1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Bảo vệ rừng đặc dụng theo pháp luật Việt Nam từ thực tiễn Vườn quốc gia Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phước.

81 14 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Bảo Vệ Rừng Đặc Dụng Theo Pháp Luật Việt Nam Từ Thực Tiễn Vườn Quốc Gia Bù Gia Mập, Tỉnh Bình Phước
Tác giả Lý Văn Hoàn
Người hướng dẫn TS. Nguyễn Văn Phương
Trường học Học Viện Khoa Học Xã Hội
Chuyên ngành Luật Kinh Tế
Thể loại Luận Văn Thạc Sĩ
Năm xuất bản 2021
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 81
Dung lượng 901,62 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bảo vệ rừng đặc dụng theo pháp luật Việt Nam từ thực tiễn Vườn quốc gia Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phước.Bảo vệ rừng đặc dụng theo pháp luật Việt Nam từ thực tiễn Vườn quốc gia Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phước.Bảo vệ rừng đặc dụng theo pháp luật Việt Nam từ thực tiễn Vườn quốc gia Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phước.Bảo vệ rừng đặc dụng theo pháp luật Việt Nam từ thực tiễn Vườn quốc gia Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phước.Bảo vệ rừng đặc dụng theo pháp luật Việt Nam từ thực tiễn Vườn quốc gia Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phước.Bảo vệ rừng đặc dụng theo pháp luật Việt Nam từ thực tiễn Vườn quốc gia Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phước.

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

Trang 2

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

TS NGUYỄN VĂN PHƯƠNG

Trang 3

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Hệ thống rừng đặc dụng, rừng phòng hộ đã đang và sẽ giữ vai trò hết sứcquan trọng phòng hộ đầu nguồn, góp phần quan trọng ứng phó với biến đổi khí hậu.Rừng đặc dụng, rừng phòng hộ giúp bảo tồn đa dạng sinh học là môi trường sinhthái bảo vệ các nguồn gen quý hiếm đặc biệt quan trọng của ngành sản xuất nông,lâm nghiệp, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là nguồn đểxây dựng du lịch, là nguồn tài nguyên có hạn về số lượng và ngày càng bị thu hẹp

Rừng Việt Nam được phân chia thành 3 là rừng đặc dụng, rừng phòng hộ vàrừng sản xuất với chức năng quản lý khác nhau Tổng diện tích rừng toàn quốc năm

2017 là 14.4 triệu ha, trong đó: Rừng đặc dụng là hơn 2.1 triệu ha, chiếm 14.9%;Rừng phòng hộ là hơn 4.5 triệu ha, chiếm 31.7%; Rừng sản xuất có hơn 6.7 triệu ha,chiếm 46% Ngoài ra, cả nước hiện có 941 nghìn ha rừng chưa được xếp loại, tươngđương 13.9% tổng diện tích rừng Tính đến ngày 31/12/2018, diện tích đất có rừnglà

14.491.295 ha, trong đó rừng tự nhiên chiếm 10.255.525 ha và rừng trồng chiếm4.235.770 ha Diện tích đất có rừng đủ tiêu chuẩn để tính tỷ lệ che phủ toàn quốc là13.785.642 ha, tỷ lệ che phủ là 41,65%, tăng 0,2% so với năm 2017, vượt chỉ tiêucủa Nghị quyết 01/NQ-CP ngày 1/1/2018 của Chính phủ Xét theo 8 vùng sinh tháiđặc trưng, rừng đặc dụng phân bố nhiều nhất ở vùng Bắc Trung Bộ, chiếm khoảng0.6 triệu ha Khu vực có nhiều rừng phòng hộ nhất là Đông Bắc, hơn 1.1 triệu ha.Còn khu vực Đông Bắc và Tây nguyên có diện tích rừng sản xuất lớn, chiếm lầnlượt là gần 2.2 triệu ha và 1.4 triệu ha Rừng đặc dụng được phân làm 5 loại, baogồm: Vườn quốc gia; Khu bảo tồn thiên nhiên (hay Khu dự trữ thiên nhiên theoLuật Lâm nghiệp 2017); Khu bảo tồn loài và sinh cảnh; Khu bảo vệ cảnh quan (baogồm rừng bảo tồn di tích lịch sử-văn hóa, danh lam thắng cảnh, rừng tín ngưỡng;rừng bảo vệ môi trường đô thị, khu công nghiệp, khu chế xuất, khu kinh tế, khucông nghệ cao) và 5 các khu rừng nghiên cứu, thực nghiệm khoa học; Vườn thựcvật quốc gia; rừng giống quốc gia

Trong những năm qua có rất nhiều thay đổi trong pháp luật bảo vệ rừng như

sự đời của Luật Lâm nghiệp năm 2017 có hiệu lực từ ngày 01/01/2019 đã khắc phục

3

Trang 4

được các hạn chế của Luật Bảo vệ và phát triển rừng năm 2004 Cùng với đó, phápluật về bảo vệ môi trường đã có nhiều thay đổi mang chiều hướng tích cực, tiến bộ,phục vụ tốt cho hoạt động quản lý nhà nước về bảo vệ rừng, góp phần tăng cườngpháp chế trong lĩnh vực này, đặc biệt là ở các địa phương có rừng đặc dụng Mặc dùvậy, trong quá trình áp dụng pháp luật vẫn còn những kho khăn nhất định Nguyênnhân một phần do pháp luật về bảo vệ rừng vẫn còn nhiều chỗ chưa thật sự phù hợpvới thực tiễn phức tạp của công tác này Do hệ thống cơ sở dữ liệu về bảo vệ rừngchưa được kiện toàn Trong thời gian qua tại Vườn quốc gia Bù Gia Mập, tỉnh BìnhPhước triển khai việc bảo vệ rừng đặc dụng gặp nhiều khó khăn và vướng mắc, quátrình tổ chức thực thi có hiệu quả nhưng chưa thật sự có hiệu quả cao Từ pháp luậtthực định và quá trình áp dụng pháp luật trong công tác bảo vệ rừng đặc dụng tạiVườn quốc gia Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phước cho thấy còn nhiều vấn đề cần phảinghiên cứu, xem xét, đánh giá một cách toàn diện, để hiểu rõ nhất những kết quả đạtđược, tìm ra những tồn tại, vướng mắc, từ đó đưa ra giải pháp để thực thi pháp luậtbảo vệ rừng đặc dụng tại đây ngày càng hiệu quả hơn Với ý nghĩa và tầm quantrọng đó, tác giả lựa chọn đề tài: “Bảo vệ rừng đặc dụng theo pháp luật Việt Nam từthực tiễn Vườn quốc gia Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phước”, làm đề tài luận văn củamình.

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Trong thời gian qua bảo vệ môi trường cũng như, bảo vệ đã nhận được sự quantâm nghiên cứu của nhiều các nhà nghiên cứu, các nhà khoa học và các cá nhânkhác với những khía cạnh nghiên cứu khác nhau Trong đó tiêu biểu là các côngtrình nghiên cứu của một số tác giả sau đây:

kế bền vững cho cộng đồng các dân tộc thiểu số vùng núi Thừa Thiên Huế”, củaNguyễn Thị Mỹ Vân, năm 2013 và một số các công trình nghiên cứu khác

- Các luận văn thạc sỹ có:

Trang 5

Luận văn thạc sỹ “Pháp luật bảo vệ môi trường rừng ở Việt Nam thực trạng vàphương hướng hoàn thiện”, Luận Văn Thạc sỹ của Nguyễn Hải Âu, Đại học luật Hà

Nội, năm 2001; Luận văn thạc sỹ “Một số vấn đề cơ bản về pháp luật bảo vệ rừng ở

Việt Nam hiện nay”, Luận văn thạc sỹ Luật học, của Nguyễn Thanh Huyền, Khoa

Luật – Đại học quốc gia Hà Nội, 2004; Luận văn thạc sỹ “Pháp luật về bảo vệ tài

nguyên rừng ở Việt Nam”, Luận văn thạc sỹ Luật học, của Phạm Thị Thủy, KhoaLuật – Đại học quốc gia Hà Nội, năm 2014; Luận văn thạc sỹ “Quyền và nghĩa vụcủa chủ rừng là tổ chức kinh tế theo luật bảo vệ và phát triển rừng năm 2004”, của

Lê Thị Lệ Thu, Học viện khoa học xã hội Việt Nam; Luận văn thạc sỹ “Pháp luật vềsuy thoái tài nguyên rừng ở Việt Nam”, Luận văn thạc sỹ, của Nguyên Thị Thanh

Nga, Đại học Luật Hà Nội, năm 2016; Luận văn thạc sỹ “Giao khoán rừng theo

pháp luật Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Lạng Sơn”, của Nguyễn Văn Quảng, năm2017; Luận văn thạc sỹ “Pháp luật về bảo vệ rừng đặc dụng từ thực tiễn Vườn quốcgia Yok Đôn, tỉnh Đắk Lắk”, Luận văn thạc sỹ, của Lê Thị Lê Na, Học viện khoahọc xã hội - Viện hàn lâm khoa học xã hội Việt Nam, năm 2018; Luận văn thạc sỹ

“Giao rừng cho cá nhân, hộ gia đình theo pháp luật bảo vệ và phát triển rừng ở ViệtNam từ thực tiễn tỉnh Quảng Nam”, Luận văn thạc sỹ, của Ngô Vinh, Học viện khoahọc xã hội - Viên hàn lâm khoa học xã hội Việt Nam, năm 2019; Luận văn thạc sỹ

“Quyền và nghĩa vụ của chủ rừng theo pháp luật bảo vệ rừng và phát triển rừng ởViệt Nam hiện nay từ thực tiễn tỉnh Quảng Nam”, Luận văn thạc sỹ, của Ngô VănLuận, Học viện khoa học xã hội - Viên hàn lâm khoa học xã hội Việt Nam, năm2019

- Có một số khóa luận như:

Khóa luận tốt nghiệp của nhân luật, của Hoàng Hiền Lương về “Một số vấn đềpháp luật về bảo vệ các loài động vật, thực vật nguy cấp, quý, hiếm”, Đại luật HàNội, năm 2009; Khóa luận tốt nghiệp cử nhân luật, của Nguyễn Thị Hoa, về “Phápluật về buôn bán động, thực vật hoang dã”, Đại học luật Hà Nội, năm 2012

-Trên một số tạp chí có:

Bài “Quản lý và bảo vệ rừng trên cơ sở cộng đồng”, của TS Nguyễn Huy

Dũng, tạp chí Bảo vệ môi trường số 12/2008; “Nghiên cứu một số tội phạm xâm hại

môi trường rừng được quy định tại chương XVII – các tội xâp phạm môi trường

Trang 6

trong Bộ

Trang 7

luật Hình sự năm 1999”, của Nguyễn Thanh Huyền, Tạp chí Nông nghiệp và Phát

triển nông thôn, tháng 6/2008; “Bàn về tội hủy hoại rừng theo điều 189 Bộ luật Hình sự”, của Nguyễn Văn Dũng, Tạp chí Tòa án nhân dân, số 9/2009; “Vướng mắc

cần giải quyết trong việc áp dụng điều 190 Bộ luật Hình sự về tội vi phạm các quyđịnh về bảo vệ động vật hoang dã, quý, hiếm”, của Nguyễn Duy Giảng, Tạp chíKiểm sát, số 04/2009; “Về tội vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng tạiđiều 175 Bộ luật Hình sự”, của Phạm Văn Beo, Tạp chí Tòa án nhân dân, số 1/2010;

“Công tác phòng chống vi phạm pháp luật về bảo vệ động vật hoang dã quý hiếm ởnước ta một số khó khăn, vướng mắc và giải pháp khắc phục”, của Đặng Thu Hiền,Tạp chí dân chủ và pháp luật, số 5/2011; “Thực trạng công tác phòng, chống tộiphạm vi phạm pháp luật trong lĩnh vực buôn bán động vật hoang dã, quý hiếm ởnước ta”, của Trần Minh Hưởng, Tạp chí Kiểm sát, số 7/2012

Qua nghiên cứu các công trình nghiên cứu của các tác giả, mỗi công trìnhnghiên cứu chỉ ở một khía cạnh hoặc chỉ đề cập đến một số vấn đề liên quan đếnpháp luật chỉ ra vai trò quan trọng của pháp luật về bảo vệ môi trường rừng nóichung Tuy nhiên chưa có công trình, đề tài hay bài viết nào nghiên cứu một cáchtoàn diện và đầy đủ về pháp luật bảo vệ rừng đặc dụng từ thực tiễn Vườn quốc gia

Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phước Việc chọn đề tài “Bảo vệ rừng đặc dụng theo phápluật Việt Nam từ thực tiễn Vườn quốc gia Bù Gia Mập tỉnh Bình Phước”, làm côngtrình nghiên cứu để bảo vệ luận văn không trùng lặp với các công trình nghiên cứukhác và có ý nghĩa thực tiễn đối với địa phương

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu:

Luận văn nghiên cứu, phân tích nhằm đánh giá và luận giải những khía cạnh lýluận về bảo vệ rừng đặc dụng và thực trạng thực hiện pháp luật bảo vệ rừng đặcdụng qua việc nghiên cứu địa bàn cụ thể là Vườn quốc gia Bù Gia Mập, tỉnh BìnhPhước để làm sang tỏ đề tài Trên cở sở nghiên cứu đề tài, đề xuất, định hướng cácgiải pháp hoàn thiện và nâng cao hiệu quả công tác bảo vệ rừng đặc dụng nói chung

và tại Vườn quốc gia Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phước nói riêng

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu:

Trang 8

Phân tích khái niệm, đặc điểm, vai trò của pháp luật bảo vệ rừng đặc dụng,nguyên tắc của pháp luật bảo vệ rừng đặc dụng, nội dung của pháp luật bảo vệ rừngđặc dụng, ý nghĩa của công tác bảo vệ rừng đặc dụng, những yếu tố tác động tớicông tác bảo vệ rừng đặc dụng, các tiêu chí đánh giá việc bảo vệ rừng đặc dụng,pháp luật bảo vệ rừng đặc dụng

Đánh giá những kết quả đạt được dưới khía cạnh áp dụng pháp luật vào thựctiễn công tác bảo vệ rừng đặc dụng Từ đó, đưa ra những vấn đề còn hạn chế, vướngmắc và bất cập nhằm đưa ra những giải hiệu quả hơn nhằm xây dựng pháp luật bảo

vệ rừng hiệu quả nhất

Về thực tiễn thực hiện các quy định của pháp luật về bảo vệ rừng đặc dụng nóichung và tại Vườn quốc gia Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phước nói riêng Dữ liệu đượchọc viên thu thập từ năm 2015 đến năm 2019

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: Các công trình nghiên cứu về lý luận và các quy phạmpháp luật hiện hành về bảo vệ rừng đặc dụng và các quy định của tỉnh Bình Phướcliên quan trực tiếp về vấn đề này

Trong luận văn có đề cập đến một số quy định của Luật Lâm nghiệp năm 2017

có hiệu lực từ ngày 01/01/2019

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Pháp luật về bảo vệ rừng đặc dụng tại Vườn quốc gia Bù Gia Mập, tỉnh BìnhPhước Thời gian nghiên cứu là 5 năm từ năm 2015 đến năm 2019 Ngoài ra còn đềcập đến một số địa phương khác trong cả nước

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

5.1 Cơ sở lý luận

Nghiên cứu của tác giả dựa trên cơ sở phương pháp luận của Chủ nghĩa MácLênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng về xây dựng Nhà nước về hệthống pháp luật nói chung và pháp luật bảo vệ rừng đặc dụng nói riêng

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu được tác giả sử dụng ở đây là phương pháp của triếthọc duy vật biện chứng và duy vật lịch sử Mác – Lênin

Trang 9

Phương pháp nghiên cứu lý luận, thu thập thông tin: thôn tin được thu thập từ sốliệu báo cáo số liệu của Vườn quốc gia Bù Gia Mập, huyện Bù Gia Mập, tỉnh BìnhPhước có nội dung liên quan đến luận văn.

Tác giả còn sử dụng các phương pháp tổng hợp, diễn giải, quy nạp, đánh giá, sosánh để đánh giá, tìm hiểu về pháp luật bảo vệ rừng đặc dụng

Ngoài ra tác giả còn sử dụng phương pháp thống kê xử lý các số liệu, tài liệuthu thập thực tiễn, lấy thông tin chọn lọc để đưa vào so sánh, đánh giá, nhận xét mộtcách khách quan

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

Bài viết đóng góp vào việc giải quyết vấn đề thực tiễn đang đặt ra hiện nay tạiVườn quốc gia Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phước là tài liệu tham khảo cho các địaphương, các tác giả khác muốn nghiên cứu pháp luật về bảo vệ rừng đặc dụng

7 Kết cấu của luận văn

Bài viết của tác gia được trình bày gồm phần mở đầu, kết luận, danh mục tàiliệu tham khảo và nội dung đề tài chia làm 3 chương:

Chương 1: Một số vấn đề lý luận của pháp luật bảo vệ rừng đặc dụng ở Việt Nam

Trang 10

Chương 2: Thực trạng pháp luật bảo vệ rừng đặc dụng từ thực tiễn Vườn quốc gia Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phước

Chương 3: Một số kiến nghị, giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật bảo vệ rừng đặc dụng

Trang 11

Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁP LUẬT BẢO VỆ RỪNG

ĐẶC DỤNG Ở VIỆT NAM

1.1 Khái quát về bảo vệ rừng đặc dụng

1.1.1 Khái niệm bảo vệ rừng đặc dụng

1.1.1.1 Khái niệm rừng

Có nhiều định nghĩa khác nhau về rừng nhưng hầu hết định nghĩa dựa vào phạm

vi không gian, hệ thống sinh thái và cảnh quan địa lí

Năm 1912, G.F.Morodop công bố tác phẩm “Học thuyết về rừng” đã định nghĩarừng như sau Rừng là là những quần xã cây gỗ, trong đó chúng biểu hiện các ảnhhưởng qua lại lẫn nhau làm nảy sinh ra những hiện tượng mới mà những cây mọcđơn lẻ không có Trong quần lạc sinh địa rừng có các mối quan hệ qua lại giữa cáccây rừng với nhau, các mối quan hệ qua lại giữa chúng với đất, không khí; có khảnăng tự phục hồi và phát triển mạnh mẽ Đến năm 1964, V.I.Sucachev có ý kiến chorằng “quần lạc sinh địa rừng là một khoảng đất bất kỳ có sự đồng nhất về thànhphần, cấu trúc và các đặc điểm của các thành phần tạo nên nó và về mối quan hệgiữa chúng với nhau, có nghĩa là đồng nhất về thực vật che phủ về thế giới động vật

và vi sinh vật cư trú tại đó về điều kiện khí hậu, thủy văn và đất đai và các điều kiệntrao đổi vật chất và năng lượng giữ các thành phần của nó với nhau với các điềukiện tự nhiên khác” Một quần lạc sinh địa chỉ được coi là rừng khi quần lạc thựcvật là cây gỗ lớn chiếm ưu thế và chi phối các thành phần khác trong toàn bộ quầnlạc sinh địa

Quan điểm phương tây coi rừng là một hệ sinh thái Người đầu tiên đề cập đếnkhái niệm hệ sinh thái là A.Tansley vào năm 1935 ông nếu lên “mặc dù các cơ thểsống luôn có xu hướng muốn tách khỏi môi trường mà chúng phải cùng với môitrường sống đó hợp thành một thể thống nhất vật lý – sinh học thống nhất Những

hệ thống này là những đơn vị cơ bản của tự nhiên và được gọi là hệ sinh thái” Saunày đã được hoàn thiện và phát triển bởi các nhà khoa học như: Linderman (1942),C.Wilee (1957), P.E Odum (1971,1975), Whitetaker (1975)

Trang 12

Vào năm 1930 khái niệm về rừng được đưa ra bởi Morozov như sau: Rừng làmột tổng thể cây gỗ, có mối liên hệ lẫn nhau, nó chiếm một phạm vi không giannhất định ở mặt đất và trong khí quyển Năm 1974, I.S Mê-lê-không đưa ra kháiniệm khác: Rừng là sự hình thành phức tạp của tự nhiên, là thành phần cơ bản của

sinhquyển địa cầu

Tại Việt Nam khái niệm về Rừng được đưa ra đầu tiên trong Luật Bảo vệ vàphát triển rừng năm 1991 như sau: Rừng bao gồm rừng tự nhiên và rừng trồng trênđất lâm nghiệp gồm có động vật rừng, thực vật rừng và những yếu tố tự nhiên có

liên quan đến rừng Theo Luật Bảo vệ và phát triển rừng năm 2004 khái niệm rừng

như sau: Rừng là một hệ sinh thái bao gồm quần thể thực vật rừng, động vật rừng,

vi sinh vật rừng, đất rừng và các yếu tố môi trường khác, trong đó cây gỗ, tre nứahoặc hệ thực vật đặc trưng là thành phần chính có độ che phủ của tán rừng từ 0,1 trởlên đến đây khai niệm rừng đã ngày càng hoàn thiện hơn Tại Việt Nam rừng đượcchia ra làm ba loại rừng chủ yêu sau rừng trồng và rừng tự nhiên trên đất sản xuất,rừng phòng hộ và rừng đặc dụng Đến năm 2017 khi Luật Lâm nghiệp ra đời thìkhái niệm được nếu lên như sau “Rừng là một hệ sinh thái bao gồm các loại thựcvật, động vật, nấm, vi sinh vật, đất rừng và các yếu tố môi trường khác, trong đóthành phần chính là một số loài cây thân gỗ, tre, nứa, cây họ cau có chiều cao xácđịnh theo hệ thực vật trên núi đất, núi đá, đất ngập nước, đất cát hoặc hệ thực vậtđặc trưng khác; diện tích liên vùng 0,3 ha trở lên, độ tàn che từ 0,1 trở lên” đây làmột khai niệm về rừng hoàn chỉnh nhất ở nước ta từ trước đên nay Trong địnhnghĩa rừng được quy định trong Luật Bảo vệ và phát triển rừng năm 2004 khá đầy

đủ, tuy nhiên vẫn bộc lộ một số nhược điểm như: xác định rừng là một hệ sinh tháinhưng chưa làm rõ được quy mô diện tích tối thiểu của hệ sinh thái này là bao nhiêu

và chỉ mới chỉ đề cập thành phần chính của rừng là cây rừng các loại và độ tàn che,chưa quy định tiêu chí về rừng Tại khái niệm rừng trong Luật Lâm nghiệp năm

2017 đã xây dựng có sự thay đổi tiêu chí xác định rừng theo định nghĩa về rừng sovới Luật Bảo vệ và phát triển rừng năm 2004

Trang 13

Mặc dù có rất nhiều các định nghĩa về rừng khác nhau nhưng đều hướng tớinhận thức một cách đúng đắn nhất về rừng, vai trò và tầm quan trọng của rừng, từ

đó có thể tiến hành quản lý và có các biện pháp bảo vệ rừng tốt nhất

1.1.1.2 Khái niệm rừng đặc dụng

Tùy thuộc vào nguồn gốc, mục đích sử dụng và các tiêu chí khác nhau rừngđược phân chia thành nhiều loại Căn cứ vào nguồn gốc có thể chia thành rừng tựnhiên và rừng trồng Căn cứ vào mục đích sử dụng mà rừng mang lại được phânchia thành rừng đặc dụng, rừng phòng hộ và rừng sản xuất

Mục đích của việc thành lập các khu rừng đặc dụng nhằm bảo tồn thiên nhiên,bảo tồn các mẫu chuẩn hệ sinh thái rừng của quốc gia, bảo vệ nguồn gen động, thựcvật rừng rừng, nghiên cứu khoa học, bảo vệ di tích lịch sử, văn hóa, danh lam thắngcảnh phục vụ nghỉ ngơi, du lịch, kết hợp với phòng hộ đầu nguồn và bảo vệ môitrường sinh thái đáng suy giảm ngày càng nghiêm trọng

Khái niệm Vườn quốc gia được nêu lên là vùng đất tự nhiên được thành lập đểbảo vệ lâu dài một hay nhiều hệ sinh thái, đáp ứng yêu cầu về mẫu chuẩn của các hệsinh thái cơ bản còn nguyên vẹn hoặc ít bị tác động của con người, các khu rừng cógiá trị cao về văn hóa, du lịch Vườn quốc gia phải có diện tích đủ để chứa được mộthay nhiều hệ sinh thái đồng thời nó không bị thay đổi bởi những tác động xấu củacon người Diện tích này phải đạt tỷ lệ từ 70% trở lên Điều kiện giao thông tươngđối thuận lợi

Khai niệm Khu bảo tồn thiên nhiên (khu dự trữ tự nhiên và khu bảo toàn loàisinh cảnh) được nêu lên là vùng đất tự nhiên được thành lập nhằm mục đích đápứng các yêu cầu là nới dự trữ tài nguyên thiên nhiên và có giá trị đa dạng sinh họccao và có giá trị cao về khoa học, giáo dục, du lịch Là nơi lưu trữ các loài độngthực vật đặc hữu hoặc là nơi cư trú, ẩn náu, kiếm ăn của các loài động vật hoang dãquý hiếm Đủ diện tích để chứa được một hay nhiều hệ sinh thái, tỷ lệ cần bảo tồntrên 70%

Khái niệm Khu rừng văn hóa – lịch sử - môi trường được nêu lên là khu vực gồmmột hay nhiều cảnh quan có giá trị thẩm mỹ tiêu biểu có giá trị văn hóa – lịch sử

nhằm phục vụ các hoạt động văn hóa, lịchdu hoặc để nghiên cứu khoa học, khảo cổtại những

Trang 14

khu vực có các thắng cảnh trên đất liền, ven biển hay hải đảo hoặc các khu di tích lịchsử-văn hóa đã được xếp hạng.

Điều 6, Nghị định 156/2018/NĐ – CP ngày 16 tháng 11 năm 2018 của Thủtướng chính phủ quy định Vườn quốc gia đáp ứng các tiêu chí: Có ít nhất 01 hệ sinhthái tự nhiên đặc trưng của một vùng hoặc của quốc gia, quốc tế hoặc có ít nhất 01loài sinh vật đặc hữu của Việt Nam hoặc có trên 05 loài thuộc Danh mục loài thựcvật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm; Có giá trị đặc biệt về khoa học, giáodục; có cảnh quan môi trường, nét đẹp độc đáo của tự nhiên, có giá trị du lịch sinhthái, nghỉ dưỡng, giải trí; Có diện tích liền vùng tối thiểu 7.000 ha, trong đó ít nhất70% diện tích là các hệ sinh thái rừng

Khu dự trữ thiên nhiên đáp ứng các tiêu chí sau đây: Có hệ sinh thái tự nhiênquan trọng đối với quốc gia, quốc tế, đặc thù hoặc đại diện cho một vùng sinh thái

tự nhiên; Là sinh cảnh tự nhiên của ít nhất 05 loài thuộc Danh mục loài thực vậtrừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm; Có giá trị đặc biệt về khoa học, giáo dụchoặc du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng, giải trí; Diện tích liền vùng tối thiểu 5.000 ha,trong đó ít nhất 90% diện tích là các hệ sinh thái rừng

Khu bảo tồn loài - sinh cảnh đáp ứng các tiêu chí sau đây: Là nơi sinh sống tựnhiên thường xuyên hoặc theo mùa của ít nhất 01 loài sinh vật đặc hữu hoặc loàithuộc Danh mục loài thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm; Phải bảođảm các điều kiện sinh sống, thức ăn, sinh sản để bảo tồn bền vững các loài sinh vậtđặc hữu hoặc loài thuộc Danh mục loài thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý,hiếm; Có giá trị đặc biệt về khoa học, giáo dục; Có diện tích liền vùng đáp ứng yêucầu bảo tồn bền vững của loài thuộc Danh mục loài thực vật rừng, động vật rừngnguy cấp, quý, hiếm

Khu bảo vệ cảnh quan bao gồm: Rừng bảo tồn di tích lịch sử - văn hóa, danhlam thắng cảnh đáp ứng các tiêu chí sau: Có cảnh quan môi trường, nét đẹp độc đáocủa tự nhiên; có di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh đã được cơ quan nhànước có thẩm quyền xếp hạng hoặc có đối tượng thuộc danh mục kiểm kê di tíchtheo quy định của pháp luật về văn hóa; có giá trị về khoa học, giáo dục, du lịchsinh thái, nghỉ dưỡng, giải trí; Rừng tín ngưỡng đáp ứng các tiêu chí sau: có cảnhquan môi trường, nét

Trang 15

đẹp độc đáo của tự nhiên; Khu rừng gắn với niềm tin, phong tục, tập quán của cộngđồng dân cư sống dựa vào rừng; Rừng bảo vệ môi trường đô thị, khu công nghiệp,khu chế xuất, khu kinh tế, khu công nghệ cao đáp ứng các tiêu chí sau: Khu rừng cóchức năng phòng hộ, bảo vệ cảnh quan, môi trường; được quy hoạch gắn liền với khu

đô thị, khu công nghiệp, khu chế xuất, khu kinh tế, khu công nghệ cao.

Khu rừng nghiên cứu, thực nghiệm khoa học cần có các các tiêu chí: Có hệ sinhthái đáp ứng yêu cầu nghiên cứu, thực nghiệm khoa học của tổ chức khoa học vàcông nghệ, đào tạo, giáo dục nghề nghiệp có chức năng, nhiệm vụ nghiên cứu, thựcnghiệm khoa học lâm nghiệp; Có quy mô diện tích phù hợp với mục tiêu, yêu cầunghiên cứu, thực nghiệm khoa học, phát triển công nghệ, đào tạo lâm nghiệp lâu

dài.

Vườn thực vật quốc gia: Khu rừng lưu trữ, sưu tập các loài thực vật ở Việt Nam

và thế giới để phục vụ nghiên cứu, tham quan, giáo dục, có số lượng loài thân gỗ từ

500 loài trở lên và diện tích tối thiểu 50 ha.

Rừng giống quốc gia đáp ứng các tiêu chí sau đây: Là khu rừng giống chuyểnhóa, rừng giống trồng của những loài cây thuộc danh mục giống cây trồng lâmnghiệp chính; Đáp ứng các yêu cầu của tiêu chuẩn quốc gia về rừng giống, có diện

tích tối thiểu 30 ha.

1.1.1.3 Khái niệm bảo vệ rừng đặc dụng

Bảo vệ được hiểu là chống lại sự xâm phạm từ bên ngoài để giữ nguyên vẹnnhững gì bên trong

Bảo vệ rừng đặc dụng hiểu theo nghĩa hẹp là những hành động của con ngườichống lại mọi sự xâm phạm, giữ cho rừng đặc dụng được bảo tồn nguyên vẹn.Nghiêm cấm mọi hành vi khai thác rừng đặc dụng, rừng đặc dụng phải được bảo tồnnguyên vẹn tình trạng ban đầu

Bảo vệ rừng đặc dụng hiểu theo nghĩa rộng là các hoạt động của con người kếthợp giữa bảo tồn động thực vật rừng và khai thác, sử dụng hợp lý nguồn tài nguyênrừng đặc dụng nhằm phát triển bền vững nguồn tài nguyên rừng và đa dạng sinhhọc Do đó, hoạt động bảo vệ rừng đặc dụng bao gồm các hoạt động: quản lý, bảo

vệ thực vật rừng, động vật rừng; hoạt động sử dụng rừng đặc dụng; xử lý các vi

phạm

Trang 16

và giải quyết tranh chấp đối với hành vi xâm phạm rừng đặc dụng.

Trang 17

1.1.2 Vai trò của việc bảo vệ rừng đặc dụng

1.1.2.1 Vai trò của rừng đặc dụng

Rừng nói chung và rừng đặc dụng nói riêng có vai trò rất quan trọng trong quátrình phát triển của xã hội loài người Sự quan hệ của rừng và cuộc sống đã trởthành một mối quan hệ hữu cơ Nó là một cấu thành quan trọng trong hệ sinh quyểnnên vai trò nổi bật nhất phải được xét trong mối quan hệ với môi trường

Rừng đặc dụng có những vai trò vô cùng riêng biệt: Vai trò của rừng đặc dụngđối với môi trường; Vai trò của rừng đặc dụng đối kinh tế; Vai trò của rừng đặcdụng đối xã hội

Chức năng sinh thái rừng đặc dụng tham gia vào quá trình điều hòa khí hậu, tạodưỡng khí phục vụ cho nhu cầu hô hấp của con người, các loài động vật Song song,với đó việc làm giảm bớt ô nhiễm không khí đang ngày càng trầm trọng thông quakhả năng hấp thụ các bon Vai trò của rừng trong giảm phát khí thải nhà kính và sựnóng lên toàn cầu đã được khẳng định mạnh mẽ Theo thống kê toàn cầu, các khurừng đã thải ra khoảng 80 tỷ tấn oxy và hấp thụ khoảng 100 tỷ tấn CO2

Rừng giữ vai trò điều hòa nguồn nước làm giảm dòng chảy bề mặt chuyểnlượng nước mưa vào lượng nước ngấm Khắc phục được xói mòn đất, hạn chế lắngđọng lòng sông, lòng hồ, điều hòa được dòng chảy của các con sông, con suối.Đối với rừng đặc dụng bên cạnh vai trò rất quan trọng về phòng hộ và bảo vệmôi trường, rừng đặc dụng tạo nên nhiều giá trị kinh tế theo nguyên tắc sử dụng bềnvững tài nguyên rừng Rừng đặc dụng cung cấp rất nhiều lâm sản như củi, gỗ, độngthực vật khác không thuộc danh mục các loài nguy cấp, quý, hiếm theo quy địnhcủa nhà nước Bên trong hệ sinh thái rừng đặc dụng chứa đựng nhiều sản phẩm cógiá trị kinh tế cao ngoài gỗ như: măng, nấm hương, dược liệu quý hiếm,…

Với vai trò quan trọng của mình trong mối quan hệ với môi trường, rừng đặcdụng cùng với các loại rừng khác tạo nên một nguồn thu không nhỏ từ việc thựchiện chính sách về thu phí dịch vụ môi trường rừng, tổ chức cung ứng các dịch vụnhư: bảo vệ đất, hạn chế xói mòn, điều tiết và duy trì nguồn nước, hấp thụ và lưu trữcác bon, giảm phát thải phí gây thiệt hại nhà kính, bảo vệ cảnh quan tự nhiên và đadạng

Trang 18

sinh học, nguồn thức ăn và con giống Đây là nguồn thu quan trọng đóng góp vàongân sách nhà nước và dùng để tiếp tục bảo tồn, đầu tư, phát triển rừng.

Du lịch sinh thái rừng ngày càng trở thành một hình thái du lịch rất được ưachuộng và đông đảo du khách lựa chọn Hiện nay, các khu rừng đặc dụng cũng dầntrở thành những điểm đến du lịch nổi tiếng và mang lại nhiều nguồn thu cho cộngđồng, doanh nghiệp và địa phương như Vườn quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng;Vườn Quốc gia Cúc Phương, Vườn Quốc gia Cát bà, Vườn Quốc gia Yok Đôn Từnhững

giá trị kinh tế nêu trên, rừng đặc dụng cũng có vai trò trong việc tạo việc làm chonhiều người dân đặc biệt là những người thuộc dân tộc ít người, cư dân địa phương,chủ rừng

Rừng đặc dụng là đối tượng cho công tác nghiên cứu khoa học và việc bảo tồn

đa dạng sinh học Trong thời gian qua, rừng đặc dụng tại Việt Nam thu hút sự quantâm lớn của giới khoa học trong và ngoài nước, có rất nhiều dự án nghiên cứu mangtính quốc tế được thực hiện tại Việt Nam mở ra nhiều cơ hội hợp tác quốc tế vềrừng, cụ thể hơn là rừng đặc dụng

- Ta có thể thấy một số giá trị mang lại từ rừng như sau:

Động vật rừng nguồn cung cấp thực phẩm, dược liệu, nguồn gen quý, da lông,sừng thú là những mặt hàng xuất khẩu có giá trị Ngày nay, cùng với sự phát triểncủa xã hội như cầu khai thác sử dụng sản phẩm có nguồn gốc từ rừng ngày mộtcàng cao Đặc biệt Rừng còn phục vụ nhu cầu du lịch sinh thái, các hoạt độngnghiên cứu khoa học

Rừng đặc dụng chủ chuyển không khí và các nguyên tố cơ bản khác nhằm duytrì độ ổn định, sự màu mỡ của đất và tạo điều kiện tăng độ phì nhiêu của đất Rừngđặc dụng đóng vai trò kiểm soát xói mòn và bồi lắng đất

Rừng đặc dụng góp phần quan trọng trong việc duy trì, bảo tồn và phát triển sự

đa dạng sinh học, các nguồn gen quý hiếm

Rừng đặc dụng được bảo vệ tốt đồng nghĩa bảo vệ được sự đa dạng và tính cânbằng của hệ sinh thái tự nhiên Đây cũng là nơi trú ngụ của những loài động vậthoang dã quý hiếm, có nguy cơ tuyệt chủng

Trang 19

Rừng đặc dụng cũng là nơi điều tiết nguồn nước, giữ chất lượng nước, bảo tồnnguồn nước mặt và nước ngầm Qua đó góp phần điều tiết dòng chảy, hạn chế lũ lụt,hạn hán.

Rừng đặc dụng cũng là không gian văn hóa của rất nhiều dân tộc ít người Hơnnữa, nhiều khu rừng đặc dụng là nguồn sống của nhiều đồng bào dân tộc ít người ởmiền núi, góp phần điều tiết dân cư và lao động xã hội, đóng góp vào công cuộc xóađói giảm nghèo

Một số khu rừng đặc dụng là không gian văn hóa, lịch sử của cả dân tộc, tồn tạibên trong đó những di tích lịch sử - văn hóa quý giá và được nhà nước công nhận.Điển hình như Vườn quốc gia Đền Hùng – Phú Thọ

Rừng đặc dụng còn là những giá trị văn hóa có tính kế thừa từ đời này sang đờikhác và để lại cho hậu thế sau này

Rừng đặc dụng còn là nơi bảo tồn các nguồn gen sinh vật, các kiểu hệ sinh thái đặctrưng, là nơi tốt nhất phục vụ cho các nghiên cứu thực nghiệm khoa học và giáo dục.1.1.3 Ý nghĩa của bảo vệ rừng đặc dụng

Bảo vệ rừng nói chung và rừng đặc dụng nói riêng có ý nghĩa hết sức tô lớntrong cuộc sống hiện nay của chúng ta Bảo vệ rừng đặc dụng góp phần bảo vệ môitrường sống của con người

Rừng đặc dụng góp phần làm sạch không khí, bảo vệ, nuôi dưỡng, điều hòanguồn nước và chống xói mòn đất, bảo vệ tài nguyên nước Bảo vệ rừng đặc dụnggiúp nâng cao chất lượng sống của con người, góp phần vào sự phát triển kinh tế vàkhoa học, xã hội Rừng đặc dụng với sự phong phú về các loại động vật, thực vậthoang dã, đa dạng về cảnh quan thiên nhiên, là nơi thích hợp để phục vụ cho việctham quan, du lịch, giải trí và là nơi tiến hành các hoạt động tinh thần khác tâm linh,tôn giáo Phát triển các loại hình du lịch sinh thái, khai thác và sử dụng hợp lýnguồn tài nguyên thiên nhiên từ rừng đặc dụng còn góp phần phát triển kinh tế, tạonguồn thu cho xã hội Do đó, việc bảo vệ Rừng đặc dụng góp phần bảo vệ đời sốngtinh thần của con người và phát triển kinh tế của đất nước

Ngoài ra, với vai trò là phòng thí nghiệm lưu giữ nguồn gen lớn nhất, là nơinghiên cứu thực nghiệm về các loài trong tự nhiên, việc bảo vệ rừng đặc dụng có ýnghĩa to lớn

Trang 20

trong việc bảo vệ đa đa dạng sinh học, góp phần vào sự phát triển của khoa học Đóngmột vai trò quan trọng trong cả đời sống vật chất và tinh thần của con người, nhưngrừng đặc dụng hiện nay đang bị tàn phá nặng nề, động vật rừng, thực vật rừng đang bịkhai thác quá mức và nhiều loài đứng trước nguy cơ tuyệt chủng.

1.2 Pháp luật bảo vệ rừng đặc dụng

1.2.1 Khái niệm pháp luật bảo vệ rừng đặc dụng

Pháp luật bảo vệ rừng đặc dụng là tổng hợp các quy phạm pháp luật được đưa

ra để điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong họat động quản lý, bảo vệ và sửdụng rừng đặc dụng; xử lý vi phạm và giải quyết tranh chấp đối với các hành vi xâmhại rừng đặc dụng Được quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật do các cơquan nhà nước có thẩm quyền ban hành như Quốc hội, Chính phủ, các Bộ, Hộiđồng nhân dân, Ủy ban nhân dân…

Đối tượng điều chỉnh của pháp luật bảo vệ rừng đặc dụng là các quan hệ xã hộiphát sinh trong họat động quản lý và sử dụng rừng đặc dụng; bảo vệ thực vật rừng,động vật rừng và xử lý vi phạm về khai thác và bảo vệ rừng đặc dụng cùng như giảiquyết tranh chấp đối với hành vi xâm hại rừng đặc dụng gồm: các quan hệ giữa các

tổ chức, cá nhân với nhau trong họat động sử dụng rừng đặc dụng và bảo vệ thựcvật rừng, động vật rừng và các quan hệ giữa các cơ quan nhà nước với nhau haygiữa cơ quan nhà nước với tổ chức, cá nhân trong họat động quản lý và sử dụngrừng đặc dụng cũng như bảo vệ thực vật rừng, động vật rừng và xử lý vi phạm vàgiải quyết tranh chấp đối với hành vi xâm hại rừng đặc dụng

Tương ứng với hai đối tượng đều chỉnh trên, pháp luật bảo vệ rừng đặc dụng sửdụng hai phương pháp điều chỉnh là phương pháp bình đẳng - thỏa thuận (dùng đểđiều chỉnh nhóm quan hệ thứ nhất) và phương pháp quyền uy (dùng để điều chỉnhnhóm quan hệ thứ hai)

1.2.2 Nguyên tắc của pháp luật bảo vệ rừng đặc dụng

Nguyên tắc điều chỉnh của pháp luật bảo vệ rừng đặc dụng: rừng đặc dụng cũng

có nhưng nguyên tác quan lý riêng đó là những nguyên lý, tư tưởng chỉ đạo quántriệt và xuyên suốt toàn bộ hệ thống các quy phạm pháp pháp luật bảo vệ rừng đặcdụng,

Trang 21

trong việc điều chỉnh các quan hệ xã hội, thể hiện quan điểm, đường lối, chính sáchcủa Đảng, Nhà nước ta trong công tác này Trong đó có những nguyên tắc cơ bản

sau: Thứ nhất, Theo quy định tại Điều 53, Hiến Pháp năm 2013 nêu đất đai, tài

nguyên nước, tài nguyên khoáng sản, nguồn lợi ở vùng biển, vùng trời, tài nguyênthiên nhiên khác và các tài sản do Nhà nước đầu tư, quản lý là tài sản công thuộc sởhữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý Do đó, rừngđặc dụng thuộc sở hữu toàn dân và do Nhà nước đại diện chủ sở hữu quản lý Theoquy định tại Luật Bảo vệ và phát triển rừng năm 2004 nêu Nhà nước thống nhấtquản lý và định đoạt đối với rừng tự nhiên và rừng được phát triển bằng vốn củaNhà nước, rừng do Nhà nước nhận chuyển quyền sở hữu rừng sản xuất là rừngtrồng từ các chủ rừng; động vật rừng sống tự nhiên, hoang dã; vi sinh vật rừng;cảnh quan, môi trường rừng Do đó, Nhà nước sở hữu đối với tất cả các yếu tố cấuthành rừng đặc dụng đất đai, tài nguyên nước, tài nguyên khoáng sản, nguồn lợi ở

vùng biển, vùng trời, tài nguyênthiên nhiên khác và các tài sản

Thứ hai, nguyên tắc bảo vệ rừng đặc dụng là trách nhiệm của toàn dân: Bảo vệ

rừng đặc dụng góp phần quan trọng trong việc bảo vệ môi trường sống của conngười Bảo vệ môi trường là trách nhiệm chung của cả cộng đồng chứ không phảichỉ riêng của cá nhân hay tổ chức nào Điều đó được quy định rõ nhất tại Luật Bảo

vệ và phát triển rừng năm 2004: “Bảo vệ rừng là trách nhiệm của mọi cơ quan, tổchức, hộ gia đình, cá nhân”, “Cơ quan nhà nước, tổ chức, cộng đồng dân cư thôn,

hộ gia đình, cá nhân có trách nhiệm bảo vệ rừng, thực hiện nghiêm chỉnh các quyđịnh về bảo vệ rừng theo quy định của Luật Bảo vệ và phát triển rừng, pháp luật vềphòng cháy, chữa cháy và các quy định khác của pháp luật có liên quan”

Thứ ba, nguyên tắc bảo vệ rừng đặc dụng phải đảm bảo phát triển bền vững, vì

các mục tiêu phát triển kinh tế xã hội, môi trường, quốc phòng và an ninh TheoLuật Bảo vệ môi trường năm 2014 nêu “Phát triển bền vững là phát triển đáp ứngđược nhu cầu của hiện tại mà không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu đócủa các thế hệ tương lai trên cơ sở kết hợp chặt chẽ, hài hòa giữa tăng trưởng kinh

tế, bảo đảm tiến bộ xã hội và bảo vệ môi trường” Đảm bảo sự kết hợp hài hòa giữacác mục

Trang 22

tiêu về phát triển kinh tế, xã hội và môi trườn, cần kết hợp với việc quản lý và khaithác một cách hợp lý và đảm bảo quốc phòng và an ninh.

Thứ tư, việc bảo vệ rừng đặc dụng phải đảm bảo hài hòa giữa lợi ích của nhà

nước và tổ chức, cá nhân Bảo vệ rừng đặc dụng phải đảm bảo hài hòa giữa lợi íchcủa Nhà nước với chủ rừng, chủ thể được giao quản lý rừng đặc dụng, lợi ích giữaNhà nước với các cộng đồng, cá nhân sinh sống trong vùng lõi và vùng đệm củarừng đặc dụng, với những chủ thể sống phụ thuộc vào rừng Quá trình thành lập cáckhu rừng đặc dụng gây ảnh hưởng tới đời sống của các cộng đồng dân cư sinh sốnglâu đời ở vùng đó, các quy định nghiêm ngặt nhằm bảo vệ rừng đặc dụng đã ảnhhưởng trực tiếp đến việc phát triển kinh tế và đời sống, phong tục, tập quán củangười dân Việc áp dụng pháp luật bảo vệ rừng cần phải đảm bảo hài hòa lợi íchngười dân, gắn kết các lợi ích kinh tế của người dân sinh sống xung quanh và bêntrong khu rừng đặc dụng với việc bảo vệ rừng đặc dụng

1.2.3 Nội dung của pháp luật bảo vệ rừng đặc dụng

Pháp Luật bảo vệ rừng đặc dụng là một lĩnh vực pháp luật gồm các quy phạmđiều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trực tiếp trong họat động quản lý và sử dụngrừng đặc dụng, công tác bảo vệ thực vật rừng, động vật rừng và xử lý vi phạm vàgiải quyết tranh chấp đối với hành vi xâm hại rừng Đồng thời, để thực hiện đượccác nguyên tắc cơ bản của pháp luật bảo vệ rừng đặc dụng, các nội dung điều chỉnhcủa pháp luật về lĩnh vực trên bao gồm một số nhóm sau:

Một là, nhóm quy định về quản lý rừng đặc dụng: Việc bảo vệ rừng đặc rừng

được thực hiện thông qua các hoạt động quản lý rừng đặc dụng, nếu quản lý hiệuquả, rừng sẽ được bảo vệ Hoạt động quản lý rừng đặc dụng bao gồm lập quy hoạchrừng đặc dụng; giao rừng, cho thuê rừng, thu hồi rừng và chuyển mục đích sử dụngrừng đặc dụng; tiến hành đóng, mở rừng tự nhiên; điều tra, theo dõi diễn biến vàxây dựng cơ sở dữ liệu rừng đặc dụng

Hai là, nhóm quy định về bảo vệ động vật rừng, thực vật rừng: Động thực vật

rừng có giá trị kinh tế rất lớn, một số người dân ưa chuộng sử dụng sản phẩm từđộng thực vật rừng do đó hoạt động khai thác động thực vật rừng diễn ra quá mức,dẫn đến

Trang 23

nguy cơ tuyệt chủng rất cao của rất nhiều loài động vật rừng, thực vật rừng, nhất làcác loài nguy cấp quý hiếm, làm ảnh hưởng đến đa dạng sinh học ở nước ta.

Ba là, nhóm quy định về sử dụng rừng đặc dụng: bao gồm các hoạt động như

sử dụng để thực nghiệm, nghiên cứu khoa học, kinh doanh du lịch sinh thái, khaithác, sử dụng bền vững các loài thực vật ngoài gỗ và không thuộc danh mục các loàinguy cấp, quý, hiếm; cung cấp các dịch vụ môi trường rừng như bảo vệ đất, hạn chếxói mòn, điều tiết nguồn nước, hấp thụ các bon, bảo vệ cảnh quan tự nhiên và đadạng sinh học, tạo bãi đẻ, nguồn thức ăn và con giống, sử dụng nguồn nước và rừng

cho nuôi trồng thủy sản Quá trình khai thác và sử dụng rừng đặc dụng hợp lý, khoa

học giúp tạo nguồn thu để phục vụ cho hoạt động bảo vệ rừng đặc dụng Pháp luật

về bảo vệ rừng đặc dụng điều chỉnh các nội dung liên quan đến khai thác và sử dụngrừng đặc dụng, thông qua việc khai thác và sử dụng bền vững rừng đặc dụng sẽ gópphần không nhỏ tới việc bảo vệ rừng

Bốn là, nhóm quy định về những ưu đãi của Nhà nước đối với chủ thể bảo vệ

rừng đặc dụng: Nhà nước đưa ra nhiều ưu đãi nhằm khuyến khích các chủ thể thamgia hoạt động bảo vệ rừng đặc dung bao gồm các chính sách ưu đãi về vốn, ưu đãi

về thuế suất

Năm là, nhóm quy định về sự tham gia của cộng đồng dân cư trong việc bảo vệ

rừng đặc dụng: Cộng đồng dân cư sinh sống bên trong và xung quanh rừng đặcdụng góp phần không nhỏ trong công tác bảo vệ rừng đặc dụng Việc xây dựng một

cơ chế pháp lý giúp gắn kết lợi ích của bảo vệ rừng với lợi ích kinh tế của cộngđồng dân cư sinh sống xung quanh rừng là bài toán khó được đặt ra đối với cơ quanquản lý nhà nước trong việc xây dựng pháp luật bảo vệ rừng đặc dụng vừa bảo vệđược rừng đặc dụng vừa mang lại cuộc sống cho người dân

Sáu là, nhóm quy định về xử lý vi phạm và giải quyết tranh chấp đối với hành

vi xâm hại rừng đặc dụng: Tùy theo mức độ nguy hiểm của hành vi mà có thể bị xử

lý hành chính hoặc xử lý hình sự Mọi hoạt động khai thác trái phép rừng đặc dụngđều sẽ phải bị xử lý nghiêm minh theo quy định của pháp luật nhằm tạo tính răn đe,giáo dục cho mọi chủ thể trong xã hội, khi phát hiện vi phạm ngoài những chủ thểtham gia khai thác rừng đặc dụng bị xử lý mà cả những chủ thể tham gia hoạt độngquản

Trang 24

lý rừng đặc dụng thiếu trách nhiệm trong việc quản lý rừng đặc dụng cũng có thể bị

xử lý

1.2.4 Đặc trưng của rừng đặc dụng

Theo quy định của Luật đất đai 2013, rừng đặc dụng được Nhà nước giao cho tổchức quản lý rừng đặc dụng để quản lý, bảo vệ theo quy hoạch, kế hoạch sử dụngđất đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt, được kết hợp sử dụng đấtvào mục đích khác theo quy định của pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng hiệuquả

Rừng đặc dụng là một trong ba loại rừng chủ yếu của nước ta (rừng chồng, rừngphòng hộ, rừng đặc dụng) Trong đó, rừng đặc dụng là loại rừng được bảo vệnghiêm ngặt nhất, hạn chế thấp nhất sự tác động của con người vào môi trường rừngđặc dụng Điều này đặt ra cho lực lượng quan lý rừng đặt dụng những khó khănnhất định trong công tác bảo vệ rừng đặc dụng

Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định cho tổ chức kinh tế thuê đất rừng đặc dụngthuộc khu vực được kết hợp với kinh doanh cảnh quan, du lịch sinh thái – môitrường dưới tán rừng

1.3 Lịch sử hình thành và phát triển về pháp luật bảo vệ rừng đặc dụng ở Việt Nam

Lịch sử hình thành và phát triển về pháp luật bảo vệ rừng đặc dụng ở Việt Namđược thể hiện qua hàng loạt các văn bản khác nhau mở đầu bằng Nghị định số188/NĐ ngày 24/7/1946, Nghị định số 300B ngày 16/11/1947, Nghị định liên bộ số8CN/TN/ND ngày 21/8/1954 của Bộ Canh nông quy định về lĩnh vực lâm sản;Thông tư số 366/TTg ngày 12/3/1954 Thủ tướng Chính phủ về việc trồng cây gâyrừng Đến năm 1962 đánh dấu bằng sự kiện thủ tướng chính phủ ra Quyết định72/TTg ngày 07/07/1962, về việc thành lập khu rừng cấm Cúc Phương đã chínhthức đánh dấu sự ra đời Vườn Quốc gia đầu tiên của Việt Nam Lịch sử hình thành

và phát triển của pháp luật bảo vệ rừng đặc dụng ở Việt Nam đã chải qua 59 nămvới rất nhiều các văn bản pháp luật khác nhau có thể phân chia thành một số giaiđoạn như sau:

- Giai đoạn từ 1960 đến 1975: Là giai thời kỳ đấu tranh thống nhất đất nước

thời kỳ này vấn đề về khai thác rừng tự nhiên, các loại động vật, thực vật rừng chưa

Trang 25

diễn ra nghiêm trọng Thời kỳ này có một số văn bản chủ yếu như: Quyết định số72/TTg

Trang 26

ngày 07/7/1962 của Thủ tướng về khu rừng cấm Cúc Phương và Quyết định số18/QĐ-LN ngày 08/01/1966 của Tổng cục Lâm nghiệp về việc thành lập Ban quản

lý và xây dựng vườn quốc gia Cúc Phương

-Giai đoạn từ 1975 đến 1986: Đây là giai đoạn đất nước thống nhất, hàn gắn

vết thương chiến tranh, đưa kinh tế nước ta thoát khỏi khủng hoảng, ngành Lâmnghiệp đã triển khai việc điều tra, phát hiện các khu bảo vệ trên cả nước đặc biệt ởcác khu vực Tây Nguyên, Đông Nam Bộ và Tây Nam Bộ Trong đó, ngày24/1/1977, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định Số 41/TTg thành lập 10 khurừng cấm, tổng diện tích 44.310 ha Ngày 30/12/1986, có Quy chế quản lý ba loạirừng được chính thức ban hành theo Quyết định số 1171/QĐ của Bộ trưởng Bộ Lâmnghiệp Quy chế đã đổi tên rừng cấm thành rừng đặc dụng và được chia làm: Vườnquốc gia, Khu Bảo tồn thiên nhiên và Khu Văn hoá - Lịch sử và môi trường

- Giai đoạn từ 1987 đến nay: Đánh dấu bằng việc ngày 19/8/1991, Luật Bảo vệ

và phát triển rừng ra đời, song song với đó là một số văn bản luật khác điều chỉnhcông tác bảo vệ rừng như Luật Môi trường năm 1993, Luật Đất đai năm 1993.Tiếp sau đó là một loạt các văn bản khác như: Công văn số 1586/LN-KL ngày13/7/1993 của Bộ trưởng Bộ Lâm nghiệp về quy định vùng đệm của Vườn quốc gia

và Khu bảo tồn thiên nhiên; Công văn số 1259/LN-KL ngày 18/5/1995 của Bộtrưởng Bộ Lâm nghiệp về việc tăng cường quản lý, bảo vệ các khu rừng đặc dụng;Nghị định số 77/CP ngày 29/6/1996 của chính Phủ quy định về xử phạt hành chínhtrong lĩnh vực quản lý rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản; Nghị định số163/1999/NĐ-CP ngày 16/11/1999 của Chính phủ về giao đất, cho thuê đất lâmnghiệp cho tổ chức, hộ gia đình và cá nhân sử dụng ổn định lâu dài vào mục đíchlâm nghiệp; Quyết định số 08/2001/QĐ-TTg ngày 11/01/2001 của Thủ tướng Chínhphủ về việc ban hành Quy chế quản lý rừng đặc dụng, rừng phòng hộ và rừng sảnxuất là rừng tự nhiên; Quyết định số 192/2003/QĐ-TTg ngày 17/9/2003 của Thủtướng Chính phủ về việc phê duyệt chiến lược quản lý hệ thống Khu bảo tồn thiênnhiên của Việt Nam đến năm 2010 và nhiều các văn bản khác đã giúp rừng đượcbảo vệ và dần khôi phục sau giai đoạn bị suy thoái mạnh ở giai đoạn 1975 – 1990

Trang 27

Trong quá trình áp dụng những văn bản pháp luật này dần bộc lộ những bất cập

và thiếu sót trong việc bảo vệ rừng nói chung và rừng đặc dụng nói riêng Do đó,hang loạt các văn bản pháp luật có liên quan đã ra đời như: Luật Bảo vệ phát triểnrừng năm 2004; Luật Đất đai năm 2003; Luật Môi trường năm 2005; Luật Đa dạngsinh học năm 2008 Sau đó là hàng loạt những văn bản dưới luật được ban hành để

cụ thể hóa các quy định trong luật về bảo vệ rừng đặc dụng và đa dạng sinh họcnhư: Nghị định số 23/2006/NĐ-CP ngày 03 tháng 3 năm 2006 về thi hành Luật bảo

vệ và phát triển rừng; Nghị định số 119/2006/NĐ-CP ngày 16 tháng10 năm 2006 về

tổ chức và hoạt động của Kiểm lâm; Nghị định số 117/2010/NĐ-CP ngày 24 tháng

12 năm 2010 của Chính phủ về tổ chức và quản lý hệ thống rừng đặc dụng; Thông

tư số 34/2009/TT-BNNPTNT ngày 10 tháng 6 năm 2009 quy định tiêu chí xác định

và phân loại rừng; Thông tư số 78/2011/TT-BNNPTNT ngày 11 tháng 11 năm 2011quy định chi tiết thi hành Nghị định số 117/2010/NĐ-CP ngày 24 tháng 12 năm

2012 về tổ chức và quản lý rừng đặc dụng; Quyết định số 11/2003/QĐ-TTg ngày 24tháng 01 năm 2013 về cấm xuất khẩu, nhập khẩu, mua bán mẫu vật một số loàiđộng vật hoang dã thuộc các phụ lục của công ước quốc tế các loài động vật, thựcvật hoang dã nguy cấp; Nghị định số 32/2006/NĐ-CP ngày 30 tháng 3 năm 2006 vềquản lý thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm; Quyết định số24/2012/QĐ-TTg ngày 01 tháng 6 năm 2012 của Thủ tướng Chính phủ về chínhsách đầu tư phát triển rừng đặc dụng giai đoạn 2011 - 2020; Nghị định số157/2013/NĐ-CP ngày 11 tháng 11 năm 2013 của Chính phủ quy định xử phạt viphạm hành chính về quản lý rừng, phát triển rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản;Nghị định số 40/2015/NĐ-CP ngày 27 tháng 4 năm 2015 của Chính phủ về sửa đổi

bổ sung một số điều Nghị định 157/2013/NĐ- CP ngày 11 tháng 11 năm 2013 củaChính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính về quản lý rừng, phát triển rừng,bảo vệ rừng và quản lý lâm sản; Nghị định số 41/2017/NĐ-CP ngày 05 tháng 4 năm

2017 của chính phủ về sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị định về sử phạt viphạm hành chính trong hoạt động thủy sản, lĩnh vực thú y, giống vật nuôi, thức ănchăn nuôi, quản lý rừng, phát triển rừng, bảo vệ và quan lý lâm sản; Nghị định số35/2019/NĐ-CP ngày 25 tháng 4 năm 2019 của Chính phủ quy định xử phạt viphạm hành chính trong lĩnh vực lâm nghiệp; Nghị định

Trang 28

156/2020/NĐ-CP ngày 16/11/2018 quy định chi tiết thi hành một số điều của LuậtLâm nghiệp; Nghị đinh 83/2020/NĐ-CP ngày 15 tháng 7 năm 2020 sửa đổi bổ sungmột số điều của Nghị định 156/2020/NĐ-CP ngày 16/11/2018 quy định chi tiết thihành một số điều của Luật Lâm nghiệp.

Hiến pháp năm 2013 ra đời, một bước thay đổi hệ thống pháp luật Việt Nam nóichung và Pháp luật bảo vệ rừng nói riêng, điều đó được thể hiện bằng hàng loạtnhững văn bản pháp luật mới được ban hành như: Luật Bảo vệ môi trường năm

2014, Luật Đất đai năm 2013, Bộ luật Dân sự năm 2015, Bộ luật Hình sự năm 2015,Luật lâm nghiệp 2017…

Trang 30

Chương 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT BẢO VỆ RỪNG ĐẶC DỤNG TỪ THỰC TIỄN

VƯỜN QUỐC GIA BÙ GIA MẬP, TỈNH BÌNH PHƯỚC

2.1 Các quy định của pháp luật bảo vệ rừng đặc dụng

2.1.1 Quy định pháp luật về quản lý rừng đặc dụng

Pháp luật về quản lý rừng đặc dụng là rất nhiều những biện pháp, luật pháp,chính sách kinh tế, kỹ thuật, xã hội thích hợp của nhà nước để bảo bảo vệ hiệu quảnhất cũng như phát triển bền vững nhất cho rừng đặc dụng Gồm một số những hoạtđộng sau:

Thứ nhất, lập quy hoạch rừng đặc dụng: Quy hoạch rừng đặc dụng bao gồm quy

hoạch hệ thống rừng đặc dụng cả nước; quy hoạch rừng đặc dụng trên địa bàn cấptỉnh; quy hoạch khu rừng đặc dụng

Quy hoạch hệ thống rừng đặc dụng cả nước do Tổng cục Lâm nghiệp lập saukhi được Bộ Nông nghiệp và phát triển Nông thôn tổ chức thẩm định và do Thủtướng Chính phủ quyết định phê duyệt Bộ Nông nghiệp và phát triển Nông thôncông bố quy hoạch trên trang thông tin điện tử của Bộ mình sau khi quy hoạch đượcphê duyệt Thủ tướng Chính phủ quyết định điều chỉnh quy hoạch hệ thống rừng cảnước theo đề nghị của Bộ Nông nghiệp và phát triển Nông thôn

Đối với việc quy hoạch rừng đặc dụng cấp tỉnh Ủy ban nhân dân cấp tỉnh tổchức thẩm và phê duyệt sau khi có văn bản đồng thuận của Bộ nông nghiệp và pháttriển nông thôn Ủy ban nhân dân cấp tỉnh công bố quy hoạch rừng đặc dụng cấptỉnh sau khi được phê duyệt trên trang thông tin điện tử của Ủy ban nhân dân cấptỉnh Khi các căn cứ nêu trên đã được điều chỉnh, quy hoạch rừng đặc dụng cấp tỉnh

sẽ được điều chỉnh, được Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh quyết định sau khi có

văn bản đồng thuận của Bộ Nông nghiệp và phát triển Nông thôn.

Đối với việc quy hoạch khu rừng đặc dụng, việc lập quy hoạch được căn cứ vàoquy hoạch hệ thống rừng đặc dụng cả nước và quy hoạch rừng đặc dụng cấp tỉnh.Việc quy hoạch khu rừng đặc dụng sẽ do Ban quản lý rừng đặc dụng đó lập sau đótrình cơ quan Nhà nước có thẩm quyền phê duyệt quy hoạch Về thẩm quyền phê

Trang 31

duyệt Bộ Nông nghiệp và phát triển Nông thôn quyết định phê duyệt quy hoạch khurừng đặc dụng do Trung ương quản lý Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyếtđịnh phê duyệt quy hoạch khu rừng đặc dụng do địa phương quản lý sau khi có vănbản đồng thuận của Bộ Nông nghiệp và phát triển Nông thôn Ngày 30/10/2014,Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1976/QĐ-TTg về việc phê duyệtQuy hoạch hệ thống rừng đặc dụng trong cả nước tiến đến ngày càng hoàn thiện hệthống rừng đặc dụng cả nước.

Thứ hai, tiến hành giao, cho thuê, thu hồi và chuyển mục đích sử dụng rừng

đặc dụng Việc giao rừng đặc dụng, cho thuê rừng đặc dụng, thu hồi rừng đặc dụng

và chuyển mục đích sử dụng rừng đặc dụng phải được thực hiện đúng thẩm quyền

và phải thực hiện đồng thời với việc giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, chuyển mụcđích sử dụng đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và phải phù hợp với thờihạn, hạn mức giao đất, cho thuê đất theo quy định của pháp luật về đất đai Trong

-hộ, tổ chức kinh tế, đơn vị vũ trang đối với khu bảo vệ cảnh quan bao gồm rừng bảo

vệ di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh; Rừng bảo vệ môi trường đô thị,khu công nghiệp, khu chế xuất, khu kinh tế, khu công nghệ cao xen kẽ trong diệntích rừng được giao; Cộng đồng dân cư đối với khu rừng tín ngưỡng mà họ đangquản lý sử dụng theo truyền thống; Tổ chức kinh tế, tổ chức khoa học và công nghệ,đào tạo, giáo dục nghề nghiệp về lâm nghiệp trong nước đối với rừng giống quốcgia xen kẽ trong diện tích rừng được giao

Trang 32

- Hoạt động cho thuê rừng:

Cho thuê rừng là việc chuyển quyền sử dụng rừng cho các đối tượng có nhu cầu

sử dụng rừng thông qua hợp đồng cho thuê rừng và phù hợp với cho thuê đất theoquy định của Luật Đất đai Đến thời điểm hiện tại, việc quy định cho tổ chức kinh tếthuê rừng đặc dụng dưới hình thức thuê trả tiền hàng năm hiện nay đã không cònphù hợp bởi vì, theo nguyên tắc, việc cho thuê rừng phải thực hiện đồng thời vớiviệc thuê đất, nhưng theo quy định của Luật Đất đai năm 2013, đất rừng đặc dụngchỉ được giao dưới hình thức giao đất không thu tiền sử dụng đất Chủ rừng sau khiđược nhận quyền sử dụng rừng đặc dụng từ nhà nước có thể tự tổ chức, hợp tác, liênkết hoặc cho tổ chức, cá nhân thuê môi trường rừng để kinh doanh du lịch sinh thái,nghỉ dưỡng, giải trí trong rừng đặc dụng đảm bảo không làm ảnh hưởng đến việcbảo tồn hệ sinh thái tự nhiên, đa dạng sinh học, cảnh quan môi trường

- Hoạt động thu hồi rừng:

Nhà nước thu hồi khi có yêu cầu về mục đích Quốc phòng, an ninh, lợi íchquốc gia Nhà nước sử dụng rừng, phát triển cho lợi ích của cộng đồng, phát triểnkinh tế theo quy hoạch, kế hoạch đã được phê duyệt; tổ chức được Nhà nước giaorừng bị giải thể, phá sản, chuyển đi nơi khác, giảm hoặc không còn nhu cầu sử dụngrừng; chủ rừng tự nguyện trả lại rừng; rừng được Nhà nước giao, cho thuê có thờihạn mà không được gia hạn khi hết hạn; sau mười hai tháng liền kể từ ngày đượcgiao, được thuê rừng đặc dụng để bảo vệ và phát triển rừng mà chủ rừng không tiếnhành các hoạt động bảo vệ và phát triển rừng; chủ rừng sử dụng rừng không đúngmục đích, cố ý không thực hiện nghĩa vụ đối với Nhà nước hoặc vi phạm nghiêmtrọng quy định của pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng; rừng được giao, cho thuêkhông đúng thẩm quyền hoặc không đúng đối tượng Khi Nhà nước thu hồi toàn bộhay một phần rừng đặc dụng thì chủ rừng được bồi thường thành quả lao động, kết quảđầu tư, tài sản bị thu hồi

- Hoạt động chuyển mục đích sử dụng rừng đặc dụng:

Đối với khu rừng đặc dụng do Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập thì doThủ tướng Chính phủ quyết định chuyển mục đích sử dụng; Đối với khu rừng đặcdụng khác do Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định chuyển mục đích sửdụng Theo thống kê đến cuối tháng 9 năm 2017 của Bộ nông nghiệp và phát triểnnông

Trang 33

thôn, diện tích rừng tự nhiên được chuyển mục đích sử dụng cho các dự án quốcphòng, an ninh chỉ chiếm khoảng 11.6% tổng số dự án có chuyển mục đích sử dụngrừng đã được phê duyệt, đang thực hiện và dự án có trong kế hoạch trung hạn đếnnăm 2020 số còn lại là nhóm dự án công trình công cộng, an sinh xã hội; dự án pháttriển nông lâm nghiệp; khai thác khoáng sản; đầu tư công nghiệp, du lịch, thươngmại, thủy điện Việc thu hẹp diện tích khu bảo tồn để nhường chỗ cho các dự ánphát triển kinh tế đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự nguyên vẹn của các địaphương khác nhau như Đà Nẵng, Phú Yên, Bình Định, Bình Phước, Đắc Nông, ĐăkLăk, Gia Lai, Kom Tum… Chính vì vậy, Luật Lâm nghiệp năm 2017 đã quy địnhkhông chuyển mục đích sử dụng rừng tự nhiên sang mục đích khác, trừ dự án quantrọng quốc gia; dự án phục vụ quốc phòng, an ninh quốc gia; dự án cấp thiết khácđược Chính phủ phê duyệt.

Trước khi, Luật Lâm nghiệp năm 2017 có hiệu lực thi hành thì có sự thiếu thốngnhất giữa Luật Bảo vệ và phát triển rừng năm 2004 với các quy định của Luật Đấtđai năm 2013 trong việc quy định chuyển mục đích sử dụng rừng đặc dụng Trong

đó có quy định như sau: Luật bảo vệ và phát triển rừng năm 2004 và Nghị định số117/2010/NĐ-CP không quy định cụ thể cụ thể về điều kiện cho phép chuyển mụcđích sử dụng đất rừng đặc dụng mà không thuộc trường hợp được Quốc hội quyếtđịnh, Thủ tướng Chính phủ chấp thuận chủ trương đầu tư, nhưng trong Luật đất đainăm 2013 lại quy định vấn đề này dẫn đến sự thiếu thống nhất giữa các văn bảnpháp luật này Nhằm khắc phục một số thiếu sót Luật Lâm nghiệp năm 2017 quyđịnh rõ thẩm quyền quyết định việc chuyển mục đích sử dụng rừng cụ thể như Quốchội có thẩm quyền quyết định chủ trương chuyển mục đích sử dụng Rừng đặc dụng

có diện tích từ 50 héc ta trở lên còn Thủ tướng chính phủ có thẩm quyền quyết địnhchủ trương chuyển mục đích sử dụng rừng đặc dụng có diện tích dưới 50 héc ta

Thứ ba, điều tra, theo dõi diễn biến rừng đặc dụng:

Hoạt động điều tra, theo dõi diễn biến rừng đặc dụng giúp đánh giá trữ lượng,chất lượng rừng đặc dụng, tình hình quản lý, bảo vệ rừng đặc dụng để từ đó giúpcác cơ quan nhà nước có thẩm quyền có thể nắm được những thông tin cần thiết vềtình

Trang 34

hình rừng đặc dụng tại các địa phương cụ thể, trên cơ sở đó xây dựng và thực hiệncác chính sách, biện pháp quản lý và bảo vệ rừng đặc dụng phù hợp

Thứ tư, hoạt động đóng, mở cửa rừng tự nhiên:

Đóng cửa rừng tự nhiên là hoạt động nhằm mục đích bảo vệ rừng tự nhiên, khôiphục rừng, nghiêm cấm khai thác rừng tự nhiên trong một thời gian nhất định hạnchế sự suy giam nghiêm trọng của rừng tự nhiên Rừng đặc dụng cùng là đối tượngđiều chỉnh của hoạt động này vì nó cũng là một loại rừng tự nhiên Đóng cửa rừng

tự nhiên đóng vai trò to lớn trong việc bảo vệ diện tích rừng tự nhiên đang trên đàsuy giảm rất mạnh ở nước ta hiện nay Năm 2016, theo kết luận sau buổi làm việccủa Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc tại Tây Nguyên năm 2016 Thủ tướng đã yêu cầudừng khai thác rừng triệt để tại khu vực Tây Nguyên Chỉ thị này không được quyđịnh cụ thể trong luật nên dẫn đến tình trạng thiếu cơ sở pháp lý để xác định thờigian đóng cửa rừng tự nhiên, lộ trình thực hiện việc đóng cửa rừng cũng như giảiquyết các việc hỗ trợ, đền bù cho các chủ thể bị ảnh hưởng do mất quyền khác thácrừng, Cơ quan nào có thẩm quyền đóng cửa rừng

Thứ năm, hệ thống các cơ quan quản lý Nhà nước về rừng đặc dụng:

Rừng đặc dụng được quản lý thông qua hệ thống các cơ quan nhà nước thốngnhất từ Trung ương đến địa phương, cụ thể Bộ nông nghiệp và phát triển nông thônquản lý nhà nước hệ thống rừng đặc dụng trong phạm vi cả nước và phân cấp choTổng cục Lâm nghiệp trực tiếp quản lý các khu rừng đặc dụng nằm trên địa bànnhiều tỉnh và các khu rừng nghiên cứu, thực nghiệm khoa học Ủy ban nhân dân cấptỉnh quản lý nhà nước các khu rừng đặc dụng trên địa bàn, trực tiếp quản lý cácVườn quốc gia và phân cấp cho Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn trực tiếpquản lý các khu rừng đặc dụng khác thuộc địa phương

Hiện nay trong cả nước có 06 khu rừng đặc dụng thuộc sự quản lý của Bộ Nôngnghiệp và phát triển nông thôn (trực tiếp là Tổng cục Lâm nghiệp) gồm các vườnquốc gia: Cúc Phương, Tam Đảo, Yok Đôn, Ba Vì, Bạch Mã, Cát Tiên và số còn lạithuộc sự quản lý của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh nơi có rừng đặc dụng là cơ quan cóthẩm quyền lập quy hoạch, chuyển loại, điều chỉnh

Trang 35

Ban quản lý rừng được thành lập tùy thuộc vào diện tích của khu rừng đặc dụngcần quản lý Cụ thể như rừng đặc dụng có diện tích trên 5.000 héc ta được thành lậpBan quản lý khu rừng đặc dụng Nếu trên địa bàn cấp tỉnh có nhiều khu rừng đặcdụng có diện tích dưới 5.000 héc ta nhưng chưa thành lập ban quản lý thì được lậpmột ban quản lý chung Nếu chỉ có một khu rừng đặc dụng có diện tích dưới 5.000héc ta mà trước đó đã thành lập Ban quản lý thì tiếp tục hoạt động, nếu chưa thì giaocho cơ quan kiểm lâm địa phương quản lý.

Hiện nay pháp luật bảo vệ rừng đặc dụng thiếu quy định về trách nhiệm liên đớigiữa Ban quản lý khu rừng đặc dụng (thuộc sự quản lý của Bộ nông nghiệp và pháttriển nông thôn) với trách nhiệm quản lý nhà nước của chính quyền địa phươngtrong quá trình bảo vệ và sử dụng rừng đặc dụng dẫn đến tình trạng chính quyền địaphương chưa thật sự chú trọng trong công tác bảo vệ rừng

Ngoài ra, trong quá trình hoạt động thiếu cơ chế giám sát của địa phương dẫnđến tình trạng lạm quyền Ban quản lý rừng đặc dụng trong hoạt động sử dụng rừngđặc dụng giai đoạn hiện nay Luật Lâm nghiệp năm 2017 trao quyền Ban quản lýrừng đặc dụng sẽ tự tổ chức, hợp tác, liên kết hoặc cho tổ chức, cá nhân thuê môitrường rừng để kinh doanh du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng, giải trí trong rừng đặcdụng thì việc bảo vệ rừng đặc dụng khó khăn lại càng khó khăn hơn

Việc quy định Hạt kiểm lâm rừng đặc dụng thuộc Ban quản lý rừng đặc dụnggây nhiều hạn chế trong hoạt động cả về tổ chức lẫn chuyên môn Tại mỗi địaphương lại có lực lượng kiểm lâm của địa phương

Đối với sự thiếu thống nhất của Luật bảo vệ và phát triển rừng năm 2004 vàLuật đa dạng sinh học năm 2008 về quy định rừng đặc dụng và khu bảo tồn thiênnhiên mặc dù mục đích chính thành lập của hai hình thức này là giống nhau, dùng

để bảo tồn đa dạng sinh học, nhưng do tên gọi, cách phân loại khác nhau gây khókhăn trong việc quản lý và áp dụng pháp luật

Theo cách phân loại tại Luật Bảo vệ và phát triển rừng năm 2004 thì rừng đặcdụng, Vườn quốc gia được xếp ngang bằng với khu bảo tồn loài – sinh cảnh, trongkhi đó, theo Luật Đa dạng sinh học năm 2008, khu bảo tồn bao gồm Vườn quốc gia.Hai hình thức này có cơ quan quản lý khác nhau trong đó Luật Bảo vệ và phát triển

Trang 36

rừng năm 2004 thuộc sự quản lý chung của Bộ nông nghiệp và phát triển nông thônnhưng các quy định về bảo tồn đa dạng sinh học do Bộ tài nguyên và môi trườngquản lý sẽ dẫn đến tình trạng khó khăn trong việc áp dụng các quy định pháp luậtliên quan vì thiếu sự phối hợp giữa các bộ quản lý chuyên ngành có liên quan.

Chính từ những bất cập trong pháp luật về hệ thống cơ quan quản lý dẫn đếnnhững bất cập trong quá trình áp dụng pháp luật về bảo vệ rừng đặc dụng Cụ thểnhư đối với các Vườn quốc gia trực thuộc Bộ nông nghiệp và phát triển nông thônquản lý, trong quá trình thực hiện các hoạt động bảo vệ hoặc sử dụng rừng đặc dụngthiếu sự phối hợp, kiểm tra giám sát chặt chẽ từ chính quyền địa phương

Việc tổ chức quản lý bảo tồn rừng đặc dụng hiện nay đều do cơ quan kiểm lâmđảm nhiệm bằng việc quản lý và giám sát Trong khi đó Sở tài nguyên và môitrường là cơ quan quản lý nhà nước về đa dạng sinh học nhưng không có tổ chức bộmáy tham mưu chuyên ngành, giao nhiệm vụ này cho Chi cục bảo vệ môi trườngtrong khi cán bộ không được đào tạo về chuyên môn quản lý bảo tồn đa dạng sinhhọc Đối với Phòng tài nguyên và môi trường cấp huyện, hầu hết là cán bộ địa chínhnên chưa phát huy được chức năng tham mưu về quản lý bảo tồn đa dạng sinh họctại địa phương

2.1.2 Quy định của pháp luật quản lý, bảo vệ rừng đặc dụng

Việc bảo vệ rừng đặc dụng có rất nhiều yếu tố tác động đến công tác này trong

đó có trách nhiệm quản lý về rừng đặc dụng; Công tác bảo vệ rừng đặc dụng; Khaithác lâm sản trong rừng đặc dụng; Hoạt động nghiên cứu khoa học, giảng dạy, thựctập trong rừng đặc dụng; Trình tự, thủ tục xây dựng, thẩm định, phê duyệt và tổchức thực hiện đề án du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng, giải trí trong rừng đặc dụng;Quản lý xây dựng công trình phục vụ du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng, giải trí trongrừng đặc dụng; Ổn định đời sống dân cư sống trong rừng đặc dụng và vùng đệm củarừng đặc dụng

Đối với hệ thống rừng đặc dụng trong phạm vi cả nước và trực tiếp tổ chứcquản lý các khu rừng đặc dụng trải rộng trên địa bàn từ 02 tỉnh, thành phố trựcthuộc trung ương trở lên thuộc trách nhiệm quản lý của Bộ Nông nghiệp và Pháttriển nông thôn

Trang 37

Còn Ủy ban nhân dân cấp tỉnh được giao quản lý nhà nước đối với hệ thống rừng

Thực hiện các quy định về phòng cháy và chữa cháy rừng: Lập phương ánphòng cháy và chữa cháy rừng; Cấp dự báo cháy rừng; Điều kiện an toàn về phòngcháy đối với khu rừng; Yêu cầu về phòng cháy đối với dự án phát triển rừng, Tổchức, quản lý lực lượng phòng cháy và chữa cháy rừng; Kiểm tra an toàn về phòngcháy và chữa cháy rừng; Trách nhiệm báo cháy, chữa cháy và tham gia chữa cháyrừng, chỉ huy chữa cháy rừng; Khắc phục hậu quả, xử lý sau cháy rừng; Tráchnhiệm về phòng cháy và chữa cháy rừng của chủ rừng; Trách nhiệm của người đứngđầu cơ quan, tổ chức có hoạt động ở trong rừng, ven rừng; Trách nhiệm của hộ giađình, cá nhân, cộng đồng dân cư sinh sống, hoạt động ở trong rừng, ven rừng; Tráchnhiệm của các cơ quan, đơn vị về phòng cháy và chữa cháy đối với dự án phát triểnrừng Cụ thể như sau:

Thực hiện các quy định về phòng, trừ sinh vật gây hại rừng: Việc phòng, trừsinh vật gây hại rừng; nuôi hoặc chăn, thả động vật vào rừng phải thực hiện theoquy định của Luật này, pháp luật về đa dạng sinh học, bảo vệ và kiểm dịch thực vật,thú y Chủ rừng phải thực hiện các biện pháp phòng, trừ sinh vật gây hại rừng; khiphát hiện có sinh vật gây hại rừng trên diện tích rừng được giao, được thuê thì phảibáo ngay cho cơ quan bảo vệ và kiểm dịch thực vật, cơ quan quản lý chuyên ngànhthú y gần nhất

Trang 38

để được hướng dẫn và hỗ trợ biện pháp phòng, trừ; tăng cường áp dụng biện pháplâm sinh, sinh học trong phòng, trừ sinh vật gây hại rừng Bộ Nông nghiệp và Pháttriển nông thôn có trách nhiệm tổ chức dự báo tình hình dịch bệnh; chỉ đạo biệnpháp phòng, trừ sinh vật gây hại rừng Ủy ban nhân dân các cấp tổ chức, chỉ đạoviệc phòng, trừ sinh vật gây hại rừng tại địa phương, không để sinh vật gây hại rừnglây lan sang địa phương khác.

2.1.3 Quy định pháp luật về bảo vệ động vật rừng, thực vật rừng:

Các quy định của pháp luật trong công tác bảo vệ thực vật rừng, động vật rừnghiện nay thể hiện như sau:

Về pháp luật quốc tế: Việt Nam là thành viên của công ước quốc tế về đa dạngsinh học, năm 1992; Nghị định thư Cartagena về An toàn sinh học, năm 2000; Nghịđịnh thư bổ sung công ước về các vùng đất ngập nước có tầm quan trọng, đặc biệt

như là nơi cư trú của loài chim nước, Pari năm 1982…

Về pháp luật Việt Nam, bao gồm hệ thống các văn bản luật và văn bản dưới luậtkhác nhau như: Luật Bảo vệ và phát triển rừng năm 2004; Luật Đa dạng sinh họcnăm 2008, Luật Bảo vệ môi trường năm 2014; Luật Lâm nghiệp năm 2017; Nghịđịnh số 32/2006/NĐ-CP ngày 30/2/2006 quy định về việc bảo vệ các giống loàiđộng, thực vật nguy cấp, quý, hiếm; Nghị định số 117/2010/NĐ-CP ngày 24 tháng

12 năm 2010 của Chính phủ về tổ chức quản lý hệ thống rừng đặc dụng; Nghị định157/2013/NĐ- CP ngày 11/11/2013 của chính phủ quy định về xử phạt vi phạmhành chính về quản lý rừng, phát triển rừng, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản; Nghịđịnh 160/2013/NĐ- CP ngày 12/11/2013 của Chính phủ về tiêu chí xác định loài vàchế độ quản lý loài thuộc Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ;Danh mục các loài thủy sinh quý hiếm có nguy cơ tuyệt chủng ở Việt Nam cần đượcbảo vệ, phục hồi và phát triển và Danh mục những đối tượng bị cấm khai thác theoquy định của Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn; Nghị định 35/2019/NĐ-CPngày 25/4/2019 của chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vựclâm nghiệp…

Theo Nghị định số 160/2013/NĐ-CP của Chính phủ ngày 12 tháng 11 năm

2013, nêu lên hiện nay nước ta có 83 loài động vật, 17 loài thực vật, 15 giống câytrồng và 6 giống vật nuôi nguy cấp, quý, hiếm Tuy nhiên, các quy định về quản

Trang 39

vầ lâm sản

Trang 40

của nước ta chủ yếu theo hướng nghiêm cấm khai thác, vận chuyển, kinh doanh vàtiêu thụ như quy định tại Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 Theo Luật bảo vệ àphát triển rừng năm 2004 quy định nghiêm cấm chặt phá rừng, khai thác rừng tráiphép; săn, bắn, bắt, bẫy, nuôi nhốt, giết mổ động vật rừng trái phép; thu thập mẫuvật trái phép trong rừng; huỷ hoại trái phép tài nguyên rừng, hệ sinh thái rừng; vậnchuyển, chế biến, quảng cáo, kinh doanh, sử dụng, tiêu thụ, tàng trữ, xuất khẩu,nhập khẩu thực vật rừng, động vật rừng trái với quy định của pháp luật; khai tháctrái phép tài nguyên sinh vật, tài nguyên khoáng sản và các tài nguyên thiên nhiênkhác; làm thay đổi cảnh quan thiên nhiên, diễn biến tự nhiên của rừng; làm ảnhhưởng xấu đến đời sống tự nhiên của các loài sinh vật rừng; mang trái phép hoá chất

độc hại, chất nổ, chất dễ cháy vào rừng… Loài thực vật rừng, động vật rừng nguy

cấp, quý, hiếm là loài thực vật rừng, động vật rừng có giá trị đặc biệt về kinh tế,khoa học, y tế, sinh thái, cảnh quan và môi trường, số lượng còn ít trong tự nhiênhoặc có nguy cơ bị tuyệt chủng và được phân thành hai nhóm: Nhóm một, nghiêmcấm khai thác, sử dụng vì mục đích thương mại, gồm những loài có giá trị đặc biệt

về khoa học, môi trường hoặc có giá trị cao về kinh tế, số lượng quần thể còn rất íttrong tự nhiên hoặc có nguy cơ tuyệt chủng cao và nhóm hai, là nhóm hạn chế khaithác, hạn chế sử dụng vì mục đích thương mại, gồm những loài có giá trị về khoahọc, môi trường, có giá trị cao về kinh tế, số luợng quần thể còn ít trong tự nhiênhoặc có nguy cơ tuyệt chủng Về nguyên tắc việc khai thác thực vật rừng, động vậtrừng nguy cấp quý hiếm bị nghiêm cấm, nhưng vẫn được phép trong các trường hợp

vì mục đích nghiên cứu khoa học, quan hệ hợp tác quốc tế và không được làm ảnhhưởng tiêu cực đến việc bảo tồn các loài đó trong tự nhiên, ngoài ra phải có phương

án khai thác được Bộ trưởng Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn phê duyệt.Các quy định của pháp luật về xử lý vi phạm trong việc bảo vệ lâm sản: Tổchức, cá nhân có hành vi vi phạm các quy định về quản lý thực vật rừng, động vậtrừng nguy cấp, quý, hiếm thì căn cứ tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý hànhchính theo Nghị định Nghị định 35/2019/NĐ-CP ngày 25/4/2019 của chính phủ quyđịnh xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực lâm nghiệp hay truy cứu tráchnhiệm hình sự theo quy định tại Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm2017

Ngày đăng: 30/06/2021, 07:50

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w