Lê Hồng Huyên Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu: Mục đích nghiên cứu: Xây dựng luận cứu khoa học về quản lý du lịch di sản văn hóa, triển khai nghiên cứu thực tế, đưa ra những giải p
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
-o0o -
NGUYỄN PHÚC LƯU
QUẢN LÝ DU LỊCH DI SẢN VĂN HÓA
TRÊN ĐỊA BÀN HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ KINH TẾ
CHƯƠNG TRÌNH ĐỊNH HƯỚNG THỰC HÀNH
Hà Nội – 2014
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
-o0o -
NGUYỄN PHÚC LƯU
QUẢN LÝ DU LỊCH DI SẢN VĂN HÓA
TRÊN ĐỊA BÀN HÀ NỘI
Chuyên ngành: Quản lý kinh tế
Mã số: 60 34 04 10
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ KINH TẾ
CHƯƠNG TRÌNH ĐỊNH HƯỚNG THỰC HÀNH
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS Lê Hồng Huyên
XÁC NHÂN CỦA XÁC NHẬN CỦA CHỦ TỊCH HĐ CÁN BỘ HƯỚNG DẪN CHẤM LUẬN VĂN
Hà Nội – 2014
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi Mọi
số liệu, dữ liệu và các trích dẫn đều mang tính trung thực và có ghi chú nguồn
rõ ràng
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành khóa học và luận văn này, tôi đã được sự quan tâm, giúp
đỡ của nhiều người Tôi xin gửi tới những người giúp đỡ, động viên tôi lời cảm ơn chân thành nhất! Em xin được cảm ơn thầy Lê Hồng Huyên đã tận tình góp ý, hướng dẫn và giúp đỡ em trong suốt quá trình thực hiện đề tài luận văn Đồng thời, cũng xin cám ơn TS Nguyễn Phú Đức - nguyên Phó Tổng cục trưởng - Tổng cục Du lịch Việt Nam đã giúp đỡ tôi trong việc đóng góp ý kiến cho luận văn
Đặc biệt, tôi xin gửi lời tri ân đến vợ tôi, người đã động viên, tạo điều kiện tốt nhất để tôi yên tâm theo và hoàn thành khóa học này
Cuối cùng em xin gửi lời biết ơn chân thành đến tất cả thầy cô đã tận tình truyền đạt những kiến thức trong thời gian khóa học, đến các bạn và những người thân, những người mà ở đây không thể nêu hết tên đã giúp đỡ tôi hoàn thành khóa học này!
Trang 5TÓM TẮT LUẬN VĂN
Tên luận văn: Quản lý du lịch di sản văn hóa trên địa bàn Hà Nội
Tác giả: Nguyễn Phúc Lưu
Giáo viên hướng dẫn: TS Lê Hồng Huyên
Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu:
Mục đích nghiên cứu:
Xây dựng luận cứu khoa học về quản lý du lịch di sản văn hóa, triển khai nghiên cứu thực tế, đưa ra những giải pháp khả thi nhằm hoàn thiện công tác quản lý du lịch di sản văn hóa trên địa bàn Hà Nội, góp phần phát triển du lịch theo Chiến lược phát triển du lịch thủ đô đến 2020, tầm nhìn 2030 Ngoài
ra, xây dựng cơ sở khoa học cho việc hình thành hệ thống và cơ chế quản lý
du lịch di sản văn hóa tại Hà Nội, cả về lý luận và thực tiễn; được các cơ quan quản lý địa phương các cấp và các công ty lữ hành Hà Nội áp dụng, bổ sung, hoàn thiện và phát triển trong tương lai; mở ra hướng nghiên cứu mới về quản
lý trong vùng “tương tác” giữa Du lịch và Di sản văn hóa
Nhiệm vụ nghiên cứu:
Đề tài cần trả lời những câu hỏi sau đây:
- Du lịch di sản văn hóa là gì ?
- Quản lý du lịch di sản văn hóa là gì ?
- Công tác quản lý du lịch di sản văn hóa trên địa bàn Hà Nội ra sao ?
- Làm thế nào để quản lý du lịch di sản văn hóa trên địa bàn Hà Nội đạt hiệu quả tối ưu ?
Trang 6Những đóng góp mới của luận văn:
Trên cơ sở hệ thống hóa tổng quan tình hình nghiên cứu và những vấn
đề cơ bản về quản lý du lịch di sản văn hóa nói chung, thực trạng quản lý du lịch di sản văn hóa trên địa bàn Hà Nội nói riêng Tác giả đã nghiên cứu thực trạng công tác quản lý du lịch di sản văn hóa trên địa bàn Hà Nội, từ đó tìm ra những điểm mạnh, điểm yếu, chỉ ra nguyên nhân của những hạn chế còn tồn tại Trên cơ sở đó, tác giả cũng mạnh dạn đề xuất những giải pháp nhằm hoàn thiện hơn nữa và nâng cao chất lượng công tác quản lý du lịch di sản văn hóa trên địa bàn Hà Nội theo yêu cầu phát triển du lịch chung của nước ta và thế giới hiện nay
Trang 7MỤC LỤC
Danh mục từ viết tắt i
Danh mục các bảng biểu ii
Danh mục các biểu đồ iii
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ QUẢN LÝ DU LỊCH DI SẢN VĂN HÓA 6
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu 6
1.1.1 Nghiên cứu về quản lý du lịch nói chung 6
1.1.2 Nghiên cứu về quản lý du lịch di sản văn hóa 7
1.2 Những vấn đề lý luận cơ bản về quản lý du lịch di sản văn hóa 10
1.2.1 Di sản văn hóa 10
1.2.2 Du lịch di sản văn hóa 21
1.2.3 Quản lý Du lịch di sản văn hóa 25
CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP, CÔNG CỤ VÀ QUI TRÌNH NGHIÊN CỨU 33 2.1 Phương pháp nghiên cứu 33
2.1.1 Những phương pháp tiếp cận 33
2.1.2 Phương pháp nghiên cứu lý thuyết 33
2.1.3 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn 34
2.2 Các công cụ được sử dụng 36
2.2.1 Công cụ tra cứu trực tuyến 36
2.2.2 Các nguồn tư liệu, cơ sở dữ liệu và nguồn số liệu 36
2.2.3 Công cụ mô phỏng nghiên cứu điều tra 36
2.3 Mô tả các chỉ tiêu nghiên cứu, các phương pháp phân tích, tiếp cận được sử dụng trong đề tài 37
2.4 Địa điểm và thời gian thực hiện nghiên cứu 38
Trang 82.5 Quy trình nghiên cứu 39
CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ DU LỊCH DI SẢN VĂN HÓA TRÊN ĐỊA BÀN HÀ NỘI 40
3.1 Tình hình phát triển du lịch di sản văn hóa tại Hà Nội 40
3.1.1 Khái quát về giá trị Di sản văn hóa Hà Nội 40
3.1.2 Tình hình phát huy giá trị di sản văn hóa cho du lịch trên địa bàn Hà Nội 44 3.2 Công tác quản lý Du lịch di sản văn hóa trên địa bàn Hà Nội 59
3.2.1 Về định hướng phát triển Du lịch di sản văn hóa Thủ đô 59
3.2.2 Về xây dựng hệ thống pháp luật và chính sách 60
3.2.3 Tổ chức thực thi chính sách về quản lý Du lịch di sản văn hóa 62
3.2.4 Kiểm tra, giám sát thực thi chính sách pháp luật về Du lịch di sản văn hóa 67
3.2.5 Đánh giá và điều chỉnh chính sách 67
3.3 Những vấn đề cần phải giải quyết 68
3.3.1 Những hạn chế yếu kém trong nội dung quản lý 68
3.3.2 Nguyên nhân hạn chế vướng mắc về phương pháp và công cụ quản lý Du lịch di sản văn hóa trên địa bàn Hà Nội 69
3 4 Phân tích SWOT về Quản lý Du lịch di sản văn hóa Hà Nội 70
CHƯƠNG 4: CÁC GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN LÝ DU LỊCH DI SẢN VĂN HÓA TRÊN ĐỊA BÀN HÀ NỘI 72
4.1 Dự báo về xu hướng phát triển du lịch và du lịch di sản văn hóa trên địa bàn Hà Nội 72
4.1.1 Dự báo tình hình phát triển kinh tế xã hội trên địa bàn Thủ đô 72
4.1.2 Dự báo xu hướng phát triển du lịch của Thủ đô Hà Nội đến năm 2020 73
4.1.3 Dự báo xu hướng phát triển Du lịch di sản văn hóa 75
4.2 Định hướng phát triển Du lịch di sản văn hóa Hà Nội 76
Trang 94.2.1 Du lịch di sản văn hóa Hà Nội phải gắn chặt với phát triển Du lịch di
sản văn hóa Việt Nam và các nước trong khu vực 76
4.2.2 Bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa 77
4.2.3 Phát huy giá trị di sa ̉n văn hóa để phát triển kinh tế du lịch và phát triển kinh tế xã hội nói chung 79
4.2.4 Quảng bá và nâng cao vị thế quốc gia 81
4.3 Một số giải pháp chủ yếu để đạt đƣợc hiệu quả trong quản lý Du lịch di sản văn hóa tại Hà Nội 83
4.3.1 Xây dựng chiến lược phát triển Du lịch di sản văn hóa 83
4.3.2 Xây dựng hệ thống chính sách quản lý Du lịch di sản văn hóa 86
4.3.3 Tổ chức thực hiện chính sách 91
4.3.4 Kiểm tra, giám sát thực thi chính sách 98
4.3.5 Đánh giá và điều chỉnh chính sách 99
KẾT LUẬN 102
TÀI LIỆU THAM KHẢO 104
Trang 10
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
4 SVHTTDL Sở văn hóa thể thao du li ̣ch
5 UNCTAD United Nations Conference on Trade and
Developmet
6 UNESCO United Nations Educational Scientific and
Cultural Organization
8 VH,TT& DL Văn hóa, thể thao và du li ̣ch
Trang 11DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
1 Bảng 3.1 Tổng hợp khách du lịch nội địa đến Hà Nội 44
2 Bảng 3.2 Tổng hợp khách du lịch quốc tế đến Hà Nội 45
Trang 12DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
1 Biểu 3.1 Di tích li ̣ch sử văn hóa Hà Nô ̣i so với cả nước 41
2 Biểu 3.2 Di sản văn hóa thế giới ta ̣i Viê ̣t Nam 42
3 Biểu 3.3 Lễ hô ̣i văn hóa Hà Nô ̣i so với cả nước 43
4 Biểu 3.4 Tổng hợp khách du lịch nội địa đến Hà Nội 44
5 Biểu 3.5 Tổng hợp khách du lịch quốc tế đến Hà Nội 45
6 Biểu 3.6 Lươ ̣t khách đến tham quan từ 2011 đến 2013 48
7 Biểu 3.7 Lươ ̣t khách đến tham quan từ 2011 đến 2013 49
Trang 13MỞ ĐẦU
1 Sự cần thiết của Đề tài
Trên thế giới, du lịch là một xu hướng phổ biến; du lịch toàn cầu liên tục tăng trưởng, là ngành kinh tế quan trọng, đóng góp lớn trong GDP của các quốc gia Du lịch trở thành ngành Kinh tế dịch vụ phát triển nhanh nhất, góp phần vào sự phát triển và thịnh vượng của thế giới, khu vực, quốc gia, đặc biệt ở các nước đang phát triển Du lịch được coi là một trong các phương thức xóa đói, giảm nghèo, giải quyết công ăn việc làm, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Nhu cầu du lịch thế giới ngày càng đa dạng, đa cấp, đa lĩnh vực, hướng tới những giá trị mới thông qua trải nghiệm cá nhân trên cơ sở giá trị văn hóa, giá trị tự nhiên, giá trị sáng tạo và công nghệ Trong các loại hình du
lich như : Du lịch chữa bệnh; Du lịch nghỉ ngơi (giải trí); Du lịch thể thao;
Du lịch văn hóa; Du lịch công vụ; Du lịch tôn giáo; Du lịch thăm hỏi…vv, thì
nổi trội và thu hút du khách hơn cả là các loại hình du lịch bền vững, du lịch xanh, du lịch cộng đồng, du lịch hướng về cội nguồn Văn hóa – Lịch sử, hướng về thiên nhiên (Danh lam – Thắng cảnh) Xét đến cùng thì loại hình
Du lịch di sản văn hóa đã, đang và sẽ phát triển với nhu cầu ngày càng lớn của khách du lịch
Ở Việt Nam, thu nhập từ du lịch ngày càng lớn Sản phẩm du lịch Việt Nam đã từng bước đa dạng hóa, đổi mới không ngừng; nhưng chất lượng chưa cao, thiếu tính độc đáo, đặc sắc, thiếu tính đồng bộ và liên kết, nhiều sản phẩm trùng lặp và vòng đời sản phẩm ngắn Việc khai thác các tài nguyên du lịch nhân văn và tự nhiên đã được triển khai, nhưng do thiếu tầm nhìn dài hạn, thiếu kinh nghiệm, nên chất lượng, hiệu quả, thương hiệu, khả năng cạnh tranh và tính bền vững chưa cao Các di tích di sản văn hóa chưa được bảo tồn đúng mức, chưa được khai thác hết giá trị để phục vụ phát triển du lịch Loại hình Du lịch di sản đã được nêu lên từ 20 năm trước, song chưa được nghiên
Trang 14cứu thấu đáo, chưa triển khai có hiệu quả trong hoạt động cũng như trong quản lý Vấn đề quản lý du lịch di sản đang có nhiều bất cập cả về lý luận và thực tiễn
Di sản văn hóa và tự nhiên của Hà Nội là một hệ thống phong phú về tài nguyên thiên nhiên, tài nguyên Lịch sử - Văn hóa, tất cả đã tạo nên Hà Nội – một vùng đất “Địa linh nhân kiệt” của Việt Nam và Thế giới Hà Nội được Thế giới (UNESCO) công nhận 04 di sản thế giới và hàng ngàn di sản cấp quốc gia, cấp thành phố Hà Nội trong những năm qua đã phát triển du lịch nhanh, mạnh, nhưng hiệu quả chưa cao Các loại hình du lịch đã được đa dạng hóa, nhưng loại hình du lịch di sản văn hóa chưa được hình thành rõ nét, chưa
có sức hút lớn đối với khách du lịch và chưa được quản lý để đạt hiệu quả kinh tế cao, Hà Nội còn lúng túng, chưa có cơ chế cụ thể, quản lý nhà nước thiếu hiệu lực Đã đến lúc cần phải nghiên cứu một cách sâu sắc, toàn diện, có
sở cứu khoa học và thực tiễn về những giá trị nổi trội của di sản văn hóa Hà Nội, tổ chức và quản lý chặt chẽ, hợp lý các hoạt động du lịch di sản văn hóa
để du lịch di sản văn hóa Hà Nội ngày càng hiện đại, chuyên nghiệp, có trọng tâm, trọng điểm, chất lượng, hiệu quả, có thương hiệu và có sức cạnh tranh
Di sản văn hóa phải được giữ gìn, tôn tạo trên nguyên tắc bảo tồn và phát huy những giá trị cốt lõi của di sản Cần phải phân biệt rõ khái niệm di sản văn hóa và sản phẩm du lịch di sản văn hóa Du lịch di sản văn hóa không bán di sản văn hóa, mà chỉ bán sản phẩm du lịch được xây dựng dựa trên giá trị nổi trội của di sản văn hóa Vậy bản chất và biểu hiện thực tiễn ở đây là
gì và quản lý quá trình này diễn ra như thế nào? Vấn đề cơ bản và sâu sắc này chưa được nghiên cứu đầy đủ, dẫn tới nhận thức trong xã hội nhầm lẫn; hậu quả là hoạt động du lịch xâm hại đến di sản văn hóa, làm giảm giá trị di sản văn hóa, cũng chính là hủy hoại giá trị sản phẩm du lịch, làm mất sức hút đối với khách du lịch, dẫn đến quản lý hoạt động du lịch lỏng lẻo, thiếu hiệu lực
Trang 15Trong bối cảnh khác giá trị di sản văn hóa không được khai thác và phát huy đúng mức để đem lại hiệu quả kinh tế cao nhất cho hoạt đông du lịch Mâu thuẫn luật pháp và trách nhiệm công dân giữa giá trị di sản văn hóa trường tồn
và giá trị kinh tế trước mắt thu được, đang là thách thức cam go đối với công tác quản lý du lịch di sản văn hóa Nghiên cứu mối tương tác này đang là vấn
đề cấp thiết và bức bách đối với các nhà quản lý bảo tồn di sản văn hóa và quản lý hoạt động du lịch Nói đến “Tương tác” tức là đứng ở vùng biên, vùng chập của 2 lĩnh vực “Bảo tồn di sản văn hóa” và “Phát triển kinh tế du lịch”, để nghiên cứu các giới hạn cho phép trong mọi hoạt động của phát triển kinh tế du lịch di sản văn hóa và quản lý các hoạt động này Du lịch Hà Nội cần đi đầu trong nghiên cứu khoa học, triển khai thực tế ở lĩnh vực Quản lý
Du lịch di sản văn hóa tại Hà Nội
Với các lý do trên, tôi chọn đề tài nghiên cứu cho Luận văn Thạc sĩ của mình với tên gọi : “ Quản lý Du lịch di sản văn hóa trên địa bàn Hà Nội ”
Đề tài được thiết kế để tập trung trả lời cho câu hỏi nghiên cứu sau: “Cần phải
làm gì để quản lý du lịch di sản văn hóa trên địa bàn Hà Nội đạt được hiệu quả tối ưu ?”
2 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục tiêu:
Xây dựng luận cứu khoa học về quản lý du lịch di sản văn hóa, triển khai nghiên cứu thực tế, Luận văn đưa ra những giải pháp khả thi nhằm hoàn thiện công tác quản lý du lịch di sản văn hóa trên địa bàn Hà Nội, góp phần phát triển du lịch theo Chiến lược phát triển du lịch thủ đô đến 2020, tầm nhìn
2030
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu:
Để thực hiện mục tiêu nghiên cứu đặt ra, đề tài có các nhiệm vụ nghiên cứu sau:
Trang 16- Thứ nhất: Du lịch di sản văn hóa là gì ?
- Thứ hai: Công tác quản lý du lịch di sản văn hóa là gì ?
- Thứ ba: Thực trạng công tác quản lý du lịch di sản văn hóa trên địa bàn Hà Nội ?
- Thứ tư: Cần phải có những giải pháp nào để quản lý du lịch di sản văn hóa trên địa bàn Hà Nội đạt được hiệu quả tối ưu ?
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tương nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu hoạt động Quản lý Du lịch di sản văn hóa trên địa bàn Hà Nội
3.2 Phạm vi nghiên cứu
3.2.1 Về không gian :
Đề tài nghiên cứu các hoạt động quản lý du lịch di sản văn hóa (bao gồm các hoạt động quản lý du lịch di sản văn hóa tại các di sản văn hóa Thế giới) trên địa bàn Hà Nội
3.2.2 Về thời gian :
Đề tài tập trung nghiên cứu tình hình thực trạng quản lý du lịch di sản
văn hóa trong giai đoạn từ năm 2011 cho đến nay (đây là giai đoạn bản lề cho
kế hoạch tiếp sau “2015-2020”) để từ đó đưa ra các giải pháp khả thi trong
quản lý du lịch di sản văn hóa từ nay cho đến năm 2020 và các giai đoạn tiếp theo
4 Phương pháp nghiên cứu
Để đảm bảo tính khoa học và độ tin cậy của đề tài, các phương pháp khoa học sau đây được sử dụng trong quá trình nghiên cứu :
Phương pháp thu thập dữ liệu, tài liệu;
Phương pháp phân tích dữ liệu, tài liệu;
Khảo sát thực tế, so sánh, đối chiếu (thu thập dữ liệu sơ cấp);
Điều tra xã hội học, tham vấn chuyên gia;
Trang 17 Tra cứu tài liệu;
Vẽ bảng biểu, Phân tích, tổng hợp, thống kê, dự báo;
Phân tích SWOT
5 Kết cấu của Luận văn
Ngoài phần mục lục, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung nghiên cứu được trình bày trong 4 chương :
Chương 1 : Tổng quan tình hình nghiên cứu và những vấn đề lý luận cơ
bản về quản lý du lịch di sản văn hóa
Chương 2 : Phương pháp, công cụ và qui trình nghiên cứu
Chương 3 : Thực trạng quản lý du lịch di sản văn hóa trên địa bàn Hà Nội Chương 4 : Các giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý du lịch di sản
văn hóa trên địa bàn Hà Nội
Kết luận
Trang 18CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ QUẢN LÝ DU LỊCH DI SẢN VĂN HÓA
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu
1.1.1 Nghiên cứu về quản lý du lịch nói chung
Trong những năm qua, mặc dù nền kinh tế toàn cầu còn nhiều thách thức cũng như sự thay đổi chính trị trên thế giới đang diễn biến ngày một phức tạp, du lịch vẫn phát triển và thậm chí còn vượt quá cả dự báo dài hạn và
kỳ vọng Sau khi đạt được một cột mốc lịch sử trong năm 2012 với hơn 1.053
tỷ người đi du lịch hàng năm, du lịch duy trì được đà tăng trưởng với mức tăng trưởng 5% vào năm 2013, đã đưa con số người đi du lịch hàng năm lên
tới 1.087 tỷ người (theo báo cáo từ UNWTO,2013) Du lịch quốc tế là ngành
xuất khẩu lớn nhất trên toàn thế giới và là nhân tố quan trọng khi đánh giá tình hình kinh tế của nhiều quốc gia
Du lịch đã trở thành ngành tạo việc làm chủ yếu và khuyến khích đầu tư vào cơ sở hạ tầng, hầu hết đóng góp cải thiện chất lượng cuộc sống của cộng đồng dân cư địa phương cũng như sự thuận lợi cho khách du lịch Tại Việt Nam, theo tính toán của Hội đồng Du lịch và Lữ hành Thế giới, năm 2013, giá trị đóng góp trực tiếp vào GDP của ngành du lịch Việt Nam tăng 7% so với năm 2012 và ước tính sẽ tăng bình quân 6,1% hàng năm tính đến năm 2022
Cho đến nay, ở Việt Nam cũng như trên thế giới đã có rất nhiều nghiên cứu liên quan đến quản lý du lịch nói chung, trong đó: Đề tài NCKH cấp Bộ
năm 2013 “Giải pháp phát triển thương hiệu du lịch Việt Nam” nhằm giải
quyết mục tiêu: làm rõ cơ sở khoa học và đề xuất giải pháp phát triển thương hiệu du lịch Việt Nam đáp ứng xu thế, yêu cầu phát triển của ngành du lịch trong giai đoạn tới Với những đóng góp và sự tăng trưởng của du lịch, hoạt
Trang 19động quản lý nhà nước về du lịch nhận được nhiều sự quan tâm, nghiên cứu Điều này có thể nhận thấy qua số lượng tài liệu có đề cập đến vấn đề này từ các luật lệ, chiến lược phát triển ngành của Chính phủ đến các kế hoạch của địa phương cũng như các tài liệu hướng dẫn về du lịch, các công trình nghiên cứu về du lịch và quản lý nhà nước đối với hoạt động này Có thể kể đến một
số công trình và tài liệu chủ yếu sau: Các chiến lược, chương trình như: Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến 2030 của Thủ
tướng Chính phủ trình bày bối cảnh, quan điểm phát triển, mục tiêu chiến lược, giải pháp, chương trình hành động trong báo cáo tóm tắt và báo cáo tổng
hợp Đối với Hà Nội có “Quy hoạch phát triển du lịch thành phố Hà Nội đến năm 2020, định hướng đến năm 2030” của Ủy ban nhân dân Thành phố Hà
Nội xây dựng nội dung kế hoạch cho phát triển du lịch tại Thành phố Chiến lược ngành hay quy hoạch của Thành phố mang tính định hướng, tổng quát cho sự phát triển của ngành du lịch mà trong đó quản lý nhà nước về kinh tế được đề cập là một trong các nội dung ảnh hưởng đến sự phát triển đó Một số báo cáo, công trình nghiên cứu và một số ấn phẩm trên thế giới từ lâu đã bàn
về vấn đề này như: Elements of Tourism Policy in Developing: Report by the secretariat of UNCTAD, New York: United Nations, 1973 Báo cáo đề cập
đến xu hướng ngày càng phát triển của du lịch quốc tế những nguồn lợi kinh
tế lớn mà du lịch mang lại cho các quốc gia vv
1.1.2 Nghiên cứu về quản lý du lịch di sản văn hóa
Trong nước
Cho đến thời điểm hiện tại chưa có một nghiên cứu riêng và cụ thể nào cho việc quản lý du lịch di sản văn hóa tại Việt Nam nói chung và Hà Nội nói riêng, các nghiên cứu chỉ mang tính chung chung, khái quát đề cập đến việc bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn hóa…vv
Trang 20Nguyễn Thế Hùng, 2007 Phát huy giá trị di tích phục vụ sự nghiệp bảo vệ, xây dựng và phát triển đất nước Tạp chí Di sản văn hóa, số 20: hiện
nay cả nước có trên 4 vạn di tích, trong đó tới hết năm 2006 có 2882 di tích đã được xếp hạng di tích quốc gia và 4286 di tích được xếp hạng di tích cấp tỉnh Tác giả đã nêu rõ: Di tích là những bằng chứng vật chất có ý nghĩa quan trọng, minh chứng về lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước của dân tộc
Di tích giúp cho con người biết được cội nguồn của dân tộc mình, hiểu về truyền thống lịch sử, đặc trưng văn hoá của đất nước và do đó có tác động ngược trở lại tới việc hình thành nhân cách con người Việt Nam hiện đại Ngoài ra, tác giả cũng đã nhận định: Di tích chứa đựng những giá trị kinh tế
to lớn (trị giá nhiều ngàn tỷ đồng) nếu bị mất đi không đơn thuần là mất tài sản vật chất, mà là mất đi những giá trị tinh thần lớn lao không gì bù đắp nổi Tác giả đã chỉ ra được tầm quan trọng trong việc bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa là mục tiêu trước mắt và lâu dài Tuy nhiên, trong khuôn khổ ý kiến đóng góp, tác giả mới chỉ dừng lại ở khía cạnh khuyến nghị
(Theo CINET, 2013), Di sản văn hóa đóng vai trò rất quan trọng trong
việc phát triển du lịch Phát huy và bảo tồn các giá trị văn hóa là hai mặt của một thể thống nhất, có tác động tương hỗ lẫn nhau trong quá trình phát triển của mỗi xã hội mà văn hóa được xem là nền tảng CINET cũng nhận đinh: Du lịch là một ngành kinh tế có định hướng tài nguyên một cách rõ rệt, hay nói một cách khác du lịch chỉ có thể phát triển trên cơ sở khai thác các giá trị tài nguyên du lịch Đứng từ góc độ này, các giá trị văn hóa được xem là dạng tài nguyên du lịch để khai thác tạo ra các sản phẩm du lịch hấp dẫn, khác biệt và
có khả năng cạnh tranh không chỉ giữa các vùng miền, các địa phương trong nước mà còn giữa Việt Nam với các nước trong khu vực và quốc tế Nhận định như trên của CINET là hoàn toàn đúng đắn và nó đã tạo ra một khung tư
Trang 21tưởng nhận thức đối với việc định hình xây dựng các cơ sở pháp lý cho việc bảo tồn, phát triển và quản lý du lịch dựa trên cơ sở giá trị di sản văn hóa
Hà Nội
Nguyễn Thị Bích Thủy, 2012 Bảo tồn và phát huy Di sản văn hóa Thăng Long – Hà Nội Tạp chí VHNT số 335, tháng 5, Di sản văn hóa Thăng
Long – Hà Nội, nguồn tài nguyên phong phú và đa dạng và có bề dày Tác giả
đã đề cập thực trạng di sản văn hóa Thăng Long – Hà Nội hiên nay: Với khoảng 5.300 di tích, Hà Nội dù cố gắng đến mấy cũng không tránh khỏi tình trạng nhiều di tích đã xuống cấp Trong khi đó, với nguồn ngân sách hạn hẹp, chỉ ưu tiên đầu tư cho các di tích trọng điểm, việc tu bổ các di tích phần lớn dựa vào nguồn vốn xã hội hóa, do vậy việc tu bổ di tích không đồng bộ dẫn đến việc xuống cấp nhanh chóng của các di tích Tác giả đã khuyến nghị giải pháp bảo tồn và phát huy di sản văn hóa Thăng Long – Hà Nội: (i) Đến năm
2020, Hà Nội sẽ trở thành đô thị đa cực, đa trung tâm Gắn với đô thị trung tâm sẽ hình thành và phát triển cụm đô thị bao gồm 5 đô thị vệ tinh và 13 thị trấn Trong các điểm nhấn về đô thị Hà Nội, sẽ hình thành các khu du lịch gắn liền với không gian văn hóa Hà Nội (ii) Đối với di sản văn hóa vật thể cần phải tập trung xây dựng kế hoạch, phân chia theo từng giai đoạn cho công tác bảo tồn, tu bổ, tôn tạo và phát huy các di sản văn hóa (iii) Đối với di sản văn hóa phi vật thể thì cần phải xây dựng và triển khai đề án Tổng kiểm kê văn hóa phi vật thể trên địa bàn Hà Nội, điều tra, sưu tầm văn hóa phi vật thể mang đậm phong cách văn hóa con người Hà Nội (iv) Hoàn thiện các quy chế về hoạt động và sinh hoạt lễ hội, tăng cường công tác quản lý nhà nước, tuyên truyền, nâng cao nhận thức của nhân dân trong sinh hoạt lễ hội Tác giả
đã nêu bật được những vấn đề tồn đọng trong công tác quản lý, bảo tồn các di sản văn hóa cũng như việc phát huy các di sản văn hóa vẫn còn bị hạn chế Các giải pháp của tác giả cũng rất thiết thực trước tình hình thực tế Tuy
Trang 22nhiên, việc bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa cần phải có chính sách đặc biệt cũng như để thực hiện và triển khai tốt chính sách thì cần phải có sự thông suốt của các cấp chính quyền và toàn xã hội Trong khuôn khổ giới hạn trình bày, tác giả đã đưa ra được một số thực trạng và khuyến nghị mang tính tổng quát
Có thể nói cho đến nay chưa có nghiên cứu sâu nào được thực hiện về việc quản lý du lịch di sản văn hóa Hà Nội Vì thế, luận văn này sẽ góp phần lấp đầy khoảng trống đó và sẽ tiếp tục nghiên cứu nhằm vừa bảo tồn và vừa phát huy giá trị của các di sản văn hóa Ngoài ra, luận văn cũng nghiên cứu cách quản lý du lịch di sản văn hóa để khai thác giá trị của các di sản văn hóa một cách có hiệu quả nhằm nâng tầm các giá trị cốt lõi của di sản văn hóa, tạo sức hút đối với du khách trong và ngoài nước tới thăm quan và du lịch tại các điểm đến, tạo ra nguồn thu trực tiếp cho các di sản cũng như tạo ra sự phát triển kinh tế chung cho cộng đồng địa phương nơi có các Di sản văn hóa
1.2 Những vấn đề lý luận cơ bản về quản lý du lịch di sản văn hóa
1.2.1 Di sản văn hóa
1.2.1.1 Khái niệm Di sản văn hóa
“nguồn:http://www.unesco.org/culture”
Theo Công ước di sản thế giới thì di sản văn hóa là:
Các di tích: Các tác phẩm kiến trúc, tác phẩm điêu khắc và hội họa,
các yếu tố hay các cấu trúc có tính chất khảo cổ học, ký tự, nhà ở trong hang
đá và các công trình sự kết hợp giữa công trình xây dựng tách biệt hay liên
kết lại với nhau mà do kiến trúc của chúng, do tính đồng nhất hoặc vị trí trong cảnh quan, có giá trị nổi bật toàn cầu xét theo quan điểm lịch sử, nghệ thuật
và khoa học
Các di chỉ: Các tác phẩm do con người tạo nên hoặc các tác phẩm có
sự kết hợp giữa thiên nhiên và nhân tạo và các khu vực trong đó có các di chỉ
Trang 23khảo cổ có giá trị nổi bật toàn cầu xét theo quan điểm lịch sử, thẩm mỹ, dân tộc học hoặc nhân học
Khái niệm Di sản văn hóa của Unesco: Di sản văn hóa bao gồm di
sản văn hóa vật thể và di sản văn hóa phi vật thể, trong đó:
- Di sản văn hóa vật thể: đình, đền , chùa, lăng mộ, nhà ở, thành
quách, di tích khảo cổ, vụ đắm tàu, di tích dưới nước, thành phố cổ chìm dưới nước, nón, quạt, bức tranh, tác phẩm điêu khắc, tiền xu, bản thảo vv
- Di sản văn hóa phi vật thể: các biểu tượng trương bày và không sờ
thấy được của văn hóa được lưu truyền và biến đổi qua thời gian, với một số quá trình tái tạo của đông đảo cộng đồng Đó là âm nhạc, múa, ngôn ngữ nghi thức, phong tục tập quán, y học, y dược cổ truyền, nấu ăn và các món ăn, lễ hội, bí quyết và các quy trình công nghệ các nghề truyền thống
Di sản văn hóa vật thể và di sản văn hóa phi vật thể gắn bó hữu cơ với nhau, như hai mặt của một tờ giấy, khó mà tách biệt hai loại di sản văn hóa này được
Theo luận Di sản văn hóa nước CHXH chủ nghĩa Việt Nam 2001
(sửa đổi, bổ sung 2009) Di sản văn hóa bao gồm Di sản văn hóa phi vật thể và
di sản văn hóa vật thể, là sản phẩm tinh thần, vật chất có giá trị về lịch sử, văn hoá, khoa học được lưu truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác ở nước Cộng hoà XHCN Việt Nam, trong đó :
Di sản văn hóa phi vật thể là sản phẩm tinh thần có giá trị lịch sử, văn
hóa, khoa học, được lưu giữ bằng trí nhớ, chữ viết, được lưu truyền bằng truyền miệng, truyền nghề, trình diễn và các hình thức lưu giữ, lưu truyền khác, bao gồm tiếng nói, chữ viết, tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học, ngữ văn truyền miệng, diễn xướng dân gian, lối sống, nếp sống, lễ hội, bí quyết về nghề thủ công truyền thống, tri thức về y, dược học cổ truyền, về văn hóa ẩm thực,
về trang phục truyền thống dân tộc và những tri thức dân gian khác
Trang 24Di sản văn hóa vật thể là sản phẩm vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa,
khoa học, bao gồm di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia
Di tích lịch sử - văn hóa là công trình xây dựng, địa điểm và các di vật,
cổ vật, bảo vật quốc gia thuộc công trình, địa điểm đó có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học
Danh lam thắng cảnh là cảnh quan thiên nhiên hoặc địa điểm có sự
kết hợp giữa cảnh quan thiên nhiên với công trình kiến trúc có giá trị lịch sử, thẩm mỹ, khoa học
Di vật là hiện vật được lưu truyền lại, có giá trị lịch sử, văn hóa,
khoa học
Cổ vật là hiện vật được lưu truyền lại, có giá trị tiêu biểu về lịch sử,
văn hóa, khoa học, có từ một trăm năm tuổi trở lên
Bảo vật quốc gia là hiện vật được lưu truyền lại, có giá trị đặc biệt quý
hiếm tiêu biểu của đất nước về lịch sử, văn hóa, khoa học
Bản sao di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia là sản phẩm được làm giống
như bản gốc về hình dáng, kích thước, chất liệu, màu sắc, trang trí và những đặc điểm khác
Sưu tập là một tập hợp các di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia hoặc di sản
văn hóa phi vật thể, được thu thập, gìn giữ, sắp xếp có hệ thống theo những dấu hiệu chung về hình thức, nội dung và chất liệu để đáp ứng nhu cầu tìm hiểu lịch sử tự nhiên và xã hội
Như vậy, nhìn tổng quan, có thể hiểu , Di sản văn hóa bao gồm các
di sản vật chất và phi vật chất có giá trị về khoa học, lịch sử, văn hóa và tín ngưỡng…vv, của một nhóm xã hội, một hay nhiều quốc gia vv, được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác và hiện nay đang được duy trì trong hiện tại, nó có giá trị và lợi ích cho các thế hệ tương lai
Trang 251.2.1.2 Giá trị Di sản văn hóa
Đối với Việt Nam giá trị di sản văn hóa được quy định như sau:
Công trình xây dựng, địa điểm gắn với sự kiện lịch sử tiêu biểu trong quá trình dựng nước và giữ nước;
Công trình xây dựng, địa điểm gắn với thân thế và sự nghiệp của anh hùng dân tộc, danh nhân của đất nước;
Công trình xây dựng, địa điểm gắn với sự kiện lịch sử tiêu biểu của các thời kỳ cách mạng, kháng chiến;
Địa điểm có giá trị tiêu biểu về khảo cổ;
Quần thể các công trình kiến trúc hoặc công trình kiến trúc đơn lẻ có giá trị tiêu biểu về kiến trúc, nghệ thuật của một hoặc nhiều giai đoạn lịch sử
Hiện vật được lưu truyền lại, có giá trị đặc biệt quý hiếm tiêu biểu của đất nước về lịch sử, văn hóa, khoa học
Sản phẩm tinh thần có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học vv
Theo quan điểm của tác giả, giá trị của di sản văn hóa bao gồm:
các công trình xây dựng được gắn với các sự kiện lịch sử tiêu biểu, thân thế
và sự nghiệp của các anh hùng dân tộc, các di vật khảo cổ - các công trình kiến trúc gắn với các niên đại Ngoài ra, nó cũng bao gồm các sản phẩm tinh thần có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học được lưu trữ bằng trí nhớ, chữ viết, được lưu truyền bằng miệng, truyền nghề, trình diễn và các hình thức lưu giữ, lưu truyền khác
1.2.1.3 Xếp hạng Di sản văn hóa
Các tiêu chuẩn xếp hạng di sản văn hóa:
Theo Quyết định 314 VH/VP, ngày 28/4/1962 của Bộ trưởng Bộ Văn hóa nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã ban hành quy định về việc xếp hạng di tích, danh thắng như sau:
Trang 26Những bất động sản nói trong Nghị định số 519-TTg của Thủ tướng Chính phủ ra ngày 29/10/1957 có những tiêu chuẩn sau đây, trong khi chưa
đủ điều kiện phân loại A, B,C, đều được xếp vào một hạng:
1 Di tích lịch sử: Những di tích liên quan đến những sự kiện lớn về
lịch sử đấu tranh của dân tộc qua các thời kỳ, từ tiền sử đến ngày nay
2 Di tích danh nhân: Di tích của những người đã chết có sự nghiệp
lớn lao góp phần vào lịch sử đấu tranh hay lịch sử văn hóa của dân tộc và thế giới: anh hùng dân tộc, nhà chính trị, nhà khoa học, văn hào, nghệ sĩ…
3 Di tích kiến trúc nghệ thuật: Những công trình kiến trúc điêu khắc
có giá trị tiêu biểu đóng góp vào kho tàng văn hóa dân tộc và thế giới
4 Thắng cảnh: Những khu vực sông núi, hồ biển, những phong cảnh
tươi đẹp nổi tiếng ở trong nước và nước ngoài
5 Di tích khác: Những di tích liên quan mật thiết đến sinh hoạt văn
hóa của địa phương có tác dụng giáo dục tư tưởng, phổ biến văn hóa, khoa học cho nhân dân địa phương
Những dấu vết xưa có giá trị cần giữ gìn làm phong phú cho đời sống văn hóa ở nông thôn hay thành thị
Điều 2 Những động sản nói trong điều 5 của Nghị định số 519-TTg và
được Ty, Sở văn hóa đăng ký, nếu xét có giá trị lịch sử nghệ thuật tiêu biểu cũng đều được xếp hạng
Theo Luật 32/2009/QH12, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của luật di sản văn hoá,
Khoản 1 Điều 28 được sửa đổi, bổ sung như sau:
“1 Di tích lịch sử - văn hóa phải có một trong các tiêu chí sau đây: a) Công trình xây dựng, địa điểm gắn với sự kiện lịch sử, văn hóa tiêu biểu của quốc gia hoặc của địa phương;
b) Công trình xây dựng, địa điểm gắn với thân thế và sự nghiệp của anh hùng dân tộc, danh nhân, nhân vật lịch sử có ảnh hưởng tích cực đến sự phát triển của quốc gia hoặc của địa phương trong các thời kỳ lịch sử;
Trang 27c) Địa điểm khảo cổ có giá trị tiêu biểu;
d) Công trình kiến trúc, nghệ thuật, quần thể kiến trúc, tổng thể kiến trúc đô thị và địa điểm cư trú có giá trị tiêu biểu cho một hoặc nhiều giai đoạn phát triển kiến trúc, nghệ thuật.”
Điều 29 được sửa đổi, bổ sung như sau:
Di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh (sau đây gọi chung là di tích) được xếp hạng như sau:
1 Di tích cấp tỉnh là di tích có giá trị tiêu biểu của địa phương, bao gồm: a) Công trình xây dựng, địa điểm ghi dấu sự kiện, mốc lịch sử quan trọng của địa phương hoặc gắn với nhân vật có ảnh hưởng tích cực đến sự phát triển của địa phương trong các thời kỳ lịch sử;
b) Công trình kiến trúc, nghệ thuật, quần thể kiến trúc, tổng thể kiến trúc đô thị và địa điểm cư trú có giá trị trong phạm vi địa phương;
c) Địa điểm khảo cổ có giá trị trong phạm vi địa phương;
d) Cảnh quan thiên nhiên hoặc địa điểm có sự kết hợp giữa cảnh quan thiên nhiên với công trình kiến trúc, nghệ thuật có giá trị trong phạm vi địa phương
2 Di tích quốc gia là di tích có giá trị tiêu biểu của quốc gia, bao gồm: a) Công trình xây dựng, địa điểm ghi dấu sự kiện, mốc lịch sử quan trọng của dân tộc hoặc gắn với anh hùng dân tộc, danh nhân, nhà hoạt động chính trị, văn hóa, nghệ thuật, khoa học nổi tiếng có ảnh hưởng quan trọng đối với tiến trình lịch sử của dân tộc;
b) Công trình kiến trúc, nghệ thuật, quần thể kiến trúc, tổng thể kiến trúc đô thị và địa điểm cư trú có giá trị tiêu biểu trong các giai đoạn phát triển kiến trúc, nghệ thuật Việt Nam;
c) Địa điểm khảo cổ có giá trị nổi bật đánh dấu các giai đoạn phát triển của văn hóa khảo cổ;
Trang 28d) Cảnh quan thiên nhiên đẹp hoặc địa điểm có sự kết hợp giữa cảnh quan thiên nhiên với công trình kiến trúc, nghệ thuật hoặc khu vực thiên nhiên
có giá trị khoa học về địa chất, địa mạo, địa lý, đa dạng sinh học, hệ sinh thái đặc thù
3 Di tích quốc gia đặc biệt là di tích có giá trị đặc biệt tiêu biểu của quốc gia, bao gồm:
a) Công trình xây dựng, địa điểm gắn với sự kiện đánh dấu bước chuyển biến đặc biệt quan trọng của lịch sử dân tộc hoặc gắn với anh hùng dân tộc, danh nhân tiêu biểu có ảnh hưởng to lớn đối với tiến trình lịch sử của dân tộc;
b) Công trình kiến trúc, nghệ thuật, quần thể kiến trúc, tổng thể kiến trúc đô thị và địa điểm cư trú có giá trị đặc biệt đánh dấu các giai đoạn phát triển kiến trúc, nghệ thuật Việt Nam;
c) Địa điểm khảo cổ có giá trị nổi bật đánh dấu các giai đoạn phát triển văn hóa khảo cổ quan trọng của Việt Nam và thế giới;
d) Cảnh quan thiên nhiên nổi tiếng hoặc địa điểm có sự kết hợp giữa cảnh quan thiên nhiên với công trình kiến trúc , nghê ̣ thuâ ̣t có giá trị đặc biệt của quốc gia hoặc khu vực thiên nhiên có giá trị về địa chất, địa mạo, địa lý,
đa dạng sinh học và hệ sinh thái đặc thù nổi tiếng của Việt Nam và thế giới.”
Luật di sản văn hóa quy định:
1 Thẩm quyền quyết định xếp hạng di tích được quy định như sau: a) Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định xếp hạng di tích cấp tỉnh; b) Bộ trưởng Bộ Văn hóa – Thông tin (nay là Bộ Văn hóa – Thể thao
và Du lịch) quyết định xếp hạng di tích cấp quốc gia ;
c) Thủ tướng Chính phủ quyết định xếp hạng di tích quốc gia đặc biệt ; quyết định việc đề nghị Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc xem xét đưa di tích tiêu biểu của Việt Nam vào Danh mục di sản thế giới
Trang 292 Trong trường hợp di tích đã được xếp hạng mà sau đó có đủ căn cứ xác định là không đủ tiêu chuẩn hoặc bị hủy hoại không có khả năng phục hồi thì người có thẩm quyền quyết định xếp hạng đối với di tích nào có quyền ra quyết định hủy bỏ xếp hạng đối với di tích đó
Thủ tục xếp hạng di tích được quy định như sau:
1 Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh lập hồ sơ di tích trình Bộ trưởng Văn hóa – Thông tin (nay là Bộ Văn hóa – Thể thao và Du lich) quyết định xếp hạng di tích quốc gia ;
2 Bộ trưởng Văn hóa – Thông tin (nay là Bộ Văn hóa – Thể thao và
Du lich) lập hồ sơ di tích trình Thủ tướng Chính phủ quyết định xếp hạng di tích quốc gia đặc biệt; lập hồ sơ di tích tiêu biểu của Việt Nam trình Thủ tướng Chính phủ quyết định việc đề nghị Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc xem xét đưa vào Danh mục di sản thế giới
Hồ sơ trình Thủ tướng Chính phủ phải có ý kiến thẩm định bằng văn bản của Hội đồng di sản văn hóa quốc gia
Nghị định số 92/2002/NĐ-CP, ngày 11-11-2002 của Chính phủ Quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật di sản văn hóa
Trong đó Nghị định cũng quy định: Lựa chọn di sản văn hóa phi vật thể tiêu biểu của Việt Nam để đề nghị Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc công nhận là di sản văn hóa thế giới
1 Di sản văn hóa phi vật thể tiêu biểu được lựa chọn theo các tiêu chí sau đây:
a) Có giá trị đặc biệt về lịch sử, văn hóa, khoa học;
b) Có phạm vi và mức độ ảnh hưởng mang tính quốc gia và quốc tế về lịch sử, văn hóa, khoa học;
c) Phản ánh nguồn gốc và vai trò của di sản văn hóa phi vật thể đối với cộng đồng trong quá khứ và hiện tại;
Trang 30d) Thể hiện bản sắc văn hóa truyền thống độc đáo và là cơ sở cho sự sáng tạo những giá trị văn hóa mới
2 Trình tự, thủ tục lập hồ sơ di sản văn hóa phi vật thể tiêu biểu:
a) Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh tổ chức chỉ đạo việc lập hồ sơ di sản văn hóa phi vật thể tiêu biểu theo đề nghị bằng văn bản của chủ sở hữu và Giám đốc Sở Văn hóa – Thể thao và Du lịch
b) Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh nơi có di sản văn hóa gửi hồ sơ đến Bộ trưởng Bộ Văn hóa – Thể thao và Du lịch để Hội đồng Di sản văn hóa quốc gia tiến hành thẩm định;
c) Trong thời hạn 45 ngày, kể từ ngày nhận được hồ sơ, Hội đồng Di sản văn hóa quốc gia tiến hành thẩm định và có ý kiến bằng văn bản;
d) Bộ trưởng Bộ Văn hóa – Thể thao và Du lịch trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định
3 Hồ sơ về di sản văn hóa phi vật thể tiêu biểu trình Chính phủ xem xét, quyết định
a) Đơn đề nghị của chủ sở hữu di sản văn hóa phi vật thể và văn bản đồng ý của Giám đốc Sở Văn hóa – Thể thao và Du lịch địa phương nơi có di sản văn hóa phi vật thể tiêu biểu ;
b) Các tài liệu về di sản văn hóa phi vật thể tiêu biểu có liên quan theo quy định của Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc (UNESCO) ;
c) Văn bản thẩm định của Hội đồng Di sản văn hóa quốc gia ;
d) Văn bản đề nghị của Bộ trưởng Bộ Văn hóa – Thể thao và Du lịch trình Thủ tướng Chính phủ
Bộ trưởng Bộ Văn hóa – Thể thao và Du lịch hướng dẫn cụ thể việc lập
hồ sơ di sản văn hóa phi vật thể tiêu biểu
Trang 314 Bộ trưởng Bộ Văn hóa – Thể thao và Du lịch có trách nhiệm gửi hồ
sơ di sản văn hóa phi vật thể tiêu biểu sau khi có quyết định của Thủ tướng Chính phủ để đề nghị Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc công nhận là di sản văn hóa thế giới; báo cáo Thủ tướng Chính phủ và thông báo cho Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh và chủ sở hữu di sản văn hóa phi vật thể về quyết định của Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc đối với di sản văn hóa phi vật thể đó
Từ các tiêu chuẩn đánh giá, xếp hạng di sản văn hóa vật thể và phi vật thể ở trên, chúng ta có thể nhận xét một điều rằng: Thứ hạng di sản văn hóa có ý nghĩa to lớn trong việc bảo tồn và phát huy giá trị của nó Do
đó, nghiên cứu các tiêu chí xếp hạng di sản văn hóa là nhằm có đối sách quản lý du lịch di sản văn hóa một cách phù hợp
1.2.1.4 Bảo tồn và phát huy giá trị Di sản văn hóa
Có nhiều khái niệm, định nghĩa về thuật ngữ “bảo tồn” và “phát huy” nhưng để làm rõ hơn khái niệm về bảo tồn và phát huy di sản văn hóa, ta có thể hiểu như sau:
Bảo tồn di sản (heritage preservation) được hiểu như là các nỗ lực nhằm bảo vệ và giữ gìn sự tồn tại của di sản theo dạng thức vốn có của nó
Phát huy di sản (heritage promotion) có nghĩa là những hành động nhằm đưa di sản văn hóa vào trong thực tiễn xã hội, coi đó như là nguồn nội lực, tiềm năng góp phần thúc đẩy sự phát triển xã hội, mang lại những lợi ích vật chất và tinh thần cho con người, thể hiện tính mục tiêu của văn hóa đối với sự phát triển của xã hội
Theo qui định của Luật di sản văn hóa:
Nhà nước khuyến khích và tạo điều kiện cho tổ chức, cá nhân tiến hành hoạt động nghiên cứu, sưu tầm, bảo quản, truyền dạy và giới thiệu di sản văn hóa phi vật thể nhằm gìn giữ, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc và làm giàu kho tàng di sản văn hóa của cộng đồng các dân tộc Việt Nam Cơ quan nhà
Trang 32nước có thẩm quyền phải áp dụng các biện pháp cần thiết để bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể, ngăn chặn nguy cơ làm sai lệch, bị mai một hoặc thất truyền
Nhà nước và xã hội bảo vệ, phát huy những thuần phong mỹ tục trong lối sống, nếp sống của dân tộc; bài trừ những hủ tục có hại đến đời sống văn hóa của nhân dân Có chính sách khuyến khích việc sưu tầm, biên soạn, dịch thuật, thống kê, phân loại và lưu giữ các tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học, ngữ văn truyền miệng, diễn xướng dân gian của cộng đồng các dân tộc Việt Nam để lưu truyền trong nước và giao lưu văn hóa với nước ngoài
Có chính sách khuyến khích việc duy trì, phục hồi và phát triển các nghề thủ công truyền thống có giá trị tiêu biểu; nghiên cứu và ứng dụng những tri thức về y, dược học cổ truyền; duy trì và phát huy giá trị văn hóa ẩm thực, giá trị về trang phục truyền thống dân tộc và các tri thức dân gian khác
Tạo điều kiện duy trì và phát huy giá trị văn hóa của các lễ hội truyền thống; bài trừ các hủ tục và chống các biểu hiện tiêu cực, thương mại hóa trong tổ chức và hoạt động lễ hội Việc tổ chức lễ hội truyền thống phải theo quy định của pháp luật Ngoải ra, tôn vinh và có chính sách đãi ngộ đối với nghệ nhân, nghệ sĩ nắm giữ và có công phổ biến nghệ thuật truyền thống, bí quyết nghề nghiệp có giá trị đặc biệt Việc bảo quản, tu bổ và phục hồi di tích phải được xây dựng thành dự án trình cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt và phải bảo đảm giữ gìn tối đa những yếu tố nguyên gốc của di tích
Bộ trưởng Bộ Văn hóa – Thể thao và Du lịch ban hành quy chế về bảo quản, tu bổ và phục hồi di tích
Theo Luật 32/2009/QH12, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của luật di sản văn hoá,
Điều 17 được sửa đổi, bổ sung như sau:
Nhà nước bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể thông qua các biện pháp sau đây:
Trang 331 Tổ chức nghiên cứu, sưu tầm, kiểm kê, phân loại di sản văn hóa phi vật thể;
2 Tổ chức truyền dạy, phổ biến, xuất bản, trình diễn và phục dựng các loại hình di sản văn hóa phi vật thể;
3 Khuyến khích và tạo điều kiện để tổ chức, cá nhân nghiên cứu, sưu tầm, lưu giữ, truyền dạy và giới thiệu di sản văn hóa phi vật thể;
4 Hướng dẫn nghiệp vụ bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể theo đề nghị của tổ chức, cá nhân nắm giữ di sản văn hóa phi vật thể;
5 Đầu tư kinh phí cho hoạt động bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể, ngăn ngừa nguy cơ làm mai một, thất truyền di sản văn hóa phi vật thể
Điều 26 được sửa đổi, bổ sung như sau:
1 Nhà nước tôn vinh và có chính sách đãi ngộ đối với nghệ nhân có tài năng xuất sắc, nắm giữ và có công bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể thông qua các biện pháp sau đây:
a) Tặng, truy tặng Huân chương, danh hiệu vinh dự nhà nước và thực hiện các hình thức tôn vinh khác;
b) Tạo điều kiện và hỗ trợ kinh phí cho hoạt động sáng tạo, trình diễn, trưng bày, giới thiệu sản phẩm của nghệ nhân;
c) Trợ cấp sinh hoạt hằng tháng và ưu đãi khác đối với nghệ nhân đã được phong tặng danh hiệu vinh dự nhà nước có thu nhập thấp, hoàn cảnh khó khăn
2 Chính phủ ban hành chính sách đãi ngộ đối với nghệ nhân quy định tại điểm b và điểm c khoản 1 Điều này
1.2.2 Du lịch di sản văn hóa
1.2.2.1 Khái niệm về Du lịch di sản văn hóa
Trang 34Theo định nghĩa của Tổ chức bảo tồn di tích quốc gia Trust, Du lịch
di sản văn hóa; “ là hoạt động du lịch để trải nghiệm những địa điểm và các hoạt động này đại diện cho những câu chuyện chân thực của những con người trong quá khứ và hiện tại Nó bao gồm các tài nguyên lịch sử, văn hóa và tự nhiên “
Dịch theo trích nguồn “http://www.preservationnation.org/“ [Ngày truy cập: 1 tháng 8 năm 2014]
Theo tác giả, du lịch Di sản văn hóa là một loại hình du lịch trong đó
hoạt động của nó đem đến cơ hội cho du khách trải nghiệm, hiểu và tận hưởng các giá trị đặc biệt của di sản văn hóa khu vực và thế giới.
Nhận thức được tầm quan trọng của các di sản văn hóa, và bảo tồn lâu dài các di sản, là điều cần thiết cho phát triển du lịch bền vững Hoạt động tham quan các di sản của du khách có thể là một phần hoạt động tham quan trong chương trình du lịch hoặc có thể là hoạt động duy nhất mà du khách dành thời gian nhằm quan tâm và nghiên cứu về các di sản văn hóa
1.2.2.2 Chuyển hóa giá trị di sản văn hóa thành sản phẩm Du lịch di sản văn hóa
Mối quan hệ giữa di sản văn hóa và du lịch di sản văn hóa được coi là mối quan hệ biện chứng, tương hỗ nhau, để di sản có điều kiện phát huy những giá trị, quảng bá rộng rãi hình ảnh tới đông đảo nhân dân, còn du lịch
có thêm những sản phẩm thu hút khách, gia tăng giá trị lợi ích Vậy nên, thay
vì tận dụng khai thác những điểm đến di sản theo lối mòn như trước kia, những người làm du lịch cần phải làm mới mối quan hệ giữa di sản và văn hóa bằng cách đầu tư xây dựng điểm đến sao cho mang lại cảm giác mới, mang tính đặc trưng nhằm đánh thức xúc cảm của du khách
Văn hóa phương Đông đã tạo nên những cảm xúc mạnh mẽ cho du khách
(Sở VHHTTDL Hà Nội, 2013), theo ông Mai Tiến Dũng, Phó Giám đốc
Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch Hà Nội, chúng ta cần nghiên cứu, đầu tư, xây dựng các loại hình, sản phẩm, dịch vụ du lịch phù hợp để đa dạng hóa sản
Trang 35phẩm, tăng khả năng lựa chọn cho khách tại các điểm đến di sản văn hóa Chẳng hạn phát triển hình thức lưu trú tại nhà dân, kết hợp tham quan điểm đến văn hóa với du khảo đồng quê, gắn với các tua du lịch nông nghiệp, du lịch tín ngưỡng, du lịch nâng cao sức khỏe…vv
Giá trị của di sản đối với du lịch là không thể phủ nhận, song nếu chỉ trông vào những thứ sẵn có của di sản thì cả di sản lẫn du lịch sẽ không phát triển Sự hấp dẫn chính là sự đầu tư trở lại cho di sản và cách khai thác, kết nối những giá trị khác với di sản
Di sản văn hóa là tài nguyên của quốc gia do vậy chúng ta không thể bán di sản được, chúng ta chỉ có thể nghiên cứu các giá trị của di sản văn hóa nhằm xem xét những giá trị và đánh giá các giá trị đó thông qua góc nhìn của
du lịch để từ đó quyết định chuyển hóa giá trị đó thành những sản phẩm du lịch (dịch vụ khám phá) để phục vụ cho du khách và để phát triển kinh tế cho ngành du lịch Thủ đô
Thông qua các giá trị của các di sản văn hóa như đã trình bày ở trên, chúng ta có lể lựa chọn những di sản có những giá trị đặc biệt và phù hợp với phát triển du lịch Ngoài ra, nó còn phải hội đủ những yếu tố sau: Có đặc trưng riêng, mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc, có giá trị về lịch sử và niên đại, có sức chứa và có sức hấp dẫn đối với du khách trong và ngoài nước…vv
Chuyển hóa những giá trị trên thành những sản phẩm du lịch, nghĩa
là tạo dựng dịch vụ khám phá di sản để có thể bán được dịch vụ đó cho du khách trong và ngoài nước
1.2.2.3 “Sức chứa” trong Du lịch di sản văn hóa
Khi các giá trị của di sản văn hóa được nâng lên một tầm cao mới thì
nó sẽ có một “ sức hút ” mạnh mẽ đối với du khách trong và ngoài nước Chính
vì vậy lúc này ta cần phải nghiên cứu đến „‟ Sức chứa ‟‟ của nó
Trang 36Khái niệm “ sức chứa” của di sản văn hóa được hiểu từ các khía cạnh:
vật lý, sinh học, tâm lý xã hội và quản lý Tất cả những khía cạnh này có liên quan tới lượng khách đến một địa điểm vào cùng một thời điểm
Đứng ở khía cạnh vật lý, sức chứa ở đây được hiểu là số lượng tối đa khách du lịch mà khu vực có thể tiếp nhận Điều này liên quan đến những tiêu chuẩn về không gian đối với mỗi du khách cũng như nhu cầu sinh hoạt của
họ Sức chứa du khách của một khu du lịch di sản văn hóa là lượng khách tối
đa mà nếu lớn hơn sẽ vượt quá khả năng tiếp nhận của khu, điểm du lịch, chúng bảo đảm cả hai mặt: khách không có điều kiện để khám phá di tích, di tích bị tổn hại do hoạt động quá mức của du khách và tiện nghi mà họ sử dụng gây ra Ví dụ như làm xuống cấp khu du lịch do lượng người chen chúc nhau làm ảnh hưởng đến kiến trúc, kết cấu của các công trình, cảnh quan của công trình bị ảnh hưởng do bị va chạm qua lại và rồi các khu vực tiện tích để phục
vụ khách cũng bị nhanh chóng xuống cấp…vv
Đứng ở khía cạnh sinh học: dưới góc nhìn của sinh thái học, trong một
hệ sinh thái khi số lượng một loài thay đổi đột ngột sẽ dẫn đến tác động làm thay đổi cân bằng của cả hệ sinh thái
Đứng ở kía cạnh xã hội, sức chứa là giới hạn về lượng du khách mà tại
đó bắt đầu xuất hiện những tác động tiêu cực của các hoạt động du lịch đến đời sống văn hoá - xã hội, kinh tế - xã hội của khu vực Cuộc sống bình thường của cộng đồng địa phương có cảm giác bị phá vỡ, xâm nhập Việc phát triển du lịch rất dễ xảy ra sự bất hòa giữa cư dân địa phương và khách du lịch, do truyền thống văn hóa, tập tục sinh hoạt của cư dân địa phương bị du khách chưa có ý thức cao làm xáo trộn, tổn hại
Do vậy quản lý “sức chứa” phù hợp khả năng chịu tải của tài nguyên
và môi trường du lịch và quản lý tác động của hoạt động du lịch căn cứ báo
Trang 37cáo đánh giá tác động môi trường đối với các dự án đầu tư phát triển du lịch tại các khu vực di tích, đặc biệt là di sản thế giới là rất quan trọng
1.2.3 Quản lý Du lịch di sản văn hóa
1.2.3.1 Khái niệm cơ bản và sự cần thiết của quản lý Du lịch di sản văn hóa
Quản lý du lịch di sản văn hóa được hiểu như sau:
Quản lý du lịch di sản văn hóa là một sự tác động có tổ chức, có hướng đích của ngành du lịch nói chung và các cơ quan, ban, ngành chủ quản nói riêng lên hoạt động du lịch di sản văn hóa nhằm mục đích sử dụng có hiệu quả nhất các nguồn lực, các giá trị của tài nguyên di sản văn hóa, các cơ hội phát triển kinh tế du lịch để đạt được mục tiêu đặt ra trong điều kiện môi trường phát triển du lịch luôn biến động
Cũng như nhiều loại hình du lịch khác, du lịch di sản văn hóa cần phải được quản lý tốt để đảm bảo việc khai thác hiệu quả các giá trị di sản văn hóa trong hoạt động du lịch nhằm đạt được hiệu quả kinh tế cao nhưng đồng thời phải đảm bảo không làm tổn hại đến giá trị của các di sản văn hóa, không xâm hại đến di sản văn hóa vv, hài hòa lợi ích và trách nhiệm của các bên tham gia vào quá trình quản lý và phát triển
1.2.3.2 Đặc điểm của quản lý Du lịch di sản văn hóa
Quản lý du lịch di sản văn hóa không chỉ là sự quan tâm đến việc xác định, quản lý và bảo vệ các giá trị di sản, mà còn phải tìm hiểu những tác động của du lịch tới cộng đồng, khu vực tại nơi có các di sản để đạt được lợi ích kinh tế và xã hội, cung cấp nguồn lực tài chính để bảo vệ và quảng bá hình ảnh của di sản (J.M.Fladmark,1994)
Theo nguồn: http://www.culturalheritagetourism.org
Chính vì vậy, khác với quản lý du lịch nói chung, quản lý du lịch di sản văn hóa vừa bảo tồn di sản văn hóa vừa phải phát huy các giá trị di sản nhằm thu
Trang 38hút du khách, đem lại lợi ích kinh tế, xã hội và nâng cao chất lượng cuộc sống cho người dân địa phương
Để thực hiện tốt công tác quản lý du lịch di sản văn hóa chúng ta cần tìm hiểu khái quát về mô hình của quản lý du lịch di sản văn hóa Trước tiên chúng ta cần phải tìm hiểu về mô hình quản lý Nhà nước về du lịch nói chung Trong quản lý nhà nước về du lịch có sự phân cấp quản lý nhà nước về
du lịch cấp trung ương và quản lý nhà nước về du lịch địa phương:
Các cơ quan quản lý Nhà nước về du lịch cấp Trung ương bao gồm:
+ Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch
Quản lý nhà nước về du lịch ở địa phương:
Ở địa phương, trong cơ cấu bộ máy nhà nước cũng có các cơ quan tương
tự như ở cấp trung ương, nhưng chỉ có chức năng quản lý ở địa bàn và chịu sự chỉ đạo của các cơ quan ngành dọc trong cơ cấu bộ máy nhà nước trung ương
Quản lý nhà nước về du lịch di sản văn hóa:
Từ thực tế mô hình của quản lý du lịch nói chung ta có thể xác định mô hình quản lý du lịch di sản văn hóa nói riêng, nhằm quản lý hoạt động du lịch khai thác các giá trị di sản văn hóa và hoạt động này chịu sự giám sát của các cơ quan chuyên môn được phân cấp quản lý từ trung ương đến địa phương:
Các cơ quan quản lý du lịch di sản văn hóa cấp Trung ương bao gồm:
+ Bộ văn hóa thể thao và du lịch
+ Tổng cục du lịch
Trang 39+ Cục Di sản văn hóa
+ Ủy ban Nhân dân cấp tỉnh, thành phố nơi có các di sản văn hóa
+ Các bộ ngành quản lý các lĩnh vực kinh tế xã hội cùng các bộ phận của nó có chức năng quản lý ngành như: Bộ Tài chính, Ngân hàng nhà nước,
Bộ Kế hoạch đầu tư,
+ Các Bộ, ngành hữu quan tạo điều kiện cho phát triển du lịch: Hàng không, Hải quan, Ngoại giao, Công an,
Quản lý nhà nước về du lịch di sản văn hóa ở địa phương:
Cũng tương tự như Quản lý du lịch chung Ở địa phương, trong cơ cấu
bộ máy nhà nước cũng có các cơ quan tương tự như ở cấp trung ương, nhưng chỉ có chức năng quản lý ở địa bàn và chịu sự chỉ đạo của các cơ quan ngành dọc trong cơ cấu bộ máy nhà nước trung ương
1.2.3.2 Nội dung quản lý Du lịch di sản văn hóa
(1) Định hướng quản lý Du lịch di sản văn hóa
+ Nâng cao nhận thức của cộng đồng dân cư về giá trị di sản văn hóa
để cộng đồng nói chung và mỗi người dân nói riêng tự có ý thức trong việc gìn giữ và bảo tồn các di sản văn hóa, coi đó như niềm tự hào của quê hương, đất nước mình
+ Gìn giữ, tôn tạo trên nguyên tắc bảo tồn và phát huy những giá trị cốt lõi của di sản văn hóa, phát huy giá trị di sản văn hóa để phát triển kinh tế du lịch nói riêng và phát triển kinh tế xã hội nói chung
(2) Xây dựng hệ thống pháp luật và chính sách về quản lý du lịch
si ản văn hóa
Để phát triển loại hình du lịch di sản văn hóa thực sự trở thành loại hình du lịch trọng điểm, mũi nhọn thì cần phải có hệ thống chính sách phát triển du lịch di sản văn hóa phù hợp bao gồm chính sách dài hạn và chính sách ngắn hạn và được thể hiện trong chiến lược, quy hoạch, các chương
Trang 40trình, đề án phát triển du lịch của Quốc gia nói chung và được triển khai áp dụng tại các địa phương nói riêng Chính sách phải đảm bảo khuyến khích, huy động tập trung nguồn lực, khai thác tối ưu tiềm năng, thế mạnh của di sản văn hóa Thủ đô; bảo tồn và phát huy được những giá trị truyền thống; nâng cao chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh, tạo động lực thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội Thủ đô Các nhóm chính sách ưu tiên chủ yếu sẽ được trình bày ở Chương 4 của Luận văn
(3) Tổ chức thực thi chính sách về quản lý Du lịch di sản văn hóa
Để thực hiện tốt công tác tổ chức thực thị chính sách về quản lý du lịch
di sản văn hóa thì cần phải triển khai thực hiện tốt theo các bước sau:
- Xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện chính sách quản lý du lịch DSVH
- Phổ biến, tuyên truyền chính sách quản lý du lịch DSVH
- Phân công, phối hợp thực hiện chính sách
- Theo dõi kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện chính sách
- Đánh giá tổng kết rút kinh nghiệm
(4) Kiểm tra, giám sát thực hiện chính sách
Nhằm góp phần thực hiện tốt mục tiêu, phương hướng nhiệm vụ Chính sách quản lý du lịch di sản văn hóa, góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo thì nhiệm vụ công tác kiểm tra, giám sát của các cơ quan thực thi Chính sách phải được tăng cường và nâng cao chất lượng, nhất là vai trò, trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, đơn vị Thông qua công tác kiểm tra, giám sát sẽ giúp các cơ quan thực thi chính sách đánh giá được các mặt ưu, nhược điểm của chính sách, đồng thời chỉ ra những thiếu sót, khuyết điểm để đề xuất bổ sung, khắc phục những thiếu sót của chính sách
(5) Đánh giá và điều chỉnh chính sách