Tính cấp thiết của đề tài Trong những năm qua, bên cạnh hệ thống loại hình doanh nghiệp được thành lập theo Luật Doanh nghiệp, hộ kinh doanh cũng là một mô hình pháp lý quan trọng, phù
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGÔ MINH TUẤN
HỘ KINH DOANH THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM
TỪ THỰC TIỄN TỈNH TÂY NINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT KINH TẾ
HÀ NỘI - 2021
Trang 2VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGÔ MINH TUẤN
HỘ KINH DOANH THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM
TỪ THỰC TIỄN TỈNH TÂY NINH
Ngành: Luật Kinh tế
Mã số: 8.38.01.07
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS.TS DƯƠNG ANH SƠN
HÀ NỘI - 2021
Trang 4MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong những năm qua, bên cạnh hệ thống loại hình doanh nghiệp được thành lập theo Luật Doanh nghiệp, hộ kinh doanh cũng là một mô hình pháp lý quan trọng, phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế - xã hội của nước ta Cùng với các loại hình kinh doanh khác, sự phát triển của hộ kinh doanh đã góp phần giải phóng lực lượng sản xuất, thúc đẩy phân công lao động xã hội, chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Tuy nhiên, thực tế hoạt động của các hộ kinh doanh của Việt Nam hiện nay chưa phát huy được hết các tiềm năng của mình, còn gặp nhiều khó khăn trong sản xuất kinh doanh như: quy mô nhỏ bé, phân tán, manh mún, vốn
ít, công nghệ lạc hậu, trình độ tay nghề của người lao động thấp, sức cạnh của hàng hóa thấp.Bên cạnh doanh nghiệp thì hộ kinh doanh là một trong những phương tiện mà pháp luật đã tạo ra để các chủ thể có thể hiện thực hóa ý tưởng kinh doanh của mình Hiện nay, số lượng hộ kinh doanh trên
cả nước nói chung và trên địa bàn tỉnh Tây Ninh nói riêng chiếm số lượng lớn và tỷ lệ áp đảo so với số lượng doanh nghiệp Việc hình thành và phát triển hộ kinh doanh có vai trò đóng góp tích cực đối với nền kinh tế như các đóng góp về việc giải quyết việc làm, xóa đói giảm nghèo, thúc đẩy tinh thần kinh doanh, phát triển kinh tế thị trường, đóng góp vào sự tăng trưởng kinh tế của quốc gia Các hộ kinh doanh được biết đến với thực trạng chung là quy mô kinh doanh nhỏ hẹp, phù hợp với tâm lý nói chung của đại bộ phận người dân là kinh doanh nhỏ lẻ, đủ ăn Trên thưc tế hoạt động kinh doanh của hộ kinh doanh tại Việt Nam hiện nay chưa phát huy được hết các tiềm năng của mình, còn gặp nhiều khó khăn trong sản xuất kinh doanh như: quy mô nhỏ bé, manh mún, phân tán, trình độ tay nghề
Trang 5của người lao động còn thấp, sức cạnh tranh của hàng hóa thấp, vốn ít…
Để đảm bảo cho các hộ kinh doanh phát huy được hết vai trò của mình và phù hợp với thực tiễn phát triển kinh tế, xã hội cũng như yêu cầu của công cuộc đổi mới mà Đảng và Nhà nước ta đã đề ra, một hệ thống pháp luật phù hợp và toàn diện về hoạt động kinh doanh góp phần không nhỏ đến sự phát triển của nền kinh tế nước nhà Bên cạnh đó cũng có nhiều hộ kinh doanh lớn, hoạt động phát triển tốt thì vấn đề chuyển đổi mô hình từ hộ kinh doanh lên doanh nghiệp cũng là vấn đề cần được Nhà nước quan tâm
và tạo điều kiện
Tây Ninh là địa phương có nhiều thuận lợi cho phát triển kinh tế Thực hiện chủ trương khuyến khích phát triển thành phần kinh tế tư nhân, cải thiện môi trường kinh doanh, coi “doanh nghiệp là động lực phát triển kinh tế của đất nước”, UBND tỉnh Tây Ninh đã ban hành Quyết định số 4165/QĐ-UBND về Đề án “Hỗ trợ khởi nghiệp trên địa bàn tỉnh Tây Ninh đến năm 2020” Với số lượng lớn trên địa bàn thành phố, hộ kinh doanh chính là một trong những đối tượng được hỗ trợ để chuyển đổi thành loại hình doanh nghiệp Nhưng trên thực tế, trong thời gian qua số lượng hộ kinh doanh chuyển đổi thành doanh nghiệp còn khá ít hay số lượng hộ kinh doanh không quá mặn mà với chủ trương chuyển đổi nêu trên Xuất phát từ
thực tế này, tác giả lựa chọn đề tài: “Hộ kinh doanh theo pháp luật Việt
Nam từ thực tiễn tỉnh Tây Ninh” làm luận văn tốt nghiệp thạc sỹ của
mình
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Đến nay, đã có khá nhiều công trình nghiên cứu pháp luật về hộ kinh doanh dưới góc độ nghiên cứu luật học, có thể kể đến một số công trình
sau: Bài viết của TS Ngô Huy Cương (2009), “Phân tích pháp luật về hộ
Trang 6kinh doanh để tìm ra các bất cập”; Hoàng Minh Sơn (2012), “Pháp luật về
hộ kinh doanh ở Việt Nam”, luận văn thạc sĩ luật học, Khoa Luật - Đại học
Quốc gia Hà Nội [24]; Trần Ngọc Trà (2016), “Pháp luật về hộ kinh doanh
ở Việt Nam”, Luận văn thạc sĩ, Đại học Mở Hà Nội [28]; Trần Ngọc Dũng
(2014), “Hoàn thiện pháp luật về hộ kinh doanh ở Việt Nam hiện nay”, Tạp
chí Nhà nước và Pháp luật, Viện Nhà nước và Pháp luật, Số 9/2014,
tr.42-29 [10]; Vũ Thị Ngọc Anh (2014), “Địa vị pháp lý của hộ kinh doanh -
Những vấn đề lý luận và thực tiễn”, Luận văn thạc sĩ luật học, Đại học
Luật Hà Nội [1]; Tổng cục Thống kê (2015), “Kết quả điều tra cơ sở sản
xuất kinh doanh phi nông nghiệp 2014”, Hà Nội…
Như vậy với nội dung nghiên cứu về hộ kinh doanh đã có các công trình nghiên cứu khá cụ thể, chi tiết những đặc điểm, bản chất và vai trò của hộ kinh doanh cũng như thực tiễn áp dụng pháp luật về hộ kinh doanh trong nền kinh tế - xã hội ở nước ta Tuy nhiên, cho đến nay chưa có nhiều công trình khoa học đi sâu nghiên cứu đầy đủ, toàn diện về hộ kinh doanh
và đặc biệt làm rõ được vấn đề thực tiễn chuyển đổi hộ kinh doanh lên doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Tây Ninh cũng như những chính sách khuyến khích của Nhà nước đối với hộ kinh doanh trong giai đoạn hiện nay Vì vậy, trên cơ sở thừa kế có chọn lọc các công trình khoa học đã được công bố, tác giả hy vọng góp phần làm sáng tỏ hơn những vấn đề pháp lý cũng như chủ trương, chính sách chuyển đổi hộ kinh doanh lên doanh nghiệp qua thực tiễn tại tỉnh Tây Ninh, qua đó đưa ra các giải pháp nhằm khuyến khích hộ kinh doanh phát triển trong quá trình hội nhập hiện nay
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Trang 7Trên cơ sở nghiên cứu sự hình thành và phát triển hộ kinh doanh ở Việt Nam và những quy định của pháp luật hiện hành, mục đích của luận văn là làm sáng tỏ vấn đề về hộ kinh doanh dưới góc độ các quy định của pháp luật thực định về hộ kinh doanh ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay, các vấn đề liên quan đến thực hiện pháp luật hộ kinh doanh địa bàn tỉnh Tây Ninh; từ đó tìm ra các điểm bất cập, hạn chế của pháp luật hộ kinh doanh và đề xuất định hướng, giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về hộ kinh doanh
Trên cơ sở đó, luận văn có những nhiệm vụ nghiên cứu sau:
Thứ nhất, nghiên cứu những vấn đề lý luận về hộ kinh doanh, pháp
luật về hộ kinh doanh
Thứ hai, nghiên cứu, phân tích thực trạng pháp luật về hộ kinh doanh
và thực tiễn trên địa bàn tỉnh Tây Ninh
Thứ ba, từ đó đề xuất ra những phương hướng, giải pháp cho việc
hoàn thiện hệ thống pháp luật về hộ kinh doanh và các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về hộ kinh doanh trên địa bàn tỉnh Tây Ninh
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là hệ thống các quy định của pháp luật về hộ kinh doanh mà trọng tâm là các quy định của Luật Doanh nghiệp
2014, các văn bản hướng dẫn thi hành về hộ kinh doanh
Phạm vi nghiên cứu: luận văn tập trung vào nội dung các quy định của pháp luật (Luật doanh nghiệp 2019), thực tiễn thực hiện pháp luật (Luật doanh nghiệp 2014) về hộ kinh doanh trên địa bàn tỉnh Tây Ninh
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Trang 8Để tiếp cận nghiên cứu đề tài này một cách hệ thống, thống nhất và
có hiệu quả, tác giả sử dụng các phương pháp nghiên cứu chủ yếu: tổng hợp và phân tích, suy luận logic, thống kê, so sánh đối chiếu Các phương pháp nghiên cứu sẽ giúp làm sáng tỏ những luận cứ khoa học trong phạm
vi nghiên cứu đề tài
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Luận văn góp phần cho người đọc một cái nhìn toàn diện và sâu sắc hơn về hộ kinh doanh trên cơ sở phân tích pháp luật qua từng thời kỳ, so sánh với pháp luật thực tại đồng thời đưa ra những giải pháp nhằm hoàn thiện và thúc đẩy hộ kinh doanh trong bối cảnh hiện nay Luận văn còn cập nhật chủ trương, chính sách mới về chuyển đổi hộ kinh doanh thành doanh nghiệp qua thực tiễn tại địa phương cụ thể là tỉnh Tây Ninh, đưa ra những giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật hộ kinh doanh trong giai đoạn hiện nay
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chương như sau:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về hộ kinh doanh và pháp luật hộ kinh doanh
Chương 2: Thực trạng pháp luật về hộ kinh doanh và thực tiễn tại tỉnh Tây Ninh
Chương 3: Định hướng hoàn thiện pháp luật và giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về hộ kinh doanh tại tỉnh Tây Ninh
Trang 9Chương 1
LÝ LUẬN VỀ HỘ KINH DOANH VÀ PHÁP LUẬT HỘ KINH DOANH
1.1 Khái quát về hộ kinh doanh
1.1.1 Khái niệm, đặc điểm pháp lý của hộ kinh doanh
1.1.1.1 Khái niệm hộ kinh doanh
Có thể nói, hộ kinh doanh là hình thức kinh doanh xuất hiện rất sớm
ở nước ta và cho đến nay hình thức này vẫn khẳng định được vai trò của mình đối với nền kinh tế Trước đây, tùy theo điều kiện kinh tế - xã hội, bối cảnh phát triển thực tiễn mà quan điểm về hộ kinh doanh tại Việt Nam được gọi dưới các tên gọi khác nhau như “tổ chức tiểu sản xuất hàng hóa”;
“hộ cá thể”; “hộ tiểu công nghiệp”; “hộ kinh doanh cá thể” Tên gọi “tổ chức sản xuất hàng hóa” được sử dụng trong giai đoạn trước đổi mới, như: thợ thủ công, nông dân cá thể, người làm dịch vụ nhỏ được phép kinh doanh sau khi được cơ quan có thẩm quyền của nhà nước cấp Giấy môn bài [10]
Từ sau đổi mới (năm 1986), cùng với chủ trương, chính sách phát triển nền kinh tế nhiều thành phần, hộ kinh doanh đã chính thức được thừa nhận là đơn vị kinh tế tự chủ, là một bộ phận quan trọng của nền kinh tế Trong Nghị đinh 27/HĐBT của Hội đồng Bộ trưởng ngày 9/3/1988 thừa nhận ba hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh bao gồm hộ cá thể, hộ tiểu thủ công nghiệp và xí nghiệp tư doanh Trong đó hộ cá thể được giải thích:
“hộ cá thể: tư liệu sản xuất và các vốn là sở hữu của người chủ đứng tên đăng ký kinh doanh; chủ đăng ký kinh doanh phải là người lao động trực tiếp Những người lao động khác phải là bố mẹ, vợ chồng, các con và nếu
Trang 10là người thân phải có tên trong sổ đăng ký hộ khẩu của chủ đăng ký kinh doanh, có thể thuê mướn lao động thời vụ; thu nhập sau khi đóng thuế thuộc sở hữu của chủ hộ” Quan niệm về hộ cá thể theo Nghị định này có thể hiểu là các cá nhân tự do kinh doanh, thương nhân, thể nhân thực hiện hoạt động kinh doanh và là người lao động cho chính mình [25]
Nghị định số 02/2000/NĐ-CP của Chính phủ đã đề cập đến các vấn
đề liên quan đến hộ kinh doanh với cái tên “hộ kinh doanh cá thể”, theo đó, trong nghị định này quy định: “Hộ kinh doanh cá thể do một cá nhân hoặc gia đình làm chủ, kinh doanh tại một địa điểm cố định, không thường xuyên thuê lao động, không có con dấu và chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình đối với hoạt động kinh doanh” Tiếp đó, ngày 02/4/2004, Chính phủ lại ban hành Nghị định số 109/2004/NĐ-CP để thay thế Nghị định 02/2000/NĐ-CP Theo đó, định nghĩa về hộ kinh doanh có sự bổ sung khi đưa ra tiêu chí về nhận diện hộ kinh doanh cá thể là về số lượng người lao động của hộ là không quá mười lao động [25]
Tên gọi “hộ kinh doanh cá thể” chính thức được rút gọn thành “Hộ kinh doanh” tại Nghị định số 88/2006/NĐ-CP Như vậy, theo quy định này, phạm vi chủthểtham gia hộ kinh doanh đã có sự mở rộng hơn Đó là bên cạnh cá nhân và hộ gia đình, một nhóm người cũng có quyền thành lập hộ kinh doanh để hiện thực hóa ý tưởng kinh doanh của mình [25]
Nghị định 43/2010/NĐ-CP về đăng ký doanh nghiệp vẫn giữ nguyên cách hiểu và định nghĩa về hộ kinh doanh cho đến năm 2015, sau khi Luật Doanh nghiệp năm 2014 ra đời [7], Chính phủ đã ban hành Nghị định 78/2015/NĐ-CP ngày 14/9/2015 về đăng ký doanh nghiệp cũng đã có một
số thay đổi về khái niệm hộ kinh doanh tại điều 66, cụ thể như sau: “Hộ kinh doanh do một cá nhân hoặc một nhóm người gồm các cá nhân là công
Trang 11dân Việt Nam đủ 18 tuổi, có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, hoặc một hộ gia đình làm chủ, chỉ được đăng ký kinh doanh tại một địa điểm, sử dụng dưới mười lao động và chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình đối với hoạt động kinh doanh”[9] Đây được coi là cơ sở pháp lý hiện hành về
hộ kinh doanh Với quy định này, khái niệm về hộ kinh doanh đã được thay đổi về mặt từ ngữ để đầy đủ và chặt chẽ hơn so với quy định trước đó
1.1.1.2 Đặc điểm pháp lý của hộ kinh doanh
Thứ nhất, hộ kinh doanh có thể do một cá nhân, một nhóm người
Thứ hai, hộ kinh doanh không có tư cách pháp nhân
ỞViệt Nam, pháp luật không đưa ra định nghĩa tư cách pháp nhân mà chỉ quy định các điều kiện để một tổ chức có tư cách pháp nhân Căn cứ vào quy định tại Điều 74 của Bộ luật Dân sự năm 2015 về “Một tổ chức được công nhận là pháp nhân khi có đủ các điều kiện sau đây: (i) Được thành lập theo quy định của pháp luật; (ii) Có cơcấu tổ chức chặt chẽ theo quy định của pháp luật; (iii) Có tài sản độc lập với cá nhân, pháp nhân khác
Trang 12và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản của mình; (iv) Nhân danh mình tham gia quan hệ pháp luật một cách độc lập” [12]
Đối với hộ kinh doanh có một điều kiện mà xét về bản chất chủ thể này sẽ không đáp ứng được đó chính là sự độc lập về mặt tài chính Trong
hộ kinh doanh không có sự tách bạch rõ ràng giữa tài sản của hộ và tài sản của các thành viên Đối với hộ kinh doanh do một cá nhân làm chủ sở hữu thì tài sản của hộ kinh doanh cũng là tài sản của chủ hộ và ngược lại Đối với hộ kinh doanh do một hộ gia đình hoặc một nhóm người làm chủ, mặc
dù có sự góp vốn, trong quá trình hoạt động các thành viên cũng có thể phải tiếp tục bỏ tài sản riêng của mình vào để duy trì hoạt động của hộ Do
đó về mặt pháp lý, rõ ràng hộ kinh doanh không đáp ứng điều kiện để trở thành pháp nhân
Chủ hộ kinh doanh sẽ là đối tượng duy nhất có quyền hưởng mọi lợi nhuận và chịu mọi nghĩa vụ tài chính đối với Nhà nước khi thực hiện hoạt động sản xuất, kinh doanh Trường hợp hộ kinh doanh cá thể do một hộ gia đình làm chủ thì hộ gia đình này phải cử một người đại diện Người đại diện này sẽ thay mặt hộ thực hiện quyền và nghĩa vụ của cả hộ theo quy định của pháp luật Tuy nhiên, người đại diện theo một cách nào đó, thì hộ
sẽ không chịu trách nhiệm thay cho các thành viên khác trong gia đình Lợi nhuận hay rủi ro sẽ chia cho các thành viên theo số vốn góp, công sức và thỏa thuận của các thành viên
Thứ ba, hộ kinh doanh là hình thức kinh doanh có quy mô nhỏ
Đặc điểm quy mô kinh doanh nhỏ hẹp là một trong những đặc điểm nổi bật của hộ kinh doanh Nhắc đến hình thức tổ chức kinh doanh này, người ta thường nghĩ tới sự phù hợp đối với các nhà đầu tư có quy mô đầu
tư kinh doanh nhỏ Tuy nhiên, cần phải hiểu rằng đặc điểm này không phải
Trang 13xuất phát từ bản chất của hộ kinh doanh mà được hình thành dựa trên các quan điểm pháp lý của các nhà làm luật với mục đích xây dựng mô hình kinh doanh phù hợp với lựa chọn của các chủ thể kinh doanh nhỏ
Quy mô kinh doanh thể hiện trên các phương diện: vốn đầu tư, doanh thu, số lượng lao động, số lượng địa điểm kinh doanh Đây cũng là những đặc điểm cơ bản để phân biệt hộ kinh doanh với doanh nghiệp Nguyên nhân của sự khác biệt này xuất phát từ lĩnh vực hoạt động của doanh nghiệp thường có phạm vi lớn và ổn định, chủ yếu là trong những ngành quan trọng của quốc gia như dầu khí, công nghiệp nặng, tài chính, giao thông, xây dựng Những ngành này đòi hỏi số vốn đầu tư lớn và trình độ lao động có chuyên môn, nghiệp vụ cao Vì vậy cho nên đối với doanh nghiệp, pháp luật cho phép được mở rộng quy mô sản xuất bằng việc tăng
số vốn đầu tư, số lượng công nhân viên, nhà xưởng sản xuất hàng hóa hoặc thành lập các chi nhánh, công ty con, được ưu đãi sử dụng đất đai và các
ưu đãi khác Trước đây, Nghị định 66/HĐBT phân biệt việc kinh doanh dưới hình thức hộ kinh doanh và các doanh nghiệp tư nhân bằng mức vốn pháp định, theo đó người kinh doanh có mức vốn thấp hơn vốn pháp định quy định cho doanh nghiệp tư nhân Hiện nay tiêu chí vốn pháp định không còn là cơ sở phân biệt hộ kinh doanh hay doanh nghiệp theo pháp luật hiện hành bởi vì chỉ có doanh nghiệp tư nhân, công ty hoạt động trong các ngành nghề kinh doanh có điều kiện mới phải tuân thủ quy định về mức vốn pháp định Mặc dù quy mô kinh doanh của hộ kinh doanh so với các loại hình doanh nghiệp là nhỏ nhưng so với loại hình kinh doanh nhỏ lẻ như hộ nông, lâm ngư nghiệp, bán hàng rong, quà vặt thì hộ kinh doanh không phải là loại hình kinh doanh có quy mô nhỏ nhất Các đối tượng trên cũng tiến hành hoạt động kinh doanh nhưng không ổn định, có mức thu nhập thấp hơn đối với hộ kinh doanh [25]
Trang 14Như vậy, với quy mô sản xuất nhỏ, đòi hỏi vốn đầu tư ít, sử dụng không nhiều lao động, hộ kinh doanh có thể thay đổi linh hoạt phương thức hoạt động kinh doanh để đối phó với những biến động của thị trường Trong công việc có thể dễ kiểm soát, quản lý chặt chẽ hơn Đối với ngành công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp thì hộ kinh doanh ít có điều kiện để trang bị máy móc, thiết bị hiện đại nên công nghệ được sử dụng thường lạc hậu, kém hiệu quả hơn
Đối với hộ kinh doanh, quy định về số lượng lao động trong hộ kinh doanh không được vượt quá 10 lao động, nếu trên 10 lao động thì hộ kinh doanh phải chuyển sang các loại hình doanh nghiệp khác Đồng thời, khi đăng ký kinh doanh, hộ kinh doanh phải xác định rõ địa điểm kinh doanh tại một vị trí nhất định và không được mở chi nhánh hay địa điểm sản xuất kinh doanh khác
Theo quy định hiện hành tại Điều 72 Nghị định 78/2015/NĐ-CP quy định về địa điểm kinh doanh của hộ kinh doanh: “Đối với hộ kinh doanh buôn chuyến, kinh doanh lưu động thì phải chọn một địa điểm cố định để đăng ký hộ kinh doanh…” [9]
Thứ tư, chủ hộ kinh doanh chịu trách nhiệm vô hạn trong hoạt động
kinh doanh
Hộ kinh doanh không phải là một thực thể độc lập, tách biệt với chủ nhân của nó về nhiều khía cạnh như tài sản, tài chính Do không có tính chất độc lập về tài sản nên chế độ trách nhiệm tài sản của hộ là vô hạn Đối với hộ kinh doanh do cá một nhân làm chủ: cá nhân là chủ sở hữu hộ kinh doanh sẽ là người duy nhất chịu trách nhiệm đối với mọi hoạt động của hộ kinh doanh Trong trường hợp hộ kinh doanh có chung chủ sở hữu thì tất cả các thành viên trong hộ phải chịu trách nhiệm vô hạn bằng tất cả tài sản
Trang 15của mình Nếu số vốn chung không đủ để trả nợ, thì mỗi thành viên sẽ góp thêm bằng tài sản riêng hoặc tài sản dân sự chung của cả hộ để trả nợ Mức góp thêm của mỗi thành viên phụ thuộc vào thỏa thuận trong hộ kinh doanh Trường hợp nào đó, một số thành viên không có khả năng góp thêm vốn để thực hiện nghĩa vụ trả nợ như thỏa thuận thì các thành viên còn lại
có nghĩa vụ phải lấy tài sản của mình để tiếp tục trả nợ theo quy định Quan
hệ nợ này chỉ chấm dứt khi đã thanh toán hết các khoản nợ Chính vì vậy đặc trưng pháp lý này tạo ra một số những thuận lợi cơ bản như:
- Lợi nhuận và khả năng kiểm soát công việc kinh doanh đều thuộc
về chủ hộ, vì quyền lực chỉ tập trung ở một hoặc một số chủ sở hữu
- Toàn bộ tài sản của chủ sở hữu kinh doanh là một bảo đảm cho việc thanh toán các khoản nợ của hộ, cho nên khi tham gia ký kết hợp đồng hoặc huy động nguồn vốn từ ngoài xã hội, hộ kinh doanh tạo được niềm tin
về việc thanh toán các nghĩa vụ tài sản đối với khách hàng và chủ nợ
- Khi vay vốn, chủ hộ kinh doanh có thể dễ dàng tiếp cận các khoản tín dụng của ngân hàng Do khi xem xét các điều kiện, ngân hàng có thể căn cứ vào tài sản của chủ hộ chứ không chỉ căn cứ vào tài sản của hộ kinh doanh để cho vay vốn
Với đặc điểm này, chủ sở hữu chỉ được thành lập duy nhất một hộ kinh doanh cho đến khi hộ kinh doanh này chấm dứt sự tồn tại thì chủ sở hữu mới cóquyền thành lập một hộ kinh doanh khác Bên cạnh đó hộ kinh doanh sẽ không có tư cách pháp nhân cũng như không được phát hành bất
kỳ loại chứng khoán nào để thu hút vốn đầu tư Nếu các cá nhân muốn khắc phục vấn đề trên phải lựa chọn loại hình doanh nghiệp, bởi chỉ có các thành viên của công ty cổ phần, trách nhiệm hữu hạn và thành viên góp vốn của công ty hợp danh mới có chế độ trách nhiệm hữu hạn về các khoản nợ
Trang 16và các nghĩa vụ tài sản khác trong phạm vi vốn đã cam kết góp vào doanh nghiệp
1.1.2 Vị trí, vai trò của hộ kinh doanh trong nền kinh tế
Với tư cách là một trong những hình thức kinh doanh xuất hiện sớm
ở nước ta, hộ kinh doanh giữ vai trò quan trọng trong nền kinh tế của nước nhà Có thể kể tới những đóng góp tích cực, nổi bật của hộ kinh doanh như:
Thứ nhất, khu vực hộ kinh doanh có đóng góp lớn trong tạo việc làm
và giải quyết các vấn đề xã hội Việc phát triển hộ kinh doanh, hiện nay đã giúp cho khoảng gần 10 triệu lao động Việt Nam có việc làm thường xuyên trong thời gian qua Với công sức đầu tư nhỏ nhưng thu hồi vốn nhanh, lợi nhuận lớn cùng với các điều kiện thành lập và hoạt động đơn giản, lực lượng lao động dồi dào cũng như không cần công nghệ, khoa học kỹ thuật hiện đại nên hộ kinh doanh là một mô hình được nhiều cá nhân và hộ gia đình lựa chọn Với sự phát triển nhanh chóng, hộ kinh doanh đã xuất hiện ở tất cả các tỉnh, thành phố trên cả nước, từ đồng bằng đến miền núi và hải đảo, biên cương của Tổ quốc Với sự phát triển về quy mô cũng như số lượng, hộ kinh doanh đã tạo nên các điều kiện để cá nhân có môi trường lao động góp phần cải thiện đời sống nhân dân, xóa đói giảm nghèo và thực hiện tốt các nhiệm vụ mà Đảng và Nhà nước ta đã đề ra Hiện nay, khi tỷ lệ thất nghiệp ngày càng cao, các công việc ngày càng đòi hỏi lực lượng lao động có điều kiện, trình độ chuyên môn kỹ thuật cao thì hộ kinh doanh với hình thức kinh doanh nhỏ lẻ hàng năm tạo ra hàng vạn việc làm mới, góp phần không nhỏ vào sự phát triển kinh tế - xã hội cũng như giải quyết các nhu cầu của thị trường lao động [28]
Thứ hai, hộ kinh doanh là một trong những động lực thúc đẩy tinh
thần kinh doanh và phát triển kinh tế thị trường Hộ kinh doanh còn là cơ
Trang 17sở huy động nguồn nhân lực lớn cho phát triển kinh tế, xã hội Ở nông thôn, mô hình hộ kinh doanh thu hút một lượng lớn lao động nông nhàn muốn tăng thu nhập hoặc những người dân muôn chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp sang thủ công nghiệp Ở thành thị, các cơ sở kinh doanh cá thể trong lĩnh vực thương mại và dịch vụ, thủ công nghiệp, tạo điều kiện giải quyết việc làm cho những người lao động chưa có việc làm Đây không chỉ
là việc giải quyết vấn đề xã hội mà hình thức kinh doanh này đã góp phần phát huy khả năng sáng tạo, tính năng động trong sản xuất kinh doanh của người lao động Trong thực tế, không ít các cá nhân kinh doanh đã trở thành điển hình cho những sáng kiến, phát minh tạo ra những sản phẩm mới được xã hội công nhận hay cải tiến phương pháp sản xuất, chế biến tăng năng xuất lao động… đóng góp vào quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Chính những con người ấy là nguồn lực quan trọng, trong tương lai sẽ trở thành những ông chủ lớn, bứt phá khỏi quy mô nhỏ và trở thành những doanh nhân làm chủ cơ sở sản xuất quy mô lớn
Thứ ba, hộ kinh doanh có nhiều đóng góp cho tăng trưởng kinh tế
Hộ kinh doanh có vai trò đáng kể trong tạo ra của cải vật chất, hàng hóa, dịch vụ cho xã hội, trực tiếp đóng góp cho tăng trưởng kinh tế, chiếm tỷ trọng khá cao trong cơ cấu tổng sản phẩm trong nước (trên 30% GDP) Các
hộ kinh doanh không những giải quyết việc làm, tăng thu nhập mà còn là mạng lưới rộng lớn, phát triển về những vùng xa, vùng khó khăn mà các lĩnh vực kinh doanh khác không đáp ứng được Với khoảng hơn 5 triệu hộ kinh doanh, hàng năm đã đóng góp đáng kể vào sự tăng trưởng GDP và tăng nguồn thu cho ngân sách nhà nước [28]
Doanh thu của khu vực hộ kinh doanh liên tục tăng trong giai đoạn
2005 - 2015 Theo Thông cáo báo chí Kết quả chính thức Tổng điều tra
Trang 18kinh tế năm 2017 thì số lượng cơ sở sản xuất kinh doanh cá thể có 5,1 triệu
cơ sở với 8,7 triệu lao động [28]
Thứ tư, hộ kinh doanh góp phần tạo ra nguồn cung hàng hóa đa dạng
cho thị trường trong nước và xuất khẩu Với đặc điểm là sản xuất kinh doanh đa ngành nghề, hoạt động trên nhiều lĩnh vực như loại hình doanh nghiệp (trừ những lĩnh vực có điều kiện), hộ kinh doanh cùng với doanh nghiệp đã và đang tỏ rõ là một bộ phận kinh tế quan trọng, cung cấp đầy đủ
và kịp thời các sản phẩm và các dịch vụ thiết yếu cho toàn xã hội Tuy số lượng sản phẩm mỗi đơn vị sản xuất ra không nhiều do số vốn nhỏ, nhưng với số lượng các cơ sở sản xuất kinh doanh lớn, quy mô hoạt động trên toàn quốc nên số lượng sản phẩm tạo ra lớn và đa dạng, phong phú về chủng loại và mẫu mã, từ các mặt hàng đơn giản đến các mặt hàng cao cấp, đến những sản phẩm truyền thống được xuất khẩu ra nước ngoài Với đóng góp khoảng 30% GDP toàn quốc, có thể nói hộ kinh doanh không những góp phần tạo ra khối lượng lớn hàng hóa phục vụ nhu cầu thị trường và xuất khẩu mà còn đóng vai trò trong việc thực hiện các mục tiêu kinh tế vĩ
mô quan trọng hơn như: tạo sự cân đối quỹ hàng hóa, tiền tệ, bình ổn giá
cả, cân đối phát triển kinh tế giữa các vùng, ổn định đời sống nhân dân, thực hiện xóa đói giảm nghèo
Hiện nay, với nhiều cơ sở, khu vực sản xuất kinh doanh cá thể đang hoạt động rộng khắp trên địa bàn xã, phường trong phạm vi toàn quốc, không những đã huy động được nguồn nội lực khá lớn cho phát triển kinh
tế của đất nước mà còn làm giảm bớt sự cách biệt về kinh tế và xã hội giữa các vùng, miền, các địa bàn trong cả nước, nhất là những địa bàn mà các doanh nghiệp không muốn hoặc không thể đầu tư như miền núi, hải đảo, vùng sâu, vùng xa
Trang 191.2 Khái quát pháp luật về hộ kinh doanh
1.2.1 Khái niệm pháp luật về hộ kinh doanh
Nhà nước với tư cách chủ thể quyền lực chính trị, ban hành hoặc thừa nhận các quy phạm pháp luật để thực hiện chức năng quản lý xã hội theo định hướng Với tư cách là một hình thức tổ chức hoạt động sản xuất kinh doanh nên các hộ kinh doanh cũng giống với các hình thức tổ chức kinh doanh khác đều phải chịu sự điềuchỉnh của pháp luật, nó là khuôn mẫu và có tính bắt buộc chung buộc các chủ thể phải tuân thủ và thực hiện
Đối tượng điều chỉnh của pháp luật về hộ kinh doanh là các quan hệ phát sinh trong quá trình tổ chức thành lập và hoạt động của hộ kinh doanh như: quan hệ quản lý của nhà nước đối với các chủ thể đăng ký thành lập
hộ kinh doanh; Quan hệ của cơ quan quản lý nhà nước với hộ kinh doanh; quan hệ giữa các thành viên trong việc quản lý, hoạt động của hộ kinh doanh; quan hệ giữa hộ kinh doanh với các chủ thể khác có liên quan [1]…
Tóm lại, có thể khái quát rằng pháp luật về hộ kinh doanh là hệ thống các quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành nhằm điều chỉnh các quan
hệ xã hội phát sinh trong quá trình nhà nước quản lý tổ chức, hoạt động của
hộ kinh doanh, các quan hệ về tổ chức, hoạt động của hộ kinh doanh và các quan hệ giữa hộ kinh doanh với các chủ thể khác
1.2.2 Nội dung và đặc điểm pháp luật về hộ kinh doanh
Với tư cách là một phương tiện tổ chức hoạt động sản xuất kinh doanh, nội dung quy định pháp luật về hộ kinh doanh sẽ bao gồm các vấn đề cơ bản sau:
- Quy định về đăng ký, thành lập, hình thức tổ chức của hộ kinh doanh
- Quy định về quyền và nghĩa vụ của hộ kinh doanh
Trang 20- Quy định về tạm ngừng, chấm dứt, thay đổi hộ kinh doanh
- Quy định về chuyển đổi hộ kinh doanh thành doanh nghiệp
Trong đó, nội dung pháp luật về hộ kinh doanh có một số đặc điểm như:
Thứ nhất, về đối tượng điều chỉnh của pháp luật hộ kinh doanh chính là
hộ kinh doanh Hộ kinh doanh do một cá nhân là công dân Việt Nam, hoặc do một nhóm người hay một hộ gia đình làm chủ, có quy mô nhỏ và mô hình tổ chức đơn giản, không có tư cách pháp nhân và phải chịu trách nhiệm vô hạn bằng tài sản của mình trong hoạt động kinh doanh Đây là đặc điểm cơ bản nhất để phân biệt pháp luật hộ kinh doanh với các chế định pháp luật khác
Thứ hai, pháp luật của hộ kinh doanh chịu sự chi phối, tác động từ lịch
sử, chính sách phát triển kinh tế xã hội của Nhà nước Khi Đảng có chính sách đổi mới năm 1986, khi Luật doanh nghiệp tư nhân chưa ra đời, pháp luật về
hộ kinh doanh đã tạo nền tảng, cơ sở để thúc đẩy, giải phóng năng lực kinh doanh của các thành phần kinh tế trong xã hội Khi nền kinh tế phát triển, pháp luật doanh nghiệp hoàn thiện hơn, vai trò của các doanh nghiệp được khẳng định và nâng cao, pháp luật về hộ kinh doanh tiếp tục hoàn thiện các quy định và trở thành một bộ phận cấu thành của pháp luật doanh nghiệp [1]
Thứ ba, pháp luật hộ kinh doanh có liên hệ chặt chẽ và là một bộ
phận cấu thành của pháp luật doanh nghiệp Mặc dù các văn bản Luật doanh nghiệp qua các thời kỳ đều không ghi nhận hộ kinh doanh có tư cách giống như doanh nghiệp, nhưng với quan niệm hộ kinh doanh là một đơn vị kinh tế có quy mô nhỏ hơn doanh nghiệp, Luật doanh nghiệp luôn đưa ra các quy định tùy nghi, thậm chí bắt buộc về sự chuyển đổi của hộ kinh doanh thành doanh nghiệp Trên cơ sở Luật doanh nghiệp, các văn bản hướng dẫn chi tiết thi hành Luật Doanh nghiệp luôn quy định các vấn đề về
Trang 21thành lập, đăng ký, tổ chức, quản lý hoạt động kinh doanh của hộ kinh doanh
1.2.3 Khái quát quá trình hình thành và phát triển của hệ thống văn bản pháp luật về hộ kinh doanh
Sự ra đời của hộ kinh doanh gắn chặt với sự ra đời và phát triển của nền kinh tế thị trường Sự phát triển của nền kinh tế thị trường tạo sức cạnh tranh lớn Để tồn tại và phát triển trong môi trường cạnh tranh ngày càng khốc liệt như vậy đòi hỏi các cá nhân kinh doanh thường được gọi là thương nhân đơn lẻ hay doanh nghiệp cá thể và người lao động phải nâng cao năng suất lao động, chất lượng sản phẩm không ngừng được cải thiện và nâng cao, giảm thiểu tối đa chi phí sản xuất, giảm giá thành sản phẩm để có thể đứng vững trên thị trường Để làm được điều này, chúng ta cùng quay lại lịch sử để tìm hiểu về nền kinh tế của nước ta đã trải qua những thay đổi như thế nào
Ở miền Nam chính quyền Sài Gòn tiếp tục kế thừa pháp luật thương mại thời Pháp thuộc đồng thời ban hành một loạt các văn bản pháp luật thương mại mới mà đỉnh cao là Bộ luật Thương mại năm 1972 Ở miền Bắc, nhân dân ta tiếp tục công cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa với thành phần kinh tế ngoài quốc doanh là kinh tế cá thể và kinh tế tư bản doanh Khi xây dựng nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, quan liêu bao cấp, thời kỳ này Nhà nước đóng vai trò quyết định toàn bộ nền kinh tế, kinh tế tư nhân bị xóa bỏ Cũng trong thời kỳ này, kinh tế tư nhân đã “tàng hình” để sống sót
và hoạt động Kinh tế tư nhân bị bỏ xó, trong khi kinh tế tập trung đã hình thành tình trạng “cha chung không ai khóc” gây nên sự tham ô lãng phí của công rất nhiều Sai lầm này làm cho nền kinh tế nước nhà bị suy yếu, sản xuất tăng chậm, hiệu quả thấp, tài nguyên của đất nước chưa được khai
Trang 22thác tốt và còn bị sử dụng lãng phí, đời sống nhân dân lao động còn nhiều khó khăn
Đến năm 1986, Việt Nam đã tiến hành cải cách, đổi mới trên nhiều lĩnh vực Công cuộc đổi mới ấy được xem như một bước chuyển biến kỳ diệu, một cuộc “hồi sinh” lần thứ hai của đất nước ta Đại hội Đảng toàn quốc lần VI được biết đến như là một đại hội bước ngoặt, đưa ra giải pháp khuyến khích phát triển kinh tế gia đình, sử dụng khả năng tích cực của nền kinh tế tiểu sản xuất hàng hóa, đồng thời vận dụng và tổ chức những người lao động cá thể vào hình thức làm ăn tập thể để nâng cao hiệu quả sản xuất, kinh doanh Khuyến khích các hình thức hùn vốn, hợp tác, làm ăn tập thể từ thấp đến cao
và các hình thức liên kết với các thành phần kinh tế xã hội chủ nghĩa, xóa bỏ
cơ chế tập trung quan liêu, bao cấp, chuyển nền kinh tế sang hạch toán kinh doanh xã hội chủ nghĩa, đúng nguyên tắc tập trung dân chủ[48]
1.2.4 Kinh nghiệm điều chỉnh pháp luật về hộ kinh doanh của một
số quốc gia
Thương nhân đơn lẻ phải chịu trách nhiệm về khoản nợ kinh doanh của chính mình, phải giữhóa đơn, chứng từ về bán hàng- chi phí, gửi tờ khai thuế thu nhập tự đánh giá hàng năm, nộp thuế thu nhập, đăng ký thuế giá trị gia tăng khi đến ngưỡng chịu thuế… Pháp luật Hoa Kỳ quan niệm doanh nghiệp cá thể (sole proprietorship) là một hình thức đơn giản và phổ biến nhất để bắt đầu kinh doanh Đó là mô hình kinh doanh không có tư cách pháp nhân, được sở hữu và điều hành bởi một cá nhân, không có sự phân biệt giữa doanh nghiệp và chủ sở hữu Người thành lập doanh nghiệp
cá thể được hưởng toàn bộ lợi nhuận và chịu trách nhiệm đối với mọi khoản nợ, thua lỗ từ hoạt động kinh doanh Cá nhân trở thành thương nhân theo pháp luật Pháp được xác định bởi Tòa án Nếu tên một cá nhân xuất
Trang 23hiện trong Sổ đăng ký thương mại tại Tòa án thương mại, thì người đó được xem là thương nhân, trừ khi có chứng cứ ngược lại
Điều 2, Luật doanh nghiệp cá thể Trung Quốc quy định: “Doanh nghiệp cá thểlà đơn vị kinh tế được thành lập tại Trung Quốc với khoản vốn được đóng góp bởi một cá nhân và tài sản thuôc sở hữu của cá nhân
đó, người này phải chịu trách nhiệm vô hạn về tài sản của mình về hoạt động kinh doanh”
Như vậy, hầu hết pháp luật các nước trên thế giới đều phân biệt hai nhóm thương nhân là thương nhân thể nhân và thương nhân pháp nhân, không có sự phân biệt giữa về quy mô kinh doanh giữa các thương nhân Thương nhân thể nhân được coi là hình thức, mô hình kinh doanh đơn giản
do một cá nhân tự thành lập, tự chịu trách nhiệm về mọi hoạt động kinh doanh của mình, tài sản của doanh nghiệp cá thểchính là tài sản của người thành lập doanh nghiệp Pháp luật Việt Nam có đặc thù và quan niệm riêng
về hộ kinh doanh, hộ kinh doanh không được coi là doanh nghiệp, hộ kinh doanh có thể được thành lập bởi hộ gia đình, cá nhân hoặc nhóm cá nhân Pháp luật Việt Nam phân biệt hộ kinh doanh và doanh nghiệp bằng quy mô kinh doanh, cho rằng các hộ kinh doanh là một đơn vị kinh tế có quy mô rất nhỏ Điều này gây nên sự bất bình đẳng giữa các thành phần kinh tế, vì vậy pháp luật Việt Nam cần hoàn thiện thay đổi góc độ, quan niệm về hộ kinh doanh, không nên phân biệt đối xử các đơn vị kinh tế chỉ vì quy mô hoạt động kinh doanh của chúng,nên sửa đổi theo hướng công nhận các loại hình kinh tế, cùng có cơ chế điều chỉnh giống nhau, theo quy định của Luật doanh nghiệp [48]
Trang 24Kết luận chương 1
Chương 1 đã khái quát về hộ kinh doanh và pháp luật hộ kinh doanh, việc xác định vị trí, vai trò, hoạt động của hộ kinh doanh sao cho phù hợp với thực tiễn phát triển kinh tế, xã hội, cũng như yêu cầu của công cuộc đổi mới mà Đảng và Nhà nước ta đã đề ra, bảo đảm cho các hộ kinh doanh phát huy được vai trò của mình trong cơ chế chủ động, tự chủ sản xuất kinh doanh, bình đẳng trước pháp luật, góp phần quan trọng vào sự phát triển nền kinh tế đất nước, giải quyết tốt các vấn đề xã hội đặt ra.Bên cạnh đó không thể không kể đến vai trò của hộ kinh doanh trong việc phát triển nền kinh tế, huy động các nguồn lực của xã hội vào sản xuất, kinh doanh, tạo thêm việc làm, cải thiện đời sống nhân dân, tăng ngân sách Nhà nước Tuy nhiên một thực tế hiện nay đó là cần thiết chuyển đổi hộ kinh doanh lên doanh nghiệp để khắc phục những hạn chế về năng lực sản xuất kinh doanh, trình độ quản lý, ứng dụng kỹ thuật công nghệ, tăng đóng góp cho ngân sách nhà nước
Trang 25Chương 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ HỘ KINH DOANH
VÀ THỰC TIỄN THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ HỘ KINH DOANH
TẠI TỈNH TÂY NINH 2.1 Thực trạng pháp luật Việt Nam về hộ kinh doanh
Hiện nay, Luật Doanh nghiệp năm 2020 đã được thông qua, nhưng một trong những nội dung đáng chú ý của Luật Doanh nghiệp (sửa đổi) được thông qua đã chính thức bỏ hộ kinh doanh khỏi sự điều chỉnh của Luật Doanh nghiệp, để xây dựng một luật riêng cho đối tượng này, chính vì vậy trong phạm vi nghiên cứu của của đề tài, tác giả tiếp tục nghiên cứu quy định về hộ kinh doanh theo quy định của Luật Doanh nghiệp 2014
2.1.1 Quy định về đăng ký hộ kinh doanh
Luật Doanh nghiệp 2014 không có quy định về việc thành lập, đăng
ký hộ kinh doanh Điều 183, Điều 212 dẫn chiếu đến hộ kinh doanh trong mối liên hệ, chuyển đổi thành doanh nghiệp Tuy nhiên, Nghị định số 78/2015/NĐ-CP hướng dẫn về thủ tục đăng ký kinh doanh của Luật doanh nghiệp quy định chi tiết về việc các điều kiện thành lập, thủ tục đăng ký hộ kinh doanh [9] Theo quy định này, có hai nhóm chủ thể có quyền thành lập hộ kinh doanh tại Việt Nam là cá nhân và hộ gia đình
Cá nhân, nhóm cá nhân: Cá nhân tại Việt Nam có quyền thành lập
hộ kinh doanh khi đáp ứng các điều kiện: (i) Cá nhân là công dân Việt Nam
đủ 18 tuổi, có năng lực pháp luật, năng lực hành vi dân sự đầy đủ, (ii) Cá nhân không thuộc diện pháp luật cấm kinh doanh; (iii) Cá nhân không đồng thời là chủ hộ kinh doanh khác, không phải là chủ doanh nghiệp tư nhân, không phải là thành viên hợp danh của công ty hợp danh trừ trường hợp được sự đồng ý của các thành viên hợp danh còn lại Như vậy, pháp luật đã
Trang 26loại trừ quyền thành lập hộ kinh doanh tại Việt Nam của người nước ngoài, chủ doanh nghiệp tư nhân, thành viên hợp danh và các đối tượng bị cấm kinh doanh Trường hợp hộ kinh doanh được thành lập bởi một nhóm cá nhân thì từng cá nhân cũng đáp ứng các điều kiện nêu trên
Hộ gia đình: Việc quy định hộ gia đình có quyền thành lập hộ kinh doanh là một đặc điểm riêng của pháp luật Việt Nam Quy định này đồng nghĩa với việc thừa nhận hộ gia đình là một chủ thể kinh doanh trong nền kinh tế Cơ sở của quy định này bắt nguồn từ việc công nhận hộ gia đình là một chủ thể trong quan hệ pháp luật dân sự theo Bộ luật dân sự năm 1995,
Bộ luật dân sự năm 2005 Pháp luật công nhận quyền thành lập hộ kinh doanh cho hộ gia đình một cách đương nhiên mà không phải tuân thủ các điều kiện nào, ngoài trừ hạn chế “…hộ gia đình theo quy định tại khoản 1 Điều này chỉ được đăng ký một hộ kinh doanh trong phạm vi toàn quốc” Tuy nhiên, cơ sở xác định là hộ gia đình vẫn còn chưa rõ ràng Theo đó, hộ gia đình theo Bộ luật dân sự được xác định dựa trên tập hợp các thành viên
có tài sản chung, đóng góp công sức chung để hoạt động kinh doanh Vậy yếu tố gia đình như quan hệ nuôi dưỡng, quan hệ huyết thống, quan hệ hôn nhân có bắt buộc cấu thành hộ gia đình không? Việc công nhận quyền thành lập hộ kinh doanh cho gia đình nhưng không xác định rõ các yếu tố, đặc điểm pháp lý của hộ gia đình sẽ phát sinh nhiều vướng mắc trong thực thi pháp luật Còn trong Bộ luật Dân sự 2015 chưa quy định rõ về khái niệm hộ gia đình để phù hợp và thống nhất với quy định về hộ gia đình trong các văn bản pháp luật khác để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp cho các thành viên trong hộ gia đình đối với tài sản thuộc sở hữu chung [12]
Theo quy định của pháp luật về doanh nghiệp thì cá nhân, hộ gia đình có quyền thành lập hộ kinh doanh và có nghĩa vụ đăng ký hộ kinh
Trang 27doanh trừ trường hợp cụ thể theo quy định sau tạiĐiều 66 Nghị định 78/2015/NĐ-CP: “Hộ gia đình sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp, làm muối
và những người bán hàng rong, quà vặt, buôn chuyến, kinh doanh lưu động, làm dịch vụ có thu nhập thấp không phải đăng ký, trừ trường hợp kinh doanh các ngành, nghề có điều kiện” (Khoản 2 Điều 66 Nghị định 78/2015/NĐ-CP)
Về phân loại hộ kinh doanh thì căn cứ vào các đặc tính pháp lý của
hộ kinh doanh, hộ kinh doanh được chia thành 3 loại: (1) hộ kinh doanh do một cá nhân làm chủ; (2) hộ kinh doanh do một hộ gia đình làm chủ; và (3)
hộ kinh doanh do một nhóm người làm chủ Mặc dù, đều được ghi nhận là
hộ kinh doanh nhưng xét về bản chất, cả 03 loại hình trên đều không thống nhất Pháp luật có những quy định chung cho cả 03 loại hình mà không căn
cứ vào bản chất từng loại hình để đưa ra những quy định thích hợp dẫn đến những bất cập trong quá trình hoạt động kinh doanh cũng như khả năng vận dụng quyền và nghĩa vụ của chủ thể này trong thực tiễn Cụ thể:
- Về hộ kinh doanh do một cá nhân làm chủ: Theo khoản 1 điều 6 Luật Thương mại 2005 thừa nhận hộ kinh doanh do cá nhân làm chủ là thương nhân: “Thương nhân bao gồm tổ chức kinh tế được thành lập hợp pháp; cá nhân hoạt động thương mại một cách độc lập, thường xuyên và có đăng ký kinh doanh”
- Về hộ kinh doanh do hộ gia đình làm chủ: pháp luật doanh nghiệp thì không điều chỉnh đến còn Bộ luật dân sự chỉ điều chỉnh dưới góc độ tài sản và nghĩa vụ dân sự của hộ gia đình Nghị định 78/2015/NĐ-CP, Bộ luật dân sự 2015 không có quy định chỉ dẫn hoặc thể hiện mối liên hệ giữa hộ gia đình với hộ kinh doanh
Trang 28- Về hộ kinh doanh do một nhóm người làm chủ: Theo quy định tại khoản 3, Điều 66 Nghị định 78/2015/NĐ-CP, một nhóm người tự nguyện hùn vốn, kỹ thuật, cùng nhau tiến hành hoạt động kinh doanh, cùng hưởng lãi, cùng chịu lỗ và cùng chịu trách nhiệm về hoạt động kinh doanh
Như vậy, có thể hiểu thành viên của hộ kinh doanh do một nhóm người làm chủ có thể nhiều hơn mười người và trong đó có một số thành viên không trực tiếp tham gia lao động thường xuyên trong hộ kinh doanh, điều này làm thay đổi mục tiêu ban đầu của hộ kinh doanh do một nhóm người thành lập là hùn vốn và công sức cùng nhau sản xuất, kinh doanh kiếm lời Pháp luật cho phép hộ kinh doanh được tạo lập bởi một nhóm người cùng nhau góp vốn, trong khi pháp luật chỉ quan tâm tới người đại diện cho nhóm và không cần biết tới từng người, và thỏa thuận giữa họ với nhau là không thỏa đáng cả về vấn đề trách nhiệm của từng người đối với các khoản nợ của hộ kinh doanh và vấn đề quản trị Các chế độ quản trị liên quan tới hộ gia đình và liên quan tới nhóm người kinh doanh dưới hình thức hộ kinh doanh vừa nói trên thiếu công bằng bởi không góp phần bảo đảm quyền lợi của từng thành viên và không xem các thành viên có vị thế bình đẳng [48]
Bên cạnh đó, về vấn đề này theo quy định tại Điều 70 Nghị định 78/2015/NĐ-CP quy định về đăng ký hộ kinh doanh, theo đó, hộ kinh doanh phảo thực hiện nộp 01 bộ hồ sơ tại cơ quan đăng ký kinh doanh cấp huyện khi đăng ký thành lập hộ kinh doanh hoặc đăng ký thay đổi nội dung đã đăng ký [9] Thủ tục đăng ký kinh doanh của hộ kinh doanh bao gồm các bước sau:
Bước 1: Đề nghị đăng ký kinh doanh
Trang 29Bước 2: Xác nhận và thẩm tra Nhà chức trách có thẩm quyền khi tiếp nhận hồ sơ phải cấp cho người nộp hồ sơ một giấy biên nhận làm bằng chứng cho việc tiếp nhận hồ sơ, rồi sau đó kiểm tra tính hợp lệ của hồ sơ Trong thời hạn năm ngày làm việc, nhà chức trách có thẩm quyền phải cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh cho hộ kinh doanh nếu hồ sơ hợp lệ, hoặc phải thông báo những nội dung cần sửa đổi hay yêu cầu bổ sung văn bản, nếu hồ sơ không hợp lệ
Trong quy định tại Điều 71 trong Nghị định này quy định chi tiết về
hồ sơ, trình tự, thủ tục đăng ký hộ kinh doanh tại pháp luật doanh nghiệp,
cụ thể: Cá nhân, nhóm cá nhân hoặc người đại diện hộ gia đình gửi Giấy đề nghị đăng ký hộ kinh doanh đến cơ quan đăng ký kinh doanh cấp huyện nơi đặt địa điểm kinh doanh
Đăng ký hộ kinh doanh về cơ bản dễ hơn so với thành lập doanh nghiệp vì ít gò bó ở một khuôn khổ nhất định Đối với việc đặt tên hộ kinh doanh, điều 73 của Nghị định quy định: Hộ kinh doanh có tên gọi riêng Như vậy, hộ kinh doanh có tên gọi riêng, tên hộ kinh doanh sẽ bao gồm hai thành tố đó là: hộ kinh doanh và tên riêng của hộ kinh doanh
Để tránh nhầm lẫn cũng như trùng lặp thì tên riêng không được trùng với hộ đã đăng ký trong phạm vi huyện Khi đặt tên cho hộ kinh doanh, có thể đặt theo một trong các gợi ý sau: (i) Đặt tên hộ kinh doanh dựa trên ngành, nghề đăng ký hoạt động; (ii) Đặt tên hộ kinh doanh theo tên cá nhân sao cho phù hợp; (iii) Đặt tên hộ kinh doanh theo tên địa danh nổi bật về các mặt hàng kinh doanh mang tính bản địa; (iv) Đặt tên hộ kinh doanh bằng các tính từ phổ biến gây ấn tượng với khách hàng; (v) Đặt tên hộ kinh doanh theo các danh từ liên quan đến cuộc sống, phổ biến trong xã hội; (vi) Đặt tên hộ kinh doanh kết hợp với các từ ngoại ngữ (ví dụ như: fashion,
Trang 30shoes, shop, spa, ) Việc quy định các điều kiện về đặt tên hộ kinh doanh như vậy nhằm mục đích tránh gây nhầm lẫn đối với các doanh nghiệp, các công ty và hộkinh doanh khác đang hoạt động kinh doanh trên thị trường Mặt khác, cũng hạn chế được trường hợp các chủ thể lợi dụng việc đặt tên
hộ kinh doanh trùng nhau để cạnh tranh không lành mạnh đối với các hộ kinh doanh khác Từ đó, góp phần đảm bảo lợi ích cho khách hàng, người tiêu dùng khi sử dụng các sản phẩm của các hộ kinh doanh khác nhau và cũng tạo điều kiện thuận lợi cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền quản lý hoạt động kinh doanh của các hộ kinh doanh trên địa bàn [9]
Việc chấp hành pháp luật trong đăng ký kinh doanh trong thời gian qua có những kết quả nhất định, song vẫn còn những tồn tại, hạn chế như: việc sửa đổi, bổ sung “Quy trình tiếp nhận và giải quyết thủ tục hành chính
về đăng ký kinh doanh” cũng chưa kịp thời, thời gian kéo dài quá lâu, gây nhiều hạn chế cho hoạt động giám sát và đánh giá tình hình đăng ký kinh doanh Bên cạnh đó còn sự bất cập lớn về nhân sự thực hiện đăng ký kinh doanh và các chủ thể đăng ký kinh doanh; việc áp dụng công nghệ thông tin vào đăng ký kinh doanh chưa được hoàn thiện việc phối hợp giữa các cơ quan đăng ký kinh doanh vẫn còn hạn chế
Nguyên nhân của tình trạng trên là do với lượng doanh nghiệp lớn, vấn đề quản lý nhà nước và thực thi pháp luật đăng ký doanh nghiệp gặp nhiều khó khăn và phức tạp Điều này có thể thấy rõ ở số lượng các công ty
ma, công ty bỏ trốn và nợ thuế ngày càng tăng ở nhiều địa phương, gây khó khăn cho các cơ quan quản lý nhà nước; hệ thống pháp luật đang trong quá trình điều chỉnh và hoàn thiện, hệ quả của quá trình phát triển cơ quan đăng
ký kinh doanh không đúng theo trình tự chưa có sự quan tâm đúng mức đến công tác quản lý đăng ký kinh doanh Việc nhận thức bản chất hoạt động đăng ký kinh doanh còn chưa rõ ràng dẫn đến cơ quan đăng ký kinh doanh
Trang 31làm khó các chủ thể trong quá trình đăng ký, còn các chủ thể này chưa nhận thức được quyền và nghĩa vụ của mình dù quy định pháp luật là cơ quan đăng ký kinh doanh chỉ kiểm tra tính hợp lệ mà không kiểm tra tính hợp pháp của hồ sơ
2.1.2 Quyền và nghĩa vụ của hộ kinh doanh
Các văn bản pháp luật đầu tiên ghi nhận địa vị pháp lý của hộ kinh doanh là Nghị định 27/HĐBT, Nghị định 66/HĐBT Với tư cách là chủ thể được pháp luật thừa nhận, hộ kinh doanh có đầy đủ các quyền và nghĩa vụ, được thực hiện những hành vi pháp lý để tạo cho mình những quyền và nghĩa vụ, thực hiện những quyền và nghĩa vụ đó, đồng thời chịu trách nhiệm về mọi hoạt động kinh doanh của mình
Các quyền và nghĩa vụ cơ bản của hộ kinh doanh đã được Hiến pháp
2013 tiếp tục ghi nhận: “Mọi người có quyền tự do kinh doanh trong những ngành nghề mà pháp luật không cấm” (Điều 33) “Tại điều 67 Nghị định 78/2015/NĐ-CP cũng đã quy định về quyền thành lập hộ kinh doanh và nghĩa vụ đăng ký của hộ kinh doanh Hộ kinh doanh có bản chất là doanh nghiệp, và cũng là một chủ thể kinh doanh độc lập thực hiện các hoạt động sản xuất, kinh doanh, lưu thông, phân phối sản phẩm… như các chủ thể kinh doanh khác Do vậy, hộ kinh doanh cũng có các quyền và nghĩa vụ giống với các chủ thểkinh doanh khác trong nền kinh tế thị trường ở nước
ta hiện nay Tổng hợp các văn bản pháp luật có liên quan chúng ta có thể khái quát các quyền và nghĩa vụ cơ bản của hộ kinh doanh hiện nay như sau:
- Quyền tự chủ kinh doanh; chủ động lựa chọn ngành nghề mà pháp luật không cấm; được quyền thành lập hộ kinh doanh, lựa chọn địa bàn, hình thức kinh doanh
Trang 32- Chủ động tìm kiếm thị trường, khách hàng, trực tiếp giao dịch, ký kết hợp đồng với khách hàng để mua nguyên liệu, tiêu thụ sản phẩm… phục vụ cho nhu cầu sản xuất kinh doanh của hộ kinh doanh
- Quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản của hộ kinh doanh;
- Đăng ký kinh doanh, đăng ký mã số thuế, kê khai thuế, nộp thuế và thực hiện các nghĩa vụ tài chính khác theo quy định của pháp luật
- Hộ kinh doanh cần bảo đảm và chịu trách nhiệm về chất lượng hàng hóa, dịch vụ do hộ kinh doanh sản xuất ra theo tiêu chuẩn đã đăng ký hoặc công bố
- Trong quá trình hoạt động sản xuất, kinh doanh hộ kinh doanh phải tuân thủ những quy định của pháp luật về quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, bảo vệ tài nguyên môi trường, bảo vệ di tích lịch sử, văn hóa
Trang 33kinh doanh còn phát sinh từ những hành vi gây thiệt hại ngoài hợp đồng (hộ kinh doanh gây thiệt hại cho người khác hoặc ngược lại) Ngoài ra còn
có những quyền và nghĩa vụ phát sinh từ những quan hệ pháp luật giữa hộ kinh doanh với cơ quan nhà nước như: trong quan hệ nộp thuế, cấp Giấy chứng nhận đăng ký hộ kinh doanh…
Tình trạng vỡ nợ, không thu hồi được vốn diễn ra khá phổ biến Một trong những nghĩa vụ của tất cả các tổ chức, cá nhân theo quy định là thuế Hiện nay quy định về thuế, phí và lệ phí đối với hộ kinh doanh vẫn còn nhiều bất cập
* Thuế môn bài: Từ ngày 1/1/2017 theo Nghị định 139/2016/NĐ-CP
quy định về các đối tượng được miễn nộp thuế môn bài và mức nộp thuế môn bài với từng trường hợp như sau:
Mức thu lệ phí môn bài: Mức thu lệ phí môn bài đối với tổ chức hoạt
động sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ như sau: (a) Tổ chức có vốn điều lệ hoặc vốn đầu tư trên 10 tỷ đồng: 3.000.000 đồng/năm; (b) Tổ chức
có vốn điều lệ hoặc vốn đầu tư từ 10 tỷ đồng trở xuống: 2.000.000 đồng/năm; (c) Chi nhánh, văn phòng đại diện, địa điểm kinh doanh, đơn vị
sự nghiệp, tổ chức kinh tế khác: 1.000.000 đồng/năm Mức thu lệ phí môn bài đối với tổ chức quy định tại điểm a và điểm b khoản này căn cứ vào vốn điều lệ ghi trong giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh; trường hợp không có vốn điều lệ thì căn cứ vào vốn đầu tư ghi trong giấy chứng nhận
đăng ký đầu tư
Mức thu lệ phí môn bài đối với cá nhân, hộ gia đình hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ như sau: (a) Cá nhân, nhóm cá nhân, hộ gia đình có doanh thu trên 500 triệu đồng/năm: 1.000.000 đồng/năm; (b)
Cá nhân, nhóm cá nhân, hộ gia đình có doanh thu trên 300 đến 500 triệu
Trang 34đồng/năm: 500.000 đồng/năm; (c) Cá nhân, nhóm cá nhân, hộ gia đình có doanh thu trên 100 đến 300 triệu đồng/năm: 300.000 đồng/năm.Tổ chức, cá nhân, nhóm cá nhân, hộ gia đình sản xuất, kinh doanh nhưng không kê khai
lệ phí môn bài thì phải nộp mức lệ phí môn bài cả năm, không phân biệt thời điểm phát hiện là của 6 tháng đầu năm hay 6 tháng cuối năm
Tổ chức quy định tại các điểm a, b khoản 1 Điều này có thay đổi vốn điều lệ hoặc vốn đầu tư thì căn cứ để xác định mức thu lệ phí môn bài là vốn điều lệ hoặc vốn đầu tư của năm trước liền kề năm tính lệ phí môn bài.Trường hợp vốn điều lệ hoặc vốn đầu tư được ghi trong giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh hoặc giấy chứng nhận đăng ký đầu tư bằng ngoại
tệ thì quy đổi ra tiền đồng Việt Nam để làm căn cứ xác định mức lệ phí môn bài theo tỷ giá mua vào của ngân hàng thương mại, tổ chức tín dụng nơi người nộp lệ phí môn bài mở tài khoản tại thời điểm người nộp lệ phí môn bài nộp tiền vào ngân sách nhà nước
Cá nhân, nhóm cá nhân, hộ gia đình quy định tại khoản 2 Điều này
có thay đổi doanh thu thì căn cứ để xác định mức thu lệ phí môn bài là doanh thu của năm trước liền kề năm tính lệ phí môn bài”
* Thuế thu nhập cá nhân và thuế GTGT: Đối tượng là cá nhân, nhóm
cá nhân và hộ gia đình kinh doanh phải nộp thuế thu nhập cá nhân và thuế giá trị gia tăng được quy định tại Thông tư 92/2015/TT-BTC như sau:
Phương pháp tính thuế đối với cá nhân kinh doanh nộp thuế là theo phương pháp khoán theo quy định của pháp luật về thuế và các loại phí liên quan Nếu hộ kinh doanh có doanh thu từ 100 triệu trở xuống thì không phải nộp thuế GTGT và thuế TNCN.Trường hợp cá nhân nộp thuế khoán kinh doanh không trọn năm (không đủ 12 tháng trong năm dương lịch) thì mức doanh thu 100 triệu đồng/năm trở xuống để xác định cá nhân không
Trang 35phải nộp thuế giá trị gia tăng, không phải nộp thuế thu nhập cá nhân là doanh thu tính thuế thu nhập cá nhân của một năm (12 tháng); doanh thu tính thuế thực tế để xác định số thuế phải nộp trong năm là doanh thu tương ứng với số tháng thực tế kinh doanh
Trường hợp cá nhân nộp thuế khoán đã được cơ quan thuế thông báo
số thuế khoán phải nộp, nếu kinh doanh không trọn năm thì cá nhân được giảm thuế khoán phải nộp tương ứng với số tháng ngừng/nghỉ kinh doanh trong năm Trường hợp cá nhân kinh doanh theo hình thức nhóm cá nhân,
hộ gia đình thì mức doanh thu 100 triệu đồng/năm trở xuống để xác định cá nhân không phải nộp thuế giá trị gia tăng, không phải nộp thuế thu nhập cá nhân được xác định cho một (01) người đại diện duy nhất trong năm tính thuế.Tỷ lệ thuế tính trên doanh thu gồm tỷ lệ thuế giá trị gia tăng và tỷ lệ thuế thu nhập cá nhân áp dụng đối với từng lĩnh vực ngành nghề mà hộ kinh doanh đang thực hiện kinh doanh
* Mức doanh thu tính thuế GTGT, TNCN và tỷ lệ thuế GTGT, TNCN được quy định cụ thể theo quy định của Thông tư 92/2015/TT-BTC
Các quy định về thuế đã được đặt ra cụ thể, rõ ràng, tuy nhiên công tác quản lý thuế đối với hộ kinh doanh vẫn còn nhiều bất cập, tình trạng trốn thuế, gian lận thuế và nợ đọng thuế gây thất thu ngân sách nhà nước vẫn diễn ra thường xuyên, chưa khuyến khích được ý thức tuân thủ pháp luật thuế của người nộp thuế Bên cạnh đó là hạn chế từ công tác xác định mục tiêu, đối tượng quản lý thuế và công tác tổ chức bộ máy thu thuế cho đến việc thực hiện các quy trình thanh tra, kiểm tra quản lý thuế của cơ quan thuế Thời gian qua, ngành thuế đã triển khai thực hiện nhiều giải pháp, từ đó hạn chế thấp nhất tình trạng trốn thuế, gian lận thuế và nợ đọng thuế, góp phần tăng thu cho NSNN Công tác quản lý thuế hộ kinh doanh
Trang 36rất phức tạp, tốn nhiều công sức, số thu từ hộ kinh doanh vẫn chưa tương xứng với mức độ kinh doanh thực tế của các hộ kinh doanh, công tác quản
lý thu thuế đã có nhiều chuyển biến tích cực nhưng vẫn chưa quản lý đầy
đủ các hộ kinh doanh trên địa bàn, dẫn đến thất thu nhiều, hoạt động của hộ kinh doanh và những hành vi vi phạm pháp luật thuế ngày càng tinh vi hơn Bên cạnh đó, hội đồng tư vấn thuế xã, phường, thị trấn chưa phát huy vai trò trong công tác phối hợp để xử lý vi phạm nợ đọng thuế của các hộ kinh doanh trên địa bàn
Nguyên nhân do một phần công tác chỉ đạo điều hành có những mặt hạn chế chưa tìm ra những biện pháp hữu hiệu để chống thất thu thuế Việc điều chỉnh doanh thu chưa sát với thực tế, còn mang nặng tính cảm tính nên doanh số ấn định chưa sát đúng với các hộ kinh doanh Đặc biệt là, một số ngành hàng như: vận tải, thương mại dịch vụ, ý thức chấp hành việc nộp thuế còn hạn chế, còn chây ỳ trong việc nộp thuế, một số hộ kinh doanh khác mượn cửa hàng, cửa hiệu trên danh nghĩa thành phần góp vốn là cửa hàng trực thuộc các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế để trốn tránh nghĩa
vụ thuế Trong khi đó, sự kiểm tra, giám sát của cơ quan thuế còn thiếu, chưa đồng bộ, số lượng cán bộ mỏng, nên việc phát hiện xử lý vi phạm chưa được nghiêm túc và kịp thời Theo pháp luật về thuế hiện hành, hàng năm các hộ kinh doanh căn cứ vào kết quả sản xuất kinh doanh của mình, dịch vụ của năm trước và khả năng của năm tiếp theo để tự kê khai doanh thu, chi phí, thu nhập chịu thuế theo mẫu và nộp cho cơ quan thuế trực tiếp quản lý Như vậy, những kê khai trên thực chất chỉ là dự báo trong thời gian tương đối dài (1 năm) dẫn đến việc hộ kinh doanh sẽ kê khai thấp hơn thực tế sản xuất kinh doanh Chưa kể, nếu là hộ mới ra kinh doanh sẽ không có căn cứ để kê khai nộp thuế Bên cạnh đó, việc hướng dẫn các hộ kinh doanh ghi chép hoá đơn, chứng từ, kê khai nộp thuế, đăng ký thuế, lập
Trang 37hồ sơ hoàn thuế, miễn giảm thuế chưa đầy đủ và cụ thể Như vậy, để triển khai công tác quản lý thuế hộ kinh doanh có hiệu quả, cần triển khai nhiều giải pháp để cải thiện tình trạng nói trên
2.1.3 Quy định về tạm ngừng, chấm dứt, thay đổi hộ kinh doanh
2.1.3.1 Tạm ngừng kinh doanh của hộ kinh doanh
Tạm ngừng hộ kinh doanh là ngừng việc hoạt động hộ kinh doanh trong một khoảng thời gian Thủ tục để các chủ thể thực hiện việc tạm ngừng hộ kinh doanh có thể do 02 trường hợp, cụ thể như sau: Một là, tạm ngừng không do ý muốn của hộ kinh doanh trong các trường hợp: là trường hợp cơ quan Nhà nước yêu cầu phải tạm ngừng hoạt động kinh doanh, việc này được quy định tại khoản 3 điều 74 Nghị định 78/2015: Trường hợp cơ quan đăng ký kinh doanh cấp huyện nhận được văn bản của cơ quan có thẩm quyền về việc hộ kinh doanh kinh doanh ngành, nghề kinh doanh có điều kiện nhưng không đáp ứng đủ điều kiện theo quy định của pháp luật, cơ quan đăng ký kinh doanh cấp huyện ra thông báo yêu cầu hộ kinh doanh tạm ngừng kinh doanh ngành, nghề kinh doanh có điều kiện, đồng thời thông báo cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền để xử lý theo quy định của pháp luật Hai là, chủ hộ kinh doanh chủ động ngừng hoạt động kinh doanh thì thực hiện theo thủ tục tại Khoản 2, Điều 76 của Nghị định 78/2015 như đã nêu trên
2.1.3.2 Chấm dứt hoạt động kinh doanh của hộ kinh doanh
Khi hộ kinh doanh hoạt động không hiệu quả như mong muốn hoặc
có thể vì lý do cá nhân khác mà chủ hộ kinh doanh có thể quyết định chấm dứt hoạt động hộ kinh doanh của mình, Điều 77 Nghị định 78/2015/NĐ-CP ngày 14/09/2015 có quy định về chấm dứt hoạt động của hộ kinh doanh như sau: Khi chấm dứt hoạt động kinh doanh, hộ kinh doanh phải gửi