Đối tượng nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu của luận văn là quan hệ thương mại hàng hóa giữa Việt Nam – Liên bang Nga, vai trò và những nhân tố ảnh hưởng.. - Đánh giá những nhân tố ảnh hư
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
-
ĐINH THỊ DUYÊN
QUAN HỆ THƯƠNG MẠI VIỆT NAM – LIÊN BANG
NGA GIAI ĐOẠN 2007-2014
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ QUỐC TẾ
HÀ NỘI – 2015
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
-
ĐINH THỊ DUYÊN
QUAN HỆ THƯƠNG MẠI VIỆT NAM – LIÊN BANG
NGA GIAI ĐOẠN 2007-2014
Chuyên ngành: Kinh tế quốc tế
Mã số: 60 31 01 06
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ QUỐC TẾ
CHƯƠNG TRÌNH ĐỊNH HƯỚNG NGHIÊN CỨU NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS NGUYỄN XUÂN THIÊN
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn này hoàn toàn là công trình nghiên cứu của
cá nhân tôi, được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Nguyễn Xuân Thiên Các trích dẫn và số liệu sử dụng trong luận văn đều được dẫn nguồn, các kết quả nghiên cứu đều trung thực và đảm bảo độ chính xác cao nhất trong phạm vi hiểu biết của tôi Tôi xin chịu trách nhiệm về nghiên cứu của mình
Học viên Đinh Thị Duyên
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc tới giảng viên hướng dẫn PGS.TS Nguyễn Xuân Thiên đã hướng dẫn cho tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và thực hiện luận văn này
Tôi cũng xin trân trọng gửi lời cảm ơn tới toàn thể các thầy cô giảng viên thuộc Khoa Kinh tế và Kinh doanh quốc tế, Bộ phận Sau Đại học, Phòng Đào tạo, cùng các anh chị chuyên viên văn phòng Khoa Kinh tế và Kinh doanh quốc tế, trường Đại học kinh tế, Đại học quốc gia Hà Nội đã tạo điều kiện thuận lợi giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu để hoàn thành luận văn này
Học viên Đinh Thị Duyên
Trang 5MỤC LỤC
Trang phụ bìa
Mục lục
Danh mục các chữ viết tắt i
Dang mục bảng iii
Danh mục hình iii
MỞ ĐẦU 1
1.Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 3
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
4 Những đóng góp mới của luận văn 4
5 Kết cấu của luận văn 4
Chương 1 : TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA QUAN HỆ THƯƠNG MẠI VIỆT NAM – LIÊN BANG NGA 5
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu quan hệ thương mại Việt Nam – Liên bang Nga 5
1.2 Cơ sở lý luận và thực tiễn của quan hệ thương mại 17
1.2.1 Cơ sở lý luận 17
1.2.2 Cơ sở thực tiễn 30
1.3 Các nhân tố tác động tới quan hệ thương mại Việt Nam – Liên Bang Nga 33
1.3.1 Bối cảnh mới của Thế giới 33
1.3.2 Lịch sử quan hệ truyền thống đặc biệt vốn có 37
Chương 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ NGUỒN SỐ LIỆU 41
2.1 Các phương pháp nghiên cứu 41
2.1.1 Phương pháp so sánh 41
2.1.2 Phương pháp phân tích, tổng hợp 42
Trang 62.1.3 Phương pháp kế thừa 44
2.2 Nguồn số liệu 44
2.2.1 Thu thập số liệu thứ cấp 44
2.2.2 Xử lý số liệu 45
Chương 3 : PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG VÀ ĐÁNH GIÁ QUAN HỆ THƯƠNG MẠI VIỆT NAM – LIÊN BANG NGA GIAI ĐOẠN 2007 – 2014 46
3.1 Tổng quan về quan hệ thương mại Việt Nam – Liên bang Nga 46
3.1.1 Tổng quan về kinh tế và ngoại thương của Liên bang Nga 46
3.1.2 Tổng quan về kinh tế và ngoại thương của Việt Nam 49
3.1.3 Tổng quan về quan hệ thương mại Việt Nam – Liên bang Nga giai đoạn 2007-2014 51
3.2 Phân tích thực trạng quan hệ thương mại Việt Nam – Liên bang Nga giai đoạn 2007-2014 53
3.2.1 Xuất khẩu của Việt Nam sang Liên bang Nga 53
3.2.2 Nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam từ Liên bang Nga 57
3.3 Đánh giá những nhân tố ảnh hưởng tới quan hệ thương mại hàng hóa giữa Việt Nam – Liên bang Nga 61
3.3.1 Khi Việt Nam chính thức trở thành thành viên của WTO 61
3.3.2 Dấu ấn của Hiệp định Thương mại tự do giữa Việt Nam và Liên minh Kinh tế Á – Âu (EAEU) 64
3.3.3 Việc cấm vận của Mỹ và EU đối với Nga tác động đến thương mại Việt Nam 68
3.4 Đánh giá vai trò của quan hệ thương mại Việt Nam – Liên bang Nga tới Việt Nam 71
3.4.1 Tác động của quan hệ thương mại Việt Nam – Liên bang Nga tới sự phát triển kinh tế của Việt Nam 71
Trang 73.4.2 Tác động của quan hệ thương mại Việt Nam – Liên bang Nga tới
sự mở rộng quan hệ thương mại của Việt Nam với các quốc gia khác 73
Chương 4 : MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM TĂNG CƯỜNG QUAN
HỆ THƯƠNG MẠI VIỆT NAM – LIÊN BANG NGA TRONG GIAI ĐOẠN 2015-2020 78 4.1 Triển vọng quan hệ thương mại Việt Nam – Liên bang Nga trong bối cảnh mới 78
4.1.1 Triển vọng tăng trưởng thương mại toàn cầu 78 4.1.2 Triển vọng quan hệ thương mại Việt Nam – Liên bang Nga 79
4.2 Một số kiến nghị nhằm tăng cường quan hệ thương mại hàng hóa Việt Nam – Liên bang Nga giai đoạn 2015-2020 80
4.2.1 Nâng cao vai trò, trách nhiệm của các cơ quan quản lý 80 4.2.2 Dỡ bỏ rào cản thương mại, tuân thủ thông lệ thương mại quốc tế 81 4.2.3 Tăng cường hợp tác trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng nhằm tạo thuận lợi cho doanh nghiệp 83 4.2.4 Điều chỉnh cơ chế hợp tác trong thương mại 84 4.2.5 Kết hợp giáo dục, đào tạo, chuyển giao công nghệ và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao 85 4.2.6 Tăng cường quan hệ hợp tác với vùng Viễn Đông 86 4.2.7 Nâng cao năng lực cạnh tranh cho hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam sang Liên bang Nga 87 4.2.8 Khuyến khích doanh nghiệp xuất khẩu hàng hóa sang Liên bang Nga 88 4.2.9 Tăng cường xúc tiến thương mại, quảng bá hàng hóa Việt Nam – Liên bang Nga tại thị trường hai nước 88
KẾT LUẬN 90 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 92
Trang 8i
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
1 AANZFTA ASEAN – Australia – New
Zealand Free Trade Agreement
Khu vực thương mại tự do ASEAN – Úc –Niu Dilân
2 ACFTA ASEAN – China Free Trade Area Khu vực Mậu dịch Tự do
8 BRICS Brazil, Russia, India, China and
9 CCCN Customs Cooperation Council
10 CIS Commonwealth of Independent
11 EurAsEC Eurasian Economic Community Cộng đồng Kinh tế Á - Âu
12 EAEU Eurasian Economic Union Liên minh Kinh tế Á - Âu
13 FDI Foreign Direct Investment Đầu tư trực tiếp nước ngoài
Description and Coding System
Danh mục Mô tả hàng hóa và
Hệ thống mã số hài hòa
Trang 9ii
18 IMF International Monetary Fund Quỹ tiền tệ quốc tế
19 ITC International Trade Center Trung tâm thương mại quốc tế
23 OECD Organisation for Economic
Cooperation and Development
Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế
25 SCO Shanghai Cooperation
29 TPP Trans – Pacific Partnership Hiệp định Đối tác Kinh tế Chiến
lược xuyên Thái Bình Dương
33 WTO World Trade Organization Tổ chức Thương mại Thế giới
Trang 10theo Danh mục SITC (Triệu USD và %) 56
Bảng 3.3: Phân loại hàng hóa xuất khẩu Việt Nam – Liên bang Nga theo
Danh mục BEC trong hệ thống tài khoản quốc gia SNA (%) 57Bảng 3.4: Phân loại hàng hóa nhập khẩu của Việt Nam từ Liên bang
Nga theo Danh mục SITC (Triệu USD và %) 59Bảng 3.5: Phân loại hàng hóa nhập khẩu Việt Nam – Liên bang Nga theo
Danh mục BEC trong hệ thống tài khoản quốc gia SNA (%) 60Bảng 3.6: Tốc độ tăng trưởng GDP và tỉ trọng xuất nhập khẩu hàng hóa và
dịch vụ trên GDP của Việt Nam và Nga giai đoạn 2007-2014 71Bảng 3.7: Kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam – CIS giai đoạn
2007-2014 75Bảng 3.8: Kim ngạch một số mặt hàng chính xuất khẩu sang khu vực
CIS năm 2013 76
DANH MỤC HÌNH
Hình 3.1: Quy mô hàng hóa xuất khẩu của một số nước trên thị trường
Nga năm 2014 (đơn vị: %) 54Hình 3.2: Quy mô hàng hóa nhập khẩu từ một số nước của Việt Nam
năm 2014 (đơn vị: %) 58
Trang 111
MỞ ĐẦU 1.Tính cấp thiết của đề tài
Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế đang diễn ra mạnh mẽ như hiện nay, Việt Nam cũng như các quốc gia khác, đang nỗ lực thúc đẩy các quan hệ hợp tác song phương cũng như đa phương trên mọi bình diện chính trị - văn hóa – xã hội, đặc biệt là kinh tế - thương mại Kể từ khi gia nhập ASEAN (1995), Việt Nam là một trong những nước thành viên tích cực thúc đẩy và tham gia vào các Hiệp định song phương, đa phương và Khu vực thương mại tự do như AFTA, ACFTA, AKFTA, AANZFTA… nhằm tăng cường hoạt động kinh tế đối ngoại Năm 2007, Việt Nam chính thức trở thành thành viên của Tổ chức Thương mại Thể giới (WTO) Hiện nay, Việt Nam đang rất tích cực chuẩn bị cho việc hình thành Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC) và Hiệp định đối tác kinh tế chiến lược xuyên Thái Bình Dương (TPP) Chủ trương mở rộng quan hệ đối ngoại, tăng cường hội nhập kinh tế quốc tế của Chính phủ đã giúp vị thế của Việt Nam dần được khẳng định và nâng cao trên trường quốc tế
Bên cạnh các đối tác chiến lược quan trọng như Hoa Kỳ, Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc, Việt Nam cũng rất chú trọng đến việc xây dựng quan
hệ đối tác chiến lược với Liên bang Nga Mối quan hệ Việt Nam – Liên bang Nga hiện nay là sự kế thừa và phát huy truyền thống tốt đẹp của mối quan hệ Việt Nam – Liên Xô trước đây Ngày 18/6/1955, Hiệp định hợp tác kinh tế thương mại Việt – Xô được ký kết, đã trở thành dấu mốc quan trọng cho sự hợp tác của hai nước sau này Năm năm sau Hiệp định, thương mại giữa hai nước đã tăng lên đáng kể, kim ngạch buôn bán hai chiều tăng lên gấp 13 lần Cuối những năm 1980, Liên Xô chiếm khoảng 40% kim ngạch xuất khẩu và 60% kim ngạch nhập khẩu của Việt Nam Sau khi Liên Xô tan rã (tháng 12/1991), mối quan hệ Việt Nam – Liên bang Nga vẫn được duy trì, song
Trang 122
chưa thực sự hồi phục Sau những nỗ lực đàm phán của lãnh đạo hai nước, Tuyên bố chung về quan hệ đối tác chiến lược giữa Việt Nam và Liên bang Nga đã được ký kết (năm 2001), đánh dấu một giai đoạn mới trong quan hệ hợp tác, hữu nghị giữa hai nước
Đến năm 2012, mối quan hệ song phương Việt Nam – Liên bang Nga
đã được nâng cấp lên mối quan hệ đối tác chiến lược toàn diện Ngày 29/5/2015, Việt Nam đã chính thức ký kết Hiệp định thương mại tự do giữa Việt Nam và Liên minh Kinh tế Á – Âu, bao gồm các quốc gia Nga, Ác-mê-ni-a, Bê-la-rút, Ca-dăc-xtan và Cư-gứt-xtan Hiệp định này được kỳ vọng sẽ nâng tổng kim ngạch thương mại hai chiều giữa Việt Nam và Liên bang Nga lên 7 tỷ USD trong năm 2015 và 10 tỷ USD trong năm 2020 Tuy nhiên, 10 tháng đầu năm 2014, kim ngạch buôn bán giữa hai nước chỉ đạt hơn 2,2 tỷ USD [42], kém xa so với kỳ vọng Điều này cho thấy kim ngạch thương mại thực sự chưa tương xứng với tiềm năng của hai nước
Trước một thị trường mở rộng lớn và đầy tiềm năng như Liên bang Nga, Chính phủ cũng như các doanh nghiệp Việt Nam đang nỗ lực tận dụng cơ hội
để có thể tăng cường hoạt động thương mại, xuất nhập khẩu, thu hút đầu tư từ đối tác Nga Đặc biệt, các mặt hàng xuất nhập khẩu giữa Nga và Việt Nam đều mang tính bổ trợ cho nhau, không cạnh tranh Đây là tiền đề tốt cho việc duy trì
và phát huy mối quan hệ thương mại Việt Nam – Liên bang Nga
Đứng trước thực tế mối quan hệ song phương Việt Nam – Liên bang Nga đang ngày càng sâu sắc và gắn bó, song lại phát triển chưa tương xứng, việc nghiên cứu đề tài “Quan hệ thương mại Việt Nam – Liên bang Nga giai đoạn 2007-2014” trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay được cho
là cần thiết
Luận văn sẽ tập trung trả lời cho câu hỏi nghiên cứu là: Làm thế nào để tăng cường quan hệ thương mại hàng hóa giữa Việt Nam và Liên bang Nga?
Trang 132.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn nhằm thiết lập và đánh giá mối quan
hệ thương mại song phương giữa Việt Nam và Liên bang Nga
- Phân tích quy mô thương mại và những thay đổi trong cơ cấu hàng hóa trao đổi giữa hai nước giai đoạn 2007-2014
- Đánh giá những nhân tố ảnh hưởng tới quan hệ thương mại hàng hóa giữa hai nước Đánh giá vai trò của quan hệ thương mại Việt Nam – Liên bang Nga đối với sự phát triển kinh tế và quan hệ thương mại của Việt Nam với các quốc gia khác
- Đề xuất một số giải pháp nhằm tăng cường, thúc đẩy quan hệ thương mại hàng hóa song phương Việt Nam – Liên bang Nga trong giai đoạn 2015-2020
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là quan hệ thương mại hàng hóa giữa Việt Nam – Liên bang Nga, vai trò và những nhân tố ảnh hưởng
3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung: Luận văn tập trung phân tích những thay đổi và đánh giá những nhân tố ảnh hưởng trong quy mô, thị phần, cơ cấu thương mại hàng hóa giữa Việt Nam và Liên bang Nga
- Về thời gian: Đề tài chọn khoảng thời gian nghiên cứu từ năm 2007 (khi Việt Nam chính thức trở thành thành viên của WTO) đến năm 2014
Trang 144
4 Những đóng góp mới của luận văn
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về thương mại quốc tế và quan hệ thương mại quốc tế, một số tiêu chí đánh giá quan hệ thương mại song phương Việt Nam – Liên bang Nga
- Làm rõ những thay đổi trong quan hệ thương mại hàng hóa song phương giữa Việt Nam và Liên bang Nga trong giai đoạn 2007-2014
- Đánh giá những nhân tố ảnh hưởng đến quan hệ thương mại hàng hóa giữa hai nước Việt Nam và Liên bang Nga, đánh giá vai trò của mối quan hệ Việt Nam – Liên bang Nga tới sự phát triển kinh tế của Việt Nam cũng như trong việc mở rộng quan hệ thương mại với các quốc gia khác trong giai đoạn 2007-2014
- Đề xuất một số giải pháp nhằm tăng cường quan hệ thương mại giữa Việt Nam – Liên bang Nga giai đoạn 2015-2020
5 Kết cấu của luận văn
Ngoài mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo , luận văn gồm 4 chương lớn như sau:
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận và thực
tiễn của quan hệ thương mại Việt Nam – Liên bang Nga
Chương 2: Phương pháp nghiên cứu và nguồn số liệu
Chương 3: Phân tích thực trạng và đánh giá quan hệ thương mại hàng
hóa giữa Việt Nam – Liên bang Nga giai đoạn 2007 – 2014
Chương 4: Một số kiến nghị nhằm phát triển quan hệ thương mại hàng
hóa song phương giữa Việt Nam – Liên bang Nga trong giai đoạn 2015-2020
Trang 155
Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN
VÀ THỰC TIỄN CỦA QUAN HỆ THƯƠNG MẠI
VIỆT NAM – LIÊN BANG NGA
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu quan hệ thương mại Việt Nam – Liên bang Nga
Có rất nhiều tài liệu nước ngoài nghiên cứu về Liên bang Nga thuộc các lĩnh vực khoa học, lịch sử, kinh tế, chính trị, ngoại giao Song việc tiếp cận với các tài liệu nghiên cứu về quan hệ thương mại của Liên bang Nga với một quốc gia, một nhóm quốc gia hay các vùng lãnh thổ, đặc biệt là với Việt Nam còn nhiều hạn chế Dưới đây là hai tài liệu nước ngoài gần đây nhất có nội dung đề cập đến quan hệ thương mại của Liên bang Nga với một số quốc gia khác, trong đó có Việt Nam
Đại diện cho các công trình nghiên cứu sử dụng phương pháp định
lượng có nghiên cứu Regional trade and economic growth in the CIS region
của tác giả Nurbek Jenish xuất bản năm 2013 Nghiên cứu này sử dụng phương pháp định lượng để đánh giá ảnh hưởng của thương mại tới tăng trưởng kinh tế, các chủ thể được nghiên cứu gồm 11 nước thuộc Cộng đồng các quốc gia độc lập CIS, trong đó có Liên bang Nga Mục đích của nghiên cứu là kiểm chứng vai trò của thương mại nội vùng và ngoại vùng tới thúc đẩy tăng trưởng kinh tế của các nước CIS Các mẫu số liệu được thu thập trong giai đoạn từ năm 2000 đến năm 2010 Phương pháp hồi quy tuyến tính được sử dụng để đánh giá ảnh hưởng của thương mại vùng tới tăng trưởng kinh tế và tính toán mối quan hệ nhân quả giữa các biến số vĩ mô Thông qua xây dựng mô hình kinh tế lượng với một loạt các biến số như tốc độ tăng trưởng GDP bình quân của mỗi nước, tỉ lệ đầu tư trên GDP, tỉ lệ chi tiêu
Trang 166
chính phủ trên GDP, tốc độ tăng trưởng thương mại với Liên bang Nga, tốc
độ tăng trưởng thương mại nội vùng trừ Liên bang Nga, tốc độ tăng trưởng thương mại ngoại vùng, chỉ số tự do của nền kinh tế, chỉ số giá dầu cùng nhiều biến số khác có liên quan, tác giả đã đi đến một số kết luận quan trọng, trong đó đặc biệt đề cập đến vai trò của Liên bang Nga trong việc thúc đẩy tăng trưởng thương mại của khối CIS, tăng trưởng kinh tế biến thiên với tăng trưởng thương mại Như vậy, nghiên cứu một lần nữa khẳng định vai trò quan trọng của Liên bang Nga đối với Cộng đồng các quốc gia độc lập trên bình diện kinh tế - thương mại Tuy nhiên, kết quả của nghiên cứu chưa hoàn toàn thuyết phục, còn mang tính chủ quan và tất yếu bởi Nga vốn có tầm ảnh hưởng lớn đối với các nước CIS, nên ảnh hưởng kinh tế thương mại có lẽ cũng là đương nhiên
Đại diện cho nhóm các công trình nghiên cứu sử dụng phương pháp
định tính có cuốn sách ASEAN – Russia: Foundations and Future Prospect do
ba tác giả Victor Sumsky, Mart Hong và Amy Lugg hiệu đính Đây là cuốn sách mới nhất trong chuỗi ba cuốn sách viết về quan hệ Nga – ASEAN xuyên suốt theo tiến trình thời gian của Viện nghiên cứu Đông Nam Á Xing-ga-po ISEAS Trong cuốn sách mới nhất xuất bản năm 2012, bên cạnh nội dung các mối quan hệ của Nga với ASEAN và nhiều nước thành viên như Ma-lai-xi-a hay Thái Lan được đề cập lại, thì quan hệ Liên bang Nga – Việt Nam lần này cũng được dành hẳn một chương với những nội dung quan trọng gồm lịch sử quan hệ truyền thống, và hợp tác toàn diện trên nhiều lĩnh vực gồm chính trị, quân sự, khoa học, giáo dục, đặc biệt là hợp tác về kinh tế, thương mại Những thành tựu thương mại giữa hai nước cũng được tác giả Vladimir Mazyrin đề cập đến trong chương sách như quan hệ thương mại hai nước đã dần hồi phục song vẫn còn rất hạn chế Năm 2005, thương mại song phương giữa hai nước mới đạt kim ngạch 1 triệu USD, đến năm 2010 đã tăng lên gần
Trang 177
2 tỷ USD, kỳ vọng sẽ nâng kim ngạch trao đổi hai chiều lên mức 3 tỷ USD vào năm 2012 và 10 tỷ USD vào năm 2020 Tuy nhiên, mức kỳ vọng này vẫn còn quá nhỏ bé khi so với các đối tác thương mại lớn của Việt Nam như Mỹ hay Trung Quốc Năm 2010, tỉ trọng thương mại Việt Nam – Liên bang Nga chỉ chiếm 1,2% trong tổng kim ngạch thương mại của Việt Nam Mặc dù thương mại giữa hai nước còn hạn chế song Nga vẫn coi Việt Nam là đối tác chiến lược trong chính sách đối ngoại cân bằng Đông – Tây của mình Chương sách đã đưa ra những nhận định khách quan về mối quan hệ Việt Nam – Liên bang Nga đầy triển vọng trong tương lai với sự nỗ lực hợp tác thúc đẩy của cả hai nước Mặc dù còn hạn chế về dung lượng, song những nền tảng lý luận khoa học của quan hệ Việt Nam – Liên bang Nga mà cuốn sách đưa ra lại là những thành tựu mà nhiều nghiên cứu về sau có thể kế thừa
và phát huy
Bên cạnh các công trình nghiên cứu nước ngoài, quan hệ Việt Nam – Liên bang Nga cũng là một đề tài truyền thống, thu hút được rất nhiều chuyên gia trong nước tham gia nghiên cứu Các nhà nghiên cứu Việt Nam có nhiều công trình nghiên cứu về nước Nga, gồm: GS TS Bùi Huy Khoát, PGS.TS Nguyễn Quang Thuấn, PGS.TS Nguyễn An Hà, TS Nguyễn Cảnh Toàn, TS
Hà Mỹ Hương, và nhiều chuyên gia khác
Các nhà nghiên cứu đã rất khéo léo khi xây dựng bức tranh về bối cảnh quốc tế và khu vực để làm nổi rõ những thay đổi trong hoạt động đối nội và
đối ngoại của Liên bang Nga Trong cuốn Liên bang Nga hai thập niên đầu thế kỉ XXI, TS Nguyễn An Hà đã chỉ rõ trật tự thế giới hiện nay đã không còn
là trật tự hai cực Mỹ và Liên Xô như trước đây, mà chuyển sang trật tự một cực khi siêu cường Mỹ áp đặt tầm ảnh hưởng cả về kinh tế và quân sự lên thế giới Còn trong cuốn “Các giải pháp phát triển quan hệ Nga – ASEAN trong bối cảnh quốc tế mới”, tác giả Nguyễn Quang Thuấn lại đặt thế giới trong một
Trang 18ASEAN và khu vực châu Á – Thái Bình Dương đang gia tăng đã có những tác động lớn tới chính sách đối ngoại của Liên bang Nga Hiện nay, sức mạnh XHCN của Liên Xô đã không còn, thay vào đó là một Liên bang Nga mới, đang trong quá trình tái thiết đất nước theo con đường TBCN, và ngày càng hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế quốc tế
Với đối tượng nghiên cứu chính là Liên bang Nga đặt trong các mối quan hệ với khu vực ASEAN hay quốc gia như Việt Nam, điểm qua một số vấn đề chính trị và kinh tế nổi bật của Nga được xem là cần thiết Trước hết,
hai cuốn Quan hệ Việt – Nga trong bối cảnh quốc tế mới, và Thúc đẩy quan
hệ thương mại Việt Nam – Liên bang Nga trong điều kiện hai nước đều là thành viên WTO đều trình bày sơ lược về tình hình kinh tế - xã hội của Liên
bang Nga giai đoạn hậu Xô Viết, từ năm 1991 cho đến năm 2008 Sau khi Liên Xô tan rã, nước Nga thay đổi hoàn toàn trong hệ tư tưởng và chính trị, rũ
bỏ hoàn toàn XHCN, đi theo con đường TBCN Đất nước Nga lúc này phải đối mặt với rất nhiều vấn đề bao gồm hệ thống luật pháp không thống nhất, kém hiệu lực, trung ương mất quyền kiểm soát địa phương, chủ nghĩa khủng
bố, li khai hoành hành, kinh tế ngầm, buôn lậu, trốn thuế, tham nhũng lộng hành, tội phạm có tổ chức hoạt động mạnh Cuộc khủng hoảng kinh tế chính trị trầm trọng giai đoạn những năm cuối của thế kỉ 20 dưới thời Tổng thống B.Ensim đã đẩy Liên bang Nga tới nguy cơ tan rã Ưu tiên hàng đầu của Tổng thống V Putin sau khi lên nắm quyền chính là cải tổ lại hệ thống chính trị, chính đốn và tăng cường quyền lực, cải cách hệ thống hành chính Trải qua
Trang 199
những giai đoạn khó khăn, từ năm 2000, dưới sự lãnh đạo của Tổng thống V Putin, tình hình nước Nga đã có nhiều khởi sắc, đặc biệt nhờ chủ động tham gia hội nhập kinh tế thế giới cùng việc tận dụng lợi thế tăng giá liên tục của nguyên nhiêu liệu trên thị trường thế giới, một mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Nga Xét về tốc độ tăng trưởng, nhìn chung những năm qua, tốc độ tăng trưởng GDP trung bình của Nga xấp xỉ 7%/năm Năm 2008, nền kinh tế Nga xếp thứ 8 thế giới, nếu tính theo ngang giá sức mua PPP thì Nga còn vượt qua
cả Anh và Pháp để chiếm giữ vị trí thứ 6 GDP bình quân đầu người của Nga cũng ở mức cao, 12000 USD, cao gấp 4 lần Trung Quốc, và cao hơn nhóm BRIC Tuy nhiên, cuộc khủng hoảng kinh tế năm 2008 cũng có những tác động tiêu cực tới nền kinh tế Nga Cụ thể, năm 2009, mức tăng trưởng kinh tế của Nga tụt xuống, chỉ ở mức -7,9% Các doanh nghiệp Nga rơi vào tình trạng
nợ nần, thiếu vốn, nạn thất nghiệp gia tăng Bên cạnh đó, Nga cũng là một nước mất cân đối khá nghiêm trọng trong phát triển kinh tế - xã hội khi giữa các vùng lãnh thổ của Nga và cơ cấu đầu tư có sự chênh lệch lớn Mặt khác,
về cơ cấu kinh tế đối ngoại, Nga là một quốc gia phụ thuộc quá nhiều vào xuất khẩu nguyên nhiên liệu thô (hơn ½ ngân sách nhà nước thu từ xuất khẩu mặt hàng này), các đối tác thương mại chính của Nga vẫn chủ yếu là khối các nước phương Tây như EU (chiếm 52,1% doanh số ngoại thương của Nga), tiếp đến là Nhật Bản, Trung Quốc, Ấn Độ, Hàn Quốc (chiếm 16% doanh số ngoại thương của Nga), còn lại là Bắc Mỹ, Mỹ Latinh và Đông Nam Á (xấp
xỉ 7%) Thực trạng này đòi hỏi nước Nga phải tích cực đổi mới cơ cấu kinh tế theo hướng thị trường hiện đại hơn, tăng cường mức độ liên kết kinh tế quốc
tế, bởi sự phát triển của Nga có tác động rất lớn tới thế giới, khu vực nói chung, và đặc biệt là Việt Nam nói riêng Việt Nam và Liên bang Nga đang ngày càng có được sự đồng thuận, tiếng nói chung trong việc giải quyết các vấn đề quốc tế Kinh tế ngoại thương của hai nước cũng đang dần có xu
Trang 2010
hướng gia tăng tích cực Bên cạnh đó, Nga là cửa ngõ để Việt Nam hội nhập với các nước SNG, trong khi Việt Nam là cầu nối Nga với các nước thuộc khối ASEAN Nga và Việt Nam cũng đang tích cực hợp tác về năng lượng, an ninh quốc phòng, giáo dục đào tạo Sự thay đổi của Liên bang Nga là cần thiết trong bối cảnh thế giới mới hiện nay
Những năm qua, quan hệ Nga – ASEAN đang dần có những bước chuyển tích cực, mặc dù còn nhiều hạn chế và chưa tương xứng với tiềm năng
của hai bên Bài nghiên cứu về Những động thái mới trong quan hệ Nga – ASEAN và vai trò của Việt Nam của tác giả Nguyễn An Hà chủ yếu phân tích
về các yếu tố khu vực tác động tới quan hệ Nga – ASEAN và vai trò điều phối của Việt Nam Việc tích cực đối thoại với ASEAN hay những nỗ lực hợp tác với các tổ chức khu vực như SCO hay APEC, ASEM của Nga cho thấy chính sách đối ngoại của Nga đang hướng tới khu vực châu Á – Thái Bình Dương Trong định hướng mới của Nga, Việt Nam đóng một vai trò đặc biệt quan trọng, có ý nghĩa chiến lược về mặt chính trị hơn là về mặt kinh tế - thương mại Công trình nghiên cứu tuy nhỏ song lại cho thấy cái nhìn tổng quát về quan hệ Nga – ASEAN cũng như quan hệ Nga – Việt Nam đang có chuyển biến tích cực, hướng tới hợp tác sâu rộng hơn trên nhiều bình diện trong bối cảnh toàn cầu hóa, hiện đại hóa Mặc dù nghiên cứu về cùng một
nội dung, song cuốn Quan hệ Nga – ASEAN trong những thập niên đầu thế kỉ
21 lại đưa ra những phân tích sâu hơn về quan hệ Nga – ASEAN, những thay
đổi trong mối quan hệ này, và vai trò cầu nối của Việt Nam trong mối quan hệ này Nghiên cứu này làm rõ thực trạng mối quan hệ Nga – ASEAN trên nhiều lĩnh vực gồm hợp tác đầu tư, thương mại, năng lượng, quân sự, khoa học kĩ thuật, giáo dục đào tạo, văn hóa, du lịch Xét về quan hệ thương mại với các nước ASEAN, quan hệ của Nga với các đối tác như Thái Lan, Indonesia hay Singapore thu được nhiều lợi ích thương mại hơn so với Việt Nam Song Việt
Trang 2111
Nam lại đối tác hàng đầu, có ý nghĩa chiến lược trong việc hội nhập vào ASEAN của Liên bang Nga Cuốn sách dành khá nhiều thời lượng trong việc đánh giá vai trò của Việt nam trong quan hệ Nga – ASEAN Việt Nam là một quốc gia Đông Nam Á, có một phần lãnh hải trên vùng biển Đông, lại nằm ở trung tâm của khu vực kinh tế năng động bậc nhất thế giới, có sức tăng trưởng cao, là một địa điểm đầu tư hấp dẫn của TNCs quốc tế Do đó, Việt Nam được xác định là có vị trí thuận lợi cho giao thương hàng hóa, thiết lập mạng lưới sản xuất quốc tế và kiểm soát anh ninh thế giới Đồng thời, với nền kinh
tế đang ngày càng lớn mạnh và nỗ lực hội nhập sâu vào nền kinh tế ASEAN, Đông Á, và thế giới, Việt Nam đang trở thành cầu nối cho quan hệ Nga – ASEAN trong thời gian tới Khác với các nước ASEAN, Việt Nam có quan
hệ truyền thống lâu đời với Liên bang Nga, trên cơ sở kế thừa những truyền thống tốt đẹp từ quan hệ Việt Xô hồi những năm 1950, khi quá trình tái thiết đất nước của Việt Nam nhận được sự hỗ trợ đắc lực về mặt kinh tế, khoa học
kĩ thuật, giáo dục đào tạo từ người bạn Liên Xô Sự kiện Liên Xô tan rã (năm 1991) đã khiến quan hệ Việt Nga thay đổi sâu sắc Nguyên nhân là do chính sách thân Tây của Nga khiến mối quan hệ Việt Nga trở nên mờ nhạt, hầu như rơi vào quên lãng Đến năm 1993, chiến lược đối ngoại của Nga chuyển sang chính sách “cân bằng Đông – Tây” mới giúp cải thiện quan hệ của Nga với ASEAN nói chung, với Việt Nam nói riêng Năm 2001, Tuyên bố chung về quan hệ đối tác chiến lược Việt – Nga được ký kết đã mở ra một khởi đầu mới cho mối quan hệ đối tác chiến lược toàn diện Việt Nam – Liên bang Nga sau này Nhận thấy quan hệ của Việt Nam với các nước ASEAN đang ngày càng được tăng cường, Nga đã nhận định Việt Nam chính là cửa ngõ để Nga thâm nhập ASEAN Từng có thời kỳ mà cả Nga và ASEAN đều nghi ngại lẫn nhau nên quan hệ kinh tế - chính trị - an ninh rất hạn chế Vì vậy, quan hệ Việt Nam – ASEAN được đánh giá cao, là cơ sở thuận lợi để Nga có thể khai thác
Trang 2212
trong việc thúc đẩy quan hệ với ASEAN thông qua vai trò của Việt Nam Việt Nam cũng đã sẵn sàng và có đủ điều kiện để trở thành cầu nối của Nga với ASEAN Hiện nay, quan hệ Việt – Nga đã được cải thiện, dù hoàn toàn khác
so với thời kỳ Liên Xô trước đây Trong khi khu vực Đông Nam Á đang ngày càng thu hút các nước lớn nhờ vị trí địa kinh tế, cùng với sự phát triển mạnh
mẽ của xu thế hợp tác quốc tế, Việt Nam chính là cửa ngõ để Nga có thể tham gia vào hành lang kinh tế này cũng như Trung Quốc, Nhật Bản hay Hàn Quốc Mặt khác, Việt Nam hơn bất kỳ quốc gia ASEAN nào, hiểu rõ về văn hóa và con người Nga bởi trong hơn 50 năm qua, Nga đã đào tạo cho Việt Nam hàng chục nghìn chuyên gia, hơn 30000 người có trình độ trên đại học, thậm chí có nhiều người từng học ở Liên Xô hiện nay đang nắm giữ những vị trí quan trọng trong các cơ quan nhà nước, tại Nga cũng có khoảng 60000 đến
80000 người Việt Nam đang sinh sống và làm việc Họ chính là một trong những cầu nối thực sự gắn liền hai nước Việt Nam - Liên bang Nga Nhằm thúc đẩy hơn nữa mối quan hệ Việt – Nga – ASEAN, một trong những định
hướng chiến lược quan trọng mà cả hai cuốn sách Quan hệ Nga – ASEAN trong những thập niên đầu thế kỉ 21 và Các giải pháp phát triển quan hệ Nga – ASEAN trong bối cảnh quốc tế mới đều đưa ra chính là xem xét hình thành
FTA song phương giữa Việt Nam – Liên bang Nga Có thể thấy đây là một định hướng, một giải pháp đúng đắn nhằm phát triển hơn nữa quan hệ hai nước về mặt kinh tế, thương mại Song việc hình thành một FTA giữa Việt Nam và Liên bang Nga chỉ có thể trở thành hiện thực khi Nga trở thành thành viên của WTO, khi đó cả hai nước mới hội đủ nền tảng pháp lý cho việc hình thành một Hiệp định thương mại tự do song phương
Năm 2012, Nga chính thức trở thành thành viên của Tổ chức Thương mại Thế giới WTO, sau Việt Nam 5 năm (2007) Việc cả hai nước mở cửa thị trường, cắt giảm thuế quan, thực hiện tự do thương mại trong khuôn khổ các
Trang 2313
quy định, luật lệ của WTO đã đem lại những lợi ích nhất định cho phát triển
kinh tế, thương mại giữa hai nước Cuốn sách Thúc đẩy quan hệ thương mại Việt Nam – Liên bang Nga trong điều kiện hai nước đều là thành viên WTO
của tác giả Vũ Duy Vĩnh thực sự là một công trình nghiên cứu hay, đã tiếp cận gần hơn về mối quan hệ Việt Nga trong lĩnh vực kinh tế, thương mại Cuốn sách tập trung phân tích quan hệ thương mại Việt Nga trên cơ sở hệ thống lý luận về thương mại quốc tế và những vấn đề gia nhập WTO của Việt Nam và Liên bang Nga Hệ thống lý luận về quan hệ thương mại quốc tế nhấn mạnh đặc biệt tới vai trò của thương mại quốc tế trong sự phát triển kinh tế quốc gia cũng như kinh tế toàn cầu, thể hiện qua giá trị, tốc độ tăng trưởng, những tác động về kinh tế - xã hội của nó Cuốn sách cũng trình bày rất cụ thể
về tiến trình gia nhập cũng như những cam kết của Việt Nam và Liên bang Nga khi gia nhập WTO Tổ chức Thương mại Thế giới WTO với 156 thành viên, điều chỉnh trên 97% khối lượng thương mại thế giới thông qua những hiệp định đa phương, đa biên Khi một quốc gia trở thành thành viên của WTO, những lợi ích và cả những thách thức luôn song hành với nhau Việc gia nhập WTO đem lại cho một quốc gia nhiều cơ hội như xuất khẩu thuận lợi hơn, tăng trưởng kinh tế nhanh hơn, nông nghiệp có thị trường tiêu thụ rộng lớn hơn, thúc đẩy việc cải cách kinh tế và hệ thống pháp luật nhanh hơn, được hưởng cơ chế giải quyết tranh chấp thương mại khách quan hơn và công bằng hơn Cùng với những cơ hội, những thách thức là điều không thể tránh khỏi, đặc biệt là với những quốc gia có trình độ thấp hơn, kém phát triển hơn, thách thức phải đối mặt lại càng nhiều hơn Các quốc gia phải giải quyết những khó khăn trong việc cải cách hệ thống chính sách, pháp luật, phải đáp ứng các yêu cầu về cam kết mở cửa thị trường ngày càng cao, sự cạnh tranh với hàng hóa
và các doanh nghiệp nước ngoài Trên cơ sở lý luận đó, tác giả đi sâu phân tích thực trạng quan hệ thương mại Việt Nam – Liên bang Nga thời gian qua,
Trang 2414
đề cập đến một số nét về chính sách, hoạt động ngoại thương và đặc điểm chính của thị trường Nga Liên bang Nga có một hệ thống chính sách thuế quan phức tạp, nhiều tầng bậc, thuế chồng thuế đã khiến cho hàng hóa nước ngoài nhập khẩu vào Nga phải chịu mức thuế suất rất cao Hàng hóa Việt Nam vào Nga cũng bị đánh mức thuế bằng 75% mức thuế suất cơ sở được công bố, ngang với mức thuế của các nước phát triển hơn Việt Nam như Singapore hay Trung Quốc Do vậy, hàng xuất khẩu vào thị trường Nga của Việt Nam đã bị giảm khả năng cạnh tranh do không còn ưu thế về giá, trong khi chất lượng sản phẩm vốn đã thấp hơn so với các nước khác Về hoạt động ngoại thương của Nga, đây là công trình nghiên cứu với số liệu gần như mới nhất so với các nghiên cứu khác khi sử dụng hệ thống số liệu từ năm 1999 đến năm 2011 để phân tích Theo nghiên cứu, kim ngạch xuất nhập khẩu của Nga qua các năm liên tục tăng, chỉ trừ năm 2009 do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu, cán cân thương mại của Nga luôn thặng dư, dự trữ ngoại hối cũng vì thế mà tăng liên tục Các đối tác thương mại chính của Nga là EU, Trung Quốc và Ukraina Điều này cho thấy thị trường Nga vốn là một thị trường có tiềm năng rất lớn, là một thị trường hấp dẫn các nhà xuất nhập khẩu từ nhiều nước trên thế giới Cụ thể, năm 2012, Nga là nền kinh tế lớn thứ 7 thế giới, với 143 triệu dân, giá trị xuất nhập khẩu gần 400 tỷ USD Tuy nhiên, phương thức thanh toán L/C mà cả thế giới thường xuyên sử dụng lại chỉ chiếm khoảng 5% trong các phương thức thanh toán ở Nga Các phương thức khác mà Nga thường ưu tiên sử dụng lại gây khó khăn và tốn kém, cũng như có mức rủi ro cao cho các doanh nghiệp đối tác kinh doanh xuất nhập khẩu với Nga Cụ thể, phương thức mở L/C qua một công ty có trụ
sở tại nước thứ ba thường tốn kém, phương thức bán hàng nhập khẩu tại kho ngoại quan của Nga lại đòi hỏi các nước xuất khẩu phải có hệ thống kho bãi,
cơ sở hạ tầng kĩ thuật trong bảo quản hàng hóa, phương thức bán hàng cho
Trang 2515
thanh toán chậm hoặc trả trước đối với hàng mua đòi hỏi các đối tác của Nga phải có tiềm lực tài chính mạnh Đây là một trở ngại lớn đòi hỏi Nga cần phải nhanh chóng khắc phục nếu muốn thúc đẩy hơn nữa hoạt động xuất nhập khẩu Trọng tâm của nghiên cứu là thực trạng quan hệ thương mại Việt – Nga, đặc biệt là giai đoạn sau khi xác lập quan hệ đối tác chiến lược, từ năm
2001 đến năm 2012 Theo như hệ thống số liệu phân tích kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam và Nga giai đoạn 2001-2012, cán cân thương mại vẫn chủ yếu nghiêng về phía Nga, trao đổi thương mại hai chiều tiếp tục gia tăng Năm 2011, kim ngạch xuất nhập khẩu giữa hai nước gần chạm mốc 2 tỷ USD, Việt Nam cũng lần đầu tiên xuất siêu sang Nga Tuy nhiên, kết quả này
là do Việt Nam giảm nhập khẩu hàng hóa từ Nga chứ không phải do xuất khẩu sang Nga có sự gia tăng Cơ cấu hàng hóa trao đổi giữa hai nước được đánh giá là ổn định, phát huy được các lợi thế so sánh của từng nước Cụ thể, Việt Nam nhập khẩu từ Nga 73 mặt hàng, thuế nhập khẩu bình quân là 25,7%; Nga nhập khẩu từ Việt Nam 78 mặt hàng, thuế nhập khẩu bình quân
là 12,8% Dựa trên những kết quả thực tiễn đó, cuốn sách đã đưa ra một số đánh giá về quan hệ thương mại Việt – Nga bao gồm thành tựu, hạn chế và nguyên nhân của những hạn chế Những thành tựu trong quan hệ thương mại Việt – Nga được cho là nổi bật, bao gồm: kim ngạch xuất nhập khẩu có xu hướng tăng, cơ cấu các mặt hàng xuất nhập khẩu có tính bổ sung cho nhau, các hoạt động xúc tiến thương mại được đẩy mạnh, hỗ trợ phương thức thanh toán thông qua hoạt động của ngân hàng liên doanh Việt – Nga Bên cạnh đó
là những hạn chế, tồn tại mà hai nước cần phải tiếp tục giải quyết bao gồm: kim ngạch xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang Nga chưa ổn định, Việt Nam thường ở thế nhập siêu, kim ngạch xuất nhập khẩu hai chiều cũng chỉ chiếm tỉ trọng rất nhỏ trong tổng kim ngạch ngoại thương ở mỗi nước, cơ cấu hàng hóa trao đổi giữa hai nước hầu như không thay đổi, thị phần hàng hóa
Trang 2616
xuất khẩu của các nước ASEAN tại thị trường Nga vượt trội hơn so với Việt Nam Một số nguyên nhân chính được chỉ ra, bao gồm: Cơ chế chính sách của hai nước chưa thực sự chú trọng vào tạo điều kiện phát triển thương mại song phương, Nga thậm chí chưa có những ưu đãi về thuế cho hàng hóa của Việt Nam xuất khẩu sang đây; hoạt động thương mại tại thị trường Nga còn nhiều rào cản về thuế quan, thủ tục hành chính, thủ tục thanh toán; nền kinh tế của hai nước Việt – Nga vẫn còn nhiều khó khăn ảnh hưởng tới quan hệ thương mại, đặc biệt trong bối cảnh nền kinh tế toàn cầu vẫn chưa hồi phục sau cuộc khủng hoảng; khả năng cạnh tranh của hàng hóa Việt Nam vẫn còn thấp, mẫu
mã và chất lượng kém hấp dẫn người tiêu dùng Nga, hàng hóa Việt Nam thậm chí không có thương hiệu riêng; các doanh nghiệp hai nước thiếu thông thông tin, hiểu biết lẫn nhau về những thay đổi trong các quy định pháp lý, môi trường kinh doanh, nhu cầu thị trường, tình hình đối tác… đã gây nhiều trở ngại cho việc mở rộng quan hệ buôn bán giữa hai nước Đứng trước những tiềm năng, triển vọng và nhu cầu giải quyết các trở ngại, khó khăn cho quan
hệ thương mại Việt – Nga, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã đưa ra những định hướng cụ thể nhằm phát triển quan hệ thương mại Việt Nam – Liên bang Nga lên tầm cao mới, tương xứng với quan hệ đối tác chiến lược toàn diện mà hai nước đã xác lập Trên cơ sở những định hướng đó, các nhà nghiên cứu đã đưa ra nhóm 9 giải pháp cho phát triển quan hệ thương mại Việt Nam – Liên bang Nga trong điều kiện hai nước là thành viên WTO Các giải pháp trong nghiên cứu này cũng tương đối đồng bộ với nhóm giải pháp được đưa ra
trong cuốn Liên bang Nga hai thập niên đầu thế kỉ 21, song lại có tính cụ thể
hơn Việc thực hiện đồng bộ các giải pháp này sẽ thúc đẩy quan hệ thương mại Việt – Nga lên một tầm cao mới, góp phần củng cố vững chắc mối quan
hệ chiến lược toàn diện giữa hai nước
Trang 2717
Các nghiên cứu trên tuy có tính bao quát, tính hệ thống, tính chuyên sâu song do yếu tố khách quan là thời gian, mới chỉ đề cập đến vấn đề quan hệ Việt – Nga chủ yếu trong giai đoạn trước năm 2008, nên hệ thống dữ liệu phân tích đều không mang tính cập nhật Đồng thời, các nghiên cứu này chủ yếu đi sâu phân tích quan hệ Việt – Nga về mặt chính trị, các phân tích về kinh tế thương mại còn nhiều hạn chế Mặt khác, những biến chuyển mới trong tình hình kinh
tế - chính trị - an ninh thế giới thời gian gần đây đã có những ảnh hưởng sâu sắc tới hoạt động kinh tế và các quan hệ đối ngoại của Liên bang Nga Vì thế, đòi hỏi phải có một nghiên cứu mới, trên cơ sở kế thừa những thành công của các nghiên cứu trước đây, tập trung phân tích sâu hơn quan hệ thương mại Việt Nam – Liên bang Nga trong bối cảnh quốc tế mới
1.2 Cơ sở lý luận và thực tiễn của quan hệ thương mại
1.2.1 Cơ sở lý luận
Hoạt động thương mại trên thực tế đã diễn ra từ rất sớm Đến nay, thương mại vẫn tiếp tục duy trì vai trò quan trọng trong các nền kinh tế và các quan hệ kinh tế toàn cầu Theo Wikimedia, thương mại là hoạt động trao đổi của cải, hàng hóa, dịch vụ, kiến thức, tiền tệ giữa hai hay nhiều đối tác, và có thể nhận lại một giá trị nào đó (bằng tiền thông qua giá cả) hay bằng hàng hóa, dịch vụ khác như trong hình thức thương mại hàng đổi hàng (barter) Trong quá trình này, người bán là người cung cấp của cải, hàng hóa, dịch vụ cho người mua, đổi lại người mua sẽ phải trả cho người bán một giá trị tương đương nào đó Như vậy, hoạt động thương mại về thực chất là hoạt động mua bán và trao đổi hàng hóa, dịch vụ nhằm mục đích sinh lời Tuy nhiên, hoạt động thương mại đơn thuần sẽ chỉ diễn ra trong phạm vi một quốc gia, một vùng lãnh thổ
Khi hoạt động trao đổi hàng hóa và dịch vụ không còn dừng lại ở phạm
vi hẹp nữa, mà mở rộng ra giữa hai hay nhiều quốc gia thì đó được gọi là hoạt
Trang 2818
động thương mại quốc tế Thương mại quốc tế cũng gồm thương mại hàng hóa và thương mại dịch vụ Theo thời gian, thương mại quốc tế cũng ngày càng mở rộng về phạm vi và quy mô
Trong thương mại quốc tế hiện nay, hoạt động thương mại song phương đang dần khẳng định vai trò và sức lan tỏa mạnh mẽ của mình Hoạt động thương mại song phương giữa hai quốc gia là hoạt động giao thương giữa hai quốc gia đó Căn cứ vào đối tượng trao đổi, thương mại song phương cũng bao gồm thương mại hàng hóa và thương mại dịch vụ, các hoạt động xúc tiến thương mại, các hoạt động về quyền sở hữu trí tuệ và hoạt động đầu
tư có liên quan đến thương mại
Trong xu thế toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng như hiện nay, vai trò của thương mại quốc tế được đánh giá cao đối với sự phát triển kinh tế Thứ nhất, thương mại quốc tế giúp các quốc gia có được những loại hàng hóa mà nước đó không có lợi thế, đồng thời tạo ra một số hệ quả khả quan như chuyển giao công nghệ, kích cầu, đem lại lợi ích cho các doanh nghiệp, tăng sự lựa chọn cho người tiêu dùng, giảm chi phí đầu vào sản xuất Thứ hai, thương mại quốc tế giúp phân bổ có hiệu quả các nguồn lực sản xuất của thế giới Dựa trên lợi thế so sánh của mỗi nước, thương mại quốc tế thúc đẩy chuyên môn hóa, làm cho các nước sử dụng nguồn lực của mình một cách hiệu quả nhất Thứ ba, thương mại quốc tế làm thay đổi cơ cấu kinh tế theo hướng
có lợi nhất cho mỗi quốc gia Theo đó, cơ cấu kinh tế và cơ cấu sản xuất sản phẩm sẽ được điều chỉnh phù hợp với trình độ phát triển kinh tế, nguồn lực và lợi thế của mỗi quốc gia, phù hợp với những đòi hỏi tất yếu khách quan của quan hệ kinh tế quốc tế và phân công lao động quốc tế Thứ tư, thương mại quốc tế giúp nâng cao hiệu quả của nền kinh tế cũng như năng lực cạnh tranh của nền kinh tế và các doanh nghiệp Thứ năm, giữa thương mại quốc tế và thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài có mối quan hệ qua lại chặt chẽ, bổ sung cho
Trang 2919
nhau Thương mại quốc tế giúp thu hút FDI và FDI giúp thúc đẩy thương mại quốc tế Thương mại hàng hóa song phương giữa hai quốc gia cũng là một nhân tố đóng góp vào sự thành công của thương mại quốc tế
Khi đánh giá quan hệ thương mại hàng hóa song phương giữa hai quốc gia cần hết sức chú trọng vào việc áp dụng những lý thuyết thương mại phù hợp, phân tích cụ thể thực trạng và ảnh hưởng của quan hệ đó đối với nền kinh tế quốc gia Hoạt động đánh giá chính xác giúp chỉ ra được những ưu điểm, nhược điểm, thành công, hạn chế, từ đó đưa ra những khuyến nghị nhằm thúc đẩy mối quan hệ thương mại hàng hóa song phương giữa hai nước, đóng góp vào tăng trưởng kinh tế của mỗi quốc gia cũng như tăng trưởng kinh
tế toàn cầu
Lý thuyết thương mại quốc tế là những lý thuyết giải thích cơ sở khoa học hình thành thương mại quốc tế và lợi ích đạt được của các chủ thể tham gia quá trình này Quan hệ thương mại phát triển từ thấp đến cao, do đó mà các lý thuyết thương mại cũng được phát triển từ đơn giản đến phức tạp Lý thuyết thương mại gồm ba nhóm cơ bản: lý thuyết thương mại cổ điển, lý thuyết thương mại tân cổ điển, và lý thuyết thương mại hiện đại
1.2.1.1 Lý thuyết về lợi thế tuyệt đối
Lý thuyết lợi thế tuyệt đối chỉ ra hoạt động thương mại diễn ra giữa hai quốc gia có lợi thế tuyệt đối về sản xuất một loại hàng hóa nào đó Mỗi quốc gia đều có lợi thế tuyệt đối (về lao động, vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên…) trong việc sản xuất một mặt hàng, và ít có lợi thế hơn trong việc sản xuất một mặt hàng khác Khi đó, việc trao đổi hàng hóa giữa việc đổi một mặt hàng mà quốc gia đó có lợi thế tuyệt đối để lấy một mặt hàng mà quốc gia đó ít có lợi thế, trong khi lại là mặt hàng lợi thế tuyệt đối của một quốc gia khác đã đem lại lợi ích thương mại cho cả hai quốc gia Việc chuyên môn hóa sản xuất một mặt hàng ở đây thể hiện lợi thế tuyệt đối trong sản xuất một mặt hàng của mỗi
Trang 301.2.1.3 Lý thuyết Heckscher – Ohlin (lý thuyết H-O)
Lý thuyết H-O được trình bày như sau: “Một quốc gia sẽ xuất khẩu hàng hóa sử dụng nhiều yếu tố sản xuất mà quốc gia đó dư thừa và rẻ tương đối, và nhập khẩu hàng hóa sử dụng nhiều yếu tố sản xuất mà quốc gia đó khan hiếm và đắt tương đối” Điểm tiến bộ của lý thuyết này so với hai lý thuyết thương mại trước đó là đã giải thích được triệt để nguồn gốc phát sinh
Trang 3121
lợi thế so sánh Đó là mỗi quốc gia đều sở hữu các yếu tố dư thừa tương đối và nguồn lực sản xuất khác biệt, không quốc gia nào giống quốc gia nào Một thành công nữa của lý thuyết H-O chính là đã chỉ ra được nguyên nhân dẫn tới
sự khác biệt tương đối về giá cả sản xuất giữa hai quốc gia Bên cạnh đó, chính phủ các nước còn có thể dựa trên việc nghiên cứu lý thuyết để đưa ra những chính sách xuất khẩu và nhập khẩu sản phẩm phù hợp Với những ý nghĩa đó,
lý thuyết H-O được đánh giá là trọng tâm của lý thuyết thương mại quốc tế Tuy nhiên, lý thuyết này cũng còn có những hạn chế như chưa giải thích được thực tế rằng không phải mọi quốc gia đều xuất khẩu sản phẩm thâm dụng các yếu tố mà quốc gia đó dư thừa tương đối hay nhập khẩu sản phẩm thâm dụng các yếu tố mà quốc gia đó khan hiếm tương đối; chưa đề cập đến nhiều yếu tố khách quan khác chi phối sản phẩm như yếu tố chất lượng lao động, công nghệ sản xuất, rào cản thương mại (phí vận chuyển, thuế quan, hạn ngạch…)
1.2.1.4 Một số tiêu chí đánh giá quan hệ thương mại song phương
Đối với việc đánh giá quan hệ thương mại song phương giữa hai quốc gia, bên cạnh cơ sở vận dụng các lý thuyết thương mại quốc tế phù hợp, còn cần dựa vào một số tiêu chí cụ thể như sau:
a) Nhóm tiêu chí đánh giá về quy mô thương mại
Quy mô thương mại song phương giữa hai nước hàng năm được xem xét trên chỉ tiêu số tuyệt đối và số tương đối
- Về số tuyệt đối: Số liệu được thể hiện qua sự biến đổi của tổng kim ngạch xuất nhập khẩu, kim ngạch xuất khẩu và kim ngạch nhập khẩu song phương hàng năm trong từng kỳ nghiên cứu
- Về số tương đối: Xem xét tốc độ tăng trưởng kim ngạch xuất nhập khẩu, kim ngạch xuất khẩu, kim ngạch nhập khẩu qua các năm trong từng kỳ nghiên cứu
Trang 3222
Nhóm chỉ tiêu này cho thấy vị trí và vai trò của hai nước đối tác trong mối quan hệ thương mại song phương và trong mối tương quan với các quốc gia khác
b) Nhóm tiêu chí đánh giá về cơ cấu thương mại
Cơ cấu thương mại hàng hóa là tổng thể các bộ phận giá trị hàng hóa xuất nhập khẩu hợp thành tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của một quốc gia với những mối quan hệ ổn định và phát triển giữa các bộ phận hợp thành đó trong một điều kiện kinh tế xã hội cho trước tương ứng với một thời kỳ xác định
Đặc trưng của cơ cấu thương mại hàng hóa là được thể hiện qua hai thông số là chất lượng và số lượng; mang tính lịch sử, kế thừa; luôn ở trạng thái vận động phát triển không ngừng
Cơ cấu thị trường xuất nhập khẩu là sự phân bổ kim ngạch xuất nhập khẩu theo nước, nền kinh tế và khu vực lãnh thổ thế giới
Cơ cấu mặt hàng xuất nhập khẩu là tỷ lệ tương quan giữa các ngành, mặt hàng xuất nhập khẩu Dưới đây trình bày về 3 hệ thống phân loại hàng hóa xuất nhập khẩu thường được sử dụng trong thống kê, phân tích và đánh giá thương mại quốc tế
i) Hệ thống phân loại Harmonised Commodity Description and Coding System (HS)
Ngày 14 tháng 6 năm 1983, Công ước Quốc tế về mô tả và mã hóa hàng hóa đã ra đời tại Bruych-xen, trên cơ sở sửa đổi Danh mục của Hội đồng Hợp tác Hải quan – CCCN (năm 1972), nhằm đáp ứng nhu cầu về một danh mục mô tả chi tiết mặt hàng và có hệ thống mã số hoàn toàn tương thích với Danh mục Hệ thống Phân loại Thương mại Quốc tế Tiêu chuẩn (SITC), cũng như có thể chuyển đổi sang một số danh mục khác Danh mục Mô tả hàng hóa
và Hệ thống mã số hài hòa, gọi tắt là Danh mục Điều hòa (HS) được chia thành phần, chương, nhóm hàng và phân nhóm hàng hóa chi tiết và mã số đến
Trang 33và giám sát thương mại quốc tế
Do sự phát triển không ngừng của công nghệ sản xuất cũng như nhu cầu của người tiêu dùng, mẫu mã cũng như hình thức hàng hóa thường xuyên thay đổi, dẫn đến Ủy ban Hệ thống Điều hòa phải thường xuyên rà soát, cập nhật Danh mục HS Theo thông báo mới nhất từ Tổ chức Hải quan Thế giới, Danh mục HS mới nhất sẽ có hiệu lực vào ngày 01/01/2017 (HS 2017) Hiện nay, Danh mục HS đang được sử dụng là HS 2012 được ban hành năm 2012, gồm 97 chương, hơn 100 nhóm và hơn 5000 phân nhóm Công ước HS hiện nay bao gồm 150 bên ký kết tham gia
ii) Hệ thống phân loại thương mại quốc tế tiêu chuẩn, bản sửa đổi lần thứ 3 – Standard Internatinal Trade Classification, Revision 3 (SITC)
Bảng 1.1: Danh mục hàng hóa phân loại theo Danh mục
Tiêu chuẩn Quốc tế SITC
A – Hàng thô hay mới sơ chế (nhóm 0-4)
0 Lương thực, thực phẩm và động vật sống
1 Đồ uống và thuốc lá
2 Nguyên liệu thô, hàng phi lương thực, trừ nhiên liệu
3 Nhiên liệu, dầu mỡ nhờ và vật liệu liên quan
4 Dầu, mỡ, sáp động thực vật
B – Hàng chế biến hay đã tinh chế (nhóm 5-8)
5 Hóa chất và sản phẩm liên quan
6 Hàng công nghiệp phân theo nguyên liệu
7 Máy móc, phương tiện vận tải và phụ tùng
8 Hàng công nghiệp khác
9 Hàng hóa không thuộc các nhóm trên
Nguồn: UN Comtrade
Trang 34SITC gồm 10 phần, 67 chương, 261 nhóm, 1033 phân nhóm gồm tất cả các mặt hàng trong thương mại quốc tế Trong đó, 720 phân nhóm được chia thành 2805 mặt hàng chi tiết hơn Tên của các nhóm trong SITC lần 3 được sắp xếp giống với các nhóm HS Nhờ đó mà giữa SITC và HS có mức độ tương thích cao, hoàn toàn có thể chuyển đổi
Hiện nay, thế giới đã sử dụng Danh mục phân loại thương mại quốc tế tiêu chuẩn SITC, bản sửa đổi lần thứ 4 SITC lần 4 vẫn giữ cấu trúc tổng thể của SITC lần 3 gồm phần, chương và nhóm Tuy nhiên, SITC lần 4 đã có một
số thay đổi ở cấp độ các nhóm cơ bản và một số các phân nhóm Cụ thể, 238
đề mục cơ bản trong SITC 3 đã không còn được sử dụng trong SITC 4, và 87
đề mục cơ bản mới được giới thiệu Như vậy, SITC lần 4 bao gồm 2970 đề mục cơ bản
iii) Hệ thống phân loại Broad Economic Categories (BEC)
Danh mục phân loại hàng hóa theo ngành kinh tế rộng (BEC) gồm 19 nhóm cơ bản, được ban hành bởi Ủy ban Thống kê Liên hợp quốc, tuy không phân loại hàng hóa chi tiết như SITC nhưng lại là danh mục bổ sung cho SITC về công dụng cuối cùng của hàng hóa nhập khẩu Mục đích của BEC là nhằm phục vụ cho việc phân tích số liệu thống kê thương mại đối với hàng
Trang 3525
hóa nhập khẩu theo các nhóm lớn như lương thực thực phẩm, nguyên nhiên vật liệu, thiết bị vốn, hàng tiêu dùng lâu bền và hàng tiêu dùng bán lâu bền, và
có thể phân chia thành các nhóm hàng chi tiết hơn nữa
Bảng 1.2: Hệ thống phân loại BEC
Mã
Nhóm hàng tương ứng trong SNA
1 Lương thực, thực phẩm và đồ uống
11 Thô
12 Đã chế biến
2 Vật tư nông nghiệp
3 Nhiên liệu và dầu bôi trơn
32 Đã chế biến
4 Tư liệu sản xuất (trừ phương tiện vận tải) và phụ
tùng phụ kiện
41 Tư liệu sản xuất (trừ phương tiện vận tải) và phụ
42 Phụ tùng và phụ kiện tư liệu sản xuất (trừ phương
5 Phương tiện vận tải và phụ tùng phụ kiện
52 Loại khác
6 Hàng tiêu dùng khác chưa được phân vào đâu
Nguồn: UN Comtrade
Trang 3626
Danh mục BEC phân loại hàng hóa dựa theo công dụng cuối cùng, tương thích với 3 nhóm hàng hóa cơ bản trong hệ thống tài khoản quốc gia (SNA), gồm: hàng hóa tư liệu sản xuất, hàng hóa trung gian và hàng hóa tiêu dùng
+ Tư liệu sản xuất: còn gọi là hàng hóa vốn hay hàng hóa tư bản Tư liệu sản xuất được hiểu là một loại hàng hóa cuối cùng (không cần chế biến tiếp) được dùng để sản xuất ra các hàng hóa khác mà không phải dùng cho sinh hoạt Nó không gồm những tài sản có sẵn trong tự nhiên như đất đai, khoáng sản, nhân lực và cũng không phải vốn bằng tiền tệ Theo BEC, tư liệu sản xuất gồm các nhóm hàng hóa mã 41 và 521
+ Hàng hóa trung gian là những loại hàng hóa được sử dụng như đầu vào để sản xuất ra hàng hóa khác Hàng hóa trung gian chưa phải là hàng hóa cuối cùng Nó gồm các nhóm hàng hóa mã 111, 121, 21, 22, 31, 322, 42, 53 theo BEC
+ Hàng hóa tiêu dùng là những hàng hóa cuối cùng được dùng cho mục đích phục vụ sinh hoạt con ngưởi Hàng tiêu dùng gồm các nhóm hàng hóa
mã 112, 122, 522, 61, 62, 63 theo BEC
+ Hàng hóa không phân loại là những hàng hóa có thể sử dụng cho sản xuất và tiêu dùng gia đình hay cá nhân Theo BEC, nó gồm các nhóm hàng hóa mã 321, 51 và 7 Trong đó, hàng hóa thuộc nhóm mã 321 và 51 dùng cho
cả sản xuất và tiêu dùng gia đình hay cá nhân Còn hàng hóa mã 7 gồm các thiết bị quân sự, bưu kiện bưu phẩm, những hàng hóa đặc biệt không được phân loại khác
1.2.1.5 Một số lý thuyết về các mối quan hệ thương mại
a) Khái niệm quan hệ thương mại
Quan hệ thương mại quốc tế là quan hệ phát sinh trong quá trình trao đổi hàng hóa và dịch vụ giữa các quốc gia Các mối quan hệ này đóng vai trò quan trọng trong quá trình sản xuất – tiêu dùng trên phạm vi toàn cầu, gắn kết
Trang 3727
các nền kinh tế của mỗi quốc gia, khu vực và thế giới Trong thương mại quốc
tế, hàng hóa và dịch vụ được tự do di chuyển qua biên giới quốc gia, do đó các chủ thể tham gia vào quan hệ thương mại quốc tế đến từ các nước khác nhau, và mang các quốc tịch khác nhau Các mối quan hệ thương mại quốc tế chịu sự chi phối của các hệ thống pháp luật khác nhau của các quốc gia, cùng các điều ước, thông lệ, quy tắc mang tính chất quốc tế
Hình thức chủ yếu của các quan hệ thương mại quốc tế hiện nay bao gồm bảo hộ thương mại tự do đơn phương, các hiệp định khu vực/ song phương hay các hiệp định WTO/ đa phương Các FTA đang trở thành xu thế phổ biến trong quan hệ thương mại giữa các quốc gia Theo thống kê của WTO, tới tháng 3 năm 2008, đã có 209 hiệp định thương mại khu vực (RTA) được thông báo cho WTO, trong đó có 119 FTA Trong 119 FTA đó, có 96 FTA (chiếm 81%) đã ký kết và có hiệu lực trong giai đoạn 1995 – 2007 Trong 96 FTA đó, lại có tới 69 FTA (chiếm 72%) được hình thành trong giai đoạn 2001 – 2007
Hiệp định thương mại tự do (FTA) là kết quả chính thức của một quá trình thương lượng giữa hai hay nhiều quốc gia ký kết nhằm hạ thấp hoặc loại
bỏ hẳn các rào cản đối với thương mại Một FTA thường bao gồm các quy định về thuế nhập khẩu, hạn ngạch và lệ phí đối với hàng hóa và dịch vụ được giao dịch giữa các thành viên FTA nhằm cho phép các nước mở rộng tiếp cận thị trường của nhau Bên cạnh đó, các FTA còn có thể bao gồm các thỏa thuận liên quan đến các vấn đề về cải thiện thể chế, gìn giữ môi trường, lao động, bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ cùng nhiều vấn đề khác Do vậy, các FTA còn đóng vai trò quan trọng trong chính sách ngoại giao, việc sử dụng các lợi ích thương mại để thắt chặt thêm các mối quan hệ chiến lược là cần thiết Mỗi FTA có phạm vi lĩnh vực và mức độ tự do hóa khác nhau
Trang 38Thông quan các quan hệ thương mại, hoạt động xuất nhập khẩu, trao đổi hàng hóa và dịch vụ được tăng cường Sự cạnh tranh đến từ hàng hóa nước ngoài buộc các nhà sản xuất trong nước phải thay đổi công nghệ, cải tiển sản phẩm, giảm giá thành, và mở rộng quy mô sản xuất Khi đó, không chỉ người tiêu dùng được hưởng lợi do được tiêu dùng những sản phẩm rẻ hơn, chất lượng không thua kém các sản phẩm nhập khẩu mà các nhà sản xuất nội địa cũng được lợi từ việc tăng cường sản xuất, mở rộng quy mô sản xuất, đổi mới sản phẩm, tận dụng triệt để mọi nguồn lực sẵn có nhằm đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng trong nước và hướng tới mục tiêu xuất khẩu các sản phẩm, tăng doanh thu cho doanh nghiệp và đóng góp vào ngân sách quốc gia Bên cạnh đó, thông qua quan hệ thương mại với những thỏa thuận, ưu đãi mà các nước dành cho nhau trong hoạt động thương mại, hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ được đẩy mạnh, thể hiện thông qua tốc độ tăng trưởng kim ngạch xuất nhập khẩu so với tốc độ tăng trưởng GDP Nhiều năm qua, các số liệu thương mại mà WTO công bố đều cho thấy rõ tốc độ tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa của thế giới luôn cao hơn tốc độ tăng trưởng GDP Theo các số liệu mới nhất từ WTO (năm 2013), tốc độ tăng trưởng xuất khẩu hàng hóa toàn thế giới đạt 2,5%, so với tốc độ tăng trưởng GDP toàn cầu là 2% Trong đó, các nước châu Á có tốc độ tăng trưởng xuất khẩu hàng hóa cao nhất với 4,5%, theo sau là các nước Bắc Mỹ với 3%; tốc
độ tăng trưởng nhập khẩu cao nhất thuộc về các nước Trung Đông với 6%,
Trang 39Mỹ chỉ đạt 2%, khu vực Trung Đông là 4% Năm 2013 ghi nhận tốc độ tăng trưởng xuất khẩu thương mại dịch vụ cao nhất của khối CIS với 9%, trong đó châu Phi lại có tốc độ tăng trưởng thấp nhất với -3%
Đối với nền kinh tế, khi các quan hệ thương mại được thiết lập, thông qua hoạt động thương mại quốc tế đã góp phần tăng cường quá trình phân công lao động quốc tế, chuyên môn hóa sản xuất cả về chiều rộng và chiều sâu Hiện nay trên thế giới, việc sản xuất ra một sản phẩm là quá trình hợp tác sản xuất bởi nhiều quốc gia hoặc một sản phẩm được chuyên sản xuất bởi nhiều quốc gia Các quốc gia xuất khẩu hàng hóa, dịch vụ mà họ có lợi thế so sánh, và nhập khẩu hàng hóa, dịch vụ họ có ít lợi thế so sánh hơn Thông qua việc tăng cường các hoạt động thương mại xuyên biên giới như vậy, các nền kinh tế đang ngày càng mở rộng quy mô sản xuất và tiêu dùng, từ đó tăng sản lượng và thu nhập cho nền kinh tế quốc gia
Các quan hệ thương mại quốc tế còn đóng vai trò quan trọng trong việc chuyển giao công nghệ, kỹ năng quản lý giữa các quốc gia Hoạt động thương mại tự do giữa các quốc gia đã thu hút các nhà đầu tư nước ngoài tham gia đầu tư sản xuất vào các quốc gia có tiềm năng Việc thu hút các công ty xuyên quốc gia đến đầu tư không chỉ đem lại cho nước nhận đầu tư sự hỗ trợ về vốn
mà bao gồm cả những chuyển giao về công nghệ, kỹ năng quản lý, cùng việc đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao Thông qua chuyển giao công nghệ cũng như kỹ năng quản lý, các nước nhận đầu tư có thể cải thiện được nền công nghiệp sản xuất trong nước, từ đó có cơ hội tăng cường hoạt động thương mại quốc tế hiệu quả hơn
Trang 4030
Việc mở rộng quan hệ thương mại còn giúp các quốc gia phát huy được tiềm năng và lợi thế của mình Hiện nay, do quá trình phân công lao động quốc tế và chuyên môn hóa sản xuất, việc tập trung sản xuất các sản phẩm hàng hóa và cung cấp dịch vụ đều diễn ra ở những nơi có lợi thế so sánh Hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ giúp các quốc gia tập trung mọi nguồn lực sẵn có, sản xuất những sản phẩm mà họ có lợi thế hơn so với các quốc gia khác, từ đó giúp quốc gia đó tận dụng được những ưu thế của mình Không chỉ trong sản xuất, các quan hệ thương mại còn giúp các quốc gia nâng cao vị thế của mình trên thị trường hàng hóa thế giới, từ đó mở rộng và củng
cố vị thế mỗi quốc gia đó trong việc giải quyết những vấn đề toàn cầu
Quan hệ thương mại còn đóng một vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy các quốc gia chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa – hiện đại hóa Hiện nay, do đòi hỏi của nền kinh tế thị trường toàn cầu, cũng như xu thế tham gia toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế, các quốc gia không ngừng phát triển, mở rộng các quan hệ thương mại quốc tế thông qua các FTA, BTA hay tham gia các diễn đàn kinh tế, các tổ chức kinh tế Nhằm tận dụng được hết những ưu thế mà các hiệp định song phương cũng như đa phương đem lại, các quốc gia trước hết cần ưu tiên đổi mới chính nền kinh tế nội tại theo hướng thị trường, ưu tiên công nghiệp hóa – hiện đại hóa, cùng với việc tiến hành các cải cách về luật pháp cũng như hành chính Sự chuẩn bị này sẽ giúp các quốc gia
có được ưu thế khi tham gia hoạt động thương mại quốc tế
1.2.2 Cơ sở thực tiễn
1.2.2.1 Nhu cầu từ phía Việt Nam
Theo số liệu thống kê của Tổng cục Hải quan Việt Nam, năm 2014 tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam đạt trên 298,24 tỷ USD, tăng 12,9%, tương ứng tăng 34,17 tỷ USD so với năm 2013; trong đó xuất khẩu đạt kim ngạch 150,19 tỷ USD, tăng 3,7%, tương ứng 18,15 tỷ USD;