1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Bao cao giong lai TRS Năng suất thực thu và đặc điểm quả hạt của giống lai tổng hợp khảo nghiệm tại Đăk Lăk và Gia Lai

24 15 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 24
Dung lượng 235 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Công tác chọn giống, cải tiến giống cà phê vối trên thế giới theo hướng sinhsản hữu tính đã được nhiều nước quan tâm, ngay từ ban đầu các nhà chọn tạo giống đã coi cải thiện giống sinh s

Trang 1

MỤC LỤC

1 Đặt vấn đề 1

2 Một số kết quả chọn giống trong và ngoài nước 2

3 Nội dung, vật liệu và phương pháp nghiên cứu 7

3.1 Nội dung nghiên cứu 7

3.2 Vật liệu nghiên cứu 7

3.3 Phương pháp nghiên cứu 8

3.3.1 Các chỉ tiêu theo dõi 9

3.3.2 Phương pháp phân tích và xử lý số liệu 10

4 Kết quả đạt được 10

4.1 Kết quả so sánh chính quy các đời con lai tại Đăk Lăk 10

4.2 Kết quả khảo nghiệm giống lai tổng hợp tại Đăk Lăk và Gia Lai 14

4.3 Kết quả điều tra từ các mô hình trong sản xuất được trồng bằng giống lai tổng hợp cà phê vối tại Đăk Lăk và Gia Lai 16

5 Kết luận và đề nghị 20

5.1 Kết luận 20

5.2 Đề Nghị 20

TÀI LIỆU THAM KHẢO 21

I Tài liệu bằng tiếng việt 21

II Tài liệu bằng tiếng nước ngoài 21

DANH SÁCH BẢNG Bảng 1: Năng suất nhân của các dòng mẹ và đời con (trung bình 4 vụ) 10

Bảng 2: Năng suất nhân của giống tổng hợp và giống đại trà (trung bình 4 vụ) 11

Bảng 3: Khối lượng và kích thước hạt của các dòng mẹ và đời con 11

Bảng 4: Khối lượng và kích thước hạt của giống tổng hợp và giống đại trà 12

Bảng 5: Mức độ nhiễm bệnh gỉ sắt ở các đời con tại Đăk Lăk 14

Bảng 6: Năng suất thực thu và đặc điểm quả hạt của giống lai tổng hợp khảo nghiệm tại Đăk Lăk và Gia Lai (2 vụ thu hoạch đầu) 15

Bảng 7: Năng suất giống lai tổng hợp và giống đối chứng tại Đăk Lăk và Gia Lai (điều tra sau 3 vụ thu hoạch đầu) 16

DANH SÁCH BIỂU ĐỒ Biểu đồ 1: Biến thiên năng suất nhân của các đời con trồng ở Đăk Lăk 13

Biểu đồ 2: Biến thiên năng suất giống lai tổng hợp khảo nghiệm tại Đăk Lăk và Gia Lai 16

Biểu đồ 3: Năng suất giống lai TH và giống đại trà điều tra tại Đăk Lăk năm 2012 17

Biểu đồ 4: Năng suất giống lai TH và giống đại trà điều tra tại Gia Lai năm 2012 18

Biểu đồ 5: Mức độ nhiễm bệnh gỉ sắt của giống lai TH và giống đại trà tại Đăk Lăk 18

Biểu đồ 6: Mức độ nhiễm bệnh gỉ sắt của giống lai TH và giống đại trà tại Gia Lai 19

Trang 2

1 Đặt vấn đề

Cà phê là cây công nghiệp được trồng phổ biến ở nhiều nước trên thế giới.Hiện nay, Việt Nam là nước xuất khẩu cà phê vối lớn nhất thế giới với diện tích càphê 614.545 ha (Cục Trồng trọt, 2012), sản lượng cà phê cả nước hàng năm đạttrên 1,0 triệu tấn (năm 2012 xuất khẩu đạt trên 1,2 triệu tấn), kim ngạch xuất khẩu

>3 tỷ USD Tuy nhiên, theo báo cáo của chuyên gia Ngân hàng Thế giới (WorldBank) và Viện Nghiên cứu Chính sách phát triển nông nghiệp và nông thôn phíaNam (SCAP) và Cục Trồng trọt, hiện tại có trên 86.000 ha cà phê già cỗi trên 20năm tuổi, sinh trưởng kém, năng suất thấp sẽ phải trồng lại

Như vậy vấn đề trồng tái canh cà phê của nước ta đang là thách thức lớn.Bên cạnh việc áp dụng các biện pháp tổng hợp như cày xới rà rễ, bón phân cải tạođất, luân canh, phòng trừ tuyến trùng thì việc chọn giống và công tác chuẩn bị giống

để trồng lại là khâu hết sức quan trọng và cần thiết Hiện nay, chúng ta đã có bộgiống mới để sản xuất và phục vụ cho tái canh trong thời gian sắp tới, nhưng nếuchỉ dừng lại ở việc nhân giống bằng phương pháp vô tính thì không thể đáp ứng đủnhu cầu trồng tái canh cà phê sắp tới Do vậy con đường nhân giống hữu tính từ cácdòng vô tính mới được công nhận là hướng cần được chú trọng để đáp ứng yêu cầucủa thực tiễn sản xuất

Công tác chọn giống, cải tiến giống cà phê vối trên thế giới theo hướng sinhsản hữu tính đã được nhiều nước quan tâm, ngay từ ban đầu các nhà chọn tạo giống

đã coi cải thiện giống sinh sản hữu tính là mục tiêu quan trọng để làm đa dạngnguồn gen và giúp cho chọn lọc bố mẹ tốt hơn Công tác chọn lọc và lai tạo giống

cà phê vối cho năng suất cao, chất lượng đáp ứng được yêu cầu xuất khẩu, khángbệnh gỉ sắt, đã được thực hiện ở nhiều nước trồng cà phê vối trên thế giới như: Ấn

Độ, Cameroon, Bờ Biển Ngà, Madagascar, Indonesia (Charrer và Berthaud,1988) Với ưu điểm dễ làm, giá thành hạ và hệ số nhân cao hơn một số phươngpháp khác, việc nhân giống hữu tính sẽ đáp ứng đủ yêu cầu mở rộng diện tích táicanh cà phê vối trên cả nước Tuy nhiên, việc nhân giống bằng hạt không tránh khỏi

sự phân ly ở đời con về năng suất do bố mẹ giao phấn chéo Do đó việc nghiên cứu

sử dụng các tổ hợp bố mẹ giao phấn chéo để cho ra các đời con tốt nhất thông quaviệc đánh giá khả năng phối hợp chung của các đời con là thực sự cần thiết Từ kết

Trang 3

quả này, sẽ tiến hành chọn các bố mẹ để xây dựng vườn sản xuất hạt giống lai tổnghợp cung cấp cho sản xuất, góp phần hạ giá thành cây giống mà vẫn đảm bảo đượccác đặc tính tối ưu của giống Nâng cao hiệu quả kinh tế cho ngành sản xuất cà phê,đồng thời làm phong phú và đa dạng nguồn gen phục vụ cho chiến lược chọn lọcgiống cà phê vối vào giai đoạn tiếp theo

Xuất phát từ nhu cầu thực tế này, trong những năm qua Viện KHKT NLNTây Nguyên đã tiến hành nghiên cứu nhằm xác định các tổ hợp bố mẹ, xây dựngvườn sản xuất hạt lai đa dòng nhằm cung cấp giống mới cho sản xuất với sự phốihợp giữa 4 dòng vô tính cà phê vối đã được công nhận là TR4, TR9, TR11 và TR12

2 Một số kết quả chọn giống trong và ngoài nước

Sơ đồ tổng quát cải tiến C canephora (IFCC, 1963)

Các thành tựu trên thế giới cũng như Việt Nam đều dựa vào sơ đồ chọn lọcgiống tổng quát sau:

Vật liệu hoang dạiVật liệu trồng trọtVật liệu nhập nội

Cung cấp hạt giống tổng hợp

hoặc giống lai (nhân hữu tính) Cung cấp giốngdòng vô tính

(nhân vô tính)

Trang 4

* Chọn tạo giống tổng hợp và giống lai

Ngay từ thuở ban đầu các nhà chọn tạo giống C.canephora coi cải thiện

giống sinh sản hữu tính là mục tiêu quan trọng Chọn lọc hữu tính đặt nền tảng trênviệc chọn bố mẹ ngày càng chính xác hơn Đây là phương pháp nhân giống bằnghạt, hiện đang được áp dụng rộng rãi trên thế giới Phương pháp này ngoài mục đíchcung cấp hạt giống chọn lọc để sản xuất cây giống thuận lợi, hạ giá thành, góp phầntăng nhanh diện tích cà phê sản xuất đại trà, nó còn giúp tạo ra các cây đầu dòng tốtqua con đường lai tạo tự nhiên

Theo Charrier & Berthaud (1988), các nước trồng cà phê vối trên thế giới đã

và đang tạo ra các giống tổng hợp và giống lai như : Ấn Độ sử dụng 2 đời con củacác cây mẹ S270 và S274; Cameroon có một số con lai đang được khảo nghiệm; BờBiển Ngà có 10 con lai; Madagascar có 6 con lai và Indonesia sử dụng 4 con lai

Chọn lọc cây mẹ theo kiểu hình trong điều kiện để thụ phấn tự do sẽ chỉ cóhiệu quả đối với các tính trạng trội đơn gen hoặc các tính trạng có hệ số di truyềncao Giá trị trung bình và phương sai của những đời con do thụ phấn tự do có tínhkhông ổn định khiến cho chọn lọc theo kiểu hình ít có hiệu quả trong chọn giống càphê vối (Charrier và Louarn, 1972)

Giống tổng hợp (synthetic varieties) tạo ra từ 4 – 8 bố mẹ có giá trị phối hợpchung tốt nhất trên các tính trạng chọn lọc Các bố mẹ này được nhân vô tính vàtrồng chung trong vườn có cách ly theo sắp xếp hợp lý để bảo đảm giao phấn chéo

đa dạng Ở những vùng hoa cà phê vối nở phụ thuộc mạnh vào tưới nước thì vườnsản xuất hạt giống tổng hợp không cần có đai cách ly, điều khiển ra hoa bằng biệnpháp tưới

Các giống lai chọn lọc dùng để thử khả năng phối hợp riêng sẽ được sản xuấttrong các vườn cách ly chỉ trồng 2 dòng bố mẹ Tuy nhiên, đôi khi hai bố mẹ ra hoakhông cùng lúc khiến cho việc chọn các tổ hợp lai 2 bố mẹ bị hạn chế, thay vào đóCapot J (1977) đã sử dụng các con lai 3 bố mẹ để khắc phục

Đánh giá đời con lai được tiến hành bằng cách dùng những đời con thụ phấn

tự do hoặc con lai giữa những bố mẹ khác nhau có kiểm soát, sau đó xác định kiểugen để đánh giá những kiểu gen tốt từ những con lai có nguồn gen di truyền tốt (khả

Trang 5

năng phối hợp chung) hoặc những con lai với chỉ một số kiểu gen nổi trội (khả năngphối hợp riêng) Cà phê vối thường có những đặc tính trội về các yếu tố năng suấtnên khả năng phối hợp chung thường chiếm ưu thế hơn (Dussert, 1999).

Các chương trình chọn giống cà phê vối ở giai đoạn trước đây cũng đã đánh giánhững đời con thụ phấn tự do từ những bố mẹ có triển vọng để sản xuất giống lai.Tại Indonesia, phương pháp này đã được sử dụng từ 1915 – 1930 nhưng chỉ có một

tỷ lệ nhỏ các con lai thụ phấn tự do chứng tỏ có tiềm năng Sau đó, phương pháp laikiểm tra hay lai dialen đã thành công khi sử dụng những phép lai kết hợp có chọnlọc, phương pháp này không chỉ ở Indonesia mà cả Ấn Độ và nhiều nước Châu Phi(Cros, 1995; Dussert, 1999)

Năng suất của các con lai được chọn lọc bằng phương pháp cải tiến nàythường cao hơn đáng kể so với năng suất của những giống địa phương không quachọn lọc Như ở Cameroon, năng suất của những con lai có kiểm soát cao hơn 50%

so với những con lai thụ phấn tự do từ những cây mẹ không được chọn lọc(Bouharmont,1986) Các con lai chọn lọc được cải tiến và phát triển tốt ở Bờ BiểnNgà (Pestiard, 1993)

Mức năng suất của các giống lai tổng hợp thường dao động trong khoảng 1

-3 tấn nhân/ha, tùy theo các điều kiện chăm sóc và cơ cấu giống Tuy nhiên, bản chất

dị hợp của bố mẹ gây biến thiên lớn trong đời con và thấy rõ ở các vườn kinhdoanh Phân tích từng cây ở các đời con hữu tính mọc từ hạt cho thấy rằng 1/4 sốcây năng suất cao nhất chiếm hơn 1/2 tổng sản lượng (Ferwerda, 1969; Dublin,1967; Trịnh Đức Minh, 1991) Chiến lược lai tạo cà phê vối có thể khai thác tiềmnăng gia tăng năng suất do sự lai tạo giữa các quần thể phân biệt rõ ràng (Conglense

và Guinean), con lai thường khỏe mạnh và cho năng suất cao (Berthaud, 1986;Leroy, 1993) Tuy nhiên do tính biến thiên năng suất các cá thể luôn cao trong đờicon nên tiềm năng năng suất trung bình của đời con luôn thấp hơn các dòng vô tínhchọn ra từ chính đời con đó

Tại Bờ Biển Ngà, năng suất trung bình của giống tổng hợp và giống lai chỉbằng 60% của các dòng vô tính chọn lọc (Capot, 1977) và các con lai tốt nhất cũngmới có thể đạt được 75% năng suất (Bouhamont và ctv, 1980) Tại Madagascar và

Trang 6

Cameroon, các giống lai tốt có thể đạt 75 – 100 % năng suất so với dòng vô tínhlàm đối chứng

Ở Việt Nam những kết quả nghiên cứu của Trịnh Đức Minh , 1998 cũng chothấy đời con trồng bằng hạt thu từ một cây mẹ có sự khác biệt nhau rất lớn về hìnhthái cũng như khả năng cho năng suất và kháng bệnh gỉ sắt Việc sử dụng hạt củacác dòng vô tính để nhân giống sẽ cho ra các vườn cà phê vối có năng suất thấp hơn

so với dòng vô tính từ 20 - 30%, ngoài ra vườn cây có tỷ lệ phân ly nhất định và tỷ

lệ cây bị nhiễm bệnh gỉ sắt chiếm từ 23,2 - 29,6% Cà phê Nana từ Cộng Hòa Trung

Phi tỏ ra ít bị nhiễm, chiếm khoảng 10% số cây Di truyền học của tính kháng gỉ sắt

trên cà phê vối chưa được nghiên cứu nhiều, tính kháng có lẽ là do nhiều gen quyđịnh (Berthaud và Charrier , 1982) nhận thấy trong các đời con do lai nhân tạo tỷ lệcây kháng khi lây nhiễm bệnh biến thiên 20 - 66% Các kết quả sơ bộ từ nghiên cứutính kháng trên cây cà phê vối đơn bội kép phần nào chứng minh giả thiết tính kháng

đa gen là có cơ sở, đa số đời con mẫn cảm bệnh, ngoại trừ dòng vô tính IF 149 chođời con phần lớn có tính kháng (Cuturon và Berthaud, 1982)

Để giữ được tính đa dạng về mặt di truyền của các vườn cà phê vối trong sảnxuất, cần phải có một tỷ lệ diện tích nhất định để trồng đời con của các dòng vôtính, hoặc cần có một diện tích đủ lớn để lưu giữ nguồn di truyền đa dạng này TheoBerthaud , 1988), việc chọn cây đầu dòng từ các thí nghiệm đời con của các dòng

vô tính có tỷ lệ thành công lên tới 1%, trong khi đó nếu chọn cây đầu dòng ở cácvườn cà phê kinh doanh ngoài sản xuất hay vườn tập đoàn thì tỷ lệ thành công chỉđạt 1‰ (IFCC, 1963) Như vậy, việc lưu giữ các nguồn con lai này có ý nghĩa to lớntrong công tác chọn lọc cây đầu dòng tối ưu, phục vụ cho công tác chọn tạo giốnglâu dài

Hạt giống lai đa dòng không cho phép xác định được cây bố, do đó việc sảnxuất hạt giống cần tiến hành trong điều kiện thụ phấn có kiểm soát, trong trườnghợp này mỗi dòng trên vườn đồng thời là cây mẹ và cũng là cây bố cho các dòng

mẹ khác

Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng đời con của 2 dòng hay đa dòng thường cókiểu hình và khả năng cho năng suất của cá thể ở đời con không đồng đều, có xu

Trang 7

hướng phân bố theo kiểu hình chuông úp lệch trái Tuy nhiên về kích thước hạt ít cósai khác so với cây mẹ, hầu hết con lai có kích thước và khối lượng hạt lớn, đặctính này rất có thể được di truyền qua cây mẹ (FICC, 1987)

Tại Bờ Biển Ngà, cây lai đầu tiên giữa các dòng đơn bội kép được trồng từnăm 1985, sinh trưởng khá đồng đều, gần như cây vô tính Một số tổ hợp lai từ cácthể đơn bội kép ở Bờ Biển Ngà đã thể hiện ưu thế lai và cho năng suất ngang vớidòng vô tính

Việc nhân vô tính các dòng cà phê vối bằng kỹ thuật ghép nối ngọn trên gốc

cà phê vối hoặc cà phê mít trong những năm gần đây đã được áp dụng khá phổ biếntrong sản xuất, tuy nhiên giá thành cây giống còn cao, khả năng nhân giống còn hạnchế Mặt khác do thói quen và kỹ thuật sản xuất cây giống thực sinh khá đơn giảnnên người trồng cà phê vẫn ưa chuộng phương pháp nhân giống bằng hạt Hơn nữa,trong thực tiễn sản suất, ở nhiều nước châu Á trong đó có Việt Nam phát triển nghềtrồng cà phê vối rất nhanh, vật liệu trồng chủ yếu vẫn là hạt giống tổng hợp, giốnglai, hạt giống tự chọn lọc hàng loạt Nhân giống từ hạt dễ thực hiện và dễ được chấpnhận, giá cây giống thấp, vườn cây mang tính đa dạng và bảo đảm tính bền vững

Do tính đa dạng trong quần thể nên sự xuất hiện tất yếu của 10 – 20% câygiống xấu trên vườn trồng bằng hạt là có thể chấp nhận trong sản xuất đại trà và vềsau có thể được thay thế các cây giống xấu bằng cách ghép các dòng vô tính chọnlọc (Trịnh Đức Minh, 1998) để tạo ra vườn cây đồng đều hơn

Từ năm 2000 - 2010 Viện KHKT NLN Tây Nguyên thu thập nguồn vật liệukhởi đầu theo hướng cải thiện kích cỡ hạt để nâng cao chất lượng cà phê vối củaViệt Nam Giai đoạn này có dòng vô tính TR4 được công nhận chính thức và 4dòng vô tính (TR9, TR11, TR12, TR13) được công nhận tạm thời vào năm 2006(theo QĐ số 1086 QĐ/BNN-KHCN ngày 14/4/2006), 4 dòng vô tính này đã đượccông nhận là giống chính thức năm 2011

Song song với hướng chọn lọc vô tính, các giống trên đã được sử dụng theohướng chọn lọc hữu tính bằng cách đánh giá qua hệ thống vườn so sánh các đời conlai tại Viện Tây nguyên và các kết quả đánh giá đời con (trồng bằng hạt giống laitổng hợp) ngoài thực tế sản xuất Kết quả việc đánh giá các đời con là cơ sở để chọn

Trang 8

bố mẹ và xây dựng vườn sản xuất hạt giống lai hỗn hợp hoặc hạt giống lai đa dòngcung cấp hạt giống phục vụ cho sản xuất

3 Nội dung, vật liệu và phương pháp nghiên cứu

3.1 Nội dung nghiên cứu

ND1: So sánh chính quy 4 đời con của 4 dòng vô tính cà phê vối TR4, TR9, TR11,

TR12 tại Buôn Ma Thuột - Đăk Lăk

ND2: Khảo nghiệm các đời con từ giống lai tổng hợp tại Đăk Lăk và Gia Lai ND3: Điều tra khả năng cho năng suất và bệnh gỉ sắt của giống lai tổng hợp trên

một số vùng tại Đăk Lăk và Gia Lai

3.2 Vật liệu nghiên cứu

Giống tổng hợp được lai từ vườn trồng các dòng vô tính chọn lọc (vườnđược trồng năm 2003 tại Viện, diện tích 2,0 ha) là: TR4, TR9, TR11, TR12 Trong

đó dòng TR4 đã được công nhận giống chính thức năm 2006 (theo QĐ số 1086QĐ/BNN-KHCN ngày 14/4/2006) và các dòng TR9, TR11, TR12 được công nhậngiống chính thức năm 2011 (theo QĐ số 175 /QĐ-TT-CCN ngày 04/05/2011)

Hạt giống tổng hợp của 4 dòng vô tính TR4, TR9, TR11, TR12 được tạo rabằng phương pháp lai tổng hợp có kiểm soát: Bốn dòng bố, mẹ được trồng xen kẽnhau theo từng hàng Trước khi hoa nở, các dòng bố mẹ được tưới cách ly vớinhững vườn xung quanh từ 10 – 15 ngày, khi hoa nở thì cây mẹ chỉ được nhận phấncủa 3 dòng còn lại Sau đó, thu hạt lai theo từng dòng từ các dòng bố mẹ này và bốtrí thí nghiệm so sánh các đời con để đánh giá khả năng phối hợp chung

Trong hệ thống thí nghiệm vườn chọn làm đối chứng là vườn trồng giống đạitrà không chọn lọc và vườn trồng bằng các dòng vô tính làm bố, mẹ của hạt giốngtổng hợp trên

Trang 9

Sơ đồ chọn giống theo hướng chọn lọc hữu tính tại Viện KHKT NLN

Tây Nguyên:

3.3 Phương pháp nghiên cứu

* Thí nghiệm so sánh chính quy các đời con tại Đăk Lăk: Bốn đời con từ

bốn dòng mẹ TR4, TR9, TR11, TR12 được trồng tại Buôn Ma Thuột năm 2006 (diệntích 0,5 ha) Thí nghiệm được bố trí theo kiểu khối đầy đủ ngẫu nhiên 1 yếu tố, mỗiđời con được theo dõi 30 cây với 4 lần nhắc lại Đối chứng là hệ thống vườn trồng 4dòng vô tính (TR4, TR9, TR11, TR12) dùng làm bố, mẹ của các đời con (diện tích0,5 ha) cùng với vườn trồng các giống đại trà không qua chọn lọc (0,5 ha) Các

tổng hợp

Cung cấp hạt giống tổng hợp

(nhân hữu tính)Cây mẹ (Cây đầu dòng)

Dòng chọn lọc

Trang 10

vườn này này được bố trí cùng thời điểm vào tháng 6/2006 và cùng điều kiện canhtác như nhau.

* Khảo nghiệm các đời con từ hạt giống tổng hợp: Khảo nghiệm được bố

trí tại Huyện Iagrai - Gia Lai và huyện CưMgar - Đăk Lăk, mỗi điểm khảo nghiệm

1 ha, trồng năm 2008, phương pháp là dùng hạt giống tổng hợp thu được trên vườnsản xuất hạt giống của 4 dòng vô tính chọn lọc TR4, TR9, TR11 và TR12 Thínghiệm bố trí 4 lần lặp lại, đối chứng là giống trồng bằng hạt của các bố, mẹ khôngqua chọn lọc (sản xuất đại trà)

* Đánh giá giống tổng hợp thông qua các mô hình chuyển giao kỹ thuật:

Song song với kết quả nghiên cứu, hạt giống tổng hợp thu từ vườn chọn lọccủa 4 dòng vô tính trên được phóng thích ra sản xuất thông qua các mô hình chuyểngiao tiến bộ kỹ thuật giống mới tại các vùng trồng chính nhằm mở rộng diện tích và

để khẳng định tiềm năng năng suất cũng như khả năng ứng dụng ngoài sản xuất đốivới giống lai tổng hợp được nhân bằng con đường hữu tính Việc điều tra và đánhgiá được tiến hành tại một số vùng trồng cà phê vối của tỉnh Đắk Lắk và Gia Lai,mỗi vùng điều tra 10 – 15 mô hình

Các biện pháp kỹ thuật, công nghệ nhân giống: được áp dụng dựa trên cơ

sở Quy trình trồng chăm sóc và thu hoạch cà phê vối (10TCN 478: 2001)

3.3.1 Các chỉ tiêu theo dõi

Gồm: Năng suất, chất lượng cà phê nhân sống và chỉ số bệnh gỉ sắt

+ Năng suất

Theo dõi năng suất 2 - 3 vụ thu hoạch đầu (vì đây là nguồn giống mới vàđược trồng sớm nhất từ năm 2006) So sánh với năng suất của các dòng mẹ vàgiống đại trà trong cùng điều kiện thí nghiệm

+ Các chỉ tiêu về chất lượng hạt

Đối với thí nghiệm chính quy và khảo nghiệm: Mỗi đời con được lấy 1 mẫutrên mỗi ô cơ sở và lấy nhắc lại tương ứng với 4 lần lặp Mỗi mẫu thu 1,5 kg quảtươi, sau đó tiến hành phân tích và đánh giá các chỉ tiêu:

Trang 11

- Tỷ lệ quả tươi/nhân (khối lượng quả tươi/1,0 kg nhân khô ở độ ẩm 13%):được tính từ 1,5 kg quả tươi để có tỷ lệ nhân tương ứng

- Khối lượng 100 nhân (g) ở độ ẩm 13%

- Kích cỡ hạt trên sàng số 16 (6,3 mm): Theo tiêu chuẩn Việt Nam (TCVN:4193)

+ Khả năng kháng bệnh gỉ sắt

Khảo sát vào thời điểm bệnh nặng nhất (tháng 12 hoặc tháng 1 hàng năm):Theo phương pháp điều tra, đánh giá chỉ số bệnh của Phan Quốc Sủng (1987)

3.3.2 Phương pháp phân tích và xử lý số liệu

Các số liệu được tính theo phương pháp thống kê sinh học Sử dụng phầnmềm EXCEL, MSTATC so sánh các công thức theo trắc nghiệm F và Duncan

4 Kết quả đạt được

4.1 Kết quả so sánh chính quy các đời con lai tại Đăk Lăk

Bảng 1: Năng suất nhân của các dòng mẹ và đời con (trung bình 4 vụ)

Ký hiệu

Giống Năng suất (tấn nhân/ha)

Tỷ lệ năng suất

so với dòng mẹ (%) Dòng mẹ CV(%) Đời con CV(%)

Trang 12

Bảng 2: Năng suất nhân của giống tổng hợp và giống đại trà (trung bình 4 vụ)

Năng suất (tấn nhân/ha) Tỷ lệ năng suất

tăng so với giống đại trà (%) Giống tổng hợp Giống đại trà

So sánh năng suất của các đời con và các dòng mẹ qua bảng 1 cho thấy:Năng suất nhân trung bình của các đời con qua 4 vụ thu hoạch đạt 2,69 tấn/ha, thấphơn năng suất các dòng mẹ (đạt 3,03 tấn/ha), biến thiên năng suất cá thể trong từngđời con khá cao đạt trung bình 44,2% Tuy nhiên, xét trong mỗi đời con thì khảnăng cho năng suất khá tương đương nhau qua 4 vụ thu hoạch và dao động từ 2,60– 2,78 tấn/ha Hơn nữa, các đời con hầu hết có năng suất trung bình gần ngang bằngdòng mẹ và có đạt tỷ lệ so với dòng mẹ từ 83,2 – 96,0%, riêng có đời con của dòngTR11 cho năng suất khá thấp so với dòng mẹ với tỷ lệ đạt chỉ 79,4% Nguyên nhân

có thể dòng này có bộ tán khá rộng, do đó các tính trạng về năng suất chưa ổn định

ở cây trồng bằng hạt, khả năng cho năng suất ở đời con có thể đạt cao hơn khi đivào các vụ kinh doanh ổn định

So sánh giống cà phê vối tổng hợp và giống đại trà xét trong cùng điều kiệnthí nghiệm, cho thấy năng suất giống tổng hợp cao hơn hẳn giống đại trà, năng suấtgiống đại trà trung bình qua 4 vụ chỉ đạt 1,98 tấn/ha và năng suất trung bình củagiống tổng hợp vượt so với giống đại trà đến 36,0% Như vậy, có thể thấy giống càphê vối tổng hợp từ các dòng vô tính chọn lọc có triển vọng hơn hẳn về năng suất sovới giống sản xuất đại trà

Bảng 3: Khối lượng và kích thước hạt của các dòng mẹ và đời con

(trung bình 4 vụ)

Ký hiệu

Giống

Khối lượng 100 nhân (g) Tỷ lệ hạt trên sàng N 0 16 (%)

Ngày đăng: 30/06/2021, 07:45

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w