1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Đăng ký kinh doanh của hộ kinh doanh theo pháp luật doanh nghiệp từ thực tiễn quận 8, thành phố hồ chí minh

65 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 65
Dung lượng 618,08 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chủ thể hộ gia đình được ghi nhận tại Điều 106 Bộ luật dân sự năm 2005 như sau: “Hộ gia đình mà các thành viên có tài sản chung, cùng đóng góp công sức để hoạt động kinh tế chung t

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

Trang 2

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

Trang 4

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong nền kinh tế thị trường, hoạt động kinh doanh thương mại sẽ ít nhiều tác động đến lợi ích chung của cộng đồng và xã hội; góp phần hình thành và phát triển thể chế kinh tế thị trường, bảo đảm vai trò quản lý của nhà nước trong các lĩnh vực, ngành nghề có liên quan Ngoài hệ thống các loại hình doanh nghiệp được thành lập theo Luật Doanh nghiệp thì hộ kinh doanh

là mô hình pháp lý khá phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội của Việt Nam Hộ kinh doanh đã gắn liền với quá trình phát triển kinh tế nhiều thành phần của nước ta với một số tên gọi, cụ thể như: hộ kinh doanh cá thể, hộ tiểu công nghiệp, hộ gia đình, hộ kinh doanh Cùng với quá trình tăng trưởng, phát triển của nhiều thành phần kinh tế trong thời gian vừa qua, khu vực kinh tế tư nhân trong đó có hộ kinh doanh ngày càng tăng về số lượng và

đa dạng về ngành nghề kinh doanh; loại hình hộ kinh doanh đã khẳng định vị trí rất quan trọng trong nền kinh tế nước ta, đã đạt và hiện tiếp tục đạt nhiều thành tựu đáng kể như: sử dụng một cách tối ưu nguồn nhân lực lao động xã hội, đóng góp thiết thực vào giải quyết việc làm, đảm bảo an sinh xã hội, tham gia xóa đói giảm nghèo Việc sản xuất, kinh doanh của hộ kinh doanh đa dạng, nhiều ngành nghề, đủ các mặt hàng, nhiều sản phẩm truyền thống tiếp tục được hộ kinh doanh giữ gìn và phát triển Do hộ kinh doanh có quy mô nhỏ, gọn mang tính chất gia đình hoặc liên kết nhóm nên không tốn nhiều chi phí, không phát sinh nhiều thủ tục hành chính trong quá trình khởi nghiệp, áp dụng hình thức nộp thuế theo tỷ lệ doanh thu rất thuận tiện và giản đơn, đặc biệt là có thể không sử dụng nhiều lao động Pháp luật doanh nghiệp hiện hành đã cụ thể hóa quyền tự do kinh doanh của công dân theo Hiến pháp năm 2013; Luật Doanh nghiệp năm 2014 hướng đến mục tiêu đơn giản hóa tối đa

về trình tự, thủ tục cho các chủ thể kinh doanh; bên cạnh đó, Luật Doanh

Trang 5

nghiệp năm 2020 đã đưa hộ kinh doanh ra ngoài sự điều chỉnh, giao cho Chính phủ quy định việc đăng ký và hoạt động của loại hình kinh doanh này

Vì xác định rõ vai trò, vị thế của hộ kinh doanh trong quá trình đổi mới phát triển đất nước, Đảng và Nhà nước đã có nhiều chủ trương, chính sách, quy định pháp luật tạo điều kiện thuận lợi trong vận hành và phát triển kinh tế đối với loại hình hộ kinh doanh

Tuy nhiên, thực tiễn hiện nay cho thấy từ khái niệm đến địa vị, trách nhiệm pháp lý của hộ kinh doanh đều chưa rõ ràng, cụ thể Bên cạnh đó, hộ kinh doanh còn gặp nhiều hạn chế như mặc dù được kinh doanh ở nhiều địa điểm nhưng không được mở chi nhánh, văn phòng đại diện, không có quy định về thủ tục giải thể, phá sản…; Quy định pháp luật hiện nay đã có nhiều khuyến khích, tạo thuận lợi cho các hộ kinh doanh chuyển đổi thành doanh nghiệp Nhưng trong thực tiễn áp dụng pháp luật còn nhiều lúng túng và khó khăn, chưa thật sự tạo điều kiện thuận lợi cho việc chuyển đổi loại hình từ hộ kinh doanh lên doanh nghiệp và đăng ký kinh doanh của các hộ kinh doanh Trước những bất cập hiện nay, việc tiếp tục hoàn thiện pháp luật về hộ kinh doanh nhằm minh bạch, rõ ràng, đảm bảo về mặt pháp lý là rất cần thiết; qua

đó nhà nước sẽ tối đa hóa các nguồn lực, giảm thiểu, tiến đến xóa bỏ những hạn chế với hộ kinh doanh để hoạt động đăng ký kinh doanh của hộ kinh doanh đơn giản và tiện ích, khả thi và hiệu quả nhất

Vì những lý do trên nên học viên lựa chọn đề tài: “Đăng ký kinh doanh

của hộ kinh doanh theo Pháp luật Doanh nghiệp từ thực tiễn Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh” để thực hiện luận văn thạc sĩ luật kinh tế Luận văn đã

hướng đến quá trình tìm hiểu, nghiên cứu, so sánh và đi sâu phân tích luận cứ khoa học, nhiều luận điểm, thực tiễn pháp lý của hộ kinh doanh về việc đăng

ký kinh doanh nhằm đề xuất, kiến nghị hoàn thiện pháp luật về đăng ký kinh doanh của hộ kinh doanh đảm bảo phù hợp với thực tiễn

Trang 6

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Trong chương trình đào tạo cử nhân luật tại các trường Đại học trong nước, nội dung về hộ kinh doanh là một phần của chương trình Luật Thương mại, ví dụ như Giáo trình Luật Thương mại phần chung và thương nhân, của Trường Đại học Quốc gia Hà Nội; Giáo trình Luật Thương mại Việt Nam tập

1 và 2, của Trường Đại học Luật Hà Nội, Nxb Tư pháp, Hà Nội, 2017; Giáo trình Luật Thương mại tập 2, của Trường Cao đẳng Thương mại, Nxb Giáo dục, 2008 Nghiên cứu pháp luật về đăng ký kinh doanh ở nước ta hiện nay có các Luận án, Luận văn như: Luận án Tiến sĩ luật học chuyên ngành Luật Kinh

tế năm 2016 của tác giả Nguyễn Thị Thu Thủy; nghiên cứu vấn đề pháp luật

về đăng ký kinh doanh của hộ kinh doanh từ thực tiễn huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh là Luận văn thạc sỹ chuyên ngành Luật kinh tế năm 2019 của tác giả Nguyễn Minh Cường Nghiên cứu về đăng ký kinh doanh của hộ kinh doanh, luận văn mong muốn làm rõ một số vấn đề bất cập, chưa khả thi trong các quy định của pháp luật hiện nay, đặc biệt là Luật Doanh nghiệp năm 2014

và Luật Doanh nghiệp năm 2020, đồng thời đưa ra các giải pháp đề xuất nhằm hoàn thiện các quy định của pháp luật và nâng cao địa vị pháp lý của hộ kinh doanh so với các loại hình kinh doanh khác

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu là đề xuất một số giải pháp sửa đổi, bổ sung các quy định pháp luật, hỗ trợ hoạt động của các hộ kinh doanh trong việc đăng

ký kinh doanh, kiến nghị một số phương hướng góp phần bổ sung, hoàn thiện

hệ thống pháp luật Luận văn có các nhiệm vụ nghiên cứu như sau:

Thứ nhất, phân tích các vấn đề lý luận pháp luật của hộ kinh doanh về

đăng ký kinh doanh theo hướng việc đăng ký kinh doanh được Nhà nước đảm

bảo thực hiện bằng các quy định như: khái niệm, đặc điểm và ý nghĩa, giá trị pháp lý của hộ kinh doanh, những điều kiện để thực hiện việc đăng ký kinh doanh của các hộ kinh doanh và là quyền hiến định của các hộ kinh doanh

Trang 7

Thứ hai, phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật về đăng ký kinh

doanh của hộ kinh doanh qua thực tiễn tại Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh

Thứ ba, trên cơ sở lý luận và thực trạng của pháp luật của các hộ kinh

doanh về đăng ký kinh doanh, luận văn tập trung đưa ra những giải pháp và

phương hướng góp phần hoàn thiện pháp luật về đăng ký kinh doanh của các

hộ kinh doanh ở nước ta trong cơ chế kinh tế thị trường định hướng xã hội

chủ nghĩa từ thực tiễn tại Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là các vấn đề pháp lý của hộ kinh doanh về thành lập, hoạt động,…trong thực tiễn kinh doanh thương mại

Phạm vi nghiên cứu của luận văn là thực tiễn áp dụng pháp luật về đăng

ký kinh doanh của các hộ kinh doanh tại Quận 8 Thành phố Hồ Chí Minh từ năm 2017-2020

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

Luận văn được thực hiện trên cơ sở lý luận và áp dụng phương pháp nghiên cứu khoa học xã hội và luật học; đó là: các phương pháp tổng hợp, phân tích, thống kê, hệ thống, lịch sử, phương pháp xã hội pháp luật…

Bên cạnh đó, Luận văn sử dụng các kết quả khi tham gia các hội thảo, ghi chép các ý kiến của các chuyên gia để thu thập những đánh giá cũng như

đề xuất giải pháp khuyến khích hộ kinh doanh chuyển đổi thành doanh nghiệp, hoàn thiện pháp luật đăng ký kinh doanh của hộ kinh doanh

Chương 1 Luận văn sử dụng phương pháp chủ đạo là phân tích và

tổng hợp để nêu lên những lập luận của pháp luật về đăng ký kinh doanh của các hộ kinh doanh, qua đó làm rõ khái niệm hộ kinh doanh, đăng ký kinh doanh và pháp luật về đăng ký kinh doanh của hộ kinh doanh

Chương 2 Luận văn sử dụng phương pháp hệ thống, phương pháp

thống kê, phương pháp phân tích tổng hợp để chỉ ra thực trạng thực thi pháp luật trong hoạt động đăng ký kinh doanh của các hộ kinh doanh từ thực tiễn tại Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh

Trang 8

Chương 3 Luận văn sử dụng phương pháp phân tích và tổng hợp,

phương pháp luật học so sánh, phương pháp hệ thống để đề ra các giải pháp hoàn thiện nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật của các hộ kinh doanh

về đăng ký kinh doanh từ thực tiễn tại Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài

Về ý nghĩa khoa học, luận văn đóng góp về phương diện lý luận cho

công tác nghiên cứu pháp lý, quá trình hoàn thiện và thực thi pháp luật của các hộ kinh doanh về đăng ký kinh doanh, theo đó đề xuất mô hình đăng ký kinh doanh phù hợp Luận văn đã làm rõ sự tác động của hệ thống pháp luật

về hộ kinh doanh đến quá trình phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội; nêu bật chức năng, vai trò pháp luật của các hộ kinh doanh về đăng ký hoạt động kinh doanh

Về mặt thực tiễn, kết quả nghiên cứu của luận văn có ý nghĩa rất quan

trọng trong việc nghiên cứu, cũng như là tài liệu tham khảo, làm cơ sở trong quá

trình áp dụng pháp luật về đăng ký kinh doanh của hộ kinh doanh ở nước ta

7 Kết cấu của luận văn

Bằng phương pháp tiếp cận và những nội dung nghiên cứu nêu trên, luận văn gồm ba chương chính cụ thể sau:

Chương 1 Lý luận về pháp luật về đăng ký kinh doanh của hộ kinh doanh

Chương 2 Thực trạng pháp luật về đăng ký kinh doanh của hộ kinh doanh theo pháp luật doanh nghiệp từ thực tiễn tại Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh

Chương 3 Phương hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật về đăng ký kinh doanh của hộ kinh doanh

Trang 9

Chương 1

LÝ LUẬN VỀ PHÁP LUẬT VỀ ĐĂNG KÝ KINH DOANH

CỦA HỘ KINH DOANH 1.1 Khái niệm và đặc điểm pháp lý của hộ kinh doanh

1.1.1 Khái niệm hộ kinh doanh

Tại các quốc gia phát triển trên thế giới chỉ quy định về hộ kinh doanh

do cá nhân làm chủ với các khái niệm không giống nhau như doanh nghiệp cá thể (sole proprietorship), doanh nghiệp một chủ (one-man business), thương

nhân cá thể (sole trader) Nhằm làm rõ khái niệm “hộ kinh doanh” ở nước ta,

đầu tiên chúng ta phải tìm hiểu, làm rõ thuật ngữ “hộ gia đình” - thuật ngữ này đã nhiều lần được nhắc đến trong các văn bản pháp quy kể từ năm 1964, đặc biệt là Luật Nghĩa vụ quân sự 1981 (được sửa đổi, bổ sung năm 1990) tại

Điều 29 khoản 6 “người có anh, chị hoặc em ruột trong cùng một hộ gia

đình là hạ sĩ quan, binh sĩ đang phục vụ tại ngũ” Hộ gia đình với tư cách chủ

thể quan hệ dân sự, là một trong những chủ thể sử dụng đất bên cạnh các đơn

vị vũ trang, cơ quan Nhà nước, tổ chức chính trị, xã hội, tổ chức kinh tế và cá nhân được quy định trong Luật đất đai 1993 Sau đó tiếp tục tại Điều 116 Bộ luật dân sự năm 1995 ghi nhận hộ gia đình là một chủ thể của quan hệ dân sự Chủ thể hộ gia đình được ghi nhận tại Điều 106 Bộ luật dân sự năm 2005 như

sau: “Hộ gia đình mà các thành viên có tài sản chung, cùng đóng góp công

sức để hoạt động kinh tế chung trong sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp hoặc một số lĩnh vực sản xuất, kinh doanh khác do pháp luật quy định là chủ thể khi tham gia quan hệ dân sự thuộc lĩnh vực này” Ngoài ra, Luật Đất đai năm

2013 sửa đổi bổ sung cũng ghi nhận “tư cách” chủ thể của hộ gia đình trong

các quan hệ về quyền sử dụng đất hay sản xuất nông nghiệp Điều này có ý nghĩa là Bộ luật Dân sự và một số văn bản quy phạm pháp luật khác cũng đã ghi nhận sự tồn tại khách quan của kinh tế hộ gia đình với tư cách là đơn vị

Trang 10

kinh tế tự chủ trong sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và một số ngành nghề khác Trong giai đoạn phát triển của nước ta hiện nay, hộ gia đình đang được xem là đối tượng đầu tư chủ yếu của các ngành: Ngân hàng, tổ chức tín dụng; số lượng giao dịch tài chính, tín dụng giữa hộ gia đình

và ngân hàng, các tổ chức tín dụng ngày càng tăng theo thời gian Do vậy, khi xác định chủ thể thành viên hộ gia đình, Bộ luật dân sự trước kia và một số quy định pháp luật có liên quan thường coi hộ gia đình là một trong những chủ thể đặc biệt, do hộ gia đình được hiểu như là các thành viên có khối tài sản chung, cùng đóng góp công sức nhằm mục đích hoạt động kinh tế chung trong quá trình sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp hoặc các lĩnh vực sản xuất, kinh doanh khác theo quy định của pháp luật Kinh tế hộ gia đình được xem là sản xuất, buôn bán nhỏ, mang tính tự cung, tự cấp, tự túc hoặc sản xuất hàng hóa với năng suất lao động không cao mà có vị trí, vai trò quan trọng trong quá trình phát triển sản xuất kinh doanh, đặc biệt là ở các nước đang phát triển, trong đó có nước ta Kinh tế hộ gia đình ở Việt Nam đã xuất hiện, duy trì và phát triển hơn nghìn năm nay và tiếp tục sẽ là thành tố cơ bản trong phát triển sản xuất nông nghiệp, trong xã hội; những hoạt động kinh tế hộ gia đình ngày càng phát triển và đa dạng Nhằm gia tăng năng suất, tăng cường đẩy mạnh phạm vi sản xuất ra khỏi hộ, khi đó hộ gia đình phải thực hiện các quy trình, các bước và thủ tục để tham gia vào thị trường thương mại Với tính chất ban đầu là buôn bán nhỏ lẻ, kinh doanh theo hình thức hộ, một khi đảm bảo các điều kiện cần thiết, hộ gia đình có quyền đăng ký ngành nghề, chính thức bước vào kinh doanh với tên gọi là hộ kinh doanh cũng như các loại hình kinh doanh khác, được Nhà nước đảm bảo hoạt động Tuy nhiên, hiện nay các loại hình doanh nghiệp được quy định trong Luật Doanh nghiệp không bao gồm hộ kinh doanh, đồng nghĩa với hộ kinh doanh chưa được thừa nhận là một loại hình doanh nghiệp Tổ chức có tên riêng, có trụ sở giao dịch, có tài sản, được thành lập, đăng ký thành lập theo quy định của pháp luật Việt Nam

Trang 11

và có trụ sở chính tại Việt Nam được pháp luật xác nhận là doanh nghiệp; hành vi thực hiện một, một số hoặc tất cả công đoạn từ đầu tư, sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm, cung ứng dịch vụ nhằm mục đích thu lợi nhuận được gọi là kinh doanh Các hoạt động kinh doanh luôn có sự đa dạng về hình thức, cách thức thực hiện và được điều chỉnh bởi pháp luật kinh tế; qua đó, cho dù là cá nhân, nhóm cá nhân hoặc pháp nhân (công ty) đều có thể mang nội hàm của khái niệm doanh nghiệp Chính vì vậy khái niệm doanh nghiệp là khái niệm kinh tế, không phải là khái niệm pháp lý

Từ phân tích khái niệm trên, có quan điểm cho rằng việc thừa nhận hộ kinh doanh là doanh nghiệp bằng cách đưa chúng vào Luật doanh nghiệp là vấn đề rất bình thường Tuy nhiên, với quan điểm như vậy, đồng nghĩa rằng chúng ta đang có sự nhầm lẫn giữa khái niệm pháp lý với khái niệm kinh tế

Khoản 1 Điều 79 Nghị định số 01/2021/NĐ-CP định nghĩa về hộ kinh

doanh như sau: “Hộ kinh doanh do một cá nhân hoặc các thành viên hộ gia

đình đăng ký thành lập và chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình đối với hoạt động kinh doanh của hộ Trường hợp các thành viên hộ gia đình đăng ký hộ kinh doanh thì ủy quyền cho một thành viên làm đại diện hộ kinh doanh Cá nhân đăng ký hộ kinh doanh, người được các thành viên hộ gia đình ủy quyền làm đại diện hộ kinh doanh là chủ hộ kinh doanh” Hộ kinh

doanh không phải là một chủ thể pháp lý, các thành viên là cá nhân tham gia

hộ kinh doanh đó mới là chủ thể pháp lý, hộ kinh doanh chỉ là cách gọi chung

cho những nhóm cá nhân kinh doanh với trách nhiệm vô hạn (chịu trách

nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình đối với hoạt động kinh doanh)

Vì những cơ sở nêu trên, công ty kinh doanh khác với cá nhân kinh doanh, mặc dù về khái niệm kinh tế thì hai chủ thể này đều là doanh nghiệp, nhưng về khái niệm pháp lý, những cơ chế, thủ tục và điều kiện pháp lý đối với các chủ thể này là không giống nhau Do đó, hộ kinh doanh như là một chủ thể doanh nghiệp nhưng không được quy định trong Luật doanh nghiệp

Trang 12

hiện hành, mà hộ kinh doanh trong một thời gian khá dài đã mang tư cách pháp lý trong nhiều văn bản pháp quy, nổi bật nhất là trong Bộ luật dân sự Bên cạnh đó, hộ kinh doanh là khái niệm có từ thực tiễn cuộc sống mang bản chất từ các ngành, nghề truyền thống và văn hóa dân tộc lâu đời, bắt nguồn từ

thuật ngữ “hộ gia đình”

Trước đây, Nghị định số 02/2000/NĐ-CP ngày 03/02/2000 và Nghị định số 109/2004/NĐ-CP ngày 02/4/2004 của Chính phủ quy định hộ kinh doanh cá thể; sau đó, Nghị định số 78/2015/NĐ-CP và hiện nay là Nghị định

số 01/2021/NĐ-CP về đăng ký doanh nghiệp có hiệu lực ngày 04/01/2021 với

tên gọi là “hộ kinh doanh” [10], [11] Hộ kinh doanh do một cá nhân là công

dân Việt Nam hoặc một nhóm người hoặc một hộ gia đình làm chủ, chỉ được kinh doanh tại một địa điểm, sử dụng không quá mười lao động, không có con dấu và chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình đối với hoạt động kinh doanh được nêu tại Nghị định số 88/2006/NĐ-CP[7] Khoản 1 Điều 79 Nghị

định số 01/2021/NĐ-CP định nghĩa về hộ kinh doanh như sau: “Hộ kinh

doanh do một cá nhân hoặc các thành viên hộ gia đình đăng ký thành lập và chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình đối với hoạt động kinh doanh của hộ Trường hợp các thành viên hộ gia đình đăng ký hộ kinh doanh thì ủy quyền cho một thành viên làm đại diện hộ kinh doanh Cá nhân đăng ký hộ kinh doanh, người được các thành viên hộ gia đình ủy quyền làm đại diện hộ kinh doanh là chủ hộ kinh doanh” Theo định nghĩa nêu trên cho thấy hộ kinh

doanh được chia thành hai loại trên cơ sở căn cứ vào chủ thành lập ra nó, đó là: (i) Hộ kinh doanh do một cá nhân làm chủ và (ii) Hộ kinh doanh do hộ gia

đình làm chủ “Hộ gia đình” được kinh doanh dưới hình thức hộ kinh doanh

cá thể hay hộ kinh doanh như trên vừa nêu là một bước tiến mới của pháp luật doanh nghiệp

Trang 13

Một là, “hộ gia đình” không phải là pháp nhân, cũng không phải là cá

nhân, mà đó là chủ thể đặc biệt theo pháp luật Việt Nam, là “thương nhân thể nhân” [13]

Hai là, các thành viên của “hộ gia đình” rất khó xác định; dấu hiệu

nhận biết có quan hệ hôn nhân, huyết thống hay nuôi dưỡng là một “gia

đình” Tuy nhiên quy định “hộ gia đình” hiện nay không bắt buộc tất cả các

thành viên phải có tất cả những mối quan hệ nêu trên Thành viên của hộ gia đình cần phải thỏa mãn có hai điều kiện sau đây:

Mối quan hệ (là điều kiện cần), thông qua việc có quan hệ hôn nhân, huyết thống, nuôi dưỡng; và chung sống (là điều kiện đủ), thể hiện qua việc

cùng làm việc chung nhằm kiếm sống hoặc cùng cư trú tại một nơi dựa trên

cơ sở có chung một khối tài sản Tuy nhiên, số lượng các thành viên của hộ gia đình có thể biến động, do đó sẽ tạo ra không ít khó khăn cho việc giải quyết các tranh chấp có liên quan Thành viên hộ gia đình được xác lập thông qua sổ hộ khẩu; có lẽ đây không phải là một việc làm hợp lý vì sự tồn tại của

sổ hộ khẩu không có đầy đủ cơ sở để đứng vững trong xu thế hiện nay Bên cạnh đó, sổ hộ khẩu không thể xác định rằng các thành viên có cùng trú ngụ hay là cùng làm việc kiếm sống hay không

Ở quy định cũ (Nghị định 78/2015/NĐ-CP về đăng ký kinh doanh) cho

thấy chủ sở hữu hộ kinh doanh có thể là một nhóm người có gồm các cá nhân

là công dân Việt Nam đủ 18 tuổi, có năng lực hành vi dân sự đầy đủ Nếu nhóm người này không phải là một hộ gia đình, không có quan hệ huyết thống, giả sử họ chỉ là những bạn hàng thân thiết thì trong trường hợp này hộ kinh doanh giúp người ta dễ dàng liên tưởng đến loại hình công ty hợp danh hoặc công ty hợp vốn đơn giản Chủ sở hữu là một cá nhân có sự khác biệt rất lớn với chủ sở hữu là một nhóm người, bởi nó sẽ quyết định đến: cơ cấu tổ chức, cách thức hoạt động, chế độ trách nhiệm, đại diện pháp lý của hộ kinh doanh Bởi vậy, việc quy định chủ sở hữu hộ kinh doanh gồm một nhóm người như khái niệm trên về hộ kinh doanh là không hợp lý

Trang 14

Pháp luật Việt Nam hiện nay phân biệt hộ kinh doanh với doanh nghiệp thông qua chủ thể là thể nhân kinh doanh hay là tổ chức kinh doanh Hộ kinh doanh do một cá nhân hoặc các thành viên hộ gia đình đăng ký thành lập và chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình đối với hoạt động kinh doanh của hộ, chỉ được đăng ký một hộ kinh doanh trên toàn quốc, tuy nhiên có thể hoạt động kinh doanh tại nhiều địa điểm nhưng phải chọn một địa điểm để đăng ký trụ sở hộ kinh doanh và phải thông báo cho cơ quan quản lý thuế, cơ quan quản lý thị trường nơi tiến hành hoạt động kinh doanh đối với các địa điểm kinh doanh còn lại, đây là nội dung mới, tiến bộ của pháp luật doanh nghiệp [11] Có thể hiểu rằng, pháp luật doanh nghiệp hiện nay xác định hộ kinh doanh với các loại hình doanh nghiệp không có gì khác nhau về hình thức, chỉ có chủ thể, quy mô kinh doanh là khác nhau

Như vậy, Hộ kinh doanh do một cá nhân hoặc các thành viên hộ gia đình đăng ký thành lập; đối với hộ kinh doanh do một cá nhân làm chủ, cá nhân có toàn quyền quyết định về mọi hoạt động kinh doanh của hộ (như chủ doanh nghiệp tư nhân đối với doanh nghiệp tư nhân); đối với hộ kinh doanh

do các thành viên hộ gia đình làm chủ, mọi hoạt động kinh doanh của hộ do các thành viên trong hộ gia đình quyết định; các thành viên hộ gia đình ủy quyền cho một người làm chủ hộ kinh doanh, tham gia các giao dịch có liên quan đến hoạt động kinh doanh thưong mại Hiện nay, hộ kinh doanh không còn được ghi nhận là một chủ thể trong giao dịch dân sự và không còn được quy định trong Bộ Luật Dân sự năm 2015, một trong những bộ luật “mẹ” có liên quan đến hoạt động kinh doanh thương mại

1.1.2 Đặc điểm pháp lý của hộ kinh doanh

1.1.2.1 Hộ kinh doanh không phải là pháp nhân

Hộ kinh doanh được thành lập bởi một cá nhân vì vậy họ không thể là pháp nhân; hộ kinh doanh gắn liền với cá nhân thành lập ra hộ kinh doanh; tài sản thuộc sở hữu của cá nhân làm chủ hộ kinh doanh; chủ hộ kinh doanh

Trang 15

được hưởng tất cả lợi nhuận (sau khi đã thực hiện các nghĩa vụ tài chính và thanh toán theo quy định của pháp luật) và phải trách nhiệm bằng tất cả tài sản thuộc sở hữu của mình

Đối với trường hợp hộ kinh doanh được thành lập bởi các thành viên

hộ gia đình, thì hộ kinh doanh mang bản chất là hộ gia đình kinh doanh, theo

đó, hộ kinh doanh cũng không phải là pháp nhân Là thể nhân hoạt động kinh doanh độc lập và có tư cách pháp lý riêng như là một doanh nghiệp nhưng hộ kinh doanh không được thực hiện đầy đủ các quyền mà doanh nghiệp có như trong Luật Doanh nghiệp đã quy định Khi tham gia thỏa thuận kinh doanh, đại diện hộ kinh doanh nhân danh mình để thực hiện hoạt động giao dịch đó hoặc có thể thuê người khác quản lý, điều hành hoạt động kinh doanh nhưng vẫn phải chịu trách nhiệm pháp lý đối với các khoản nợ và nghĩa vụ pháp lý phát sinh từ hoạt động kinh doanh Để được thừa nhận có tư cách pháp nhân (theo Điều 74 Bộ Luật dân sự 2015), tổ chức phải thỏa mãn các yếu tố như:

- Một là, được thành lập theo quy định pháp luật; có cơ quan điều hành trong cơ cấu tổ chức, được quy định trong điều lệ hoặc quyết định thành lập pháp nhân;

- Hai là, tự chịu trách nhiệm bằng tài sản của mình, có tài sản độc lập với pháp nhân, cá nhân khác; tham gia quan hệ pháp luật một cách độc lập, nhân danh của tổ chức

Theo quy định của Bộ luật Dân sự 2015, cho thấy hộ kinh doanh không thỏa mãn yếu tố “có tài sản độc lập với cá nhân, pháp nhân khác và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản của mình” nên không phải là pháp nhân; đặc điểm

này của hộ kinh doanh khá giống với doanh nghiệp tư nhân Nếu so sánh hộ

kinh doanh với công ty hợp danh thì có thể thấy rằng, cả hai mô hình kinh doanh này đều có điểm chung là các thành viên phải chịu trách nhiệm vô hạn

và liên đới đối với các nghĩa vụ tài chính Do đó, cả hộ kinh doanh và công ty hợp danh đều không có sự tách bạch tài sản giữa tài sản của doanh nghiệp với

Trang 16

tài sản của thành viên Tuy nhiên, công ty hợp danh vẫn được pháp luật quy

định tư cách pháp nhân còn hộ kinh doanh thì không (Công ty hợp danh có tư

cách pháp nhân kể từ ngày được cấp giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp

- Khoản 2 Điều 177 Luật Doanh nghiệp 2020)

1.1.2.2 Chủ hộ kinh doanh chịu trách nhiệm vô hạn đối với các khoản

nợ của hộ kinh doanh

Cá nhân hoặc các thành viên phải chịu trách nhiệm trả dứt nợ mà không phụ thuộc vào số tài sản kinh doanh họ đang có khi phát sinh các khoản nợ; không tính đến vào việc họ đã chấm dứt hay đang thực hiện hoạt động kinh doanh

Trước hết cần nêu lại định nghĩa về hộ kinh doanh theo Nghị định số 01/2021/NĐ-CP năm 2021 để xác định chế độ trách nhiệm của chủ hộ kinh

doanh: “Hộ kinh doanh do một cá nhân hoặc các thành viên hộ gia đình đăng

ký thành lập và chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình đối với hoạt động kinh doanh của hộ Chỉ được đăng ký một hộ kinh doanh trong phạm vi toàn quốc Chủ hộ kinh doanh có thể thuê người khác quản lý, điều hành hoạt động kinh doanh của hộ kinh doanh Trong trường hợp này, chủ hộ kinh doanh, các thành viên hộ gia đình tham gia đăng ký hộ kinh doanh vẫn chịu trách nhiệm đối với các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác phát sinh từ hoạt động kinh doanh” [11] Những quy định này nhìn chung rất khó xác định chế

độ trách nhiệm của chủ hộ kinh doanh do cách viết Theo đó, chúng ta có thể hiểu có ba yếu tố để xác định hộ kinh doanh như sau: (i) Hộ kinh doanh do một cá nhân hoặc các thành viên hộ gia đình làm chủ; (ii) Chỉ được đăng ký một hộ kinh doanh trong phạm vi toàn quốc; (iii) Chủ hộ kinh doanh chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình đối với hoạt động kinh doanh

Về nguyên tắc, khi kinh doanh trong điều kiện bình thường, thương nhân phải chịu trách nhiệm bằng tất cả tài sản của mình đối với các khoản nợ phát sinh

Trang 17

Do vậy định nghĩa về hộ kinh doanh theo Nghị định số

01/2021/NĐ-CP năm 2021 chưa rõ về chế độ trách nhiệm; việc phân tích như vậy phải gắn chặt với bản chất của hộ kinh doanh [36] Trường hợp hộ gia đình làm chủ hộ kinh doanh, thì việc xác định trách nhiệm của từng thành viên hộ gia đình phải cần đến nhiều quy định của Bộ luật Dân sự 2015 [37] Trường hợp cá nhân làm chủ hộ kinh doanh, thì phải chịu trách nhiệm vô hạn đối với các

khoản nợ của hộ kinh doanh

Hộ kinh doanh trong trường hợp này rất giống với loại hình công ty hợp danh; cá nhân hoặc các thành viên trong hộ kinh doanh chịu trách nhiệm

vô hạn về mọi khoản nợ phát sinh của hộ kinh doanh từ hoạt động kinh doanh; hay nói cách khác, khi phát sinh các khoản nợ, không phụ thuộc vào

số tài sản kinh doanh hay tài sản dân sự mà họ đang có; không phụ thuộc vào việc họ đang thực hiện hay đã chấm dứt thực hiện hoạt động kinh doanh [37]

1.2 Khái niệm đăng ký kinh doanh của các hộ kinh doanh

Mỗi thực thể kinh doanh thương mại, khi tham gia vào thị trường và thực hiện các hoạt động thương mại, sản xuất kinh doanh đòi hỏi một số yêu cầu như: chủ thể, vốn, ngành nghề kinh doanh, trụ sở, chiến lược, phương pháp kinh doanh, Một trong những điều kiện quan trọng và đặc biệt quan trọng là chủ thể kinh doanh phải tiến hành thủ tục đăng ký thành lập với cơ quan quản lý nhà nước để được xác nhận sự ra đời của các chủ thể thương mại trên thị trường Dưới góc độ là biện pháp nhằm minh bạch, công khai địa

vị pháp lý của các chủ thể, thì “đăng ký” được xem là hành vi của cơ quan

nhà nước có thẩm quyền nhằm chứng nhận và chấp thuận về mặt pháp lý đối với chủ thể kinh doanh Bên cạnh đó, hoạt động đăng ký là khâu cuối của quá trình xác lập quyền sở hữu Chủ thể có quyền sở hữu, quản lý và duy trì hoạt động đăng ký sau khi thực hiện thủ tục đăng ký Từ điển Tiếng Việt do Nhà

xuất bản Khoa học xã hội và Trung tâm Từ điển, năm 1994 đã nêu: “để chính

thức công nhận cho hưởng quyền lợi hay làm nghĩa vụ thì phải đăng ký, đăng

Trang 18

ký là việc ghi vào Sổ của cơ quan quản lý ” [35] “Đăng ký là cách thức ghi chép vào sổ sách do nhà nước đặt ra như: đăng ký kết hôn, đăng ký kinh doanh, đăng ký quyền sử dụng đất đai ” trích Từ điển Giải thích thuật ngữ

hành chính [34]

Khi tiến hành kinh doanh, chủ thể phải thực hiện đăng ký kinh doanh (trừ trường hợp pháp luật có quy định khác), đây là hành trang pháp lý rất quan trọng khi gia nhập vào hoạt động kinh doanh thương mại Hoạt động đăng ký kinh doanh được thực hiện theo trình tự, thủ tục nhất định, áp dụng thực hiện trên cả nước theo các văn bản quy phạm pháp luật được cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành; chủ thể kinh doanh sẽ được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh và bắt đầu kinh doanh khi thực hiện đăng ký và được ghi vào sổ đăng ký kinh doanh Thông qua phương pháp tiếp cận trên, có thể

khái niệm như sau: Đăng ký kinh doanh là hành vi nhằm khai trình với cơ quan

có thẩm quyền của nhà kinh doanh, công khai về hoạt động kinh doanh của mình với giới kinh doanh và được Nhà nước cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh thông qua đó ghi nhận, bảo hộ hoạt động kinh doanh

Việc đăng ký kinh doanh là cơ sở pháp lý và cũng tạo tiền đề cho việc xác nhận sự hình thành, hoạt động, tồn tại và phát triển của chủ thể kinh doanh, được xem xét từ các khía cạnh sau:

Một là, từ khía cạnh quản lý của cơ quan nhà nước có thẩm quyền; tạo

ra tư cách chủ thể kinh doanh bằng hành vi xác nhận của cơ quan quản lý Nhà nước, dù xét ở góc độ nào thì hành vi đăng ký kinh doanh phải được thực hiện theo những trình tự, thủ tục nhất định Nội dung này có nghĩa là tự do kinh doanh sẽ không thể được xác lập nếu không có đầy đủ các quy định pháp luật nhằm bảo đảm việc đăng ký kinh doanh của các chủ thể kinh doanh

Hai là, chủ thể nhằm thực hiện nhu cầu kinh doanh của mình mà thực

hiện hành vi đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật để đảm bảo quyền tự do kinh doanh của mình

Trang 19

Đăng ký kinh doanh là hành vi quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp,

hộ kinh doanh, là việc Nhà nước chính thức thừa nhận tư cách pháp lý của doanh nghiệp và các chủ thể kinh doanh khác; sau đó sẽ thực hiện việc giám sát đối với hoạt động kinh doanh của họ; sự giám sát này được thực hiện với mục đích bảo đảm cho hoạt động sản xuất, kinh doanh của các chủ thể nhưng không gây ra hậu quả tiêu cực cho xã hội, rõ nét nhất là sự suy thoái, hủy hoại môi trường sống mà cả thế giới đang phải gánh chịu

Ở nhiều quốc gia trên thế giới, nhất là các nước phát triển như Vương quốc Anh, Singapore, Úc, Hà Lan, Pháp,… hộ kinh doanh là một trong những hình thức kinh doanh phổ biến do sự đơn giản trong thủ tục thành lập và chi phí gia nhập thị trường thấp Mặt khác, chủ hộ kinh doanh được quyền chủ động, hoàn toàn độc lập trong việc quyết định phạm vi hoạt động kinh doanh của mình Nhưng khi chịu trách nhiệm vô hạn bằng toàn bộ tài sản của mình đối với các khoản nợ của hộ kinh doanh, chủ hộ kinh doanh hoàn toàn gặp khó khăn trong việc huy động vốn, tăng quy mô sản xuất Sự hình thành và phát triển mô hình hộ kinh doanh là quy luật tất yếu khách quan, xuất phát từ yêu cầu thực tiễn, quy luật tự nhiên của nền kinh tế thị trường, của hoạt động kinh doanh thương mại Vì vậy, đăng ký hộ kinh doanh đã trở thành quy định pháp luật tại nhiều quốc gia trên thế giới, theo đó vừa đảm bảo việc quản lý đối với mô hình kinh doanh này mà còn thực thi chính sách xã hội

Ở nước ta trước đây việc đăng ký kinh doanh chỉ là ghi nhận sự ra đời

của chủ thể kinh doanh (gọi là chủ thể kinh doanh vì nó bao gồm cả doanh

nghiệp tư nhân và hộ gia đình bên cạnh các loại hình công ty TNHH, công ty

cổ phần và công ty hợp danh), còn hiện nay (từ thời điểm Nghị định

43/2010/NĐ-CP và Nghị định 78/2015/NĐ-CP có hiệu lực và nay là Nghị định 01/2021/NĐ-CP) khi làm thủ tục đăng ký doanh nghiệp bao gồm toàn bộ quá trình đăng ký kinh doanh, đăng ký thuế, đăng ký thay đổi và các hành vi

đăng ký, thông báo khác Qua đó, có thể hiểu rằng: Đăng ký kinh doanh của

Trang 20

các hộ kinh doanh là việc ghi nhận các hoạt động kinh doanh của hộ kinh doanh do cơ quan quản lý nhà nước thực hiện; nhà nước quản lý thông qua việc thu thuế và điều chỉnh các nội dung thay đổi khác đối với hoạt động kinh doanh của hộ kinh doanh

Đăng ký kinh doanh là khâu đầu tiên của doanh nghiệp, cá nhân khởi nghiệp và cần phải được thực hiện tốt nhằm khuyến khích người dân thành lập doanh nghiệp, hộ kinh doanh Tuy nhiên, việc cấp phép đăng ky`1 kinh doanh hiện vẫn còn tình trạng yêu cầu bổ sung hồ sơ nhiều lần, thời gian xử lý khá chậm, thái độ phục vụ của một số nhân viên công quyền chưa thật sự đúng mức làm cho người dân chưa thật hài lòng và ít nhiều ảnh hưởng không tốt đến ý định khởi nghiệp Đăng ký kinh doanh là một trong những dịch vụ hành chính công do cơ quan quản lý nhà nước trực tiếp thực hiện, là thủ tục đầu tiên, cơ sở pháp lý căn bản thành lập Doanh nghiệp, hộ kinh doanh Nội dung của Đăng ký kinh doanh gồm: cấp, điều chỉnh giấy chứng nhận Đăng

ký kinh doanh; cung cấp thông tin về doanh nghiệp, hộ kinh doanh; yêu cầu doanh nghiệp, hộ kinh doanh báo cáo tình hình kinh doanh, thực hiện hậu kiểm sau cấp giấy chứng nhận Đăng ký kinh doanh

Parasuraman và cộng sự (1988), Spreng và Mackoy (1996) đều cho rằng, sự hài lòng của khách hàng là phản ứng của họ về sự khác biệt cảm nhận giữa kinh nghiệm đã biết và sự mong đợi Do vậy, chất lượng dịch vụ Đăng ký kinh doanh chính là sự thỏa mãn của công dân, tổ chức được xác định bởi việc so sánh giữa chất lượng cảm nhận và chất lượng mong đợi Dịch

vụ công chất lượng cao không chỉ làm gia tăng hài lòng của khách hàng mà còn xây dựng sự trung thực thông qua quá trình minh bạch, trách nhiệm giải trình; đo lường sự hài lòng của khách hàng là một giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của tổ chức công, đảm bảo cung cấp dịch vụ hành chính tốt nhất, thúc đẩy tiến trình cải cách hành chính, hiện đại hóa bộ máy nhà nước

Trang 21

1.3 Vai trò của hộ kinh doanh trong sự phát triển kinh tế - xã hội ở Việt Nam hiện nay

Thời gian vừa qua, hộ kinh doanh đã có nhiều đóng góp tích cực vào quá trình phát triển kinh tế - xã hội ở nước ta, đáng chú ý như:

Thứ nhất, loại hình hộ kinh doanh có đóng góp lớn trong tạo việc làm và

giải quyết các vấn đề an sinh xã hội Số lượng lao động làm việc trong khu vực hộ kinh doanh tăng mạnh, từ hơn 7,43 triệu người vào năm 2010 tăng lên khoảng 8,61 triệu người vào giữa năm 2017 (số liệu của Tổng cục Thống kê 2018);

Khu vực hộ kinh doanh giai đoạn 2010-2017 có số lao động làm việc chiếm tỷ lệ từ 59,3%-75,8% so với số lao động trong các doanh nghiệp Nếu chỉ so sánh với các doanh nghiệp thuộc khu vực tư nhân thì số lao động làm việc trong khu vực hộ kinh doanh trong những năm gần đây là gần bằng nhau Trong giai đoạn 2010-2017, số lao động ở các doanh nghiệp là khoảng 25,5-

36 người/doanh nghiệp, còn số lao động trung bình một hộ kinh doanh dao động từ 1,7-1,86 người/hộ kinh doanh Qua đó, cho thấy tạo việc làm và thu nhập cho người lao động của hộ kinh doanh có ý nghĩa hết sức quan trọng

Các hộ kinh doanh kinh doanh nhỏ, lẻ chiếm đa số tại các khu vực nông thôn, ở những nơi thu nhập thấp đã trở thành một hoạt động kinh tế đặc trưng tạo việc làm, tăng thu nhập và góp phần xóa đói giảm nghèo, do có sự xuất hiện của hộ kinh doanh, người khó khăn trong cuộc sống mới có cơ hội được tiếp cận các loại hàng hóa, dịch vụ nhanh chóng với giá cả rất phù hợp, thậm chí ở mức bình dân Bên cạnh đó, khu vực này còn là nơi tiếp nhận người lao động chưa qua đào tạo chuyên sâu, không đủ kỹ năng làm việc trong khu vực doanh nghiệp, khu vực hành chính sự nghiệp chuyển sang Có không ít hộ kinh doanh đã góp phần rất lớn trong việc gìn giữ, bảo tồn và phát triển các ngành nghề truyền thống đang cố gắng hoạt động tại các làng nghề truyền thống - góp phần duy trì một phần lịch sử văn hóa dân tộc ta [36]

Trang 22

Thứ hai, hộ kinh doanh là một trong những biện pháp để phát triển kinh

tế đất nước thông qua hoạt động kinh doanh trong giai đoạn hiện nay; là bước trung gian có thể khởi nghiệp vững chắc do rào cản về năng lực tham gia thị trường thấp hơn các loại hình doanh nghiệp khác Hộ kinh doanh là mô hình khởi nghiệp phổ biến ở nước ta do sự đơn giản về thủ tục gia nhập thị trường, nhất là ở những ngành, lĩnh vực kinh doanh truyền thống, ít ràng buộc về cơ cấu tổ chức, phù hợp với nhiều đối tượng, ngành nghề, vùng miền và không quá đòi hỏi về năng lực tài chính Trong giai đoạn 2007-2015, quy mô vốn bình quân tăng khoảng 16,9%/năm, từ 59,4 triệu đồng/hộ năm 2007 lên 150,6 triệu đồng/hộ vào năm 2015, gấp 2,54 lần so với năm 2007 [33] Trong khi đó, vốn bình quân một doanh nghiệp ngoài nhà nước giai đoạn này phải đạt khoảng từ 26,7 tỷ-51,8 tỷ đồng

Thứ ba, hộ kinh doanh góp phần tăng trưởng kinh tế; có vai trò rất lớn

trong việc sản sinh của cải vật chất, hàng hóa, dịch vụ cho xã hội, trực tiếp đóng góp cho tiến trình phát triển kinh tế, tăng trưởng GDP Hộ kinh doanh chỉ nắm giữ 3,2% tổng nguồn vốn kinh doanh, nhưng đạt 13,3% doanh thu (gồm các doanh nghiệp và hộ kinh doanh); trong ngành bán buôn, bán lẻ, sửa chữa mô tô, xe máy … tỷ lệ này ở mức cao hơn, đạt gần 22% (theo tổng cục Thống kê năm 2013)[38]

Thứ tư, hộ kinh doanh ngày càng nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn

lực của mình, hộ kinh doanh có tác động tích cực đến hiệu quả nền kinh tế nước nhà Hình thức hộ kinh doanh đã thu hút được các nguồn lực của xã hội,

đã trở thành một loại hình kinh doanh quen thuộc không chỉ ở khu vực nông thôn và thành thị mà còn phát triển đa dạng các ngành nghề sản suất từ truyền thống đến kinh doanh thương mại đa dạng, hiện đại với nhiều tiện ích và hiệu quả kinh tế rất cao

Trang 23

1.4 Nội dung pháp luật về đăng ký kinh doanh của hộ kinh doanh

1.4.1 Ngành nghề kinh doanh

Cơ quan đăng ký kinh doanh cấp huyện (Phòng Tài chính Kế hoạch) thực hiện việc ghi nhận thông tin về ngành, nghề kinh doanh trên Giấy chứng nhận đăng ký hộ kinh doanh theo đề nghị của hộ kinh doanh; đối với ngành, nghề kinh doanh có điều kiện và việc kiểm tra việc chấp hành điều kiện kinh doanh của hộ kinh doanh thuộc thẩm quyền của cơ quan quản lý nhà nước

chuyên ngành (ví dụ như an ninh trật tự thì do ngành Công an, Karaoke thì

do ngành văn hóa quản lý) Tuy nhiên, so sánh với một số loại hình doanh

nghiệp thì ngành nghề kinh doanh của hộ kinh doanh bị các quy định pháp luật chuyên ngành thu hẹp hơn, chẳng hạn: nghề luật sư không thể thành lập dưới dạng loại hình hộ kinh doanh mà phải là doanh nghiệp (được sử dụng loại hình doanh nghiệp tư nhân và công ty hợp danh, công ty TNHH); nghề công chứng không được thành lập theo loại hình hộ kinh doanh (được sử dụng loại hình công ty hợp danh); Một số ngành nghề trong lĩnh vực đầu tư, xây dựng, chứng khoán; Người hành nghề quản lý, thanh lý tài sản phá sản của doanh nghiệp…

Theo quy định tại Khoản 3 Điều 89 Nghị định 01/2021/NĐ-CP ngày

04/01/2021 quy định: “trong trường hợp cơ quan đăng ký kinh doanh cấp

huyện nhận được văn bản của cơ quan có thẩm quyền về việc hộ kinh doanh kinh doanh ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện nhưng không đáp ứng

đủ điều kiện theo quy định pháp luật, Cơ quan đăng ký kinh doanh cấp huyện

ra thông báo yêu cầu hộ kinh doanh tạm ngừng kinh doanh ngành nghề đầu

tư kinh doanh có điều kiện, đồng thời thông báo cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền để xử lý theo quy định pháp luật” [11]

1.4.2 Cơ cấu tổ chức, vốn, địa điểm kinh doanh

Chủ hộ kinh doanh khác với chủ sở hữu doanh nghiệp tư nhân không được đồng thời là thành viên hợp danh của công ty hợp danh kể cả được sự

Trang 24

nhất trí của các thành viên hợp danh còn lại Sự khác nhau này giữa thành viên hộ kinh doanh và chủ sở hữu doanh nghiệp tư nhân thật khó giải thích cho tư duy thiếu nhất quán của pháp luật kinh doanh, bởi chủ hộ kinh doanh

và chủ sở hữu doanh nghiệp tư nhân về bản chất không khác gì nhau, họ phải chịu trách nhiệm vô hạn bằng toàn bộ tài sản cá nhân của mình với mọi hoạt động của cơ sở kinh doanh Khi chủ hộ kinh doanh đồng thời là thành viên

hợp danh của công ty hợp danh (do được các thành viên còn lại đồng ý) có

nghĩa là một sản nghiệp thương mại sẽ hai lần được đem ra chịu trách nhiệm

vô hạn cho hai cơ sở kinh doanh khác nhau Điều này có thể dẫn đến nhiều phức tạp nếu cả hai cơ sở kinh doanh đó làm ăn thua lỗ dẫn đến phá sản

Hộ kinh doanh có tên gọi riêng Đặt tên của hộ kinh doanh phải tuân thủ các quy định pháp luật theo quy định tại Điều 88 Nghị định số 01/2021/NĐ-CP Đặt biệt, tên riêng hộ kinh doanh không được trùng với tên riêng của hộ kinh doanh đã đăng ký trong phạm vi cấp huyện; điều này cho thấy, so với tên của doanh nghiệp được pháp luật quy định và bảo hộ chặt chẽ (trên phạm vi cả nước) thì ngược lại, tên của hộ kinh doanh chỉ được bảo hộ trong địa bàn quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh nơi hộ kinh doanh

đăng ký [39]

Ngoài ra, dù có tên gọi riêng nhưng hộ kinh doanh không có con dấu riêng (dấu tròn) – dấu tròn không thể tự khắc mà được cấp dấu theo một thủ tục do pháp luật quy định và phải được cơ quan công an có thẩm quyền thực hiện Đây là điểm khác biệt lớn giữa hộ kinh doanh với doanh nghiệp tư nhân

và các loại hình công ty Thực tế hoạt động của hộ kinh doanh cho thấy, mọi giao dịch của hộ kinh doanh đều thông qua và đặt dưới danh nghĩa của chủ hộ kinh doanh, bao gồm cả việc sử dụng tài khoản, mã số thuế cá nhân của chủ

hộ kinh doanh

Hộ kinh doanh hoạt động phổ biến trong lĩnh vực nông nghiệp và tiểu thủ công nghiệp gắn liền với làng, xã, thôn, xóm ở nông thôn hoặc các làng nghề tiểu thủ công nghiệp, do đó chỉ được đăng ký một hộ kinh doanh trên

Trang 25

toàn quốc, tuy nhiên có thể hoạt động kinh doanh tại nhiều địa điểm nhưng phải chọn một địa điểm để đăng ký trụ sở hộ kinh doanh và phải thông báo cho cơ quan quản lý thuế, cơ quan quản lý thị trường nơi tiến hành hoạt động kinh doanh đối với các địa điểm kinh doanh còn lại, đây là nội dung mới, tiến

bộ của pháp luật doanh nghiệp[11]

Quy mô hoạt động của hộ kinh doanh nhỏ nhưng theo hướng mở của

pháp luật kinh doanh đã không bị khống chế về số lượng lao động (quy định

hiện nay đã bỏ tư duy hộ kinh doanh không được sử dụng không dưới 10 lao động - Nghị định 01/2021/NĐ-CP) Theo nhu cầu tự nhiên, quy mô hoạt động

của hộ kinh doanh nhỏ phù hợp với điều kiện địa lý tự nhiên, kinh tế, văn hóa,

xã hội của nước ta, bởi “Việt Nam xưa nay là một xứ nông nghiệp” công

thương nghiệp phát triển phụ thuộc vào nông nghiệp và là hoạt động kinh tế phụ trợ cho nông nghiệp [40] Việc bỏ sự giới hạn về địa điểm và lao động đối với hộ kinh doanh như hiện nay là phù hợp, dẫn đến việc thúc đẩy hộ kinh doanh tận dụng và phát huy tối đa cơ hội kinh doanh; làm cho nguồn lực đầu

tư dưới hình thức hộ phát huy hết lợi ích có thể tạo ra cho nhà đầu tư, cho xã hội [3] Thực tế hoạt động kinh doanh cho thấy, rất nhiều hộ kinh doanh phát triển, quy mô sản xuất mở rộng đòi hỏi số lao động tăng lên, để đảm bảo công bằng, bình đẳng, không phân biệt đối xử trong kinh doanh, các quy định giới hạn về địa điểm và số lượng lao động đối với hộ kinh doanh đã được xóa bỏ

1.4.3 Thẩm quyền đăng ký kinh doanh, hồ sơ, trình tự, thủ tục

Đăng ký hộ kinh doanh được thực hiện tại cơ quan đăng ký kinh doanh cấp huyện nơi đặt trụ sở hộ kinh doanh; người thành lập hộ kinh doanh tự kê khai hồ sơ đăng ký hộ kinh doanh và chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính trung thực, hợp pháp, chính xác của các thông tin kê khai trong hồ sơ đăng ký

Trang 26

doanh cấp huyện nơi đặt trụ sở hộ kinh doanh; ghi đầy đủ các nội dung vào Giấy đề nghị đăng ký hộ kinh doanh, ; khi nhận đủ hồ sơ thì trong thời hạn

03 ngày làm việc, cơ quan đăng ký kinh doanh cấp huyện cấp Giấy chứng nhận đăng ký hộ kinh doanh cho hộ kinh doanh

Tiểu kết chương 1

Hộ kinh doanh trong một giai đoạn rất dài đã gắn liền sự phát triển của nền kinh tế nước ta Cùng với sự phát triển, tăng trưởng của các thành phần kinh tế trong các giai đoạn, qua đó các hộ kinh doanh ngày càng gia tăng về

số lượng cũng như đa dạng ngành, nghề kinh doanh Hộ kinh doanh đã và đang đạt rất nhiều thành tựu đáng kể, thu hút, sử dụng nguồn lực của xã hội một cách tối ưu, đặc biệt là nguồn nhân lực, góp phần giải quyết việc làm; theo đó, hộ kinh doanh nắm giữ vị trí quan trọng trong nền kinh tế Việt Nam

do đạt nhiều thành tựu trong vai trò của mình như đã nêu trên, ngoài ra còn đảm bảo thực hiện an sinh xã hội, xóa đói giảm nghèo,… Vì mang tính chất gia đình, kinh doanh theo hình thức nhỏ gọn do đó không phát sinh nhiều chi phí trong quá trình khởi nghiệp Hộ kinh doanh sản xuất kinh doanh luôn đa dạng ngành nghề, nhiều chủng loại, mặt hàng, các sản phẩm truyền thống của Việt Nam tiếp tục được gìn giữ, phát triển

Trang 27

Chương 2 THỰC TRẠNG VỀ ĐĂNG KÝ KINH DOANH CỦA CÁC HỘ KINH DOANH THEO PHÁP LUẬT DOANH NGHIỆP TỪ THỰC TIỄN

QUẬN 8 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

2.1 Quá trình hình thành và phát triển hộ kinh doanh ở Việt Nam

Hộ kinh doanh gắn liền với văn hóa kinh doanh truyền thống theo kiểu

“cha truyền con nối” ở nước ta từ xưa đến nay Xuất hiện tại Việt Nam từ rất sớm, hộ kinh doanh là mô hình kinh doanh được đông đảo người dân ưa chuộng bởi nó rất phù hợp với tình trạng kinh doanh nhỏ lẻ, manh mún ở Việt Nam Việc ghi nhận và điều chỉnh hoạt động của hộ kinh doanh trong hệ thống pháp luật là điều tất yếu phù hợp với sự đa dạng về các loại hình chủ thể kinh doanh “Hộ kinh doanh lần đầu tiên được ghi nhận tại Nghị định số 27/HĐBT ngày 09/3/1988 (với tên gọi là hộ tiểu chủ, hộ tiểu thủ sản xuất công nghiệp)” Thực tế cho thấy, “các hộ gia đình kinh doanh cá thể, chủ cửa hàng, cửa hiệu, sạp hàng, tổ hợp, nhóm kinh doanh quy mô nhỏ và vừa chiếm

đa số về số lượng, tạo công ăn việc làm và đóng góp đáng kể cho tăng trưởng kinh tế”; thuật ngữ “hộ kinh doanh” chính thức được sử dụng tại các văn bản quy phạm pháp luật Việt Nam từ năm 2006 Hộ kinh doanh là khái niệm riêng của Việt Nam, gắn với quá trình chuyển đổi kinh tế và là giải pháp cần thiết thay thế cho tên gọi kinh tế tư bản tư nhân, cá thể, tiểu chủ

Khác với doanh nghiệp tư nhân và các loại hình công ty hợp danh, công

ty TNHH, công ty cổ phần được quy định cụ thể trong Luật Doanh nghiệp, còn khái niệm và hoạt động của hộ kinh doanh được quy định trong các văn bản dưới luật Năm 2015, khái niệm, đặc điểm, hoạt động và việc đăng ký hoạt động của hộ kinh doanh được quy định tại Nghị định số 78/2015/NĐ-CP

về đăng ký doanh nghiệp Năm 2021, dù có nhiều thay đổi trong khái niệm và quy chế tổ chức hoạt động của hộ kinh doanh, nhưng hộ kinh doanh vẫn tiếp

Trang 28

Tính đến năm 2018, cả nước có hơn 5,1 triệu hộ kinh doanh phi nông nghiệp, sử dụng hơn 8,78 triệu lao động Số hộ kinh doanh cá thể chủ yếu hoạt động trong ngành thương mại, dịch vụ (chiếm 82,13% tổng số hộ), trong

đó 2,3 triệu hộ (45,4%) hoạt động trong ngành bán buôn, bán lẻ, sửa chữa ô

tô, xe máy, xe có động cơ khác; 824 nghìn hộ (16%) hoạt động trong lĩnh vực dịch vụ, lưu trú, ăn uống Bán buôn, bán lẻ và dịch vụ lưu trú, ăn uống cũng là

2 ngành sử dụng đến hơn 5 triệu lao động, chiếm 57,9% tổng số lao động của

Trang 29

của chủ hộ, quyền và trách nhiệm của các thành viên hộ gia đình Không rõ các quyền về góp vốn, mua cổ phần, quyền làm chủ doanh nghiệp tư nhân, quyền là thành viên của công ty hợp danh của hộ kinh doanh Các quyền này

có gì khác nhau trong trường hợp cá nhân đăng ký hay nhóm thành viên đăng

ký hay không? Điều này, dẫn đến lúng túng trong quản lý nhà nước đối với hộ (thực tế, cơ quan thuế thì cấp mã số thuế cho cá nhân thành lập hộ chứ không phải cấp cho tất cả các thành viên hộ); rủi ro cho bên thứ ba do không nhận thức được và xác định trách nhiệm của “hộ kinh doanh”

Nhìn chung, hệ thống pháp luật hiện nay điều chỉnh hoạt động kinh doanh dựa trên phân biệt về hình thức pháp lý, mà không dựa vào bản chất, tính chất và quy mô kinh doanh Điều này có thể dẫn đến môi trường kinh doanh không thực sự phù hợp và không bình đẳng giữa hộ kinh doanh và các loại hình doanh nghiệp khác Hậu quả là một mặt có nhiều hộ kinh doanh quy

mô rất lớn nhưng không thành lập doanh nghiệp do lo lắng hoặc phải chịu gánh nặng tuân thủ pháp luật lớn hơn Mặt khác, quy định lại kiềm chế các hộ kinh doanh, hạn chế một cách vô lý về mặt hành chính, không tạo điều kiện cho hộ kinh doanh phát triển đúng với tiềm năng của mình, thúc đẩy kinh doanh chuyên nghiệp dưới hình thức doanh nghiệp với quyền kinh doanh được mở rộng hơn

2.2 Thực trạng quy định pháp luật Việt Nam hiện nay về đăng ký kinh doanh của hộ kinh doanh

2.2.1 Quy định về ngành nghề kinh doanh của hộ kinh doanh

Hộ kinh doanh tự kê khai và phải ghi ngành, nghề kinh doanh trên Giấy

đề nghị đăng ký hộ kinh doanh khi đăng ký thành lập hộ kinh doanh Hộ kinh doanh được quyền kinh doanh ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện kể

từ khi có đủ điều kiện theo quy định của pháp luật và phải bảo đảm đáp ứng các điều kiện đó trong suốt quá trình hoạt động Nhà nước quản lý đối với ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện thông qua công tác kiểm tra việc chấp hành điều kiện kinh doanh của hộ kinh doanh thuộc thẩm quyền của cơ quan quản lý chuyên ngành

Trang 30

Theo Điều 89 Nghị định số 01/2021/NĐ-CP: “Trường hợp Cơ quan

đăng ký kinh doanh cấp huyện nhận được văn bản của cơ quan có thẩm quyền về việc hộ kinh doanh kinh doanh ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện nhưng không đáp ứng đủ điều kiện theo quy định của pháp luật, Cơ quan đăng ký kinh doanh cấp huyện ra Thông báo yêu cầu hộ kinh doanh tạm ngừng kinh doanh ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện, đồng thời thông báo cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền để xử lý theo quy định của pháp luật” [11]

Sau khi đăng ký kinh doanh, hộ kinh doanh hoạt động kinh doanh những ngành, nghề theo nội dung đăng ký với cơ quan quản lý kinh doanh và luôn được đảm bảo quyền kinh doanh đó trong suốt quá trình hoạt động, được lựa chọn ngành nghề, mặt hàng kinh doanh phù hợp với điều kiện và khả năng

của mình mà pháp luật không cấm

2.2.2 Quy định về cơ cấu tổ chức, vốn, địa điểm kinh doanh của hộ kinh doanh

Pháp luật doanh nghiệp chỉ tập trung vào vấn đề đăng ký kinh doanh của hộ kinh doanh, dường như không đặt nặng việc kiểm soát quá trình thành lập hộ kinh doanh dù hộ kinh doanh đó được thành lập bởi một hộ gia đình hoặc cá nhân, do vậy thành lập hộ kinh doanh rất đơn giản; Theo quy định của pháp luật doanh nghiệp Việt Nam, chủ thể thành lập hộ kinh doanh bắt buộc là công dân Việt Nam, như vậy khẳng định rõ ràng: người nước ngoài không được kinh doanh với hình thức hộ kinh doanh; không chấp nhận cá nhân thuộc các trường hợp cấm kinh doanh đăng ký thành lập hộ kinh doanh Mặt khác, chủ hộ kinh doanh không được đồng thời là chủ doanh nghiệp tư nhân, thành viên hợp danh của công ty hợp danh Điều 80 Nghị định 01/2021/NĐ-CP năm 2021 quy định:

“1 Cá nhân, thành viên hộ gia đình là công dân Việt Nam có năng lực

hành vi dân sự đầy đủ theo quy định của Bộ luật Dân sự có quyền thành lập

hộ kinh doanh theo quy định tại Chương này, trừ trường hợp sau đây:

Trang 31

a) Người chưa thành niên, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự; người bị mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi;

b) Người đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự, bị tạm giam, dang chấp hành hình phạt tù, đang chấp hành biện pháp xử lý hành chính tại cơ sở cai nghiên bắt buộc, cơ sở giáo dục bắt buộc hoặc đang bị Tòa án cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định;

c) Các trường hợp khác theo quy định của pháp luật có liên quan ” [11]

Theo Nghị định 01/2021/NĐ-CP thì nhóm cá nhân không còn được thành lập hộ kinh doanh mà chỉ quy định cá nhân và thành viên hộ gia đình nhằm đảm bảo phù hợp với các quy định pháp luật khác về đăng ký doanh nghiệp

Khoản 1 Điều 79 Nghị định số 01/2021/NĐ-CP quy định: Hộ kinh

doanh do một cá nhân hoặc các thành viên hộ gia đình đăng ký thành lập và chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình đối với hoạt động kinh doanh của hộ

Như vậy vốn điều lệ hộ kinh doanh cá thể chính là vốn đầu tư cho hoạt động kinh doanh do một cá nhân hoặc các thành viên hộ gia đình bỏ ra để thực hiện hoạt động kinh doanh theo quy định của pháp luật Đây còn là cơ sở

để phân chia lợi nhuận cũng như rủi ro trong kinh doanh đối với các thành viên góp vốn; hiện nay, pháp luật không quy định số vốn điều lệ tối đa hay tối thiểu khi thành lập hộ kinh doanh cá thể Do đó, tùy thuộc vào quy mô, ngành nghề mà người đăng ký muốn đăng ký số vốn ở mức nào là do khả năng, nhu cầu của họ Việc chọn số vốn điều lệ cũng tùy thuộc vào kinh nghiệm và nền tảng của chủ hộ kinh doanh Nếu là hộ kinh doanh mới chưa có kinh nghiệm trong việc điều hành, quản lý kinh doanh thì nên để số vốn vừa phải, đủ khả năng của mình Khi việc kinh doanh bắt đầu đi vào hoạt động ổn định, có dấu hiệu phát triển dần dần thì mới nên đăng ký tăng dần vốn điều lệ lên Ngoài

ra, pháp luật doanh nghiệp hiện hành quy định: sau khi mua bán tặng cho hộ

Trang 32

kinh doanh, hộ kinh doanh vẫn phải chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác phát sinh trong thời gian trước ngày chuyển giao hộ kinh doanh, trừ trường hợp hộ kinh doanh, người mua, người được tặng cho, người thừa kế và chủ nợ của hộ kinh doanh có thỏa thuận khác

Pháp luật doanh nghiệp đã mở ra quyền được kinh doanh tại nhiều địa điểm cho hộ kinh doanh, việc này đã tạo thêm nhiều cơ hội phát triển cho hộ kinh doanh, ngày càng mở rộng quy mô kinh doanh hơn, cụ thể tại Khoản 2

Điều 86 Nghị định 01/2021/NĐ-CP: “Một hộ kinh doanh có thể hoạt động

kinh doanh tại nhiều địa điểm nhưng phải chọn 01 địa điểm để đăng ký trụ sở

hộ kinh doanh và phải thông báo cho cơ quan quản lý thuế, cơ quan quản lý thị trường nơi tiến hành hoạt động kinh doanh đối với các địa điểm kinh doanh còn lại”

Chủ hộ kinh doanh được quyền thuê người khác quản lý, điều hành hoạt động kinh doanh của hộ kinh doanh, nhưng vẫn phải chịu trách nhiệm đối với khoản nợ và nghĩa vụ phát sinh từ hoạt động kinh doanh theo quy định tại Khoản 3 Điều 81 Nghị định 01/2021/NĐ-CP Bên cạnh đó, pháp luật doanh nghiệp hiện nay đã bỏ quy định về số lượng lao động mà hộ kinh doanh sử dụng, không giới hạn 10 lao động như trước đây, tuy nhiên khi kê khai đăng ký thành lập hộ kinh doanh thì vẫn khai kê khai số lao động sử dụng để thuận tiện cho cơ quan quản lý nhà nước thực hiện nhiệm vụ chức năng quản lý

2.2.3 Quy định về thẩm quyền đăng ký kinh doanh, hồ sơ, trình tự thủ tục đăng ký kinh doanh của hộ kinh doanh

Điều 87 - Nghị định 01/2021/NĐ-CP quy định đăng ký hộ kinh doanh:

“1 Đăng ký hộ kinh doanh được thực hiện tại cơ quan đăng ký kinh doanh cấp huyện nơi đặt trụ sở hộ kinh doanh

2 Hồ sơ đăng ký hộ kinh doanh bao gồm:

a) Giấy đề nghị đăng ký hộ kinh doanh;

Ngày đăng: 30/06/2021, 05:32

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w