Đặc điểm của chuyển nhượng quyền sử dụng đất: Thứ nhất: Khi tham gia vào giao dịch các bên phải tuân thủ các quy định về điều kiện, nội dung, hình thức, trình tự, thủ tục thực hiện theo
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
- -
NGUYỄN THỊ YẾN
HỢP ĐỒNG CHUYỂN NHƯỢNG QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT CỦA HỘ GIA ĐÌNH, CÁ NHÂN THEO LUẬT ĐẤT ĐAI
NĂM 2013 TỪ THỰC TIỄN TỈNH ĐỒNG NAI
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT KINH TẾ
Hà Nội, năm 2021
Trang 2VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
Trang 4MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Với một đất nước hơn 70% dân số sống bằng nghề nông nghiệp, trong quá trình hình thành và phát triển của Việt Nam nông nghiệp đã trở thành ngành kinh tế
có vị trí hết sức quan trọng Từ một nước nông nghiệp nghèo nàn, lạc hậu trong những năm qua nông nghiệp Việt Nam đã có những chuyển biến tích cực đi từ nền kinh tế tự cung, tự cấp sang nền kinh tế hàng hóa gắn với thị trường, đẩy mạnh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Trước thềm phát triển nền kinh tế như vậy nhu cầu đặt ra về tư liệu sản xuất cụ thể là đất đai được xem là cơ sở đầu tiên và quan trọng nhất
Đất đai là tư liệu sản xuất đặc biệt, không thể thiếu và không thể thay thế được nhất là đối với một nước mà ngành kinh tế nông nghiệp chiếm tỉ trọng lớn như
Việt Nam Nói về tầm quan trọng của đất, Các Mác viết: “Đất là một phòng thí
nghiệm vĩ đại, là kho tàng cung cấp các tư liệu lao động, vật chất, là vị trí để định
cư, là nền tảng của tập thể” Nói về vai trò của đất đối với sản xuất, Các Mác khẳng
định: “Lao động không phải là nguồn duy nhất sinh ra của cải vật chất và giá trị
tiêu thụ, lao động chỉ là cha của của cải vật chất, còn đất là mẹ” Ph.Ăngghen
cũng từng nói: “hãy dành cho người nông dân tất cả thời gian cần thiết để suy nghĩ
trên luống cày cá thể của mình” Với ý nghĩa đó, trong từng thời kỳ lịch sử chế định
quản lý, sử dụng đất đai của Nhà nước ta luôn được chú trọng và quan tâm hàng đầu Từ Luật đất đai năm 1987 đến Luật đất đai năm 1993 (sửa đổi, bổ sung vào năm 1998 và 2001), tiếp đó là Luật đất đai năm 2003 (sửa đổi, bổ sung năm 2009)
và Luật đất đai năm 2013 cùng sự ra đời của một số Bộ luật, Luật khác có nội dung điều chỉnh đến quan hệ đất đai như Bộ luật dân sự năm 2015, Luật kinh doanh bất động sản năm 2014, Luật nhà ở năm 2014 luôn được quan tâm, bổ sung và hoàn thiện Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện vẫn phát sinh nhiều bất cập với nhiều nguyên nhân khác nhau từ cơ chế quản lý nhà nước cho đến việc tuân thủ, thực hiện các quy định pháp luật của người sử dụng đất Đặc biệt là những vấn đề liên quan đến quyền chuyển nhượng của người sử dụng đất
Trang 5Chuyển nhượng quyền sử dụng đất có thể nói là hình thức giao dịch dân sự phổ biến nhất hiện nay Sự phát triển mạnh mẽ của loại hình giao dịch này đã đưa đất đai trở thành loại hàng hóa thịnh hành trong nền kinh tế thị trường Đất đai không còn là tư liệu để sản xuất ra của cải, vật chất mà đã trở thành lĩnh vực đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng, dịch vụ, khu dân cư Tuy nhiên, chính điều đó đã tạo ra sự biến động đáng kể về đất đai, gây không ít khó khăn cho công tác quản lý và ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của người sử dụng đất Với siêu lợi nhuận từ việc đầu
tư đất đai mang lại, người sử dụng đất đã bắt đầu với những “tính toán” để giảm bớt chi phí phát sinh, các thủ tục rườm rà hay để trốn tránh việc thực hiện các nghĩa vụ
về tài chính Chuyển nhượng quyền sử dụng đất đã “biến tướng” thành nhiều hình thức khác nhau thông qua việc ký kết các hợp đồng hợp tác, hợp đồng nguyên tác, hợp đồng ủy quyền, … đã phá vỡ hành lang pháp lý điều tiết quan hệ chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Chính vì vậy, việc nghiên cứu một cách đầy đủ, toàn diện và có hệ thống về các quy định pháp luật điều chỉnh hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất của
hộ gia đình, cá nhân và thực tiễn áp dụng để tìm ra những hạn chế, bất cập trên cơ
sở đó đưa ra những định hướng, giải pháp nhằm hoàn thiện cơ chế áp dụng pháp luật đối với hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất là yêu cầu bức thiết hiện
nay Đó cũng là lý do tác giả lựa chọn đề tài “Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử
dụng đất của hộ gia đình, cá nhân theo Luật đất đai năm 2013 từ thực tiễn tỉnh Đồng Nai” làm đề tài nghiên cứu và thực hiện Luận văn Thạc sĩ của mình
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Chuyển nhượng quyền sử dụng đất là một trong những quyền năng cơ bản
và được thực hiện phổ biến nhất hiện nay Do đó, nghiên cứu về quyền chuyển nhượng không phải là một đề tài mới, mà trong thời gian qua ở nước ta đã có một số tác giả, nhà khoa học với nhiều công trình nghiên cứu như:
- Giáo trình Luật đất đai, tác giả Lưu Quốc Thái, Nxb Hồng Đức - Hội Luật gia Việt Nam, 2012 Giáo trình nghiên cứu các quy định của pháp luật về đất đai như chế độ sở hữu đất đai, quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất, các hoạt động đảm bảo việc chấp hành pháp luật đất đai;
Trang 6- Sách: “Tìm hiểu quyền sử dụng đất của tổ chức, cá nhân - trình tự, thủ tục
cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và các văn bản về giao đất, cho thuê đất, thu tiền sử dụng đất, bồi thường thiệt hại khi nhà nước thu hồi đất”, Luật sư
Nguyễn Thị Chi, NXB Lao động, 2019 Sách hệ thống đầy đủ, chi tiết các quy định pháp luật về quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất, trình tự thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất, các văn bản về giao đất, cho
thuê đất, thu hồi đất, thu tiền sử dụng đất, bồi thường thiệt hại về đất
- Luận án Tiến sĩ luật học: “Chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo pháp
luật Việt Nam”, tác giả Nguyễn Văn Hiến, năm 2017 Luận án đã khái quát những
vấn đề lý luận cơ bản về chuyển nhượng quyền sử dụng đất và hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất Nghiên cứu thực trạng áp dụng pháp luật, đánh giá được những hạn chế, bất cập của quy định pháp luật điều chỉnh về chuyển nhượng quyền
sử dụng đất và trên cơ sở đó đề xuất phương phướng, giải pháp hoàn thiện cơ chế, chính sách và pháp luật về chuyển nhượng quyền sử dụng đất;
- Luận văn Thạc sĩ luật học: “Hợp đồng dân sự vô hiệu và hậu quả pháp lý
của hợp đồng dân sự vô hiệu”, tác giả Phạm Ngọc Minh, 2006 Luận văn làm rõ các
quy định pháp luật dân sự về hợp đồng, hợp đồng vô hiệu và hậu quả khi hợp đồng
vô hiệu Phân tích những điểm phù hợp, chưa phù hợp về quy định pháp luật đối với hợp đồng vô hiệu và đưa ra một số giải pháp để sửa đổi, bổ sung quy định Bộ luật dân sự
- Bài viết: “Đánh giá tình hình chuyển nhượng quyền sử dụng đất trên địa
bàn huyện Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên” của tác giả Phan Thị Thanh Huyền, 2016 Bài
viết đã đánh giá thực trạng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với các loại đất (đất
ở, đất nông nghiệp) trên địa bàn huyện Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2010 -
2014 và khảo sát trình độ hiểu biết của người dân trong khu vực của quy định pháp về chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Tuy nhiên, đối với đề tài “Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất của
hộ gia đình, cá nhân theo Luật đất đai năm 2013 từ thực tiễn tỉnh Đồng Nai” thì
chưa có tác giả nào nghiên cứu Cùng với sự vận động, thay đổi không ngừng của
xã hội cũng như dựa vào thực tiễn áp dụng pháp luật, trên cơ sở kế thừa tinh thần
Trang 7học thuật của các công trình nghiên cứu đi trước, tác giả quan tâm sâu sắc và dành nhiều tâm huyết tiếp tục nghiên cứu, phân tích, đánh giá và đưa ra nhận định, mạnh dạn đề xuất các giải pháp nhằm điều chỉnh kịp thời, phù hợp các quan hệ về hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất của hộ gia đình, cá nhân tại tỉnh Đồng Nai trước tình hình phát triển như hiện nay
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Thứ nhất: Hệ thống hóa cơ sở lý luận về quyền sử dụng đất, hợp đồng
chuyển nhượng quyền sử dụng đất của hộ gia đình, cá nhân Đồng thời phân tích và đánh giá những quy định của pháp luật hiện hành điều chỉnh về hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Thứ hai: Đánh giá thực trạng việc thực hiện các quy định của pháp luật về
hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất của hộ gia đình, cá nhân từ thực tiễn tỉnh Đồng Nai
Thứ ba: Nhận diện những tồn tại, bất cập của pháp luật hiện hành và thực
hiện pháp luật về hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất của hộ gia đình, cá nhân từ thực tiễn tỉnh Đồng Nai
Thứ tư: Đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật và thực hiện pháp
luật về hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất của hộ gia đình, cá nhân tại tỉnh Đồng Nai
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu các vấn đề liên quan đến hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất của hộ gia đình, cá nhân theo Luật đất đai năm 2013 Trên cơ sở
Trang 8đó, phân tích, đánh giá các quy định pháp luật về chuyển nhượng quyền sử dụng đất của hộ gia đình, cá nhân và hoạt động của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền trong việc quản lý, sử dụng đất đai
4.2 Phạm vi nghiên cứu
a) Nội dung: Đề tài tập trung nghiên cứu, phân tích các quy định pháp luật
điều chỉnh về hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất của hộ gia đình, cá nhân
và thực hiện pháp luật tại tỉnh Đồng Nai
b) Thời gian: Tác giả thống kê, đánh giá số liệu trong giai đoạn từ năm
2018 - 2020
c) Không gian: Nghiên cứu từ thực tiễn địa bàn tỉnh Đồng Nai
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở phương pháp nghiên cứu trong đề tài được dựa trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lê Nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn,
lý luận phải được bắt nguồn từ thực tiễn, phản ánh các vấn đề của thực tiễn, đi sâu nghiên cứu, làm rõ sự phát triển của thực tiễn, góp phần thúc đẩy và đưa thực tiễn phát triển đúng hướng
Đồng thời, trong bài viết có sử dụng các phương pháp nghiên cứu như:
Phương pháp so sánh, dùng để so sách, đánh giá những quy định của pháp luật trước đây và quy định của pháp luật hiện hành, so sách quy định pháp luật về đất đai của một số nước trên quốc tế với quy định pháp luật về đất đai tại Việt Nam,
từ đó tìm ra những nét đặc thù, tương đồng với nhau, được sử dụng tại Chương 1 của luận văn
Phương pháp phân tích, dùng để phân tích cơ sở lý luận và nội dung các quy định pháp luật về hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, được sử dụng tại mục 2.1 Chương 2 của luận văn
Phương pháp thống kê, điều tra số liệu được dùng để khảo sát số liệu qua thực tế giải quyết hồ sơ chuyển nhượng quyền sử dụng đất tại tỉnh Đồng Nai, được
sử dụng tại mục 2.2 Chương 2 của luận văn
Phương pháp tổng hợp, bình luận dùng để khái quát những nội dung cơ bản của từng vấn đề nghiên cứu trong luận văn, trên cơ sở đó tìm ra mối liên hệ giữa
Trang 9quy định pháp luật và thực tiễn áp dụng pháp luật đã phù hợp hay chưa, kịp thời đưa
ra những giải pháp nhằm điều chỉnh quy định pháp luật cho phù hợp, được sử dụng tại Chương 3 của luận văn
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
6.1 Ý nghĩa lý luận
Đề tài đã hệ thống hóa những vấn đề lý luận về quyền sử dụng đất, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất Đồng thời phân tích, đánh giá các quy định của pháp luật hiện hành điều chỉnh về hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất Trên cơ sở đó tổng hợp những tồn đọng, nêu rõ những hạn chế, vướng mắc trong quá trình chuyển nhượng nhằm hoàn thiện cơ sở pháp lý về chuyển nhượng
quyền sử dụng đất
6.2 Ý nghĩa thực tiễn
Luận văn là tài liệu tham khảo tốt cho việc học tập, nghiên cứu, giảng dạy về những vấn đề liên quan đến hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất; Đồng thời, đưa ra những phương hướng, giải pháp góp phần bổ sung, hoàn thiện cơ sở pháp lý trong việc ban hành sửa đổi, bổ sung và thực thi pháp luật về hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất của hộ gia đình, cá nhân
7 Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của đề tài gồm 03 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất của hộ gia đình, cá nhân
Chương 2: Quy định của Luật đất đai 2013 và thực hiện pháp luật về hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất của hộ gia đình, cá nhân tại tỉnh Đồng Nai
Chương 3: Định hướng, giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện các quy định pháp luật về hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất của hộ gia đình, cá nhân tại tỉnh Đồng Nai
Trang 10Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HỢP ĐỒNG CHUYỂN NHƯỢNG QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT CỦA HỘ GIA ĐÌNH, CÁ NHÂN
1.1 Quyền sử dụng đất và chuyển nhượng quyền sử dụng đất của hộ gia đình, cá nhân
1.1.1 Khái niệm về hộ gia đình, cá nhân
Cá nhân: Cá nhân là con người cụ thể từ khi sinh ra cho đến khi chết đi và
tồn tại trong một tập thể hoặc trong một cộng đồng xã hội Với tư cách là chủ thể của quan hệ pháp luật dân sự - cá nhân là công dân Việt Nam, người nước ngoài có quốc tịch hoặc không có quốc tịch
Hộ gia đình: Hộ gia đình là tập hợp nhóm người có quan hệ hôn nhân,
huyết thống và nuôi dưỡng Dưới góc độ pháp luật đất đai, hộ gia đình sử dụng đất
là những người có quan hệ hôn nhân, huyết thống và nuôi dưỡng theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình, đang sống chung và có quyền sử dụng đất chung tại thời điểm được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất, nhận chuyển quyền sử dụng đất [31, Điều 3, khoản 29]
Như vậy, có thể hiểu hộ gia đình, cá nhân trong phạm vi luận văn này là những người sử dụng đất được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền
sử dụng đất, nhận chuyển quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật về đất đai
1.1.2 Quyền sử dụng đất và đặc điểm quyền sử dụng đất
Đất đai là một dạng tài nguyên, là môi trường sống, nền móng xây dựng cơ
sở hạ tầng của con người, là mặt bằng để sản xuất nông lâm nghiệp và là tư liệu sản xuất cơ bản, phổ biến trong hoạt động lao động của con người Đất có cấu tạo độc lập lâu đời, hình thành do kết quả của nhiều yếu tố như đá gốc, động thực vật, khí hậu, địa hình và thời gian và được phân thành nhiều loại bao gồm: Đất nông nghiệp (như đất trồng lúa, đất trồng cây hằng năm khác, đất trồng cây lâu năm, đất rừng sản xuất, đất rừng phòng hộ, đất rừng đặc dụng, đất nuôi trồng thủy sản, đất làm muối
và đất nông nghiệp khác…), đất phi nông nghiệp (như đất ở đô thị, đất ở nông thôn, đất xây dựng trụ sở cơ quan, đất sử dụng mục đích quốc phòng an ninh, đất xây
Trang 11dựng cơ sở tín ngưỡng tôn giáo, đất nghĩa trang, nghĩa địa…) và đất chưa sử dụng (loại đất chưa xác định được mục đích sử dụng)
Xuất phát từ đặc điểm lịch sử rất đặc biệt, do vị trí địa kinh tế chính trị tạo
ra lịch sử chế độ đất đai Việt Nam vừa phát triển theo quy luật chung của thế giới nhưng đồng thời nó mang bản sắc riêng theo bản năng đấu tranh sinh tồn của dân tộc trong những thời kỳ Giai đoạn trước Hiến pháp năm 1980, nước ta tồn tại nhiều hình thức sở hữu về đất đai như sở hữu Nhà nước, sở hữu tập thể, sở hữu tư nhân Nhưng đến Hiến pháp năm 1980 đất đai thuộc sở hữu toàn dân, Nhà nước vừa là người đại diện chủ sở hữu vừa là chủ quản lý đối với đất đai Ngày 29/12/1987, Luật đất đai năm 1987 được ban hành Đây là bước khởi đầu cho việc xác lập mối quan hệ giữa Nhà nước với tư cách là đại diện chủ sở hữu và người sử dụng đất Chế định về quyền sử dụng đất được hình thành, tuy nhiên Luật đất đai năm 1987 lại bộc lộ một số tồn tại như chưa quy định rõ một số cơ sở pháp lý cần thiết để điều chỉnh quan hệ đất đai khi chuyển qua nền kinh tế thị trường, chính sách tài chính về đất đai chưa rõ nét, đặc biệt chưa cho phép người sử dụng đất được chuyển quyền
sử dụng Trên cơ sở Hiến pháp năm 1992, Luật đất đai năm 1993 được Quốc hội thông qua ngày 14/7/1993 đã khắc phục được nhược điểm Luật đất đai năm 1987 ruộng đất được giao cho người sử dụng đất sử dụng lâu dài, được quyền cho thuê, thế chấp, chuyển đổi, chuyển nhượng, thừa kế theo những điều kiện cụ thể do pháp luật quy định
Luật đất đai năm 1993, sửa đổi, bổ sung năm 1998, năm 2001 tiếp tục khẳng định người sử dụng đất được quyền chuyển nhượng quyền sử dụng đất Đến Luật đất đai năm 2003 ra đời đã hoàn thiện các quy định pháp luật về đất đai, quyền
sử dụng đất bao gồm nhiều quyền kèm theo các chủ thể nắm quyền sử dụng đất không chỉ thụ hưởng hoa lợi từ quyền sử dụng đất mà còn được trao đổi, dùng quyền sử dụng đất như một loại hàng hóa đặc biệt bao gồm quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất; thế chấp, bảo lãnh, góp vốn bằng quyền sử dụng đất Trải qua quá trình đổi mới, Luật đất đai năm 2013 được Quốc hội thông qua ngày 29/11/2013 là chìa khóa ghi nhận một cách rõ ràng các chế định pháp lý về quyền sở hữu, sử dụng đất đai Tại Điều 4 Luật
Trang 12đất đai năm 2013 khẳng định: “Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện
chủ sử hữu và thống nhất quản lý Nhà nước trao quyền sử dụng đất cho người sử dụng đất theo quy định của Luật này.”
Với mô hình sở hữu toàn dân về đất đai Nhà nước nắm quyền quyết định, chi phối toàn bộ đất đai chỉ chuyển giao đất đai cho các chủ thể khác nhau trong xã hội giữ quyền quản lý và khai thác, chính vì vậy quyền của các chủ thể là quyền được hình thành trên cơ sở Nhà nước là đại diện chủ sở hữu cho phép Tuy nhiên, Nhà nước không trực tiếp sử dụng đất đai mà thực hiện việc trao quyền sử dụng đất cho người sử dụng đất thông qua các hình thức như quyết định giao đất không thu tiền sử dụng đất, giao đất có thu tiền sử dụng đất; Quyết định cho thuê đất thu tiền thuê đất hằng năm, cho thuê đất thu tiền một lần cho cả thời gian thuê; Công nhận quyền sử dụng đất Theo đó, quyền sử dụng đất là quyền phụ thuộc, phát sinh từ Nhà nước với tư cách là chủ sở hữu đại diện có mối quan hệ chặt chẽ và không tách rời với quyền sở hữu đất đai
Khái niệm quyền sử dụng đất
Quyền là một quyền năng dân sự chủ quan của chủ thể, được pháp luật ghi nhận và bảo vệ Tuy nhiên, hiện cũng có nhiều quan điểm khác nhau về quyền sử dụng đất
Thứ nhất: Quyền sử dụng đất là nội dung được tách ra từ sở hữu toàn dân
về đất đai
Đây là quan niệm nhìn nhận về quyền sử dụng đất đơn giản dựa trên khái niệm “quyền sử dụng” được quy định trong Bộ luật dân sự [34, Điều 189] Về cơ bản, quan niệm này còn phiến diện bởi khi Nhà nước trao quyền sử dụng đất cho các chủ thể thì không chỉ trao mỗi quyền sử dụng được mà còn cả quyền chiếm hữu đối với đất, nếu không có sự chiếm hữu thì không thể thực hiện khai thác, sử dụng đất Ngoài ra, các chủ thể còn được phép định đoạt quyền sử dụng đất thông qua các giao dịch (chuyển nhượng, thừa kế, góp vốn, tặng cho quyền sử dụng đất) hoặc từ bỏ quyền sử dụng đất (trả lại đất cho Nhà nước) Đồng thời, sẽ không đảm bảo được địa vị của các chủ thể trong mối quan hệ với Nhà nước vốn được luật định là đại diện chủ sở hữu toàn dân Các chủ thể luôn ở vào vị thế bất bình đẳng vì chỉ có một trong ba quyền
Trang 13năng của quyền sở hữu toàn dân về đất đai, khi đó Nhà nước dễ dàng can thiệp bằng các quyết định hành chính vào quyền sử dụng đất của các chủ thể
Thứ hai: Quyền sử dụng đất là quyền tài sản
Về cơ bản, quan điểm này là đúng, tuy nhiên, khái niệm quyền tài sản với tiêu chí quyền trị giá được bằng tiền dùng để chỉ những tài sản như quyền sử dụng đất, quyền sở hữu trí tuệ… đứng độc lập bên cạnh với những tài sản là vật, tiền, giấy tờ có giá trong Bộ luật dân sự nước ta là không phù hợp Về bản chất thì vật hoặc tiền, giấy tờ có giá với quyền tài sản là một “quyền mới là cái giá trị tạo ra giá trị kinh tế, nghĩa là giá trị tiền tệ của vật, chứ bản thân vật với chất liệu hoặc những
khái niệm cấu thành, không có được giá trị đó”, sự khác biệt đơn thuần chỉ là hai
phương diện tiếp cận khác nhau về tài sản, cụ thể: “… khái niệm vật để chỉ phương diện vật chất, thì khái niệm quyền được dùng để chỉ tài sản về phương diện pháp lý” [18] Như vậy, khái niệm quyền tài sản có nội hàm rất rộng, đúng với mọi loại tài sản mà không chỉ là quyền sử dụng đất, quyền sở hữu trí tuệ… Do đó, nếu chỉ dừng lại ở việc thừa nhận quyền sử dụng đất là quyền tài sản là chưa đầy đủ và sẽ dẫn đến nhiều bất cập, hạn chế
Thứ ba: Quyền sử dụng đất là một vật quyền hạn chế
Có thể thấy quyền sử dụng đất ở nước ta có đầy đủ tính chất của một vật quyền hạn chế Điều này được thể hiện cụ thể như sau: Trước hết, quyền sử dụng đất có đối tượng là vật, bởi lẽ đất đai là một bộ phận của thế giới vật chất khách quan được tồn tại hiện hữu trên thực tế với hình dạng, kích thức nhất định và bằng giác quan thông thường bất cứ ai cũng có thể nhận biết được mà không cần phải thông qua tư duy trừu tượng phức tạp Đất có tính có ích và mọi hoạt động của con người đều phải thực hiện trên đất và tác động vào đất để thu được lợi ích cho mình
từ đó thực hiện nghĩa vụ trả tiền thuê đất Tiếp theo, có thể thấy căn cứ, hình thức làm phát sinh và chấm dứt quyền sử dụng đất của các chủ thể là do pháp luật quy định, phụ thuộc vào loại đất cụ thể và hình thức làm phát sinh quyền sử dụng đất như chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp, góp vốn quyền sử dụng đất Đồng thời, quyền sử dụng đất có tính hạn chế vì nó phát sinh từ quyền sở hữu toàn dân về đất đai, Nhà nước với tư cách là đại diện chủ sở hữu toàn
Trang 14dân thực hiện trao quyền sử dụng đất cho các chủ thể bằng các hình thức giao đất, cho thuê đất và công nhận quyền sử dụng đất trong một thời hạn nhất định thì lúc này mới làm phát sinh quyền sử dụng đất của các chủ thể
Như vậy, Luật đất đai năm 2013 không định nghĩa cụ thể thế nào là quyền
sử dụng đất nhưng có thể khẳng định quyền sử dụng đất trong pháp luật nước ta là một loại vật quyền hạn chế và có thể đưa ra khái niệm về quyền sử dụng đất như sau: “Quyền sử dụng đất là một loại vật quyền hạn chế thực hiện trên đất, được phát sinh từ vật quyền chính là quyền sở hữu toàn dân về đất đai thông qua việc Nhà nước là đại diện chủ sở hữu toàn dân trao cho các chủ thể bằng các hình thức giao đất, cho thuê đất và công nhận quyền sử dụng đất Chủ thể có quyền sử dụng đất được quyền thực hiện quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt đất và được sự bảo hộ
của Nhà nước theo quy định của pháp luật” [22]
Có thể thấy quyền sử dụng đất là một loại quyền năng đặc biệt, vừa là quyền tự nhiên vừa mang tính pháp lý Vì khi xã hội loài người hình thành, họ bắt đầu chiếm hữu đất đai và thực hiện các hành vi sử dụng đất, cụ thể là khai thác tính năng sử dụng của đất đai, thông qua hành vi sử dụng đất con người có thể thỏa mãn những nhu cầu của mình và tạo ra của cải vật chất cho xã hội mà không quan tâm đến hình thức sở hữu của nó Cho đến khi Nhà nước và Pháp luật ra đời, quyền sử dụng đất được đưa vào chế định pháp lý, được pháp luật ghi nhận và bảo vệ thực thi, dưới góc độ này quyền sử dụng đất được xem là quyền năng pháp lý
Đặc điểm của quyền sử dụng đất:
Về đối tượng thực hiện quyền: Người sử dụng đất thực hiện việc sử dụng đất bằng các hành vi chiếm hữu, sử dụng, khai thác các giá trị của đất đai Ngoài ra, người sử dụng đất có thể chuyển giao quyền sử dụng đất cho người khác theo những điều kiện mà pháp luật quy định
Về chủ thể thực hiện quyền: Tại Điều 5 Luật đất đai năm 2013 quy định
người sử dụng đất bao gồm:
“1 Tổ chức trong nước gồm cơ quan nhà nước, đơn vị vũ trang nhân dân,
tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức kinh tế, tổ chức chính trị xã hội
- nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tổ chức sự nghiệp công
Trang 15lập và tổ chức khác theo quy định của pháp luật về dân sự (sau đây gọi chung là tổ chức);
2 Hộ gia đình, cá nhân trong nước (sau đây gọi chung là hộ gia đình, cá nhân);
3 Cộng đồng dân cư gồm cộng đồng người Việt Nam sinh sống trên cùng địa bàn thôn, làng, ấp, bản, buôn, phum, sóc, tổ dân phố và điểm dân cư tương tự
có cùng phong tục, tập quán hoặc có chung dòng họ;
4 Cơ sở tôn giáo gồm chùa, nhà thờ, nhà nguyện, thánh thất, thánh đường, niệm phật đường, tu viện, trường đào tạo riêng của tôn giáo, trụ sở của tổ chức tôn giáo và cơ sở khác của tôn giáo;
5 Tổ chức nước ngoài có chức năng ngoại giao gồm cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự, cơ quan đại diện khác của nước ngoài có chức năng ngoại giao được Chính phủ Việt Nam thừa nhận; cơ quan đại diện của tổ chức thuộc Liên hợp quốc, cơ quan hoặc tổ chức liên chính phủ, cơ quan đại diện của tổ chức liên chính phủ;
6 Người Việt Nam định cư ở nước ngoài theo quy định của pháp luật về quốc tịch;
7 Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài gồm doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài, doanh nghiệp liên doanh, doanh nghiệp Việt Nam mà nhà đầu
tư nước ngoài mua cổ phần, sáp nhập, mua lại theo quy định của pháp luật về đầu tư.”
Cơ sở xác lập quyền: Nhà nước trao quyền sử dụng đất cho người sử dụng đất thông qua các hình thức như quyết định giao đất không thu tiền sử dụng đất, giao đất có thu tiền sử dụng đất; Quyết định cho thuê đất thu tiền thuê đất hằng năm, cho thuê đất thu tiền một lần cho cả thời gian thuê; Công nhận quyền sử dụng hoặc sử dụng đất thông qua các giao dịch nhận chuyển quyền sử dụng đất theo quy định pháp luật
1.1.3 Chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Thời điểm Luật đất đai năm 1987 có hiệu lực thi hành, việc mua, bán đất đai là hành vi bị cấm, Nhà nước chỉ giao cho nhân dân sử dụng, quản lý đất đai và
Trang 16không được mua, bán đất đai, đồng thời đất đai không được xem là di sản Theo quy định tại Điều 53 Luật đất đai năm 1987 thì người nào mua, bán đất sẽ bị xử phạt như sau: Cảnh cáo, phạt tiền từ 20% đến 30% giá trị thiệt hại do việc vi phạm gây
ra, tịch thu toàn bộ tiền mua, bán đất, thu hồi phần đất sử dụng trái pháp luật Vì hành vi mua, bán đất thời điểm này là hành vi trái pháp luật, do đó không có quy định về khái niệm, hình thức nội dung của hợp đồng mua, bán đất
Pháp lệnh nhà ở năm 1991 có hiệu lực thi hành quy định chủ sở hữu nhà ở được quyền chuyển quyền sở hữu cho người khác Việc mua bán nhà ở thuộc mọi hình thức sở hữu phải được thực hiện thông qua hợp đồng mua bán nhà ở Đất có nhà ở không phải là đối tượng của hợp đồng mua bán nhà ở Người được chuyển quyền sở hữu nhà ở được quyền sử dụng đất theo quy định của Luật đất đai Do đó,
có thể hiểu đất có nhà không phải là đối tượng của hợp đồng mua bán nhà ở Tuy nhiên, nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất cho nên việc chuyển quyền sở hữu nhà
ở phải kèm theo việc sử dụng đất gắn liền với nhà Như vậy, Luật không cho phép mua, bán, chuyển nhượng quyền sử dụng đất nhưng sự chuyển nhượng vẫn diễn ra dưới hình thức mua bán nhà ở rồi sử dụng luôn phần đất đó Cơ chế thị trường đã tại điều kiện cho các quan hệ chuyển nhượng đất đai tự tìm con đường của riêng nó mặc cho sự ngăn cản chủ quan của Nhà nước Điều này thể hiện sự phù hợp giữa pháp luật và thực tiễn tại giai đoạn này, pháp luật chưa theo kịp thực tiễn, chưa phản ánh đúng thực tiễn
Trước tình hình đó Đảng và Nhà nước đã có những đánh giá khách quan về nhu cầu chuyển nhượng quyền sử dụng đất trên thị thường và cho ra đời Luật đất
đai năm 1993 Tại Điều 3 Luật đất đai năm 1993 quy định: “Hộ gia đình, cá nhân
được Nhà nước giao đất có quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, thừa kế, thế chấp quyền sử dụng đất Các quyền nói trên chỉ được thực hiện trong thời hạn giao đất và đúng mục đích sử dụng của đất được giao theo quy định của Luật này
và các quy định khác của pháp luật” Tuy nhiên trước sự vận động không ngừng
của kinh tế, xã hội, quan hệ pháp luật đất đai đã phát triển nhanh chóng, điều này đặt ra những bất cập và sự điều chỉnh chưa kịp thời của Luật đất đai năm 1993 Vì vậy, năm 1998 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật đất đai năm 1993 được
Trang 17Quốc hội thông qua và tiếp tục được sửa đổi, bổ sung lần thứ 2 vào năm 2001 Việc
bổ sung này đã góp phần làm rõ trách nhiệm pháp lý của người sử dụng đất trong việc thực hiện nghĩa vụ tài chính về đất đai và thể hiện sự đa dạng trong các hình thức sử dụng đất, cho phép người sử dụng đất có nhiều khả năng lựa chọn khi tham gia vào quan hệ sử dụng đất Việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất được hướng dẫn chi tiết tại Nghị định 17/1999/ND-CP và Thông tư 1417/1999/TT-TCĐC Cụ thể: Đối với đất ở, người sử dụng đất hợp pháp được quyền chuyển nhượng khi họ không còn nhu cầu sử dụng hoặc chuyển đi nơi khác Còn đối với đất nông nghiệp, đất lâm nghiệp thì chỉ được chuyển nhượng khi chuyển đi nơi khác, chuyển sang làm nghề khác hoặc không có khả năng lao động Như vậy, đất ở được tự do chuyển nhượng, còn đất nông nghiệp muốn chuyển nhượng phải đáp ứng những điều kiện nhất định Việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất phải tuân thủ quy định về trình
tự, thủ tục theo quy định và lập thành hợp đồng chuyển nhượng theo mẫu đã được ban hành Theo đó, có thể hiểu rằng việc lập hợp đồng chuyển nhượng chỉ cần hai bên tự lập theo mẫu sau đó nộp hồ sơ tại cơ quan có thẩm quyền mà không cần phải
công chứng, chứng thực
Đến Luật đất đai năm 2003 ra đời tiếp tục khẳng định quyền chuyển nhượng của người sử dụng đất Quyền chuyển nhượng được quy định trong một điều luật riêng lẻ, cùng với các quyền chuyển đổi, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp quyền sử dụng đất Luật đất đai năm 2003 không phân biệt giữa quyền chuyển nhượng đất ở và đất nông nghiệp Theo đó, tất cả các loại đất bao gồm đất ở, đất nông nghiệp, đất phi nông nghiệp… nếu phù hợp với quy định tại Điều 106 Luật đất đai năm 2003 thì có quyền chuyển nhượng cho người khác Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất phải có chứng nhận của công chứng Nhà nước; trường hợp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất của hộ gia đình, cá nhân thì được lựa chọn hình thức công chứng Nhà nước hoặc chứng thực tại UBND
xã, phường, thị trấn nơi có đất
Đến Luật đất đai năm 2013, chuyển nhượng quyền sử dụng đất được quy
định rõ ràng Cụ thể tại Điều 167 Luật đất đai năm 2013 quy định: “Người sử dụng
đất được thực hiện các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê lại, thừa kế,
Trang 18tặng cho, thế chấp, góp vốn quyền sử dụng đất” Luật đã kế thừa và phát triển
những nội dung hợp lý của pháp luật đất đai năm 2003 nhằm đảm bảo sử dụng đất đai có hiệu quả hơn Bên cạnh đó có nhiều đổi mới, rút gọn thủ tục hành chính về trình tự, thủ tục chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Như vậy, dưới sự thừa nhận của pháp luật, chuyển nhượng quyền sử dụng đất chính thức trở thành loại hàng hóa đặc biệt trên thị trường Không chỉ khai thác hoa lợi từ đất đai mang lại mà người sử dụng đất còn được quyền chuyển giao quyền sử dụng đất này cho người khác nhằm tăng giá trị sử dụng của đất, tạo điều kiện cho các chủ thể có năng lực kinh doanh, có tiềm năng về vốn đầu tư sản xuất, kinh doanh hoặc tạo cơ hội cho những người chưa có đất được quyền sử dụng đất; Đồng thời, đem đến lợi ích vật chất nhất định cho chủ thể chuyển giao quyền sử dụng đất, đưa dòng tiền và quyền sử dụng đất gia nhập, lưu thông trên thị trường
Theo PGS.TS Phạm Hữu Nghị: “Việc chính thức thừa nhận đất có giá và mở rộng
các quyền của người sử dụng đất đã phôi thai các tiền đề pháp lý cho thị trường quyền sử dụng đất ở Việt Nam hình thành và phát triển”
Đây là một bước tiến đột phá của Nhà nước về chính sách pháp luật đất đai, phản ánh trình độ quản lý của Nhà nước, trình độ phát triển của nền kinh tế xã hội ở mỗi thời kỳ lịch sử Dưới góc độ quản lý Nhà nước, việc ai là người sử dụng đất không làm ảnh hưởng hay nằm ngoài sự kiểm soát của Nhà nước Hoạt động điều tiết, quản lý của Nhà nước ở tầm vĩ mô vẫn được tiến hành trong khuôn khổ đưa ra các quy định pháp luật nhất định mà khi các chủ thể tham gia vào giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất phải tuân thủ thực hiện Pháp luật thừa nhận quyền chuyển nhượng quyền sử dụng đất như một thực tế khách quan, đó là quyền tự nhiên của người sử dụng đất, phù hợp với nguyện vọng của nhân dân vừa có ý nghĩa thực tiễn vừa có ý nghĩa về khoa học phù hợp với những thuộc tính vốn có của đất đai, xoá bỏ cơ chế xin - cho trong lĩnh vực đất đai của thời kỳ bao cấp trước đây Nó được hình thành cho sự vận động của các quan hệ kinh tế trong nền kinh tế thị trường tác động trực tiếp đến nhu cầu cần phải được quyền sử dụng đất và giao lưu dân sự thông qua hành vi chuyển nhượng quyền sử dụng đất Cho dù pháp luật
có ghi nhận nó hay không, bằng cách này hay cách khác, hợp pháp hay không hợp
Trang 19pháp, quyền này vẫn được hình thành, tồn tại và phát triển như là một thực tế khách quan phù hợp với các quy luật vận động của nền kinh tế thị trường Hay nói cách khác chuyển nhượng quyền sử dụng đất là một quy luật vận động tất yếu của nền kinh tế thị trường Việc không đảm bảo các điều kiện theo quy định pháp luật hay làm phát sinh tranh chấp trong quá trình giao dịch sẽ được Nhà nước điều chỉnh bằng các chế tài khác theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự
Đặc điểm của chuyển nhượng quyền sử dụng đất:
Thứ nhất: Khi tham gia vào giao dịch các bên phải tuân thủ các quy định về
điều kiện, nội dung, hình thức, trình tự, thủ tục thực hiện theo Bộ luật dân sự và Luật đất đai thì mới có giá trị pháp lý và được đảm bảo thực hiện Việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất bị ràng buộc bởi nhiều yếu tố như mục đích sử dụng đất, quy hoạch sử dụng đất, thời hạn sử dụng đất Người nhận chuyển nhượng phải sử dụng đúng mục đích mà Nhà nước đã quy định
Thứ hai: Việc thiết lập, quản lý hồ sơ về đất đai dựa trên cơ sở số tờ bản đồ
địa chính, số thửa và địa chỉ của thửa đất Do đó, việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất được thực hiện thông qua hệ thống hồ sơ giấy tờ, sổ bộ địa chính rõ ràng, công khai, minh bạch
Thứ ba: Dưới sự điều tiết và quản lý của Nhà nước, khi các chủ thể tham gia
giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất phải thực hiện đầy đủ nghĩa vụ tài chính
đối với Nhà nước, đó chính là khoản chênh lệch giữa mua và bán hay gọi là “thuế”
Thứ tư: Giá trị chuyển nhượng quyền sử dụng đất phụ thuộc vào vị trí thửa đất,
khả năng sinh lợi, mức độ hoàn thiện cơ sở hạ tầng, các yếu tố về kinh tế, chính trị, xã hôị khác Do đó, cùng một diện tích nhưng vị trí khác nhau ngay cả trường hợp vị trí các thửa đất nằm cạnh nhau nhưng giá trị chuyển nhượng cũng khác nhau, không có một số liệu cụ thể áp dụng đồng nhất cho tất cả các trường hợp chuyển nhượng
Thứ năm: Khi các bên tham gia giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng
đất theo đúng quy định pháp luật thì sẽ được Nhà nước đảm bảo thực hiện Trường hợp có phát sinh tranh chấp thì sẽ được giải quyết theo quy định về tố tụng dân sự
để đảm bảo sự điều tiết tối đa của Nhà nước trong suốt quá trình sử dụng đất và tham gia chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Trang 201.2 Khái niệm, đặc điểm của hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất của hộ gia đình, cá nhân
1.2.1 Khái niệm hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất của hộ gia đình, cá nhân
Khái niệm về hợp đồng nói chung được xuất hiện trong quy định pháp luật
về dân sự Tại Điều 394 BLDS năm 1995; Điều 388 BDLS năm 2005 và Điều 385 BLDS năm 2015 quy định có quy định: “Hợp đồng là sự thoả thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự”
Tuy nhiên, khái niệm về hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất chỉ mới được các nhà làm luật ghi nhận trong BLDS năm 2005 còn trong pháp luật về đất đai không có định nghĩa về hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất Theo BLDS năm 2005: Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất là sự thoả thuận giữa các bên, theo đó bên chuyển nhượng quyền sử dụng đất chuyển giao đất và quyền sử dụng đất cho bên nhận chuyển nhượng, còn bên nhận chuyển nhượng trả
tiền cho bên chuyển nhượng theo quy định của Bộ luật này và pháp luật về đất đai
Đến BLDS năm 2015, không quy định cụ thể khái niệm hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất mà quy định chung cho tất cả các loại hợp đồng liên quan đến chuyển quyền sử dụng đất Theo đó, tại Điều 500 BLDS năm 2015 quy
định: “Hợp đồng về quyền sử dụng đất là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó
người sử dụng đất chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, tặng cho, thế chấp, góp vốn quyền sử dụng đất hoặc thực hiện quyền khác theo quy định của Luật đất đai cho bên kia; bên kia thực hiện quyền, nghĩa vụ theo hợp đồng với người sử dụng đất.”
Như vậy, có thể hiểu hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất là sự thỏa thuận ý chí giữa người có quyền sử dụng đất (bên chuyển nhượng) và người nhận quyền sử dụng đất (bên nhận chuyển nhượng) về việc chuyển dịch quyền sử dụng đất từ người có quyền sử dụng đất hợp pháp sang người nhận quyền sử dụng đất theo một trình tự, thủ tục, điều kiện nhất định do pháp luật quy định nhằm thiết lập một quan hệ pháp luật mà theo đó người chuyển nhượng quyền sử dụng đất có trách nhiệm chuyển giao đất và quyền sử dụng đất cho người nhận chuyển nhượng
Trang 21quyền sử dụng đất và người nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất có trách nhiệm thanh toán một khoản tiền tương đương với giá trị sử dụng đất theo thỏa thuận của các bên Khái niệm về hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ở nước ta được đặt trong mối quan hệ mật thiết với chế độ sở hữu toàn dân về đất đai, được xác định trên cơ sở sự khẳng định và thừa nhận đất đai thuộc sở hữu về toàn dân mà Nhà nước đại diện chủ sở hữu, còn các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân chỉ được coi là chủ thể sử dụng đất và được Nhà nước thừa nhận có quyền chuyển nhượng quyền
sử dụng đất dựa trên những điều kiện về nội dung, hình thức, chủ thể, trình tự, thủ tục cũng như quyền và nghĩa vụ của các bên khi tham gia quan hệ chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Trong quá trình sử dụng đất, khi người sử dụng đất không có khả năng hoặc không có nhu cầu sử dụng đất, họ có thể chuyển nhượng cho người khác có nhu cầu sử dụng đất nhằm mục đích kinh doanh, đầu tư hoặc tiếp tục khai thác giá trị của đất và thu lại cho mình một khoản lợi ích vật chất tương ứng thông qua việc ký kết hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất Từ đó, người chuyển nhượng quyền sử dụng đất chấm dứt việc sử dụng đất và thiết lập một mối quan hệ mới giữa người nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất với Nhà nước trên cơ sở sử dụng đất đúng mục đích, thời hạn mà pháp luật quy định
1.2.2 Đặc điểm của hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất của hộ gia đình, cá nhân
Về mặt chủ thể chuyển nhượng và nhận chuyển nhượng: Không phải tất cả
các hộ gia đình, cá nhân có quyền sử dụng đất hợp pháp đều được thực hiện quyền chuyển nhượng và ngược lại không phải hộ gia đình, cá nhân nào cũng được quyền nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất Luật đất đai năm 2013 quy định cụ thể điều kiện về mặt chủ thể đối với từng trường hợp chuyển nhượng và nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất Tác giả phân tích cụ thể về chủ thể chuyển nhượng, nhận chuyển nhượng tại Chương 2
Về mặt đối tượng của hợp đồng chuyển nhượng: Đối tượng chuyển nhượng
quyền sử dụng đất của hộ gia đình, cá nhân là quyền sử dụng đối với thửa đất chuyển nhượng chứ không phải là thửa đất và phải thỏa mãn các điều kiện được quy
Trang 22định tại Điều 188 Luật đất đai năm 2013 và một số điều kiện cụ thể cho từng loại đất đưa vào giao dịch chuyển nhượng Điều này là phù hợp với chế độ sở hữu toàn dân do Nhà nước đại chủ sở hữu và thống nhất quản lý, đất đai thuộc sở hữu toàn dân theo đó mà người sử dụng đất chỉ được quyền sử dụng và “định đoạt” theo nghĩa hẹp dưới sự điều tiết, quản lý chặt chẽ của Nhà nước
Về mặt hình thức của hợp đồng chuyển nhượng: Với tính chất là một loại
hàng hóa đặc biệt, có giá trị vật chất lớn và mang tính chính trị, lãnh thổ quốc gia
Do đó, hình thức của hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được pháp luật quy định chặt chẽ Điều 167 Luật đất đai năm 2013 quy định, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất phải được lập thành văn bản có công chứng hoặc chứng thực, trừ trường hợp một bên hoặc các bên tham gia giao dịch là tổ chức hoạt động kinh doanh bất động sản được công chứng, chứng thực theo yêu cầu của các bên
Về quyền và nghĩa vụ của các bên trong quan hệ chuyển nhượng: Khi các bên
tham gia vào quan hệ chuyển nhượng các bên có nghĩa vụ đối xứng với nhau Tính chất song vụ trong hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất thể hiện ở chỗ bên chuyển nhượng phải có nghĩa vụ chuyển giao quyền sử dụng đất cho bên nhận chuyển nhượng và ngược lại bên nhận chuyển nhượng phải thanh toán một khoản tiền tương đương với giá trị sử dụng đất theo thỏa thuận cho bên chuyển nhượng
Đồng thời, khi tham gia quan hệ chuyển nhượng quyền sử dụng đất các bên phải thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ tài chính đối với Nhà nước, cụ thể là các khoản lệ phí liên quan đến việc chuyển nhượng và thuế thu nhập từ việc chuyển nhượng Việc bắt buộc chủ thể tham gia giao dịch này phải thực hiện nghĩa vụ tài chính đảm bảo việc điều tiết thu nhập đối với người chuyển nhượng quyền sử dụng đất, cũng như đảm bảo hài hòa lợi ích giữa chủ thể sử dụng đất và lợi ích chung của Nhà nước
Về trình tự, thủ tục thực hiện việc chuyển nhượng: Việc chuyển nhượng
quyền sử dụng đất được quy định chặt chẽ từ khâu ký kết cho đến việc đăng ký tại
cơ quan Nhà nước có thẩm quyền theo quy định tại Nghị định 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ Trường hợp không đảm bảo theo quy định sẽ không hoàn thành việc chuyển nhượng hoặc nếu hoàn thành có thể bị hủy hay vô hiệu hiệu lực của hợp đồng
Trang 23Giá trị của hợp đồng chuyển nhượng: Giá trị của hợp đồng chuyển nhượng
phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố như vị trí địa lý, cơ sở hạ tầng, trình độ phát triển kinh tế xã hội Ở những khu vực cơ sở hạ tầng phát triển, trình độ dân trí cao, khu dân cư đông đúc thì nhu cầu chuyển nhượng, nhận chuyển nhượng cao kéo theo giá trị chuyển nhượng cũng tăng lên Ngược lại, ở những khu vực vùng sâu, vùng xa việc chuyển nhượng diễn ra không sôi động, giá trị chuyển nhượng thấp hơn
1.3 Nguyên tắc cơ bản của pháp luật về hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất của hộ gia đình, cá nhân
Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất của hộ gia đình, cá nhân là một hợp đồng dân sự, do đó nguyên tắc cơ bản của pháp luật về hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được xuất phát và áp dụng tuân thủ theo nguyên tắc của pháp luật dân sự nói chung được quy định tại Điều 3 BLDS năm 2015 Tuy nhiên, có thể khái quát ngắn gọn thành các nguyên tắc cơ bản sau:
sử dụng đất tự do quyết định việc chuyển nhượng, nhận chuyển nhượng của mình
mà không bị ràng buộc bởi các yếu tố khác, các bên tự thỏa thuận với nhau về thửa đất chuyển nhượng, giá cả, phương thức thanh toán, trách nhiệm, chi phí lập thủ tục đăng ký…Tuy nhiên, trên thực tế thì việc đánh giá một hợp đồng có được giao kết bảo đảm ý chí tự nguyện của các bên hay chưa, trong một số trường hợp lại là một công việc hoàn toàn không đơn giản và khá phức tạp bởi nhiều nguyên do chủ quan
và khách quan khác nhau
Khoản 2 Điều 3 BLDS năm 2015 quy định về nguyên tắc tự do ý chí như
sau: “Cá nhân, pháp nhân xác lập, thực hiện, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của
mình trên cơ sở tự do, tự nguyện cam kết, thỏa thuận Mọi cam kết, thỏa thuận
Trang 24không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội có hiệu lực thực hiện đối với các bên và phải được chủ thể khác tôn trọng” Như vậy, pháp luật cho phép
sự tự do ý chí, tự do hợp đồng nhưng sự tự do ý chí, tự do hợp đồng không phải là
tự do tuyệt đối mà nó bị hạn chế trong những trường hợp nhất định nhằm bảo vệ những nhóm yếu thế trong xã hội, bảo vệ người thứ ba, hay bảo vệ lợi ích công cộng Việc xác lập, thực hiện, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự không được xâm phạm đến lợi ích quốc gia, dân tộc, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác (khoản 4 Điều 3 BLDS năm 2015) Sự hạn chế tự do thể hiện rõ nhất qua chế định về vô hiệu giao dịch dân sự do xâm phạm trật tự công cộng và đạo đức xã hội Trong BLDS năm 2015, Điều 122 về Giao dịch dân sự vô hiệu dẫn chiếu về Điều 117 Điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự, ở điểm c khoản 1 nêu
“Mục đích và nội dung của giao dịch dân sự không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội” Do đó, trường hợp các bên trong quan hệ chuyển
nhượng quyền sử dụng đất giao kết hợp đồng mà vi phạm điều cấm của luật, trái đạo đức xã hội thì hợp đồng chuyển nhượng đó sẽ bị vô hiệu theo quy định của pháp luật về dân sự
Thứ hai: Nguyên tắc thiện chí, trung thực
Khoản 3 Điều 3 BLDS năm 2015 quy định như sau: “Cá nhân, pháp nhân
phải xác lập, thực hiện, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của mình một cách thiện chí, trung thực” Nguyên tắc trung thực, thiện chí là nền tảng của mọi giao dịch dân
sự, bởi lẽ một giao dịch dân sự dù đơn giản hay phức tạp, mức độ dù lớn hay nhỏ thì khi thực hiện các quyền và thi hành các nghĩa vụ, sự trung thực, thiện chí luôn được đặt lên vị trí hàng đầu Trung thực, thiện chí là thực hiện hành vi với ý định tốt một cách ngay thẳng, chính trực nhằm bảo đảm trong việc giao kết hợp đồng không
ai bị cưỡng ép hoặc bị những cản trở trái với ý chí của mình; đồng thời thể hiện bản chất của quan hệ pháp luật dân sự Quy luật giá trị đòi hỏi các bên chủ thể khi tham gia các quan hệ trao đổi phải bình đẳng với nhau; không ai được viện lý do khác biệt về hoàn cảnh kinh tế, thành phần xã hội, dân tộc, giới tính hay tôn giáo… để tạo ra sự bất bình đẳng trong quan hệ dân sự Trong lĩnh vực luật hợp đồng, đặc biệt
là ở giai đoạn giao kết, nguyên tắc thiện chí được giải thích gần gũi với nguyên tắc
Trang 25tự do ý chí, có nghĩa là việc xác lập hợp đồng và các điều kiện của nó phụ thuộc vào
ý chí của các bên Hơn nữa, ý chí tự nguyện của các bên chủ thể tham gia hợp đồng chỉ được bảo đảm khi các bên bình đẳng với nhau trên mọi phương diện Chính vì vậy, pháp luật không thừa nhận những hợp đồng được giao kết thiếu sự bình đẳng
và ý chí tự nguyện của một trong các bên chủ thể Trong giai đoạn thực hiện hợp đồng, nguyên tắc này có thể không gắn với ý chí của các bên lúc đầu mà lại gắn với
sự công bằng về lợi ích giữa các bên [23, tr.250] Hoặc với việc chấp nhận sự thực hiện chủ yếu chứ không phải thực hiện đúng và đầy đủ các nghĩa vụ của hợp đồng, thiện chí là sự thông cảm cho những thiếu sót khi thực hiện nghĩa vụ của đối phương [15, tr.374] Đặc biệt sự vận dụng nguyên tắc này trong một số hoàn cảnh đặc thù có thể coi là tạo ra ngoại lệ cho nguyên tắc hiệu lực ràng buộc của hợp đồng, đó là trong trường hợp thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi [ 37, tr 61-72]
Đặc biệt trong giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất với giá trị tài sản lớn đã có nhiều trường hợp các bên cố tình che giấu thông tin như thông tin về quy hoạch sử dụng đất, tình trạng tranh chấp đất đai để thực hiện việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất dẫn đến rủi ro, tranh chấp phát sinh và khi đó Tòa án sẽ căn cứ vào tính trung thực của các bên để giải quyết vấn đề liên quan đến xác lập quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng
Thứ ba: Nguyên tắc đảm bảo việc thực hiện hợp đồng và tuân thủ các quy định của pháp luật có liên quan
Khỏn 5 Điều 3 BLDS năm 2015 quy định: “Cá nhân, pháp nhân phải tự chịu
trách nhiệm về việc không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ dân sự” Sau
khi giao kết hợp đồng các bên sẽ bị ràng buộc thực hiện nghĩa vụ theo nội dung đã ký
kết, hiệu lực ràng buộc của hợp đồng được hiểu đơn giản là “cam kết phải được tôn trọng” và các bên trong quan hệ hợp đồng phải chịu mọi trách nhiệm về việc không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ theo hợp đồng và được đảm bảo việc thực hiện bằng biện pháp cưỡng chế
Đối với quan hệ hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, do chịu sự điều chỉnh bởi nhiều quy định pháp luật khác nhau vì vậy khi thực hiện hợp đồng
Trang 26chuyển nhượng quyền sử dụng đất không chỉ đảm bảo các nghĩa vụ trong hợp đồng, tuân thủ quy định pháp luật dân sự mà còn đảm bảo việc thực hiện các quy định của pháp luật về đất đai như sử dụng đất đúng mục đích đã được cơ quan có thẩm quyền công nhận, sử dụng đất hiệu quả, không lãng phí, hủy hoại đất, sử dụng đất phải đi đôi với bảo vệ môi trường và đảm bảo quyền của bất động sản liền kề
1.4 So sánh hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất của hộ gia đình, cá nhân với các hình thức chuyển quyền sử dụng đất khác
Chuyển quyền sử dụng đất là việc chuyển giao quyền sử dụng đất từ người này sang người khác thông qua nhiều hình thức như chuyển đổi, chuyển nhượng, thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất và góp vốn bằng quyền sử dụng đất (Điều 3 BLDS năm 2015) Như vậy, có thể thấy hiện nay có rất nhiều hình thức khác nhau
về chuyển quyền sử dụng đất Tuy nhiên hình thức chuyển nhượng quyền sử dụng đất là hình thức phổ biến nhất và để thấy rõ được sự khác biệt giữa các loại hình chuyển quyền sử dụng đất, tác giả tiến hành so sánh:
Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất với hợp đồng chuyển đổi quyền sử dụng đất
Chuyển đổi quyền sử dụng đất là việc các bên chuyển giao đất và chuyển giao quyền sử dụng đất cho nhau theo các nội dung, hình thức chuyển quyền sử dụng đất theo quy định của các cơ quan có thẩm quyền được quy định trong Bộ luật dân sự và pháp luật về đất đai Mục đích của chuyển đổi quyền sử dụng đất là tạo điều kiện thuận lợi cho sản xuất, đời sống, nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất Việc Nhà nước ghi nhận quyền này có ý nghĩa rất lớn trong thực tiễn, nhất là trong sản xuất nông nghiệp, khắc phục tình trạng đất đai manh mút, giảm thiểu số lượng thửa đất nhỏ, tăng diện tích mỗi thửa đất, tạo điều kiện thuận lợi cho tập trung canh tác và áp dụng khoa học kỹ thuật, đầu tư, cải tạo đất đai từ đó tăng cao năng suất, chất lượng sản phẩm
Có thể thấy, chuyển đổi và chuyển nhượng quyền sử dụng đất đều là các hình thức chuyển quyền sử dụng đất Xét về bản chất, chuyển nhượng quyền sử dụng đất là việc hộ gia đình, cá nhân bán quyền sử dụng đất của mình cho người khác để lấy một khoản tiền theo giá trị quyền sử dụng của mảnh đất đó, việc phát sinh quan hệ này làm chấm dứt việc sử dụng đất của bên chuyển nhượng Còn chuyển đổi quyền sử dụng đất là việc các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân đang sử
Trang 27dụng đất nhưng có thể thỏa thuận với tổ chức, hộ gia đình, cá nhân khác để hoán đổi đất cho nhau và tiếp tục sử dụng đất Trong quan hệ chuyển đổi quyền sử dụng đất các bên có thể thỏa thuận với nhau về việc bù đắp khoản tiền chênh lệch về giá trị đất của các thửa đất chuyển đổi cho nhau, việc thực hiện quan hệ này làm chấm dứt quyền sử dụng đất của người sử dụng đối với thửa đất chuyển đổi và bắt đầu thiết lập một quan hệ mới giữa người sử dụng đất và thửa đất nhận chuyển đổi
Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất với hợp đồng tặng cho quyền
sử dụng đất
Tặng cho quyền sử dụng đất là việc người sử dụng đất chuyển giao quyền
sử dụng đất của mình cho người khác mà không yêu cầu đền bù, còn bên được tặng cho đồng ý nhận theo sự thỏa thuận Như vậy, tặng cho quyền sử dụng đất là hình thức chuyển quyền sử dụng đất thông qua hợp đồng tặng cho không có đền bù, theo
đó bên tặng cho chấm dứt quyền sử dụng đối với thửa đất tặng cho và người được tặng cho được quyền sử dụng đối với thửa đất mà không phải hoàn trả bất kỳ giá trị vật chất nào và bên nhận tặng cho quyền sử dụng đất không phải thực hiện một nghĩa vụ gì đối với bên tặng cho Tuy nhiên, trong một số trường hợp hợp đồng tặng cho có điều kiện, nghĩa là bên tặng cho có thể yêu cầu bên tặng cho thực hiện một hoặc nhiều nghĩa vụ dân sự trước hoặc sau khi được tặng cho, nhưng điều kiện đó xảy ra hay không lại phụ thuộc vào ý chí của người được tặng cho, thực hiện nghĩa
vụ trong hợp đồng tặng cho không ràng buộc đối với các bên
Còn trường hợp chuyển nhượng quyền sử dụng đất như đã phân tích ở trên, bản chất là “đổi đất lấy tiền”, do đó khác với hợp đồng tặng cho thì hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất mang tính song vụ và có đền bù
Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất với thừa kế quyền sử dụng đất
Thừa kế quyền sử dụng đất là việc chuyển giao quyền sử dụng đất từ người chết sang người thừa kế thông qua di chúc hợp pháp hoặc theo quy định pháp luật Quan hệ về thừa kế quyền sử dụng đất phát sinh người có quyền sử dụng đất mất đi
và việc để lại quyền sử dụng đất cho những người khác được thực hiện thông qua di chúc hợp pháp hoặc theo quy định pháp luật Thừa kế quyền sử dụng đất là hình thức chuyển quyền sử dụng đất nhưng không phát sinh trách nhiệm đền bù, nghĩa là
Trang 28người nhận thừa kế không phải thực hiện nghĩa vụ đối với người để lại di sản và đương nhiên khi phát sinh thừa kế thì quyền sử dụng đất của người để lại di sản cũng chấm dứt kể từ thời điểm người để lại di sản là quyền sử dụng đất chết Pháp luật về thừa kế không quy định người được thừa kế phải là người trong hàng thừa
kế theo pháp luật mà chỉ quy định người được thừa kế được hưởng di sản thừa kế và không phải thực hiện nghĩa vụ tài sản đối với phần tài sản được thừa kế, trừ trường hợp thừa kế theo di chúc mà trong di chúc có ghi người được thừa kế phải thực hiện nghĩa vụ nào đó cùng với việc nhận tài sản theo ý chí của người lập di chúc
Có thể thấy chuyển đổi, thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất là các hình thức chuyển quyền sử dụng đất nhưng không nhằm mục đích là lấy về một khoản tiền nhất định khi chuyển giao quyền sử dụng đối với thửa đất đó Các hình thức này có thể phát sinh lợi nhuận (như chuyển đổi quyền sử dụng đất mà các bên phải thanh toán cho nhau khoản tiền chênh lệch về giá trị của các thửa đất chuyển đổi) hoặc có thể không phát sinh lợi nhuận (như tặng cho, thừa kế quyền sử dụng đất) hoặc chỉ nhằm mục đích thuận lợi cho việc sử dụng đất (như chuyển đổi quyền sử dụng đất) Còn chuyển nhượng quyền sử dụng đất bản chất là nhằm mang về một khoản tiền nhất định từ việc chấm dứt quyền sử dụng đất và đương nhiên hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất là hợp đồng có đền bù
1.5 Cơ cấu pháp luật điều chỉnh hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất của hộ gia đình, cá nhân
Hệ thống pháp luật là phạm trù thể hiện nội dung bên trong và hình thức thể
hiện bên ngoài của pháp luật Nội dung bên trong của pháp luật là cơ cấu bên trong
của nó, là mối liên hệ, sự liên kết giữa các yếu tố cấu thành pháp luật Pháp luật là
hệ thống quy tắc ứng xử của con người trong đời sống hàng ngày được hình thành thông qua nhà nước, do vậy hình thức bên trong của pháp luật chính là mối liên hệ,
sự liên kết giữa các quy tắc xử sự đó Trong khoa học pháp lí, nội dung bên trong của pháp luật được đề cập bằng khái niệm hình thức cấu trúc của pháp luật Hình thức pháp luật là dáng vẻ bề ngoài, là dạng (phương thức) tồn tại của pháp luật Dựa vào hình thức của pháp luật, người ta có thể thấy pháp luật tồn tại trong thực tế dưới dạng nào, nằm ở đâu Hình thức bên ngoài của pháp luật cũng được tiếp cận trong
Trang 29mối tương quan với nội dung của nó Nội dung của pháp luật là toàn bộ những yếu
tố tạo nên pháp luật, còn hình thức của pháp luật được hiểu là yếu tố chứa đựng hoặc thể hiện nội dung pháp luật Thực tiễn lịch sử cho thấy, pháp luật chủ yếu được thể hiện dưới những hình thức là tập quán pháp, tiền lệ pháp và văn bản quy phạm pháp luật
Đối với hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất chịu sự điều chỉnh bởi nhiều quy định pháp luật khác nhau từ luật chung đến luật chuyên ngành Trước hết
là Hiến pháp năm 2013 với sự khẳng định vững chắc về chế độ sở hữu toàn dân về đất đai do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý đã góp phần giữ vững ổn định các quan hệ chuyển nhượng quyền sử dụng đất cũng như điều tiết thị trường bất động sản Tiếp đó, BLDS năm 2015 và BLTTDS năm 2015 hệ thống các quy định liên quan về hợp đồng, chủ thể tham gia ký kết, thực hiện hợp đồng, nguyên tắc giao kết hợp đồng, hiệu lực hợp đồng, cơ chế giải quyết tranh chấp và
giải quyết hậu quả pháp lý khi hợp đồng vô hiệu
Đặc biệt, quy định pháp luật điều chỉnh trực tiếp quan hệ chuyển nhượng quyền sử dụng đất là Luật đất đai năm 2013 và các văn bản hướng dẫn thi hành Hình thức, nội dung, chủ thể, điều kiện chuyển nhượng của các loại đất cụ thể, trình
tự, thủ tục thực hiện chuyển nhượng quyền sử dụng đất được quy định chi tiết trong Luật đất đai năm 2013 và Nghị định 43/2014/NĐ-CP ngày 15/05/2014 của Chính phủ; Nghị định 01/2017/NĐ-CP ngày 06/01/2017 của Chính phủ; Thông tư 33/2017/TT-BTNMT ngày 29/09/2017 của Bộ Tài nguyên và Môi trường, Nghị định 148/2020/NĐ-CP ngày 20/12/2020 của Chính phủ
Bên cạnh đó, còn có quy định của các luật chuyên ngành khác bổ sung như Luật kinh doanh bất động sản, Luật nhà ở cũng quy định cụ thể về quyền và nghĩa
vụ của các bên trong hợp đồng chuyển nhượng, cung cấp một số bản hợp đồng mẫu
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Quyền sử dụng đất và chuyển nhượng quyền sử dụng đất là một trong
những quyền tài sản được pháp luật ghi nhận và bảo hộ, được thực hiện thông qua hợp đồng, mang tính chất song vụ và có tính đền bù
Trang 30Thông qua chương này tác giả đã hệ thống hóa những vấn đề lý luận cơ bản
về quyền sử dụng đất, đặc điểm quyền sử dụng đất; hợp đồng chuyển nhượng quyền
sử dụng đất, đặc điểm và nguyên tắc của hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất của hộ gia đình, cá nhân Những vấn đề lý luận này là cơ sở nền tảng cho các nội dung phân tích tại Chương 2 của luận văn
Trang 31Chương 2 QUY ĐỊNH CỦA LUẬT ĐẤT ĐAI NĂM 2013 VÀ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT
VỀ HỢP ĐỒNG CHUYỂN NHƯỢNG QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT CỦA HỘ
GIA ĐÌNH, CÁ NHÂN TẠI TỈNH ĐỒNG NAI
2.1 Nội dung của Luật đất đai năm 2013 về hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất của hộ gia đình, cá nhân
Pháp luật về hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất là hệ thống các quy phạm pháp luật điều chỉnh các vấn đề liên quan đến nguyên tắc, điều kiện, trình tự, thủ tục chuyển nhượng quyền sử dụng đất trong đó Luật đất đai năm 2013 và các văn bản hướng dẫn thi hành quy định trực tiếp, cụ thể về nội dung, hình thức, trình tự, thủ tục
về hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
2.1.1 Chủ thể giao kết của hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất của hộ gia đình, cá nhân
Với chế độ sở hữu toàn dân về đất đai do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý, Nhà nước chỉ cho phép những chủ thể có nhu cầu sử dụng đất mới được phép sử dụng đất nếu không sử dụng Nhà nước sẽ thu hồi giao cho người khác nhằm quản lý có hiệu quả quỹ đất đai Theo đó, chỉ những người được Nhà nước được giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất hay có được quyền
sử dụng đất từ các giao dịch chuyển quyền sử dụng đất mới là người sử dụng đất hợp pháp và những người này được quyền thực hiện việc chuyển nhượng thông qua các hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
2.1.1.1 Điều kiện để người sử dụng đất là hộ gia đình, cá nhân thực hiện việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Không phải tất cả các hộ gia đình, cá nhân có quyền sử dụng đất hợp pháp đều được thực hiện quyền chuyển nhượng Là một loại tài sản đặc biệt, có giá trị kinh tế lớn, vì vậy việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất không những phải đảm bảo những điều kiện chung mà còn phải thỏa mãn những điều kiện nhất định
Trang 32Người chuyển nhượng quyền sử dụng đất phải có năng lực pháp luật
Năng lực pháp luật dân sự của cá nhân là khả năng của cá nhân có quyền dân sự và nghĩa vụ dân sự
Năng lực pháp luật dân sự của cá nhân là tiền đề, điều kiện cần thiết để công dân có quyền, có nghĩa vụ; là thành phần không thể thiếu được của cá nhân với tư cách chủ thể của quan hệ pháp luật dân sự, là một mặt của năng lực chủ thể Khả năng có quyền và nghĩa vụ vẫn chỉ tồn tại là những quyền khách quan mà pháp luật quy định cho các chủ thể Để biến những “khả năng” này thành các quyền dân
sự cụ thể cần phải có những điều kiện khách quan cũng như chủ quan Nội dung của năng lực pháp luật dân sự phụ thuộc vào điều kiện chính trị, kinh tế, xã hội trong những điều kiện lịch sử nhất định Những quyền dân sự của cá nhân được ghi nhận
ở rất nhiều văn bản pháp luật khác nhau nhưng quan trọng nhất là Hiến pháp 2013
và được cụ thể hóa trong BLDS năm 2015 bao gồm: Quyền nhân thân không gắn liền với tài sản và quyền nhân thân gắn liền với tài sản; quyền sở hữu, quyền thừa
kế và quyền khác đối với tài sản; quyền tham gia giao dịch dân sự và có nghĩa vụ phát sinh từ quan hệ đó Như vậy, pháp luật cho phép và thừa nhận mỗi cá nhân là chủ thể các quan hệ giao dịch dân sự nói chung và trong giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất nói riêng được quyền tham gia giao dịch và có nghĩa vụ phát sinh từ giao dịch đó
Người chuyển nhượng quyền sử dụng đất phải có năng lực hành vi dân sự
và hoàn toàn tự nguyện
Đây là điều kiện bắt buộc để giao dịch dân sự có hiệu lực Năng lực hành vi dân sự được hiểu là khả năng của cá nhân bằng hành vi của mình xác lập, thực hiện quyền và nghĩa vụ dân sự Tư cách chủ thể của cá nhân chỉ đầy đủ, hoàn thiện, độc lập khi họ có đầy đủ năng lực hành vi dân sự, ngoài năng lực pháp luật dân sự vốn
là thuộc tính được pháp luật ghi nhận cho mọi cá nhân Nếu năng lực pháp luật dân
sự là tiền đề, là quyền dân sự khách quan của chủ thể thì năng lực hành vi là khả năng hành động của chính chủ thể để tạo ra các quyền, thực hiện quyền và nghĩa vụ của họ Ngoài ra, năng lực hành vi dân sự còn bao hàm cả năng lực tự chịu trách nhiệm dân sự khi vi phạm nghĩa vụ dân sự
Trang 33Người thành niên là người từ đủ 18 tuổi trở lên có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, trừ trường hợp bị tuyên bố mất năng lực hành vi hoặc hạn chế năng lực hành vi dân sự Pháp luật chỉ quy định độ tuổi tối thiểu mà không quy định độ tuổi tối đa của những người có năng lực pháp luật dân sự đầy đủ Những người này có đầy đủ tư cách chủ thể, toàn quyền tham gia vào quan hệ dân sự với tư cách là chủ thể độc lập và tự chịu trách nhiệm về những hành vi do họ thực hiện Tại Điều 21 BLDS năm 2015 quy định: Giao dịch dân sự của người chưa đủ sáu tuổi do người đại diện theo pháp luật của người đó xác lập, thực hiện; Người từ đủ sáu tuổi đến chưa đủ mười lăm tuổi khi xác lập, thực hiện giao dịch dân sự phải được người đại diện theo pháp luật đồng ý, trừ giao dịch dân sự phục vụ nhu cầu sinh hoạt hàng ngày phù hợp với lứa tuổi; Người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi
tự mình xác lập, thực hiện giao dịch dân sự, trừ giao dịch dân sự liên quan đến bất động sản, động sản phải đăng ký và giao dịch dân sự khác theo quy định của luật phải được người đại diện theo pháp luật đồng ý
Theo đó, trong giao dịch liên quan đến bất động sản mà cụ thể là trong quan
hệ chuyển nhượng quyền sử dụng đất thì người chuyển nhượng quyền sử dụng đất
là người từ đủ 18 tuổi trở lên và có trí não phát triển bình thường được quyền tự xác lập hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, trường hợp quyền sử dụng đất của người chưa thành niên dưới sáu tuổi thì do người đại diện theo pháp luật thực hiện việc chuyển nhượng; trường hợp quyền sử dụng đất của người chưa thành niên từ sáu tuổi đến dưới mười tám tuổi thì khi thực hiện việc chuyển nhượng phải được sự đồng ý của người đại diện theo pháp luật Đối với hộ gia đình khi tham gia hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất thì phải được tất cả thành viên trong hộ từ
đủ 15 tuổi trở lên đồng ý và ký vào hợp đồng
Như vậy, khi tham gia giao quan hệ hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất mà phải đảm bảo về điều kiện năng lực pháp luật và năng lực hành vi của chủ thể ký kết hợp đồng Ngoài ra, về ý chí của người chuyển nhượng quyền sử dụng đất là hoàn toàn tự nguyện, không bị bất cứ ràng buộc, tác động khách quan nào Pháp luật đã ghi nhận trường hợp người tham gia giao dịch mà không tự nguyện, bị lừa dối, nhầm lẫn, đe dọa thì giao dịch đó sẽ bị vô hiệu
Trang 34Người chuyển nhượng quyền sử dụng đất phải là người sử dụng hợp pháp đối với thửa đất chuyển nhượng
Về nguyên tắc, để thực hiện việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất, bên chuyển nhượng trước hết phải là chủ thể sử dụng đất hợp pháp Nhà nước trao quyền sử dụng đất cho người sử dụng đất thông qua các hình thức như quyết định giao đất, quyết định cho thuê đất, công nhận quyền sử dụng đất Do đó, chỉ những chủ thể được Nhà nước trao quyền sử dụng đất hoặc có được quyền sử dụng đất hợp pháp thông qua các giao dịch chuyển quyền sử dụng đất thì mới được phép thực hiện quyền chuyển nhượng
Tư cách chủ thể của bên chuyển nhượng phải được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền xác nhận thông qua Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất (gọi chung là Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất) Chính vì vậy, khi quy định về thời điểm và điều kiện chuyển nhượng quyền sử dụng đất, Luật đất đai buộc bên tiến hành phải có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Tuy nhiên, trong một số trường hợp Luật đất đai cũng cho phép người chưa có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cũng được phép chuyển nhượng quyền sử dụng đất Cụ thể: Trường hợp tất cả người nhận thừa kế quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở, tài sản khác gắn liền với đất đều là người nước ngoài hoặc người Việt Nam định cư ở nước ngoài không thuộc đối tượng được mua nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất ở tại Việt Nam thì người nhận thừa kế không được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất nhưng được chuyển nhượng quyền sử dụng đất thừa kế theo đó người nhận thừa kế được đứng tên là bên chuyển nhượng trong hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Người sử dụng đất phải được Luật đất đai cho phép được chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Theo quy định của Luật đất đai năm 2013, những chủ thể được phép chuyển nhượng quyền sử dụng đất bao gồm hộ gia đình, cá nhân trong nước, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức kinh tế Như vậy, hộ gia đình, cá nhân là chủ thể được pháp luật cho phép thực hiện giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Trang 35Các chủ thể này có quyền giao dịch khi sử dụng đất theo các hình thức: được Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất, mà không được miễn tiền sử dụng đất; công nhận quyền sử dụng đất như giao đất có thu tiền sử dụng đất mà không được miễn tiền sử dụng đất; nhận chuyển quyền sử dụng đất
Người sử dụng đất không bị hạn chế “quyền định đoạt”
Để thực hiện chuyển nhượng quyền sử dụng đất, bên chuyển nhượng ngoài việc đáp ứng các điều kiện nêu trên, cần phải không bị hạn chế “quyền định đoạt
“Quyền định đoạt” của bên chuyển nhượng bị hạn chế trong các trường hợp do pháp luật quy định hoặc do thỏa thuận Theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 188, Điều 192, Điều 194 Luật đất đai năm 2013, các trường hợp bị hạn chế quyền định đoạt bao gồm: các chủ thể bị kê biên quyền sử dụng đất để bảo đảm thi hành án; hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất đang sinh sống xen kẽ trong phân khu bảo vệ nghiêm ngặt, phân khu phục hồi sinh thái thuộc rừng đặc dụng, rừng phòng hộ; hộ gia đình,
cá nhân được Nhà nước giao đất ở, đất sản xuất nông nghiệp trong khu rừng phòng hộ; hộ gia đình, cá nhân là dân tộc thiểu số sử dụng đất do Nhà nước giao đất theo chính sách hỗ trợ của Nhà nước;
Ngoài trường hợp này, tuy Luật đất đai năm 2013 không đề cập đến, nhưng thực tiễn cho thấy, chủ thể sử dụng đất còn bị hạn chế quyền định đoạt theo quy định chung của Bộ luật dân sự và các văn bản pháp luật liên quan, cụ thể: trong trường hợp quyền sử dụng đất đang bị thế chấp mà các bên không có thỏa thuận về việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất thì bên thế chấp không được chuyển
nhượng quyền sử dụng đất đang thế chấp
2.1.1.2 Điều kiện để người sử dụng đất là hộ gia đình, cá nhân nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Cũng như người chuyển nhượng, người nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất là hộ gia đình, cá nhân khi tham gia giao kết hợp đồng chuyển nhượng quyền
sử dụng đất trước hết phải có năng lực pháp luật, năng lực hành vi dân sự và hoàn toàn
tự nguyện Luật đất đai năm 2013 quy định những trường hợp cụ thể không được nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Trang 36Tại Điều 191 Luật đất đai năm 2013 quy định trường hợp không được nhận chuyển nhượng, tặng cho quyền sử dụng đất bao gồm: Tổ chức, hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư, cơ sở tôn giáo, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài không được nhận chuyển nhượng, nhận tặng cho quyền sử dụng đất đối với trường hợp mà pháp luật không cho phép chuyển nhượng, tặng cho quyền sử dụng đất; Tổ chức kinh tế không được nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất trồng lúa, đất rừng phòng hộ, đất rừng đặc dụng của hộ gia đình, cá nhân, trừ trường hợp được chuyển mục đích sử dụng đất theo quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt; Hộ gia đình, cá nhân không trực tiếp sản xuất nông nghiệp không được nhận chuyển nhượng, nhận tặng cho quyền sử dụng đất trồng lúa; Hộ gia đình, cá nhân không được nhận chuyển nhượng, nhận tặng cho quyền sử dụng đất ở, đất nông nghiệp trong khu vực rừng phòng hộ, trong phân khu bảo vệ nghiêm ngặt, phân khu phục hồi sinh thái thuộc rừng đặc dụng, nếu không sinh sống trong khu vực rừng phòng hộ, rừng đặc dụng đó
Đối với trường hợp là người Việt Nam định cư ở nước ngoài chỉ có quyền nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất ở gắn liền với nhà ở, trừ trường hợp đất nằm trong các dự án phát triển nhà ở Đối với các loại đất khác thì chỉ được nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất trong khu công nghiệp, cụm công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, khu kinh tế Người không đủ điều kiện nhận chuyển nhượng dự án bất động sản không có quyền nhận chuyển nhượng trong dự án đầu tư xây dựng nhà, công trình xây dựng, mà không gắn với các giao dịch nhà, công trình xây dựng, trừ trường hợp dự án được phép phân lô, bán nền [31, Điều 169]
2.1.2 Đối tượng chuyển nhượng của hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất của hộ gia đình, cá nhân
Đối tượng chuyển nhượng của hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất của hộ gia đình, cá nhân là quyền sử dụng đất, một quyền tài sản được BLDS năm
2015 ghi nhận Tuy nhiên không phải quyền sử dụng đất nào cũng trở thành đối tượng của hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất mà chỉ những quyền sử dụng đất nào được pháp luật thừa nhận hoặc không bị cấm chuyển nhượng và đảm
Trang 37bảo các điều kiện nhất định mới trở thành đối tượng của hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Theo quy định tại khoản 1 Điều 188 Luật đất đai năm 2013, điều kiện chuyển nhượng quyền sử dụng đất phải đảm bảo các yếu tố sau: có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 186 Luật đất đai năm 2013); đất không tranh chấp; trong thời hạn sử dụng đất; quyền sử dụng đất không bị kê biên để đảm bảo thi hành án
Như vậy, quyền sử dụng đất đưa vào giao dịch chuyển nhượng trước hết phải được công nhận hợp pháp dưới dạng Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, trừ trường hợp người nhận thừa kế quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở, tài sản khác gắn liền với đất đều là người nước ngoài hoặc người Việt Nam định cư ở nước ngoài không thuộc đối tượng được mua nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất ở tại Việt Nam thì người nhận thừa kế không được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất nhưng được chuyển nhượng quyền sử dụng đất thừa kế
Thứ hai: Quyền sử dụng đất không có tranh chấp Đây là vấn đề đang gây nhiều khó khăn cho việc thực hiện hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất hiện nay Bởi lẽ, hiểu thế nào là “đất đang có tranh chấp” hay nói cách khác “tranh chấp đất đai” là như thế nào? Những dạng tranh chấp nào được xem là tranh chấp đất đai? Những tranh chấp liên quan đến đất đai có được xem là tranh chấp đất đai hay không thì Luật đất đai chưa có quy định rõ ràng về vấn nội dung này
Tại khoản 24 Điều 3 Luật đất đai năm 2013 định nghĩa: Tranh chấp đất đai
là tranh chấp về quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất giữa hai hoặc nhiều bên trong quan hệ đất đai Có thể thấy nội dung tranh chấp trong khái niệm này được xác định là quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất bao gồm tranh chấp xác định
ai là người có quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất, về ranh giới, mục đích sử dụng hoặc quyền và nghĩa vụ phát sinh trong quá trình sử dụng đất (các tranh chấp phổ biến trong trường hợp này là tranh chấp về ranh giới đất liền kề, ngõ đi, cơ quan nhà nước cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng bị trùng diện tích, người sử dụng đất được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng chủ cũ đòi
Trang 38lại đất hoặc chủ cũ được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng người sử dụng đất cho rằng việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là không đúng) Tuy nhiên, quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất là một khái niệm rất rộng, sự quy định thiếu cụ thể này đã dẫn đến tình trạng khó xác định thế nào là tranh chấp đất đai Hiện nay có nhiều định nghĩa về tranh chấp đất đai như: “Tranh chấp đất đai là sự bất đồng, mâu thuẫn hay xung đột về lợi ích, về quyền và nghĩa vụ giữa các chủ thể khi tham gia vào quan hệ pháp luật đất đai” [21, tr 455 ] hay: “Tranh chấp đất đai là sự mẫu thuẫn, bất đồng giữa các chủ thể (sử dụng đất) trong việc xác định ai là người có quyền sử dụng đối với một hoặc những thửa đất nhất định… tranh chấp đất đai có thể bao hàm cả các tranh chấp về địa giới giữa các đơn vị hành chính” [36, tr 357 - 358] Mặc dù vậy, các định nghĩa nêu trên vẫn chưa chỉ ra nội hàm, bản chất của tranh chấp đất đai
Xét về chủ thể của quan hệ tranh chấp đất đai, tranh chấp đất đai là tranh chấp về quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất, nhưng lại được phát sinh “giữa hai hay nhiều bên trong quan hệ đất đai”, mà các bên trong quan hệ đất đai không chỉ bao gồm giữa những người sử dụng đất mà còn bao gồm các cơ quan Nhà nước với tư cách là đại diện chủ sở hữu, cơ quan quản lý hành chính trong lĩnh vực đất đai Do vậy, chủ thể của tranh chấp đất đai được hiểu là tất cả các bên trong quan hệ đất đai, không chỉ giới hạn ở người sử dụng đất
Ngoài việc các quy định về chủ thể tranh chấp và nội dung tranh chấp đất đai thì thời điểm xác định có tranh chấp đất đai là điều kiện của việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất cũng là một vấn đề cần làm rõ Pháp luật hiện hành không bắt buộc các bên phải thực hiện thủ tục xác nhận tình trạng “đất có tranh chấp” trước khi tiến hành giao dịch, cũng không quy định thời điểm phát sinh tranh chấp đất đai
là cơ sở để xác định vi phạm điều kiện chuyển quyền Do đó, đã xảy ra tình trạng lợi dụng điều kiện “tranh chấp đất đai” gây ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất Khi quyền sử dụng đất có tranh chấp, đồng nghĩa với việc tại thời điểm đó quyền sử dụng đất đang thuộc một đối tượng cụ thể, nhưng khả năng định đoạt chuyển nhượng quyền sử dụng đất của đối tượng này có thể bị ảnh hưởng bởi tình trạng kiện tụng tranh chấp Bởi vì, để đảm bảo quyền và lợi ích
Trang 39chính đáng cho các chủ thể khác có liên quan, đồng thời tránh tình trạng tranh chấp
về sau pháp luật không cho phép chủ thể chuyển nhượng quyền sử dụng đất đang có tranh chấp Luật đất đai năm 2013 quy định khi có tranh chấp khuyến khích các bên
tự hòa giải, khi các bên tranh chấp không tự hòa giải được thì gửi đơn đến UBND cấp xã nơi có đất tranh chấp để hòa giải Trường hợp đã hòa giải tại UBND cấp xã
mà không thành thì các bên có quyền khởi kiện tại Tòa án nhân dân cấp có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự
Trường hợp các bên có sự bất đồng về quyền và nghĩa vụ đối với nhau nhưng sau đó tự hòa giải và không có đơn gửi cơ quan Nhà nước có thẩm quyền về giải quyết tranh chấp đất đai thì có được xem là đất đang có tranh chấp hay không?
Về mặt thực tiễn tranh chấp đất đai là tranh chấp về quyền và nghĩa vụ giữa các bên đương sự Về mặt pháp lý tranh chấp đất đai phải được giải quyết thông qua con đường tố tụng Do đó, chúng ta vẫn phải hiểu rằng chỉ khi nào một bên gửi đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp đất đai đến cơ quan có thẩm quyền giải quyết tranh chấp mới được coi là đất có tranh chấp Và khi đó, người sử dụng đất sẽ bị hạn chế quyền chuyển nhượng đối với thửa đất đang có tranh chấp
Vì vậy, chỉ khi nào quyền sử dụng đất đảm bảo yếu tố không có tranh chấp mới đủ điều kiện để đưa vào giao dịch chuyển nhượng
Thứ ba: Quyền sử dụng đất không bị kê biên để đảm bảo thi hành án Căn
cứ quy định của pháp luật tố tụng dân sự, đây là một trong những biện pháp khẩn cấp tạm thời được áp dụng trong giai đoạn giải quyết vụ án và chưa có bản án/ quyết định có hiệu lực pháp luật Đương sự, người đại diện hợp pháp của đương sự hoặc cơ quan, tổ chức khởi kiện để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người khác
có quyền yêu cầu Tòa án đang giải quyết vụ án đó áp dụng một hoặc nhiều biện pháp khẩn cấp tạm thời để bảo đảm thi hành án Căn cứ pháp luật thi hành án dân
sự, biện pháp kê biên tài sản được áp dụng khi người phải thi hành án phải thi hành nghĩa vụ trả tiền theo bản án/ quyết định có hiệu lực pháp luật và mặc dù người này
có điều kiện thi hành (có tài sản) nhưng không tự nguyện thi hành Việc áp dụng biện pháp kê biên tài sản nhằm đảm bảo thực thi bản án/quyết định của Tòa án đã
có hiệu lực pháp luật
Trang 40Thứ tư: Quyền sử dụng đất trong thời hạn sử dụng đất Tại Điều 125, 126 Luật đất đai năm 2013 quy định về thời hạn sử dụng đất của hộ gia đình, cá nhân đối với các loại đất như sau: Thời hạn sử dụng đất ở của hộ gia đình, cá nhân là lâu dài; Thời hạn giao đất, công nhận quyền sử dụng đất nông nghiệp đối với hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp theo quy định tại khoản 1, khoản 2, điểm b khoản 3, khoản 4 và khoản 5 Điều 129 của Luật này là 50 năm Thời hạn cho thuê đất nông nghiệp đối với hộ gia đình, cá nhân không quá 50 năm Do đó, khi hộ gia đình, cá nhân muốn chuyển nhượng quyền sử dụng đất phải thỏa mãn điều kiện trong thời hạn sử dụng đất đã được nhà nước giao đất, công nhận quyền
Hình thức của hợp đồng không chỉ là hình thức thể hiện nội dung của hợp đồng mà còn là những thủ tục mà pháp luật quy định bắt buộc các bên giao kết hợp đồng phải tuân thủ khi giao kết một số loại hợp đồng như phải có công chứng, chứng thực…[38, tr.48 ]
Tại Điều 502 BLDS năm 2015 quy định về hình thức hợp đồng về quyền sử dụng đất phải được lập thành văn bản theo hình thức phù hợp với quy định của Bộ luật này, pháp luật về đất đai và quy định khác của pháp luật có liên quan
Khoản 3 Điều 167 Luật đất đai năm 2013 quy định: "Việc công chứng,
chứng thực hợp đồng, văn bản thực hiện các quyền của người sử dụng đất được thực hiện như sau:
Hợp đồng chuyển nhượng, tặng cho, thế chấp, góp vốn bằng quyền sử dụng đất, quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất phải được công chứng hoặc chứng thực, trừ trường hợp kinh doanh bất động sản quy định tại điểm b khoản này; …