Mục tiêu của nghiên cứu là đánh giá ảnh hưởng của bổ sung vôi và phân hữu cơ vi sinh đến sinh trưởng, năng suất và hiệu quả kinh tế của dưa leo trồng trên đất phèn tại huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang. Thí nghiệm được bố trí theo khối hoàn toàn ngẫu nhiên gồm bốn nghiệm thức với đối chứng (công thức 1, được coi như nền thí nghiệm) là lượng bón hiện tại của nông dân, không bổ sung vôi và phân hữu cơ vi sinh.
Trang 1ẢNH HƯỞNG CỦA BỔ SUNG VÔI VÀ PHÂN HỮU CƠ
VI SINH ĐẾN NĂNG SUẤT VÀ HIỆU QUẢ KINH TẾ CỦA TRỒNG DƯA LEO ( Cucumis sativus L.) TRÊN ĐẤT PHÈN TẠI HUYỆN VỊ THỦY, TỈNH HẬU GIANG
Trần Ngọc Hữu1, Nguyễn Hồng Huế1, Nguyễn Quốc Khương1, Lê Vĩnh Thúc1*, Tất Anh Thư1 và Võ Quang Minh2
TÓM TẮT
Mô hình trồng rau ăn trái đạt hiệu quả kinh tế cao trên nền đất lúa kém hiệu quả, nhưng do bón phân vô cơ liên tục dẫn đến giảm độ phì nhiêu đất và năng suất cây trồng Mục tiêu của nghiên cứu là đánh giá ảnh hưởng của bổ sung vôi và phân hữu cơ vi sinh đến sinh trưởng, năng suất và hiệu quả kinh tế của dưa leo trồng trên đất phèn tại huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang Thí nghiệm được bố trí theo khối hoàn toàn ngẫu nhiên gồm bốn nghiệm thức với đối chứng (công thức 1, được coi như nền thí nghiệm) là lượng bón hiện tại của nông dân, không bổ sung vôi và phân hữu cơ vi sinh Kết quả thí nghiệm cho thấy bón phân cho dưa leo với liều lượng 140N-100P2O5-90K2O (kg/ha) có bổ sung vôi (800 kg/ha) kết hợp với phân hữu cơ vi sinh (2.000 kg/ha) làm tăng chiều dài dây, số nhánh, đường kính gốc, chiều dài trái, số trái/dây và năng suất so với không bổ sung cả vôi và phân hữu cơ vi sinh, qua đó lợi nhuận thuần thu được cũng tăng lên 11,4%
Từ khóa: Dưa leo, đất phèn, phân hữu cơ vi sinh, vôi
1 ĐẶT VẤN ĐỀ 5
Dưa leo (Cucumis sativus L.) là cây rau quan
trọng thứ tư tại châu Á sau cà chua, bắp cải và củ
hành (Tatlioglu, 1997), quả dưa leo chứa
carbohydrate, protein, vitamins C, B1, B2 và nhiều
chất khoáng khác (Matlub et al., 1989) có lợi cho sức
khỏe con người Hiện nay, tại huyện Vị Thủy, tỉnh
Hậu Giang nông dân đang dần chuyển đổi sang mô
hình trồng rau, màu trên nền đất lúa kém hiệu quả,
đem lại thu nhập cao hơn (Nguyễn Duy Cần và ctv.,
2009) Để đạt năng suất cao trong canh tác nông
nghiệp, phân bón vô cơ được nông dân ưu tiên sử
dụng do có ưu điểm gọn, nhẹ dễ dàng sử dụng, hàm
lượng dinh dưỡng cao và tác động nhanh (Thy và
Buntha, 2005) Tuy nhiên, bón nhiều phân vô cơ làm
giảm độ pH, một số vi sinh vật có lợi dẫn đến giảm
độ phì đất đồng thời làm tăng sự rửa trôi, xói mòn,
đất nhanh chóng bị thoái hóa (Chen, 2006) Phân
hữu cơ giúp cho cây trồng hấp thu dinh dưỡng tốt
hơn và cải thiện đặc tính vật lý đất (El-Shakweer et
al., 1998) Bên cạnh đó, vôi cũng giúp cải thiện phức
hệ keo trong đất, làm giảm sự xói mòn, độ chua, các
1
Khoa Nông nghiệp, Trường Đại học Cần Thơ
2
Khoa Môi trường và Tài nguyên thiên nhiên, Trường Đại
học Cần Thơ
*Email: lvthuc@ctu.edu.vn
độc tố, tạo môi trường tốt cho cây khai thác nguồn khoáng chất hữu cơ và nước nhất là với các loại đất
có kết cấu cơ giới nặng như đất sét (Chen và Dick, 2011) Xuất phát từ lý do đó, đã tiến hành nghiên cứu này, với mục tiêu đánh giá ảnh hưởng của bổ sung vôi và phân hữu cơ vi sinh đến sinh trưởng, năng suất
và hiệu quả kinh tế của dưa leo trồng trên đất phèn tại huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang
2 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Vật liệu nghiên cứu
Giống dưa leo Hoa Sen VL-639 F1 có thời gian thu hoạch 32-55 ngày sau gieo, kháng bệnh mốc sương, trồng được quanh năm
Vôi bột sử dụng trong thí nghiệm là CaCO3 có ≥ 64,73% CaO Phân hữu cơ vi sinh thương mại được sử dụng có dạng bột chứa 23% hữu cơ, 1% N, 0,5% P2O5, 0,5% K2O, axit humic 3% và độ ẩm 25%
Thí nghiệm được thực hiện từ tháng 5 đến tháng
7 năm 2018 tại huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang 2.2 Phương pháp nghiên cứu
Bố trí thí nghiệm: Thí nghiệm được bố trí theo thể thức khối ngẫu nhiên đầy đủ với 4 nghiệm thức, 3 lần lặp lại, mỗi lặp lại là một lô có diện tích 500 m2 Các nghiệm thức thí nghiệm gồm: (i) bón phân theo nông dân (170N-110P2O5-120K2O), không có bổ sung
Trang 2vôi và phân hữu cơ vi sinh; (ii) chỉ bón bổ sung vôi
800 kg/ha, (iii) chỉ bón bổ sung phân hữu cơ vi sinh
2.000 kg/ha và (iv) bón kết hợp vôi 800 kg/ha và
phân hữu cơ vi sinh 2.000 kg/ha Tất cả các nghiệm
thức (ii), (iii) và (iv) được bón cùng lượng phân N, P,
K (kg/ha) theo công thức 140N-100P2O5-90K2O
Phân tích đất: Mẫu đất đầu vụ thí nghiệm được
thu ở độ sâu 0-20 cm ở tại 5 điểm theo đường chéo
góc, trộn đều lại với nhau để lấy một mẫu đại diện
500 g Sử dụng khoảng 250 g để phơi khô mẫu trong
không khí rồi nghiền nhỏ qua rây 0,5 mm và 2,0 mm
cho phân tích các chỉ tiêu pH, EC, khả năng trao đổi
cation (CEC), chất hữu cơ (CHC), lân dễ tiêu (Pdt),
sa cấu Khoảng 250 g được trữ ở 4º0C để xác định mật
số vi khuẩn cố định đạm và vi khuẩn hòa tan lân
Phương pháp xác định các chỉ tiêu hóa lý trong
đất: Phân tích các đặc tính vật lý và hóa học đất theo
quy trình được Sparks et al (1996) tổng hợp và đề
xuất, cụ thể: pHH2O được trích tỷ lệ đất: nước (1:5), đo bằng pH kế Dung dịch trích pH bằng nước được sử dụng để đo EC bằng EC kế Lân dễ tiêu được xác định bằng phương pháp trích đất với 0,1 N HCl + 0,03
N NH4F, tỉ lệ đất: nước là 1:7, kết cấu đất xác định theo phương pháp ống hút Robinson Định lượng vi khuẩn được xác định theo phương pháp mật số tương đối trong đó với vi khuẩn cố định đạm, sử dụng môi trường Burk và vi khuẩn phân giải lân dùng môi trường NBRIP bổ sung 5% Ca3(PO4)2)
Kỹ thuật canh tác: Liếp được thiết kế cao cách mặt nước 0,5 m, ngang liếp 2,0 m, dài liếp 60 m Dưa leo được trồng với khoảng cách của cây cách cây 0,4
m, hàng cách hàng 1,6 m Thí nghiệm trên cây dưa leo được thực hiện đến 52 ngày sau gieo (NSG) Công thức phân hóa học được bón cho các nghiệm thức được trình bày ở bảng 1
Bảng 1 Tỷ lệ (%) lượng phân bón hóa học theo công thức phân bón (kg/ha) của các nghiệm thức
(i)
(ii), (iii) và (iv)
Ghi chú: HCVS: phân hữu cơ vi sinh, NSG: ngày sau gieo
Các chỉ tiêu theo dõi:
- Chiều dài dây (cm): đo từ mặt đất đến chóp lá
cao nhất tại thời điểm 35 NSG
- Chiều dài nhánh (cm): đo chiều dài tất cả các
nhánh và tính trung bình tại thời điểm 35 NSG
- Dài lóng thân (cm): đo 10 lóng thân ở giữa thân
chính và tính trung bình tại thời điểm 35 NSG
- Số nhánh (nhánh): đếm toàn bộ số nhánh trên
thân chính
- Dài lá, rộng lá (cm): đo chiều dài, chiều rộng lá
đã trưởng thành tính từ trên ngọn
- Đường kính gốc, thân, ngọn (mm): đo bằng thước kẹp chia vạch mm tại thời điểm 35 NSG
- Số lá/thân chính (lá): đếm trên cây tại thời điểm 35 NSG
Tất cả các chỉ tiêu trên được xác định 10 cây cho mỗi lặp lại
- Chiều dài trái (cm): đo từ cuống trái đến đầu trái tại thời điểm thu hoạch
- Chiều rộng trái (cm): đo ở vị trí giữa trái tại thời
Trang 3điểm thu hoạch
- Số trái trên dây (trái): đếm tổng số trái trên dây
đến khi kết thúc thí nghiệm
- Khối lượng 10 trái (kg): cân khối lượng 10 trái
- Năng suất dưa leo: cân tổng khối lượng trái
thương phẩm (loại 1) trên 100 m2 và quy về năng suất
(tấn/ha)
- Phần trăm gia tăng năng suất (%): là tỷ số giữa
phần gia tăng hoặc giảm của các nghiệm thức so với
nghiệm thức nông dân
- Lợi nhuận thuần = Doanh thu – chi phí
Chi phí nguyên vật liệu (phân bón vô cơ, vôi,
phân hữu cơ vi sinh, thuốc bảo vệ thực vật), công lao
động, giá bán sản phẩm được tính theo thời giá năm
2018
2.3 Xử lý số liệu
Số liệu được xử lý bằng phần mềm Microsoft
Excel 2010 Sử dụng phần mềm SPSS 16.0 phân tích
phương sai, so sánh khác biệt trung bình giữa các nghiệm thức thí nghiệm
3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 3.1 Đặc tính đất thí nghiệm Giá trị pH đất đầu vụ khoảng 5,6 được đánh giá ở ngưỡng chua ít và hàm lượng lân dễ tiêu là 3,15 mg/kg ở mức thấp theo thang đánh giá của Horneck
et al (2011) Hàm lượng chất hữu cơ trong đất (%C)
là 4,74 là cao theo kết quả nghiên cứu của Hazelton
và Murphy (2016) khi đất có giá trị pH từ 5-6 sẽ có hàm lượng chất hữu cơ là 1,5-2,5% Khả năng trao đổi cation (CEC) được xác định là 20,42 cmol kg-1 ở mức trung bình (Metson, 1961) Thành phần sa cấu đất gồm sét, thịt, cát lần lượt là 62,7, 35,6 và 1,7% (Bảng 2) được phân loại là đất sét pha thịt, có khả năng giữ nước và chất dinh dưỡng thấp Mật số vi khuẩn cố định đạm khoảng 2,83 x 105 (CFU/g) và vi khuẩn hòa tan lân là 2,1 x 105 (CFU/g)
Bảng 2 Đặc tính hóa, lý và sinh học của đất đầu vụ thí nghiệm
Sa cấu (%)
pHH2O EC (mS cm-1) CEC (cmol
kg-1)
CHC (%C)
Pdt (mg
kg-1) Sét Thịt Cát
Vi khuẩn hòa tan lân (CFU g-1)
Vi khuẩn cố định đạm (CFU g-1)
Ghi chú: Pdt: lân dễ tiêu
3.2 Sinh trưởng cây dưa leo
Hình 1 Chiều dài dây dưa leo của bốn nghiệm thức
thí nghiệm
Ghi chú: những số có chữ đi kèm khác nhau thể
hiện sự khác biệt có ý nghĩa thống kê ở mức 5%
Kết quả thể hiện ở hình 1 cho thấy bổ sung vôi
kết hợp với phân hữu cơ vi sinh cho chiều dài dây cao
hơn có ý nghĩa thống kê ở mức 5% so với nghiệm
thức chỉ bón bổ sung vôi Giữa ba nghiệm thức bón
bổ sung vôi kết hợp với phân hữu cơ vi sinh, chỉ bón
bổ sung phân hữu cơ và nghiệm thức nông dân không bón bổ sung vôi và phân hữu cơ có chiều dài dây gần tương đương nhau, với các giá trị lần lượt là 216,7, 207,3 và 201,7 cm Điều này phù hợp với kết quả của Ghasem et al (2014) khi nghiên cứu bổ sung phân hữu cơ (phân bò) cho dưa leo
Về chỉ tiêu số lá, số liệu ở bảng 3 cho thấy số lá/thân chính giữa các nghiệm thức sai khác nhau có
ý nghĩa (mức xác suất 95%) trong đó, nghiệm thức bón vôi kết hợp với phân hữu cơ vi sinh có số lá/thân chính nhiều nhất (28,7 lá) và ít nhất là nghiệm thức chỉ bón bổ sung vôi (21,7 lá) Đối với chiều dài lóng thân, bốn nghiệm thức khác biệt nhau có ý nghĩa ở mức 1%, dao động trong khoảng từ 8,9 đến 10,1 cm Tuy nhiên, chỉ tiêu chiều dài nhánh giữa các nghiệm thức lại không khác biệt rõ rệt Riêng về chỉ tiêu số nhánh, sự khác biệt giữa nghiệm thức bón bổ sung phân hữu cơ vi sinh, bổ sung vôi kết hợp phân hữu cơ
vi sinh và nông dân nằm trong phạm vi sai số trong lúc nghiệm thức bón vôi kết hợp phân hữu cơ chênh
Trang 4nhau có ý nghĩa ở mức 5% Kết quả này cũng phù hợp
với nghiên cứu trên cây dưa leo của Trần Thị Thiêm
và ctv (2019): khi giảm lượng phân hóa học 25% và
bón thay thế bằng phân trùn quế giúp tăng chiều dài dây dưa leo và số lá dưa leo trồng tại Hòa Bình, Hà Nội, Hưng Yên và Hà Nam
Bảng 3 Chiều dài dây, số lá/thân chính, dài lóng, dài nhánh và số nhánh dưa leo
(lá)
Dài lóng thân (cm)
Dài nhánh (cm)
Số nhánh (nhánh)
Ghi chú: Các giá trị có chữ số đi kèm khác nhau trong cùng một cột biểu thị sự sai khác có ý nghĩa ở các mức khác nhau; *: khác biệt ở mức ý nghĩa 5%, **: khác biệt ở mức ý nghĩa 1%, ns: khác biệt không có ý nghĩa thống kê
Chiều dài lá, chiều rộng lá và đường kính gốc
dưa leo giữa bốn nghiệm thức khác biệt ý nghĩa ở
mức 5% Nghiệm thức bón bổ sung vôi và phân hữu
cơ vi sinh có chiều dài lá 8,5 cm, chiều rộng lá 7,3 cm
và đường kính gốc là 12,3 mm lớn hơn nghiệm thức
chỉ bổ sung vôi (Bảng 4) Đường kính thân và đường
kính ngọn dưa leo giữa các nghiệm thức khác biệt không có ý nghĩa thống kê Đường kính thân đạt từ 4,7 mm (nghiệm thức chỉ bón bổ sung vôi) đến 5,7
mm (nghiệm thức bón bổ sung vôi và phân hữu cơ vi sinh) Đường kính ngọn giữa các nghiệm thức dao động trong khoảng từ 2,7 mm đến 3,7 mm (Bảng 4)
Bảng 4 Chiều dài lá, rộng lá, đường kính gốc, đường kính thân và đường kính ngọn dưa leo
(cm)
Rộng lá (cm)
Đường kính gốc (mm)
Đường kính thân (mm)
Đường kính ngọn (mm)
Ghi chú: Các giá trị có chữ số đi kèm khác nhau trong cùng một cột biểu thị sự sai khác có ý nghĩa ở các mức khác nhau; *: khác biệt ở mức ý nghĩa 5%, ns: khác biệt không có ý nghĩa thống kê
3.3 Các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất
dưa leo
3.3.1 Thành phần năng suất dưa leo
Kết quả ở bảng 5 cho thấy chiều dài trái dưa leo
ở nghiệm thức bón bổ sung vôi kết hợp với phân hữu
cơ vi sinh và nghiệm thức bón bổ sung phân hữu cơ
vi sinh đạt 14,6-15,1 cm cao khác biệt ý nghĩa ở mức
5% so với nghiệm thức chỉ bổ sung vôi (12,9 cm) Tuy
nhiên, sự khác biệt về chiều dài trái giữa nghiệm
thức bón bổ sung vôi kết hợp với phân hữu cơ vi sinh,
nghiệm thức bón bổ sung phân hữu cơ vi sinh và
nghiệm thức bón phân theo nông dân không có sự
sai khác rõ rệt Tương tự, chiều rộng trái giữa các nghiệm thức cũng gần như xấp xỉ nhau, dao động trong khoảng 3,8 đến 4,2 cm Nghiệm thức bón bổ sung vôi kết hợp với phân hữu cơ vi sinh cho số trái/dây cao nhất (15,7 trái/dây) khác biệt ở mức 1%
so với nghiệm thức bón phân theo nông dân (12,3 trái/dây) và nghiệm thức chỉ bón bổ sung vôi (10,6 trái/dây) Một nghiên cứu ở Ai Cập cho thấy, việc áp dụng phân hữu cơ trên dưa leo làm tăng khác biệt về chiều dài trái, đường kính trái và khả năng đậu trái so với không bổ sung phân hữu cơ (Aly, 2002)
Trang 5Bảng 5 Các yếu tố cấu thành năng suất dưa leo Nghiệm thức Dài trái (cm) Rộng trái (cm) Số trái/dây (trái) Khối lượng
10 trái (kg)
Ghi chú: Các giá trị có chữ số đi kèm khác nhau trong cùng một cột biểu thị sự sai khác có ý nghĩa ở các mức khác nhau; *: khác biệt ở mức ý nghĩa 5%, **: khác biệt ở mức ý nghĩa 1%, ns: khác biệt không có ý nghĩa thống kê
3.3.2 Năng suất và phần trăm gia tăng năng suất
dưa leo
Kết quả ở hình 2 cho thấy năng suất dưa leo giữa
bốn nghiệm thức khác biệt có ý nghĩa ở mức 1%
trong đó, nghiệm thức bón bổ sung vôi kết hợp với
phân hữu cơ vi sinh cho năng suất dưa leo cao nhất
(19,0 tấn/ha) nhưng chưa có sự khác biệt có ý nghĩa
so với nghiệm thức chỉ bón bổ sung phân hữu cơ vi
sinh và nghiệm thức bón theo nông dân, với năng
suất lần lượt là 18,0 tấn/ha và 17,8 tấn/ha Nghiệm
thức chỉ bón bổ sung vôi có năng suất dưa leo thấp
nhất (16,5 tấn/ha), thấp hơn cả nghiệm thức đối
chứng nông dân do lượng phân N, P, K sử dụng ít,
chưa đáp ứng đủ nhu cầu dưỡng chất cho dưa leo Do
đất thí nghiệm có pH ở ngưỡng chua ít (Bảng 2) nên
hiệu quả bón vôi trong việc cải thiện pH đất không rõ
ràng Chính vì vậy mà năng suất giữa nghiệm thức
bón vôi kết hợp phân hữu cơ vi sinh không khác biệt
có ý nghĩa so với chỉ bón phân hữu cơ vi sinh Theo
Alimi et al (2007), phân hữu cơ cung cấp những
nguyên tố dinh dưỡng cần thiết, làm tăng sinh trưởng
và năng suất cây trồng, tùy thuộc vào mức bón và đặc
tính giống Trong nghiên cứu này, nghiệm thức bón
bổ sung kết hợp vôi và phân hữu cơ vi sinh cho phần
trăm gia tăng năng suất cao nhất (6,7%) so với
nghiệm thức bón phân của nông dân Tiếp theo là
nghiệm thức chỉ bón bổ sung phân hữu cơ với phần
trăm gia tăng năng suất so với nghiệm thức nông dân
là 1,1% Riêng nghiệm thức chỉ bón bổ sung vôi cho
năng suất thấp hơn nghiệm thức nông dân do lượng
phân vô cơ ít hơn
Hình 2 Năng suất và phần trăm gia tăng năng suất
dưa leo so với nông dân
3.4 Hiệu quả kinh tế của dưa leo ở các chế độ bón phân khác nhau
Thí nghiệm bón bổ sung vôi kết hợp với phân hữu cơ vi sinh cho thấy tăng chi phí đầu tư vôi và phân hữu cơ nhưng giúp tăng năng suất, dẫn đến đạt lợi nhuận cao hơn Lợi nhuận thuần của nghiệm thức bón bổ sung vôi kết hợp với phân hữu cơ vi sinh là 34.374.243 đồng/ha và đạt tỷ lệ lợi nhuận thuần cao hơn (11,4%) so với nghiệm thức bón phân theo nông dân (Bảng 6)
Trang 6Bảng 6 Hiệu quả kinh tế của dưa leo trồng trên đất phèn có bổ sung vôi và phân hữu cơ vi sinh
tại Vị Thủy - Hậu Giang
Thông số Đơn vị và phân hữu cơ vi sinh Bón bổ sung vôi Bón phân theo nông dân
Khác biệt về năng suất
Khác biệt về tiền phân, thuốc
Khác biệt về lợi nhuận thuần
Ghi chú: Giá bán: 7.500đ/kg, NVL: nguyên vật liệu
4 KẾT LUẬN
Trên nền phân bón 140N-100P2O5-90K2O
(kg/ha), bổ sung vôi (800 kg/ha) kết hợp với phân
hữu cơ vi sinh (2.000 kg/ha) cho cây dưa leo trồng
tại huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang có tác dụng làm
tăng chiều dài dây, số lá/thân chính, chiều dài lóng
thân, số nhánh, chiều dài lá, chiều rộng lá, đường
kính gốc so với chỉ bón bổ sung vôi
Bón bổ sung vôi kết hợp với phân hữu cơ vi sinh
cũng làm tăng số trái/dây và năng suất (tấn/ha) so
với chế độ bón của nông dân (không bón bổ sung vôi
và phân hữu cơ vi sinh) và chỉ bón bổ sung vôi
Bón bổ sung vôi kết hợp với phân hữu cơ vi sinh
làm tăng lợi nhuận thuần 11,4% so với bón phân theo
nông dân cho dưa leo 170N-110P2O5-120 K2O
(kg/ha)
LỜI CẢM ƠN
Nhóm tác giả xin chân thành cảm ơn Sở Khoa
học và Công nghệ tỉnh Hậu Giang đã hỗ trợ kinh phí
nghiên cứu thông qua đề tài “Đánh giá thực trạng và
đề xuất giải pháp quản lý, sử dụng bền vững đất
nông nghiệp tỉnh Hậu Giang” thời gian thực hiện từ
tháng 8/2017 đến tháng 8/2020
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Alimi, T., Ajewole, O C., Olubode-Awosola,
O O., & Idowu, E O (2007) Organic and inorganic
fertilizer for vegetable production under tropical
conditions Journal of Agricultural and Rural
Development, 1, 120-136
2 Aly H H (2002) Studies on keeping quality and storageability of cucumber fruits under organic farming system in plastic-housess M.Sc Thesis, Hort Department Cairo University Egypt
3 Chen L., & Dick W A (2011) Gypsum as an agricultural amendment: General use guidelines The Ohio State University Extension, Columbus
4 Chen, J H (2006) The combined use of chemical and organic fertilizers and/or biofertilizer for crop growth and soil fertility Proceedings of International Workshop on Sustained Management
of the Soil-Rhizosphere System for Efficient Crop Production and Fertilizer Use Retrieved from http://www.agnet.org/htmlarea_file/library/201108 08103954/tb174.pdf
5 El‐Shakweer, M H A., El‐Sayad, E A., & Ewees, M S A (1998) Soil and plant analysis as a guide for interpretation of the improvement efficiency of organic conditioners added to different soils in Egypt Communications in Soil Science and Plant Analysis, 29(11-14), 2067-2088
6 Ghasem S., Morteza, A S., & Maryam, T (2014) Effect of organic fertilizers on cucumber (Cucumis sativus) yield International Journal of Agriculture and Crop Sciences (IJACS), 7(11),
808-814
7 Hazelton P., & Murphy B (2016) Interpreting soil test results: What do all the numbers mean? CSIRO publishing
Trang 78 Horneck, D A., Sullivan, D M., Owen, J S.,
& Hart, J M (2011) Soil test interpretation guide
EC 1478 Corvallis, OR: Oregon State University
Extension Service Pp:1-12
9 Matlub A N., Ez-Aldeen S M & Kream S A
(1989) Production of vegetables 2nd part 2nd
printing Dar AL-Kutub broad of printing Mosul
University Ministry of Higher Education and
Scientific Research Iraq
10 Nguyễn Duy Cần, Trần Hữu Phúc và Nguyễn
Văn Khang (2009) Đánh giá hiệu quả kinh tế của các
mô hình canh tác trên vùng đất lúa vùng ngọt hóa Gò
Công-Tiền Giang Tạp chí Khoa học Trường Đại học
Cần Thơ, 346-355
11 Thy, S., & Buntha, P (2005) Evaluation of
fertilizer of fresh solid manure, composted manure
or biodigester effluent for growing Chinese cabbage
(Brassica pekinensis) Livestock Research for Rural
Development Vol 17, Art #26 Retrieved June 8,
http://www.lrrd.org/lrrd17/3/sant17026.htm
12 Sparks, D L., Page, A L., Helmke, P A., & Loeppert, R H (1996) Methods of soil analysis Part
3 Chemical methods Book series, No 5 Soil Science Society of America, Wisconsin
13 O'Brien, T A., & Barker, A V (1996) Growth of Peppermint in Compost, Journal of Herbs, Spices & Medicinal Plants, 4:1, 19-27, DOI: 10.1300/J044v04n01_04
14 Tatlioglu T (1997) Cucumber (Cucumis sativus L.) In: Kailov, G and Bo Bergn, (Eds.) Genetic improvement of vegetable crops Oxford Pergamon Press pp 197-227
15 Trần Thị Thiêm, Phạm Văn Cường, Trần Thị Minh Hằng, Bùi Ngọc Tấn, Hà Thị Quỳnh (2019) Ảnh hưởng của liều lượng phân hữu cơ vi sinh bón thay thế phân vô cơ đến sinh trưởng và năng suất cà chua và dưa chuột Tạp chí Khoa học Nông nghiệp Việt Nam 2019, 17(11): 901-908
EFFECTS OF LIME AND MICROBIAL ORGANIC FERTILIZERS ADDITIONALLY APPLIED
ON YIELD AND BENEFIT EARNED FROM PRODUCTION OF CUCUMBER (Cucumis sativus
L.) CULTIVATED ON ACID SULFATE SOIL IN VI THUY DISTRICT, HAU GIANG PROVINCE
Tran Ngoc Huu, Nguyen Hong Hue, Nguyen Quoc Khuong, Le Vinh Thuc,
Tat Anh Thu, Vo Quang Minh Summary
Fruit vegetables cultivated in lowly benifited paddy production areas produced profitable efficiency but made the soil degraded resulted from over used continuous application of inorganic fertilizers The objective of this study was to evaluate the effects of supplementation of lime and microbial organic fertilizers on the growth, yield and economic efficiency of cucumber (Cucumis sativus L.) planted on acid sulfate soil in Vi Thuy district, Hau Giang province The experiment of four treatments was arranged in a randomized complete block design (RCBD) with three replicates, in which the control (Treatment 1) was regarded as farmers' application (neither lime nor microbial organic fertilizer was added) Results conducted from the study showed that the application of 140N-100P2O5-90K2O (kg/ha) supplemented with
800 kg/ha of lime and 2,000 kg/ha of microbial organic fertilizer for cucumber increased length and number of branch, stem diameter, fruit length and diameter, number of fruit per stem that result in significantly increasing fruit yield of fruit (6.74% higher) and income earned (11.4% higher) compared to farmers' fertilizer practice
Keywords: Acid sulfate soil, cucumber, lime, microbial organic fertilizer
Người phản biện: GS.TS Vũ Mạnh Hải
Ngày nhận bài: 02/6/2020
Ngày thông qua phản biện: 02/7/2020
Ngày duyệt đăng: 9/7/2020