1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

áp dụng pháp luật về thực hành quyền công tố đối với vụ án ma túy từ thực tiễn huyện hoằng hóa, tỉnh thanh hóa

96 9 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 96
Dung lượng 684,6 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các tội phạm ma tuý thường được thực hiện bằng các nhóm hành vi sau đây: Hành vi trồng cây thuốc phiện, cây côca, cây cần sa hoặc các loại cây khác có chứa chất ma túy thông qua việc gie

Trang 1

VI ỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

ĐỐI VỚI VỤ ÁN MA TÚY TỪ THỰC TIỄN HUYỆN HOẰNG HÓA,

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu,

ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Học viện Khoa học xã hội

Vậy tôi viết lời cam đoan này đề nghị Học viện xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Trang 3

MỤC LỤC

M Ở ĐẦU 1

1 Tính c ấp thiết của đề tài 1

2 Tình hình nghiên c ứu của đề tài 4

3 M ục đích, nhiệm vụ nghiên cứu 5

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 6

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu 6

6 Nh ững đóng góp mới và ý nghĩa khoa học của luận văn 6

7 K ết cấu của luận văn 7

Chương 1: 8

NH ỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ ÁP DỤNG PHÁP LUẬT TRONG HOẠT ĐỘNG THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ ĐỐI VỚI VỤ ÁN MA TÚY 8

1.1 Khái quát chung v ề áp dụng pháp luật trong thực hành quyền công tố các v ụ án về ma túy 8

1.1.1 Khái ni ệm, các dấu hiệu pháp lý của các tội phạm về ma túy 8

1.1.2 Khái ni ệm, đặc điểm, vai trò áp dụng pháp luật trong thực hành quyền công t ố các vụ án ma túy 13

1.2 Quy trình áp d ụng pháp luật trong thực hành quyền công tố trong các vụ án ma túy 19

1.3 T ổng quan về pháp luật điều chỉnh hoạt động áp dụng pháp luật trong thực hành quy ền công tố trong các vụ án ma túy 22

1.4 Nh ững điều kiện bảo đảm trong hoạt động áp dụng pháp luật trong thực hành quy ền công tố các vụ án về ma túy 34

Chương 2: 38

TH ỰC TRẠNG ÁP DỤNG PHÁP LUẬT TRONG HOẠT ĐỘNG THỰC HÀNH QUY ỀN CÔNG TỐ ĐỐI VỚI VỤ ÁN MA TÚY TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN HO ẰNG HÓA, TỈNH THANH HÓA 38

Trang 4

2.1 Khái quát chung v ề điều kiện tự nhiên – xã hội và tình hình tội phạm về ma

túy trên địa bàn huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa 38

2.1.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa 38

2.1.2 Khái quát chung v ề tình hình tội phạm về ma túy tại Hoằng Hóa, Thanh Hóa 40

2.2 Th ực trạng áp dụng pháp luật trong thực hành quyền công tố các vụ án ma túy t ại Hoằng Hóa trong những năm qua 42

2.2.1 Th ực trạng về tổ chức, bộ máy 42

2.2.2 Nh ững kết quả đạt được 44

2.2.3 Nh ững vấn đề tồn tại hạn chế 50

2.2.4 Nguyên nhân c ủa tồn tại, hạn chế 57

Chương 3 65

GI ẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ ÁP DỤNG PHÁP LUẬT TRONG THỰC HÀNH QUY ỀN CÔNG TỐ CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TRONG CÁC V Ụ ÁN MA TUÝ TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN HOẰNG HÓA TỈNH THANH HÓA TRONG TH ỜI GIAN TỚI 65

3.1 Nhóm gi ải pháp chung để nâng cao hiệu quả thực hành quyền công tố của vi ện kiểm sát nhân dân đối với án ma túy trên địa bàn huyện Hoằng Hóa 65

3.1.1 Gi ải pháp về pháp luật 65

3.1.2 Hoàn thi ện kĩ năng áp dụng pháp luật 69

3.1.3 Tăng cường kĩ năng nghiệp vụ trong giải quyết các vụ án ma túy 71

3.1.4.Tăng cường mối quan hệ phối hợp giữa Cơ quan điều tra với Viện kiểm sát và Toà án trong ho ạt động thực hành quyền công tố đối với án ma túy 75

3.1.5 Tăng cường chất lượng đội ngũ Kiểm sát viên 76

3.1.6 Đổi mới, nâng cao công tác quản lý, chỉ đạo, điều hành trong công tác thực hành quy ền công tố của Viện kiểm sát nhân dân đối với án ma túy 79

Trang 5

3.2 Gi ải pháp đối với viện kiểm sát nhân dân huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh

Hóa 82

3.2.1 Đối với Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa 82

3.2.2 Đối với Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoằng Hóa 83

K ẾT LUẬN 87

DANH M ỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 89

Trang 6

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT VKS : Viện kiểm sát

Trang 7

M Ở ĐẦU

Ma tuý và tội phạm ma tuý từ lâu đã trở thành hiểm họa của loài người Các hoạt động sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, mua bán, sử dụng trái phép chất ma túy, chất hướng thần đã làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến đến sức khỏe và hạnh phúc của con người, cản trở sự phát triển lành mạnh đối với kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, đe dọa sự ổn định về an ninh và chủ quyền của các quốc gia Các hoạt động buôn bán ma túy trái phép đã tạo điều kiện cho các tổ chức tội phạm xuyên quốc gia thâm nhập, làm

ô nhiễm và phá hoại bộ máy nhà nước; làm phát sinh tội phạm; gây bất ổn trong mỗi gia đình và cộng đồng, khiến hàng trăm ngàn thanh thiếu niên, thế hệ tương lai của đất nước nghiện ngập, dẫn đến tình trạng biết bao gia đình điêu đứng khi trong nhà có người nghiện Tai hoạ ma tuý đang rình rập mọi người, mọi nhà, tạo ra tâm lý lo lắng

và căng thẳng trong xã hội; nó cũng là một trong những con đường chính lây lan HIV/AIDS, căn bệnh thế kỷ mà loài người đang phải đối đầu và chống chọi

Nhận thấy sự cần thiết phải huy động sức mạnh của các quốc gia cùng tham gia phòng, chống và kiểm soát ma túy, Liên Hợp quốc đã ban hành 3 Công ước ước (1961,

1971 và 1988) về phòng, chống và kiểm soát ma túy

Ở Việt Nam, ngay sau khi giành được độc lập, bên cạnh việc tập trung sức người, sức của kháng chiến chống thực dân Pháp, Chính phủ đã quan tâm đến việc ngăn chặn thuốc phiện Ngày 05/3/1952, Thủ tướng Chính phủ ban hành Nghị định số 150-TTg quy định việc xử lý đối với những hành vi vi phạm thể lệ quản lý thuốc phiện Bộ luật Hình sự năm 1985 và nhất là Bộ luật Hình sự năm 1999 của nước ta đã Hình thành hệ thống các quy định tội phạm về ma túy Trong những năm gần đây Đảng và Nhà nước ta đã có những chủ trương và giải pháp chiến lược để đấu tranh phòng, chống đối với tội phạm ma tuý

Ngày 01/9/1997, Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký Quyết định số 789/QĐ-CTN tham gia 3 Công ước của Liên hợp quốc về kiểm soát ma túy

Trang 8

Ngày 28/5/1997, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 686/TTg thành lập Ủy ban quốc gia phòng, chống ma túy (nay là Ủy ban quốc gia phòng, chống tệ nạn ma túy, mại dâm) Ngày 21 tháng 12 năm 1999 Quốc hội nước Cộng Hoà XHCNVN thông qua Bộ luật Hình sự, trong đó quy định các tội phạm về Ma tuý thành một chương riêng, đó là chương XVIII (từ điều 192 đến điều 201) Ngày 09/12/2000, Quốc hội thông qua Luật Phòng, chống ma túy Ngày 26 tháng 11 năm 2003 Quốc hội thông qua Bộ luật tố tụng hình sự quy định trình tự, thủ tục tiến hành các hoạt động khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án Hình sự

Ngày 10/3/2005, Thủ tướng Chính phủ ra Quyết định số 49/2005/QĐ-TTg phê duyệt Kế hoạch tổng thể phòng, chống ma túy đến năm 2010, với mục tiêu đến năm

2015 cơ bản thanh toán tệ nạn ma túy trong cả nước Tất cả các chủ trương, chính sách và các văn bản quy phạm pháp luật này đã góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh phòng, chống ma túy

Trong quá trình đấu tranh phòng chống tội phạm về ma túy, các cơ quan bảo vệ pháp luật đã phát hiện, điều tra và triệt phá nhiều ổ nhóm, đường dây và tổ chức tội phạm ma túy có quy mô xuyên quốc gia và quốc tế, bắt giữ nhiều tên tội phạm đặc biệt nguy hiểm và xử lý nghiêm minh trước pháp luật, góp phần làm ổn định tình hình an ninh trật tự, đem lại lòng tin cho nhân dân về Công tác phòng, chống ma túy Trong cuộc đấu tranh này, có không ít người vì nhiệm vụ mà phải hy sinh tính mạng của mình hoặc phải mang thương tích suốt đời vì sự bình yên của nhân dân, của quốc gia, dân tộc

Kết quả thực hành quyền công tố trong đấu tranh phòng, chống tội phạm ma túy của Viện kiểm sát nhân dân cho thấy hiện nay nguồn ma túy chủ yếu được thẩm lậu từ nước ngoài vào nước ta bằng nhiều đường khác nhau Phần lớn các vụ án ma túy đều

có sự tham gia của các đối tượng người dân tộc ít người sinh sống trên địa bàn huyện miền núi, biên giới, trong các vụ án đó họ giữ vai trò tạo nguồn

Trang 9

Huyện Hoằng Hóa là một huyện đồng bằng ven biển thuộc tỉnh Thanh Hóa, Việt Nam Địa giới hành chính huyện Hoằng Hóa: Phía đông giáp Vịnh Bắc Bộ; Phía nam giáp thành phố Sầm Sơn và thành phố Thanh Hóa; Phía tây giáp thành phố Thanh Hóa và huyện Thiệu Hóa; Phía bắc giáp huyện Yên Định, Hà Trung và Hậu Lộc Huyện nằm ở ven biển phía đông của tỉnh Thanh Hóa, chiều dài bờ biển khoảng

12 km Diện tích khoảng 224,56 km² Dân số khoảng 352400 người (theo điều tra năm 2019) Tuyến giao thông chính của huyện: quốc lộ 1A, đường sắt Thống Nhất Những năm gần đây, được Đảng và Nhà nước quan tâm đầu tư nhiều chương trình dự án cơ sở

hạ tầng nên tình hình kinh tế - xã hội ở huyện Hoằng Hóa tỉnh Thanh Hóa đã có nhiều khởi sắc Do vậy đây là nguyên nhân để bọn tội phạm ma tuý lợi dụng để lôi kéo người dân có thu nhập khá ăn chơi, tiếp tay và hỗ trợ cho chúng trong quá trình thực hiện tội phạm Huyện Hoằng Hóa tỉnh Thanh Hóa luôn được xác định là tuyến, địa bàn trọng điểm về ma túy của cả nước, với các các yếu tố: địa bàn sản xuất ma túy, tuyến thẩm lậu ma túy từ nước ngoài vào, địa bàn trung chuyển và cũng là địa bàn tiêu thụ Khảo sát, nghiên cứu hồ sơ các vụ án về tội phạm ma túy trên địa bàn huyện Hoằng Hóa tỉnh Thanh Hóa cho thấy tình trạng phạm tội chiếm tỷ lệ rất cao được phát hiện hàng năm Mặc dù các cơ quan bảo vệ pháp luật của huyện luôn chủ động phòng ngừa

và đấu tranh chống tội phạm ma túy, nhiều đường dây, ổ nhóm tội phạm ma túy hoạt động liên tỉnh, xuyên quốc gia, nhiều địa bàn nóng bỏng về ma túy được phát hiện, điều tra và triệt phá, nhưng do đặc điểm địa lý phức tạp làm cho công tác phòng ngừa

và đấu tranh chống tội phạm ma túy của huyện Hoằng Hóa luôn gặp khó khăn Trong khi đó lại chưa có những nghiên cứu lý luận, Công tác tổng kết rút kinh nghiệm còn nhiều hạn chế làm cho Công tác phòng, chống tội phạm ma túy của huyện Hoảng Hóa, tỉnh Thanh Hóa chưa đạt hiệu quả cao

Từ những lý do nêu trên, tác giả lựa chọn đề tài "Áp dụng pháp luật về thực

hành quy ền công tố đối với vụ án ma túy từ thực tiễn huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa" làm luận văn thạc sĩ luật học

Trang 10

2 Tình hình nghiên c ứu của đề tài

Đấu tranh phòng, chống ma túy từ lâu đã mang tính toàn cầu cả mặt lý luận và thực tiễn Để tổng kết thực tiễn, bổ sung lý luận nhằm nâng cao hiệu quả công tác phòng ngừa, đấu tranh chống tội phạm ma túy, thời gian qua đã có nhiều chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước, nhiều Công ước trình nghiên cứu khoa học, nhiều luận án tiến sĩ, nhiều luận văn thạc sĩ luật học nghiên cứu về tội phạm ma túy, về thực hành quyền công tố của Viện kiểm sát nhân dân đối với vụ án hình sự nói chung về án

ma tuý nói riêng, trong đó có các Công ước trình sau:

- Đại học Quốc gia Hà Nội- Khoa Luật: "Cải cách tư pháp ở Việt Nam trong

giai đoạn xây dựng nhà nước pháp quyền" do TSKH Lê Cảm và TS Nguyễn Ngọc Chí

đồng chủ biên

- Viện Khoa học kiểm sát - Viện kiểm sát nhân dân Tối cao: "Sổ tay kiểm sát

viên Hình s ự" Tập 1 năm 2006

- “Hiểm hoạ ma tuý và cuộc chiến mới” của GS,TS Nguyễn Xuân Yêm, TS

Trần Văn Luyện Năm 2001

- “Những vấn đề lý luận về quyền công tố và thực hành quyền công tố ở Việt

Nam t ừ năm 1945 đến nay”, Đề tài khoa học cấp Bộ

- “Công tác kiểm sát điều tra án ma tuý” của TS Dương Thanh Biểu (năm

2001)

- Luận văn thạc sĩ luật học của Lê Hồng Thanh về “Hoàn thiện pháp luật về

quy ền công tố của Viện kiểm sát nhân dân theo chiến lược cải cách tư pháp” (năm

2006)

- Luận văn thạc sĩ luật học của Nguyễn Thị Mai Nga “Nâng cao hiệu quả quan

h ệ phối hợp giữa Viện kiểm sát nhân dân và Cơ quan Cảnh sát điều tra trong giải quy ết các vụ án ma tuý” (Học viện Cảnh sát nhân dân năm 2006)

Trang 11

- Luận văn thạc sĩ luật học của Trịnh Duy Tám về “Áp dụng pháp luật về thực

hành quy ền công tố trong giai đoạn điều tra của Viện kiểm sát nhân dân ở Việt Nam

hi ện nay” (năm 2006)

- Luận văn thạc sĩ luật học của Nguyễn Đình Trung về “Thực hiện pháp luật

phòng ch ống ma tuý trong doanh nghiệp nhà nước ở Việt nam hiện nay” (Năm 2006)

- Luận án tiến sĩ Luật học của Lê Thị Tuyết Hoa về “Quyền công tố ở Việt

Nam” (Năm 2002)

Các công trình trên thường được các tác giả nghiên cứu ở nhiều phương diện và cấp độ khác nhau như: tội phạm học, hình pháp học, luật học Mặc dù đã có một số Công ước trình nghiên cứu về vấn đề thực hành quyền công tố và vấn đề phòng, chống

ma tuý ở một số địa phương nhưng cho đến nay chưa có công trình nào nghiên cứu một cách các hệ thống dưới góc độ lý luận chung về nhà nước và pháp luật về hoạt động thực hành quyền công tố của Viện kiểm sát nhân dân đối với án ma túy trên địa bàn huyện biên giới tỉnh Thanh Hóa Đây là vấn đề cần được tập trung nghiên cứu bởi công tác đấu tranh phòng, chống ma tuý ngoài đặc điểm chung thì ở mỗi địa phương, mỗi loại đối tượng lại có những đặc điểm riêng như địa lý, kinh tế, xã hội, tập quán, lối sống, phương thức thủ đoạn phạm tội Hơn nữa, huyện Hoằng Hóa Thanh Hóa là một địa bàn nóng bỏng, phức tạp về tội phạm ma túy nhưng công tác tổng kết rút kinh nghiệm chưa được tiến hành một cách đầy đủ, khoa học Vì vậy, việc nghiên cứu đề tài

Áp d ụng pháp luật về thực hành quyền công tố đối với vụ án ma túy từ thực tiễn huyện

Ho ằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa sẽ có ý nghĩa thiết thực trong Công tác phòng, chống tội

phạm ma túy và thực hành quyền công tố của VKSND đối với án ma tuý trên địa bàn huyện Hoằng Hóa tỉnh Thanh Hóa

3.1 M ục đích nghiên cứu: Nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn thực

hành quyền công tố của VKSND đối với án ma tuý từ thực tiễn của VKSND huyện Hoằng Hóa của tỉnh Thanh Hóa

Trang 12

3.2 Nhi ệm vụ nghiên cứu:

Để hoàn thành nhiệm vụ nghiên cứu trên đề tài có nhiệm vụ sau:

+ Phân tích những vấn đề lý luận về thực hành quyền công tố của VKSND đối với án ma túy

+ Đánh giá thực trạng công tác thực hành quyền công tố của VKSND đối với án

ma túy trên địa bàn huyện Hoằng Hóa tỉnh Thanh Hóa

+ Đề xuất và luận giải các giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả công tác thực hành quyền công tố đối với án ma túy trên địa bàn huyện Hoằng Hóa tỉnh Thanh Hóa

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu của luận văn: Là những vấn đề lý luận và thực tiễn

thực hành quyền công tố của VKSND huyện Hoằng Hóa đối với án ma túy

4.2 Ph ạm vi nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu công tác thực hành quyền công

tố đối với các vụ án về ma túy của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa từ năm 2015 đến 2019

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

Đề tài được nghiên cứu trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin; Tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật; quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và ngành Kiểm sát về đấu tranh phòng, chống tội phạm ma túy; các học thuyết chính trị và pháp lý về tổ chức bộ máy nhà nước nói chung và các cơ quan tư pháp nói riêng

Trong quá trình nghiên cứu đề tài, luận văn sử dụng những phương pháp nghiên cứu cụ thể sau: phân tích, tổng hợp, khảo sát, thống kê, so sánh và một số phương pháp khác

Luận văn là công trình nghiên cứu khoa học pháp lý nhằm bổ sung về mặt lý luận về thực hành quyền công tố của VKSND đối với án ma túy Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo trong giảng dạy, học tập và áp dụng

Trang 13

vào thực tiễn công tác thực hành quyền công tố của Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện trong đấu tranh phòng chống tội phạm ma túy trong tình hình mới

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chương

Trang 14

Chương 1:

1.1.1 Khái ni ệm, các dấu hiệu pháp lý của các tội phạm về ma túy

1.1.1.1 Khái niệm các tội phạm về ma túy

Ma túy là chất hóa học “có nguồn gốc tự nhiên hoặc nhân tạo, khi xâm nhập vào cơ thể con người sẽ có tác dụng làm thay đổi tâm trạng, ý thức trí tuệ của con người, làm cho người bị lệ thuộc vào các chất đó, gây nên những tổn thương cho từng

cá nhân và cộng đồng Do vậy, việc sản xuất, vận chuyển, buôn bán, sử dụng các chất

đó phải được quy định chặt chẽ trong các văn bản pháp luật và chịu sự kiểm soát của

cơ quan bảo vệ pháp luật”.1 Trong luật hình sự, các tội phạm về ma túy được hiểu là hành vi cố ý xâm phạm chế độ quản lý các chất ma túy của Nhà nước Đây là các hành

vi xâm phạm chính sách độc quyền của Nhà nước đối với các chất ma tuý và có đối tượng tác động là các chất ma tuý hoặc các dụng cụ, phương tiện dùng vào vật sản xuất hoặc sử dụng trái phép chất ma tuý

Ở Việt Nam, khái niệm ma túy cũng được để cập ở tương đối nhiều các văn bản pháp luật và nghiệp vụ y tế, theo đó “Ma tuý là tên gọi chung các chất có tác dụng gây trạng thái ngây ngất, đờ đẫn, dùng quen thành nghiện”2 hay “Ma túy là một chất mà dùng nó một thời gian sẽ gây trạng thái nghiện hay nói một cách khác là trạng thái phụ thuộc vào thuốc”3 Dưới góc độ pháp luật, “Chất ma túy là các chất gây nghiện, chất

1 Văn phòng Liên Hiệp Quốc về chống Ma túy và Tội phạm, viết tắt tiếng Anh là UNODC (United Nations Office on Drugs and Crime)

2 Trung tâm Từ điển học Từ điển Tiếng Việt (1996), Nxb Đà Nẵng, Đà Nẵng, tr.583

3 Từ điển Hán - Việt (1992), Nxb Khoa học và xã hội, Hà Nội, tr 30

Trang 15

hướng thần được quy định trong các danh mục do Chính phủ ban hành"4, trong đó chất gây nghiện là chất kích thích hoặc ức chế thần kinh, dễ gây tình trạng nghiện đối với người sử dụng còn chất hướng thần là chất kích thích, ức chế thần kinh hoặc gây ảo giác, nếu sử dụng nhiều lần có thể dẫn tới tình trạng nghiện đối với người sử dụng

Chất ma túy được xác định và có tên gọi riêng trong khoa học, danh mục các chất ma túy, tiền chất và các chất hóa học dùng để điều chế các chất ma túy (bao gồm danh mục quy định trong Công ước 1961, 1971, 1988 của Liên Hiệp quốc về kiểm soát ma túy) gồm 225 chất ma túy và 22 tiền chất Để xác định có phải là chất ma túy hay không, hay là chất ma túy thì phải trưng cầu giám định Vì vậy, từ quy định của Liên Hiệp quốc và pháp luật Việt Nam, chúng ta có thể hiểu: Ma túy là các chất có nguồn gốc tự nhiên hoặc tổng hợp, khi được đưa vào cơ thể con người nó có tác dụng làm thay đổi trạng thái ý thức và sinh lý của người đó, nếu lạm dụng ma túy, con người sẽ lệ thuộc vào nó, khi đó gây tổn thương và nguy hại cho người sử dụng và

cộng đồng

Bộ luật Hình sự năm 2015 và Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự năm 2017 (gọi chung là Bộ Luật Hình sự năm 2015) có 13 Điều (từ Điều 247 đến Điều 259) quy định về các tội phạm liên quan đến ma túy Mặt khác, cũng theo pháp luật hình sự hiện hành ở nước ta, khái niệm tội phạm được các nhà làm luật ghi nhận trong Điều 8 BLHS Việt Nam năm 2015 Theo đó, tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự hoặc pháp nhân thương mại thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hóa, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm quyền con người, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ

4 Khoản 1 Điều 2, luật PCMT

Trang 16

nghĩa mà theo quy định của Bộ luật này phải bị xử lý hình sự Do đó, khái niệm một nhóm tội phạm cụ thể - các tội về ma túy chính là sự cụ thể hóa khái niệm tội phạm (chung) đã nêu ở trên Trên cơ sở tổng kết các quan điểm khác nhau trong khoa học và căn cứ vào các quy định của BLHS năm 2015, khái niệm các tội về ma tuý là hành vi nguy hiểm cho xã hội, vi phạm các quy định về chế độ quản lý độc quyền các chất ma túy của Nhà nước trong quá trình sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, mua bán, quản lý, sử dụng các chất ma tuý, tiền chất được quy định trong Bộ luật Hình sự, do người có năng lực TNHS thực hiện một cách cố ý

1.1.1.2 Các dấu hiệu pháp lý của tội phạm về ma túy

* Khách th ể của tội phạm về ma tuý

Các tội phạm về ma tuý xâm phạm chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước ta

về các chất ma tuý; xâm phạm trật tự, an toàn xã hội; xâm phạm sức khoẻ và sự phát triển nòi giống của dân tộc5

Đối tượng của các tội phạm về ma tuý là các chất ma tuý được quy định trong các các Công ước quốc tế về ma tuý mà Nhà nước ta đã tham gia Theo tinh thần của các Công ước này thì các chất ma tuý bao gồm các chất gây nghiện và các chất hướng thần gồm: Nhựa cây thuốc phiện, cao cô ca, lá cần sa, heroin, cocain… Ngoài ra còn

có các tiền chất ma tuý như ephêdrin, acetic anhydrit, axit sufuric và các công cụ, phương tiện dùng để sản xuất, sử dụng chất ma tuý Tại Việt Nam hiện nay, các chất

ma túy được quy định trong danh mục của Chính phủ tại Nghị định số 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 của Chính phủ và được sưả đổi, bổ sung tại Nghị định 60/2020/NĐ-

CP Theo đó, có một số dạng ma túy đặc biệt mà việc xác định đặc điểm để xử lý hình

sự đối với người phạm tội cần những thủ thục phức tạp hơn như ma túy ở thể rắn được hòa thành dung dịch (như dung dịch thuốc phiện, dung dịch hêrôin dùng để tiêm, chích) hoặc chất ma túy ở thể lỏng đã được pha loãng để tiện cho việc sử dụng, các

5 Đinh Văn Quế (2004) Bình luận khoa học BLTTHS năm 2003, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr.389

Trang 17

chất này không bị coi toàn bộ dung dịch này là chất ma túy ở thể lỏng mà cần xác định hàm lượng mócphin trong dung dịch để tính trọng lượng của chất ma túy đó; xái thuốc phiện thì không bị coi là nhựa thuốc phiện mà quá trình giải quyết các cơ quan tiến hành tố tụng phải xác định hàm lượng moocphin trong xái thuốc phiện để tính trọng lượng của thuốc phiện “Tiền chất dùng vào việc sản xuất trái phép chất ma túy” được hiểu là các hóa chất không thể thiếu được trong quá trình điều chế, sản xuất chất ma túy được quy định trong các danh mục tiền chất do Chính phủ ban hành và “phương tiện, dụng cụ dùng vào việc sản xuất hoặc sử dụng trái phép chất ma túy” là những vật được sản xuất ra với chức năng chuyên dùng vào việc sản xuất hoặc sử dụng trái phép chất ma túy hay tuy được sản xuất ra với mục đích khác, nhưng đã được sử dụng chuyên vào mục đích sản xuất hoặc sử dụng trái phép chất ma túy

* Ch ủ thể của tội phạm về ma tuý

Chủ thể của các tội phạm về ma tuý là người nào có đủ năng lực trách nhiệm hình sự và đạt độ tuổi theo quy định của Bộ luật Hình sự Tuy nhiên cũng có tội phạm được thực hiện bởi chủ thể đặc biệt là người có chức vụ quyền hạn như Tội vi phạm các quy định về quản lý, sử dụng thuốc gây nghiện hoặc các chất ma tuý khác (Điều

201 Bộ luật Hình sự)

Về độ tuổi, trong các tội quy định tại tại chương XX, chỉ có tội trồng cây thuốc phiện, cây côca, cây cần sa hoặc các loại cây khác có chứa chất ma túy được quy định, tại Điều 247 là tội ít nghiêm trọng và tội nghiêm trọng nên độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự đối với hai tội này là từ đủ 16 tuổi trở lên, còn các tội còn lại thì người từ đủ

14 tuổi trở lên đều có thể là chủ thể của tội phạm

*M ặt chủ quan của tội phạm về ma tuý

Về cơ bản các tội phạm về ma tuý đều được thực hiện dưới hình thức lỗi cố ý trực tiếp Tức là người phạm tội biết rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội và gây nguy hại tới xã hội nhưng vẫn cố tình thực hiện Động cơ, mục đích tội phạm về

ma tuý rất da dạng như vì mục đích vụ lợi hoặc vì sở thích cá nhân Tuy nhiên động

Trang 18

cơ, mục đích phạm tội không phải là yếu tố bắt buộc trong trong cấu thành tội phạm của các tội phạm về ma tuý

* M ặt khách quan của các tội phạm về ma tuý

Các hành vi khách quan của các tội phạm về ma túy tuy khác nhau về hình thức thể hiện cụ thể, về tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội nhưng giống nhau ở chỗ đều là những hành vi vi phạm các quy định của Nhà nước về chế độ quản lý các chất

ma túy Các tội phạm ma tuý thường được thực hiện bằng các nhóm hành vi sau đây: Hành vi trồng cây thuốc phiện, cây côca, cây cần sa hoặc các loại cây khác có chứa chất ma túy thông qua việc gieo trồng, chăm bón hoặc thu hoạch; sản xuất trái phép chất ma túy bằng cách tham gia vào bất kỳ một công đoạn nào của quá trình tạo ra chất

ma túy như chiết xuất, điều chế, pha chế…; tàng trữ trái phép chất ma túy thông qua việc cất, giữ, giấu bất hợp pháp chất ma tuý ở bất cứ nơi nào mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển hay sản xuất trái phép chất ma tuý; vận chuyển trái phép chất ma túy thông qua việc chuyển dịch bất hợp pháp chất ma tuý từ nơi này đến nơi khác dưới bất kỳ hình thức nào; mua bán trái phép chất ma túy thông qua một trong các hành vi bán trái phép chất ma túy cho người khác, mua chất ma túy nhằm bán trái phép cho người khác, xin chất ma túy nhằm bán trái phép cho người khác, dùng chất ma túy nhằm trao đổi thanh toán trái phép, dùng tài sản không phải là tiền đem trao đổi, thanh toán… lấy chất ma túy nhằm bán lại trái phép cho người khác, tàng trữ, vận chuyển trái phép chất ma túy nhằm bán trái phép; chiếm đoạt chất ma túy bằng việc trộm cắp, lừa đảo, tham ô, lạm dụng tín nhiệm, cưỡng đoạt, cướp, cướp giật, công nhiên… chiếm đoạt chất ma túy của người khác và các nhóm hành vi tương tự nhưng đối với tiền chất, phương tiện, dụng cụ dùng vào việc sản xuất trái phép ma túy; hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy thông qua các hình thức như chủ động tụ tập và tạo điều kiện cần thiết để tiến hành việc sử dụng trái phép chất ma tuý như đưa trái phép chất

ma túy và cơ thể người khác; cung cấp trái phép chất ma túy cho người khác để họ sử dụng trái phép chất ma túy; chuẩn bị chất ma túy dưới bất kỳ hình thức nào nhằm đưa

Trang 19

trái phép chất ma túy vào cơ thể người khác; cung cấp địa điểm, cung cấp dụng cụ, phương tiện dùng vào việc sử dụng trái phép chất ma túy dưới bất kỳ hình thức nào; hành vi chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy bằng cách cho mượn hoặc thuê địa điểm để người khác trực tiếp sử dụng trái phép chất ma túy; hành vi cưỡng bức người khác sử dụng trái phép chất ma túy thông các biểu hiện dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực hoặc các thủ đoạn khác uy hiếp tinh thần người khác để buộc họ phải sử dụng trái phép chất ma túy trái với ý muốn của họ; hành vi lôi kéo người khác sử dụng trái phép chất ma túy thông qua việc rủ rê, dụ dỗ, xúi giục hoặc bằng các thủ đoạn khác nhằm lôi kéo người khác sử dụng trái phép chất ma túy; hành vi vi phạm quy định về quản lý chất ma túy, tiền chất, thuốc gây nghiện, thuốc hướng thần như vi phạm về giao nhận, vận chuyển, cấp phát, nghiên cứu, giám định ….chất ma túy Đối với những hành vi có tính chất, mức độ nguy hiểm cao, cấu thành tội phạm cơ bản không đòi hỏi yếu tố định lượng (như hành vi mua bán trái phép chất ma túy), một số hành vi tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội thấp hơn nhà làm luật chỉ quy định cấu thành tội phạm khi thỏa mãn định lượng nhất định (như hành vi tàng trữ trái phép, vận chuyển trái phép chất ma túy…)

Về hậu quả, các hành vi này đã trực tiếp hoặc gián tiếp để lại hậu quả to lớn cho

xã hội đó là các tệ nạn về ma túy và là nguyên nhân phát sinh của hàng loạt tội phạm khác, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến trật tự, an toàn xã hội và an ninh quốc gia Đối với bản thân người nghiện ma túy phá hoại thể xác và nhân cách người nghiện, làm lây lan, phát sinh của hàng loạt các căn bệnh hiểm nghèo, phá tán gia đình, là nguyên nhân chính dẫn tới sự phát sinh một số tệ nạn xã hội và một phạm

1.1.2 Khái ni ệm, đặc điểm, vai trò áp dụng pháp luật trong thực hành quyền công t ố các vụ án ma túy

1.1.2.1 Khái niệm áp dụng pháp luật trong thực hành quyền công tố các vụ án

ma túy

Trang 20

Theo nguyên nghĩa tiếng Việt, “thực hành” là “làm để áp dụng lý thuyết vào thực tiễn”6 Mặt khác, “Đấu tranh chống và phòng ngừa tội phạm, bảo vệ quyền con người, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân khỏi sự xâm hại của hành vi phạm tội

là một trong các chức năng của Nhà nước và trách nhiệm quan trọng của các cơ quan tiến hành tố tụng…”7, hoạt động này có vai trò đặc biệt của cơ quan công tố Trong đó, công tố "là quyền của Nhà nước truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội"

8 còn “quyền công tố là quyền đại diện cho Nhà nước đưa các vụ việc vi phạm pháp luật ra Tòa án để xét xử nhằm bảo vệ lợi ích của Nhà nước, bảo vệ lợi ích chung, bảo

vệ lợi ích cá nhân”.9 Hay cụ thể hơn, “Quyền công tố là quyền nhân danh Nhà nước thực hiện việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội Quyền này thuộc

về Nhà nước, được Nhà nước giao cho một cơ quan thực hiện (ở nước ta là cơ quan Viện kiểm sát) để phát hiện tội phạm và truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội Để làm được điều này, cơ quan có chức năng thực hành quyền công tố phải

có trách nhiệm bảo đảm việc thu thập đầy đủ tài liệu, chứng cứ để xác định tội phạm

và người phạm tội Trên cơ sở đó quyết định truy tố bị can ra trước Toà án và bảo vệ

sự buộc tội đó trước phiên toà” 10 Như vậy, VKSND thực hiện quyền công tố thực chất là một hoạt động thực hiện pháp luật trong việc nhân danh Nhà nước truy tố người phạm tội và tội phạm ra trước Tòa án, kết quả của hoạt động này được Toà án dùng làm căn cứ và sử dụng để xét xử người phạm tội Để THQCT, VKSND phải áp dụng các quy định của pháp luật hình sự và pháp luật về trình tự, thủ tục (pháp luật tố tụng hình sự) để tiến hành các hành vi tố tụng cần thiết theo quy định của pháp luật nhằm truy cứu trách nhiệm hình sự người phạm tội, đưa người phạm tội ra xét xử

6 Nhà xuất bản Khoa học xã hội, (1994), Từ điển tiếng Việt, Hà Nội, tr.973

7 Nguyễn Ngọc Chí (chủ biên), Quyền con người trong lĩnh vực Tư pháp hình sự, Nxb Hồng Đức, Hà Nội, 2015, tr.37

8 Nguồn: Bộ Tư pháp – Viện khoa học pháp lý, Từ điển luật học (2006), Nxb Từ điển Bách khoa- Nxb Tư pháp.tr.188

9 Nguồn: Lê Thị Tuyết Hoa (2001), “Bàn về quyền công tố”, Tạp chí Nhà nước và pháp luật, (10), tr.62 – 67

10 Lê Hữu Thể (chủ biên) (2005), Thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp trong giai đoạn điều tra, Nxb Tư pháp, Hà Nội, tr.147

Trang 21

trước Tòa án và bảo vệ sự buộc tội đó Do đó, có thể hiểu: "thực hành quyền công tố là việc sử dụng tổng hợp các quyền năng pháp lý thuộc nội dung quyền công tố để thực hiện việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội trong các giai đoạn khởi

tố, điều tra, truy tố và xét xử"11, hoạt động này được thực hiện thông qua hành vi và các thao tác nghiệp vụ của Kiểm sát viên – chủ thể được Nhà nước trao quyền để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội và thực hiện buộc tội người đó tại Tòa

án Từ khái niệm các tội ma túy đã phân tích ở trên, có đưa ra khái niệm THQCT trong các vụ án ma túy là hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân thông qua hành vi của các Kiểm sát viên phát sinh từ khi tiếp nhận, giải quyết nguồn tin về tội phạm và trong suốt quá trình giải quyết vụ án để buộc tội đối với người có phạm tội nhằm bảo đảm

vụ án được giải quyết theo đúng quy định của pháp luật

Mặt khác, pháp luật là hệ thống các quy tắc xử sự có tính bắt buộc chung do Nhà nước đặt ra hoặc thừa nhận, thể hiện ý chí nhà nước của giai cấp thống trị “trên cơ

sở ghi nhận các nhu cầu về lợi ích của toàn xã hội, được đảm bảo thực hiện bằng Nhà nước nhằm điều chỉnh những quan hệ xã hội với mục đích trật tự và ổn định xã hội vì

sự phát triển bền vững của xã hội12 Vì vậy, pháp luật về THQCT là hệ thống những quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành nhằm xác lập quyền năng pháp lý cho Viện kiểm sát, đồng thời điều chỉnh các mối quan hệ giữa Viện kiểm sát với các cơ quan tiến hành tố tụng khác, người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng, với mục đích cuối cùng là truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội, trên cơ sở đảm bảo quy trình chặt chẽ về việc chứng minh tội phạm Để THQCT, Kiểm sát viên phải tiến hành nghiên cứu các tình tiết của vụ án, đối chiếu với các quy định của pháp luật

11 Phạm Tuấn Khải (1999), "Vài ý kiến về quyền công tố và thực hiện quyền công tố", Kỷ yếu đề tài khoa học cấp Bộ: Những vấn đề lý luận về quyền công tố và việc tổ chức thực hiện quyền công tố ở Việt Nam từ 1945 đến nay, VKSNDTC, Hà Nội, tr 95-103

12 Lê Minh Thông (chủ biên) (2001), Một số vấn đề về hoàn thiện tổ chức và hoạt động của Bộ máy nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, tr.288

Trang 22

liên quan đến chức năng công tố của mình để buộc tội đối với người thực hiện hành vi phạm tội

Khi áp dụng pháp luật trong THQCT, VKSND thông qua hành vi của các Kiểm sát viên thi hành, sử dụng các quy định của pháp luật liên quan đến thẩm quyền của mình để giải quyết các vấn đề đặt ra Trong đó, Kiểm sát viên lựa chọn áp dụng các quy phạm hình thức như quy định của luật tố tụng hình sự, luật tổ chức VKSND, luật

tổ chức cơ quan điều tra, các quy chế của ngành v.v… và đối chiếu với các dấu hiệu được mô tả trong BLHS và các văn bản hướng dẫn thi hành để giải quyết Vì vậy, có thể hiểu, áp dụng pháp luật về THQCT đối với các vụ án ma túy là hoạt động nhân danh quyền lực Nhà nước của Viện kiểm sát thông qua các Kiểm sát viên trên cơ sở tuân thủ những quy định chặt chẽ về trình tự, thủ tục của pháp luật tố tụng hình sự và căn cứ vào các tài liệu chứng cứ thu thập được trong quá trình giải quyết để lựa chọn các quy phạm pháp luật phù hợp nhằm thực hiện việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối

với người phạm tội về ma túy

1.1.2.2 Đặc điểm áp dụng pháp luật về THQCT trong các vụ án về ma túy Hoạt động áp dụng pháp luật trong THQCT trong các vụ án ma túy có những đặc điểm sau đây:

Thứ nhất, áp dụng pháp luật trong THQCT trong các vụ án ma túy là hoạt động chỉ do VKSND tiến hành theo pháp luật quy định VKSND là cơ quan duy nhất có chức năng THQCT và kiểm sát các hoạt động tư pháp, do đó thông qua việc thực hiện chức năng này, VKSND góp phần thực hiện quyền lực nhà nước, bảo đảm mọi hành vi phạm tội về ma túy phải được xử lý kịp thời, nghiêm minh trước pháp luật VKSND

áp dụng pháp luật trong THQCT để giải quyết các vụ án ma túy bằng các hành vi như yêu cầu khởi tố, hủy bỏ quyết định khởi tố hoặc không khởi tố vụ án trái pháp luật, phê chuẩn, không phê chuẩn quyết định khởi tố bị can của Cơ quan điều tra; trực tiếp khởi

tố vụ án, khởi tố bị can trong những trường hợp do Bộ luật tố tụng hình sự quy định; Quyết định, phê chuẩn việc áp dụng, thay đổi, hủy bỏ các biện pháp hạn chế quyền con

Trang 23

người, quyền công dân trong việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và trong việc khởi tố, điều tra, truy tố theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự; Hủy bỏ các quyết định tố tụng trái pháp luật khác trong việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và trong việc khởi tố, điều tra của Cơ quan điều tra;

Đề ra yêu cầu điều tra và yêu cầu Cơ quan điều tra thực hiện… và thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn khác trong việc buộc tội đối với người phạm tội theo quy định của Bộ luật

tố tụng hình sự

Thứ hai, áp dụng pháp luật trong THQCT trong các vụ án ma túy của VKSND phải tuân thủ những quy định về trình tự, thủ tục do pháp luật quy định Đó là các quy định của pháp luật TTHS về trình tự, thủ tục của các hoạt động tố tụng, như: khởi tố

vụ án; khởi tố bị can; các biện pháp điều tra; các biện pháp ngăn chặn; đình chỉ, tạm đình chỉ vụ án; thời hạn điều tra, hoạt động truy tố, xét xử Tất cả các hoạt động này đều có mục đích chung bảo đảm mọi hành vi phạm tội, người phạm tội ma túy phải được phát hiện, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử kịp thời, nghiêm minh, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật

Thứ ba, quyết định áp dụng pháp luật trong trong THQCT trong các vụ án ma túy của VKSND được pháp luật bảo đảm thi hành Việc tổ chức thực hiện quyết định

áp dụng pháp luật đã ban hành là giai đoạn cuối của quá trình áp dụng pháp luật và có tác dụng đảm bảo pháp luật được thực hiện nghiêm chỉnh và thống nhất Khi áp dụng pháp luật, VKSND có quyền ban hành những lệnh, quyết định có giá trị bắt buộc để bị can, bị cáo và những người tham gia tố tụng, cơ quan tiến hành tố tụng, đặc biệt là CQĐT phải tôn trọng và thực hiện Các lệnh, quyết định này chủ yếu thể hiện ý chí đơn phương của VKSND, đối tượng áp dụng chỉ có thẩm quyền kiến nghị trực tiếp hoặc lên VKS cấp trên mà không có quyền hủy bỏ

Thứ tư, áp dụng pháp luật trong THQCT các vụ án ma túy là hoạt động cá biệt hoá các quy phạm pháp luật của VKSND và thể hiện tính sáng tạo Trong đó Kiểm sát viên đối chiếu với các quy định của pháp luật tố tụng hình sự và pháp luật hình sự, đặc

Trang 24

biệt là các văn bản hướng dẫn áp dụng về các tội phạm ma túy để ban hành các văn bản thuộc nội dung quyền công tố Hơn nữa đây chỉ là các quy định chung, khái quát,

vì vậy trong quá trình áp dụng, Kiểm sát viên cần có sự sáng tạo, đối chiếu với hành vi phạm tội cụ thể, với quy định liên quan đến xác định khối lượng, hàm lượng ma túy, danh mục chất ma túy, các đặc điểm nhân thân của bị can, bị cáo cụ thể…để áp dụng một cách chính xác nhất

1.1.2.3 Vai trò áp dụng pháp luật trong thực hành quyền công tố của Viện kiểm sát nhân dân đối với án ma tuý

Việc áp dụng pháp luật trong THQCT của VKSND đối với án ma tuý có vai trò

và nhiệm vụ góp phần bảo vệ pháp chế XHCN, bảo đảm mọi hành vi vi phạm tới lợi ích của Nhà nước phải được xử lý theo pháp luật Bên cạnh đó, áp dụng pháp luật trong THQCT đối với án ma tuý của VKSND có vai trò quan trọng trong việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật; kích thích tư duy pháp lý mới; tạo thói quen tuân thủ pháp luật Thực tế cho thấy rằng, các quy phạm pháp luật nói chung và các quy phạm pháp luật đối với án ma tuý nói riêng đều được kiểm nghiệm qua công tác thực hành quyền công tố của Viện kiểm sát nhân dân, kiểm nghiệm về tính phù hợp hay không phù hợp, tính có căn cứ hay tính không có căn cứ Cần phải có những quy định mới hay cần sửa đổi bổ sung những quy định cụ thể nào khác… mà chỉ có qua công tác thực hành quyền công tố các vụ án hình sự về ma tuý mới có thể phát hiện ra được Qua công tác KSĐT, xét xử phát hiện ra những dạng vi phạm pháp luật mới, những dạng quan hệ xã hội mới cần phải có những quy phạm pháp luật điều chỉnh kịp thời, những quy phạm đã lạc hậu, chồng chéo cần thay thế sửa đổi

Việc áp dụng đúng các quy định của pháp luật trong THQCT trong các vụ án

ma tuý còn có tác dụng hướng các chủ thể của các quan hệ pháp luật trong điều tra, truy tố, xét xử các vụ án ma tuý thực hiện những hành vi phù hợp với các quy định của pháp luật, thực hiện đúng, đầy đủ chức trách của mình được giao khi tiến hành tố tụng; đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của người tham gia tố tụng, ngăn ngừa, hạn chế các

Trang 25

hành vi vi phạm mới

Áp dụng pháp luật trong THQCT trong các vụ án ma tuý còn có vai trò đưa những nhiệm vụ của công tác THQCT vào thực tế, kết quả của hoạt động này giúp VKSND hình thành các biện pháp, cách thức tuyên truyền, phổ biến pháp luật; những biện pháp kiến nghị phòng ngừa vi phạm trên địa bàn hoạt động Công tác vận động tuyên truyền của VKSND không chỉ đối với các đối tượng vi phạm, tội phạm mà còn tác động rộng lớn trong cộng đồng dân cư, các cơ quan ban ngành hữu quan trong hệ thống nhà nước, đối với với việc đấu tranh phòng chống tội phạm và các vi phạm pháp luật trong mỗi giai đoạn cách mạng của Đảng và Nhà nước ta

Việc áp dụng pháp luật luôn phải tiến hành theo những quy trình chặt chẽ, chính xác mà pháp luật đã quy định Do tồn tại nhiều quy phạm pháp luật khác nhau thuộc các lĩnh vực, các ngành luật khác nhau, nên việc áp dụng chúng cũng có những trình

tự, thủ tục khác nhau Có những quy phạm được áp dụng với quy trình đơn giản, nhưng có những quy phạm việc áp dụng chúng là cả một quá trình phức tạp với sự tham gia, phối hợp của nhiều cơ quan, tổ chức, cá nhân Thông thường để áp dụng một cách chính xác và đạt hiệu quả cao THQCT các vụ án ma túy cần tuân thủ những giai đoạn sau:

- Nghiên cứu, xem xét, đánh giá các tình tiết, chứng cứ có liên quan đến sự kiện gây tổn hại cho sức khỏe người khác, đối tượng và quyết định xử lý của các cơ quan,

tổ chức, cá nhân có liên quan Đây là khâu đầu tiên, có ý nghĩa quan trọng của áp dụng pháp luật trong hoạt động THQCT trong các vụ án ma túy Việc VKS xem xét, đánh giá các tài liệu, chứng cứ và thủ tục tố tụng do cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan, đặc biêt là cơ quan điều tra, cơ quan giám định và người tham gia tố tụng nhằm xác định tính có căn cứ, qua đó xác định tính chất, mức độ hành vi nguy hiểm cho xã hội của các đối tượng đã gây ra: có hay không có hành vi phạm tội? Hành vi đó ở mức độ

Trang 26

nào? Xảy ra ở đâu? Khi nào? Ai là người thực hiện? Công cụ phương tiện phạm tội? Nhân thân? Năng lực trách nhiệm hình sự? Trình tự, thủ tục thu thập tài liệu chứng cứ? Việc nghiên cứu các tình tiết, hồ sơ, tài liệu phải được thực hiện ngay từ khi tiếp nhận, xử lý tin báo liên quan tới tội phạm Theo quy định của pháp luật TTHS thì VKSND tự mình thông qua các nguồn tin báo hoặc từ các tài liệu chứng cứ của cơ quan điều tra gửi tới để xem xét đánh giá hành vi đã xảy ra: Việc thu thập tài liệu chứng cứ có hợp pháp hay không? hành vi về ma túyđã đến lúc phải xử lý bằng hình

sự hay chỉ cần xử lý bằng biện pháp hành chính? người thực hiện hành vi xâm hại sức khỏe người khác là ai? năng lực chịu trách nhiệm hình sự? đối tượng phạm tội có cần

bị áp dụng biện pháp ngăn chặn hay không? Điều đó có nghĩa VKSND phải xem xét, đánh giá các yếu tố cấu thành tội phạm quy định từ các Điều 134, 135 đến Điều 140 của BLHS Trong quá trình xem xét đánh giá các tài liệu chứng cứ VKSND cần phải

có sự phân công trách nhiệm cụ thể rõ ràng cho cán bộ, Kiểm sát viên, có sự phối kết

hợp chặt chẽ với các cơ quan liên quan Tại giai đoạn xét xử, Kiểm sát viên phải nghiên cứu và đánh giá kĩ các hành vi của Tòa án liên quan tới từng hoạt động thụ lý

hồ sơ; áp dụng, thay đổi hoặc hủy bỏ biện pháp ngăn chặn; nghiên cứu hồ sơ để chuẩn

bị xét xử; quyết định đưa vụ án ra xét xử; giao các quyết định của Tòa án; triệu tập những người cần xét hỏi đến phiên tòa; tổ chức mở phiên tòa; điều khiển việc xét hỏi, tranh luận; tiến hành nghị án và ra các quyết định, bản án của Tòa án….để chủ động trong việc THQCT của mình

- Xem xét các quy phạm pháp luật được áp dụng trong hoạt động THQCT trong các vụ án ma túy Giai đoạn này được thực hiện dựa trên ý thức pháp luật, trình độ hiểu biết kiến thức pháp luật của Kiểm sát viên Kiểm sát viên phải xem xét, đánh giá đầy đủ hành vi xâm hại sức khỏe đã xảy ra, những công việc đã xử lý của cơ quan điều tra, Tòa án Để từ đó xác định nội dung quy phạm được áp dụng, phạm vi vi phạm pháp luật được áp dụng trong hoạt động THQCT của mình Muốn làm được điều đó, đòi hỏi Kiểm sát viên phải tiến hành giải thích quy phạm pháp luật, phải làm sáng tỏ tư

Trang 27

tưởng, nội dung và ý nghĩa của quy phạm pháp luật liên quan đến xử lý hành vi về ma túyđược lựa chọn Việc lựa chọn quy phạm pháp luật phải tuân thủ nguyên tắc lựa chọn đúng quy phạm pháp luật điều chỉnh trường hợp đó; quy phạm pháp luật áp dụng phải là quy phạm pháp luật đang có hiệu lực pháp luật và không mâu thuẫn với văn bản quy phạm pháp luật khác; xác định tính chân chính của văn bản quy phạm pháp luật chứa đựng quy phạm này; nhận thức đúng đắn nội dung, tư tưởng của quy phạm pháp luật…

- Ban hành văn bản áp dụng pháp luật Ban hành văn bản áp dụng pháp luật trong THQCT là việc VKSND ra các quyết định; quyết định phê chuẩn hoặc không phê chuẩn, cáo trạng, kháng nghị và các văn bản khác Đây là hoạt động trọng tâm, quan trọng nhất của cả quá trình THQCT trong các vụ án ma túy Quyết định, quyết định phê chuẩn, quyết định không phê chuẩn, cáo trạng, kháng nghị của VKS được ban hành sau khi đã xem xét, đối chiếu một cách thận trọng, khách quan với toàn bộ

những tài liệu, chứng cứ đã được thu thập trong hồ sơ vụ án Các quyết định này của VKSND tác động trực tiếp đến lợi ích của Nhà nước, đến trật tự trị an trên địa bàn và đến quyền tự do thân thể của công dân, nên đòi hỏi Kiểm sát viên, lãnh đạo Viện phải tuân thủ nghiêm ngặt theo các trình tự, thủ tục, quy định của pháp luật tố tụng hiện hành Đặc biệt văn bản áp dụng pháp luật của VKSND phải có tính khả thi và hiện thực Để thực hiện hoạt động này Kiểm sát viên phải hiểu biết về mặt pháp luật, biết tổng hợp, đánh giá các tình tiết vụ án, đồng thời phải có kỹ năng soạn thảo văn bản, đảm bảo chất lượng kỹ thuật văn bản

- Tổ chức thực hiện văn bản áp dụng pháp luật Việc tổ chức thực hiện văn bản

áp dụng pháp luật là giai đoạn cuối cùng của quá trình áp dụng pháp luật Khác với các văn bản áp dụng pháp luật của các cơ quan nhà nước khác, văn bản áp dụng pháp luật của VKS THQCT trong các vụ án ma túy là lệnh, quyết định, quyết định không phê chuẩn, quyết định phê chuẩn buộc cơ quan điều tra phải thi hành và tổ chức thực hiện nghiêm chỉnh, hay cáo trạng nêu rõ đặc điểm, tính chất của hành vi vi phạm pháp luật

Trang 28

đưa đến kết luận bị can có tội, nhằm bảo vệ tính đúng đắn của pháp luật, là cơ sở để Tòa án xét xử, hoặc các kiến nghị, kháng nghị để đảm bảo cho việc chấp hành pháp luật của Toà án Việc tổ chức thực hiện văn bản áp dụng pháp luật của VKSND chính

là một trong những đảm bảo quan trọng để việc áp dụng pháp luật của VKSND được thực hiện một cách nghiêm chỉnh

Trong hoạt động áp dụng pháp luật để giải quyết các vụ án ma túy, các cơ quan

có thẩm quyền cần căn cứ vào các văn bản pháp luật sau đây:

13 Quốc Hội (2013), Hiến pháp, Khoản 3 Điều 107

Trang 29

công cuộc đấu tranh, phòng chống loại tội phạm này theo tinh thần chủ đạo của Hiến pháp đó là giải quyết các vụ án đúng pháp luật, nghiêm minh

* Luật tổ chức VKSND

Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014 quy định về phạm vi, nội dung, mục đích của chức năng thực hành quyền công tố, khẳng định Viện kiểm sát nhân dân thực hành quyền công tố ngay từ khi giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và trong suốt quá trình điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự Lần đầu tiên Luật quy định một mục riêng về công tác “Thực hành quyền công tố, kiểm sát việc giải quyết tố giác, tin báo tội phạm, kiến nghị khởi tố” nhằm khẳng định đây là lĩnh vực công tác thực hiện chức năng độc lập của Viện kiểm sát nhân dân (Mục 1 Chương II) Thể chế hoá chủ trương của Nghị quyết 49-NQ/TW “tăng cường trách nhiệm công tố trong hoạt động điều tra, gắn công tố với điều tra”, Luật đã xác định vai trò, trách nhiệm của Viện kiểm sát là cơ quan quyết định, phê chuẩn việc áp dụng, thay đổi, huỷ

bỏ các biện pháp hạn chế quyền con người, quyền công dân trong việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và trong việc khởi tố, điều tra, truy tố; có quyền trực tiếp giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố, tiến hành một

số hoạt động điều tra để làm rõ các căn cứ quyết định việc buộc tội đối với người phạm tội; quyết định truy tố hoặc không truy tố bị can

Trên cơ sở nội dung của chức năng thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp, Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014 đã quy định rõ các lĩnh vực công tác thuộc chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp; làm rõ nội dung các khâu công tác thực hiện chức năng và bổ sung quy định về các công tác phục vụ thực hiện chức năng của Viện kiểm sát nhân dân (Chương II)

* Luật phòng chống ma túy

Luật phòng chống ma túy năm 2000, được sửa đổi, bổ sung năm 2008 quy định

về phòng ngừa, ngăn chặn, đấu tranh chống tệ nạn ma túy; kiểm soát các hoạt động hợp pháp liên quan đến ma túy; trách nhiệm của cá nhân, gia đình, cơ quan, tổ chức

Trang 30

trong phòng, chống ma túy Trong đó, luật quy định về các hành vi bị nghiêm cấm Liên quan đến hoạt động THQCT của VKSND, luật có quy định về Cơ quan chuyên trách phòng, chống tội phạm về ma túy thuộc Công an nhân dân với các hành vi thuộc đối tượng của quyền công tố của VKSND như chủ trì, phối hợp với các cơ quan hữu quan thực hiện các hoạt động ngăn chặn, đấu tranh phòng, chống tội phạm về ma túy; Trưng cầu giám định mẫu vật, mẫu phẩm sinh học cần thiết để phát hiện tội phạm về

ma túy; Yêu cầu cá nhân, gia đình, cơ quan, tổ chức có liên quan cung cấp thông tin, tài liệu, tình hình tài chính và tài khoản tại ngân hàng khi có căn cứ cho rằng có hành

vi vi phạm; Yêu cầu cơ quan bưu điện mở bưu kiện, bưu phẩm để kiểm tra khi có căn

cứ cho rằng trong bưu kiện, bưu phẩm đó có chất ma túy, tiền chất, thuốc gây nghiện, thuốc hướng thần…

- Bộ luật hình sự

BLHS năm 2015 hiện nay quy định tại chương XX BLHS 2015, có tổng số 13 Điều từ Điều 247 – Điều 259) do đã tách Điều 194 BLHS 1999 thành 04 tội riêng biệt qui định tại các Điều: Tội tàng trữ trái phép chất ma túy Điều 249); Tội vận chuyển trái phép chất ma túy Điều 250); Tội mua bán trái phép chất ma túy Điều 251); Tội chiếm đoạt chất ma túy (Điều 252) Việc kết cấu lại các điều luật như vậy nhằm đảm bảo việc định tội danh và áp dụng mức hình phạt một cách công bằng phù hợp giữa các hành vi phạm tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép chất ma túy hoặc chiếm đoạt chất ma túy, trong đó có liên quan mật thiết đến chức năng THQCT của VKSND Bên cạnh đó, để thực hiện chủ trương của Nghị quyết 49/NQ-TW “ Hạn chế áp dụng

Trang 31

hình phạt tử hình đối với một số ít loại tội phạm đặc biệt nghiêm trọng”, BLHS đã bỏ hình phạt tử hình đối với tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy”- Điều 249 và “ Tội chiếm đoạt chất ma túy” – Điều 252 BLHS chỉ áp dụng mức hình phạt cao nhất là chung thân

Bên cạnh đó, BLHS cũng có quy định rõ ràng, cụ thể về định lượng để truy cứu trách nhiệm hình sự trong từng tội phạm và qui định khung hình phạt nhẹ hơn so với trước đây Tại khoản 1 các Điều 249, 250, 252 BLHS 2015 qui định cụ thể về định lượng, xác định mức tối thiểu đến mức tối đa các chất ma túy để cấu thành tội phạm như: Nhựa thuốc phiện, nhựa cần sa hoặc côca có khối lượng từ 01 gam đến dưới 500 gam; Hêroin, côcain, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam; Lá, rễ, thân, cành, hoa, quả, cây cần sa hoặc lá cây côca có khối lượng từ 10 kilôgam đến dưới 25kilôgam…Tương tự như vậy là quy định định lượng đối với các chất ma túy khác để thuận lợi cho việc định tội, định khung hình phạt như đối với quả thuốc phiện khô, các chất ma túy khác ở thể rắn …

- Hệ thống văn bản dưới luật

Có thể nói, tội phạm về ma túy là nhóm tội tương đối đặc thù khi quá trình áp dụng các cơ quan chức năng phải tiến hành lựa chọn văn bản hướng dẫn của cơ quan

có thẩm quyền với số lượng tương đối lớn Mặt khác, đa số hệ thống văn bản hướng dẫn được ban hành từ thời điểm BLHS năm 1999 có hiệu lực thi hành và còn có giá trị

áp dụng ở thời điểm hiện tại Bên cạnh đó, các cơ quan tiến hành tố tụng nói chung và ngành KSND nói riêng cũng kịp thời ban hành nhiều công văn hướng dẫn công tác nghiệp vụ để các Kiểm sát viên thuận lợi trong quá trình áp dụng Trong đó các văn bản có ý nghĩa quan trọng trong việc áp dụng quy định của pháp luật hình sự như:

- Nghị quyết số 02/2003/NQ-HĐTP ngày 17 tháng 04 năm 2003 của Hội đồng thẩm phán tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật hình sự Trong đó các nội dung liên quan đến giải quyết các vụ án ma túy được quy định tại Mục II.2 Nội dung tập trung vào các vấn đề như trách nhiệm hình sự đối với

Trang 32

người thực hiện tội phạm về ma tuý trong một số trường hợp cụ thể như người biết người khác đi mua chất ma tuý để sử dụng trái phép mà gửi tiền nhờ mua hộ chất ma tuý để sử dụng và sau khi mua được chất ma tuý người đi mua bị bắt giữ; trách nhiệm của người nhờ mua hộ, người đi mua hộ; người biết người khác mua chất ma tuý để sử dụng trái phép mà dùng phương tiện để chở họ cùng chất ma tuý và bị bắt giữ; giải quyết trường hợp nhiều người nghiện ma tuý cùng góp tiền mua chất ma tuý để sử dụng trái phép và bị bắt giữ; trách nhiệm hình sự đối với người nghiện ma tuý có chất

ma tuý hoặc bỏ tiền mua chất ma tuý cho những người nghiện ma tuý khác cùng sử dụng và bị bắt giữ, người nghiện ma tuý cho người nghiện ma tuý khác cùng sử dụng trái phép chất ma tuý tại địa điểm thuộc quyền sở hữu, chiếm hữu hoặc quản lý của mình; người bán trái phép chất ma tuý cho người khác và còn cho họ sử dụng địa điểm thuộc quyền sở hữu, chiếm hữu hoặc quản lý của mình để họ sử dụng trái phép chất

ma tuý; người nghiện ma tuý rủ người nghiện ma tuý khác cùng sử dụng trái phép chất

ma tuý hoặc cùng đi mua chất ma tuý để cùng sử dụng …

- Nghị quyết 01/2001/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng một số quy định của các điều 139, 193, 194, 278, 279 và 289 Bộ luật Hình sự năm 1999 Trong đó, Nghị quyết

có hướng dẫn nội dung quan trọng để thuận lợi nhất cho VKS và Tòa án liên quan đến việc quyết định mức hình phạt đối với hành vi tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma tuý như trường hợp không có tình tiết tăng nặng và không có tình tiết giảm nhẹ hoặc vừa có tình tiết tăng nặng, vừa có tình tiết giảm nhẹ, nhưng đánh giá tính chất tăng nặng và tính chất giảm nhẹ tương đương nhau; hướng dẫn cụ thể mức hình phạt mà Tòa án phải áp dụng căn cứ vào khối lượng, thể tích các chất ma túy…

- Thông tư liên tịch số 17/2007/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC-BTP ngày

24 tháng 12 năm 2007 hướng dẫn áp dụng một số quy định tại Chương XVIII “Các tội phạm về ma túy” của Bộ luật Hình sự năm 1999 được sửa đổi, bổ sung bởi: Thông tư liên tịch số 08/2015/ TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC-BTP ngày 14 tháng 11 năm

Trang 33

2015 Đây là những văn bản quan trọng, chi tiết, cụ thể và cần thiết nhất trong quá trình áp dụng BLHS của các cơ quan tiến hành tố tụng Trong đó, Thông tư có giải thích về một số khái niệm như thế nào là “Chất ma túy” “Tiền chất dùng vào việc sản xuất trái phép chất ma túy”, “Phương tiện, dụng cụ dùng vào việc sản xuất hoặc sử dụng trái phép chất ma túy”, quy định các trường hợp bắt buộc phải giám định hàm lượng mocphin để làm căn cứ định tội, định khung hình phạt; quy định về một số tình tiết là yếu tố định tội hoặc định khung hình phạt như lợi dụng chức vụ, quyền hạn”,

“lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức”, “phạm tội đối với nhiều người”…; Truy cứu trách nhiệm hình sự trong trường hợp có nhiều hành vi phạm tội; giải quyết Trường hợp một người thực hiện một hoặc nhiều hành vi phạm tội quy định trong một điều luật; giải thích về tình tiết định tội đối với từng tội phạm cụ thể; giải thích các khái niệm quan trọng như “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, “Vận chuyển trái phép chất ma túy”, “Mua bán trái phép chất ma túy”…

- Nghị định số 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 của Chính phủ được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 60/NĐ/2020/NĐ-CP của Chính phủ Do tội phạm ma túy là nhóm tội mang tính đặc thù khi trên thế giới và cả ở trong nước cũng luôn xuất hiện nhiều chất gây nghiện, chất hướng thần mới có tác hại như các chất ma túy nhưng chưa được quy định trong các văn bản trước đó Vì vậy, các văn bản của chính phủ luôn là hệ thống quy phạm quan trọng giúp các cơ quan tố tụng có căn cứ đối chiếu, áp dụng để có cơ sở truy cứu trách nhiệm hình sự đối với các hành vi liên quan đến các chất này Nghị định số 60/NĐ/2020/NĐ-CP đã bổ sung 28 chất ma túy, 13 tiền chất và gộp 3 cặp chất ma túy có cùng mã số đăng ký hóa chất, vì vậy đến nay đã có 540 chất

ma túy và 57 tiền chất thuộc danh mục quản lý của Chính phủ Việc cập nhật danh mục các chất ma túy và tiền chất kịp thời bảo đảm sự kiểm soát của cơ quan quản lý nhà nước, nâng cao hiệu quả công tác phòng ngừa, đấu tranh chống tội phạm ma túy, đồng thời đảm bảo đáp ứng nhu cầu sử dụng trong các lĩnh vực kinh tế, xã hội; thể chế hóa quan điểm, đường lối, chủ trương của Đảng về tăng cường, nâng cao hiệu quả

Trang 34

công tác phòng, chống và kiểm soát ma túy; phù hợp với các Công ước quốc tế năm

1961, 1971, 1988 của Liên Hợp Quốc về kiểm soát ma túy mà Việt Nam đã tham gia

- Nghị định số 19/2018/NĐ-CP ngày 02 tháng 02 năm 2018 của Chính Phủ quy định về việc tính tổng khối lượng hoặc thể tích chất ma túy tại một số điều của Bộ luật Hình sự năm 2015 Nếu như Nghị định số 73/2018/NĐ-CP và Nghị định số 60/NĐ/2020/NĐ-CP có ý nghĩa quyết định trong việc định tội thì Nghị định này lại có

ý nghĩa quan trọng trong quá trình các cơ quan tiến hành tố tụng định khung đối với các hành vi phạm tội Nghị định quy định về việc tính tổng khối lượng hoặc thể tích chất ma túy tại các điểm, khoản của một số tội phạm về ma túy Trong đó khối lượng hoặc thể tích các chất ma túy theo quy định của Nghị định 19/NĐ-CP là khối lượng hoặc thể tích các chất ma túy thu giữ hoặc chứng minh được trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử

Trong hoạt động áp dụng pháp luật về tố tụng hình sự để giải quyết các vụ án về

ma túy, các cơ quan tiến hành tố tụng đối chiếu với các quy phạm về những nguyên

Trang 35

tắc cơ bản, các chế định về cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng, về người tham gia tố tụng, về chứng cứ và chứng minh, các biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế, các chế định cụ thể quy định trình tự thủ tục trong từng giai đoạn tố tụng

để tiến hành giải quyết Đối với Kiểm sát viên trực tiếp THQCT trong vụ án về ma túy, BLTTHS năm 2015 đã tăng cho Kiểm sát viên các thẩm quyền: (1) Trực tiếp giải quyết và lập hồ sơ giải quyết nguồn tin về tội phạm; (2) Triệu tập và lấy lời khai người

tố giác, báo tin về tội phạm, người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố, người đại diện theo pháp luật của pháp nhân; (3) Yêu cầu hoặc đề nghị cử, thay đổi người bào chữa; yêu cầu cử, đề nghị thay đổi người phiên dịch, người dịch thuật; (4) Bắt buộc có mặt khi Cơ quan điều tra tiến hành đối chất, nhận dạng, nhận biết giọng nói, thực nghiệm điều tra, khám xét; (5) Yêu cầu Cơ quan điều tra truy nã, đình nã bị can; (6) Quyết định áp giải người bị bắt, bị can; quyết định dẫn giải người làm chứng, người bị

tố giác, bị kiến nghị khởi tố, bị hại; (7) Quyết định giao người dưới 18 tuổi cho cơ quan, tổ chức, cá nhân để giám sát; quyết định thay đổi người giám sát người dưới 18 tuổi phạm tội….Đây là những quy phạm quan trọng nhằm bảo đảm thuận lợi cho Kiểm sát viên trong quá trình áp dụng pháp luật để giải quyết vụ việc Mặt khác, BLTTHS cũng có quy định quan trọng để đảm bảo thuộc tính của chứng cứ liên quan đến kết luận giám định trong các vụ án này

- Các văn bản hướng dẫn thi hành pháp luật tố tụng hình sự:

- Thông tư liên tịch số VKSNDTC ngày 29 tháng 12 năm 2017 của Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Bộ Tài chính, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, VKSND tối cao quy định việc phối hợp giữa các cơ quan có thẩm quyền trong việc thực hiện một số quy định của BLTTHS năm 2015 về tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố Thông tư liên tịch này quy định việc phối hợp giữa các cơ quan có thẩm quyền trong việc thực hiện một số quy định của BLTTHS năm 2015 về tiếp nhận, giải quyết

01/2017/TTLT-BCA-BQP-BTC-BNN&PTNT-tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi 01/2017/TTLT-BCA-BQP-BTC-BNN&PTNT-tố được áp dụng đối với các cơ quan, tổ

Trang 36

chức, cá nhân có liên quan đến việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố Đây là văn bản có ý nghĩa quan trọng trong quá trình Viện kiểm sát

áp dụng các quy định của pháp luật để giải quyết vụ việc, vụ án về ma túy, bảo đảm THQCT sớm hơn, triệt để hơn nhằm tránh bỏ lọt tội phạm

- Thông tư liên tịch số 04/2018/TTLT-VKSNDTC-BCA-BQP ngày 19 tháng 10 năm 2018 của VKSND tối cao, Bộ Công an, Bộ Quốc phòng quy định về phối hợp giữa Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát trong việc thực hiện một số quy định của BLTTHS Cụ thể Thông tư này quy định về phối hợp giữa Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát trong việc thực hiện một số quy định của BLTTHS về khởi tố, điều tra và truy

tố Cơ quan điều tra các cấp của Công an nhân dân, Cơ quan điều tra các cấp trong Quân đội nhân dân, Cơ quan điều tra của VKSND tối cao, VKSND, Viện kiểm sát quân sự các cấp, người tiến hành tố tụng thuộc các cơ quan trên và Cơ quan, tổ chức,

cá nhân khác có liên quan áp dụng các quy định của Thông tư để bảo đảm tuân thủ đúng chức năng, nhiệm vụ của mỗi cơ quan theo quy định của pháp luật, bảo đảm giải quyết vụ án nhanh chóng, kịp thời, đúng pháp luật, bảo đảm bí mật nhà nước, bí mật công tác theo quy định của pháp luật và quy định của mỗi ngành

Ngoài ra, pháp luật còn có nhiểu văn bản điều chỉnh các trường hợp đặc biệt trong giải quyết các vụ án hình sự nói chung, các vụ án về ma túy nói riêng như Thông

tư liên tịch số 02/2017/TTTLT - VKSNDTC - TANDTC- BCA-BQP ngày 22/12/2017 của VKSND tối cao, Tòa án nhân dân tối cao, Bộ Công an, Bộ Quốc phòng quy định việc phối hợp giữa các cơ quan tiến hành tố tụng trong thực hiện một số quy định của BLTTHS về trả hồ sơ để điều tra bổ sung; Thông tư số 06/2018/TTLT-VKSNDTC-TANDTC-BCA-BTP-BLĐTBXH ngày 21/12/2018 của VKSND tối cao, Tòa án nhân dân tối cao, Bộ công an, Bộ tư pháp, Bộ lao động thương binh xã hội về phối hợp thực hiện một số quy định của BLTTHS về thủ tục tố tụng đối với người dưới 18 tuổi; Thông tư số 01/2020/TTLT-VKSNDTC-TANDTC-BCA-BQP-BNN&PTNT-BTC-BTP của VKSNDTC, Tòa án nhân dân tối cao, Bộ Công an, Bộ Tài chính, Bộ Tư pháp

Trang 37

quy định phối hợp thực hiện một số điều của BLTTHS về quản lý, giải quyết các vụ

án, vụ việc tạm đình chỉ…

* Pháp luật về giám định

- Luật giám định tư pháp số 13/2012/QH13 được Quốc hội thông qua ngày 20 tháng 6 năm 2012 (sửa đổi, bổ sung năm 2020)

Với đặc thù của loại án này, công tác giám định là vấn đề quan trọng, thậm chí

có ý nghĩa quyết định đối với việc phát hiện và xử lý vụ án Trong đó các cơ quan tiến hành tố tụng bắt buộc phải trưng cầu giám định khi cần xác định chất thu giữ được có phải là ma túy không? Khối lượng, thể tích ra sao để làm căn cứ khởi tố vụ án Do đó khi THQCT, Kiểm sát viên được phân công thụ lý các vụ án về ma túy phải nắm vững những quy định về giám định tư pháp để áp dụng thực hiện đảm bảo đúng quy định của pháp luật, phải chủ động phát hiện các vấn đề cẩn phải giám định để yêu cầu CQĐT tiến hành trưng cầu giám định cho phù hợp

Hiện nay, theo quy định của pháp luật, các đơn vị giám định thuộc Công an cấp tỉnh, tổ chức giám định trong quân đội và Viện Khoa học hình sự - Bộ Công an có chức năng và thẩm quyền giám định đối với chất ma túy Vì vậy, đây là đạo luật có ý nghĩa hết sức quan trọng để các tổ chức giám định, Giám định viên và đặc biệt là các

cơ quan tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tố tụng áp dụng trong xử lý các vụ việc về ma túy

Để bảo đảm tính thống nhất với quy định của pháp luật tố tụng và đáp ứng nhu cầu giám định của hoạt động tố tụng trong tình hình mới, Luật giám định tư pháp sửa đổi bổ sung 2020 được thông qua đã mở rộng phạm vi giám định tư pháp theo hướng giám định tư pháp được trưng cầu, thực hiện ngay từ giai đoạn “khởi tố”, thay vì từ giai đoạn điều tra vụ án hình sự như quy định trước đây (khoản 1 Điều 2) Đối với các chế định liên quan trực tiếp đến hoạt động THQCT của VKSND, Luật quy định quyền, nghĩa vụ của người trưng cầu giám định tư pháp như yêu cầu cá nhân, tổ chức thực hiện giám định tư pháp trả kết luận giám định đúng thời hạn đã thỏa thuận và theo nội

Trang 38

dung đã yêu cầu; yêu cầu cá nhân, tổ chức đã thực hiện giám định tư pháp giải thích kết luận giám định; đề nghị Tòa án triệu tập người giám định tư pháp đã thực hiện giám định tham gia phiên tòa để giải thích, trình bày về kết luận giám định; yêu cầu cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng trưng cầu giám định lại; yêu cầu giám định bổ sung; và có nghĩa vụ cung cấp thông tin, tài liệu có liên quan đến đối tượng giám định theo yêu cầu của người giám định tư pháp

và chịu trách nhiệm về tính chính xác của thông tin, tài liệu do mình cung cấp; nộp tạm ứng chi phí giám định tư pháp khi yêu cầu giám định; thanh toán kịp thời, đầy đủ chi phí giám định cho cá nhân, tổ chức thực hiện giám định khi nhận kết luận giám định Luật còn quy định về nội dung quyết định trưng cầu giám định, nội dung, hình thức kết luận giám định, hồ sơ giám định tư pháp để VKSND làm căn cứ cho hoạt động trưng cầu và hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật Ngoài ra, Luật Giám định tư pháp còn quy định trách nhiệm của Viện kiểm sát nhân dân tối cao trong việc hướng dẫn áp dụng các quy định của pháp luật về trưng cầu giám định và đánh giá, sử dụng kết luận giám định tư pháp trong hệ thống; ban hành chỉ tiêu thống kê, thực hiện thống kê về trưng cầu, đánh giá việc thực hiện giám định tư pháp và sử dụng kết luận giám định tư pháp, nhu cầu giám định trong hệ thống, trách nhiệm báo cáo công tác hằng năm, đồng thời gửi báo cáo về Bộ Tư pháp, bộ, ngành có liên quan; trách nhiệm phối hợp với Bộ Tư pháp trong việc thực hiện chế độ thống kê, báo cáo về trưng cầu, đánh giá việc thực hiện giám định và sử dụng kết luận giám định tư pháp…

Ngoài ra Cục quản lý Dược Bộ y tế còn ban hành Công văn số 20542/QLD-KD ngày 25 tháng 11 năm 2014 về giám định chất ma túy theo hướng dẫn của Thông tư liên tịch số 17/2007/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC-BTP ngày 24/12/2007 để các

cơ quan tiến hành tố tụng, trong đó có VKSND để thuận lợi trong việc áp dụng pháp luật trong giải quyết các vụ án này

* Văn bản và Quy chế nghiệp vụ của ngành KSND

Trang 39

Song song với việc áp dụng các văn bản pháp luật, trong quá trình THQCT, Kiểm sát viên còn phải chấp hành các quy định trong quy chế nghiệp vụ của ngành Đây là những văn bản do Viện trưởng VKSNDTC ban hành, trong đó chứa đựng các quy phạm pháp luật, quy phạm nghiệp vụ của ngành KSND và có hiệu lực bắt buộc thi hành đối với tất cả các Kiểm sát viên và các Viện kiểm sát trên toàn quốc Trong các

vụ án về ma túy, Kiểm sát viên phải áp dụng các quy định nổi bật trong các văn bản của ngành KSND như:

+ Quy chế công tác THQCT, kiểm sát việc khởi tố, điều tra và truy tố được ban hành kèm theo Quyết định số 111/QĐ-VKSTC ngày 17 tháng 4 năm 2020 của Viện trưởng VKSNDTC Quy chế này quy định các hoạt động THQCT, kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố, THQCT, kiểm sát việc khởi tố; THQCT, kiểm sát điều tra; THQCT, kiểm sát hoạt động tư pháp trong giai đoạn truy tố

+ Quy chế công tác THQCT, kiểm sát xét xử vụ án hình sự, ban hành kèm theo Quyết định 505/QĐ-VKSTC ngày 18/12/2017 của Viện trưởng VKSNDTC Trong đó trong giai đoạn xét xử vụ án hình sự, Viện kiểm sát có trách nhiệm THQCT nhằm bảo đảm việc truy tố đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không để lọt tội phạm, người phạm tội, không làm oan người vô tội Công tác THQCT, kiểm sát xét xử vụ án hình

sự bắt đầu từ khi Viện kiểm sát chuyển bản cáo trạng hoặc quyết định truy tố theo thủ tục rút gọn cùng hồ sơ vụ án đến Tòa án để xét xử và kết thúc khi bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật, không bị kháng cáo, kháng nghị hoặc không bị yêu cầu, kiến nghị, đề nghị xem xét lại quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao

Ngoài ra ngành KSND còn ban hành các Quy chế nghiệp vụ và hướng dẫn nghiệp vụ để các Kiểm sát viên áp dụng trong quá trình THQCT đối với các vụ án ma túy như Quyết định số 590/QĐ-VKSTC-V3 ngày 05/12/2014 về lập hồ sơ kiểm sát; Quyết định số 190/QĐ-VKSTC-VP ngày 06 tháng 4 năm 2016 của Viện trưởng

Trang 40

VKSND tối cao ban hành quy định chế độ hồ sơ công tác nghiệp vụ của ngành KSND; Quyết định số 599/QĐ-VKSTC ngày 06/12/2019 của VKSNDTC quy định về công tác hướng dẫn, giải đáp vướng mắc về pháp luật, nghiệp vụ; báo cáo thỉnh thị, trả lời thỉnh thị trong ngành KSND; Công văn số 03/VKS ngày 03 tháng 01 năm 2000 hướng dẫn thống nhất đường lối xử lý một số trường hợp cụ thể thuộc các tội phạm về ma túy; Công văn số 3544/VKSTC-V14 ngày 07 tháng 08 năm 2019 về việc trả lời thỉnh thị vướng mắc trong việc áp dụng pháp luật hình sự; Công văn số 2878/VKSTC-V4 ngày

25 tháng 07 năm 2016 về việc hướng dẫn giải quyết án ma túy theo Thông tư liên tịch 08/2015/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC-BTP; Công văn số 654/VKSTC-V4 ngày

29 tháng 02 năm 2016 của Viện kiểm sát nhân dân tối cao về việc giải quyết các vụ án

ma túy có liên quan đến thuôc tiêm Diazepam…

Đặc biệt, với đặc thù của án ma túy, nhiều vụ việc được phát hiện điều tra có yếu tố nước ngoài (thông thường là các đường dây mua bán trái phép chất ma túy xuyên quốc gia, chứng cứ hoặc bị can, bị cáo đang ở nước ngoài) nên quá trình giải quyết đòi hỏi kết quả của hoạt động tương trợ tư pháp Vì vậy, luật tương trợ tư pháp, các hiệp định tương trợ tư pháp hình sự song và đa phương và các hướng dẫn nghiệp

vụ của Vụ 13 VKSNDTC cũng đóng một vai trò rất quan trọng trong quá trình áp dụng pháp luật của các cơ quan tiến hành tố tụng nói chung và trong công tác THQCT của VKSND nói riêng

Để đảm bảo chất lượng hoạt động áp dụng pháp luật trong thực hành quyền công tố của VKSND đối với án ma tuý phải đáp ứng được các điều kiện sau đây:

* Ch ất lượng của văn bản pháp luật

Thực hành quyền công tố của VKSND đối với án ma tuý là hoạt động của Cơ quan nhà nước Nhà nước trao quyền cho VKSND để thay mặt nhà nước trừng trị hành

vi nguy hiểm cho xã hội bị coi là tội phạm, hành vi và tội phạm ma tuý được quy định

Ngày đăng: 30/06/2021, 05:33

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Tư pháp – Viện khoa học pháp lý (2006), T ừ điể n lu ậ t h ọ c, Nxb Từ điển Bách khoa- Nxb Tư pháp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từđiển luật học
Tác giả: Bộ Tư pháp – Viện khoa học pháp lý
Nhà XB: Nxb Từ điển Bách khoa- Nxb Tư pháp
Năm: 2006
2. Bộ Chính trị (2005), Ngh ị quy ế t 49/ NQ-TW c ủ a v ề Chi ến lượ c c ải cách tư pháp đến năm 2020, ban hành ngày 2 tháng 6 năm 2005, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết 49/ NQ-TW của về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020
Tác giả: Bộ Chính trị
Năm: 2005
3. Nguyễn Ngọc Chí (2015), Quy ền con người trong lĩnh vực Tư pháp hình sự , Nxb Hồng Đức, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyền con người trong lĩnh vực Tư pháp hình sự
Tác giả: Nguyễn Ngọc Chí
Nhà XB: Nxb Hồng Đức
Năm: 2015
4. Cơ quan Cảnh sát Điều tra - Bộ Công an (2016), Công văn s ố 2955/CSĐT(C44 về việc giải quyết các vụ án về ma túy), ngày 29 tháng 8 năm 2016, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công văn số2955/CSĐT(C44về việc giải quyết các vụ án về ma túy)
Tác giả: Cơ quan Cảnh sát Điều tra - Bộ Công an
Năm: 2016
5. Trần Đình Hải (2018), Nh ững điể m m ớ i v ề nhóm t ộ i ph ạ m v ề ma túy trong B ộ lu ậ t hình s ự năm 2015 (sửa đổ i, b ổ sung năm 2017) và việ c tri ể n khai th ự c hi ệ n, Tạp chí Khoa học Kiểm sát, số 04, tr. 27 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những điểm mới về nhóm tội phạm về ma túy trong Bộluật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và việc triển khai thực hiện
Tác giả: Trần Đình Hải
Năm: 2018
6. Lê Th ị Tuy ế t Hoa (2001), Bàn v ề quy ề n công t ố , T ạp chí Nhà nướ c và pháp luật, số 10, tr.62 – 67 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn về quyền công tố
Tác giả: Lê Th ị Tuy ế t Hoa
Năm: 2001
7. Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao (2018), Ngh ị quy ế t 02/2018/NQ- HĐTP hướ ng d ẫ n áp d ụng Điề u 65 BLHS v ề án treo, ban hành ngày 15 tháng 05 năm 2018, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP hướng dẫn áp dụng Điều 65 BLHS về án treo
Tác giả: Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao
Năm: 2018
9. Nhà xuất bản Khoa học và xã hội(1992), T ừ điể n Hán - Vi ệ t, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từđiển Hán - Việt
Tác giả: Nhà xuất bản Khoa học và xã hội
Nhà XB: Nhà xuất bản Khoa học và xã hội(1992)
Năm: 1992
10. Nhà xuất bản Khoa học xã hội, (1994), T ừ điể n ti ế ng Vi ệ t, Hà Nội, tr.973 11. Đinh Văn Quế (2004), Bình lu ậ n khoa h ọc BLTTHS năm 2 003, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từđiển tiếng Việt," Hà Nội, tr.973 11. Đinh Văn Quế (2004), "Bình luận khoa học BLTTHS năm 2003
Tác giả: Nhà xuất bản Khoa học xã hội, (1994), T ừ điể n ti ế ng Vi ệ t, Hà Nội, tr.973 11. Đinh Văn Quế
Nhà XB: Nhà xuất bản Khoa học xã hội
Năm: 2004
12. Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2013), Hi ế n pháp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiến pháp
Tác giả: Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Năm: 2013
13. Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2015), B ộ lu ậ t hình s ự , Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ luật hình sự
Tác giả: Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Năm: 2015
14. Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2015), B ộ lu ậ t t ố t ụ ng hình s ự , Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ luật tố tụng hình sự
Tác giả: Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Năm: 2015
15. Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2000), Lu ậ t phòng, ch ố ng ma túy, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật phòng, chống ma túy
Tác giả: Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Năm: 2000
16. Lê Hữu Thể (chủ biên) (2005), Th ự c hành quy ề n công t ố và ki ể m sát ho ạ t động tư pháp trong giai đoạn điề u tra, Nxb Tư pháp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp trong giai đoạn điều tra
Tác giả: Lê Hữu Thể (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Tư pháp
Năm: 2005
17. Lê Minh Thông (chủ biên) (2001), M ộ t s ố v ấn đề v ề hoàn thi ệ n t ổ ch ứ c và ho ạt độ ng c ủ a B ộ máy nhà nướ c C ộ ng hoà xã h ộ i ch ủ nghĩa Việ t Nam, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề về hoàn thiện tổ chức và hoạt động của Bộ máy nhà nước Cộng hoà xã hội chủnghĩa Việt Nam
Tác giả: Lê Minh Thông (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 2001
18. Trung tâm T ừ điể n h ọ c (1996), T ừ điể n Ti ế ng Vi ệ t, Nxb Đà Nẵng, Đà N ẵ ng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từđiển Tiếng Việt
Tác giả: Trung tâm T ừ điể n h ọ c
Nhà XB: Nxb Đà Nẵng
Năm: 1996

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w