PHẦN I: GIỚI THIỆU VỀ CÔNG TY CỔ PHẦNKINH ĐÔ 1.1 Quá trình hình thành và phát triển: Kinh Đô là một công ty cổ phần chuyên sản xuất và kinh doanh đồ ăn nhẹ tại Việt Nam, với các mặt hàng
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP HÀ NỘI
KHOA QUẢN LÝ KINH DOANH
Báo cáo thực hành Học phần: Phân tích môi trường đầu tư
Giảng viên hướng dẫn: Nguyễn Thúy Quỳnh
Nhóm:
Nguyễn Ngọc Thắng Nguyễn Mạnh Tú Nguyễn Đắc Hiếu Nguyễn Nhất Hưng
Đỗ Xuân Hiếu Phùng Thị Đào Nguyễn Thùy Liên
Hà Nội, ngày 20 tháng 2 năm 2020
Trang 2PHẦN I: GIỚI THIỆU VỀ CÔNG TY CỔ PHẦN KINH ĐÔ 4
1.1 QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN: 4
1.1.1.THÀNH LẬP 4
1.1.2.QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN 4
1.2 BỘ MÁY TỔ CHỨC , CẤP QUẢN LÝ: 6
1.3 CÁC SẢN PHẨM 8
1.4 CÁC CÔNG TY CON VÀ CÔNG TY LIÊN KẾT 9
1.5 CÁC HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ 10
1.6 CÁC THÀNH TỰU 13
PHẦN II: TÌM HIỂU VỀ MÔI TRƯỜNG ĐẦU TƯ 14
I: TÌM HIỂU CHUNG VỀ MÔI TRƯỜNG ĐẦU TƯ 14
2.1 GIỚITHIỆU VỀ TP HCM 15
2.2 NHỮNG THÀNH TỰU KINH TẾ VÀ VAI TRÒ CỦA TP HCM 15
2.3 HOẠT ĐỘNG THƯƠNG MẠI 16
2.4 CÁC CHÍNH SÁCH ƯU ĐÃI ĐẦU TƯ 16
2.5 PHÂN TÍCH NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA THÀNH PHỐ 17
2.6 CHỈ SỐXẾP HẠNG KINH DOANH 18
2.7 PHÂN TÍCH CHỈ SỐ XẾP HẠNG RỦI RO QUỐC GIA – TRƯỜNG HỢP VIỆT NAM 19
2.7.1 Yếu tố rủi ro chính trị 19
2.7.1.1 Tham nhũng 19
2.7.1.2 Thủ tục hành chính 23
2.7.2 Yếu tố rủi ro kinh tế 25
2.7.2.1 Tăng trưởng kinh tế 25
2.7.2.2 Lạm phát 26
2.7.2.3 Chính sách lãi suất 28
2.7.2.4 Thu chi ngân sách Nhà nước và chính sách tài khóa 29
2.7.2.5 Cán cân tài khoản vãng lai 34
2.7.3 Rủi ro tài chính: 38
2.7.3.1 Chính sách tỷ giá hối đoái và dự trữ ngoại hối 38
2.7.3.2 Nợ nước ngoài 41
Trang 32.7.3.3 Hệ thống tài chính- ngân hàng 43
2.8 NĂNG LỰC CẠNH TRANH 44
II CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG CỦA MÔI TRƯỜNG ĐẦU TƯ CỦA TÁC ĐỘNG ĐẾN HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ CỦA KINH ĐÔ 47
3.1 MÔI TRƯỜNG TỰ NHIÊN 47
3.1.1 Vị trí địa lý, địa hình 47
3.1.2 Khí hậu thành phố Hồ Chí Minh 48
3.1.3 Tài nguyên thành phố Hồ Chí Minh 49
3.1.3.1 Tài nguyên đất 49
3.1.3.2 Tài nguyên rừng 49
3.1.3.3 Tài nguyên khoáng sản 50
3.1.3.4 Tài nguyên nước 50
3.2 MÔI TRƯỜNG CHÍNH TRỊ 51
3.2.1 Sự ổn định chính trị- 51
3.2.2 Hệ thống pháp luật 52
3.2.3 Hệ quả điều hành chính quyền 55
3.3 MÔI TRƯỜNG KINH TẾ 56
3.3.1 Tăng trưởng kinh tế: 56
3.3.2 Cơ sở hạ tầng: 57
3.3.3 Nguồn lao động: 58
3.3.4 Tiếp cận tài chính: 59
3.3.5 Chi phí: 60
3.3.6 Thị trường 61
3.4 MÔI TRƯỜNG VĂN HÓA XÃHỘI 62
3.4.1 Thái độ xã hội 62
3.4.1.1.Phong tục tập quán , lối sống : 62
3.4.1.2.Dân số, lao động: 62
3.4.2 Giá trị văn hóa 62
III CƠ HỘI, THÁCH THỨC, ĐIỂM MẠNH, ĐIỂM YẾU HIỆN CÓ CỦA KINH ĐÔ 62
4.1 ĐIỂM MẠNH: 63
4.2 ĐIỂM YẾU: 63
4.3 CƠ HỘI: 63
4.4 THÁCH THỨC: 64
Trang 4PHẦN I: GIỚI THIỆU VỀ CÔNG TY CỔ PHẦN
KINH ĐÔ
1.1 Quá trình hình thành và phát triển:
Kinh Đô là một công ty cổ phần chuyên sản xuất và kinh doanh đồ ăn nhẹ tại Việt
Nam, với các mặt hàng chính gồm bánh,kẹo và kem Hiện nay Kinh Đô là một trongnhững công ty tư nhân có lợi nhuận vào hàng cao nhất trong các công ty niêm yết trênthị trường chứng khoán tại Việt NamCác thành viên hội đồng quản trị công ty đượccác báo chí Việt Nam bình chọn là những cá nhân giàu nhất Việt Nam dựa trên tàisản chứng khoán
1.1.1.Thành lập
- Năm 1993: Công ty TNHH xây dựng và chế biến thực phẩm Kinh
Đô được thành lập gồm 1 phân xưởng sản xuất bánh snack nhỏ tại Phú Lâm, Quận
6, Thành phố Hồ Chí Minh với vốn đầu tư là 1,4 tỉ VNĐ và khoảng 70 công nhânviên
Trang 5- Năm 1997-1998, Công ty tiếp tục đầu tư dây chuyền thiết bị sản xuất bánhmì,bánh bông lan công nghiệp với tổng trị giá đầu tư trên 1,2 triệu USD.
- Cuối năm 1998, dây chuyền sản xuất kẹo Chocolate được đưa vào khai thác
sử dụng với tổng đầu tư khoảng 800.000 USD
- Sang năm 1999, Công ty tiếp tục tăng vốn điều lệ lên 40 tỉ VNĐ, cùng với sự
ra đời của Trung tâm thương mại Savico – Kinh Đô, tại quận 1 thành phố Hồ ChíMinh(Sài Gòn-Gia Định)
- Cùng thời gian đó là hệ thống Kinh Đô Bakery - kênh bán hàng trực tiếp củaCông ty Kinh Đô - ra đời
- Năm 2000, Công ty Kinh Đô tiếp tục tăng vốn đầu tư lên 51 tỉ VNĐ,
mở rộng nhà xưởng lên gần 60.000 m2,trong đó diện tích nhà xưởng là40.000m² Để đa dạng hóa sản phẩm,công ty đầu tư một dây chuyền sản xuấtBánh mặn Cracker từ châu Âu trị giá trên 2 triệu USD
- Bên cạnh đó, một nhà máy sản xuất bánh kẹo Kinh Đô cũng được xâydựng tại thị trấn Bần Yên Nhân tỉnh Hưng Yên trên diện tích 28.000m², tổng vốnđầu tư là 30 tỉ VNĐ
- Tháng 04/2001, Công ty đầu tư thêm một dây chuyền sản xuất Kẹocứng và một dây chuyền sản xuất Kẹo mềm hiện đại với tổng trị giá 2 triệu USD,công suất 40 tấn/ngày, nhằm đáp ứng nhu cầu của thị trường trong và ngoàinước
- Đến tháng 06/2001, tổng vốn đầu tư của Công ty Kinh Đô lên đến 30triệu USD Công ty đưa vào khai thác thêm một dây chuyền sản xuất bánh mặnCracker trị giá 3 triệu USD và công suất 1.5 tấn/giờ Nhà máy Kinh Đô tại HưngYên cũng được đưa vào hoạt động nhằm phục vụ cho thị trường Hà Nội và cáctỉnh phía Bắc
- Năm 2001 công ty đẩy mạnh việc xuất khẩu ra các thị trường Mỹ,Pháp, Canada, Đức, Đài Loan, Singapore, Campuchia, Lào, Nhật, Malaysia, TháiLan
- Năm 2002, sản phẩm và dây chuyền sản xuất của công ty được BVQIchứng nhận ISO 9002 và sau đó là ISO 9002:2000 Nâng vốn điều lệ lên 150 tỉVNĐ, công ty bắt đầu gia nhập thị trường bánh Trung Thu và đổi tên thành Công
ty cổ phần Kinh Đô
- Ngày 01/10/2002, Công ty Kinh Đô chính thức chuyển thể từ Công tyTNHH Xây dựng và Chế Biến Thực Phẩm Kinh Đô sang hình thức Công ty CổPhần Kinh Đô
Trang 6- Sản lượng tiêu thụ năm sau luôn tăng gấp đôi so với năm trước Kinh
Đô hiện có một mạng lưới 150 nhà phân phối và trên 30.000 điểm bán lẻ rộngkhắp cả nước.Tốc độ phát triển kênh phân phối hàng năm tăng từ 15% đến 20%
- Năm 2003, Kinh Đô chính thức mua lại công ty kem đá Wall's ViệtNam của tập đoàn Unilever từ Anh Quốc và thay thế bằng nhãn hiệu kem Kido's
- Năm 2014,bán toàn bộ mảng kinh doanh bánh kẹo trở thành công tycon chính thống của Mondelez International có trụ sở chính tại Hoa Kỳ
1.2 Bộ máy tổ chức , cấp quản lý:
Các cá nhân chủ chốt
- Chủ tịch hội đồng quản trị kiêm tổng giám đốc điều hành: Trần KimThành Ông này được báo chí Việt Nam bình chọn là người giàu thứ 10 Việt Nam dựatrên chứng khoán Gia tộc nhà ông cũng sở hữu một trong số những tài sản chứngkhoán nhiều nhất nước, được nhiều người ví giống như "Gia đình Walton" sở hữu tậpđoàn Wal-Mart của Mỹ
Ngày sinh 7/7/1960 (52 tuổi)
Nguyên quán Trung Quốc
Địa chỉ 650/13 Điện Biên Phủ, P.11, Q.10, Tp.HCM
Chức vụ
* Chủ tịch HĐQT CTCP Kinh Đô (KDC)
* Thành viên HĐQT CTCP Tập đoàn Thiên Long (TLG)
* Tổng giám đốc Cty TNHH Đầu tư Kinh Đô
* Chủ tịch HĐQT CTCP Địa ốc Kinh Đô (Kinhdo Land)
* Chủ tịch Cty Kinh Đô Miền Bắc, Kido
* Chủ tịch kiêm tổng giám đốc Cty TNHH Một thành viên PPK
Phó chủ tịch kiêm Tổng giám đốc: Trần Lệ Nguyên Ông là em trai của ông Trần KimThành, đứng thứ 24 trong bảng xếp hạng trên
Ngày sinh 12/10/1968 (44 tuổi)
Trang 7Nguyên quán Trung Quốc
Địa chỉ 203 Phú Gia, Phú Mỹ Hưng, P.Tân Phong, Q.7, Tp.HCM
Chức vụ
* Phó Chủ tịch HĐQT - Tổng giám đốc CTCP Kinh Đô
* Thành viên HĐQT CTCP Tập đoàn Thiên Long
* Thành viên HĐQT CTCP Địa ốc Kinh Đô
Phó tổng giám đốc: Vương Ngọc Xiềm, Vương Bửu Linh Hai bà này cũng là vợ
của ông Trần Kim Thành và ông Trần Lệ Nguyên và đứng vị trí 14 và 15 những
người phụ nữ giàu nhất Việt Nam dựa trên cổ phiếu
Trang 8 Bánh Trung thu Kinh Đô
Mì ăn liền KiDo
Trang 9Công ty Kinh Đô hiện là công ty sản xuất và chế biến bánh kẹo hàng đầu tại thị trườngViệt Nam với 7 năm liên tục được người tiêu dùng bình chọn là Hàng Việt Nam chấtlượng cao Hệ thống phân phối của Kinh Đô trải khắp 64 tỉnh và thành phố với 150nhà phân phối và trên 40.000 điểm bán lẻ.Sản phẩm của Kinh Đô đã được xuất khẩu
sang thị trường trên thế giới như Mỹ, châu Âu, Úc, Trung Đông, Singapore, ĐàiLoan, với kim ngạch xuất khẩu phấn đấu đạt 10 triệu USD vào năm 2003
1.4 Các công ty con và công ty liên kết
Trải qua quá trình 10 năm xây dựng và phát triển, đến nay công ty Kinh Đô có 4công ty thành viên với tổng số lao động hơn 6000 người:
• Công ty cổ phần Kinh Đô tại TP HCM
• Công ty cổ phần Kinh Đô Bình Dương
• Công ty cổ phần chế biến thực phẩm Kinh Đô miền Bắc
- Các sản phẩm bánh kẹo được Kinh Đô nghiên cứu, tìm tòi, cố gắngnâng cao chất lượng sản phẩm cũ, sáng tạo và phát triển các sản phẩm mới, đápứng nhu cầu, thị hiếu đa dạng của người tiêu dùng
Nhà xưởng sản xuất:
- Năm 1993 và 1994 công ty tăng vốn điều lệ lên 14 tỉ VNĐ,nhập dâychuyền sản xuất bánh Snack với công nghệ của Nhật bản trị giá trên 750.000USD
- Năm 1996, Công ty tiến hành đầu tư xây dựng nhà xưởng mới tại số6/134 Quốc lộ 13, phường Hiệp Bình Phước, Quận Thủ Đức, Tp Hồ Chí Minh
Trang 10với diện tích 14.000m² Đồng thời công ty cũng đầu tư dây chuyền sản xuất bánhCookies với công nghệ và thiết bị hiện đại của Đan Mạch trị giá 5 triệu USD.
- Năm 1997-1998, Công ty tiếp tục đầu tư dây chuyền thiết bị sản xuấtbánh mì,bánh bông lan công nghiệp với tổng trị giá đầu tư trên 1,2 triệu USD
- Cuối năm 1998, dây chuyền sản xuất kẹo Chocolate được đưa vào khai thác
sử dụng với tổng đầu tư khoảng 800.000 USD
- Năm 2000, Công ty Kinh Đô tiếp tục tăng vốn đầu tư lên 51 tỉ VNĐ, mở rộngnhà xưởng lên gần 60.000 m2,trong đó diện tích nhà xưởng là 40.000m² Để đa dạnghóa sản phẩm,công ty đầu tư một dây chuyền sản xuất Bánh mặn Cracker từ châu Âutrị giá trên 2 triệu USD
- Bên cạnh đó, một nhà máy sản xuất bánh kẹo Kinh Đô cũng được xây dựngtại thị trấn Bần Yên Nhân tỉnh Hưng Yên trên diện tích 28.000m², tổng vốn đầu tư là
30 tỉ VNĐ
- Tháng 04/2001, Công ty đầu tư thêm một dây chuyền sản xuất Kẹo cứng vàmột dây chuyền sản xuất Kẹo mềm hiện đại với tổng trị giá 2 triệu USD, công suất 40tấn/ngày, nhằm đáp ứng nhu cầu của thị trường trong và ngoài nước
- Đến tháng 06/2001, tổng vốn đầu tư của Công ty Kinh Đô lên đến 30 triệuUSD Công ty đưa vào khai thác thêm một dây chuyền sản xuất bánh mặn Cracker trịgiá 3 triệu USD và công suất 1.5 tấn/giờ Nhà máy Kinh Đô tại Hưng Yên cũng đượcđưa vào hoạt động nhằm phục vụ cho thị trường Hà Nội và các tỉnh phía Bắc
- Năm 2002, sản phẩm và dây chuyền sản xuất của công ty được BVQI chứngnhận ISO 9002 và sau đó là ISO 9002:2000 Nâng vốn điều lệ lên 150 tỉ VNĐ, công tybắt đầu gia nhập thị trường bánh Trung Thu và đổi tên thành Công ty cổ phần KinhĐô
- Năm 2014,bán toàn bộ mảng kinh doanh bánh kẹo trở thành công ty con chínhthống của Mondelez International có trụ sở chính tại Hoa Kỳ
Thị trường tiêu thụ: Thị trường tiêu thụ chính của kinh đô thị trường Việt Namchiếm khoảng 90 % doanh số Ngoài ra còn xuất khẩu qua các nước như Mỹ,Campuchia, Nhật, Đài Loan
Khách hàng là một áp lực cạnh tranh có thể ảnh hưởng trực tiếp tới toàn bộ hoạtđộng sản xuất kinh doanh của ngành và từng doanh nghiệp Khách hàng được phânlàm 02 nhóm: Người tiêu dùng cuối cùng và các nhà phân phối (bán buôn, bán lẻ)
- Với tập khách hàng tiêu dùng cuối cùng, công ty chia thành 3 khu vực thịtrường chính: + Khu vực thị trường thành thị nơi có thu nhập cao tiêu dùng các loạisản phẩm đa dạng với các yêu cầu về chất lượng cao, mẫu mã, kiểu dáng đẹp
Trang 11+ Khu vực thị trường nông thôn nơi có nhu cầu thu nhập vừa và thấp, đòi hỏicủa khách hàng là chất lượng tốt, kiểu dáng không cần đẹp, giá cả phải chăng
+ Khu vực thị trường miền núi nơi có thu nhập rất thấp, yêu cầu về chất lượngvừa phải, mẫu mã không cần đẹp, nặng về khối lượng, giá phải thấp
- Với tập khách hàng là các công ty trung gian, các đại lý bán buôn bán lẻ là tậpkhách hàng quan trọng của công ty, tiêu thụ phần lớn số lượng sản phẩm củacông ty KDC sở hữu hệ thống phân phối rộng lớn chỉ sau Masan và Vinamilk,đang được tận dụng triệt để cho chiến lược phát triển dài hạn của KDC KDC có
hệ thống phân phối lớn nhất ngành bánh kẹo và là một trong những hệ thốngphân phối lớn nhất trong ngành thực phẩm với 300 nhà phân phối và 200.000điểm bán lẻ Ngoài ra, hệ thống phân phối này còn bao gồm các kênh siêu thị nhưCo-op Mart, Big C, Metro… cùng với chuỗi cửa hàng Kinh Đô Bakery Mạnglưới phân phối là một trong những yếu tố quan trọng nhất trong ngành thựcphẩm Nhờ mạng lưới sâu rộng, khách hàng có thể tiếp cận với các sản phẩm củaKDC một cách tiện lợi nhất, đây cũng là rào cản lớn cho các đối thủ khác khi gianhập ngành Do tính chất mùa vụ, một số sản phẩm bánh kẹo không thể bán suốtnăm nên KDC đã và đang có chiến lược tối đa hóa hệ thống phân phối của mìnhnhư hợp tác với đối tác chiến lược Glico và phát triển sản phẩm mới Với thếmạnh về kênh phân phối trải rộng và đa dạng, Công ty khẳng định khả năng vượttrội trong việc phân phối sản phẩm một cách nhanh chóng, theo cả chiều rộng lẫnchiều sâu Kinh Đô (KDC) là doanh nghiệp bánh kẹo hàng đầu Việt Nam Doanhthu năm 2012 đạt 4,293 tỷ đồng, gấp 1.4 lần tổng doanh thu của 4 doanh nghiệpbánh kẹo
lớn tiếp theo (Hữu Nghị, Bibica, Hải hà, Bicafun) Bên cạnh đó, với chính sáchchiết khấu, chi trả hoa hồng cao nên đối với Kinh Đô sức ép của các nhà phânphối là không đáng kể
Tuy nhiên đối với khách hàng tiêu dùng cuối cùng, Kinh Đô đang chịusức ép về giá cả (sự mặc cả của khách hàng): Cuộc sống ngày càng phát triển,người dân càng có thêm nhiều sự lựa chọn trong việc mua sắm hàng hóa, thựcphẩm Bên cạnh đó, mức thu nhập là có hạn, người tiêu dùng luôn muốn muađược nhiều sản phẩm với chi phí bỏ ra là ít nhất nên giá cả của hàng hóa luôn làmối quan tâm lớn của người tiêu dùng Người tiêu dùng có tâm lý luôn muốnmua hàng giá rẻ Các sản phẩm của kinh đô chủ yếu là bánh, kẹo, sữa, kem… lànhững sản phẩm có mức giá tương đối thấp nên việc khách hàng chuyển sangmua sản phẩm từ một thương hiệu khác là rất dễ dàng bởi vì chi phí chuyển đổithấp, không bị ràng buộc nên khách hàng luôn tạo ra sức ép cho công ty Đòi hỏicông ty phải không ngừng phất triển sản phẩm để làm hài lòng khách hàng
H ệ thống cửa hàng , kênh phân phối:
Trang 12- Hệ thống phân phối của Kinh Đô được coi là hoàn hảo nhất trong sốcác đối thủ cùng ngành hoạt động tại thị trường Việt Nam.
- Hệ thống phân phối bán lẻ và nguồn nhân lực hiện nay cả tập đoàn có 8máy và 11 công ty thành viên chuyền sản xuất kẹo, kem, nước giải khát, xâydựng địa ốc với tổng vốn điều lệ hơn 2.300 tỷ đồng số lao động sử dụng hơn
- TOP 10 Thương hiệu nổi tiếng tại Việt Nam, xếp hạng nhất trong ngành thựcphẩm Chương trình này do VCCI & Neilsen Việt Nam phối hợp tổ chức dựa trênnghiên cứu người tiêu dùng bình chọn cho 500 thương hiệu TOP 500 doanh nghiệplớn nhất Việt Nam và Top 100 doanh nghiệp tư nhân lớn nhất Việt Nam (theo doanh
Trang 13thu) năm 2009 do báo VietNamNet & Công ty VietNam Report bình chọn Cúp vàng
“Thương hiệu vàng an toàn vệ sinh thực phẩm”.Giải thưởng “Doanh nghiệp ứng dụng
hệ thống quản lý chất lượng toàn diện (TQM) xuất sắc.Danh hiệu: “Hàng Việt Namchất lượng cao” 14 năm liền do người tiêu dùng bình chọn Danh hiệu “Sản phẩm Tin
& Dùng 2009” và danh hiệu “Sản phẩm Việt Nam tốt nhất” năm 2009 do người tiêudùng bình chọn Bộ GD & ĐT tặng bằng khen: “Đơn vị đã có những đóng góp xuấtsắc cho sự nghiệp giáo dục”.Giải thưởng “Thương hiệu uy tín – sản phẩm và dịch vụchất lượng vàng” do người tiêu dùng bình chọn, Bộ Công Thương chủ trì tổ chức.Giảithưởng “Thương hiệu mạnh Việt Nam năm 2009” do Thời Báo Kinh Tế Việt Namphối hợp Cục Xúc Tiến Thương Mại (Bộ Công Thương) tổ chức và bình chọn
PHẦN II: TÌM HIỂU VỀ MÔI TRƯỜNG ĐẦU TƯ
I: Tìm hiểu chung về môi trường đầu tư.
Trang 142.1 Giới thiệu về Tp HCM
+ Là thành phố lớn nhất Việt Nam về kinh tế, đồng thời cũng là một trong những trungtâm kinh tế, chính trị, văn hóa và giáo dục quan trọng nhất của Việt Nam Hiện nay,Thành phố Hồ Chí Minh là thành phố trực thuộc trung ương được xếp loại đô thị đặcbiệt của Việt Nam(cùng với thủ đô Hà Nội)
2.2 Những thành tựu kinh tế và vai trò của Tp HCM
+ Năm 2018, Thành phố Hồ Chí Minh là đơn vị hành chính Việt Nam xếp thứnhất về Tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP), xếp thứ nhất về GRDP bình quân đầungười, đứng thứ 24 về tốc độ tăng trưởng GRDP[4] GRDP đạt 1.331.440
tỉ Đồng (tương ứng với 52,92 tỉ USD), GRDP bình quân đầu người đạt 154,84 triệuđồng (tương ứng với 6.725 USD), tốc độ tăng trưởng GRDP đạt 8,30%.[5]
+ Thành phố Hồ Chí Minh giữ vai trò đi đầu trong nền kinh tế Việt Nam Thànhphố chiếm 0,6% diện tích và 8,34% dân số của Việt Nam nhưng chiếm tới 20,5% tổngsản phẩm GDP, 27,9% giá trị sản xuất công nghiệp và 37,9% dự án nước ngoài.[85] Vàonăm 2005, Thành phố Hồ Chí Minh có 2.966.400 lao động có độ tuổi từ 15 trở lên,trong đó 139 nghìn người ngoài độ tuổi lao động nhưng vẫn đang tham gia làm việc[86].Năm 2008, lực lượng lao động có độ tuổi từ 15 trở lên trên địa bàn thành phố gồm có3.856.500 người, năm 2009 là 3.868.500 người, năm 2010 đạt 3.909.100 người, đến
2011 con số này đạt 4.000.900 người.[87] Tính chung trong 9 tháng đầunăm 2012, GDP đạt 404.720 tỷ đồng, tăng khoảng 8,7% Năm 2012, GDP đạt khoảng9,2%, trong đó khu vực dịch vụ đạt khoảng 10,8%, công nghiệp và xây dựng đạtkhoảng 9,2%, nông lâm và thủy sản đạt 5% GDP bình quân đầu người đạt 3.700 USD.Thu ngân sách năm 2012 ước đạt 215.975 tỷ đồng, nếu không tính ghi thu chi là207.000 tỷ đồng, đạt 92,42% dự toán, bằng 105,40% so với cùng kỳ Trong đó, thu nộiđịa đạt 109.500 tỷ đồng, bằng 88,81% dự toán, thu từ hoạt động xuất nhập khẩu đạt70.000 tỷ đồng, bằng 88,72% dự toán[88]…
+ Giữ vai trò quan trọng bậc nhất trong nền kinh tế Việt Nam, Thành phố HồChí Minh chiếm 21,3% tổng sản phẩm (GDP) và 29,38% tổng thu ngân sách của cảnước.[8][9] Nhờ điều kiện tự nhiên thuận lợi, Thành phố Hồ Chí Minh trở thành một đầumối giao thông quan trọng của Việt Nam và Đông Nam Á, bao gồm cả đường
bộ, đường sắt, đường thủy và đường không Vào năm 2007, thành phố đón khoảng 3triệu khách du lịch quốc tế, tức 70% lượng khách vào Việt Nam Các lĩnh vực giáodục, truyền thông, thể thao, giải trí, Thành phố Hồ Chí Minh đều giữ vai trò quantrọng bậc nhất
+Nền kinh tế của Thành phố Hồ Chí Minh đa dạng về lĩnh vực, từ khai thác
mỏ, thủy sản, nông nghiệp, công nghiệp chế biến, xây dựng đến du lịch, tài chính Cơcấu kinh tế của thành phố, khu vực nhà nước chiếm 33,3%, ngoài quốc doanh chiếm
Trang 1544,6%, phần còn lại là khu vực có vốn đầu tư nước ngoài Về các ngành kinh tế, dịch
vụ chiếm tỷ trọng cao nhất: 51,1% Phần còn lại, công nghiệp và xây dựng chiếm47,7%, nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản chỉ chiếm 1,2%
+Tính đến giữa năm 2006, 3 khu chế xuất và 12 khu công nghiệp Thành phố
Hồ Chí Minh đã thu hút được 1.092 dự án đầu tư, trong đó có 452 dự án có vốn đầu tưnước ngoài với tổng vốn đầu tư hơn 1,9 tỉ USD và 19,5 nghìn tỉ VND.[91] Thành phốcũng đứng đầu Việt Nam tổng lượng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài với 2.530 dự
án FDI, tổng vốn 16,6 tỷ USD vào cuối năm 2007.[92] Riêng trong năm 2007, thànhphố thu hút hơn 400 dự án với gần 3 tỷ USD
+Trong bảng xếp hạng về Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh của ViệtNam năm 2017, thành phố Hồ Chí Minh xếp ở vị trí thứ 8/63 tỉnh thành
2.3 Hoạt động thương mại
+Thành phố Hồ Chí Minh có một hệ thống trung tâm mua sắm, siêu thị, chợ đadạng Chợ Bến Thành là biểu tượng về giao lưu thương mại từ xa xưa của thành phố,hiện nay vẫn giữ một vai trò quan trọng Những thập niên gần đây, nhiều trung tâmthương mại hiện đại xuất hiện như Saigon Trade Centre, Diamond Plaza Mức tiêuthụ của Thành phố Hồ Chí Minh cũng cao hơn nhiều so với các tỉnh khác của ViệtNam và gấp 1,5 lần thủ đô Hà Nội
+Sở Giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh, có mã giao dịch là Index, được thành lập vào tháng 7 năm 1998 Tính đến ngày 31 tháng 12 năm 2007,toàn thị trường đã có 507 loại chứng khoán được niêm yết, trong đó có 138 cổ phiếuvới tổng giá trị vốn hóa đạt 365 nghìn tỷ đồng
VN-2.4 Các chính sách ưu đãi đầu tư
+ Giải quyết thủ tục hành chính cho doanh nghiệp theo nguyên tắc khi cần yêucầu sửa đổi, bổ sung hồ sơ thì thông báo một lần bằng văn bản cho doanh nghiệp, nhàđầu tư về toàn bộ các nội dung cần phải sửa đổi, bổ sung đối với mỗi bộ hồ sơ Thôngbáo phải nêu rõ yêu cầu sửa đổi, bổ sung và lý do của việc yêu cầu sửa đổi, bổ sung
+ Tổ chức các hoạt động thu hút đầu tư, đặc biệt đối với ngành công nghiệp hỗtrợ; phổ biến các chính sách thu hút đầu tư của Thành phố; hỗ trợ tháo gỡ khó khăncho các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đang kinh doanh và đầu tư tại ViệtNam, nâng cao chất lượng hoạt động để tăng hiệu quả đầu tư nước ngoài và giúp pháttriển các ngành quan trọng của thành phố
Trang 16+ Hoàn chỉnh các thủ tục hành chính theo hướng rút ngắn quy trình, thời giangiải quyết các thủ tục cho người dân và doanh nghiệp Tiếp tục thực hiện mô hình giảiquyết thủ tục hành chính theo “cơ chế một cửa, một cửa liên thông” tại các cơ quanhành chính các cấp, các đơn vị sự nghiệp công lập, doanh nghiệp nhà nước thuộc Ủyban nhân dân Thành phố theo Quyết định số 09/2015/QĐ-UBND ngày 23 tháng 5 năm
2015 của Thủ tướng Chính phủ để tạo thuận lợi cho doanh nghiệp
+ Cải cách hành chính trong lĩnh vực thuế, tạo điều kiện thuận lợi cho ngườinộp thuế thực hiện nghĩa vụ kê khai, nộp thuế Khai thuế điện tử và nộp thuế điện tửcho cá nhân kinh doanh Ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác hoàn thuế, tiếntới hoàn thuế điện tử nhằm rút ngắn thời gian hoàn thuế; công khai dữ liệu hoàn thuế
+ Bố trí vốn theo khả năng cân đối ngân sách, tập trung, khắc phục tình trạngdàn trải, không để nợ đọng, nợ phát sinh mới trong xây dựng cơ bản Tập trung vốncho các dự án thuộc 7 Chương trình đột phá thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộthành phố lần thứ X; phát triển hạ tầng trọng điểm, tạo sức lan tỏa và kết nối phát triển.Thực hiện khoán chi hành chính, sử dụng xe công; triển khai các loại hình dịch vụ chothuê tài sản đối với các trang thiết bị, tài sản cố định phục vụ công tác chuyên môn,đặc biệt là các thiết bị công nghệ thông tin, đi đôi với việc tạo cơ sở pháp lý để khuvực tư nhân tham gia cung cấp các dịch vụ này cho các cơ quan nhà nước
+ Hoàn thiện cơ chế, chính sách để thu hút mạnh và sử dụng có hiệu quả cácnguồn vốn đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng Nghiên cứu, bổ sung chính sách khuyếnkhích mạnh mẽ các thành phần kinh tế tham gia đầu tư, đặc biệt chú ý khai thác nguồnvốn từ mặt bằng, nhà xưởng, quyền sử dụng đất để có thêm nguồn lực xây dựng kếtcấu hạ tầng đô thị Đẩy mạnh kêu gọi và tập trung thực hiện các dự án đầu tư theophương thức hợp tác công - tư (PPP)
+ Nâng cao chất lượng và hiệu quả của đầu tư, đặc biệt là chú trọng nâng caohiệu quả quản lý và sử dụng các nguồn vốn đầu tư nhà nước nhằm tránh thất thoát,lãng phí, đồng thời tạo điều kiện thu hút các nguồn vốn của các thành phần kinh tếtrong nước và ngoài nước để bảo đảm huy động cao nhất các nguồn lực cho đầu tưphát triển, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế
2.5 Phân tích năng lực cạnh tranh của thành phố
- Tuy là đầu tầu của kinh tế Việt Nam nhưng chỉ số năng lực cạnh tranh(PCI)của thành phố lại chỉ đứng thứ 10
- Theo công bố của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt nam (VCCI) vềBáo cáo năng lực cạnh tranh cấp tỉnh năm 2018, TPHCM xếp hạng 10/63, có điểm số
Trang 17tăng 0,15 điểm so với năm 2017 từ 65,19 thành 65,34 Tuy nhiên, thứ hạng lại giảm 2bậc từ thứ 8 xuống thứ 10/63 so với năm 2017.
- Trong 10 chỉ số thành phần của Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) củaThành phố năm 2018 có thay đổi so với năm 2017, có 6 chỉ số giảm điểm Cụ thể, Chỉ
số Gia nhập thị trường giảm 0,13 điểm; Chỉ số Tiếp cận đất đai giảm 0,68 điểm; Chỉ
số Chi phí thời gian giảm 0,06 điểm; Chỉ số Dịch vụ hỗ trợ Doanh nghiệp giảm 0,18điểm; Chỉ số Đào tạo lao động giảm 0,29 điểm; Chỉ số Thiết chế pháp lý và An ninhtrật tự giảm 0,03 điểm
- Quý 1 năm 2019, tăng trưởng kinh tế của TP HCM duy trì ở mức ổn định; cótín hiệu tốt khi tốc độ tăng trưởng kinh tế đạt 7,64% (bằng với quý 1 năm 2018), thungân sách trên 98.000 tỷ cao hơn năm ngoái; thu hút đầu tư đạt 214 ngàn tỷ đồng,trong đó đầu tư vào lĩnh vực bất động sản chiếm 30% Đầu tư nước ngoài chiếm tỷtrọng khá, trong đó có một doanh nghiệp đầu tư hơn 200 triệu USD vào TPHCM Dựbáo kinh tế xã hội vào năm 2020 và các chương trình đột phá sẽ đạt chỉ tiêu đề ra.Song song với đó là một số chỉ tiêu kinh tế xã hội có thể không hoàn thành như thunhập bình quân đầu người, chỉ số năng lực cạnh tranh…., vì vậy thành phố hướng tớimục tiêu tăng hạng 7 hoặc 5 trong những năm tới
2.6 Chỉ số xếp hạng kinh doanh
- Thành phố sẽ tập trung cải thiện các chỉ số môi trường kinh doanh để năm
2018 tăng thêm từ 8 - 18 bậc trên bảng xếp hạng của Ngân hàng Thế giới; trong đó cảithiện mạnh mẽ các chỉ số hiện đang bị xếp hạng thấp Cụ thể là chỉ số “khởi sự kinh
Trang 18doanh” tăng thêm ít nhất 40 bậc; chỉ số “giải quyết tranh chấp hợp đồng” tăng thêm 10bậc; “giải quyết phá sản doanh nghiệp” tăng thêm 10 bậc.
- TP.HCM cũng sẽ hoàn thành việc bãi bỏ, đơn giản hóa 50% điều kiện đầu tư,kinh doanh; kiến nghị bãi bỏ một số ngành nghề kinh doanh có điều kiện; giảm ít nhất50% danh mục hàng hóa, sản phẩm phải kiểm tra chuyên ngành; chuyển đổi mạnh mẽcách thức quản lý nhà nước từ chủ yếu tiền kiểm sang chủ yếu hậu kiểm
- Xóa bỏ căn bản tình trạng một mặt hàng chịu quản lý, kiểm tra chuyên ngànhcủa nhiều hơn một cơ quan; giảm tỷ lệ các lô hàng nhập khẩu phải kiểm tra chuyênngành tại giai đoạn thông quan từ 25 - 27% hiện nay xuống còn dưới 10%
2.7 Phân tích chỉ số xếp hạng rủi ro quốc gia – Trường hợp Việt Nam
2.7.1 Yếu tố rủi ro chính trị
- Được đánh giá là quốc gia có tình hình chính trị an ninh ổn địnhtrên thế giới và trong khu vực, Việt Nam có lợi thế bước đầu trong thu hút vốnnước ngoài Tuy nhiên, các vấn đề nổi cộm gây ảnh hưởng lớn đến rủi ro chính trịcủa Việt Nam có thể được xem xét như sau:
Trang 19vụ, thúc đẩy những khoản đầu tư không hiệu quả cho những dự án không thể tồn tạihay biện minh được về mặt kinh tế, góp phần hạ thấp các chuẩn mực (ví dụ nhưtrong xây dựng và giao thông vận tải), thậm chí làm tăng tình trạng nợ nần và bầncùng một đất nước.
- Đưa hối lộ, nhiều người tin rằng là một trong những nguồn chính của rủi rochính trị ở các nước đang phát triển Việt Nam là nước đang tăng trưởng kinh tế trongnhững năm gần năm với mức tăng trưởng khoảng 7- 8% Tuy nhiên, kinh tế của ViệtNam tăng trưởng tràn lan và tham nhũng cao Theo Chỉ số báo cáo tham nhũng hàng
năm (CPI) của Tổ chức Minh bạch Quốc tế , số điểm của Việt Nam là 2.7, xếp hạng
120 trong tổng số 180 quốc gia được khảo sát Nó có thể được nhìn thấy rõ ràng từ đồthị dưới đây, Việt Nam là một trong những nước tham nhũng nhiều hơn so với cácnước khác trong cùng khu vực
Trang 20- Trong những năm gần đây, Việt Nam thường được 2,6 - 2,7 điểm trong thangđiểm 10 về chỉ số cảm nhận tham nhũng (dưới 3 điểm được coi là tham nhũng nghiêmtrọng) Năm 2011, tuy có những tiến bộ nhất định: được 2,9 điểm, xếp thứ 112/182nước và vùng lãnh thổ, nhưng Việt Nam vẫn thuộc những nước có điểm số thấp và vẫnđứng ở cuối bảng xếp hạng
- Đánh giá của tổ chức này cũng chỉ ra rằng: ở châu Á, tình hình tham nhũngcủa Việt Nam nghiêm trọng hơn so với Singapore, Nhật Bản, Hàn Quốc, Brunei,
Malaysia, Trung Quốc, Thái Lan, Indonesia nhưng ít nghiêm trọng hơn Mông Cổ,Philippines, Lào, Nepal, Campuchia, Myanmar
- Một số nhà đầu tư Đông Á vẫn nghĩ rằng độc tài thì mối “ quan hệ “ viên chứcnhà nước là bí quyết thành công Có nghĩa là nếu mua chuộc được một đảng viên cán
bộ cao cấp thì dự án đầu tư sẽ tiến hành tốt đẹp, từ việc xin giấy phép hay liên doanhvới doanh nghiệp nhà nước hoặc lập nhà máy, tuyển nhân công Các nhà đầu tư quốc
tế thấy rằng rủi ro chính trị đó gây ra quá nhiều phí tổn bất lường Họ gọi chung tệ nạn
ấy là “ môi trường thiếu minh bạch và sân chơi không bình đẳng”
-
Trong lĩnh vực quản lý, sử dụng đất đai, tài nguyên, khoáng sản : thamnhũng chủ yếu diễn ra trong việc quy hoạch; chuyển đổi mục đích sử dụng đất; thu hồiđất nông nghiệp để xây dựng các khu kinh tế, khu công nghiệp, khu đô thị; giao đất,cho thuê đất; định giá đất khi thu hồi, đền bù; cấp phép khai thác tài nguyên, khoángsản… Một số người đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn để giao đất không đúng thẩmquyền; lập hồ sơ khống hoặc khai tăng diện tích đất khi đền bù Điển hình là vụ lợi
Trang 21dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ xảy ra tại dự án phát triển cơ sở
hạ tầng đô thị Bắc Thăng Long - Vân Trì (Hà Nội) thiệt hại ước tính khoảng 14 tỉđồng; vụ lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ xảy ra tại huyện BếnCát, tỉnh Bình Dương, gây thiệt hại gần 11 tỉ đồng; vụ tham nhũng về đất đai tại ĐồSơn và tại Quán Nam, thành phố Hải Phòng
-
của một bộ phận cán bộ trong ngành ngân hàng, nhất là các ngân hàng thương mạihoặc cán bộ trong ngành ngân hàng tiếp tay, móc nối với người bên ngoài thông quacác hoạt động cho vay, bảo lãnh, cho thuê tài chính, đầu tư tài chính, ủy thác cho vay,
ủy thác đầu tư… để chiếm đoạt tài sản, gây thất thoát lớn Ví dụ như vụ Lê HoàiPhương, cán bộ Ngân hàng Đầu tư và phát triển Việt Nam, chi nhánh Cầu Giấy (HàNội) tham ô 24 tỉ đồng; vụ Phan Văn Tưởng, cán bộ Ngân hàng Techcombank cùngcác đồng phạm tham ô trên 10 tỉ đồng; vụ Đoàn Tiến Dũng, Phó Tổng giám đốc Ngânhàng Đầu tư và phát triển Việt Nam nhận của khách hàng 5 tỉ đồng, là khoản trích 3-10% trong số tiền mà khách hàng được vay của ngân hàng này; vụ Nguyễn Thị ThùyVân tham ô hơn 24 tỉ đồng ở Ngân hàng cổ phần Thương mại Sài Gòn;
đều xảy ra thất thoát tài sản, chủ yếu do tham ô và cố ý làm trái Sai phạm xảy ra ở hầuhết các khâu, từ việc lập dự án, thiết kế, dự toán, phê duyệt kế hoạch cấp vốn đến đấuthầu, tư vấn, giám sát, thi công, nghiệm thu, quyết toán công trình Thủ đoạn chủ yếu
là không chấp hành đúng trình tự, thủ tục đầu tư xây dựng cơ bản; gian lận, thiếu minhbạch trong đấu thầu; khai khống khối lượng và giá trị vật tư, thiết bị; đưa vật liệu kémchất lượng, sai quy cách vào sử dụng; thi công sai quy trình để giảm chi phí Điểnhình như vụ tham ô, cố ý làm trái và lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hànhcông vụ xảy ra tại Ban quản lý dự án di tích lịch sử chiến thắng Điện Biên Phủ; vụHuỳnh Ngọc Sĩ - Giám đốc Ban quản lý dự án đại lộ Đông Tây( TP HCM) nhận hối lộ
260 nghìn USD để xét thầu, nghiệm thu có lợi cho người đưa hối lộ; vụ tham ô xảy ratại dự án xây dựng cầu Bãi Cháy, tỉnh Quảng Ninh
-
Trong việc quản lý, sử dụng vốn, tài sản nhà nước tại các doanh nghiệp,
thủ đoạn tham nhũng chủ yếu là giấu bớt và định giá trị tài sản, đất đai thấp hơn giá trịthực khi cổ phần hóa hoặc bán, khoán, cho thuê doanh nghiệp; lập các hợp đồng muabán, vận chuyển hoặc hóa đơn khống để chiếm đoạt; nâng khống giá hoặc gửi giá khimua bán tài sản công để trục lợi Ví như vụ Nguyễn Bi- Chủ tịch Hội đồng quản trị,kiêm Tổng giám đốc và Nguyễn Thanh Huyền- Phó Tổng giám đốc, kế toán trưởngcủa Công ty Vifon - TP HCM, đã lập chứng từ khống chiếm đoạt hơn 20 tỉ đồng vàkhông thu về cho công ty 59,9 tỉ đồng nhằm chiếm đoạt khi cổ phần hóa công ty này;
vụ Trần Văn Khánh, Tổng Công ty Vật tư nông nghiệp tham ô, cố ý làm trái, gây thiệthại nhiều tỉ đồng; vụ Công ty xăng dầu Hàng không khai khống tỷ lệ dầu hao hụt nhằmchiếm đoạt hàng chục tỉ đồng; vụ Công ty cho thuê tài chính II thuộc Ngân hàng Nông
Trang 22nghiệp và phát triển nông thôn nâng khống giá thiết bị lặn từ 100 triệu lên 130 tỉđồng
-
Trong công tác cán bộ, dư luận về tình trạng “chạy chức, chạy quyền,
trường hợp nào Dư luận nói nhiều đến hiện tượng một số cán bộ tiến thân bằng conđường chạy chọt, nịnh bợ cấp trên (tìm hiểu sở thích, nhu cầu cá nhân của cấp trên vàgia đình họ để tìm cách đáp ứng; sẵn sàng biếu cấp trên những món quà có giá trị lớnnhư nhà ở, đất ở, cổ phần trong các dự án, công ty)
-
Trong lĩnh vực tư pháp, hành vi tham nhũng chủ yếu là cán bộ tư pháp
trong hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án Ví như vụ Vũ Văn Lương, thẩmphán quận Hoàn Kiếm (Hà Nội) nhận hối lộ 70 triệu đồng trong vụ tranh chấp 2,7 m2công trình phụ; Hà Công Tuấn, thẩm phán TAND tỉnh Quảng Ninh bị bắt quả tangnhận hối lộ 200 triệu đồng nhằm xử nhẹ tội cho bị cáo
- Tham nhũng ở Việt Nam mang tính phổ biến; xảy ra ở hầu hết các ngành, cáccấp, thậm chí xảy ra ngay trong các cơ quan có chức năng chống tham nhũng, nên việcđấu tranh, ngăn chặn và xử lý rất khó khăn Trong khi đó, người tham nhũng lại làngười có chức vụ, quyền hạn, nên thường là những người có nhận thức sâu rộng, amhiểu pháp luật, được tiếp cận nhiều thông tin, có điều kiện kinh tế, có quan hệ rộng;một số người có công lao đóng góp lớn cho xã hội, có uy tín với quần chúng nên khóphát hiện và xử lý
2.7.1.2 Thủ tục hành chính
- Rủi ro về thay đổi chính sách vì những quyết định chính trị của Đảng và Nhànước Đầu tư là một tiến trình dài hạn được chuẩn bị cho nhiều năm sau này nên thayđổi về chiến lược và chính sách có thể gây ra nhiều vấn đề bất ngờ, nay đúng mai là sai
- Từ lâu Chính phủ đã nhận thức rõ yêu cầu cải cách hành chính, ban hànhchương trình tổng thể cải cách hành chính từ 2001 – 2010 nhưng cho đến nay vẫn chưađạt được hiệu quả rõ ràng Thủ tục hành chính vẫn phức tạp, phiền hà và tệ quan liêu,sách nhiễu, tham nhũng chậm khắc phục đang có nguy cơ làm xấu đi môi trường đầu
tư ở Việt Nam Việc chậm trễ rườm rà trong thủ tục đầu tư thể hiện rõ ở giai đoạnthẩm định cấp giấy phép đầu tư và giai đoạn quản lý sau khi dự án được cấp giấy phép
- Mới đây, Ngân hàng Thế giới (WB) đã công bố Báo cáo Đánh giá xếp hạngmôi trường kinh doanh 2012 (Doing business 2012 - Doing Business in a moretransparent World) Theo kết quả đánh giá tại Báo cáo này, vị trí xếp hạng môi trườngkinh doanh của Việt Nam đã bị tụt 8 bậc, từ vị trí 90 xuống vị trí 98 trên tổng số 183
Trang 23quốc gia (nền kinh tế) được xếp hạng bởi Ngân hàng Thế giới Hầu hết các chỉ số(6/10) xếp hạng đều bị tụt so với năm 2011, chỉ có 3 chỉ số tăng hạng và một chỉ sốkhông thay đổi thứ hạng:
Bảng: Kết quả xếp hạng môi trường kinh doanh của Việt Nam năm 2012
2011
Xếp hạng năm 2012
Thay đổi
Nguồn: Worldbank, Business Enviroment Snapshot
- Đánh giá cụ thể với từng chỉ tiêu ta thấy, môi trường kinh doanh Việt Nam bịtụt hạng vì đi chậm hơn các nước khác Ví dụ như việc thành lập doanh nghiệp, trongkhi số thủ tục (9) và thời gian (44 ngày), không thay đổi so với năm trước Do vậy,ngay cả khi chi phí thành lập doanh nghiệp (tính bằng % thu nhập đầu người) giảm đi
so với năm trước, chỉ số xếp hạng vẫn bị đánh giá tụt 3 bậc
Trang 242.7.2 Yếu tố rủi ro kinh tế
2.7.2.1 Tăng trưởng kinh tế
Nguồn: Asian Development Outlook database 2011
Nhìn chung, GDP của Việt Nam tăng trưởng nhanh trong hai năm 2006-2007,đứng thứ 2 về tốc độ tăng trưởng chỉ sau Trung Quốc Tuy nhiên, đến năm
2008 và năm 2009 thì tốc độ tăng trưởng GDP giảm xuống do cuộc khủng hoảngkinh tế tài chính toàn cầu ảnh hưởng đến Việt Nam Việc thắt chặt chính sách tiền tệnăm 2008 để kiềm chế lạm phát, và do đó tốc độ tăng trưởng kinh tế cũng chịu tácđộng
Năm 2009 Ngân hàng Nhà nước (NHNN) thực hiện điều hành linh hoạt, thậntrọng chính sách tiền tệ, lãi suất và tỷ giá để đảm bảo góp phần thực hiện hài hoàcác mục tiêu (i) Ngăn ngừa suy giảm kinh tế, ổn định kinh tế vĩ mô và tăng trưởngkinh tế hợp lý; (ii) Kiềm chế lạm phát; (iii) Ổn định tỷ giá Nền kinh tế có khởi sắchơn so với năm 2008, GDP tăng 1,5% Năm 2011 – 2012, GDP dự đoán sẽ tăng nhẹ
và đạt 6,5% khi lạm phát giảm xuống đôi chút và môi trường kinh tế vĩ mô trongnước ổn định, thu hút vốn đầu tư nước ngoài Tuy nhiên, theo báo cáo mới nhất củaADB (Asian Development Outlook 2012 update) thì triển vọng tăng trưởng GDP củaViệt Nam đã bị hạ xuống mức là 5,1% và mức tăng trưởng GDP dự đoán năm 2013 là5,7% Như vậy, GDP tăng trưởng giảm và không ổn định cũng sẽ ảnh hưởng đến mứcxếp hạng của Việt Nam về môi trường đầu tư
Trong đóng góp cơ cấu tăng trưởng GDP thì ngành công nghiệp và dịch vụ cóđóng góp đáng kể Năm 2011, đối mặt với lạm phát 2 con số, giá trị đồng tiền giảm,Chính phủ thực hiện chính sách tài chính và tiền tệ thắt chặt để kiềm chế lạm phát,
ổn định môi trường đầu tư Tốc độ tăng trưởng GDP 2 quý đầu năm 2011 giảm chỉ
Trang 25còn 5,4% và 5,7% Sự cắt giảm đầu tư công và sự hạn chế tín dụng trong lĩnh vựcbất động sản làm Xây dựng suy giảm mạnh 6 tháng đầu năm 2011 Ngành côngnghiệp, không bao gồm khai thác mỏ, gia tăng sản lượng 7,0% Sản lượng nôngnghiệp tăng 2,1% trong 6 tháng đầu năm.
Như vậy, nhìn vào cơ cấu tăng trưởng kinh tế được phân tích ở trên, chúng ta thấyrằng nền kinh tế Việt Nam đang được phát triển theo hướng công nghiệp hóa –hiện đại hóa đã được đề ra trong mục tiêu phát triển Tuy nhiên cũng cần quantâm đến việc hơn 50% lực lượng lao động lại dang làm việc trong lĩnh vực nôngnghiệp
2.7.2.2 Lạm phát
Lạm phát năm 2006 ở mức thấp và tăng nhẹ vào năm 2007 là 8,3% Tuy nhiên,năm 2008, lạm phát đạt mức kỷ lục là 23% Từ năm 2008, nền kinh tế Việt Nam cùngmột lúc chịu sự tác động từ các bất ổn trong nước và quốc tế Cụ thể, bắt đầu từ nửađầu năm 2008 lạm phát trong nước tăng đột biến, cộng với tình hình thiếu hụt thanhkhoản trong hệ thống ngân hàng khiến cho Chính phủ phải đặt nhiệm vụ chống lạmphát và ổn định kinh tế vĩ mô lên hàng đầu Năm 2009, NHNN thực hiện chính sáchthắt chặt tiền tệ với mục đích là kiềm chế lạm phát, do đó lạm phát năm 2009 giảm, chỉcòn 6,9%
Đến năm 2010, khi tình hình lạm phát có xu hướng giảm đi thì nhằm đạt được mứctăng trưởng cao như mục tiêu đề ra là 6,5%, Chính phủ đã tiến hành nới lỏng CSTK vàCSTT; chi NSNN đạt 30,66% GDP; M2 tăng 33,3% (theo công bố của ADB) và tăng25,3% (theo công bố của NHNN), cao hơn mức chỉ tiêu đặt ra là 20%; tương tự, dư nợ
Trang 26tín dụng tăng 29,81%, cao hơn mức chỉ tiêu đặt ra là 25% Hệ quả của việc theo đuổităng trưởng cao thông qua sử dụng hai chính sách mở rộng là lạm phát tăng cao trở lạivào cuối năm 2010 cho tới năm 2011.
Mặc dù đang được đánh giá là một trong những quốc gia có tốc độ tăngtrưởng cao và ổn định trong khu vực Châu Á, song nhìn nhận một cách khách quanthì Việt Nam vẫn phải đối phó với một số mặt yếu kém căn bản và những tồn tại lớn:
Chi phí sản xuất hàng hóa và dịch vụ vẫn ở mức cao, làm giảm khả năng cạnhtranh của nền kinh tế Nguyên nhân là do trình độ thiết bị, công nghệ kỹ thuật thấp,
tỷ trọng nhập khẩu nguyên vật liệu còn khá cao, năng lực quản lý vốn và tài sảnquốc gia chưa kiểm soát chặt chẽ đã gây nên thất thóat lam tăng chi phí sản xuất
Đầu tư kém hiệu quả do cơ cấu chưa phù hợp và chuyển dịch chậm, do yếukém trong quản lý đầu tư và xây dựng, có phân cấp quản lý vốn đầu tư chưa đi đôivới kiểm tra, kiểm soát, chế tài v.v
Việt Nam còn yếu ở khâu chỉ đạo thực hiện với những cơ chế, chínhsách chậm đi vào cuộc sống và không đồng bộ, đội ngũ cán bộ chưa đáp ứng đượcđòi hỏi của tình hình hiện nay
Nhìn chung, tăng trưởng kinh tế Việt Nam đã và đang có tốc độ rất cao,được đánh giá là có những bước tiến ngoạn mục Tuy nhiên, lạm phát cao luôn làmột mối đe dọa tính ổn định và bền vững của phát triển kinh tế, nó cũng là mộtthách thức cho các cơ quan điều hành kinh tế vĩ mô trong việc hoạch định cáchchính sách kinh tế sao cho vừa thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tiếp tục đẩy nhanhquá trình tự do hóa tài chính mà vẫn đảm bảo ổn định và tăng cường phúc lợi xã hội
Trang 272.7.2.3 Chính sách lãi suất
Qua nhiều lần thay đổi cơ chế điều hành lãi suất, Việt Nam đã từng bước gỡ
bỏ dần các ràng buộc trong cơ chế điều hành lãi suất, hiện nay đã tiến tới tự do hóalãi suất hoàn toàn Điều này càng khẳng định chính sách tự do hóa và hộinhập tài chính quốc tế của Việt Nam Từ tháng 6/2001, thực hiện cơ chế lãi suấtcho vay thoả thuận đối với ngoại tệ vào tháng 6/2002 đối với VND Trên cơ sở đócác NHTM xác định lãi suất cho vay dựa vào cung cầu vốn trên thị trường và
độ tín nhiệm của khách hàng, lãi suất cơ bản do NHNN công bố chỉ có tính chấttham chiếu cho các NHTM Điều này giúp cho các thành phần khác nhau của nềnkinh tế tuỳ thuộc vào chi phí cho vay và rủi ro sẽ được tiếp xúc với các nguồn tíndụng với các giá khác nhau phù hợp
Trong năm 2007, với sự leo thang của giá cả đã gây ra áp lực lên lạm phát.Thông thường, khi lạm phát gia tăng thì lãi suất danh nghĩa hay lãi suất NH huyđộng tiền gửi phải tăng theo mới bù trừ cho sự mất giá này
Năm 2008, tỷ lệ tăng trưởng tính dụng cao hơn 30%, quý I/2008 tăng trưởng tíndụng đạt 63,2% Mức tăng trưởng tín dụng này là quá nóng đối với nền kinh tế ViệtNam NHNN đã thực hiện chính sách thắt chặt tiền tệ trong năm 2009 để kiềm chế lạmphát, hạ thấp tỷ lệ tăng trưởng tín dụng Chính sách này liên quan đến cung tiền và lãisuất Tín dụng tăng trưởng chậm lại trong giữa tháng 8 năm 2011 là 23,6%, cố gắngđạt mức tăng trưởng 20% trong năm (giảm từ 32,4% năm 2010)
Hầu hết các NHTM đều đáp ứng thời hạn chót ngày 30/06/2011 về quy định dư
nợ trong lĩnh vực phí sản xuất (chẳng hạn như bất động sản và thị trường chứngkhoán) là 22% tổng mức cho vay Các ngân hàng bây giờ phải tiếp tục giảm tỷ lệ nàyxuống còn 16% cuối năm 2011 Cung tiềm M2 tăng trưởng chậm lại và cố gắng đạtmức 15% kế hoạch trong năm 2011 (M2 tăng 33,3% năm 2010)
NHNN tăng tỷ lệ tái cấp vốn từ 9% đến 14%, và lãi suất tái chiết khấu từ 7% đến13% từ tháng 2 đến tháng 5/2011, và giữ ổn định đến cuối tháng 8/2011 Lãi suất repo(chi phí lãi vay của NHTM từ NHNN ngắn hạn trên thị trường mở) từ 15% xuống còn14% trong tháng 7/2011, điều này chỉ phục vụ cho cải thiện tính thanh khoản liên ngânhàng chứ không phải nới lỏng chính sách tiền tệ
Trang 28Năm 2012, lạm phát giảm mạnh so với dự kiến, từ 17,3% vào tháng 1/2012xuống còn 6,5% trong tháng 9/2012 Nguyên nhân là do sự sụt giảm giá lương thựcgiữa tháng 3 và tháng 8 2012 và tác động của chính sách thắt chặt tiền tệ năm 2011.Thời tiết tốt hơn trong nông nghiệp cũng giúp giảm lạm phát, vì đã làm tương đối ổnđịnh giá lương thực toàn cầu và tỷ giá hối đối đồng Việt Nam ổn định Giá lương thựcthấp một phần đã bù đắp cho sự tăng giá quản lý điện, nhiên liệu và tăng lệ phí giáodục, y tế
Lãi suất giảm hơn lạm phát, đảm bảo mức lãi suất thực tế trên tiền đồng làdương NHNN đặt mục tiêu là mở rộng tín dụng từ 15%-17% và cung tiền M2 gia tăng
từ 14-16% Tuy nhiên, năm 2012, tín dụng tăng cuối tháng 9/2012 ước tính chỉ 1,9%.Lãi suất cho vay trung bình là 13%-15% trong tháng 8/2012, vẫn còn cao trên thực tếđối với người vay Lãi suất thực của tiền gửi bằng đồng Việt Nam so với lạm phát là6% Tuy nhiên, hiệu quả của chính sách tiền tệ thì còn hạn chế vì sự áp đặt lãi suất củaNHNN và sự yếu kém về “sức khỏe” của NHTM làm cho họ thận trọng hơn trong chovay
Tóm lại, chúng ta thấy rõ sự thiếu nhạy bén của NHNN trong quản lý chínhsách lãi suất, còn nhiều hạn chế và áp đặt, chưa thực sự mang lại hiệu quả cho nềnkinh tế
2.7.2.4 Thu chi ngân sách Nhà nước và chính sách tài khóa
Thu, chi và bội chi ngân sách Nhà nước 2001-2011 (%/GDP)
Trang 29Nguồn: Bộ Tài chính, Ủy ban giám sát tài chính quốc gia
Thâm hụt ngân sách hàng năm được định nghĩa là sự chênh lệch giữatổng thu và tổng chi trong năm đó của Chính phủ Trong khi đó, nợ công đượctính toán dựa trên giá trị cộng dồn của các khoản thâm hụt ngân sách qua cácnăm
Nguồn thu từ NSNN không ổn định, hiện nay vẫn dựa chủ yếu vàonguồn thu từ dầu thô vì phải phụ thuộc vào giá cả thị trường quốc tế Tuy nhiên,hiện nay nguồn thu này đang giảm dần và có sự chuyển dịch nguồn thu từNSNN Theo quyết toán NSNN của Bộ Tài chính, trung bình trong giai đoạn2007-2011, tổng thu ngân sách nhà nước của Việt Nam khá ổn định và vàokhoảng 29,0% GDP Nếu chỉ tính thu từ thuế và phí thì con số này là 26,3%GDP Loại trừ tiếp thu từ dầu thô thì số thu còn khoảng 21,6% GDP Đáng chú
ý là thu từ dầu thô đang có tỉ trọng ngày càng giảm dần trong tổng thu ngânsách nhà nước, từ khoảng 6,9% GDP trong năm 2007 xuống còn chưa đầy 3,1%GDP trong năm 2011 Điều này chứng tỏ tỉ trọng các khoản thu khác đang ngàycàng gia tăng Mức thu từ thuế và phí, không kể thu từ dầu thô, của Việt Namhiện nay là rất cao so với các nước khác trong khu vực Cụ thể, trung bình trong
5 năm gần đây, tỉ lệ thu từ thuế và phí/GDP của Trung Quốc là 17,3%, Thái Lan
và Malaysia là xấp xỉ 15,5%, Philippines là 13,0%, Indonesia là 12,1% và của
Ấn Độ chỉ là 7,8%
Hình: Các nguồn thu của Việt Nam (%GDP)
Trang 30Hình: Thu từ thuế và phí ở một số nước Châu Á
Với tổng mức thu thuế/GDP cao nhưng hệ thống cơ sở hạ tầng công cộng vàdịch vụ xã hội của Việt Nam lại kém xa so với thế giới Hệ thống hạ tầng giao thôngchật hẹp và xuống cấp, các bệnh viện luôn trong tình trạng quá tải, chất lượng giáo dụcxuống cấp, v.v… là những mối lo lớn đối với sự phát triển trong dài hạn của nền kinh
tế Chi tiêu công cao đã gây sức ép khiến tổng thu ở mức rất cao và không giảm trongnhững năm vừa qua Con đường giảm thâm hụt ngân sách thông qua tăng thuế suất và
cơ sở đánh thuế là rất hạn chế Việc tăng thu chỉ có thể được thực hiện nhờ các biệnpháp nâng cao tỉ lệ tuân thủ, chống thất thu và buôn lậu
Tóm lại, Sự phụ thuộc lớn vào nguồn thuế này khi lộ trình cắt giảm thuế đượcthực hiện theo cam kết với WTO sẽ khiến cho mức độ thâm hụt ngân sách của ViệtNam có thể trở nên trầm trọng hơn trong những năm tới
Về chi ngân sách, chi ngân sách kéo dài qua các năm và tỷ lệ chi ngân sách/ GDP càng ngày càng cao So với các nước trong khu vực, số liệu so sánh quốc tế của
ADB cho thấy Hồng Kông, Đài Loan, Indonesia, Singapore và Ấn Độ là những nước
có quy mô chi tiêu chính phủ nhỏ nhất, chỉ chiếm khoảng xấp xỉ 15-18% GDP Trongkhi đó, quy mô chi tiêu ngân sách, gồm chi đầu tư và chi thường xuyên, của Việt Namđang nằm ở phía trên rất xa ngưỡng tối ưu này, chiếm tới hơn 30% GDP trong nhữngnăm gần đây
Bảng: Quy mô chi tiêu chính phủ ở một số nước Châu Á
Trang 31Đángchú ý là trong tổng chi tiêu ngân sách thì chi thường xuyên chiếm tỉ trọng rất lớncòn chi đầu tư phát triển lại chiếm tỉ trọng nhỏ hơn rất nhiều Trong khi chi đầu
tư phát triển có xu hướng giảm nhẹ về tỉ trọng trong tổng chi ngân sách, từ 36,8%năm 2003 xuống còn 28,3% trong năm 2010 và khoảng 24,6% trong năm 2011nhờ những nỗ lực cắt giảm chi tiêu công nhằm bình ổn nền kinh tế, thì chithường xuyên lại có xu hướng tăng ngược lại, từ mức 63,2% trong năm 2003 lên
71,7% trong năm 2010 và 75,4% trong năm 2011 Điều này phần nào cho thấy
sự cồng kềnh và chi tiêu tốn kém của bộ máy công quyền.
Đầu tư công lớn, dàn trải và kém hiệu quả Được coi là động lực
chính để tăng trưởng kinh tế nhưng hiệu quả của đầu tư lại thấp và thậm chí có
xu hướng giảm Theo Báo cáo Cạnh tranh Việt Nam của Viện Cạnh tranh Châu
Á, hệ số ICOR, đo lường số đơn vị vốn cần tăng thêm để tạo thêm ra một đơn vịsản lượng, của Việt Nam trong giai đoạn 2000-2008 và 2006-2008 lần lượt là 4,8
và 5,4 Con số này cao hơn rất nhiều so với con số tương ứng của các nước côngnghiệp mới (NICs)