Kiểm toán nhà nước là một trong các cơ quan thực thi chức năng kiểm tra, kiểm soát của Nhà nước, do vậy yêu cầu đặt ra hiện nay đối với cơ quan Kiểm toán nhà nước là cần phải làm gì để q
Trang 1KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU SƠ BỘ LUẬN VĂN THẠC SĨQUẢN LÝ KINH TẾ
CHƯƠNG TRÌNH ĐỊNH HƯỚNG NGHIÊN CỨU
Họ và tên: Đỗ Thị Kim Dung Khóa/lớp: K24 – QLKT 02 Cán bộ hướng dẫn: TS Hoàng Xuân Lâm
Cơ quan: Trường Đại học Công nghệ
LUẬN VĂN THẠC SĨQUẢN LÝ KINH TẾ
CHƯƠNG TRÌNH ĐỊNH HƯỚNG ỨNG DỤNG
Hà Nội –2018
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
-o0o -
ĐỖ THỊ KIM DUNG
QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG KIỂM TOÁN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC CÁC BỘ, NGÀNH TẠI KIỂM TOÁN NHÀ NƯỚC VIỆT NAM
Chuyên ngành: Quản lý Kinh tế
TS HOÀNG XUÂN LÂM
XÁC NHẬN CỦA CHỦ TỊCH HĐ
CHẤM LUẬN VĂN
GS.TS PHAN HUY ĐƯỜNG
Hà Nội –2018
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn này là kết quả nghiên cứu của riêng tôi, chưa được
công bố trong bất cứ một công trình nghiên cứu nào của người khác Việc sử dụng kết quả, trích dẫn tài liệu của người khác đảm bảo theo đúng các quy định Các nội dung trích dẫn và tham khảo các tài liệu, sách báo, thông tin được đăng tải trên các tác phẩm, tạp chí và trang web theo danh mục tài liệu tham khảo của luận văn
Tác giả luận văn
Đỗ Thị Kim Dung
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành được luận văn Thạc sĩ của mình với sự giúp đỡ và chỉ bảo tận tình của các thầy cô giáo, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến các thầy cô của TrườngĐại học Kinh tế - Đại học Quốc Gia Hà Nội đã nhiệt tình truyền đạt kiến thức quý báu cho tôi trong suốt quá trình học tập và hoàn thành Luận văn Thạc sĩ
Đặc biệt tôi xin chân thành cảm ơn Thầy giáo - TS Hoàng Xuân Lâm đã tận tình giúp đỡ, chỉ bảo và hướng dẫn tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành Luận văn
Nhân dịp này tôi xin chân thành cảm ơn các Vụ, phòng, bancủa cơ quan Kiểm toán Nhà nước, Kiểm toán nhà nước Chuyên ngành II đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu, thu thập số liệu để hoàn thành Luận văn Cuối cùng tôi xin tỏ lòng biết ơn đến gia đình, bạn bè và đồng nghiệp đã tạo mọi điều kiện, giúp đỡ và động viên khuyến khích tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu
Xin trân trọng cảm ơn!
Tác giả
Đỗ Thị Kim Dung
Trang 5MỤC LỤC
Trang
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT i
DANH MỤC CÁC BẢNG ii
DANH MỤC CÁC HÌNH, DANH MỤC BIỂU ĐỒ iii
PHẦN MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1:TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM QUỐC TẾ VỀ QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG KIỂM TOÁN NSNN CÁC BỘ NGÀNH CỦA KIỂM TOÁN NHÀ NƯỚC 5
1.1 Tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan đề tài luận văn 5
1.2 Cơ sở lý luận về quản lý chất lượng kiểm toán NSNN các bộ ngành tại Kiểm toán nhà nước 7
1.2.1 Kiểm toán và chất lượng kiểm toán 7
1.2.2.Quản lý chất lượng kiểm toán 9
1.2.3 Các tiêu chí đánh giá quản lý chất lượng kiểm toán NSNN 24
1.2.4 Các nhân tố ảnh hưởng quản lý chất lượng kiểm toán NSNN 25
1.3 Kinh nghiệm quốc tế về quản lý chất lượng kiểm toán của một số nước và rút ra bài học cho quản lý chất lượng kiểm toán NSNN các bộ ngành tại KTNN Việt Nam 27
1.3.1.Kinh nghiệm quản lý chất lượng kiểm toán của một số nước 27
1.3.2.Những bài học kinh nghiệm cho quản lý chất lượng kiểm toán NSNN các bộ ngành tại KTNN Việt Nam 30
CHƯƠNG 2:PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 32
2.1 Thiết kế nghiên cứu 32
2.2 Phương pháp nghiên cứu 33
2.2.1 Phương pháp thu thập thông tin 33
2.2.2 Phương pháp xử lý thông tin 34
CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG KIỂM TOÁN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC CÁC BỘ, NGÀNH TẠIKIỂM TOÁN NHÀ NƯỚC VIỆT NAM 38
Trang 63.1 Khái quát về Kiểm toán nhà nước Việt Nam và các nhân tố ảnh hưởng đến quản lý chất lượng kiểm toán ngân sách nhà nước các bộ, ngành tại Kiểm toán nhà nước Việt
Nam 38
3.1.1 Khái quát về Kiểm toán nhà nước Việt Nam 38
3.1.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến quản lý chất lượng kiểm toán ngân sách nhà nước các bộ, ngành tại Kiểm toán nhà nước Việt Nam 40
3.2 Phân tích thực tra ̣ng quản lý chất lượng kiểm toán NSNN các bô ̣ ngành ta ̣i kiểm toán nhà nước Việt Nam 43
3.2.1 Lâ ̣p kế hoa ̣ch quản lý chất lượng kiểm toán NSNN các bô ̣ ngành ta ̣i kiểm toán nhà nước Việt Nam 43
3.2.2 Triển khai kế hoạch quản lý chất lượng kiểm toán NSNN các bô ̣ ngành ta ̣i kiểm toán nhà nước Việt Nam 46
3.2.3 Kiểm tra , giám sát quản lý chất lượng kiểm toán NSNN các bộ ngành tại kiểm toán nhà nước Việt Nam 61
3.3 Đánh giá thực tra ̣ng quản lý chất lượng kiểm toán NSNN các bô ̣ ngành ta ̣i KTNN Việt Nam 62
3.3.1 Những kết quả đa ̣t được 62
3.3.2 Những hạn chế, tồn tại 70
3.2.3 Nguyên nhân của những tồn ta ̣i, hạn chế 77
CHƯƠNG 4: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG KIỂM TOÁNNGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC CÁC BỘ, NGÀNH TẠIKIỂM TOÁNNHÀ NƯỚC VIỆT NAM 81
4.1 Căn cứ đưa ra giải phápvà quan điểm định hướng quản lý chất lượng kiểm toán NSNN các bộ, ngành 81
4.1.1 Căn cứ đưa ra giải pháp 81
4.1.2 Quan điểm định hướng hoàn thiện quản lý chất lượng kiểm toán NSNN các bộ, ngành 81
4.2 Một số giải pháp hoàn thiện quản lý chất lượng kiểm toán Đoàn kiểm toán ngân sách nhà nước các bộ, ngành tại KTNN Việt Nam 83
Trang 74.2.1 Hoàn thiện việc xây dựng và vận hành tổ chức bộ máy quản lý chất lượng kiểm
toán của Tổ quản lý CLKT, Đoàn kiểm toán 83
4.2.2 Hoàn thiện việc xây dựng kế hoạch, xây dựng và thực thi chính sách, thủ tục quản lý chất lượng kiểm toán 86
4.2.3 Hoàn thiện việc sử dụng hình thức và phương pháp quản lý CLKT tại Đoàn kiểm toán ngân sách nhà nước bộ, ngành 89
4.2.4 Hoàn thiện việc quản lý chất lượng kiểm toán trong các giai đoạn của quy trình kiểm toán 90
4.2.5 Hoàn thiện chính sách đào tạo, quản lý chất lượng KTV về năng lực và đạo đức nghề nghiệp 95
4.3 Điều kiện thực hiện các giải pháp 96
4.3.1 Về phíaNhà nước 96
4.3.2 Về phía Kiểm toán nhà nước 97
4.3.3 Về phía Kiểm toán nhà nước chuyên ngành 98
4.3.4 Về phía Đoàn Kiểm toán ngân sách nhà nước các bộ, ngành 98
KẾT LUẬN 99
TÀI LIỆU THAM KHẢO 100
Trang 8DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
1 ASOSAI Tổ chức các cơ quan Kiểm toán tối cao châu Á
2 BBKT Biên bản kiểm toán
3 BBXNSL Biên bản xác nhận số liệu
4 BCKT Báo cáo kiểm toán
5 BCTC Báo cáo tài chính
6 BCQT Báo cáo quyết toán
7 CLKT Chất lượng kiểm toán
8 CĐ&KSCLKT Vụ Chế độ và kiểm soát chất lượng kiểm toán
9 INTOSAI Tổ chức các cơ quan Kiểm toán tối cao thế giới
10 KHKT Kế hoạch kiểm toán
11 KTNN Kiểm toán nhà nước
13 KSNB Kiểm soát nội bộ
Trang 935
Kế hoạch quản lý CLKT của KTNN chuyên ngành II
và kế hoạch quản lý CLKT của KTNN đối với KTNN chuyên ngành II
45
Danh mục các văn bản áp dụng đối với đoàn kiểm toán NSNN các bộ, ngành do Tổng KTNN ban hành giai đoạn 2014-2016
5 3.4 Nhu cầu đào tạo chuyên môn nâng ngạch KTV
tại KTNN chuyên ngành II năm 2016 60
Số liệu kiến nghị xử lý tài chính tại đoàn kiểm toán
Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Xây Dựng, Bộ Công Thương năm 2014, 2016
64
8 3.7 Tình hình kiến nghị xử lý tài chính năm 2014 và
Kết quả xử lý tài chính tại các Đoàn kiểm toán NSNN bộ, ngành giai đoạn 2014-2016 của KTNN chuyên ngành II, III
69
Trang 10DANH MỤC CÁC HÌNH
1 1.1 Sơ đồ các cấp độ quản lý chất lượng kiểm toán
Sơ đồ Tổ chức bô ̣ máy và hoạt động của hệ thống bộ máy quản lý CLKT của KTNN và KTNN chuyên ngành
17
3 3.1 Cơ cấu tổ chức của Kiểm toán nhà nước 39
4 3.2 Sơ đồ Tổ chức bô ̣ máy quản lý chất lượng kiểm
toántại đoàn kiểm toán NSNN bộ, ngành 47
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
1 3.1 Các cấp độ quản lý của KTNN và KTNN
Trang 11PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Kiểm toán nói chung là hoạt động dịch vụ tư vấn có tính chuyên môn nghề nghiệp cao Kết quả kiểm toán nhằm xác nhận độ tin cậy, trung thực của các thông tin được kiểm toán và là cơ sở để đưa ra các kiến nghị, ý kiến tư vấn hoàn thiện công tác quản lý Vì vậy, chất lượng kiểm toán có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, quyết định sự tin cậy của người sử dụng kết quả kiểm toán
Kiểm toán Nhà nước Việt Nam được thành lập ngày 11/7/1994 theo Nghị định
số 70/CP để giúp Thủ tướng Chính phủ thực hiện chức năng kiểm tra, xác nhận tính đúng đắn, hợp pháp của tài liệu và số liệu kế toán, báo cáo quyết toán (BCQT) của
cơ quan Nhà nước, các đơn vị sự nghiệp, đơn vị kinh tế nhà nước và các đoàn thể quần chúng, các tổ chức xã hội sử dụng kinh phí do ngân sách nhà nước cấp Chất lượng kiểm toán (CLKT) có ý nghĩa quyết định trong việc khẳng định vị thế, uy tín
và hiệu lực, hiệu quả hoạt động của Kiểm toán nhà nước (KTNN) Do đó, KTNN phải bảo đảm kết quả kiểm toán đáp ứng yêu cầu chất lượng, đáng tin cậy và đã được quản lý chất lượng đầy đủ, thích hợp Chính vì lẽ đó, quản lýCLKT được Tổ chức quốc tế các cơ quan Kiểm toán tối cao (INTOSAI) thừa nhận như một định chế bắt buộc và là trách nhiệm được quy định rõ trong chuẩn mực kiểm toán
Ngân sách nhà nước (NSNN) các bộ, ngành là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước được dự toán và thực hiện trong một khoảng thời gian nhất định do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định để bảo đảm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước tại các bộ, ngành Vai trò của NSNN là hết sức quan trọng,
do vậy đòi hỏi sự cần thiết phải quản lý NSNN nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý NSNN việc sử dụng tài chính, tài sản công tạo động lực phát triển, đổi mới phương thức quản lý NSNN phù hợp với thực tiễn phát triển kinh tế xã hội đất nước Kiểm toán nhà nước là một trong các cơ quan thực thi chức năng kiểm tra, kiểm soát của Nhà nước, do vậy yêu cầu đặt ra hiện nay đối với cơ quan Kiểm toán nhà nước là cần phải làm gì để quản lý hiệu quả chất lượng kiểm toán NSNN cụ thể
là quản lý CLKT NSNN tại các bộ ngành tại KTNN Việt Nam Mặc dù đã xây dựng
Trang 12được hệ thống các quy định, chính sách trong quản lý, quản lýCLKT, cũng như các đơn vị quản lý chuyên trách, tuy nhiênquản lý CLKTnói chung, quản lý CLKTngân sách nhà nướccác bộ, ngành do KTNN Việt Nam thực hiện nói riêng vẫn còn bộc lộ những hạn chế trên một số phương diện làm ảnh hưởng tới chất lượng hoạt động kiểm toán như: hệ thống chính sách và các thủ tục kiểm soát chưa đáp ứng được yêu cầu, tổ chức bộ máy quản lý chưa thực sự hoàn chỉnh, quản lý chất lượng hoạt động kiểm toán còn lúng túng, bất cập v.v Từ thực tế đó, nhiệm vụ quan trọng và cấp thiết hiện nay là nghiên cứu nhằm tìm ra những giải pháp hữu hiệu để hoàn thiện công tác quản lý chất lượng kiểm toán NSNN các bộ, ngành tại KTNN Việt Nam
Đó là lý do chủ yếu mà tác giả đã lựa chọn đề tài: “Quản lý chất lượng kiểm toán
ngân sách nhà nước các bộ, ngành tại Kiểm toán nhà nước Việt Nam”với mong
muốn trên cơ sở phân tích đánh giá thực trạng hoạt động quản lý chất lượng kiểm toán của Đoàn kiểm toán NSNN các bộ ngành tại Kiểm toán Nhà nước Việt Nam trong thời gian qua để đưa ra các kiến nghị, giải pháp nhằm hoàn thiện hơn nữa hoạt động quản lý CLKT ngân sách nhà nước các bộ, ngành tại Kiểm toán nhà nước Việt Nam về mặt thực tiễn và chính sách để đáp ứng các tiêu chuẩn quốc tế trong quá trình hội nhập kinh tế toàn cầu
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
* Mục đích nghiên cứu: đề xuất các giải pháp hoàn thiện công tác quản lý chất
lượng kiểm toán ngân sách nhà nước các bộ, ngành tại Kiểm toán nhà nước Việt Nam nhằm nâng cao chất lượng hoạt động kiểm toán,đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển của cơ quan Kiểm toán nhà nước, đáp ứng sự kỳ vọng của xã hội - hướng tới một nền tài chính minh bạch, công khai, hiệu quả và phát triển bền vững
* Nhiệm vụ nghiên cứu
- Hệ thống hóa, làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý chất lượng kiểm toán tại Đoàn kiểm toán NSNN các bộ, ngành của Kiểm toán nhà nước; kinh nghiệm về quản lý chất lượng kiểm toán của cơ quan KTNN của một số nước trên thế giới
Trang 13- Đánh giá thực trạng về quản lý chất lượng kiểm toán của Đoàn kiểm toán NSNN các bộ, ngành tại Kiểm toán nhà nước Việt Nam, chỉ rõ những kết quả đạt được, xác định những hạn chế, bất cập cần bổ sung, hoàn thiện và nguyên nhân của những hạn chế, bất cập
- Đề xuất quan điểm, giải pháp hoàn thiện quản lý chất lượng kiểm toán của Đoàn kiểm toán NSNN các bộ, ngành tại Kiểm toán nhà nước Việt Nam
* Câu hỏi nghiên cứu
Luận văn tập trung trả lời câu hỏi: Cần phải làm gì (cần có những giải pháp gì?) để hoàn thiện công tác quản lý chất lượng kiểm toán ngân sách nhà nước các
bộ, ngành tại Kiểm toán nhà nước Việt Nam trong thời gian tới
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu:công tác quản lýchất lượng kiểm toán NSNN các bộ,
ngành tại Kiểm toán nhà nước Việt Nam
*Phạm vi nghiên cứu:
-Về nô ̣i dung :Phạm vi nghiên cứu của luận văn là hình thức, phương pháp, quy trình và nội dung quản lý CLKT tại Đoàn Kiểm toán NSNN bộ, ngành trong lĩnh vực kiểm toán báo cáo tài chính (BCTC)do KTNN thực hiện Trong đó, Luận vănchủ yếu đi sâu vàoquản lý CLKT tại đoàn kiểm toán NSNN các bộ, ngành thuộc khối kinh tếdo KTNN Chuyên ngành II chủ trì thực hiện trong giai đoạn 2014-2016gồm Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Xây dựng, Bộ Công Thương, Bộ giao thông vận tải và một số bộ ngành khác thuộc thẩm quyền kiểm toán của KTNN chuyên ngành II Các vấn đề khác về quản lý CLKT tại KTNN chỉ được đề cập với
một liều lượng nhất định để làm rõ hơn đối tượng nghiên cứu
-Về không gian:Đoàn kiểm toán NSNN các bô ̣ ngành của kiểm toán nhà nước Viê ̣t Nam
-Về thời gian: Luận văn tập trung nghiên cứu giai đoạn 2014 – 2016 Từ đó, đề xuất một số giải pháp hoàn thi ện công tác quản lý chất lượng kiểm toán NSNN các
bộ, ngành tại Kiểm toán nhà nước Việt Nam đến năm 2020
Trang 144 Những đóng góp của luận văn
Luận văn đưa ra hướng tiếp cận mới về quản lý chất lượng kiểm toán tại đoàn kiểm toán NSNN các bộ, ngành
Xuất phát từ thực trạng, những hạn chế tồn tại về quản lý CLKT tại đoàn kiểm toán NSNN các bộ, ngành, trên cơ sở đó đưa ra những giải pháp hoàn thiện quản lý chất lượng kiểm toán NSNN các bộ ngành tại KTNN Việt Nam, cụ thể là tại KTNN chuyên ngành II Từ đó nâng cao chất lượng cuộc kiểm toán, nâng cao tính hiệu lực, hiệu quả trong các biên bản kiểm toán và báo cáo kiểm toán
5 Kết cấu của luâ ̣n văn
Ngoài phần mở đầu và kết luâ ̣n, luâ ̣n văn được chia làm 4 chương:
Chương 1: Tổng quan các công trình nghiên cứu, cơ sở lý luâ ̣n vàkinh nghiê ̣m
quốc tế về quản lý chất lượng kiểm toán NSNN các bô ̣ ngành của KTNN
Chương 2:Phương pháp nghiên cứu
Chương 3: Thực tra ̣ng quản lý chất lượng kiểm toán NSNN các bô ̣ ngành ta ̣i
kiểm toán nhà nước Việt Nam
Chương 4:Giải pháp hoàn thiện quản lý chất lượng kiểm toán NSNN các bộ
ngành tại kiểm toán nhà nước Việt Nam
Trang 15CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM QUỐC TẾ VỀ QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG KIỂM TOÁN
NSNN CÁC BỘ NGÀNH CỦA KIỂM TOÁN NHÀ NƯỚC
1.1 Tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan đề tài luận văn
- Đề tài khoa học cấp Bộ năm 2011 “Các giải pháp nâng cao chất lượng kiểm soát hoạt động kiểm toán của Kiểm toán Nhà nước chuyên ngành” do Thạc sỹ Lê Minh Khái (KTNN) làm chủ nhiệm, đề cập đến một số vấn đề lý luận cơ bản về kiểm soát chất lượng kiểm toán; đánh giá thực trạng và hạn chế, tồn tại, chỉ ra một
số nguyên nhân của hạn chế trong công tác kiểm soát chất lượng kiểm toán của KTNN chuyên ngành Đề tài đã đề xuất được một số giải pháp cơ bản nâng cao chất lượng kiểm soát hoạt động kiểm toán của KTNN chuyên ngành, tập trung vào việc quản lý, kiểm soát đối với từng cuộc kiểm toán
- Luận văn thạc sỹ quản lý kinh tế: “Quản lý chất lượng kiểm toán của Kiểm toán nhà nước” của Nguyễn Thị Thúy Nhàn (Trường Đại học kinh tế - Đại học Quốc gia Hà Nội, 2015) nghiên cứu những vấn đề lý luận cơ bản về quản lý chất lượng kiểm toán của KTNN; đánh giá thực trạng, những ưu điểm, hạn chế của quản
lý chất lượng kiểm toán tại Kiểm toán nhà nước; đề xuất các giải pháp phù hợp góp phần nâng cao hiệu quả, chất lượng công tác quản lý của Kiểm toán nhà nước Luận văn đã mang đến những đóng góp không nhỏ với những giải pháp mang tính hữu hiệu, có tính khả thi về quản lý CLKTcho tất cả các lĩnh vực tại KTNN Việt Nam
- Bài viết “Quản lý chất lượng kiểm toán của Kiểm toán Nhà nước - Khó khăn, thách thức và một số giải pháp hoàn thiện” đăng trên trang của Trung ương hội kế toán và kiểm toán Việt Namdo Thạc sĩ Cù Hoàng Diệu - Vụ Chế độ và Kiểm soát Chất lượng kiểm toán (CĐ&KSCLKT) - Kiểm toán Nhà nước trao đổi Theo đó Thạc sĩ Cù Hoàng Diệu đã đưa ra nhận định về tầm quan trọng của chất lượng kiểm toán và việc quản lý CLKT không chỉ là nhiệm vụ thường xuyên mà còn là mục tiêu trọng tâm trong Chiến lược phát triển, cho thấy những khó khăn, thách thức trong
Trang 16quá trình quản lý CLKT Bải viết đã chỉ ra được những giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý CLKT của KTNN nhằm đạt tới mục tiêu phát triển KTNN đến năm 2020 là
"Nâng cao năng lực hoạt động, hiệu lực pháp lý, chất lượng và hiệu quả hoạt động của KTNN như một công cụ hữu hiệu của Nhà nước trong kiểm tra, giám sát quản
lý và sử dụng ngân sách, tiền và tài sản công; xây dựng KTNN có trình độ chuyên nghiệp cao, từng bước hiện đại, trở thành cơ quan kiểm toán tài chính công có trách nhiệm và uy tín, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, phù hợp với các thông lệ và chuẩn mực quốc tế”, đó là những giải pháp ưu tiên hàng đầu đối với KTNN Việt Nam trong bối cảnh hiện nay
- Bài viết “Tiêu chí đánh giá chất lượng cuộc kiểm toán” đăng trên Báo kiểm toán và trang chủ của Kiểm toán nhà nước do Thạc sĩ Dương Đình Ngo ̣c - Vụ Chế
độ và Kiểm soát Chất lượng kiểm toán - KTNN trao đổi Theo Thạc sĩ Dương Đình Ngọc thì chất lượn g kiểm toán là mức đô ̣ đa ̣t được các tiêu chuẩn chung đã đề ra ,
mô ̣t cuô ̣c kiểm toán được coi là có chất lượng khi nó được thực hiê ̣n trên cơ sở bảo đảm tốt các tiêu chí cơ bản như kế hoạch kiểm toán (KHKT) tổng quát; KHKT chi tiết;biên bản kiểm toán (BBKT), báo cáo kiểm toán (BCKT) Trên cơ sở các tiêu chí nêu trên, cần xác đi ̣nh thang điểm cho các tiêu chí Căn cứ vào các tiêu chí nêu trên có thể đánh giá , phân loa ̣i được chất lư ợng các cuộc kiểm to án Bài viết cho thấy đây là một hướng tiếp cận mới, là một trong những biện pháp cần thiết , bước đầu đi sâu vào từng cấp độ quản lý, góp phần tích cực vào việc nâng cao CLKT Các công trình nghiên cứu này có những đóng góp đáng kể trong việc giải quyết vấn đề cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý chất lượng kiểm toán của KTNN nói chung và của KTNN chuyên ngành IInói riêng Ngoài ra, các Báo cáo quản lý chất lượng kiểm toán của Vụ chế độ và Kiểm soát chất lượng kiểm toán, của Tổ quản lý, kiểm soát chất lượng kiểm toán tại KTNN chuyên ngành II; các Báo cáo công tác của các Đoàn công tác học tập kinh nghiệm của KTNN tại các nước cũng
là nguồn tư liệu quý giá liên quan tới công tác quản lý chất lượng kiểm toán NSNN các bộ ngành tại Kiểm toán nhà nước Việt Nam
Trang 17Những công trình nghiên cứu trên đã cho thấy quản lý chất lượng kiểm toán NSNN các bộ, ngành không chỉ là nhiệm vụ thường xuyên mà còn là mục tiêu trọng tâm trong chiến lược phát triển của ngành Do vậy, cần hướng tới nhiệm vụ trọng tâm là nghiên cứu những vấn đề thực tiễn để đưa ra các giải pháp hữu hiệu, mang tính khả thi đối với công tác quản lý chất lượng kiểm toán NSNN các bộ, ngành tại KTNN Việt Nam trong thời gian tới
1.2 Cơ sở lý luận về quản lý chất lượng kiểm toán NSNN các bộ ngành tại Kiểm toán nhà nước
1.2.1 Kiểm toán và chất lượng kiểm toán
1.2.1.1.Kiểm toán
Từ thời Trung cổ, Kiểm toán đã được sử dụng để thẩm tra tính trung thực của các thông tin tài chính Đến những năm 30 của thế kỷ XX, kiểm toán với nghĩa là
“kiểm tra độc lập và bày tỏ ý kiến” được phát triển ở các nước Bắc Mỹ và Tây Âu
Có thể khái quát cách hiểu chủ yếu về kiểm toán như sau: “Kiểm toán là quá trình các chuyên gia độc lập, có thẩm quyền và đạo đức nghề nghiệp tiến hành thu thập và đánh giá các bằng chứng có liên quan đến các thông tin của đơn vị được kiểm toán, nhằm mục đích xác nhận và báo cáo mức độ phù hợp của các thông tin này với các chuẩn mực đã được thiết lập sẵn”
Ở Việt Nam, thuật ngữ “kiểm toán” mới xuất hiện và được sử dụng vào đầu thập kỷ 90 của thế kỷ XX Vì ra đời muộn hơn so với đa số các nước khác trên thế giới nên ở Việt Nam kiểm toán nói chung và khái niệm kiểm toán nói riêng đã kế thừa sự phát triển của kiểm toán trên thế giới Dẫu vậy, ở Việt Nam xung quanh khái niệm kiểm toán vẫn có nhiều ý kiến khác nhau
Luật Kiểm toán nhà nước Việt Nam năm 2015 đưa ra khái niệm về kiểm toán:
“Hoạt động kiểm toán của Kiểm toán nhà nước là việc đánh giá và xác nhận tính đúng đắn, trung thực của các thông tin tài chính công, tài sản công hoặc báo cáo tài chính liên quan đến quản lý, sử dụng tài chính công, tài sản công; việc chấp hành pháp luật và hiệu quả trong việc quản lý, sử dụng tài chính công, tài sản công” (Luật Kiểm toán nhà nước, 2015, trang 2)
Trang 18Từ nghiên cứu sự phát triển của các hoạt động kiểm toán và từ các khái niệm nêu trên, có thể hiểu khái niệm về kiểm toán như sau:Kiểm toán là việc kiểm tra, đánh giá và xác nhận tính đúng đắn, trung thực của các thông tin; kiểm tra, đánh giá tính tuân thủ pháp luật và tính kinh tế, tính hiệu lực, hiệu quả trong quản lý, sử dụng các nguồn lực do một chủ thể độc lập, có năng lực chuyên môn phù hợp (kiểm toán viên, tổ chức kiểm toán) thực hiện trên cơ sở các quy định nghề nghiệp
1.2.1.2 Chất lượng kiểm toán
* Chất lượng
"Chất lượng" là một phạm trù phức tạp và có nhiều định nghĩa khác nhau Trong mỗi lĩnh vực khác nhau, với mục đích khác nhau nên có nhiều quan điểm về chất lượng khác nhau Tuy nhiên, có một định nghĩa về chất lượng được thừa nhận
ở phạm vi quốc tế, đó là định nghĩa của Tổ chức Tiêu chuẩn hoá Quốc tế Theo điều 3.1.1 của tiêu chuẩn ISO 9000:2005 định nghĩa: “chất lượng là mức độ đáp ứng các yêu cầu của một tập hợp có đặc tính vốn có”
* Chất lượng kiểm toán nói chung
Theo Quyết định số 558/QĐ-KTNN ngày 22/3/2016 của Tổng Kiểm toán nhà nước về ban hành Quy chế KSCL kiểm toán có khái niệm: “Chất lượng cuộc kiểm toán phản ánh mức độ thực hiện các mục tiêu kiểm toán, tuân thủ pháp luật, tuân thủ chuẩn mực, quy trình kiểm toán và vận dụng phù hợp các phương pháp chuyên môn, nghiệp vụ nhằm đáp ứng yêu cầu về tính đúng đắn, trung thực, khách quan, kịp thời của kết quả và kết luận kiểm toán, đảm bảo cơ sở pháp lý và tính khả thi của các kiến nghị kiểm toán” (Kiểm toán nhà nước, 2016, trang 2)
Qua nghiên cứu khái niệm CLKT nói chung và vai trò hoạt động của KTNN nước nói riêng, có thể rút ra khái niệm chất lượng kiểm toán của KTNN như sau: Chất lượng kiểm toán của kiểm toán nhà nước là mức độ thoả mãn của các đối tượng sử dụng kết quả kiểm toán về tính khách quan, trung thực và độ tin cậy trong các kết luận, đánh giá và nhận xét của Kiểm toán nhà nước, đồng thời thoả mãn về
các kiến nghị, giải pháp do KTNN đưa ra với chi phí hoạt động kiểm toán hợp lý
* Chất lượng kiểm toán ngân sách nhà nước các bộ ngành
Trang 19Chất lượng kiểm toán NSNN các bộ ngành đạt được hiệu quả tức là cuộc kiểm toán đã đạt được mục tiêu kiểm toán đã đề ra, thể hiện ở mức độ thỏa mãn và sự hài lòng của các đối tượng sử dụng kết quả kiểm toán
Có thể rút ra khái niệm chất lượng kiểm toán NSNN các bộ ngànhnhư sau: Chất lượng kiểm toán NSNN các bộ ngành là mức độ thoả mãn của các đối tượng
sử dụng kết quả kiểm toán về tính khách quan, trung thực và độ tin cậy trong các kết luận, đánh giá và nhận xét của KTNN chuyên ngành về NSNN các bộ ngành, đồng thời thoả mãn về các kiến nghị, giải pháp do KTNN đưa ra với chi phí hoạt động kiểm toán hợp lý
* Bản chất của chất lượng kiểm toán:chất lượng kiểm toán được xem xét trên
hai góc đô ̣ là chất lượng kiểm toán nói chung và chất lượng cuô ̣c kiểm toán CLKT nói chung , gồm chất lươ ̣ng của môi trường quản lý và hoạt động quản lý Chất lượng cuộc kiểm toán được hiểu là việc tuân thủ các cơ chế, chính sách, các quy
định, quy trình nghiệp vụ, đạo đức nghề nghiệp của từng cấp độ quản lý
1.2.2 Quản lý chất lượng kiểm toán
1.2.2.1 Khái niệm, mục tiêu, nguyên tắc quản lý chất lượng kiểm toán NSNN
*Khái niệm
Trong hoạt động kiểm toán của Kiểm toán nhà nước, quản lý chất lượng là
thuật ngữ hàm chứa các chính sách và thủ tục được cơ quan KTNN sử dụng nhằm
bảo đảm công việc kiểm toán được thực hiện với chất lượng cao Do đó “Quản lý chất lượng kiểm toán” trong hoạt động kiểm toán của KTNNcó thể hiểu là thuật
ngữ hàm chứa các chính sách và thủ tục được sử dụng để quản lý, điều hành hoạt động kiểm toán tuân thủ đúng các nguyên tắc, chuẩn mực nghề nghiệp hiện hành và
các tiêu chí chất lượng theo quy định của Kiểm toán nhà nước”
NSNN các bộ ngành là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước được dự toán
và thực hiện trong một khoảng thời gian nhất định do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định để bảo đảm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước tại các bộ, ngành Do vậy, đối với nhiệm vụ cơ quan Kiểm toán nhà nước hiện nay thì quản lý chất lượng kiểm toán NSNN các bộ ngành là nhiệm vụ hết sức quan trọng
Trang 20Việc quản lý chất lượng kiểm toán NSNN các bộ ngành dựa trên các chính sách, thủ tục và hiệu quả sẽ được thể hiện ở kết quả kiểm toán của cuộc kiểm toán
Qua nghiên cứu về kiểm toán NSNN các bộ ngành kết hợp từ các khái niệm
trên, có thể hiểu khái niệm quản lý chất lượng kiểm toán NSNN như sau: “Quản lý chất lượng kiểm toán NSNNlàthuật ngữ hàm chứa các chính sách và thủ tục được sử
dụng để quản lý, điều hành hoạt động kiểm toán NSNN tuân thủ đúng các nguyên tắc, chuẩn mực nghề nghiệp hiện hành và các tiêu chí chất lượng theo quy định của
KTNN”
*Mục tiêu quản lý chất lượng kiểm toán NSNN các bộ, ngành
Mục tiêu quản lý chất lượng kiểm toán NSNN được thể thiện tại các giai đoạn của quy trình kiểm toán: Chuẩn bị kiểm toán; Thực hiện kiểm toán; Lập và gửi Báo cáo kiểm toán, cụ thể:
- Đối với giai đoạn chuẩn bị kiểm toán
Quản lý chất lượng giai đoạn chuẩn bị kiểm toán nhằm kiểm tra để đánh giá các nội dung, các thông tin thu thập được trong quá trình khảo sát có đầy đủ theo quy định tại chuẩn mực, quy trình kiểm toán; nội dung, phương thức đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ (KSNB) đơn vị được kiểm toán có phù hợp và đầy đủ; việc đánh giá rủi ro kiểm toán và xác định các bộ phận trọng yếu có căn cứ vào các tài liệu, thông tin thu thập được và có đúng đắn; mức độ phù hợp của kế hoạch kiểm toán với các chuẩn mực, quy trình kiểm toán, quy chế và tài liệu hướng dẫn do KTNN ban hành Nếu giai đoạn chuẩn bị kiểm toán không đáp ứng được các yêu cầu, tiêu chuẩn nêu trên thì không thể đảm bảo cho một cuộc kiểm toán có chất lượng Vì vậy, quản lý chất lượng kiểm toán trong giai đoạn này đóng vai trò tiên quyết cho chất lượng của cuộc kiểm toán trong các giai đoạn sau
Ví dụ: TạiĐoàn kiểm toán Bộ Công Thương năm 2016: quản lý chất lượng kiểm toán trong giai đoạn này đặt ra yêu cầu KHKT của đoàn kiểm toán phải phản ánh đầy đủ, đúng đắn các thông tin thu thập được trong quá trình khảo sát (cơ cấu tổ chức; chức năng nhiệm vụ; số lượng các đơn vị dự toán:65 đơn vị dự toán trực thuộc gồm 11 đơn vị dự toán cấp II và 54 đơn vị dự toán cấp III; số tổng hợp giao
Trang 21dự toán, phân bổ dự toán; khái quát về tình hình quản lý và sử dụng kinh phí NSNN chi thường xuyên, chi đầu tư phát triển; hệ thống kiểm soát nội bộ ) và các nội dung cần có theo quy định về hồ sơ mẫu biểu mà KTNN quy định: trọng tâm, rủi ro kiểm toán; mục tiêu, nội dung, phương pháp và thủ tục kiểm toán; phạm vi và giới hạn kiểm toán; địa điểm và thời hạn kiểm toán Dựa vào các chuẩn mực, quy trình kiểm toán, quy chế và tài liệu hướng dẫn do KTNN ban hành để tiến hành lập kế hoạch kiểm toán của đoàn kiểm toán Bộ Công thương
- Đối với giai đoạn thực hiện kiểm toán
Quản lý chất lượng giai đoạn thực hiện kiểm toán nhằm:
+ Đánh giá công tác quản lý chất lượng kiểm toán của các cấp quản lý tại đoàn kiểm toán có tuân thủ theo đúng quy định của KTNN, kết quả kiểm toán sau mỗi giai đoạn, mỗi bước công việc của từng KTV có được kiểm tra, giám sát đầy đủ, kịp thời bởi các thành viên cao cấp hơn;
+ Đánh giá việc phân công các nội dungkiểm toán , công việc kiểm toán có được thực hiện phù hợp với chuẩn mực kiểm toán, quy trình kiểm toán, có đạt được các mục tiêu của cuộc kiểm toán đã đặt ra; các giấy tờ làm việc, các bằng chứng kiểm toán chứng minh cho các kết luận, kiến nghị và ý kiến của KTV có được ghi chép đầy đủ, đúng đắn và lưu vào hồ sơ kiểm toán theo đúng quy định
Quản lý chất lượng trong giai đoạn thực hiện kiểm toán là khâu phức tạp và quan trọng nhất trong quản lý các giai đoạn của quy trình kiểm toán Do vậy, quản
lý CLKT trong giai đoạn này cần được tiến hành chặt chẽ, thường xuyên tại các tổ kiểm toán và đoàn kiểm toán
Ví dụ: tại Đoàn kiểm toán Bộ Công thương: trong giai đoạn này Trưởng đoàn đánh giá việc phân công nhiệm vụ cho từng kiểm toán viên (KTV)có phù hợp với năng lực, quy trình, chuẩn mực kiểm toán bằng việc phê duyệt KHKT chi tiết mà tổ trưởng tổ kiểm toán lập trình Trưởng đoàn Công tác quản lý của các cấp quản lý có tuân thủ theo quy định của KTNN như Trưởng đoàn quản lý, giám sát tổ trưởng tổ kiểm toán, tổ trưởng quản lý, giám sát KTV Kết quả kiểm toán của KTV phải được
Trang 22tổ trưởng kiểm tra, giám sát đầy đủ Kết thúc kiểm toán các tổ kiểm toán tại Bộ Công thương lưu hồ sơ kiểm toán theo quy định
- Đối với giai đoạn lập và gửi Báo cáo kiểm toán (Biên bản kiểm toán)
Chất lượng Biên bản kiểm toán (BBKT), Báo cáo kiểm toánlà căn cứ quan trọng để đánh giá chất lượng kiểm toán
Quản lý giai đoạn này nhằm kiểm tra, xem xét các nội dung: Nội dung, phạm
vi và mục tiêu kiểm toán có phù hợp với KHKT của Đoàn; BCKT đã được tổng hợp
có phản ánh đầy đủ kết quả, phát hiện kiểm toán; các ý kiến nhận xét, đánh giá, kết luận trên BCKT có căn cứ dựa trên các bằng chứng kiểm toán, tài liệu làm việc của kiểm toán viên; BCKT có thể hiện đầy đủ các mục tiêu kiểm toán đã đề ra, có phù hợp với chuẩn mực và các quy định về Báo cáo kiểm toán; những kết luận, kiến nghị có khắc phục, xử lý các sai phạm và đáp ứng được yêu cầu thực tế, mang tính khả thi và hiệu quả cho đơn vị được kiểm toán…
- Bên cạnh đó phải quản lý CLKT đối với giai đoạn kiểm tra thực hiện kết luận, kiến nghị kiểm toán.Giai đoạn này làm cơ sở cho việc theo dõi số liệu thực
hiện kiến nghị xử lý tài chính qua các năm
Ví dụ: Đoàn kiểm toán tại Bộ Công thương năm kiểm toán 2016, niên độ kiểm toán năm 2015 sẽ được kiểm tra thực hiện kết luận, kiến nghị kiểm toán vào năm
2017 làm cơ sở cho việc theo dõi số liệu thực hiện kiến nghị xử lý tài chính qua các năm và so sánh với các đoàn kiểm toán NSNN bộ, ngành khác
*Nguyên tắc quản lý chất lượng kiểm toán NSNN các bộ, ngành
- Phải lấy đối tượng sử dụng kết quả kiểm toán làm mục tiêu Tư tưởng chỉ đạo này là cơ sở cho việc tuân thủ các nguyên tắc đạo đức nghề nghiệp của cơ quan KTNN Đối với định hướng phát triển hoạt động kiểm toán cần dựa theo đặc điểm này để xác định mục tiêu là tạo ra môi trường thông tin tài chính kinh tế trong sạch,lành mạnh và đảm bảo quyền lợi của công chúng cũng như tạo lòng tin của công chúng đối với hoạt động kiểm toán NSNN
- Lấy chất lượng và đáp ứng tốt nhất nhu cầu của người sử dụng thông tin tài chính làm hàng đầu cho sự phát triển Nếu hệ thống đảm bảo chất lượng tốt tức đảm
Trang 23bảo rằng trong quá trình kiểm toán, các KTV thực hiện tốt, đầy đủ các bước và thủ tục kiểm toán do đó sẽ giảm thiểu các chi phí cho việc kiểm tra soát xét của các cấp quản lý và chi phí cho việc sửa chữa hoặc tiến hành bổ sung các thủ tục kiểm toán
- Công tác quản lý chất lượng luôn phải tập trung vào yếu tố con người, phát huy năng lực, tinh thần trách nhiệm, sáng tạo của các kiểm toán viên
Cụ thể, tại đoàn kiểm toán Bộ Công Thương, Bộ Xây dựng, Bộ Tài nguyên và Môi trường và một số bộ ngành khác do chuyên ngành II thực hiện:nguyên tắc quản
lý chất lượng kiểm toán dựa trên đối tượng sử dụng kết quả kiểm toán là Quốc hội, Chính Phủ và các cơ quan có liên quan
1.2.2.2 Các cấp độ quản lý chất lượng kiểm toán
Đối với cuộc kiểm toán NSNN bộ ngành, việc quản lý CLKT được thực hiện ở
ba giai đoạn của quy trình kiểm toán: chuẩn bị kiểm toán; thực hiện kiểm toán; lập
và gửi báo cáo kiểm toán Quan hệ quản lý theo chiều dọc, công việc quản lý CLKTđược thực hiện từ dưới lên, theo các cấp độ quản lý CLKT gồm: KTV, Tổ trưởng Tổ kiểm toán, Trưởng đoàn kiểm toán, Kiểm toán trưởng KTNN chuyên ngành, Lãnh đạo KTNN, trong đó:
(1) Kiểm toán viên: KTV phải tự kiểm tra, soát xét kết quả kiểm toán đối với
các phần việc, nội dung kiểm toán được giao theo từng giai đoạn cụ thể
(2) Tổ trưởng Tổ kiểm toán: chịu trách nhiệm kiểm tra, giám sát việc thực hiện
KHKT, quy trình và thủ tục kiểm toán tuân thủ đúng Luật KTNN, quy chế tổ chức
và hoạt động của Đoàn kiểm toán và các quy định của KTNN trong quá trình thực hiện kiểm toán của KTV; đồng thời kiểm tra, soát xét lại các bằng chứng kiểm toán trước khi lập BBKT của Tổ kiểm toán
(3) Trưởng đoàn kiểm toán: có trách nhiệm quản lý CLKT của Đoàn thông
qua việc phân công nhiệm vụ; kiểm tra, giám sát việc thực hiện chuẩn mực, quy trình kiểm toán, KHKT, phương pháp và các thủ tục kiểm toán tại các Tổ kiểm toán; kiểm tra, phê duyệt KHKT chi tiết, kết quả kiểm toán của Tổ kiểm toán
(4) Kiểm toán trưởng KTNN chuyên ngành: có trách nhiệm thực hiện kiểm tra,
soát xét KHKT, quá trình triển khai thực hiện KHKT và quản lý chất lượng kết quả
Trang 24kiểm toán của các Đoàn kiểm toán đảm bảo tuân thủ đúng Luật KTNN, chuẩn mực, quy trình kiểm toán, tiêu chí chất lượng kiểm toán
(5) Lãnh đạo KTNN: Tổng Kiểm toán nhà nước và Phó Tổng Kiểm toán nhà
nước được Tổng KTNN phân công phụ trách KTNN chuyên ngành về lĩnh vực NSNN bộ, ngànhtrực tiếp chỉ đạo, quản lý việc thực hiện công tác kiểm toán của các KTNN chuyên ngành, từ khâu xây dựng KHKT năm đến xét duyệt KHKT, BCKT của cuộc kiểm toán và tổ chức kiểm tra tình hình thực hiện kết luận, kiến nghị kiểm
toán Lãnh đạo KTNN thực hiện quản lý CLKTthông qua các đơn vị tham mưu
Hiện nay, các đơn vị tham mưu giúp Lãnh đạo KTNN quản lý CLKTgồm: Vụ Tổng hợp, Vụ Chế độ và Kiểm soát chất lượng kiểm toán, Vụ Pháp chế, cụ thể:
- Vụ Tổng hợp tham mưu về quản lý KHKT (thẩm định KHKT năm của các KTNN chuyên ngành (khu vực); thẩm định KHKT của đoàn kiểm toán ); thẩm định BCKT; thẩm định, tham mưu giúp Lãnh đạo KTNN xử lý các vấn đề phát sinh trong hoạt động kiểm toán, trả lời các đơn vị về khiếu nại kết quả kiểm toán
- Vụ Chế độ và Kiểm soát chất lượng kiểm toán chịu trách nhiệm kiểm tra, đánh giá việc tuân thủ chuẩn mực, quy trình, phương pháp chuyên môn nghiệp vụ
và kiểm tra việc quản lý hồ sơ, tài liệu kiểm toán
- Vụ Pháp chế thực hiện thẩm định về mặt pháp lý của Báo cáo kiểm toán, kiểm tra việc thực hiện quy chế hoạt động kiểm toán, đạo đức nghề nghiệp KTV; tham mưu, giúp Tổng Kiểm toán nhà nước giải quyết khiếu nại, tố cáo
Ngoài ra, phòng Thư ký - Tổng hợp thuộc Văn phòng KTNN tham gia thẩm định, soát xét KHKT, Báo cáo kiểm toán trước khi trình Lãnh đạo KTNN thông qua hoặc ký phát hành
Qua phân tích trên, có thể khái quát hóa các cấp độ quản lý chất lượng kiểm toán của KTNN (Hình 1.1):
Hình 1.1 Sơ đồ các cấp độ quản lý chất lượng kiểm toán của KTNN
Trang 25(Nguồn: Vụ chế độ và Kiểm soát chất lượng kiểm toán - Kiểm toán nhà nước)
Quan hệ phối hợp kiểm soát
1.2.2.3 Nội dung quản lý chất lượng kiểm toán NSNN các bộ, ngành
a Lập kế hoạch quản lý chất lượng kiểm toán NSNN các bộ, ngành
Để hoạt động quản lý chất lượng kiểm toán NSNNcác bộ, ngành đạt kết quả cao, bước đầu tiên là phải xây dựng được kế hoạch quản lý chi tiết ngay từ đầu mỗi chu kỳ Các vấn đề chính trong xây dựng kế hoạch quản lý bao gồm:
* Việc lập, thẩm định và ban hành kế hoạch quản lý chất lượng kiểm toán năm
để quản lý chất lượng kiểm toán NSNN các bộ, ngành gồm các bước:
- Các KTNN chuyên ngành chủ trì đoàn kiểm toán ngân sách bộ ngành(NSBN) gồm KTNN chuyên ngành Ia, Ib, II, III tiến hành khảo sát và thu thập thông tin về các bộ, ngành được kiểm toán trong năm;
- Các KTNN chuyên ngành (Ia, Ib, II, III)tiến hành lập kế hoạch quản lý CLKT năm dựa trên kế hoạch kiểm toán năm được Tổng KTNN phê duyệt và những văn bản quy định của ngành, gửi Vụ chức năng và trình Lãnh đạo KTNN
Tổng Kiểm toán Nhà nước
Vụ Pháp chế, Vụ Tổng hợp, Phòng TKTH thKiểm toán trưởng KTNN chuyên ngành/Khu vực
Kiểm toán trưởng KTNN Chuyên ngành/Khu vực
Kiểm toán viên
Trang 26- KTNN tổ chức thẩm định, lấy ý kiến cho các dự thảo kế hoạch quản lý chất lượng kiểm toán năm của các KTNN chuyên ngành sau đó tổng hợp chung vào dự thảo kế hoạch quản lý chất lượng kiểm toán năm của toàn ngành, bên cạnh những
dự thảo kế hoạch quản lý chất lượng kiểm toán của các lĩnh vực khác như tài chính ngân hàng, doanh nghiệp, ngân sách địa phương chỉnh sửa và hoàn thiện kế hoạch quản lý chất lượng kiểm toán năm của KTNN;
- Tổng Kiểm toán nhà nước ban hành kế hoạch quản lý CLKT năm
Cụ thể: Dựa trên kế hoạch kiểm toán năm được Tổng KTNN phê duyệt, từng KTNN chuyên ngành tiến hành lập dự thảo kế hoạch quản lý CLKT năm cho riêng
Vụ mình gắn liền với chức năng, nhiệm vụ, lĩnh vực được Tổng KTNN phân công (NSBN gồm 4 chuyên ngành: Ia, Ib, II, III): KTNN chuyên ngành Ia lập dự thảo kế hoạch quản lý CLKT về lĩnh vực quốc phòng (Bộ Quốc Phòng); KTNN chuyên ngành Ib lĩnh vực an ninh, tài chính Đảng (Bộ Công An, lĩnh vực Đảng); KTNN chuyên ngành II lĩnh vực ngân sách bộ ngành thuộc khối kinh tế (Bộ Công Thương,
Bộ Tài chính, Bộ Tài nguyên và Môi trường ); KTNN chuyên ngành III lĩnh vực NSBN thuộc khối văn xã, y tế, giáo dục, thể thao (Bộ Y tế, Bộ Giáo dục và Đào tạo,
Bộ Lao động thương binh và xã hội ) Sau đó, 04 KTNN chuyên ngành sẽ gửi dự thảo kế hoạch tới các Vụ chức năng và trình Lãnh đạo KTNN, KTNN sẽ tổ chức thẩm định, tổng hợp các dự thảo kế hoạch quản lý CLKT của các KTNN chuyên ngành kiểm toán lĩnh vực NSBN cùng những dự thảo kế hoạch quản lý CLKT của các KTNN chuyên ngành/ khu vực kiểm toán lĩnh vực khác thành dự thảo chung của toàn ngành, từ đó hoàn thiện kế hoạch quản lý CLKT năm của KTNN
Căn cứ vào yêu cầu nhiệm vụ của từng đợt kiểm toán, từng đoàn kiểm toán NSNN bộ ngành và kế hoạch kiểm toán năm, lãnh đạo KTNN thành lập tổ quản lý (kiểm soát) chất lượng kiểm toán để trực tiếp soát xét trình tự, thủ tục, các bước công việc mà các đoàn kiểm toán NSNN, các tổ kiểm toán và các kiểm toán viên phải thực hiện và tuân thủ Việc lập kế hoạch quản lý chất lượng kiểm toán NSNN được thực hiện trong cả 03 giai đoạn của quy trình kiểm toán Tổ quản lý CLKT do lãnh đạo KTNN thành lập thuộc các Vụ chức năng (Vụ Chế độ và kiểm soát chất
Trang 27lượng kiểm toán; Vụ Pháp chế ) thực hiện quản lý, kiểm soát hồ sơ sau khi Tổ kiểm toán kết thúc tại đơn vị hoặc quản lý, kiểm soát nóng các tổ, đoàn kiểm toán
* Lập kế hoạch quản lý chất lượng kiểm toán thông qua 05 cấp độ quản lý, kiểm soát gồm: KTV, Tổ trưởng Tổ kiểm toán, Trưởng đoàn kiểm toán, Kiểm toán trưởng KTNN chuyên ngành và lãnh đạo KTNN
b Triển khai thực hiện quản lý chất lươ ̣ng kiểm toán NSNN bộ, ngành
Triển khai thực hiện quản lý chất lượng kiểm toán NSNN là giai đoạn quan trọng trong nội dung quản lý chất lượng kiểm toán NSNN, kết quả thực hiện quản lý chất lượng kiểm toán NSNN có ảnh hưởng quyết định đến chất lượng kiểm toán NSNN Các vấn đề chính cần quản lý chất lượng kiểm toán NSNN bộ, ngành đó là:
* Tổ chức bộ máy và hoạt động của hệ thống bộ máy quản lý chất lượng kiểm toán của Kiểm toán nhà nước và Kiểm toán nhà nước chuyên ngành
Tổ chức công tác quản lý chất lượng kiểm toán được quan tâm ngay từ những năm đầu thành lập và có sự phát triển, nâng cao về chất theo từng năm, theo yêu cầu thực tiễn và cơ cấu tổ chức trong từng giai đoạn phát triển của KTNN Tuy cơ cấu quản lý CLKT cụ thể mỗi giai đoạn là khác nhau nhưng luôn được tổ chức theo nguyên tắc 5 cấp quản lý: KTV, Tổ trưởng, Trưởng Đoàn kiểm toán, Kiểm toán trưởng KTNN chuyên ngành, Lãnh đạo KTNN và tuân thủ chuẩn mực về quản lý CLKT của INTOSAI: “mỗi công việc của cấp dưới đều được kiểm tra của cấp cao hơn” Giúp việc cho Lãnh đạo KTNN trong quản lý CLKT và đạo đức nghề nghiệp KTV là các đơn vị chuyên trách Tại các KTNN chuyên ngành, phòng Tổng hợp có nhiệm vụ tham mưu và giúp Kiểm toán trưởng quản lý CLKT Tổ chức bộ máy và hoạt động của hệ thống bộ máy quản lý CLKT được thể hiện: (Hình 1.2)
Hình 1.2: Sơ đồ Tổ chức bô ̣ máy và hoạt động của hệ thống bộ máy quản
lý chất lượng kiểm toán của KTNN và KTNN chuyên ngành
Trang 28(Nguồn: Vụ chế độ và Kiểm soát chất lượng kiểm toán - Kiểm toán nhà nước)
Chú thích:
Quan hệ chỉ đạo Quan hệ tổng hợp, quản lý Quan hệ đối chiếu
* Việc xây dựng và thực hiện hệ thống chính sách, các văn bản pháp quy của nhà nước, thủ tục quản lý chất lượng kiểm toán của KTNN và KTNNchuyên ngành
Các chính sách,thủ tục mà KTNN phải thiết kế, thực hiện thường dựa trên:
Trưởng Đoàn
kiểm toán
Biên bản kiểm toán
Tổ trưởng Tổ
thảo BBKT của Tổ kiểm toán, Biên bản họp, văn bản chỉ đạo, văn bản giải trình của đơn vị, BCTC, BCQT của đơn vị, các tài liệu khác
BBXNSL và tình hình kiểm toán của KTV Kiểm toán viên
Nhật ký kiểm toán của KTV
Các Vụ tham mưu gồm: Vụ chế độ và KSCL kiểm toán, Vụ Tổng hợp, Vụ Pháp chế, Phòng Thư ký tổng hợp
Kiểm toán Trưởng
KHKT của Đoàn kiểm toán, các dự thảo BBKT, BCTC, BCQT của đơn vị, Biên bản họp thẩm định, xét duyệt của KTNN CN/KV và các đơn vị tham mưu, các tài liệu khác
Báo cáo kiểm toán Tổng KTNN, Phó Tổng KTNN
Trang 29Một là kỹ năng và năng lực chuyên môn, gồm:
- Tuyển dụng (cơ cấu ngành nghề, yêu cầu trình độ năng lực); Đào tạo chuyên môn (đào tạo theo ngạch, bậc, chức danh, cấp độ, lĩnh vực, thiết lập chương trình đào tạo, kiểm tra định kỳ ); Khuyến khích phát triển chuyên môn nghề nghiệp;
- Đề bạt (thiết lập tiêu chuẩn từng cấp: Kiểm toán trưởng, Trưởng Đoàn kiểm toán, Phó Trưởng Đoàn kiểm toán, Tổ trưởng, Kiểm toán viên; tiêu chuẩn ngạch bậc: Kiểm toán viên, KTV chính, KTV cao cấp);
- Đánh giá kết quả công tác của lãnh đạo Vụ, kiểm toán viên theo định kỳ
Hai làtuân thủ nguyên tắc nghề nghiệp
Quy định cụ thể các nguyên tắc nghề nghiệp; tổ chức phổ biến, hướng dẫn, kiểm tra việc thực hiện những chính sách và thủ tục liên quan đến việc tuân thủ các nguyên tắc nghề nghiệp; thiết lập cơ chế quan hệ, thông tin với đơn vị được kiểm toán, cơ quan hữu quan, với công chúng để thu nhận phản hồi về hành vi của KTV
Ba là giao việc
- Bố trí nhân lực, phân công nhiệm vụ cho KTV phải phù hợp với số lượng KTV hiện có; quy mô và tính phức tạp của cuộc kiểm toán; trình độ, năng lực, kinh nghiệm, sở trường của KTV; không có xung đột lợi ích hoặc những yếu tố khác có thể cản trở KTV thực hiện nhiệm vụ ;
- Đảm bảo tính liên tục, luân phiên theo định kỳ và đào tạo kiểm toán viên;
- Đảm bảo tính độc lập: không phân công những KTV có quan hệ kinh tế, quan hệ gia đình hoặc họ hàng với ban lãnh đạo đơn vị được kiểm toán;
Trang 30chuyên môn trước khi kiểm toán tại cuộc kiểm toán NSNN bộ, ngành; thực hiện giám sát ở mọi cấp; thủ tục bảo lưu ý kiến, giải quyết ý kiến bảo lưu của KTV;
- Khuyến khích trao đổi kinh nghiệm, kiến thức và kỹ năng trong các đoàn, tổ kiểm toán và giữa các kiểm toán viên
Năm là tham khảo ý kiến chuyên gia
Quy định về những lĩnh vực, tình huống, trình tự, thủ tục tham khảo ý kiến tư vấn chuyên gia hoặc hội đồng tư vấn; lưu trữ tài liệu về kết quả tham khảo ý kiến chuyên gia; hội thảo chuyên môn có sự tham gia của các chuyên gia
Sáu là sử dụng tài liệu của những cuộc kiểm toán trước, song song và của
những KTV khác như: KTV nội bộ, KTV độc lập… đồng thời phải bảo đảm độ tin cậy khi sử dụng các tài liệu đó Quy định về các trường hợp và trách nhiệm khi sử dụng tài liệu, kết quả làm việc của cơ quan thanh tra, kiểm tra, kiểm toán khác; lưu trữ tài liệu tham khảo của cơ quan thanh kiểm tra, kiểm toán khác
Bảy là tài liệu hoá công việc và lưu trữ
-Chuẩn hoá và mẫu biểu hoá các tài liệu liên quan thành các tài liệu chuyên môn và được công khai, phổ biến đến các KTV
-Quy định về tài liệu lưu trữ khoa học nhằm mục đích thuận tiện cho thực hiện nhiệm vụ, kiểm tra, kiểm soát và tổng hợp thông tin, hạn chế rủi ro
* Quy định các hình thức quản lý chất lượng kiểm toán NSNN bộ, ngành
Quản lý chất lượng kiểm toán là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến CLKT Tùy tiêu thức phân loại mà có những hình thức quản lý CLKT khác nhau, thông thường các hình thức quản lý CLKT được phân loại theo chủ thể và thời điểm quản lý
- Theo chủ thể quản lý gồm: quản lý từ bên trong và quản lý từ bên ngoài
Quản lý từ bên trong cuộc kiểm toán (nội kiểm)là hình thức tự quản lý CLKT
do chủ thể của hoạt động kiểm toán (Đoàn kiểm toán, KTNN chuyên ngành chủ trì cuộc kiểm toán) thực hiện Việc quản lý CLKT là trách nhiệm mà các đơn vị này phải thực hiện để bảo đảm hoạt động kiểm toán được tiến hành đúng theo các nguyên tắc, chuẩn mực, quy trình và các quy định của KTNN
Quản lý từ bên ngoài cuộc kiểm toán (ngoại kiểm)là hình thức quản lý chất
Trang 31lượng kiểm toán do một đơn vị khác, độc lập với chủ thể của hoạt động kiểm toán thực hiện Đơn vị khác ở đây là đơn vị tham mưu chuyên trách của KTNN thực hiện công tác quản lý chất lượng kiểm toán (Vụ Chế độ và Kiểm soát chất lượng kiểm toán) và Lãnh đạo Kiểm toán nhà nước (thông qua các đơn vị tham mưu: Vụ Tổng hợp, Vụ Pháp Chế, Phòng Thư ký tổng hợp thuộc Văn phòng Kiểm toán nhà nước)
Ví dụ: Tại đoàn kiểm toán Bộ Tài nguyên và Môi trường năm 2014 thì chủ thể quản lý từ bên trong cuộc kiểm toán là lãnh đạo KTNN chuyên ngành II, trưởng đoàn kiểm toán tại Bộ Tài nguyên và Môi trường; chủ thể quản lý từ bên ngoài cuộc kiểm toán là Vụ chế độ và kiểm soát chất lượng kiểm toán
- Theo thời điểm quản lý: quản lý trong quá trình và quản lý hồ sơ kiểm toán Quản lý trong quá trình kiểm toán là hình thức quản lý chất lượng kiểm toán trong khi các hoạt động kiểm toán đang triển khai (quản lý các giai đoạn của quy trình kiểm toán) Hình thức quản lý này còn có các tên gọi khác như: quản lý
“nóng”, quản lý đồng thời, quản lý trực tiếp, thông thường hình thức này được các Đoàn kiểm toán thực hiện nhằm bảo đảm chất lượng của hoạt động kiểm toán được thực hiện đúng theo các nguyên tắc, chuẩn mực, quy trình và quy định của KTNN Quản lý hồ sơ kiểm toán là hình thức quản lý chất lượng kiểm toán sau khi báo cáo kiểm toán được phát hành, dựa trên hồ sơ kiểm toán Quản lý hồ sơ còn có các tên gọi khác như: quản lý “nguội”, quản lý sau, quản lý gián tiếp.Hình thức này thường được thực hiện sau khi cuộc kiểm toán kết thúc có mục đích là đánh giá chất lượng các cuộc kiểm toán đã hoàn thành, hiệu lực và hiệu quả hoạt động của hệ thống quản lý chất lượng kiểm toán, rút ra các bài học kinh nghiệm, từ đó xây dựng các biện pháp để củng cố, tăng cường, hoàn thiện hoạt động quản lý CLKT
Ví dụ: Tại đoàn kiểm toán Bộ Công thương năm 2016 được quản lý trong quá trình kiểm toán (quản lý nóng) bởi Vụ Chế độ và kiểm soát CLKT; Đoàn kiểm toán
Bộ Giao thông vận tải năm 2015 được quản lý tại hồ sơ kiểm toán (quản lý nguội, gián tiếp) sau khi cuộc kiểm toán kết thúc bởi Thanh tra KTNN
Các hình thức quản lý trên do lãnh đạo Kiểm toán nhà nước quy định đối với từng cuộc kiểm toán trong từng thời điểm cụ thể
Trang 32* Xây dựng quy trình quản lý chất lượng kiểm toán NSNN bộ, ngành
Quản lý chất lượng kiểm toán tại Đoàn kiểm toán NSNN bộ, ngành được xây dựngtrên cơ sở 03 giai đoạn của quy trình kiểm toán
- Giai đoạn chuẩn bị kiểm toán
Giai đoạn chuẩn bị kiểm toán là giai đoạn tập trung cho khảo sát, thu thập thông tin tại đơn vị được kiểm toán, làm cơ sở cho việc lập KHKT tổng quát, do đó thực hiện quản lý CLKT trong giai đoạn chuẩn bị kiểm toán cũng chính là quản lý chất lượng kiểm toán của KHKT.Nội dung chính cần khảo sát giai đoạn này là:
• Tính đầy đủ, hữu ích các thông tin thu thập được trong quá trình khảo sát; tính hợp lý và đầy đủ về đánh giá hệ thống KSNB đơn vị được kiểm toán; tính thiết thực, khả thi của mục tiêu kiểm toán;
• Xác định mức độ trọng yếu và tính hợp lý của đánh giá rủi ro kiểm toán; sự phù hợp với các tài liệu, thông tin thu thập được, của KHKT với các chuẩn mực, quy trình kiểm toán, quy chế và các tài liệu hướng dẫn của KTNN ban hành; Tính phù hợp của phạm vi, nội dung và trọng tâm kiểm toán; tính phù hợp và khả thi của các bước công việc và phương pháp kiểm toán áp dụng; tính hợp lý của việc bố trí thời gian kiểm toán; tính độc lập của KTV; tính phù hợp trong phân công công việc cho KTV với năng lực, trình độ nghiệp vụ, sở trường của KTV;
• Việc tổ chức phổ biến KHKT, bồi dưỡng nghiệp vụ cần thiết cho KTV theo quy định của KTNN
Ví dụ: tại đoàn kiểm toán tại Bộ Công thương ngoài việc kiểm toán việc sử dụng tài chính công, tài sản công thì thông qua kiểm toán Báo cáo tài chính, phải xác định được trọng tâm là đánh giá việc thực hiện chức năng nhiệm vụ quản lý nhà nước của Cục Xúc tiến thương mại, Cục Công nghiệp địa phương trong việc tham mưuban hành văn bản quy phạm pháp luật, văn bản quản lý nhà nước) Từ đó căn
cứ lựa chọn các Kiểm toán viên phù hợp với KHKT của cuộc kiểm toán NSBN
- Giai đoạn thực hiện kiểm toán
Nội dung quản lý trong giai đoạn này bao gồm:Tính tuân thủ KHKT, việc chấp hành các quy định của KTNN đối với những sự thay đổi trong KHKT;Tính đầy đủ,
Trang 33thích hợp, khách quan và hợp pháp của các bằng chứng kiểm toán; kỹ năng và trình
độ nghiệp vụ của KTV trong quá trình thu thập bằng chứng kiểm toán để đưa ra các
ý kiến của KTV; Tính đầy đủ, kịp thời trong việc kiểm tra, giám sát kết quả sau mỗi giai đoạn, mỗi bước công việc kiểm toán hoàn thành; Đạo đức hành nghề của KTV theo nguyên tắc: chính trực, độc lập, khách quan và bí mật nghề nghiệp theo các chuẩn mực kiểm toán quy định;Nhật ký kiểm toán (NKKT), các bản thảo gốc giữa giấy tờ làm việc của KTV với đơn vị được kiểm toán, Báo cáo kiểm toán, các giấy
tờ làm việc khác… được lập theo đúng mẫu biểu quy định và có đầy đủ chữ ký
Ví dụ: Tại đoàn kiểm toán Bộ Công thương: quản lý chất lượng kiểm toán ở giai đoạn này nhằm quản lý KTV không làm ngoài phạm vi kiểm toán được phê duyệt, thu thập đầy đủ bằng chứng kiểm toán đối với các sai sót làm cơ sở đưa ra kiến nghị, quản lý việc tuân thủ đạo đức nghề nghiệp của KTV, việc ghi chép nhật
ký kiểm toán của KTV có đầy đủ, đúng nhiệm vụ được phân công
- Giai đoạn lập và gửi Báo cáo kiểm toán
Nội dung chính cần quản lý chất lượng trong giai đoạn này gồm:
• Báo cáo kiểm toán đã phản ánh đầy đủ kết quả kiểm toán chưa; mục tiêu, nội dung kiểm toán trong KHKT có được thực hiện; thể thức và nội dung báo cáo kiểm toán có phù hợp với nguyên tắc, chuẩn mực kiểm toán và quy định của KTNN;
• Các ý kiến nhận xét, đánh giá, kết luận trong báo cáo kiểm toán có rõ ràng, hợp lý; dựa trên cơ sở bằng chứng kiểm toán đầy đủ, chính xác, tin cậy, phù hợp với pháp luật hiện hành không; tính khả thi và hợp pháp của những kiến nghị, giải pháp;
• Việc gửi BCKT theo đúng quy định của pháp luật và của KTNN không
c Kiểm tra, giám sát quản lý chất lượng kiểm toán NSNN bộ, ngành
Việc kiểm tra, giám sát quản lý chất lượng kiểm toán NSNN bộ, ngành là khâu quan trọng đảm bảo cuộc kiểm toán tuân thủ tối đa mọi quy định, chuẩn mực của ngành, phát hiện ra những sai sót quan trọng, từ đó đưa ra các kiến nghị xác đáng tại các BBKT của tổ và BCKT của đoàn kiểm toán Nội dung chính cần quản lý là:
- Quy định trách nhiệm kiểm tra, quản lý của các cấp đối với quá trình thực hiện công việc của cấp dưới; thiết lập hệ thống và nội dung kiểm tra, quản lý chất
Trang 34lượng kiểm toán, đạo đức nghề nghiệp KTV;
- Yêu cầu về trình độ, năng lực chuyên môn của người kiểm tra, quản lý
- Mẫu biểu, chuẩn mực về Biên bản kiểm toán, báo cáo kiểm toán:
- Các nguyên tắc, yêu cầu, tiêu chí của BBKT, BCKT;
Ngoài việc thiết kế và vận hành, để đánh giá sự phù hợp và hiệu lực, hiệu quả của các chính sách, thủ tục quản lý chất lượng kiểm toán KTNN phải thường xuyên kiểm tra việc thực hiện trên thực tế thông qua hình thức quản lý trực tiếp thực tế hoạt động (đang tiến hành) hoặc quản lý gián tiếp qua hồ sơ kiểm toán (sau khi hoạt động kết thúc) Đồng thời, định kỳ tiến hành rà soát, đánh giá lại các chính sách, thủ tục và biện pháp quản lý chất lượng kiểm toán, nhằm phát hiện kịp thời khoảng cách giữa thực tế với chính sách (tức là các hạn chế, thiếu sót, bất cập trong quá trình thực hiện chính sách), xác định các nhân tố tạo ra khoảng cách này (tức là nguyên nhân của hạn chế bất cập), từ đó có giải pháp điều chỉnh phù hợp
1.2.3 Các tiêu chí đánh giá quản lý chất lượng kiểm toán NSNN
Trong hoạt động kiểm toán của KTNN các tiêu chí để đánh giá quản lý chất lượng kiểm toán NSNN gồm: tính hiệu lực và tính hiệu quả của quản lý CLKT
- Tính hiệu lực: được hiểu là tính khách quan, tính thực tiễn, tính phù hợp các văn bản pháp quy của nhà nước và các nội quy, quy chế của cơ quan Kiểm toán nhà nước trong xây dựng kế hoạch quản lý CLKT và thanh, kiểm tra quản lý CLKT, từ
đó các phát hiện, kết luận và kiến nghị kiểm toán được đơn vị được kiểm toán chấp thuận và thực hiện, được Chính phủ, Quốc hội và các cơ quan hữu quan sử dụng; đạt được các tác động mong muốn; các báo cáo kiểm toán góp phần tăng cường trách nhiệm giải trình, sự minh bạch và nâng cao chất lượng công tác quản lý Đặc điểm này đánh giá tác động của kiểm toán thông qua: việc sửa chữa, khắc phục các sai phạm, khuyết điểm của đơn vị được kiểm toán; tỷ lệ chấp nhận và thực hiện kiến nghị kiểm toán của đơn vị được kiểm toán; mức độ hài lòng của Chính phủ, Quốc hội và các cơ quan hữu quan, đơn vị được kiểm toán đối với các kết quả kiểm toán
Việc đánh giá tính hiệu lực là rất khó do: Kết quả không phải luôn được xác định rõ ràng từ khâu kế hoạch (trong trường hợp các kết quả xác định trong kế
Trang 35hoạch không được thực hiện hết); có nhiều chính sách khác nhau có thể tác động đến kết quả; có nhiều yếu tố bên ngoài ảnh hưởng đến kết quả; đôi khi việc không đạt tính hiệu lực là do chi phí quá cao.Vì vậy KTV cần phải thận trọng và tốt nhất
là cần có sự tư vấn của các nhà quản lý về các tiêu chí đánh giá tính hiệu lực
- Tính hiệu quả: được hiểu là hiệu quả về kinh tế và hiệu quả về xã hội
+ Hiệu quả về kinh tế: các nguồn nhân lực, tài chính và các nguồn lực khác có được sử dụng hiệu quả không; các chương trình, các hoạt động, các quy trình, trình
tự có được quản lý, quy định, tổ chức và điều hành hiệu quả không
+ Hiệu quả về xã hội: dịch vụ có được cung cấp kịp thời không; các mục tiêu của các chương trình kiểm toán có đạt được với chi phí hợp lý không
Tính hiệu lực và hiệu quả sẽ đánh giá việc quản lý CLKT có đạt được mục tiêu
đề ra hay không, có tuân thủ theo quy trình, kế hoạch đã lập hay không Tính hiệu lực tại các văn bản quy định đảm bảo phù hợp với chuyên môn của ngành thì Quản
lý CLKT sẽ đạt được kết quả tốt, làm tăng tính hiệu quả công tác kiểm toán tại đơn
vị kiểm toán, không bỏ qua những sai sót trọng yếu, kịp thời phát hiện những sai phạm, đồng thời chấn chỉnh công tác kế toán tại các đơn vị được kiểm toán
1.2.4 Các nhân tố ảnh hưởng quản lý chất lượng kiểm toán NSNN
Các nhân tố ảnh hưởng đến quản lý chất lượng kiểm toán NSNN bao gồm hai
nhóm nhân tố: nhóm nhân tố chủ quan và nhóm nhân tố khách quan
* Nhóm nhân tố chủ quan
- Quan điểm của người lãnh đạo về quản lý chất lượng kiểm toán: quan điểm
về quản lý của người lãnh đạo cao cấp là yếu tố quan trọng đầu tiên ảnh hưởng đến hiệu lực, hiệu quả của hệ thống quản lý chất lượng kiểm toán Nếu người lãnh đạo cấp cao coi trọng công tác quản lý chất lượng kiểm toán thì các chính sách, quy chế
và thủ tục kiểm soát thích hợp sẽ được thiết lập, duy trì; từ đó chất lượng kiểm toán
sẽ được bảo đảm
- Cơ cấu tổ chức, cơ chế phân công, phân cấp nhiệm vụ của KTNN: cơ cấu tổ
chức của một đơn vị chính là hệ thống trách nhiệm và quyền lực đang tồn tại Vì vậy cơ cấu tổ chức ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng hoạt động của đơn vị Đối với
Trang 36cơ quan KTNN, đối tượng kiểm toán rất rộng và phức tạp, liên quan đến tất cả các lĩnh vực thu, chi NSNN.Do vậy, cần phân cấp cụ thể, quy định rõ trách nhiệm và quyền hạn của từng đơn vị, bộ phận, nhất là trách nhiệm của tổ kiểm toán và tổ trưởng; trong đó cần đặc biệt chú trọng xác định rõ trách nhiệm của từng cấp, từng khâu trong việc quản lý chất lượng kiểm toán Việc phân công, phân cấp không hợp
lý sẽ tạo ra sự chồng chéo, kiểm toán viên không am hiểu chuyên sâu về nghiệp vụ dẫn tới chất lượng công việc không cao
- Các quy định về chuyên môn, nghiệp vụ: các văn bản pháp quy, những quy
định, quy trình về chuyên môn, nghiệp vụ không chỉ là căn cứ để triển khai hoạt động kiểm toán mà còn là cơ sở để quản lý chất lượng kiểm toán Các Đoàn, tổ quản lý CLKT sẽ quản lý từng nội dung kiểm toán của kiểm toán viên thông qua quy trình kiểm toán và dựa trên cơ sở là những văn bản quy định của ngành
- Chính sách đào tạo trình độ, năng lực quản lý: muốn quản lý chất lượng
kiểm toán thì các tổ trưởng của tổ, đoàn quản lý chất lượng kiểm toán phải đạt trình
độ về chuyên môn, nghiệp vụ và phải có năng lực quản lý Do vậy, bên cạnh việc chú trọng công tác đào tạo, bồi dưỡng, cập nhật kiến thức thì việc đào tạo năng lực quản lý cho các KTV, tổ trưởng, lãnh đạo KTNN cũng là nhiệm vụ cần triển khai song song
* Nhóm nhân tố khách quan
Vấn đề liên quan đến tính độc lập của cơ quan KTNN: Tuyên bố Lima của
INTOSAI về các nguyên tắc kiểm toán đã nhấn mạnh: “Các cơ quan Kiểm toán tối cao chỉ có thể hoàn thành nhiệm vụ một cách khách quan và hiệu quả khi độc lập với đơn vị được kiểm toán và được bảo vệ trước các ảnh hưởng từ bên ngoài” Nếu không có tính độc lập thì kết quả kiểm toán không tin cậy, chức năng kiểm toán không được thực thi trong đời sống xã hội Do vậy, tính độc lập của cơ quan kiểm toán ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng kiểm toán và quản lý chất lượng kiểm toán,
là tiền đề cơ bản bảo đảm cho công tác kiểm tra tài chính công được triển khai và có hiệu lực, hiệu quả.Để bảo đảm tính độc lập cho hoạt động kiểm toán thì cơ quan KTNN cũng như kiểm toán viên nhà nướcphải được độc lập về địa vị pháp lý, về
Trang 37nhân sự và về ngân sách
1.3 Kinh nghiệm quốc tế về quản lý chất lượng kiểm toán của một số nước và rút ra bài học cho quản lý chất lượng kiểm toán NSNN các bộ ngành tại KTNN Việt Nam
1.3.1 Kinh nghiệm quản lý chất lượng kiểm toán của một số nước
* Kinh nghiệm của Kiểm toán nhà nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa
KTNN Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa được thành lập năm 1983, là một cơ quan Bộ thuộc Quốc vụ viện, thực hiện chức năng của cơ quan kiểm tra tài chính
công cao nhất của nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa
KTNN Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa luôn chú trọng công tác quản lý chất lượng hoạt động kiểm toán tại Đoàn kiểm toán; đi sâu tập trung quản lý chất lượng các giai đoạn thực hiện cuộc kiểm toán, gồm: giai đoạn chuẩn bị kiểm toán, giai đoạn thực hiện kiểm toán và giai đoạn lập và gửi Báo cáo kiểm toán
-Quản lý trong giai đoạn chuẩn bị kiểm toán
Công tác khảo sát, thu thập thông tin về đơn vị được kiểm toán và lập KHKT do các Vụ kiểm toán thực hiện và xét duyệt trước khi trình lãnh đạo KTNN KHKT phải được trình lãnh đạo KTNN phụ trách ký duyệt; đối với một số cuộc kiểm toán quan
trọng, KHKT phải được Hội nghị nghiệp vụ xem xét, thẩm định
Nội dung xét duyệt KHKT: tính khả thi của mục tiêu kiểm toán; xác định mức
độ quan trọng và tính hợp lý của đánh giá rủi ro kiểm toán; tính phù hợp của phạm vi, nội dung và trọng điểm kiểm toán; tính khả thi của các bước và phương pháp kiểm toán; tính hợp lý của việc bố trí thời gian; tính phù hợp trong phân công công việc kiểm toán; những công việc cần xét duyệt khác
-Quản lý trong giai đoạn thực hiện kiểm toán
Thực hiện quản lýba nội dung chủ yếu: thực hiện KHKT; bằng chứng kiểm
toán; nhật ký KTV và bản thảo gốc về kết quả kiểm toán
Trong quá trình thực hiện, nếu có sự thay đổi nội dung trong KHKT được phê duyệt, nhóm kiểm toán báo cáo cấp trên xem xét, phê duyệt Lãnh đạo Vụ kiểm toán
có quyền xét duyệt các điều chỉnh về: phạm vi, nội dung, trọng tâm kiểm toán; mức
Trang 38độ quan trọng và rủi ro kiểm toán; thành viên nhóm kiểm toán
Lãnh đạo KTNN phụ trách Vụ kiểm toán xét duyệt các nội dung thay đổi về: mục tiêu kiểm toán; Trưởng nhóm kiểm toán; thời gian kiểm toán; những vấn đề
khác mà Vụ kiểm toán xin ý kiến phê duyệt
KTV căn cứ vào KHKT, tiến hành thu thập bằng chứng kiểm toán và chịu trách nhiệm đối với những sai sót của bằng chứng kiểm toán thu thập được; phải ghi nhật
ký KTV đầy đủ, đúng sự thực, không được bỏ sót, giấu diếm, tiêu huỷ Kết quả kiểm toán phải được phản ánh đầy đủ, trung thực trong bản thảo gốc về kết quả kiểm toán theo mẫu quy định, kèm theo các bằng chứng kiểm toán; chịu trách nhiệm về việc
chưa phát hiện ra những vấn đề nghiêm trọng do không chấp hành KHKT gây ra
Trưởng nhóm đôn đốc, chỉ đạo KTV thu thập bằng chứng kiểm toán, xét duyệt bằng chứng kiểm toán, chịu trách nhiệm về ý kiến xét duyệt của mình, về hành vi không phát hiện ra sai lầm nghiêm trọng trong bản thảo gốc
- Quản lý trong giai đoạn lập và gửi báo cáo kiểm toán
Kết thúc giai đoạn thực hiện kiểm toán, nhóm kiểm toán lập Báo cáo kiểm toán, Trưởng nhóm kiểm toán thẩm định, chuyển báo cáo kiểm toán cho đơn vị được kiểm toán để lấy ý kiến Khi đơn vị có ý kiến khác, nhóm kiểm toán phải kiểm tra lại, đồng thời giải thích rõ bằng văn bản kết quả kiểm tra, đồng thời lưu lại toàn bộ sự thay đổi
so với báo cáo đã lập Nhóm kiểm toán nộp toàn bộ hồ sơ của nhóm cho Vụ kiểm toán Lãnh đạo Vụ kiểm toán phải xét duyệt Báo cáo kiểm toán, có ý kiến xét duyệt bằng văn bản theo các nội dung: việc thực hiện mục tiêu kiểm toán; tính rõ ràng của
sự việc; tính đầy đủ của bằng chứng kiểm toán; tính chính xác trong việc vận dụng các văn bản quy phạm pháp luật; tính hợp lý của kết luận, kiến nghị kiểm toán;
những vấn đề khác liên quan
* Kinh nghiệm Cộng hoà Liên bang Đức
Nguyên tắc cơ bản trong hoạt động kiểm toán nói chung và quản lý chất lượng kiểm toán nói riêng của KTNN cộng hoà liên bang Đức là nguyên tắc quyết định tập thể Nguyên tắc này có nghĩa là tất cả các vấn đề nghiệp vụ kiểm toán đều do những
uỷ viên kiểm toán (Chủ tịch, Phó chủ tịch, các Vụ trưởng và các Trưởng phòng
Trang 39kiểm toán; các uỷ viên kiểm toán có quyền độc lập như thẩm phán, được Hiến pháp đảm bảo) cùng nhau quyết định theo đa số hoặc 100% Hội đồng phòng hai người là hội đồng bao gồm Trưởng phòng và Vụ trưởng Nếu Chủ tịch hoặc Phó chủ tịch KTNN liên bang tham gia vào thành phần của Hội đồng phòng hai người thì sẽ trở thành Hội đồng phòng ba người Những hội đồng này ra quyết định theonguyên tắc đồng thuận (100% đồng ý) Trường hợp khi thông qua một nghị quyết trong Hội đồng phòng mà không có sự nhất trí 100% thì một uỷ viên có thể đề nghị thông qua một hội đồng cao hơn, mà Vụ nào cũng thành lập, gọi là Hội đồng Vụ Hội đồng Vụ
ra nghị quyết theo nguyên tắc đa số Trên thực tế của KTNN liên bang Đức, Hội đồng Vụ rất ít nhóm họp, vì tất cả các uỷ viên đều phấn đấu để đạt được sự nhất trí 100% ở cấp Hội đồng phòng Cơ quan quyết định cao nhất là Đại hội đồng, gồm: Chủ tịch và Phó chủ tịch, 9 Vụ trưởng của 9 Vụ kiểm toán, 3 Trưởng phòng kiểm toán, báo cáo viên và đồng báo cáo viên; tổng cộng là 16 thành viên
Trưởng phòng kiểm toán lãnh đạo cuộc kiểm toán trên cơ sở những quyết định của Hội đồng phòng
- Trong giai đoạn chuẩn bị kiểm toán, Trưởng phòng kiểm toán và các KTV phải thu thập và nghiên cứu những thông tin cần thiết để xây dựng kế hoạch kiểm toán; trong đó phải xác định mục tiêu và trọng tâm kiểm toán Kế hoạch kiểm toán phải được Hội đồng phòng thông qua
- Giai đoạn thực hiện kiểm toán: trên cơ sở kế hoạch kiểm toán, KTV phải chịu trách nhiệm kiểm toán đúng và đầy đủ các nội dung, quyết định các thủ tục kiểm toán và các bước công việc, thực hiện ghi chép hồ sơ kiểm toán KTV phải báo cáo kịp thời cho Trưởng phòng kiểm toán về những phát hiện quan trọng và những thông tin thu thập được có khả năng làm thay đổi kế hoạch kiểm toán Trong quá trình kiểm toán, KTV phát hiện những sự việc vi phạm pháp luật phải báo cáokịp thời cho Trưởng phòng kiểm toán trước khi trao đổi với đơn vị được kiểm toán và
cơ quan liên quan khác Hội đồng phòng quyết định về các bước xử lý tiếp theo
- Giai đoạn kết thúc kiểm toán, lập hồ sơ kiểm toán: sau khi kết thúc giai đoạn thực hiện kiểm toán, KTV tiến hành soạn thảo hồ sơ kiểm toán Nếu có nhiều
Trang 40KTV cùng tham gia dự thảo, thì phải ghi rõ ai chịu trách nhiệm phần nào của dự thảo hồ sơ kiểm toán.Hồ sơ kiểm toán bao gồm: Ghi nhớ kiểm toán, Thông báo kết quả kiểm toán và Công văn kèm theo Trong quá trình lập hồ sơ kiểm toán, KTV và Trưởng phòng thường xuyên có sự trao đổi để có sự đồng thuận ngay trong quá trình lập hồ sơ Hội đồng phòng sẽ quyết định kết quả kiểm toán
Thông báo kết quả kiểm toán được gửi đến đơn vị được kiểm toán để lấy ý kiến, thông thường thời hạn cho ý kiến không quá ba tháng Sau khi nhận được ý kiến phản hồi, KTV phải đánh giá những ý kiến đó (nếu cần thiết có thể đến đơn vị được kiểm toán để kiểm tra lại) và kịp thời trình hồ sơ kiểm toán đã chỉnh lý cho Hội đồng phòng xét duyệt.Kết quả xem xét ý kiến phản hồi sẽ được thông báo, trả lời cho đơn vị được kiểm toán biết
- Kiểm tra thực hiện kiến nghị kiểm toán: KTNN liên bang Đức không thực hiện kiểm tra việc thực hiện kiến nghị kiểm toán đối với tất cả các đơn vị đã được kiểm toán vì không có đủ người Việc kiểm tra thực hiện kiến nghị kiểm toán thông qua các cuộc kiểm toán sau đó (kiểm toán phúc tra…) Thực tế cũng có những đơn
vị không thực hiện kiến nghị kiểm toán và được KTNN liên bang báo cáo Quốc hội thông qua báocáo hàng năm hoặc báo cáo đặc biệt
1.3.2 Những bài học kinh nghiệm cho quản lý chất lượng kiểm toán NSNN các bộ ngành tại KTNN Việt Nam
Từ các hướng dẫn về quản lý chất lượng kiểm toán của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa và cộng hoà Liên bang Đức, có thể rút ra những bài học kinh nghiệm cho quản lý chất lượng kiểm toán NSNN các bộ ngành tại KTNN Việt Nam:
- Thứ nhất, KTNN phải ban hành đầy đủ, đồng bộ các chuẩn mực, quy định về
quản lý CLKT để làm căn cứ cho quản lý chất lượng kiểm toán Hoạt động quản lý chất lượng kiểm toán liên quan đến nhiều cấp độ, có yêu cầu cao, do đó cần phải có quy định cụ thể để tiêu chuẩn hoá các công việc quản lý
- Thứ hai, nâng cao nhận thức về vai trò quản lý CLKT tại Đoàn kiểm toán từ
các KTV, Tổ trưởng, Đoàn kiểm toán; chú trọng và nâng cao công tác quản lý CLKT trong mỗi giai đoạn, mỗi bước công việc; KTV phải có trách nhiệm tự kiểm