghiệm thức bón phân theo nông dân (Bảng 6)

Trang 6

Bảng 6 Hiệu quả kinh tế của dưa leo trồng trên đất phèn có bổ sung vôi và phân hữu cơ vi sinh

tại Vị Thủy - Hậu Giang

Thông số Đơn vị và phân hữu cơ vi sinh Bón bổ sung vôi Bón phân theo nông dân

Khác biệt về năng suất

Khác biệt về tiền phân, thuốc

Khác biệt về lợi nhuận thuần

Ghi chú: Giá bán: 7.500đ/kg, NVL: nguyên vật liệu

4 KẾT LUẬN

Trên nền phân bón 140N-100P2O5-90K2O

(kg/ha), bổ sung vôi (800 kg/ha) kết hợp với phân

hữu cơ vi sinh (2.000 kg/ha) cho cây dưa leo trồng

tại huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang có tác dụng làm

tăng chiều dài dây, số lá/thân chính, chiều dài lóng

thân, số nhánh, chiều dài lá, chiều rộng lá, đường

kính gốc so với chỉ bón bổ sung vôi

Bón bổ sung vôi kết hợp với phân hữu cơ vi sinh

cũng làm tăng số trái/dây và năng suất (tấn/ha) so

với chế độ bón của nông dân (không bón bổ sung vôi

và phân hữu cơ vi sinh) và chỉ bón bổ sung vôi

Bón bổ sung vôi kết hợp với phân hữu cơ vi sinh

làm tăng lợi nhuận thuần 11,4% so với bón phân theo

nông dân cho dưa leo 170N-110P2O5-120 K2O

(kg/ha)

LỜI CẢM ƠN

Nhóm tác giả xin chân thành cảm ơn Sở Khoa

học và Công nghệ tỉnh Hậu Giang đã hỗ trợ kinh phí

nghiên cứu thông qua đề tài “Đánh giá thực trạng và

đề xuất giải pháp quản lý, sử dụng bền vững đất

nông nghiệp tỉnh Hậu Giang” thời gian thực hiện từ

tháng 8/2017 đến tháng 8/2020

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Alimi, T., Ajewole, O C., Olubode-Awosola,

O O., & Idowu, E O (2007) Organic and inorganic

fertilizer for vegetable production under tropical

conditions Journal of Agricultural and Rural

Development, 1, 120-136

2 Aly H H (2002) Studies on keeping quality and storageability of cucumber fruits under organic farming system in plastic-housess M.Sc Thesis, Hort Department Cairo University Egypt

3 Chen L., & Dick W A (2011) Gypsum as an agricultural amendment: General use guidelines The Ohio State University Extension, Columbus

4 Chen, J H (2006) The combined use of chemical and organic fertilizers and/or biofertilizer for crop growth and soil fertility Proceedings of International Workshop on Sustained Management

of the Soil-Rhizosphere System for Efficient Crop Production and Fertilizer Use Retrieved from http://www.agnet.org/htmlarea_file/library/201108 08103954/tb174.pdf

5 El‐Shakweer, M H A., El‐Sayad, E A., & Ewees, M S A (1998) Soil and plant analysis as a guide for interpretation of the improvement efficiency of organic conditioners added to different soils in Egypt Communications in Soil Science and Plant Analysis, 29(11-14), 2067-2088

6 Ghasem S., Morteza, A S., & Maryam, T (2014) Effect of organic fertilizers on cucumber (Cucumis sativus) yield International Journal of Agriculture and Crop Sciences (IJACS), 7(11),

808-814

7 Hazelton P., & Murphy B (2016) Interpreting soil test results: What do all the numbers mean? CSIRO publishing

Trang 7

8 Horneck, D A., Sullivan, D M., Owen, J S.,

& Hart, J M (2011) Soil test interpretation guide

EC 1478 Corvallis, OR: Oregon State University

Extension Service Pp:1-12

9 Matlub A N., Ez-Aldeen S M & Kream S A

(1989) Production of vegetables 2nd part 2nd

printing Dar AL-Kutub broad of printing Mosul

University Ministry of Higher Education and

Scientific Research Iraq

10 Nguyễn Duy Cần, Trần Hữu Phúc và Nguyễn

Văn Khang (2009) Đánh giá hiệu quả kinh tế của các

mô hình canh tác trên vùng đất lúa vùng ngọt hóa Gò

Công-Tiền Giang Tạp chí Khoa học Trường Đại học

Cần Thơ, 346-355

11 Thy, S., & Buntha, P (2005) Evaluation of

fertilizer of fresh solid manure, composted manure

or biodigester effluent for growing Chinese cabbage

(Brassica pekinensis) Livestock Research for Rural

Development Vol 17, Art #26 Retrieved June 8,

http://www.lrrd.org/lrrd17/3/sant17026.htm

12 Sparks, D L., Page, A L., Helmke, P A., & Loeppert, R H (1996) Methods of soil analysis Part

3 Chemical methods Book series, No 5 Soil Science Society of America, Wisconsin

13 O'Brien, T A., & Barker, A V (1996) Growth of Peppermint in Compost, Journal of Herbs, Spices & Medicinal Plants, 4:1, 19-27, DOI: 10.1300/J044v04n01_04

14 Tatlioglu T (1997) Cucumber (Cucumis sativus L.) In: Kailov, G and Bo Bergn, (Eds.) Genetic improvement of vegetable crops Oxford Pergamon Press pp 197-227

15 Trần Thị Thiêm, Phạm Văn Cường, Trần Thị Minh Hằng, Bùi Ngọc Tấn, Hà Thị Quỳnh (2019) Ảnh hưởng của liều lượng phân hữu cơ vi sinh bón thay thế phân vô cơ đến sinh trưởng và năng suất cà chua và dưa chuột Tạp chí Khoa học Nông nghiệp Việt Nam 2019, 17(11): 901-908

EFFECTS OF LIME AND MICROBIAL ORGANIC FERTILIZERS ADDITIONALLY APPLIED

ON YIELD AND BENEFIT EARNED FROM PRODUCTION OF CUCUMBER (Cucumis sativus

L.) CULTIVATED ON ACID SULFATE SOIL IN VI THUY DISTRICT, HAU GIANG PROVINCE

Tran Ngoc Huu, Nguyen Hong Hue, Nguyen Quoc Khuong, Le Vinh Thuc,

Tat Anh Thu, Vo Quang Minh Summary

Fruit vegetables cultivated in lowly benifited paddy production areas produced profitable efficiency but made the soil degraded resulted from over used continuous application of inorganic fertilizers The objective of this study was to evaluate the effects of supplementation of lime and microbial organic fertilizers on the growth, yield and economic efficiency of cucumber (Cucumis sativus L.) planted on acid sulfate soil in Vi Thuy district, Hau Giang province The experiment of four treatments was arranged in a randomized complete block design (RCBD) with three replicates, in which the control (Treatment 1) was regarded as farmers' application (neither lime nor microbial organic fertilizer was added) Results conducted from the study showed that the application of 140N-100P2O5-90K2O (kg/ha) supplemented with

800 kg/ha of lime and 2,000 kg/ha of microbial organic fertilizer for cucumber increased length and number of branch, stem diameter, fruit length and diameter, number of fruit per stem that result in significantly increasing fruit yield of fruit (6.74% higher) and income earned (11.4% higher) compared to farmers' fertilizer practice

Keywords: Acid sulfate soil, cucumber, lime, microbial organic fertilizer

Người phản biện: GS.TS Vũ Mạnh Hải

Ngày nhận bài: 02/6/2020

Ngày thông qua phản biện: 02/7/2020

Ngày duyệt đăng: 9/7/2020

Ngày đăng: 30/06/2021, 09:37

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm