TTTC sẽ đứng trước các cơ hội cụ thể như sau: Thứ nhất, đối với hệ thống ngân hàng và các tổ chức tín dụng: - Tiếp cận với thị trường rộng hơn: Luồng vốn chu chuyển qua hệ thống tài chín
Trang 1BÁO CÁO THỊ TRƯỜNG VÀ CÁC ĐỊNH CHẾ TÀI CHÍNH
A CÔNG TY TÀI CHÍNH:
I LỊCH SỬ HÌNH THÀNH:
Lịch sử Việt Nam đã trải qua hơn 4.000 năm, nhưng có thể nói rằng hệ thống tài chính Việt Nam - hệ thống tài chính do các ngân hàng đóng vai trò chủ đạo bắt đầu hình thành rõ nét từ năm1858, năm Việt Nam trở thành một nước phong kiến nửa thuộc địa của Pháp Thực ra hệ thống tài chính, các phương tiện thanh toán (tiền tệ) luôn là những công cụ không thể thiếu trong bất kỳmột nền kinh tế nào, đãtồn tại từ khi hình thành ra nước Việt Nam Nhưng hệ thống tài chính,thanh toán thời bấy giờ rất khác so với hiện nay Một sự kiện đáng chú ý nhất trong thời
phongkiến liên quan đến hệ thống tài chính tiền tệ Việt Nam là vào đầu thế kỷ 15, lần đầu tiên Hồ QuýLy đã cho phát hành và lưu thông tiền giấy
Công ty Tài chính là loại hình tổ chức tín dụng phi ngân hàng Tổ chức này có chức năng là sử dụng vốn tự có, vốn huy động và các nguồn vốn khác để cho vay, đầu tư; cung ứng các dịch vụ tư vấn về tài chính, tiền tệ và thực hiện một số dịch
vụ khác theo quy định của pháp luật Tuy nhiên, công ty tài chính lại không được làm các dịch vụ thanh toán, không được nhận tiền gửi dưới 1 năm
II Đặc điểm của công ty tài chính
1 Mức vốn pháp định
So với ngân hàng, công ty tài chính có mức vốn pháp định thấp hơn Nếu như công
ty tài chính thành lập vào khoảng thời gian sau ngày nghị định 141/2006/NĐ-CP
có hiệu lực và trước ngày 31/12/2008 thì có mức vốn pháp định là 300 tỷ đồng Còn nếu thành lập sau ngày 31/12/2008 thì mức vốn pháp phải có là 500 tỷ đồng
2 Loại hình tổ chức hoạt động
Cũng Theo nghị định số 79 năm 2002 Tại chương 1, Điều 3: Hình thức thành lậpCông ty Tài chính được thành lập và hoạt động tại Việt Nam dưới các hình thứcsau:
“1 Công ty Tài chính Nhà nước: là Công ty Tài chính do Nhà nước đầu tư vốn,
thành lập và tổ chức quản lý hoạt động kinh doanh
2 Công ty Tài chính cổ phần: là Công ty Tài chính do các tổ chức và cá nhân
cùng góp vốn theo quy định của pháp luật, được thành lập dưới hình thức Công ty
cổ phần
Trang 23 Công ty Tài chính trực thuộc của tổ chức tín dụng: là Công ty Tài chính do
một tổ chức tín dụng thành lập bằng vốn tự có của mình và làm chủ sở hữu theoquy định của pháp luật, hạch toán độc lập và có tư cách pháp nhân
4 Công ty Tài chính liên doanh: là Công ty Tài chính được thành lập bằng vốn
góp giữa bên Việt Nam gồm một hoặc nhiều tổ chức tín dụng, doanh nghiệp ViệtNam và bên nước ngoài gồm một hoặc nhiều tổ chức tín dụng nước ngoài, trên cơ
sở hợp đồng liên doanh
5 Công ty Tài chính 100% vốn nước ngoài: là Công ty Tài chính được thành lập
bằng vốn của một hoặc của nhiều tổ chức tín dụng nước ngoài theo quy định củapháp luật Việt Nam.”
Nhưng hiện nay, theo dự thảo sửa đổi nghị định hướng dẫn của Chính phủ, thìcông ty tài chính được chia thành ba loại hình sau:
Công ty tài chính TNHH một thành viên
Công ty tài chính TNHH hai thành viên trở lên
Công ty tài chính cổ phần
3 Thời gian hoạt động:
Công ty tài chính có thời gian hoạt động tối đa là 50 năm Nếu giahạn thêm thời gian hoạt động thì phải được phía Ngân hàng Nhànước Việt Nam chấp thuận nhưng mỗi lần gia hạn thêm đó cũngkhông quá 50 năm
III Hoạt động của Công ty tài chính
1 Huy động vốn
Vốn là một yếu tố vô cùng quan trọng, nó ảnh hưởng lớn tới sự ổn định, phát triển,
mở rộng kinh doanh của công ty Do đó, hoạt động huy động vốn từ các nguồnkhác nhau là vô cùng cần thiết Hoạt động huy động vốn của công ty tài chínhgồm:
- Nhận tiền gửi của các tổ chức, cá nhân có kỳ hạn từ một năm trở lên theo quyđịnh của Ngân hàng Nhà nước
- Phát hành kỳ phiếu, trái phiếu, cùng với chứng chỉ tiền gửi và các loại giấy tờ cógiá trị khác để huy động nguồn vốn của cá nhân trong nước và ở nước ngoài
Trang 3- Tiếp nhận vốn ủy thác của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước hoặc củachính phủ.
- Vay các tổ chức tín dụng, tài chính trong nước, ngoài nước hay các tổ chức tàichính quốc tế
2 Hoạt động cho vay
Công ty tài chính được phép cho vay dưới các hình thức:
Cho vay ngắn hạn, trung hạn, dài hạn tuân thủ theo quy định của Ngânhàng Nhà nước
Cho vay tiêu dùng thông qua hình thức cho vay trả góp
Cho vay theo sự ủy thác của Chính phủ, hay của các cá nhân, tổ chứctrong và ngoài nước
IV Cơ hội và tồn tại
1 Cơ hội cho thị trường tài chính
Bối cảnh hội nhập sâu rộng, buộc Việt Nam phải mở cửa thị trường, trong đó có thịtrường tài chính (TTTC) Chính phủ giảm dần sự can thiệp trực tiếp vào thị trường
và các chủ thể tham gia thị trường buộc phải nâng cao năng lực cạnh tranh Theo
đó, thị trường sẽ trở nên sôi động hơn, các chi phí giao dịch giảm, các dự án được
ưu tiên nguồn vốn sẽ phải giảm dần và chuyển sang những khoản đầu tư có lợi nhuận cao hơn, góp phần nâng cao hiệu quả phân bổ nguồn lực trong nền kinh tế TTTC sẽ đứng trước các cơ hội cụ thể như sau:
Thứ nhất, đối với hệ thống ngân hàng và các tổ chức tín dụng:
- Tiếp cận với thị trường rộng hơn: Luồng vốn chu chuyển qua hệ thống tài chính,
ngân hàng gia tăng do các doanh nghiệp (DN) nội địa có nhiều cơ hội thâm nhập vào thị trường hàng hóa quốc tế, đẩy mạnh xuất khẩu
- Môi trường kinh doanh lành mạnh và hiệu quả hơn: Hội nhập cũng buộc các DN
phải đổi mới tư duy, nâng cao năng lực và kinh doanh có hiệu quả hơn
- Nâng cao năng lực quản trị, điều hành đối với ngân hàng thương mại
(NHTM): Các cam kết song phương và đa phương là kết quả của hội nhập sẽ dẫn
tới việc mở rộng thị trường dịch vụ ngân hàng
Trang 4- Nâng cao năng lực và hiệu quả điều hành của Ngân hàng Nhà nước (NHNN): Hệ
thống NHTM và thị trường tiền tệ hoạt động hiệu quả và an toàn góp phần quan trọng tạo môi trường hoạt động hữu hiệu cho chính sách tiền tệ
Thứ hai, đối với thị trường chứng khoán:
- Phát triển các định chế chứng khoán trung gian: Việc hội nhập và mở rộng tiếp
cận thị trường có thể thúc đẩy phát triển các định chế chứng khoán trung gian, thúcđẩy tính công khai, minh bạch và kỷ luật thị trường, qua đó thúc đẩy tăng cầu đầu
tư trên thị trường và tăng cung chứng khoán thông qua bảo lãnh phát hành
- Thu hút vốn đầu tư nước ngoài thông qua thị trường chứng khoán (TTCK): Việc
hội nhập sẽ mở ra cơ hội thu hút nguồn vốn đầu tư nước ngoài bao gồm cả đầu tư trực tiếp và đầu tư gián tiếp thông qua TTCK
Thứ ba, đối với thị trường bảo hiểm:
- Gia tăng nhu cầu bảo hiểm ở nhiều ngành, nghề: Sự tăng trưởng đầu tư nước
ngoài và trong nước, xuất hiện nhiều ngành nghề mới, công nghệ cao như đóng tàu, xây dựng đường tàu điện ngầm, xây dựng ngành điện tử, công nghệ thông tin, xây dựng nhà máy lọc dầu, điện nguyên tử, vệ tinh, sản xuất linh kiện máy bay… đòi hỏi ngành Bảo hiểm phải nghiên cứu sản phẩm để đáp ứng nhu cầu
- Gia tăng nhu cầu bảo hiểm tài sản và bảo hiểm trách nhiệm: Việc Việt Nam
tham gia các hiệp định thương mại tự do (FTA) sẽ thúc đẩy tự do hóa thương mại hàng hóa, dịch vụ giữa các nước thành viên, khuyến khích các hoạt động kinh doanh và đầu tư vào các ngành kinh tế tăng trưởng mạnh
- Gia tăng nhu cầu bảo hiểm y tế, giáo dục: Hội nhập buộc Nhà nước phải giảm
dần sự trợ cấp ở một số lĩnh vực
2 Những thách thức
Bên cạnh những cơ hội, vấn đề hội nhập cũng đặt sự phát triển của TTTC Việt Nam trước nhiều thách thức Cụ thể như:
Một là, đối với hệ thống ngân hàng và tổ chức tín dụng:
- Hệ thống pháp luật ngân hàng vẫn còn thiếu, chưa đồng bộ và phù hợp với thông
lệ quốc tế: Điều này đặt ra thách thức đối với NHNN trong việc sửa đổi, bổ sung,
thay thế pháp luật ngân hàng nhằm tạo môi trường kinh doanh bình đẳng, thông thoáng theo nguyên tắc không phân biệt đối xử trong quá trình hội nhập Việc mở
Trang 5cửa cũng sẽ làm gia tăng những rủi ro cho thị trường do NHNN còn nhiều hạn chế trong điều hành chính sách tiền tệ cũng như năng lực giám sát hoạt động.
- Áp lực cạnh tranh từ các NHTM nước ngoài: Hội nhập dẫn đến sự xuất hiện
nhiều ngân hàng nước ngoài với năng lực tài chính tốt, công nghệ, trình độ quản lý
và hệ thống sản phẩm đa dạng và có chất lượng cao hơn có thể đáp ứng nhu cầu đa dạng của khách hàng Lợi thế cạnh tranh đối với các TCTD trong nước theo đó có nguy cơ suy giảm, trong khi số lượng các ngân hàng các nước trong khu vực và thếgiới có tiềm lực mạnh về tài chính, công nghệ và trình độ quản lý tham gia vào thị trường tài chính nội địa ngày càng tăng
- Sự yếu kém của hệ thống NHTM trong nước: Hệ thống NHTM nước ta hiện nay
có nhiều loại hình hoạt động và đa dạng về hình thức sở hữu, tuy nhiên quy mô và năng lực tài chính còn rất nhỏ bé so với các nước trong khu vực và trên thế giới Các sản phẩm tài chính và dịch vụ ngân hàng hiện chưa phủ hết các vùng miền lãnh thổ và các loại hình sản xuất kinh doanh Các TCTD chủ yếu tập trung ở thành phố và đô thị lớn
- Hệ thống NHTM Việt Nam hiện cũng đang phải đối diện với các thách thức khác: Chất lượng nguồn nhân lực còn nhiều bất cập, thiếu cán bộ có kỹ năng
nghiệp vụ cũng như quản trị điều hành và hoạch định chính sách, các chương trình đào tạo chưa phù hợp với yêu cầu thực tế; Hệ thống thanh tra, giám sát và các quy định an toàn, thận trọng còn có khoảng cách xa với khu vực và thế giới Chế độ báo cáo tài chính, công khai tài chính của các TCTD nội địa còn thấp và có khoảngcách khá xa so với chuẩn mực quốc tế
- Gia tăng rủi ro từ khách hàng: Mở cửa có thể dẫn tới phá sản và giải thể các
doanh nghiệp nội địa làm ăn không tốt, không có sức cạnh tranh Điều này có thể làm tăng rủi ro cho hoạt động của ngân hàng Ngoài ra, hạ tầng tài chính phát triển chưa đầy đủ (công nghệ, hệ thống thanh toán, thị trường liên ngân hàng ) cũng là thách thức không nhỏ để phát triển một khu vực ngân hàng ổn định
Hai là, đối với thị trường chứng khoán:
Với hệ thống tài chính dựa nhiều vào hệ thống ngân hàng, quá trình phát triển của TTCK trong giai đoạn 2016-2020 và tầm nhìn tới 2030 vẫn còn đối diện khá nhiều thách thức Cụ thể như:
- Hệ thống pháp luật và môi trường đầu tư còn nhiều bất cập: Có thể nói đây là
thách thức lớn nhất đối với nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa Cơ sở hạ tầng của Việt Nam còn lạc hậu so với một số nước trong khu vực
Trang 6ASEAN, làm chi phí đầu vào của DN tăng và ảnh hưởng đến môi trường kinh doanh.
- TTCK còn nhỏ và yếu: Quy mô, cơ cấu, hàng hóa trên thị trường vẫn còn nhỏ so
với các nước trong khu vực; các yếu tố thị trường và các loại thị trường vẫn chưa phát triển đồng bộ, đặc biệt là cơ chế giá thị trường đối với giá vốn (lãi suất, tỷ giá), giá đất, giá cả hàng hóa, sức lao động (tiền lương, tiền công) và giá dịch vụ công Thị trường vốn, thị trường khoa học công nghệ, thị trường lao động… vẫn chưa có những bước phát triển mạnh
- Áp lực cạnh tranh của các công ty chứng khoán nước ngoài: Hiện Việt Nam chỉ
cho phép nhà cung cấp dịch vụ nước ngoài hoạt động qua biên giới đối với các dịch vụ chuyển thông tin, dịch vụ tư vấn và dịch vụ phụ trợ Tuy nhiên, theo quy định của pháp luật, nhà cung cấp dịch vụ nước ngoài được phép thành lập hiện diện thương mại dưới hình thức văn phòng đại diện và liên doanh Chưa kể, dù giớihạn vốn góp của nhà đầu tư nước ngoài vào các công ty chứng khoán, công ty quản
lý quỹ hiện đang ở tỷ lệ dưới 49% nhưng nhà đầu tư nước ngoài lại được phép thành lập công ty 100% vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, thành lập chi nhánh của các công ty chứng khoán nước ngoài tại Việt Nam và chỉ cung cấp một số dịch
vụ nhất định
Ba là, đối với thị trường bảo hiểm:
- Thị trường bảo hiểm Việt Nam đứng trước nhiều thách thức, điển hình như: Yếu
tố chủ quan từ các công ty, sự thiếu hoàn thiện của hệ thống văn bản pháp luật và công tác quản lý nhà nước đã và đang ảnh hưởng không nhỏ tới sự phát triển lành mạnh của ngành Bảo hiểm
- Áp lực cạnh tranh của các công ty bảo hiểm nước ngoài: Quá trình hội nhập cùng
cam kết mở cửa sẽ đòi hỏi Việt Nam phải xóa bỏ các hạn chế trong lĩnh vực bảo hiểm, chứng khoán, kế toán, kiểm toán ở mức ngang bằng với các nước thành viên khác của các tổ chức, hiệp định mà Việt Nam tham gia
- Sự yếu kém của các công ty bảo hiểm Việt Nam: Kênh phân phối sản phẩm bảo
hiểm đã và đang bộc lộ nhiều yếu kém Sau thời gian tăng trưởng nhanh và mở rộng kênh phân phối qua các đại lý, có nghĩa là cứ tăng đại lý là tăng doanh thu nên nhiều DN bảo hiểm không quan tâm đến chất lượng tuyển chọn đào tạo và sử dụng đại lý Các DN bảo hiểm phi nhân thọ khai thác chủ yếu từ cán bộ bảo hiểm, cạnh tranh về phí bảo hiểm, tăng hoa hồng, tăng hỗ trợ cho đại lý, chưa xây dựng được đội ngũ đại lý bảo hiểm phi nhân thọ mang tính chuyên nghiệp
TÌNH HÌNH CÔNG TY TÀI CHÍNH VIỆT NAM NĂM 2018-2019
Trang 71 Hệ thống tài chính năm 2018 được cải thiện
Trong năm 2018, quy mô tổng tài sản của các định chế tài chính Việt Nam ước đạt 203% GDP, tăng 11,5% (năm 2017 tăng 17,5%)
Trong đó, tỷ trọng tài sản của các Tổ chức tín dụng chiếm tới 95,5% (năm 2017 chiếm 96,1%), các doanh nghiệp bảo hiểm chiếm 3,4%, các công ty chứng khoán
và các công ty quản lý quỹ chiếm 1,1%
Trong năm qua, tổng tài sản của hệ thống tổ chức tín dụng tăng khoảng 11,5% so với năm 2017
Trong đó, tổng tín dụng ước tăng khoảng 14-15% (năm 2017 tăng 17,6%) Đây là mức tăng trưởng thấp nhất trong 3 năm gần đây nhưng phù hợp với mục tiêu kiểm soát lạm phát và hỗ trợ tăng trưởng kinh tế
Đối với các công ty chứng khoán, tổng tài sản của hệ thống công ty chứng khoán tăng khoảng 20,3% so với năm 2017, tổng vốn chủ sở hữu tăng 22,8%, tỷ lệ vốn khả dụng bình quân theo báo cáo khoảng 409,7% (cuối năm 2017 là 413,4%).Còn với các doanh nghiệp bảo hiểm, tổng tài sản của các doanh nghiệp này tăng 19,4%, tỷ lệ khả năng thanh toán bình quân của hệ thống doanh nghiệp bảo hiểm đạt 239% (cuối năm 2017 đạt 237%), cao hơn mức 100% theo quy định
Vai trò vốn đối ứng của thị trường vốn cho nền kinh tế gia tăng, giảm gánh nặng cho tín dụng ngân hàng Cụ thể, tỷ trọng cung ứng vốn từ thị trường vốn cho nền kinh tế tính theo giá trị phát hành thực tế trong năm 2018 chiếm 14% tổng cung ứng vốn (năm 2017 chiếm 10,2%)
Nếu tính theo giá trị vốn hóa thị trường thì tỷ trọng cung ứng vốn danh nghĩa từ thịtrường vốn chiếm khoảng 36,9% tổng cung ứng vốn (năm 2017 chiếm 36,7%).Chất lượng tài sản của hệ thống định chế tài chính được cải thiện Tỷ lệ nợ xấu của
hệ thống định chế tài chính năm 2018 còn khoảng 2,4% (năm 2017 ở mức 2,5%).Trong đó: tỷ lệ nợ xấu của hệ thống tổ chức tín dụng ở mức 2,4%; tỷ lệ nợ quá hạn của các công ty chứng khoán và công ty quản lý quỹ là 4,7%; tỷ lệ các khoản phải thu khó đòi của các doanh nghiệp bảo hiểm là 6,4%
Những tín hiệu trên đã góp phần giúp cải thiện khả năng sinh lời của hệ thống địnhchế tài chính
Trang 8Thống kê của UBGSTCQG đưa ra cho thấy, tổng lợi nhuận sau thuế của các định chế tài chính ước tăng 33% so với năm 2017, trong đó lợi nhuận của các Tổ chức tín dụng ước tăng 40% so với năm 2017, lợi nhuận của công ty chứng khoán và công ty quản lý quỹ tăng 18,1% so với năm 2017.
nam-2019-305127.html ( xem thêm tình hình cụ thể diễn biến của thị trường tài chính Việt Nam năm 2018 )
http://tapchitaichinh.vn/su-kien-noi-bat/trien-vong-thi-truong-tai-chinh-viet-nam-2 Tình hình năm 2019
Dòng vốn tín dụng có thể tiếp tục được điều hành thận trọng Theo đó, tăng trưởng tín dụng năm 2019 khả năng giữ ở mức tương đương như năm 2018 (khoảng 14%).Tiếp tục kiểm soát chặt chẽ dòng vốn ngân hàng vào các lĩnh vực rủi ro cao như bất động sản, chứng khoán
Mặt bằng lãi suất có thể giữ ở mức ổn định do: Áp lực lạm phát đã giảm khi giá dầu thế giới được dự báo không biến động; dự báo đồng USD suy yếu điều này cũng sẽ làm giảm áp lực từ phía tỷ giá
Theo đó, năm 2019, áp lực lên tỷ giá có thể không quá lớn, bởi các yếu tố tác động trong nước và quốc tế đang có chiều hướng thuận lợi hơn so với dự báo: Khả năng đồng USD sẽ không tăng nhiều, thậm chí có thể bị suy yếu, phù hợp với chính sáchcủa Tổng thống Mỹ Donald Trump Tổ chức Citigroup dự báo, USD Index có thể giảm giá 2% trong 6 đến 12 tháng tới; Lạm phát tổng thể có khả năng kiểm soát khoảng 4% do giá dầu thế giới có xu hướng giảm, do đó giảm áp lực lên tỷ giá Đây là các yếu tố tích cực giúp chính sách tỷ giá chủ động hơn, tiến dần đến điểm cân bằng ngang giá tiền tệ
Trong năm 2019, thị trường chứng khoán Việt Nam được dự báo sẽ tiếp tục chịu ảnh hưởng của kinh tế - tài chính thế giới Các thị trường chứng khoán thế giới trong đó có các thị trường mới nổi có thể biến động mạnh, do ảnh hưởng của diễn biến chiến tranh thương mại Mỹ - Trung và dự báo tốc độ tăng trưởng kinh tế Mỹ giảm Tuy nhiên, nhìn chung thị trường chứng khoán Việt Nam vẫn nằm trong nhóm các thị trường mới nổi có khả năng thu hút vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài
do kinh tế vĩ mô ổn định, tăng trưởng kinh tế cao và triển vọng nâng hạng thị trường chứng khoán
MỘT SỐ SỰ KIỆN NỔI BẬT VỀ TÀI CHÍNH NĂM 2018
Trang 91 Dự trữ ngoại hối quốc gia đạt mức kỷ lục trên 60 tỷ USD
Vào tháng 6/2018, tại phiên họp trực tuyến của Chính phủ với các địa phương, ông
Lê Minh Hưng, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước công bố con số dự trữ ngoại hối lên tới 63,5 tỷ USD Đây là con số kỷ lục tại thời điểm đó Tuy nhiên, từ đó đến nay, con số này đã không được Ngân hàng Nhà nước cập nhật thêm lần nào
2 BIDV và VietinBank có Chủ tịch Hội đồng quản trị mới
Ngày 1/9/2016, ông Trần Bắc Hà, chủ tịch Hội đồng quản trị BIDV nghỉ hưu nhưng mãi đến 15/11/2018, ông Phan Đức Tú mới được bầu vào vị trí này
Khác với việc bầu chủ tịch Hội đồng quản trị ở VietinBank diễn ra khá chóng vánh, ông Lê Đức Thọ được bầu làm chủ tịch Hội đồng quản trị ngân hàng này chỉ sau 3 tháng kể từ lúc người tiền nhiệm rời đi
3 Tổng phương tiện thanh toán và tín dụng tăng thấp nhất kể từ 2014
Cụ thể, tính đến 12/12/2018, tổng phương tiện thanh toán (M2) chỉ tăng 10,99% Trong khi, con số này ở các năm như sau: 2014: 15,65%; 2015: 13,55%; 2016: 18,38%; 2017: khoảng 16%
Cùng đó, tăng trưởng tín dụng cũng chỉ ở mức 14% - 15%
Theo đánh giá của các chuyên gia, việc hãm đà tăng trưởng tín dụng và M2 là cần thiết để tránh bất ổn về lạm phát, hiệu suất đầu tư, tính bền vững của dòng tiền tín dụng ở những năm tiếp theo
4 Ồn ào xung quanh việc cho phép thanh toán Nhân dân tệ (CNY) biên giới phía Bắc
Ngày 28/8/2018, Ngân hàng Nhà nước ban hành thông tư hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với hoạt động thương mại biên giới Việt Nam – Trung Quốc
Mặc dù chỉ là thông tư hướng dẫn cụ thể hơn khung khổ pháp lý đã có và những văn bản ký kết giữa Việt Nam và Trung Quốc về ngoại giao, thương mại; tuy nhiên, nội dung “thanh toán bằng CNY” đã gây ồn ào trong một thời gian dài Mặc
dù Ngân hàng Nhà nước đã xử lý kịp thời nhưng qua đó, cũng bộc lộ sự phối hợp giữa hoạt động truyền thông và nghiệp vụ chưa nhịp nhàng
5 Tiếp tục ghi nhận một loạt đại án trong ngành ngân hàng
Trang 10Ngày 23/11, Toà xử phạt ông Huỳnh Nam Dũng, nguyên Chủ tịch HĐQT Ngân hàng Phát triển nhà Đồng bằng sông Cửu Long – MHB (nay đã sáp nhập vào Ngânhàng BIDV) 13 năm tù về tội “Lợi dụng chức vụ quyền hạn trong khi thi hành công vụ và Thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng”.
Tiếp đó là mở rộng giai đoạn 2 xét xử vụ án Phạm Công Danh và thiệt hại hàng nghìn tỷ đồng tại VNCB; xét xử vụ Ngân hàng Đông Á Những vụ án này sẽ còn tiếp tục mở rộng và kéo dài dư chấn sang các năm tiếp theo
Trong một diễn biến khác, ông Trần Bắc Hà và một số cựu lãnh đạo BIDV cũng đã
bị truy tố vì các sai phạm trước đây
6 NHNN công bố Bộ Tiêu chuẩn cơ sở về thẻ chip nội địa
Ngày 5/10/2018, lần đầu tiên, Ngân hàng Nhà nước ban hành Quyết định số 1927/QĐ-NHNN về Tiêu chuẩn cơ sở thẻ chip nội địa
Đây là cơ sở giúp các ngân hàng và các hãng sản xuất thẻ và thiết bị chấp nhận thẻ
dễ đang triển khai; khách hàng thanh toán đồng nhất trên hạ tầng thanh toán của toàn bộ các ngân hàng Hiện tại NAPAS đang phối hợp với 6 ngân hàng triển khai thí điểm ứng dụng Bộ tiêu chuẩn thẻ chip nội địa và dự kiến chính thức công bố phát hành ra thị trường những chiếc thẻ chip nội địa đầu tiên vào quý I/2019
7 BIDV bị phiên toà sơ thẩm tuyên phải nộp lại trên 1.633 tỷ đồng
Tại bản án sơ thẩm vụ án Phạm Công Danh gây thiệt hại hàng nghìn tỷ đồng tại Ngân hàng VNCB, đã quyết định thu hồi số tiền 1.633.714.696.000 đồng có nguồngốc từ 1.800 tỷ đồng vay của Sacombank mà Phạm Công Danh dùng để trả nợ cho
2 khoản vay của Tập đoàn Thiên Thanh tại BIDV như là yếu tố “vật chứng”
Sự kiện này gây chú ý đặc biệt đối với ngành ngân hàng và luật sư trong lĩnh vực này Trong cáo trạng của Viện Kiểm sát cấp cao tại Tp Hồ Chí Minh phục vụ phiên toà phúc thẩm, đã đề nghị Hội đồng xét xử phải kiến nghị cơ quan cảnh sát điều tra Bộ Công an, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao “làm rõ hậu quả của việc thu hồi số tiền hơn 1.633 tỷ đồng” nói trên, nếu toà phúc thẩm tuyên tương tự như bản
án sơ thẩm
Quyết định cuối cùng của vấn đề này sẽ ngã ngũ vào ngày 25/12/2018
8 Hai ngân hàng công bố chính thức áp dụng basel II
Trang 11Mặc dù chuẩn mực basel II đã được thí điểm áp dụng ở 10 ngân hàng cách đây 5 năm nhưng có vẻ như tiến trình này bị đình trệ ở một số đơn vị do không đủ khả năng để theo đuổi.
Điều gây ngạc nhiên, trong số 10 ngân hàng có tên tuổi lớn nhất hệ thống từng thí điểm basel II thì hai ngân hàng áp dụng sớm nhất lại là VIB và Vietcombank.Basel II được biết đến như là chuẩn mực hiện đại, phổ biến ở hệ thống ngân hàng hiện đại trên thế giới Tuy nhiên, đó cũng là rào cản khắt khe về an toàn vốn và cáctiêu chí phòng ngừa rủi ro tín dụng, rủi ro thị trường, rủi ro hoạt động, không dễ vượt qua
9 Chính phủ ban hành Nghị định 116 về tín dụng “tam nông”
Ngày 7/9/2018, Chính phủ ban hành Nghị định số 116/2018/NĐ-CP về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 55/2015/NĐ-CP ngày 9/6/2015 về chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn
Điểm mới ở Nghị định 116 là tăng gấp đôi mức cho vay không cần tài sản bảo đảmđối với hộ nông dân, chủ trang trại Cùng một loạt cơ chế mới như: cho vay tối đa 70% tổng mức dự án (không thế chấp), cho phép dùng tài sản trên đất nông nghiệp (nhà kính, nhà lưới…) để thế chấp, Chính phủ muốn trợ lực cho mục tiêu “nông nghiệp sạch” và “ứng dụng công nghệ cao” đã đề cập nhiều lần trước đó
10.Thống đốc Lê Minh Hưng đứng thứ 5 về “tín nhiệm cao” trong khối lãnh đạo Chính phủ.
Ngày 25/10, trong khuôn khổ kỳ họp thứ 6 Quốc hội khoá XIV, đã công bố kết quảlấy phiếu tín nhiệm đối với 48 chức danh
Ông Lê Minh Hưng, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước nhận được 339 phiếu “tín nhiệm cao”, 122 phiếu “tín nhiệm” và 11 phiếu “tín nhiệm thấp”
So sánh với 48 chức danh lấy phiếu mà Quốc hội đưa ra, số phiếu “tín nhiệm cao” của Thống đốc đứng thứ 10; đồng thời, đứng thứ 5 về số phiếu “tín nhiệm cao” trong khối Chính phủ
Kết quả này phản ánh dấu ấn điều hành chính sách tiền tệ của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước đã phục vụ hiệu quả các mục tiêu vĩ mô về lạm phát, tăng trưởng
mà Quốc hội giao cho Chính phủ Cùng đó, thể hiện sự kiên định về các mục tiêu khác nội tại của ngành như tái cơ cấu, xử lý nợ xấu và áp dụng các chuẩn mực quản trị hiện đại
Trang 12B CÔNG TY CHỨNG KHOÁN
I LỊCH SỬ HÌNH THÀNH:
Mở đầu bằng việc thành lập Ủy ban Chứng khoán Nhà nước Việt Nam vào ngày 28-11-1996 theo Nghị định số 75/CP của Chính phủ, 2 năm sau đó, thị trường chứng khoán Việt Nam chính thức được khai sinh khi Nghị định số 48/CP của Chính phủ được ký vào ngày 11-7-1998 Ngay trong ngày hôm đó, Chính phủ cũng
ký quyết định thành lập Trung tâm Giao dịch Chứng khoán và sẽ đặt cơ sở tại TP.HCM và Hà Nội Chưa đầy 2 năm sau đó, ngày 28-7-2000, Trung tâm Giao dịch Chứng khoán TP.HCM (TTGDCK TP.HCM) đã chính thức đi vào hoạt động, thực hiện phiên giao dịch đầu tiên với 2 mã cổ phiếu REE và SAM Không lâu sau
đó, Trung tâm Giao dịch chứng khoán (TTGDCK) Hà Nội cũng chính thức ra mắt vào ngày 8/3/2005
Giai đoạn từ 2000-2005 đánh dấu khởi đầu của thị trường chứng khoán, hay còn được coi là giai đoạn chập chững tập đi
Tuy nhiên qua giai đoạn bắt đầu từ năm 2006, khi Luật Chứng khoán được Quốc ban hành và chính thức có hiệu lực từ đầu năm 2007, đã dần cải thiện những bất cập, xung đột với các văn bản pháp lý khác
Về quy mô thị trường, năm 2006 đánh dấu bước nhảy vọt mạnh mẽ khi đạt 22,7% GDP, con số thậm chí tiếp tục tăng mạnh tới mức trên 43% vào năm 2007
Năm 2008 là một năm “thị trường buồn” với mức vốn hóa thị trường giảm mạnh, xuống còn 18% GDP
Qua năm 2009, thị trường bắt đầu hồi phục nhẹ với vốn hóa thị trường đạt 37,71% GDP
II ĐẶC ĐIỂM
11 Đặc điểm về vốn:
Đối với công ty hoạt động trong các lĩnh vực sản xuất kinh doanh, thương mại dịch
vụ thì yêu cầu của pháp luật về vốn cho việc thành lập công ty là không có Tuy nhiên, đối với CTCK lại khác, CTCK muốn thành lập phải đáp ứng yêu cầu về mức vốn pháp định mà luật pháp qui định Ở mỗi nước việc qui định mức vốn này
có thể chung cho một CTCK khi tiến hành đăng ký thành lập (không kể CTCK đó thực hiện một, hai hay tất cả các hoạt động trên thị trường chứng khoán), ví dụ như
Trang 13Hàn quốc, mức vốn tối thiểu cho một CTCK là 50 tỷ won, hoặc có thể qui định riêng cho từng loại hình kinh doanh cụ thể, ví dụ như Việt nam, theo luật chứng khoán có hiệu lực từ 1/1/2007, mức vốn pháp định cho hoạt động môi giới là 25 tỷ VNĐ; tự doanh là 100 tỷ VNĐ… [46] Đây là đặc điểm quan trọng nhất để quyết định CTCK được phép thực hiện hoạt động nào trên thị trường chứng khoán Đặc điểm này nhằm đảm bảo mục tiêu bảo vệ quyền lợi nhà đầu tư.
12.Đặc điểm về nhân sự
Đây là lĩnh vực hoạt động có nghiệp vụ phức tạp, có độ rủi ro cao, mức độ ảnh hưởng tới đời sống kinh tế xã hội lớn nên đòi hỏi nhân viên của CTCK phải là người có trình độ tốt nghiệp đại học trở lên về chuyên ngành ngân hàng, tài chính, thị trường chứng khoán, có tư cách đạo đức nghề nghiệp và có chứng chỉ hành nghề do cơ quan có thẩm quyền cấp
13.Đặc điểm về đội ngũ lãnh đạo
Yêu cầu về đội ngũ lãnh đạo trong bất kỳ lĩnh vực nào đều phải có kiến thức
chuyên môn, có đạo đức trong kinh doanh, không vi phạm pháp luật và có trình độ quản lý Yêu cầu về đội ngũ lãnh đạo ở các CTCK cũng như vậy Tuy nhiên, đối với lĩnh vực chứng khoán, ngoài những yêu cầu trên, đội ngũ lãnh đạo ở các CTCKcòn phải có chứng chỉ hành nghề và phải có giấy phép đại diện do cơ quan có thẩmquyền cấp Và yêu cầu đối với đội ngũ lãnh đạo về trình độ học vấn và kinh
nghiệm công tác phải cao hơn đội ngũ nhân viên
14.Đặc điểm về cơ sở vật chất kỹ thuật.
Khi tiến hành đăng ký hoạt động, CTCK phải đáp ứng yêu cầu về trụ sở phù hợp cho việc kinh doanh chứng khoán Đặc điểm này xuất phát từ đặc điểm của hoạt động kinh doanh chứng khoán là cần phải có sàn giao dịch, ở đó các nhà đầu tư tới
để thực hiện giao dịch mua bán chứng khoán cho mình, tiếp nhận thông tin thị trường Bên cạnh đó, cơ sở vật chất kỹ thuật của công ty chứng khoán còn là hệ thống các trang thiết bị hiện đại phục vụ cho quá trình truyền lệnh của khách hàng, thông báo kết quả giao dịch cũng như giúp khách hàng kiểm tra số dư tài khoản hoặc tìm kiếm thông tin… Ngoài ra, khi thị trường chưa được phi vật chất hoá chứng khoán thì công ty chứng khoán cũng cần phải đảm bảo điều kiện về hệ thống kho két để đảm bảo lưu giữ an toàn chứng khoán cho các nhà đầu tư
15.Đặc điểm về xung đột lợi ích giữa quyền lợi của khách hàng và công ty chứng khoán.
Trang 14Trong lĩnh vực sản xuất kinh doanh hay cung cấp dịch vụ thì lợi ích của khách hàng bao giờ cũng được gắn liền với lợi ích của chính doanh nghiệp và giữa khách hàng với doanh nghiệp không có mâu thuẫn về lợi ích Tuy nhiên, đối với hoạt động của CTCK, bên cạnh việc cung cấp các dịch vụ tốt nhất cho khách hàng thì giữa CTCK và khách hàng đôi khi xảy ra mâu thuẫn về lợi ích Những hoạt động
mà CTCK tiến hành có thể dẫn tới xung đột lợi ích là hoạt động môi giới, tự doanh
và tư vấn đầu tư chứng khoán Do vậy, đặc điểm này tạo ra sự khác biệt trong hoạt động của công ty chứng khoán trên TTCK so với các loại hình kinh doanh trong các lĩnh vực khác
III CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC:
1 CƠ HỘI:
- Mức vốn hóa toàn thị trường đạt gần 4 triệu tỷ đồng: Mức vốn hóa toàn thị
trường đạt 3,96 triệu tỷ đồng, tăng 12,7% so với cuối năm 2017, tương đương 79%GDP năm 2017 và 72% GDP năm 2018, vượt chỉ tiêu đặt ra cho năm 2020 Thanh khoản thị trường cải thiện mạnh với tổng giá trị giao dịch bình quân cổ phiếu, chứng chỉ quỹ đạt 6.547 tỷ đồng/phiên, tăng 29% so với bình quân năm 2017
- Kỳ vọng “nguồn cung” lớn và chất lượng: bước sang năm 2019, mặc dù TTCK tiếp tục nhận được hậu thuẫn sự phát triển ổn định của nền kinh tế vĩ mô trong nước cũng như nền tảng phát triển vững chắc của TTCK năm 2018, nhưng chúng
ta cũng cần cẩn trọng với các tác động từ bên ngoài
- Thúc đẩy triển khai các giải pháp nâng hạng TTCK Việt Nam: năm 2019, Ủy banChứng khoán sẽ tập trung triển khai đồng bộ các giải pháp cả trong ngắn hạn và dài hạn, để tiếp sức cho TTCK phát triển theo chiều hướng lành mạnh, đi vào chiềusâu
2 THÁCH THỨC:
a Ảnh hưởng của Luật chứng khoán đến việc thành lập các công ty chứng khoán:Trong bối cảnh hội nhập kinh tế thế giới phải đòi hỏi chúng ta phải đổi mới hệ thống của mình để có thể cạnh tranh và đương đầu với các công ty nước ngoài Thịtrường chứng khoán cũng không phải đối tượng ngoài lề của các cuộc đổi mới, và đạo luật mới quy định về các vấn đề thị trường chứng khoán như chào bán chứng khoán, công ty đại chúng, thị trường giao dịch chứng khoán, đăng kí, lưu kí, bù trừ,
và thanh toán chứng khoán… Trong đó có các quy định về các vấn đề công ty