1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Luận văn đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ chấp hành viên thi hành án dân sự ở việt nam hiện nay

94 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đào Tạo, Bồi Dưỡng Đội Ngũ Chấp Hành Viên Thi Hành Án Dân Sự Ở Việt Nam Hiện Nay
Tác giả Trương Anh Quyết
Người hướng dẫn TS. Đặng Thị Phượng
Trường học Học viện Khoa học xã hội
Chuyên ngành Luật Hiến pháp và luật hành chính
Thể loại luận văn thạc sĩ luật học
Năm xuất bản 2021
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 94
Dung lượng 0,99 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các biện pháp cải cách đó đã mang lại những kết quả nhất định: nền hành chính phục vụ đã bắt đầu hình thành thay thế cho nền hành chính quan liêu, bao cấp; công tác tuyển chọn, quản lý c

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

TRƯƠNG ANH QUYẾT

ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG ĐỘI NGŨ CHẤP HÀNH VIÊN THI HÀNH ÁN DÂN SỰ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

Chuyên ngành: Luật Hiến pháp và luật hành chính

Mã số: 8.38.01.02

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN: TS Đặng Thị Phượng

HÀ NỘI, 2021

Trang 2

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Chương 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG ĐỘI NGŨ CHẤP HÀNH VIÊN THI HÀNH ÁN DÂN SỰ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

I Khái quát đội ngũ Chấp hành viên thi hành án dân sự

II.Thực trạng công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ Chấp hành viên thi hành án dân sự ở Việt Nam hiện nay

III Đánh giá thực trạng công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ Chấp hành viên thi hành án dân sự ở Việt Nam hiện nay

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2

Chương 3: QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG ĐỘI NGŨ CHẤP HÀNH VIÊN THI HÀNH ÁN DÂN SỰ

Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

I Quan điểm nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ Chấp hành viên thi hành án dân sự ở Việt Nam hiện nay

II Giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ Chấp hành viên thi hành án dân sự trong thời gian tới

KẾT LUẬN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 3

6 CQTHADS Cơ quan thi hành án dân sự

Trang 4

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của luận văn

Trong thời gian qua, trên cơ sở các nghị quyết của Đảng, Nhà nước đã thực hiện những biện pháp cải cách nền hành chính quốc gia trên nhiều lĩnh vực, trong

đó, vấn đề cải cách chế độ công vụ, công chức luôn được xác định là yếu tố quan trọng Các biện pháp cải cách đó đã mang lại những kết quả nhất định: nền hành chính phục vụ đã bắt đầu hình thành thay thế cho nền hành chính quan liêu, bao cấp; công tác tuyển chọn, quản lý cán bộ, công chức ngày càng công khai, minh bạch, có

sự phân cấp rõ hơn về thẩm quyền; đội ngũ cán bộ, công chức được đào tạo cơ bản, tăng về số lượng và chất lượng, bước đầu đã có sự chuẩn hoá; một số cơ quan của Nhà nước, của Đảng đã được sắp xếp lại theo hướng tinh giảm… Tuy nhiên, kết quả đạt được chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, yêu cầu của nhân dân cũng như mong muốn của Đảng và Nhà nước Tình trạng nhũng nhiễu, cửa quyền, thiếu trách nhiệm ở một bộ phận cán bộ, công chức, nhất là ở các cơ quan trực tiếp giải quyết công việc của nhân dân và doanh nghiệp chậm được khắc phục;

tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí trong một bộ phận cán bộ, công chức diễn ra nghiêm trọng; chế độ tiền lương chưa phản ánh đúng giá trị sức lao động và chưa đáp ứng được nhu cầu đời sống của cán bộ, công chức; các quy định về tuyển dụng, đào tạo, bồi dưỡng và đánh giá cán bộ, công chức còn nhiều bất cập; chưa có chính sách phù hợp để thu hút nguồn nhân lực có trình độ cao phục vụ cho nền công vụ; v.v 1

Đội ngũ chấp hành viên cơ quan thi hành án dân sự cũng không nằm ngoài tình trạng nói trên Ngoài ra, xuất phát từ đặc thù nghề nghiệp, đội ngũ chấp hành viên ở nước ta còn tồn tại những điểm khiếm khuyết như: chấp hành viên còn lúng túng về các kỹ năng nghiệp vụ cơ bản của hoạt động thi hành án dân sự, việc đào tạo Chấp hành viên còn mang tính chắp vá, thiếu đồng bộ, việc đào tạo chuẩn hoá trình độ

Trang 5

chấp hành viên còn chậm và chưa được quan tâm đúng mức… Những vấn đề này ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả công tác thi hành án

Trong bối cảnh Đảng và Nhà nước ta đang đẩy mạnh việc xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa của dân do dân vì dân, vai trò

và ý nghĩa của công tác thi hành án dân sự ngày càng được nhận thức đầy đủ hơn,

có vị trí xứng đáng trong hệ thống tổ chức và hoạt động của các cơ quan tư pháp Việt Nam Hệ thống văn bản pháp luật điều chỉnh hoạt động thi hành án dân sự cũng được ban hành và hoàn thiện đảm bảo khung pháp lý về tổ chức hoạt động và việc thực thi các phán quyết dân sự của Toà án Hoạt động thi hành án trong thời gian qua đã có những bước chuyển biến đáng ghi nhận, tổ chức và hoạt động của cơ quan thi hành án được hoàn thiện dần, đội ngũ chấp hành viên được tăng cường về số lượng và đào tạo về kỹ năng nghiệp vụ Trong thời gian qua, để thực hiện Nghị quyết số 08/NQ-TW ngày 02 tháng 01 năm 2002 của Bộ Chính trị, năm 2003, Cục Thi hành án dân sự (nay là Tổng cục Thi hành án dân sự) cũng đã tiến hành rà soát từng bước đội ngũ Chấp hành viên Năm 2005, thực hiện yêu cầu của Bộ Nội vụ, Cục Thi hành án dân sự cũng đã tiến hành tổng điều tra, khảo sát đội ngũ cán bộ công chức các cơ quan thi hành án dân sự trong phạm vi toàn quốc

Bên cạnh những thành quả đã đạt được, hoạt động của cơ quan thi hành án nói chung và đội ngũ chấp hành viên nói riêng vẫn còn nhiều khiếm khuyết Một trong

số các khiếm khuyết nổi cộm đó là số vụ việc ngày càng tăng sẽ đặt ra những yêu cầu hết sức khó khăn cho các cơ quan thi hành án dân sự, do vậy:

Cần có bao nhiêu Chấp hành viên để có thể hoàn thành nhiệm vụ được giao? và làm thế nào để tăng cường năng lực của chấp hành viên để thực hiện công việc thật năng suất, hiệu quả? vẫn đang là những câu hỏi lớn chưa có lời giải đáp một cách thoả đáng Số lượng chấp hành viên theo đánh giá thì vẫn còn thiếu và yếu, vậy thiếu đến đâu và yếu như thế nào thì cho đến nay vẫn chưa có phân tích, đánh giá, lý giải một cách khoa học và hệ thống

Trang 6

Trong những năm qua, mặc dù các cơ quan chức năng đã có nhiều cố gắng, song vẫn chưa có được một giải pháp hữu hiệu cho việc đào tạo đối với đội ngũ Chấp hành viên Trên thực tế, lâu nay việc đào tạo Chấp hành viên còn mang tính chắp vá, thiếu đồng bộ Việc đào tạo chuẩn hoá trình độ chấp hành viên còn chậm và chưa được quan tâm đúng mức Công tác đào tạo nghiệp vụ Chấp hành viên tại Học viện tư pháp còn có những hạn chế như: chỉ tiêu được phân bổ hàng năm chưa cao (chỉ 300 Chấp hành viên/năm), đội ngũ giảng viên tuy có kinh nghiệm thực tiễn nhưng lại ít kinh nghiệm về công tác sư phạm, lịch học chưa thực sự phù hợp với các chấp hành viên ở các tỉnh xa, nội dung chương trình đào tạo mới dừng lại ở việc vừa đào tạo, vừa rút kinh nghiệm

Một bộ phận Chấp hành viên sau khi được bổ nhiệm còn gặp rất nhiều lúng túng về các kỹ năng nghiệp vụ cơ bản của hoạt động thi hành án dân sự như: các yêu cầu của việc tống đạt giấy tờ, yêu cầu của quá trình xác minh, kỹ năng lập biên bản, yêu cầu của việc cưỡng chế Các kỹ năng nghề nghiệp là điều kiện hết sức quan trọng để Chấp hành viên có thể hoàn thành nhiệm vụ Việc thi hành án không chỉ thực hiện đúng các thủ tục thi hành án mà đòi hỏi chấp hành viên phải hiểu biết pháp luật dân sự, hôn nhân gia đình, đất đai, doanh nghiệp Chưa kể, pháp luật ở nước ta thường xuyên thay đổi, nhiều quy định quá chung chung, thiếu rõ ràng, trong khi đó Chấp hành viên không được đào tạo, bồi dưỡng, tập huấn một cách thường xuyên, kịp thời Điều này đã dẫn đến một thực tế là Chấp hành viên áp dụng không đúng, thiếu thống nhất, thậm chí sai các quy định của pháp luật Mãi đến năm 2002, chúng

ta mới mở được khóa đào tạo nguồn Chấp hành viên đầu tiên, song công tác đào tạo nghề của Chấp hành viên mới chỉ ở bước đầu vừa làm vừa học hỏi và rút kinh nghiệm, nên hiệu quả chưa thực sự như mong muốn;

Đặc biệt, hiện nay trước yêu cầu thực hiện chiến lược cải cách tư pháp trong lĩnh vực thi hành án đã được đặt ra trong hai Nghị quyết quan trọng của Bộ Chính trị

đó là Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/5/2005 về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020 và

Trang 7

Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm

2020 với các định hướng lớn về cải cách, đổi mới trong lĩnh vực thi hành án cần phải được nghiên cứu để luận giải một cách thấu đáo, như: Tăng thời hạn bổ nhiệm chức danh tư pháp hoặc thực hiện chế độ bổ nhiệm không kỳ hạn; Nghiên cứu thực hiện cơ chế thi tuyển để chọn người bổ nhiệm vào chức danh chấp hành viên; Có cơ chế thu hút, tuyển chọn người có tâm huyết, đủ đức, đủ tài vào làm việc tại các cơ quan thi hành án; Mở rộng nguồn để bổ nhiệm vào chức danh chấp hành viên không chỉ là cán bộ trong các cơ quan tư pháp, mà còn là các luật gia, luật sư; Đào tạo, bồi dưỡng nâng cao năng lực về ngoại ngữ, tin học cho đội ngũ chấp hành viên để có thể thi hành tốt các vụ án có yếu tố nước ngoài, v.v

Trong quá trình thực hiện Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2025, Bộ Tư pháp đã xác định công tác thi hành án dân sự là một trong những nhiệm vụ trọng tâm trước mắt cũng như lâu dài, đồng thời chuẩn bị các điều kiện cần thiết để giúp Chính phủ quản lý thống nhất công tác thi hành án nói chung Vì vậy, việc xây dựng đội ngũ chấp hành viên đủ về số lượng, có phẩm chất chính trị, đạo đức, có năng lực vững vàng về chuyên môn, nghiệp vụ được coi là điều kiện tiên quyết để đảm bảo thực hiện thắng lợi nhiệm vụ thi hành án

Tuy nhiên, hiện nay đội ngũ chấp hành viên nói riêng, cán bộ cơ quan thi hành án dân sự nói chung còn thiếu về số lượng, trình độ chuyên môn nghiệp vụ chưa ngang tầm với yêu cầu nhiệm vụ đặt ra, kết quả đào tạo bồi dưỡng chưa đạt được nhiều hiệu quả như mong muốn, chưa có các chuyên đề kế hoạch đào tạo lâu dài mang tính chiến lược từ đó giải quyết được các yêu cầu trước mắt và lâu dài trong việc xắp xếp và bố trí các nhiệm vụ đào tạo bồi dưỡng cho cả hệ thống cơ quan thi hành án dân sự nói chung và Chấp hành viên nói riêng Kết quả đào tạo

và những chương trình trọng tâm thể hiện tại Học viện tư pháp chỉ mang vóc dáng đào tạo về nghiệp vụ mang tính bổ trợ kiến thức pháp lý chưa khái quát một cách

có hệ thống cho việc đào tạo, bồi dưỡng mang tính chất lâu dài, vì thế việc nâng cao hơn nữa kết quả đào tạo một cách toàn diện về chuyên môn, đạo đức cho đội

Trang 8

ngũ Chấp hành viên là nhiệm vụ giải pháp trước mắt và lâu dài mang tính chiến lược của cả hệ thống đặc biệt là Học viện tư pháp trong giai đoạn trước mắt và lâu dài mang tính chiến lược đây là cơ sở để dần hoàn thiện hơn nữa hệ thống cơ quan thi hành án dân sự và đội ngũ chấp hành viên đáp ứng sự mong đợi của nhà nước

và nhân dân Như vậy công tác đào tạo, bồi dưỡng luôn là cái gốc rễ của cán bộ quyết định cho việc thực hiện nhiệm vụ của cả hệ thống nghành nên việc đào tạo bồi dưỡng làm sao cho trọng tâm, có hệ thống, chất lượng đào tạo bồi dưỡng đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ của đất nước là câu hỏi cần được giải đáp một cách khoa học đối với tất cả các nghành các lĩnh vực, Công tác đào tạo Chấp hành viên còn

mới mẻ, kinh nghiệm chưa nhiều Vì vậy, việc lựa chọn đề tài luận văn “Đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ chấp hành viên thi hành án dân sự ở Việt Nam hiện nay”

làm luận văn thạc sĩ luật học góp phần quan trọng trong quá trình nâng cao năng

lực thi hành án dân sự nhằm đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ đặt ra trong thời gian tới

Tình hình nghiên cứu của đề tài:

Ở Việt Nam, việc nghiên cứu vấn đề ĐTBD đội ngũ cán bộ tư pháp nói chung trong đó có CHVTHADS nói riêng luôn được Đảng và nhà nước ta quan tâm, đặc biệt kể từ khi triển khai thực hiện Nghị quyết 49-NQ/TW ngày 02/06/2005 của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, các chương trình kế hoạch cải cách tư pháp của Ban Cải cách tư pháp Trung ương và của ngành Thi hành án dân sự nói riêng và được cụ thể hóa bằng các chương trình đào tạo do Tổng cục thi hành án dân sự và Học viện tư pháp tổ chức thực hiện, Kết quả đào tạo, bồi dưỡng cán bộ công chức trong hệ thống Nghành thi hành án nói chung và đào tạo, bồi dưỡng Chấp hành viên nói riêng đã nang tính bài bản có hệ thống các chức danh được quan tâm xây dựng trên cơ sở các điều kiện cần và đủ, chất lượng đào tạo đáp ứng yêu cầu, số lượng đào tạo phù hợp với nhiệm vụ và yêu cầu đặt ra của xã hội, công tác bồi dưỡng được thực hiện đình kỳ theo chuyên đề hàng năm cững như các chuyên đề cụ thể được cập nhật đã tạo cho cán bộ, công chức và chấp hành viên linh hoạt và đủ điều kiện cơ sở bắt kịp các quy định của pháp luật, nhiều sự quan tâm của ngành trong đào tạo mở (đào tạo các chức danh thạc sĩ, tiến sĩ, cao cấp lý luận chính

Trang 9

trị được quan tâm và xem, như nhiệm vụ trong tâm của nghành đối với một số chức danh chủ chốt và dần mở rộng đối với toàn bộ hệ thống cán bộ nói chung Đay

là những bức đệm quan trọng mang tính tích cực để dần hoàn thiện một cơ chế đào tạo bồi dưỡng mang tính chát hệ thống và lâu dài khẳng định qua chất lượng của chấp hành viên và kết quả thi hành án dân sự hàng năm của toàn hệ thống Làm tốt hơn nữa vấn đề này vai trò của tổng cục thi hành án, học viện tư pháp là rất quan trọng song song với những kết quả đạt được vẫn còn nhiều những bất cấp về chất lượng đội ngũ chấp hành viên mà nòng cốt là công tác đào tạo bồi dưỡng vẫn còn là một trong những vấn đề cần được quan tâm cần xây dựng thành một đề án có tính chiến lược đáp ứng được yêu cầu lâu dài và định hướng đúng đắn phù hợp trong công tác đào tạo bồi dưỡng

Bởi vậy, cũng có nhiều tác giả, nhiều công trình, Luận văn nghiên cứu, đánh giá và đề cập chuyên sâu về vấn đề này Một số công trình tiêu biểu có thể kể đến như

- Thực hiện pháp luật về thi hành án dân sự ở tỉnh Thanh Hóa của tác giả Đỗ Thành Nam

- Hoàn thiện địa vị pháp lý của chấp hành viên trong thi hành án dân sự tại Việt Nam của tác giả Nguyễn Thị Phíp

- Vai trò của Nhà nước trong lĩnh vực Thi hành án dân sự qua thực tiễn tại Thanh Hóa của tác giả Lê Trung Kiên

- Chất lượng đội ngũ chấp hành viên thi hành án dân sự ở tỉnh Bắc Giang của tác giả Nguyễn Thành Bắc

- Chất lượng đội ngũ chấp hành viên thi hành án dân sự ở tỉnh Đồng Tháp của tác giả Vũ Quang Hiện

- Thực hiện pháp luật về thi hành án dân sự ở tỉnh Đồng Tháp của tácgiả Trần Công Bằng

- Mối quan hệ phối hợp giữa cơ quan Thi hành án dân sự với cơ quan, tổchức hữu quan trong Thi hành án dân sự ở tỉnh Thanh Hóa của tác giả Vi Trọng Thụ

Trang 10

- Quản lý nhà nước bằng pháp luật trong thi hành án dân sự ở tỉnh Thanh Hóa hiện nay của tác giả Lê Hùng Cường

- Xây dựng đội ngũ chấp hành viên thi hành án dân sự ở thành phố Hà Nội của tác giả Nguyễn Thị Thanh Xuân

- Chất lượng đội ngũ chấp hành viên thi hành án dân sự ở tỉnh Bắc Giang hiện nay của tác giả Hà Thị Thái

- Công tác thi hành án dân sự ở huyện miền núi Bá Thước, tỉnh Thanh Hóa của tác giả Trương Anh Quyết

- Góp phần hoàn thiện pháp luật về thi hành án dân sự tại Việt Nam hiệnnay của tác giả Lê Hùng Cường.Ngoài ra còn nhiều công trình, đề tài khoa học và các bài viết nghiên cứu của các tác giả khác về một số vần đề lý luận và thực tiễn về thi hành án dân sự và chấp hành viên; nhưng chưa có một công trình nào nghiên cứu dưới góc độ lý luận và thực tiễn về: “Đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ Chấp hành viên Thi hành án dân sự ở việt nam hiện nay”

2 Mục tiêu và nhiệm vụ

2.1 Mục tiêu

Trên cơ sở nghiên cứu lý luận, phân tích quy định của pháp luật, đánh giá thực trạng đội ngũ chấp hành viên hiện nay, trên cơ sở đó đề xuất nhu cầu phát triển đội ngũ chấp hành viên và chương trình khung về đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ chấp hành viên thi hành án dân sự trong thời gian tới đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp

2.2 Nhiệm vụ

Để đạt được mục tiêu đề ra, Luận văn có những nhiệm vụ chính sau đây:

- Nghiên cứu những vấn đề lý luận về ĐTBD đội ngũ CHV, từ đó làm rõ khái niệm, đặc thù nghề nghiệp chấp hành viên, các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng lao động của chấp hành viên

- Phân tích thực trạng quy định về ĐTBD đội ngũ CHV, theo đó nghiên cứu khái niệm, nội dung và xác định rõ các tiêu chí đánh giá đội ngũ chấp hành viên

Trang 11

- Đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật và giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng chấp hành viên nhằm đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp ở nước ta hiện nay

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đội ngũ chấp hành viên thi hành án dân sự ở Việt Nam

Phạm vi thời gian: Giai đoạn 2015-2020

5 Cơ sở lý luận và Phương pháp nghiên cứu

5.1 Cơ sở lý luận

Để thực hiện nhiệm vụ đặt ra, Luận văn xây dựng dựa trên quan điểm duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lê nin, tư tưởng Hồ Chính Minh và các quan điểm của Đảng, Nhà nước ta về ĐTBD cán bộ, công chức

5.2 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp lịch sử: Thực tiễn cho thấy, hoạt động tư pháp nói chung và

THADS nói riêng là một lĩnh vực có bề dày lịch sử Vì vậy, trong quá trình nghiên cứu, tác giả đã tập trung nghiên cứu cả những vấn đề chúng ta đã làm được, thậm chí

có những kinh nghiệm quý báu của cha ông ta đã được luật hóa có giá trị pháp lý Ngoài ra, trong thời gian qua, đã có rất nhiều công trình nghiên cứu khoa học liên quan đến công tác thi hành án Vì vậy, việc sử dụng phương pháp nghiên cứu lịch sử sẽ giúp tác giả sử dụng kết quả đã được nghiên cứu nay vẫn còn có giá trị thực tiễn, giá trị chứng minh để làm phong phú thêm nội dung nghiên cứu của Luận văn, đồng thời đảm bảo tránh sự trùng lắp

Trang 12

- Phương pháp phân tích: Phân tích các định hướng phát triển nhất là

địnhhướng cải cách tư pháp, các điều kiện khách quan, chủ quan, vấn đề kinh tế, xã hội của Việt nam; phân tích thực trạng đội ngũ CHV và phân tích các quy định PL

có liên quan để làm rõ cơ sở thực tiễn và khoa học lý luận về phát triển đội ngũ CHV

mà cụ thể là vấn đề đào tạo đội ngũ CHV

- Phương pháp so sánh: Để việc nghiên cứu có hiệu quả, mỗi vấn đề được đưa

ra đều có sự so sánh, đối chiếu, kể cả so sánh đối chiếu với kinh nghiệm của một số nước, làm cơ sở cho việc vận dụng linh hoạt những nội dung đã được kiểm nghiệm

có hiệu quả của nước ngoài phù hợp với tình hình của nước ta Tránh sự sao chép máy móc kinh nghiệm của nước ngoài

- Phương pháp tổng hợp: Trên cơ sở những nghiên cứu lý luận và thực tế, tổng

hợp các kết quả thu được, đưa ra phương hướng, giải pháp về nhu cầu phát triển đội ngũ chấp hành viên và xây dựng chương trình đào tạo theo yêu cầu cải cách tư pháp ở Việt Nam hiện nay

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn

Luận văn nghiên cứu làm rõ một số nội dung sau:

- Làm rõ khái niệm, đặc điểm, nội dung của ĐTBD đội ngũ CHVTHADS của Việt Nam hiện nay

- Đánh giá những kết quả, hạn chế và nguyên nhân những hạn chế trong công tác ĐTBD đội ngũ đội ngũ CHVTHADS của Việt Nam hiện nay

-Từ đó đề ra những giải pháp có tính khoa học và phù hợp với thực tế nhằm nâng cao hiệu quả ĐTBD các chức danh tư pháp và đội ngũ đội ngũ CHVTHADS của Việt Nam trong thời gian tới

Kết quả của Luận văn được dùng làm tài liệu tham khảo cho việc xây dựng chiến lược ĐTBD đội ngũ CHVTHADS của Việt Nam Đồng thời, kết quả đó cũng được sử dụng vào việc đổi mới các nội dung có liên quan trong thực tiễn thực hiện ĐTBD đội ngũ đội ngũ CHVTHADS của Việt Nam hiện nay

7 Kết cấu của Luận văn

Trang 13

Ngoài phần lời nói đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, Luận văn gồm 3 chương

Chương 1 Cơ sở lý luận về đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ đội ngũ CHVTHADS Chương 2 Thực trạng đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ đội ngũ CHVTHADS ở Việt

Nam hiện nay

Chương 3 Quan điểm và giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng

đội ngũ đội ngũ CHVTHADS ở Việt Nam hiện nay

Trang 14

1 Khái niệm đào tạo, bồi dưỡng

1.1 Khái niệm về đào tạo

Đào tạo là quá trình truyền thụ tiếp nhận có hệ thống những tri thức, kỹ năng theo quy định của từng cấp học, bậc học từ đó tạo ra một đội ngũ có kiến thức bằng cấp cơ bản tương ứng với các nghạch, bậc và trình độ chuyên môn được đào tạo (Trích nội dung Quyết định số 273/QĐ-BTP năm 2008)

Đào tạo được hiểu là một quá trình hoạt động có tổ chức và mục đích hình thành và phát triển hệ thống các tri thức, kỹ xảo,…để hoàn thiện một cá nhân, với mục tiêu để cho

họ có thể thực hiện công việc một cách có năng suất và hiệu quả Theo Từ điển Bách

khoa Việt Nam, đào tạo là: Quá trình tác động đến một con người nhằm làm cho con người đó lĩnh hội và nắm vững những tri thức, kỹ năng, kỹ xảo một cách có hệ thống, nhằm chuẩn bị cho người đó thích nghi với cuộc sống và khả năng một sự phân công lao động nhất định, góp phần của mình vào việc phát triển xã hội Duy trì

và phát triển nền văn minh loài người, về cơ bản đào tạo là giảng dạy và học tập ở nhà trường gắn với việc giáo dục đạo đức và nhân cách

Theo Đại Từ điển tiếng Việt: “Đào tạo là dạy dỗ, rèn luyện để trở nên người có hiểu biết, có nghề nghiệp: Đào tạo thành người có tri thức, đào tạo chuyên môn nghiệp vụ” Theo các văn bản quy phạm pháp luật ở Việt Nam “đào tạo” như Nghị định

18/2010/NĐ-CP ngày 05/3/2010 của Chính phủ về ĐT,BD cán bộ, công chức đã đưa

ra cách hiểu về ĐTBD:“Đào tạo là quá trình truyền thụ, tiếp nhận có hệ thống

những tri thức, kỹ năng theo quy định của từng cấp học, bậc học”

Trang 15

Từ các quan niệm trên trong phạm vi nghiên cứu của luận văn “đào tạo” có thể được hiểu là quá trình trang bị kiến thức nghề nghiệp chuyên môn và kinh nghiệm cho một chủ thể để họ có thể thực hiện công việc một cách độc lập trong một điều kiện nhất định Đào tạo là một quá trình hoạt động có tổ chức và mục đích nhằm trang bị những kiến thức, kỹ năng một cách có hệ thống nhằm làm hình thành và những tri thức thông qua giảng dạy, học tập, rèn luyện của chủ thể Đào tạo có thể được thực hiện ở các cơ sở đào tạo như: Trường Đại học, Cao đẳng, Trung học chuyên nghiệp, Trường dạy nghề… Đào tạo cũng có thể được thực hiện qua việc tự rèn luyện, hoặc có thể được thực hiện thông qua Đào tạo còn có được hiểu l một quá trình truyền thụ những kiến thức mới, cơ bản một cách có hệ thống để chủ thể được đào tạo qua đó có kiến thức, trình độ nghiệp vụ chuyên môn cao hơn Ví dụ: Đào tạo nâng cao trình độ chuyên môn cho CHVTHADS (đào tạo thạc sỹ, tiến sỹ)

Trong nội dung luận văn này đào tạo được hiểu là: Đào tạo là quá trình trang bị tri thức và kỹ năngmột cách toàn diện cho con người qua sự học tập và rèn luyện tích cực, chủ động của người đó

1.2 Khái niệm về bồi dưỡng

Bồi dưỡng là hoạt động trang bị, cập nhật nâng cao kiến thức kỹ năng làm việc

bổ sung các quy định mới trong lĩnh vực công tác hoặc các lĩnh vực khác có liên quan cho cán bộ, công chức hoặc người được bồi dưỡng, việc bồi dưỡng mang tính chất ngắn hạn hoặc bổ sung thêm các kiến thức, các quy định mới ở một giai

đoạn một thời gian cụ thể

Bên cạnh đó theo Đại từ điển tiếng Việt: bồi dưỡng là làm khoẻ thêm, mạnh thêm Làm cho tốt hơn, giỏi hơn Nghị định 18/2010/NĐ-CP ngày 05/3/2010 của Chính phủ về ĐTBD cán bộ, công chức, viên chức định nghĩa bồi dưỡng, “bồi dưỡng là hoạt động trang bị, cập nhật, nâng cao kiến thức, kỹ năng làm việc”

Như vậy, bồi dưỡng là công việc thường được thực hiện sau đào tạo hoặc trong quá trình đào tạo, với mục đích bổ sung kiến thức hoặc trang bị thêm những kiến

Trang 16

thức mới cho một bộ phận một hệ thống đã được thông qua việc đào tạo về chuyên nghành và đang thực hiện nhiệm vụ được giao liên quan đến các kiến thức cần được cập nhật tại các chương trình bồi dưỡng đòi hỏi việc bồi dưỡng phải mang tính chất linh động phù hợp đáp ứng kịp thời yêu cầu về mặt thời gian chất lượng trọng tâm trong công tác bồi dưỡng tạo sự gắn kết giữa người được bồi dưỡng và kiến thức được bồi dưỡng từ đó trang bị cho họ có đủ điều kiện, phẩm chất đạo đức, trình độ, năng lực để hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao Kết quả của các khoá bồi dưỡng là người học nhận được những chứng chỉ kết quả khóa bồi dưỡng Qua những luận giải

ở trên, có thể đưa ra khái niệm: Bồi dưỡng là việc bổ sung kiến thức cho người đang thực hiện những công việc trong những lĩnh vực nhất định với mục đích cho họ có được

kỹ năng và trình độ cao hơn để đáp ứng tốt hơn các yêu cầu, tiêu chuẩn của công việc

Theo quy định mới của Luật Cán bộ, công chức năm 2008 sửa đổi bổ sung năm 2019 thì khái niệm công chức được hiểu là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội (sau đây gọi chung là đơn vị sự nghiệp công lập), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lương được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật

1.3 Khái niệm đào tạo, bồi dưỡng chấp hành viên thi hành án dân sự

Theo quy định của Đảng và nhà nước cũng như cụ thể hóa tại Luật thi hành án dân sự (Điều 17 Luật thi hành án dân sự sủa đổi, bổ sung năm 2014)

Trang 17

Chấp hành viên thi hành án dân sự trước hết là công chức Đồng thời cũng là người được nhà nước giao nhiệm vụ thi hành những bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật giữ vai trò trung tâm trong các hoạt động thi hành án dân sự Theo Từ điển Luật học thì: Chấp hành viên thi hành án dân sự là công chức ngành tư pháp Người được Nhà nước giao trách nhiệm tổ chức thi hành bản án, quyết định về dân

sự của Toà án Việt Nam và bản án, quyết định về dân sự của Toà án nước ngoài đã được Toà án Việt Nam công nhận [2]

Theo quy định tại Điều 17 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 sửa đổi bổ sung năm 2014 thì: Chấp hành viên là người được Nhà nước giao nhiệm vụ thi hành các bản án, quyết định của TA đã có hiệu lực pháp luật đồng thời quy định Chấp hành viên có ba ngạch là Chấp hành viên sơ cấp, Chấp hành viên trung cấp và Chấp hành viên cao cấp

Tuy nhiên, Chấp hành viên là chức danh gì và có đặc thù ra sao thì hiện nay đang có nhiều ý kiến khác nhau

Liên quan đến vấn đề này, đa số ý kiến cho rằng, Chấp hành viên là chức danh

tư pháp, được pháp luật quy định nhiều nhiệm vụ, quyền hạn quan trọng (tương tự như chức danh Kiểm sát viên và Thẩm phán) Tuy nhiên, cũng có ý kiến cho rằng Chấp hành viên là công chức hành chính - tư pháp vì xuất phát từ đặc thù của hoạt động thi hành án là hoạt động mang tính chất hành chính - tư pháp

Về vấn đề này qua nghiên cứu cho thấy, Chấp hành viên là một chức danh tư pháp, được pháp luật quy định nhiều nhiệm vụ, quyền hạn quan trọng Bởi vì, khác với hoạt động của các cơ quan hành chính, hoạt động của cơ quan thi hành án phần lớn thông qua vai trò hoạt động của các cá nhân những người được Nhà nước giao trách nhiệm thi hành các bản án, quyết định của Toà án là Chấp hành viên Mỗi quyết định của CHV có liên quan trực tiếp đến quyền và lợi ích của các bên có liên quan, đồng thời liên quan trực tiếp đến hiệu lực của bản án, quyết định nhân danh Nhà nước của Toà án Ngoài sự vô tư, khách quan của CHV, một trong những yêu cầu không thể thiếu đó là khi thực thi nhiệm vụ, CHV độc lập, tuân theo bản án,

Trang 18

quyết định của Toà án và theo quy định của PL Tính độc lập được hiểu là trong quá trình thi hành án, dựa vào niềm tin nội tâm của mình, CHV chỉ tuân theo PL và bản

án, quyết định của Toà án, chịu trách nhiệm trước PL và được PL bảo vệ Các cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội, công dân… nếu không được PL cho phép, không được can thiệp làm cho việc thi hành án không đúng với nội dung bản án, quyết định của Toà án hoặc làm chậm tiến độ thi hành án, ảnh hưởng đến quyền, lợi ích của các bên có liên quan Báo cáo số 164/BC-UBTVQH12 ngày 22/10/2008 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 12 về việc giải trình tiếp thu, chỉnh lý Dự thảo Luật Thi hành án dân sự cũng cho rằng: “Chấp hành viên là một chức danh tư pháp gắn với việc thực hiện nghiệp vụ chuyên môn về thi hành án dân sự, việc bổ nhiệm không theo nhiệm kỳ sẽ tạo ra sự yên tâm để Chấp hành viên làm tốt công tác thi hành án, điều này cũng không làm hạn chế đến việc xử lý kỷ luật nếu Chấp hành viên có vi phạm, hoặc miễn nhiệm nếu không đủ năng lực, điều kiện làm Chấp hành viên Vì vậy, dự thảo Luật đã được chỉnh lý theo hướng quy định việc bổ nhiệm Chấp hành viên thông qua thi tuyển và không có nhiệm kỳ là phù hợp với định hướng của Nghị

quyết 49-NQ/TW của Bộ chính trị: “Nghiên cứu thực hiện cơ chế thi tuyển để chọn người bổ nhiệm vào các chức danh tư pháp Tăng thời hạn bổ nhiệm chức danh tư pháp hoặc thực hiện chế độ bổ nhiệm không có kỳ hạn” Chấp hành viên có 3

nghạch là Chấp hành viên sơ cấp Chấp hành viên trung cấp, Chấp hành viên cao cấp Việc bổ nhiệm Chấp hành viên thuộc thẩm quyền của Bộ trưởng Bộ tư pháp, công tác đào tạo bồi dưỡng Chấp hành viên được cụ thể hóa tại Luật thi hành án dân

Trang 19

tổ chức thực hiện hoạt động bổ sung, cập nhật kiến thức mới hoặc rèn luyện thêm các kỹ năng nghiệp vụ cho đội ngũ CHVTHADS nhằm giúp họ nâng cao năng lực trong thực hiện nhiệm vụ được giao

Như vậy đào tạo Chấp hành viên là việc Tổng cục Thi hành án, Bộ Tư pháp xây dựng chương trình kế hoạch, chọn lọc trên hệ thống thi hành án dân sự toàn quốc các cán bộ công chức đủ điều kiện về mặt trình độ, thời gian, năng lực tham gia lớp đào tạo Chấp hành viên (Sơ cấp, trung cấp, cao cấp) tại Học viện Tư pháp bằng hình thức tập trung có thời hạn tối thiểu từ 06 tháng trở lên Sau khóa đào tạo người được đào tạo được trang bị những kiến thức cơ bản và đủ các điều kiện về mặt tiêu trí để tham gia thi tuyển vào các ngạch chấp hành viên theo quy định

Song song trong công tác đào tạo chuyên nghành hiện nay Bộ tư pháp, tổng cục thi hành án đặc biệt quan tâm đến công tác đào tạo thêm kiến thức pháp luật nói chung, và trang bị nhận thức lý luận chính trị cho đội ngũ chấp hành viên và cán bộ, công chức bằng các hình thức khuyến khích tham gia các khóa đào tạo thạc sĩ, tiến sĩ

và cao hơn cử cán bộ chủ chốt đủ điều kiện học các lớp cao cấp lý luận chính trị và dần mở rộng đến tác đối tượng trong nguồn quy hoạch đây được đánh giá là những bước tiến quan trọng trong công tác đào tạo để có đội ngũ cán bộ chấp hành viên mang tính chiến lược lau dài

Về công tác bồi dưỡng chấp hành viên được hiểu là việc xây dựng các chương trình để bổ trợ kiến thức pháp luật đạo đức nghề nghiệp nhằm đáp ứng một mục tiêu quan trọng đó là nâng cao kỹ năng thực thi nhiệm vụ, việc bồi dưỡng có thể mang tính toàn diện trên cả hệ thống cũng có thể mang tính chọn lọc từng vùng từng đơn

vị với các chuyên đề phù hợp Hiện nay công tác bồi dưỡng đã cơ bản được thực hieenj thường xuyên đúng với các mục tiêu và đối tượng nhắm đến nhưng chất lượng sau bồi dưỡng vẫn còn hạn chế bất cập cần được xem xét để có giải pháp phù hợp

2 Đặc điểm của đào tạo, bồi dưỡng Chấp hành viên thi hành án dân sự

Trang 20

Một là, ĐTBD đội ngũ CHVTHADS là việc tổ chức thực hiện hoạt động ĐTBD gắn liền với vị trí và nhiệm vụ của CHVTHADS và theo tiêu chuẩn của từng ngạch bậc CHVTHADS và từng lĩnh vực công tác

Bộ Tư pháp trên cơ sở của việc quy định chức năng nhiệm vụ cụ thể của

CHVTHADS cần phải xác định năng lực cần thiết, từ đó thực hiện công tác tuyển dụng, bố trí, sử dụng đội ngũ CHVTHADS Điều đó đòi hỏi hoạt động đào tạo phải

xác định được nội dung, hình thức, mô hình và phương pháp ĐTBD phù hợp với

từng ngạch CHVTHADS Cụ thể là, đối với để thi nâng ngạch phải qua bồi dưỡng trung cấp lý luận chính trị; Đối với bồi dưỡng nghiệp vụ cho CHVTHADS, về nội

dung, cần bồi dưỡng chuyên sâu về chuyên môn theo từng khâu nghiệp vụ

CHVTHADS thực hiện ở khâu công tác nghiệp vụ nào thì sẽ được bồi dưỡng nghiệp

vụ ở khâu công tác đó, nhằm nâng cao chất lượng, kỹ năng thực nhiệm vụ theo hướng chuyên môn hoá

Hai là, ĐTBD đội ngũ CHVTHADS là việc ĐTBD kỹ năng hành nghề cho người

làm nghề, nhưng là loại hình nghề nghiệp đặc thù, vì thế nội dung, phương pháp, chủ thể thực hiện việc ĐTBD cũng có những đòi hỏi khác biệt

Nội dung ĐTBD không chỉ có trang bị, cập nhật kiến thức mà còn trang bị, rèn luyện kỹ năng nghề nghiệp, trong đó đề cao việc ĐTBD kỹ năng nghề nghiệp Phương pháp ĐTBD đòi hỏi sự kết hợp linh hoạt giữa thuyết trình với các phương pháp có sự tham gia của người học, trong đó các phương pháp có sự tham gia của người học giữ vai trò chủ đạo Chủ thể đào tạo là những giảng viên không chỉ là đội ngũ giảng viên cơ hữu của cơ sở ĐTBD mà bao gồm được sự tham gia của đội ngũ

giảng viên kiêm chức là các CHVTHADS có kinh nghiệm, có chuyên môn cao, trong

đó coi trọng phát triển đội ngũ giảng viên kiêm chức bên cạnh việc chăm lo bồi dưỡng nghiệp vụ thực tiễn cho đội ngũ giảng viên cơ hữu

Ba là, ĐTBD đội ngũ CHVTHADS gắn với quy hoạch, kế hoạch bố trí, sử dụng cán bộ, công chức của ngành thi hành án

Trang 21

Thực hiện việc tăng cường công tác quản lý, chỉ đạo điều hành trong việc phân công, phân nhiệm trong tập thể lãnh đạo và đảm bảo “không có vùng trống cán bộ chuyên trách” trong thực hiện các nhiệm vụ công tác

Đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ CHVTHADS là ĐTBD kỹ năng nghề nghiệp nhưng

là loại hình nghề nghiệp đặc thù, nghề nghiệp thực thi pháp luật Vì vậy, công tác ĐTBD không chỉ chú trọng trang bị, rèn luyện kiến thức, kỹ năng mà còn quan tâm đến việc hình thành và trau dồi đạo đức nghề nghiệp, truyền thụ những đường lối, quan điểm chỉ đạo chung, trên cơ sở đó người học có được thái độ, cách thức ứng xử trong thực tiễn thực hiện nhiệm vụ

Bốn là, ĐTBD đội ngũ CHVTHADS là một hoạt động đặc thù

Có thể nói, CHV là một nghề nghiệp đặc thù, các thao tác nghiệp vụ của chấp hành viên liên quan đến nhiều lĩnh vực ngành nghề khác nhau như Tài chính, Địa chính, Xây dựn…và liên quan đến nhiều cơ quan khác nhau cùng phối hợp thực hiện Điều này đòi hỏi Chấp hành viên phải không những nắm vững pháp luật về quy trình, thủ tục thi hành án, pháp luật chuyên ngành khác nhau mà còn phải am hiểu các nghiệp vụ chuyên ngành khác, phải có khả năng chỉ đạo, tiến hành phối hợp thực hiện nhiệm vụ nên công tác đào tạo, bồi dưỡng CHVTHADS cũng mang tính đặc thù

II Nội dung đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ chấp hành viên thi hành án dân sự

Nhằm cụ thể hóa về quan điểm, đường lối của Đảng và chính sách của Nhà nước

về ĐTBD như: Nghị quyết Hội nghị lần thứ 8, Ban chấp hành Trung ương khóa XI (Nghị quyết số 29 – NQ/TW) với nội dung đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục, đào tạo giai đoạn 2006-2020, Nghị quyết số 44/NQ-CP ngày 6/9/2014 của Chính phủ về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo và các Nghị quyết của Đảng, Quốc

hội, Chính phủ và chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ yêu cầu: Giáo dục nghề nghiệp, tập trung đào tạo nhân lực có kiến thức, kỹ năng và trách nhiệm nghề nghiệp; giáo dục đại học tập trung đào tạo nhân lực trình độ cao, bồi dưỡng nhân tài, phát triển phẩm chất và năng lực tự học, tự làm giàu tri thức, sáng tạo của người học , các

Trang 22

cơ quan Nhà nước có thẩm quyền đã ban hành nhiều văn bản pháp luật về ĐTBD, cụ thể là:

Luật Cán bộ, công chức năm 2008; Luật Viên chức năm 2008 và Luật sửa đổi,

bổ sung một số điều của Luật cán bộ, công chức và Luật Viên chức năm 2019 (có hiệu lực thi hành ngày 01/7/2020); Nghị định số 101/2017/NĐ-CP ngày 01/9/2017

về ĐTBD cán bộ, công chức, viên chức đã xác định mục tiêu của công tác ĐTBD

cán bộ, công chức, viên chức là: Trang bị kiến thức, kỹ năng, phương pháp thực hiện nhiệm vụ trong hoạt động công vụ của cán bộ, công chức và hoạt động nghề nghiệp của viên chức, góp phần xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức chuyên nghiệp, có phẩm chất đạo đức tốt, có bản lĩnh chính trị và năng lực, đáp ứng yêu cầu phục vụ nhân dân, sự nghiệp phát triển của đất nước

Để tiếp tục hoàn thiện và nâng cao năng lực về chuyên môn, nghiệp vụ của đội ngũ cán bộ tư pháp, trong đó có đội ngũ chấp hành viên, Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 19/5/2018 của Hội nghị lần thứ 7, Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa XII về tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ tư pháp đã khẳng định:

“Tiếp tục đổi mới nội dung, phương pháp… đào tạo cán bộ nguồn của các chức danh tư pháp, bổ trợ tư pháp; bồi dưỡng cán bộ tư pháp, bổ trợ tư pháp theo hướng cập nhật các kiến thức mới về chính trị, pháp luật, kinh tế, xã hội, có kỹ năng nghề nghiệp và kiến thức thực tiễn, có phẩm chất, đạo đức trong sạch, dũng cảm đấu tranh vì công lý, bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa”

Quyết định 2707/QĐ-BTP ngày 29/12/2017 và Quyết định số 302/QĐ-BTP ngày

chức viên chức Bộ Tư pháp năm 2017-2018

Quyết định số 334/QĐ-BTP ngày 20/01/2019 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp Phê duyệt kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng công chức viên chức Bộ Tư pháp năm 2019

Quyết định số 3179/QĐ-BTP ngày 27 tháng 12 năm 2019 của Bộ Tư pháp về Phê duyệt kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng công chức viên chức Bộ Tư pháp năm 2020

Trang 23

Trong các kế hoạch xây dựng đội ngũ CHV có chất lượng cao, có trình độ đào tạo phù hợp với lĩnh vực công tác; có kỹ năng nghiệp vụ thành thạo, tạo nguồn nhân lực chất lượng cao hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ công tác được giao

1 Về chủ thể đào tạo, bồi dưỡng

Chủ thể thực hiện hoạt động ĐTBD đội ngũ CHVTHADS chủ yếu của Học Viện Tư pháp và một số cơ sở đào tạo Luật: Trường Đại học Luật, Khoa Luật Đại học Quốc gia, Học viện Cảnh sát, Học viện Khoa học xã hội Việt Nam…

Để thực hiện các hoạt động ĐTBD, các cơ sở ĐTBD phải tổ chức bộ máy tương ứng với việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ, bao gồm các khoa chuyên môn

và các phòng chức năng Trong đó, tham gia trực tiếp vào hoạt động ĐTBD là các khoa chuyên môn có liên quan đến các lĩnh vực nghiệp vụ của ngành thi hành án và phòng/khoa quản lý hoạt động ĐTBD, trong đó đặc biệt nổi bật là vai trò của đội ngũ giảng viên - cỗ “máy cái” của quá trình ĐTBD cán bộ

Thực hiện nhiệm vụ ĐTBD đội ngũ CHVTHADS, giảng viên có một vị trí, vai trò vừa đặc biệt quan trọng lại vừa mang những nét đặc thù như sau:

- Giảng viên các cơ sở đào tạo trong ngành THA chính là những người trực tiếp thực hiện và quyết định chất lượng ĐTBD; trực tiếp cung cấp các kiến thức pháp lý; kỹ năng liên quan đến các công tác thực hiện chức năng của CHV mà trọng tâm là các kỹ năng điều tra, thi hành án, cho toàn bộ cán bộ trong ngành thi hành án Vì vậy, mỗi cơ

sở đào tạo chỉ có thể đáp ứng được nhanh nhạy các yêu cầu đó nếu có một đội ngũ giảng viên đủ mạnh, luôn sẵn sàng điều chỉnh thích ứng trong điều kiện mới

- Đội ngũ giảng viên vừa có kiến thức lý luận và kinh nghiệm thực tiễn, bằng năng lực thực sự, lòng yêu nghề, say mê nghiên cứu khoa học, mới có thể cung cấp cho các ngành THA và xã hội những sản phẩm có giá trị nhất, quyết định sự phát triển bằng việc ĐTBD nguồn nhân lực có chất lượng cao

Giảng viên ĐTBD đội ngũ THA phải có phẩm chất chính trị vững vàng, chấp hành nghiêm chỉnh đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, thường xuyên học tập nâng cao nhận thức chính trị, có ý thức tổ chức kỷ luật; đấu tranh, ngăn

Trang 24

chặn những hành vi vi phạm pháp luật và các quy định nghề nghiệp; gương mẫu thực hiện nghĩa vụ công dân, tích cực tham gia các hoạt động chính trị, xã hội

- Tiêu chuẩn về đạo đức nghề nghiệp

Giảng viên ĐTBD đội ngũ THA phải có đạo đức lối sống lành mạnh, thực hiện trau dồi kiến thức kỹ năng luôn đi cùng với trau dồi đạo đức nghề nghiệp; Có trình độ, có kinh nghiệm nghề nghiệp Giảng viên phải thực sự gương mẫu, trách nhiệm, yêu nghề, tâm huyết với nghề; có ý thức giữ gìn phẩm chất, danh dự, uy tín, lương tâm nhà giáo

- Đạt chuẩn về trình độ đào tạo chuyên môn theo quy định

Giảng viên ĐTBD đội ngũ THA phải đạt chuẩn về trình độ đào tạo chuyên môn, theo đó, phải có bằng cử nhân luật hoặc đại học khác trở lên, chuyên ngành phù hợp với nghề giảng dạy, nắm vững kiến thức của môn học hay nội dung được phân công giảng dạy

Giảng viên ĐTBD đội ngũ THA phải có tiêu chuẩn về kỹ năng hành nghề luật Giảng viên cũng phải có khả năng thực hiện thành thạo các kỹ năng của nghề được phân công giảng dạy; có khả năng áp dụng pháp luật và giải quyết tốt các tình huống áp dụng pháp luật phát sinh trong thực tiễn công tác của nghề tương ứng mà mình có nhiệm vụ ĐTBD

- Có trình độ lý luận chính trị, quản lý nhà nước, tin học, ngoại ngữ và nghiệp

bị đầy đủ các phương tiện dạy học, đảm bảo chất lượng dạy kỹ năng hành nghề luật; ứng dụng được công nghệ thông tin trong giảng dạy

- Tiêu chuẩn về kinh nghiệm thực tiễn: tiêu chuẩn về kinh nghiệm thực tiễn

Trang 25

nghề nghiệp cũng là nội dung quan trọng trong tiêu chuẩn giảng viên

Tóm lại, đội ngũ giảng viên ĐTBD cần vừa phải giỏi chuyên môn, có nhiều kinh nghiệm thực tiễn và kỹ năng nghề nghiệp

2 Về đối tượng đào tạo, bồi dưỡng

Đối tượng của hoạt động ĐTBD là đội ngũ CHVTHADS là cán bộ đã được tuyển dụng vào ngành, có trình độ cử nhân luật đã được đào tạo về nghiệp vụ THA và được bổ nhiệm là CHVTHADS Tuy nhiên, không phải mọi CHVTHADS đều được

đi ĐTBD mà tùy theo từng loại hình đào tạo hay bồi dưỡng, tùy thuộc vào vị trí, nhiệm vụ mà được cử đi ĐBBD, cụ thể:

Về cử CHVTHADS đi bồi dưỡng, đối tượng bồi dưỡng chính là đội ngũ CHVTHADS đã có kỹ năng, kinh nghiệm nghề nhất định, nhưng cần phải được bồi

dưỡng nâng cao, chuyên sâu để hoàn thiện tiêu chuẩn theo ngạch, bậc, chức vụ Chính tiêu chí này là căn cứ để xác định các điều kiện về nội dung chương trình bồi dưỡng, phương pháp ĐTBD và giảng viên đảm bảo tính phù hợp và hiệu quả thực sự

3 Về hình thức và nội dung ĐTBD

Hình thức bồi dưỡng công chức, viên chức trong đó có CHVTHADS gồm: Tập

sự; Bồi dưỡng theo tiêu chuẩn ngạch công chức, tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp viên chức; bồi dưỡng trước khi bổ nhiệm chức vụ lãnh đạo, quản lý; bồi dưỡng theo yêu cầu của vị trí việc làm; bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng chuyên ngành

Về nội dung bồi dưỡng

Nội dung bồi dưỡng đội ngũ CHVTHADS gồm: bồi dưỡng về lý luận chính trị; bồi dưỡng kiến thức quốc phòng và an ninh; bồi dưỡng kỹ năng, kiến thức quản

lý nhà nước; bồi dưỡng kiến thức quản lý chuyên ngành, nghiệp vụ; đạo đức công

vụ, đạo đức nghề nghiệp; tin học, ngoại ngữ

Nhóm nội dung bồi dưỡng gồm: Một là, bồi dưỡng lý luận chính trị cho CHVTHADS gồm trung cấp lý luận chính trị và cao cấp lý luận chính trị; hai là, chương trình bồi dưỡng kiến thức quốc phòng và an ninh; ba là, chương trình bồi dưỡng kiến thức quản lý nhà nước theo tiêu chuẩn ngạch công chức; bốn là, chương

Trang 26

trình bồi dưỡng kiến thức quản lý nhà nước trước khi bổ nhiệm chức vụ lãnh đạo, quản lý; năm là, bồi dưỡng theo yêu cầu của vị trí việc làm, kỹ năng chuyên ngành

4 Về quản lý đào tạo, bồi dưỡng

Hoạt động quản lý ĐTBD thực hiện theo các văn bản quy định như Nghị định 101/2017/NĐ-CP ngày 01/9/2017 của Chính phủ về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức đã quy định nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của Bộ Nội vụ, Bộ Tài chính, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, của bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và trách nhiệm của đơn vị sử dụng cán bộ, công chức, viên chức phải thực hiện các quy định về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức; quy định chế độ báo cáo công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức tại Điều 44

III Các yếu tố ảnh hưởng đến đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ chấp hành viên thi hành án dân sự

1 Yếu tố quản lý, điều hành của Lãnh đạo

Công tác tổ chức quản lý, chỉ đạo của Lãnh đạo các cơ sở đào tạo cũng ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng ĐTBD đội ngũ CHVTHADS Hệ thống tổ chức trong nhà trường hình thành nên các bộ phận, quan hệ công việc giữa các bộ phận (phối hợp

và tương trợ); mối quan hệ như thế nào sẽ liên quan đến thời gian và hiệu quả hoạt động ĐTBD Công tác quản lý người học bao gồm nhiều vấn đề: Tổ chức kế hoạch ĐTBD cho từng khoá học, năm học, học kỳ, hàng tuần; giải quyết những vướng mắc của người học Đây là công việc vừa ảnh hưởng trực tiếp đến thời gian, tiền bạc của người học, vừa góp phần hình thành phong thái, đạo đức nghề nghiệp của CHVTHADS, đồng thời góp phần nâng cao chất lượng ĐTBD

Để góp phần kích thích người học tự giác, nhiệt tình học tập, cùng với những chính sách khuyến khích của Nhà nước Các biện pháp khuyến khích vật chất như tiền thưởng, học bổng là rất quan trọng Mối quan hệ giữa người học với giảng viên, cán bộ quản lý, có ảnh hưởng rất lớn đến tin tâm lý người học

2 Chương trình đào tạo, bồi dưỡng

Trang 27

Chương trình ĐTBD là hệ thống kiến thức lý thuyết và thực hành được thiết

kế đồng bộ với phương pháp giảng dạy và đánh giá kết quả học tập để đảm bảo người học phải tích lũy được kiến thức và đạt được năng lực cần thiết đối với mỗi trình độ của giáo dục đại học Xây dựng Chương trình ĐTBD là cung cấp cho người học thông tin về mục tiêu, nội dung môn học

Chương trình ĐTBD quyết định tới nội dung, phương pháp ĐTBD Chất lượng ĐTBD là vấn đề cốt lõi của chương trình ĐTBD nó biểu hiện rõ nét qua năng lực, khả năng vận dụng các kiến thức của người học sau khi học xong chương trình ĐTBD đó

3 Chất lượng của đội ngũ giảng viên

Chất lượng giảng viên tham gia ĐTBD cũng ảnh hưởng rất lớn tới hoạt động ĐTBD Kiến thức của các môn học khác có liên quan, kiến thức về tâm lý, giao tiếp,

xử lý các tình huống sư phạm Chất lượng của giảng viên trước hết phải xem xét tới yếu tố: Đạt chuẩn về trình độ chuyên môn Giảng viên phải có kiến thức thực tế, có những kỹ năng nhất định ở từng khâu, từng giai đoạn của quá trình thực hiện chức năng thi hành án dân sự thì mới đáp ứng được yêu cầu của hoạt động ĐTBD

4 Yếu tố người học

Một trong những yếu tố quan trong tác động đến chất lượng nội dung, phương pháp ĐTBD chính là người học Người học có trình độ, năng lực ở mức nào, ý thức học tập, ý thức kỷ luật, tinh thần trách nhiệm của người học như thế nào sẽ quyết định nội dung, chương trình ĐTBD và phương pháp ĐTBD khác nhau phù hợp với từng đối tượng Bên cạnh đó, khi người học xây dựng được cho mình động cơ học tập đúng đắn thì người học sẽ hứng thú, say mê và việc dạy và học sẽ thu được những kết quả tích cực

5 Về điều kiện đảm bảo

Cơ sở vật chất và các phương tiện phục vụ giảng dạy, học tập là điều kiện tối

thiểu, đầu tiên của quá trình đào tạo

Cùng với sự phát triển của khoa học, công nghệ, trang bị cho giáo dục đào tạo

Trang 28

những phương tiện, thiết bị giảng dạy rất hiệu quả, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo

- Thư viện, phòng đọc, nguồn tài liệu phục vụ giảng dạy cần đa dạng

Với phương pháp ĐTBD hiện đại, người học tiếp cận tri thức dưới phương pháp tự học, tự nghiên cứu

IV Yêu cầu đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ chấp hành viên thi hành án dân sự

Để tiếp tục hoàn thiện và nâng cao năng lực về chuyên môn, nghiệp vụ của đội ngũ cán bộ tư pháp, trong đó có đội ngũ chấp hành viên, Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 19/5/2018 của Hội nghị lần thứ 7, Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa XII về tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ tư pháp đã khẳng định:

“Tiếp tục đổi mới nội dung, phương pháp… đào tạo cán bộ nguồn của các chức danh tư pháp, bổ trợ tư pháp; bồi dưỡng cán bộ tư pháp, bổ trợ tư pháp theo hướng cập nhật các kiến thức mới về chính trị, pháp luật, kinh tế, xã hội, có kỹ năng nghề nghiệp và kiến thức thực tiễn, có phẩm chất, đạo đức trong sạch, dũng cảm đấu tranh vì công lý, bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa” Đối với lĩnh vực thi hành án

dân sự, yêu cầu đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ chấp hành viên thi hành án dân sự phải đảm bảo các yêu cầu Chấp hành viên có thể khái quát trên các khía cạnh:

1 Yêu cầu về trình độ chuyên môn

Xuất phát từ vị trí, vai trò, nhiệm vụ, quyền hạn của Chấp hành viên nên việc xác định yêu cầu về chuyên môn đôi với đội ngũ nãy giữ vai trò đặc biệt quan trọng Liên quan đến vấn đề này có quan điểm cho rằng: thời gian qua, tình trạng thiếu Chấp hành viên diễn ra khá phổ biến, nhưng đến nay vẫn chưa thể khắc phục xong Nguồn cán bộ có trình độ cử nhân luật để bổ sung và thu hút vào các cơ quan thi hành án dân sự gặp rất nhiều khó khăn (nhất là ở những đơn vị miền núi, vùng sâu, vùng xa) Trong khi đó, hoạt động thi hành án dân sự có những loại việc tương đối đơn giản, rõ ràng, lượng tiền, tài sản phải thi hành không lớn chỉ cần những người có trình độ pháp lý ở mức độ vừa phải cũng có thể thực hiện được Tuy nhiên, do pháp luật hiện hành quy định cứng tiêu chuẩn bổ nhiệm Chấp hành viên phải có trình độ

Trang 29

"cử nhân luật trở lên" nên cơ quan thi hành án không thể tuyển những người có trình

độ trung cấp luật Vì vậy, chưa tạo ra chính sách thu hút nguồn cán bộ vào làm việc tại cơ quan thi hành án, kể cả việc thu hút những người có nhiều kinh nghiệm

về công tác dân vận, hiểu biết địa bàn và cơ sở như Chủ tịch, Phó chủ tịch, cán bộ tư pháp - hộ tịch cấp xã đã được đào tạo trình độ trung cấp luật11 Tuy nhiên, đa số ý kiến cho rằng, Chấp hành viên là chức danh tư pháp, được pháp luật quy định nhiều nhiệm vụ, quyền hạn quan trọng nên cần giữ nguyên tiêu chuẩn bổ nhiệm chấp hành viên là cử nhân luật theo quy định của pháp luật hiện hành Quy định như vậy cũng phù hợp với yêu cầu cải cách tư pháp như Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị đã xác định: “Cán bộ có chức danh tư pháp phải có trình độ đại học luật và được đào tạo về kỹ năng nghề nghiệ tư pháp theo chức danh” Do đó, Luật thi hành án dân sự đã giữ nguyên tiêu chuẩn bổ nhiệm chấp hành viên là phải có trình độ cử nhân luật

Qua nghiên cứu cho thấy, Chấp hành viên là chức danh tư pháp, được quy định nhiều nhiệm vụ, quyền hạn quan trọng nên Luật thi hành án dân sự quy định chấp hành viên phải có trình độ cử nhân luật trở lên là phù hợp

2 Yêu cầu về trình độ lý luận chính trị

Lý luận là hệ thống những tri thức đã được khái quát, tạo ra một quan niệm hoàn chỉnh về các quy luật và về mối liên hệ cơ bản của hiện thực Lý luận là sự phản ánh và tái hiện hiện thực khách quan Mọi lý luận đều quy định bởi hoàn cảnh lịch sử trong đó nó hình thành từ điều kiện cụ thể của lịch sử sản xuất, kỹ thuật và thực nghiệm Còn chính trị là toàn bộ những hoạt động có liên quan đến mối quan

hệ giữa các giai cấp, giữa các dân tộc, các tầng lớp xã hội, mà cốt lõi của nó là vấn

đề giành chính quyền, duy trì và sử dụng quyền lực nhà nước, sự tham gia vào công việc của nhà nước, sự xác định hình thức tổ chức, nhiệm vụ, nội dung hoạt động của nhà nước Bất kỳ vấn đề chính trị nào cũng đều liên quan đến quyền lợi của các giai cấp và nhà nước Chính trị thuộc cấu trúc thượng tầng bao gồm (hệ tư tưởng chính trị, nhà nước, các đảng phái) xuất hiện khi xã hội phân chia thành các giai cấp dựa

Trang 30

trên cơ sở hạ tầng kinh tế Lê-nin khẳng định: "Không có một lập trường chính trị đúng thì một giai cấp nhất định nào đó không thể giữ vững được sự thống trị của mình, và do đó, cũng không thể hoàn thành được nhiệm vụ của mình trong lĩnh vực sản xuất" (Lê-nin) Lý luận chính trị của Đảng và nhận thức lý luận chính trị của cán bộ, đảng viên có tầm quan trọng đặc biệt, quyết định năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng và sự thành bại của cách mạng Lê-nin cho rằng, trước hết và trên hết "lý luận là kim chỉ nam cho hành động", là điều kiện tiên quyết để đưa những nghị quyết của đảng vào thực tiễn cuộc sống có hiệu quả Còn theo Chủ tịch Hồ Chí Minh thì không có lý luận cách mạng thì không có "cách mạng vận động" Sự nghiệp đổi mới càng đòi hỏi cao sự lãnh đạo của Đảng, vai trò tiên phong, gương mẫu, hiểu biết của cán bộ, đảng viên Vì vậy, việc tăng cường nhận thức cho cán bộ, đảng viên về lý luận chính trị trong tình hình hiện nay có ý nghĩa to lớn

Đối với Chấp hành viên, người được Nhà nước giao nhiệm vụ thi hành bản án, quyết định của Tòa án Các quyết định của Chấp hành viên có liên quan đến quyền

cơ bản của công dân (như quyền tài sản, quyền chỗ ở, quyền nhân thân ), liên quan trực tiếp đến an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội nên ngoài sự hiểu biết về pháp luật thì những kiến thức về lý luận chính trị đóng vai trò quan trọng trong quá trình thực thi nhiệm vụ được giao Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng Khóa XII đã xác định: “cấp ủy địa phương có trách nhiệm lãnh đạo, thường xuyên kiểm tra công tác kiểm sát và xét xử, công tác thi hành án bảo đảm đúng đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước” Ban Thường vụ Tỉnh

ủy, Thành ủy có trách nhiệm “giới thiệu nhân sự cấp trưởng, cấp phó Viện kiểm sát nhân dân, Tòa án nhân dân, Thường trực cấp ủy giới thiệu nhân sự Thẩm phán và Kiểm sát viên, Chấp hành viên để ngành dọc cấp trên bổ nhiệm” Vì vậy, việc nâng cao trình độ lý luận chính trị của Chấp hành viên là yêu cầu cần thiết

3 Yêu cầu về ngoại ngữ, tin học

Ngoài các yêu cầu về trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, chính trị, phẩm chất đạo đức đối với chấp hành viên thì yêu cầu về ngoại ngữ, tin học cũng hết sức cần thiết

Trang 31

Có thể nói một trong những khâu yếu nhất và chưa được quan tâm đào tạo một cách

có chất lượng đó là về kiến thức ngoại ngữ và tin học Phần lớn sinh viên khi đã vào học đại học họ chỉ mới quan tâm đầu tư nhiều nhất cho việc học chuyên môn của chuyên ngành đào tạo, ví dụ học đại học luật thì mới chỉ quan tâm chủ yếu đến các môn học về luật Trong khi đó trước yêu cầu của bối cảnh hội nhập và sự phát triển như vũ bão của công nghệ khoa học như hiện nay thì nếu thiếu một trong hai hoặc cả hai yếu tố này đều làm cho công chức nói chung và đội ngũ chấp hành viên nói riêng rất bị động trong xử lý công việc, ví dụ khi yêu cầu báo cáo thống kê gấp số lượng việc, tiền và cần phải được trao đổi nhanh bằng thư điện tử giữa Tổng cục Thi hành

án dân sự với Chấp hành viên ở địa phương, nếu Chấp hành viên không thông thạo các thao tác về vi tính và mạng thì việc giải quyết công việc rất chậm trễ và khó khăn

4 Yêu cầu về thời gian làm công tác pháp luật

Theo quy định của Pháp lệnh thi hành án dân sự năm 2004 thì tiêu chuẩn về thời gian công tác pháp luật của Chấp hành viên được xác định như sau: Đối với Chấp hành viên cấp huyện: người có đủ tiêu chuẩn chung, có thời gian làm công tác pháp luật từ bốn năm trở lên, có năng lực thi hành những vụ việc thuộc thẩm quyền của cơ quan thi hành án dân sự cấp huyện

Đối với Chấp hành viên cấp tỉnh: người có đủ tiêu chuẩn chung nêu trên và đã làm Chấp hành viên cơ quan thi hành án dân sự cấp huyện từ năm năm trở lên, có năng lực thi hành những vụ việc thuộc thẩm quyền của cơ quan thi hành án dân sự cấp tỉnh Trong trường hợp do nhu cầu cán bộ của cơ quan thi hành án, người có đủ tiêu chuẩn chung nêu trên và đã có thời gian làm công tác pháp luật từ mười năm trở lên, có năng lực thi hành những vụ việc thuộc thẩm quyền của cơ quan thi hành án dân sự cấp tỉnh thì có thể được tuyển chọn và bổ nhiệm làm Chấp hành viên cơ quan thi hành án dân sự cấp tỉnh

Cũng về vấn đề trên, Luật Thi hành án dân sự đã quy định tương đối cụ thể thời gian làm công tác pháp luật, coi đây như là một trong những điều kiện bắt buộc để

Trang 32

được bổ nhiệm làm Chấp hành viên Theo đó, tuỳ vào từng chức danh chấp hành viên mà thời gian công tác pháp luật để được xem xét bổ nhiệm chấp hành viên cũng khác nhau, cụ thể đối với chấp hành viên sơ cấp thì phải có thời gian công tác pháp luật từ ba năm trở lên, đối với chấp hành viên trung cấp thì phải có thời gian làm chấp hành viên sơ cấp từ năm năm trở lên, đối với chấp hành viên cao cấp thì phải

có thời gian làm chấp hành viên trung cấp từ năm năm trở lên

5 Yêu cầu về kiến thức pháp luật

Hệ thống pháp luật của nước ta là tổng thể các quy phạm pháp luật có mối liên

hệ nội tại thống nhất với nhau, thể hiện trong các văn bản do các cơ quan có thẩm quyền ban hành Trong khi đó, hoạt động thi hành án dân sự có liên quan trực tiếp đến nhiều lĩnh vực khác nhau, chịu sự điều chỉnh của nhiều quan hệ pháp luật Vì vậy, trong quá trình thực thi nhiệm vụ một mặt đòi hỏi Chấp hành viên phải nắm vững nội dung cơ bản của hệ thống pháp luật, mặt khác cần xác định rõ những văn bản đang có hiệu lực thi hành, những văn bản hết hiệu lực thi hành Mối tương quan giữa hệ thống pháp luật chung với các quy định của pháp luật thi hành án dân sự Bên cạnh đó, trong quá trình tổ chức thi hành án, việc Chấp hành viên nắm vững các văn bản pháp luật về thi hành án là hoàn toàn chưa đủ mà còn phải thấm nhuần các văn bản pháp luật khác có liên quan Ví dụ: việc thi hành án rất nhiều trường hợp là có liên quan đến chế độ tài sản Từ đó, phát sinh những tình huống rất

đa dạng Người phải thi hành án là tổ chức, từ đó phải phân biệt tổ chức đó là doanh nghiệp hay cơ quan nhà nước; doanh nghiệp thì thuộc loại hình nào; công ty cổ phần hay doanh nghiệp tư nhân hay công ty trách nhiệm hữu hạn Mỗi loại hình doanh nghiệp có chế độ tài sản, chế độ trách nhiệm khác nhau Nếu không nắm vững quy định của pháp luật doanh nghiệp, dân sự về các vấn đề trên, chắc chắn việc thi hành

án sẽ không tránh khỏi những sai sót, thậm chí vi phạm Tương tự như vậy, khi tổ chức việc thi hành án đối với người phải thi hành án là cá nhân, Chấp hành viên cần nắm được nghĩa vụ thi hành án là do cá nhân đó chịu trách nhiệm hay là các thành viên của gia đình người phải thi hành án trên cơ sở phân biệt trách nhiệm giám hộ,

Trang 33

phân biệt trách nhiệm cá nhân, trách nhiệm liên đới theo pháp luật dân sự; kê biên tài sản theo thứ tự động sản kê biên trước, bất động sản kê biên sau, do đó, phải phân biệt được động sản với bất động sản; kê biên tài sản riêng của người phải thi hành án phải được kê biên trước, tài sản chung kê biên sau; Chấp hành viên được quyền kê biên tài sản của người phải thi hành án chung với người khác nhưng khi kê biên tài sản chung cần phải đảm bảo cho đồng sở hữu chung được biết, được thực hiện quyền ưu tiên mua tài sản; việc mua bán tài sản phải tuân theo quy định về hợp đồng mua bán tài sản theo quy định của pháp luật dân sự; người phải thi hành án có hành

vi chống đối việc thi hành án thì có thể phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định của về tội danh của pháp luật hình sự và theo thủ tục của pháp luật tố tụng hình sự; Như vậy, bên cạnh pháp luật về thi hành án dân sự, chấp hành viên phải tìm hiểu và nắm chắc các quy định của pháp luật dân sự, tố tụng dân sự, hình sự tố tụng hình sự, pháp luật về doanh nghiệp…thì mới tổ chức thi hành án đúng pháp luật được

* Pháp luật thi hành án dân sự là tổng thể các quy phạm điều chỉnh các quan hệ

xã hội phát sinh trong quá trình tổ chức thi hành các bản án, quyết định dân sự, hình phạt tiền, tịch thu tài sản, truy thu tiền, tài sản thu lợi bất chính, xử lý vật chứng, tài sản, án phí và quyết định dân sự trong bản án, quyết định hình sự, phần tài sản trong bản án, quyết định hành chính của Toà án, quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh có liên quan đến tài sản của bên phải thi hành án của Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh

và quyết định của Trọng tài thương mại, bao gồm các quy định về quyền, nghĩa vụ của người được THA, người phải THA, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; các

tổ chức, cá nhân có liên quan đến THA; quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong quản lý, tổ chức việc THA; nhiệm

vụ, quyền hạn, trách nhiệm của CHV và trình tự, thủ tục THADS Vì vậy, Chấp hành viên có nghĩa vụ phải nắm vững, hiểu sâu các quy định của pháp luật về thi ành

án dân sự Điều này thể hiện trên các khía cạnh như:

Trang 34

- Nắm vững các quy định về tổ chức, hoạt động của các CQQLNN về THADS; Mối quan hệ trong tổ chức và hoạt động của các CQTHADS; Mối quan hệ giữa cơ quan quản lý THADS và CQTHADS; Mối quan hệ giữa CQTHADS và CHV, cán

bộ THA; Mối quan hệ giữa CQTHADS và cơ quan được uỷ thác THA; Mối quan hệ giữa CQTHADS và người phải THA, người được THA, người có quyền lợi liên quan đến việc THA

- Nắm vững các quy định về mối quan hệ giữa CQTHADS và các cơ quan tiến hành tố tụng; Mối quan hệ giữa CQTHADS và VKSND thực hiện kiểm sát THADS; Mối quan hệ giữa CQTHADS và chính quyền địa phương, các cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan trong việc THADS

- Nắm vững các quy định liên quan đến nội dung việc thi hành và chấp hành các

BA, QĐ của TA về dân sự, phát sinh ngay sau khi BA, QĐ về dân sự có hiệu lực pháp luật như quan hệ giữa CQTHADS và người phải THA, người được THA và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Từ những quan hệ chủ yếu này sẽ phát sinh nhiều mối quan hệ khác trong quá trình THA nhằm bảo đảm việc thực hiện nghiêm chỉnh quyền và nghĩa vụ của các chủ thể trong quá trình thực thi các BA,

QĐ về dân sự của TA

- Nắm vững các quy định liên quan đến trình tự, thủ tục thi hành án dân sự như: quan hệ phát sinh trong bước chuyển từ thủ tục tố tụng (giai đoạn xét xử) sang thủ tục THA, chủ yếu là trong việc chuyển giao BA, QĐ đã có hiệu lực của TA Tiếp đó

là trình tự, các bước tiếp theo của quá trình THA như: thụ lý THA, ra quyết định thi hành, tự nguyện thỏa thuận THA, cưỡng chế THA Đặc biệt là việc áp dụng các biện pháp cưỡng chế như: kê biên tài sản, trừ vào thu nhập hợp pháp của người phải THA, kê biên phần tài sản của người phải THA trong khối tài sản chung, cưỡng chế giao đồ vật, cưỡng chế thi hành nghĩa vụ giao vật hoặc trả nhà, chuyển quyền sử dụng đất, cưỡng chế thi hành nghĩa vụ buộc làm hoặc không được làm một công việc nhất định

Trang 35

6 Yêu cầu về năng lực áp dụng pháp luật

Chấp hành viên là người tổ chức thi hành các bản án, quyết định của Tòa án nên đòi hỏi phái có năng lực áp dụng pháp luật Năng lực này thể hiện từ việc tuân thủ pháp luật, thi hành pháp luật và đặc biệt là việc sử dụng pháp luật của Chấp hành viên có ý nghĩa quyết định đối với hiệu quả công tác thi hành án dân sự Năng lực áp dụng pháp luật của Chấp hành viên thể hiện trên các khía cạnh sau đây:

Thứ nhất, xác định rõ giới hạn về thẩm quyền, trách nhiệm, nghĩa vụ được pháp

luật giao trong quá trình thi hành án

Thứ hai, chấp hành nghiêm chỉnh các quy định của pháp luật về trình tự, thủ tục

thi hành án dân sự và các quy định khác của pháp luật có liên quan

Hoạt động THADS góp phần quan trọng trong việc bảo đảm tính nghiêm minh của PL; bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức; góp phần giữ vững

ổn định chính trị - xã hội, tăng cường hiệu lực, hiệu quả của bộ máy nhà nước và pháp chế XHCN Việc cơ quan THADS và CHV thực hiện nghiêm chỉnh PL có ý nghĩa quyết định đến việc bảo đảm pháp chế XHCN trong lĩnh vực này Yêu cầu của pháp chế XHCN đối với CHV đó là phải tự giác tuân thủ thực hiện đầy đủ các nhiệm

vụ, quyền hạn của Chấp hành viên; Tôn trọng quyền thoả thuận của các đương sự về việc thi hành án nếu thoả thuận đó không vi phạm điều cấm của pháp luật và không trái đạo đức xã hội; thực hiện nghiêm các quy định về những trường hợp loại trừ hoặc được miễn cưỡng chế THADS

Thứ ba, áp dụng đúng, đầy đủ các quy định của pháp luật trong từng điều kiện

và vụ việc cụ thể:

- Lựa chọn quy phạm pháp luật: Đó là việc mà sau khi đã xác định xong điều kiện thi hành án của người phải thi hành án, làm xong các thủ tục cần thiết như hòa giải, định thời gian tự nguyện thi hành án, Chấp hành viên phải nghiên cứu toàn diện các tình tiết, các yếu tố ảnh hưởng đến việc thi hành án và lựa chọn trong số các quy phạm pháp luật quy định các biện pháp thi hành án để xác định biện pháp thi

Trang 36

hành án phù hợp và đạt hiệu quả cao, đồng thời phải áp dụng các quy phạm pháp luật khác một cách đồng bộ, có hiệu quả

- Lựa chọn biện pháp thi hành án: sau khi đã nắm chắc được thái độ, điều kiện, đối tượng về tài sản, nghĩa vụ mà người phải thi hành án phải thực hiện, Chấp hành viên phải nghiên cứu, xem xét để lựa chọn và ra quyết định áp dụng các biện pháp thi hành, đảm bảo đúng với tính chất, nội dung của vụ việc và không trái với quy định của pháp luật

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Trong nội dung Chương 1, tác giả đã trình bày những vấn đề lý luận về ĐTBD, đội ngũ CHVTHADS, những quy định về ĐTBD cán bộ, công chức, viên chức nói chung và ĐTBD đội ngũ CHVTHADS

Nghiên cứu về lý luận ĐTBD, đội ngũ CHVTHADS, Chương 1 đã đưa ra khái niệm, đặc điểm và vai trò của việc ĐTBD đội ngũ CHVTHADS

Phân tích về những quy định về ĐTBD cán bộ, công chức, viên chức nói chung và ĐTBD đội ngũ CHVTHADS nói riêng, tác giả đã lần lượt trình bày nội dung về chủ thể ĐTBD, đối tượng ĐTBD, cách thức tổ chức tiến hành ĐTBD, nội dung, hình thức ĐTBD và công tác quản lý ĐTBD đội ngũ CHVTHADS theo quy định của pháp luật hiện hành

Luận văn cũng nêu và đánh giá những yếu tố ảnh hưởng đến ĐTBD đội ngũ CHVTHADS như: yếu tố quản lý của Lãnh đạo, chương trình ĐTBD, chất lượng của đội ngũ giảng viên, yếu tố người học và cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ công tác ĐTBD

Những cơ sở lý luận và pháp lý kể trên là căn cứ quan trọng để các cán bộ, CHVTHADS có thể thực hiện tốt nhiệm vụ tham gia vào việc ĐTBD của mình, đồng thời giúp cho các cấp trong Ngành có kế hoạch ĐTBD đội ngũ CHVTHADS phù hợp với tình hình mới Đây là cơ sở nền tảng để tác giả có thể triển khai các nội dung có liên quan tại Chương 2 và Chương 3

Trang 37

Chương 2

THỰC TRẠNG ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG ĐỘI NGŨ CHẤP HÀNH VIÊN THI HÀNH ÁN DÂN SỰ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

I Khái quát đội ngũ Chấp hành viên hành án dân sự

Nhận thức tầm quan trọng của đội ngũ Chấp hành viên trong hoạt động thi hành

án dân sự nên trong những năm qua, các cơ quan chức năng (đặc biệt là Bộ Tư pháp)

đã đưa ra nhiều giải pháp để không ngừng củng cố tăng cường cả về số lượng và chất lượng đối với đội ngũ cán bộ này

Tại thời điểm bàn giao công tác thi hành án từ Toà án sang cho các cơ quan trong quản lý nhà nước giữa Bộ Tư pháp với Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh và Sở Tư pháp về công tác thi hành án dân sự thuộc Chính phủ quản lý cả nước có 53 phòng Thi hành án dân sự cấp tỉnh, 547 Đội thi hành án cấp huyện với biên chế 1.126 người, trong đó có 700 Chấp hành viên cấp tỉnh, cấp huyện và 426 cán bộ

Đến thời điểm năm 2004, năm triển khai thực hiện những quy định mới của Pháp lệnh thi hành án dân sự năm 2004 và thực hiện việc bổ nhiệm Chấp hành viên theo nhiệm kỳ thì cả nước có 2.105 Chấp hành viên, trong đó Chấp hành viên cấp tỉnh là 324, cấp huyện là 1781 Từ năm 2005, sau khi các văn bản về tổ chức cán bộ

và hướng dẫn việc bổ nhiệm Chấp hành viên được ban hành như Nghị định số 50/2005/NĐ-CP ngày 11/4/2005 của Chính phủ quy định về cơ quan quản lý thi hành án dân sự, cơ quan thi hành án dân sự và cán bộ, công chức làm công tác thi hành án dân sự; Thông tư số 06/2005/TT-BTP ngày 24/6/2005 của Bộ Tư pháp hướng dẫn tuyển chọn, bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức chức danh Chấp hành viên; …thì việc bổ nhiệm lại, bổ nhiệm mới Chấp hành viên theo nhiệm kỳ đã bắt đầu được triển khai thực hiện Đây là đợt tổng rà soát lớn về tất cả các trường hợp đã được bổ nhiệm Chấp hành viên trước đó đã đến thời hạn 5 năm phải làm thủ tục trình ra Bộ Tư pháp để bổ nhiệm lại Qua đợt tổng rà soát đó đã giúp các cơ quan thi hành án dân sự địa phương cũng như Bộ Tư pháp, Cục Thi hành án dân sự và bản thân mỗi Chấp hành viên phải tự kiểm điểm, đánh giá lại kết quả thi hành nhiệm vụ

Trang 38

của Chấp hành viên thời gian qua và kể cả việc rèn luyện phẩm chất đạo đức Chấp hành viên Qua kết quả đánh giá đó mà một số Chấp hành viên đã không được bổ nhiệm lại với các nguyên nhân khác nhau như vì không hoàn thành nhiệm vụ được giao, kết quả thi hành về việc và về tiền thấp; vì lý do sức khoẻ; vi phạm kỷ luật, hoặc không đủ tuổi để tiếp tục tái bổ nhiệm Chấp hành viên thêm một nhiệm kỳ 5 năm …

Tính đến ngày 31 tháng 12 năm 2019, tổng số Chấp hành viên cả nước có 3.223 người, trong đó có 451 Chấp hành viên cấp tỉnh, 40 Chấp hành viên cấp quân khu, 2.732 Chấp hành viên cấp huyện [22] Số lượng Chấp hành viên chiếm tỷ lệ 36% so với biên chế hiện có và chiếm 33% so với tổng biên chế phân bổ, trung bình mỗi tỉnh có 6 Chấp hành viên cấp tỉnh và mỗi huyện có 3 Chấp hành viên cấp huyện, riêng Thi hành án dân sự thành phố Hồ Chí Minh có 26 Chấp hành viên cấp thành phố và 145 Chấp hành viên cấp quận, huyện; Thi hành án dân sự thành phố Hà Nội

có 33 Chấp hành viên cấp thành phố và 153 Chấp hành viên cấp quận, huyện Có một số đơn vị Thi hành án dân sự cấp tỉnh có số lượng Chấp hành viên ít như Thi hành án dân sự tỉnh Hậu Giang, tỉnh Đắc Nông có 2 Chấp hành viên, Thi hành án dân sự tỉnh Lai Châu, Sóc Trăng, Điện Biên có 3 Chấp hành viên So với thời điểm năm 1993, số Chấp hành viên đến nay đã tăng lên 04 lần

Về số lượng: Tính đến nay hiện cả nước có 63 cơ quan thi hành án dân sự cấp tỉnh và

693 cơ quan thi hành án dân sự cấp huyện Do có sự tăng về số lượng các cơ quan thi hành án, so với năm 1993 tăng lên 132 cơ quan thi hành án dân sự cấp huyện cũng như số lượng việc thi hành án tăng lên ngày càng nhiều, tính chất phức tạp hơn nên số lượng Chấp hành viên cũng tăng lên theo từng năm Nhìn chung trong những năm qua, Chính phủ, Bộ Tư pháp đã có nhiều quan tâm đến việc tăng cường bổ sung biên chế cho các cơ quan THADS Tuy nhiên, so với yêu cầu nhiệm vụ đặt ra thì đội ngũ CHV và cán bộ thi hành án vẫn còn thiếu so với khối lượng công việc được giao Theo số liệu thống kê án trong ba năm gần nhất tính từ năm 2017 đến nay thì mỗi năm lượng án lại tăng lên một cách đáng kể Theo thống kê của Cục Thi hành

Trang 39

án dân sự thì năm 2015 thụ lý 561.180 vụ việc; năm 2016 thụ lý 602.059 vụ việc; năm 2017 thụ lý 648.266 vụ việc (tăng 0,8% so với năm 2016), năm 2018 thụ lý 661.494 việc (tăng 0,3 % so với cùng kỳ năm 2017) Tổng số tiền phải thu năm 2017

là 21.350 tỷ 827 triệu 968 nghìn đồng, nhưng đến năm 2018, tổng số tiền phải thu là 22.696 tỷ 520 triệu 431 nghìn đồng, chỉ trong 6 tháng đầu năm 2019 thụ lý 472.989 việc, tổng số tiền phải thi hành là 21.162 tỷ 522 triệu 241 nghìn đồng Con số này cho thấy khối lượng công việc cũng như số tiền phải thi hành của các cơ quan thi hành án dân sự trong cả nước ngày càng tăng lên một cách đáng kể Trong khi đó số lượng biên chế của các cơ quan thi hành án dân sự lại chưa đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ được giao

Năm 2019, nhiều cơ quan thi hành án dân sự số vụ việc phải thi hành án dân sự ngày càng tăng như Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Thái Nguyên, Quảng Ninh, Khánh Hoà, Đăk Lăk, Bình Dương, Đồng Nai, Tiền Giang, Kiên Giang, Thanh Hóa

Trước tình trạng số lượng việc thi hành án có xu hướng ngày càng tăng cùng với tính chất và mức độ ngày càng phức tạp hơn Trong khi đó yêu cầu và mục tiêu của việc xây dựng Nhà nước pháp quyền, của hội nhập kinh tế quốc tế đòi hỏi phải tích cục và thực hiện có hiệu quả chiến lược của cách tư pháp, cải cách hành chính Một trong những nội dung của cải cách tư pháp, cải cách hành chính đó là phải nâng cao hiệu quả của công tác thi hành án nói chung, của công tác thi hành án dân sự nói riêng Nâng cao hiệu quả của công tác thi hành án dân sự không chỉ đơn thuần là nâng cao số lượng việc được thi hành mang tính chất số học mà còn đòi hỏi từng vụ việc phải được thi hành đúng đắn trong từng giai đoạn, từng quy trình, từng hành vi thi hành của Chấp hành viên đảm bảo thực thi tối đa quyền lợi của các bên trong quan hệ thi hành án Do yêu cầu ngày càng cao, khắt khe đó trong từng tác nghiệp của Chấp hành viên đối với từng vụ việc mà mặc dù số lượng Chấp hành viên có được tăng cường về cơ bản nhưng vẫn chưa đủ đáp ứng yêu cầu, vẫn có tình trang quá tải đối với Chấp hành viên

Trang 40

Theo đó, sẽ có ba ngạch chấp hành viên là chấp hành viên sơ cấp, chấp hành viên trung cấp, chấp hành viên cao cấp thay vì chỉ có hai ngạch chấp hành viên là chấp hành viên cấp tỉnh, chấp hành viên cấp huyện như quy định của pháp luật hiện hành, nên sẽ thuận lợi hơn trong công tác điều động, luân chuyển chấp hành viên khi cần thiết

II Thực trạng công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ Chấp hành viên thi hành án dân sự ở Việt Nam hiện nay

1 Về chủ thể thực hiện đào tạo, bồi dưỡng

Trên cơ sở Quy chế công tác ĐTBD cán bộ, công chức, viên chức ngành THADS

và Kế hoạch ĐTBD cán bộ, công chức, viên chức của BTP xây dựng kế hoạch cử đội ngũ cán bộ, CHV đi ĐTBD theo các chương trình đào tạo Trong thời gian vừa qua đã có hàng trăm lượt cán bộ, công chức được cử đi ĐTBD về quản lý nhà nước, tập huấn, bồi dưỡng nghiệp vụ chuyên môn, kỹ năng quản lý Chủ thể thực hiện đào tạo được thực hiện, cụ thể:

- Các cơ sở đào tạo của Ngành: Học viện Tư pháp là cơ sở đào tạo chức danh tư

pháp thuộc Bộ Tư pháp, gồm các giảng viên có nhiều kinh nghiệm của Nhà Trường, các đồng chí là lãnh đạo các Vụ nghiệp vụ của Bộ Tư pháp và các chuyên gia trong lĩnh vực thi hành án dân sự để mở các lớp đào tạo chuyên sâu, bồi dưỡng về kỹ năng thi hành án, giải quyết các vụ, việc dân sự

- Liên kết với các cơ sở đào tạo ngoài Ngành: ĐTBD CHVTHADS có vai trò

đặc biệt quan trọng trong việc nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, cập nhật những kiến thức cần thiết để phục vụ yêu cầu công tác ngày càng tốt hơn Thông qua đó giúp đội ngũ cán bộ, CHV nâng cao năng lực thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm được giao, đồng thời hoàn thiện các tiêu chuẩn theo ngạch và vị trí chức danh đang đảm nhiệm Trong những năm qua BTP đã liên kết với các cơ sở ĐTBD của các Ngành như: liên kết với Học viện Chính trị Quốc Gia Hồ Chí Minh, Đại học Luật Hà Nội, Đại học Quốc gia Hà Nội, Đại học Mở Hà Nội, Học viện khoa học xã hội để đào tạo thạc sỹ; với Học viện Quốc gia Hồ Chí Minh, Học viện Hành chính Nhà nước để

Ngày đăng: 29/06/2021, 21:02

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
25. Trường cán bộ TA, TANDTC, "Những vấn đề pháp lý cơ bản về hội nhập quốc tế", Nxb Tư pháp, Hà Nội, 2015 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề pháp lý cơ bản về hội nhập quốc tế
Nhà XB: Nxb Tư pháp
1. Bình luận Pháp lệnh THA dân sự năm 2004 (2006), Nxb Tư pháp, Hà Nội 2. Luật thi hành án dân sự năm 2008 và luật sửa đổi bổ sung năm 2014 Khác
3. GS.Sakaii thuộc khoa sau Đại học Luật, trường Đại học Ritsumeikan, Nhật Bản (2015), Cấu trúc cơ bản của cơ chế THADS của Nhật Bản, Hội thảo tại Bộ Tư pháp ngày 28 tháng 7 năm 2015, nguồn Vụ PL dân sự kinh tế - Bộ Tư pháp, Hà Nội Khác
4. Lê Tuấn Sơn - Nghề Chấp hành viên, báo nhân dân số 12283 ngày 05/4/2016 Khác
7. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Hội nghị lần thứ 26 Ban chấp hành Trung ương Khoá XII năm 2019, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Khác
8. Học Viện tư pháp (2015), Giáo trình Kỹ năng THADS, Nxb Tư pháp, Hà Nội, tr.796 Khác
9. Học Viện tư pháp (2015), Giáo trình Kỹ năng THADS, Nxb Tư pháp, Hà Nội, tr.895 Khác
10.Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Hội nghị lần thứ chín Ban chấp hành Trung ương Khoá XII, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội 2020, tr.188 Khác
11. Chính phủ: Tờ trình số 31/TTr-CP ngày 04 tháng 4 năm 2008 về Dự án Luật Thi hành án dân sự Khác
12. Đào Ngọc Tuấn (2012), Tính phổ biến và tính đặc thù trong xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam, Luận án tiến sĩ Triết học, Hà Nội, tr.86 Khác
13. V.I.Lênin (1970), Toàn tập, tập 32, Nxb Sự thật, Hà Nội, tr.270 14. XYZ (1959), Sửa đổi lề lối làm việc, Nxb Sự thật, Hà Nội Khác
15. Viện ngôn ngữ học (2016), Từ điển tiếng Việt, Nxb Đà Nẵng, Hà Nội,2017 tr.996 Khác
16. Viện ngôn ngữ học (2016), Từ điển tiếng Việt, Nxb Đà Nẵng, tr.233 17. V.I.Lênin (2015), Toàn tập, tập 36, Nxb Sự thật, Hà Nội, tr.36 Khác
19. Các cơ quan thi hành án dân sự bao gồm: Cơ quan thi hành án dân sự cấp tỉnh; Cơ quan thi hành án dân sự cấp huyện và Cơ quan thi hành án trong quân đội (Thi hành án quân khu) Khác
20. Bộ Chính trị Ban chấp hành trung ương Đảng cộng sản Việt Nam (2015), Nghị quyết số 49/NQ-TW ngày 02/6/2015 về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, Hà Nội Khác
21. Thu Hằng (2019), Báo pháp luật số 144 ngày 16/6/2018 của tác giả, Hà Nội 22. Nguồn Cục Thi hành án dân sự Khác
23. Lê Tuấn Sơn - Nghề Chấp hành viên, báo nhân dân số 12283 ngày 05/4/2020 Khác
24. Bộ Tư pháp (2020), Báo cáo số 10/BC-THA về một số tồn tại trong công tác thi hành án dân sự và giải pháp, kiến nghị, Hà Nội Khác
26. Bộ Tư pháp (2007), Nghiên cứu thực trạng, nhu cầu phát triển đội ngũ Chấp hành viên và xây dựng chương trình đào tạo theo yêu cầu cải cách tư pháp, Đề tài khoa học cấp Bộ, Hà Nội Khác
27. Bộ Tư pháp (2012), Quyết định số 2659/QĐ-BTP, ngày 03/10/2012 về việc ban hành Chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp của cán bộ, công chức, viên chức ngành Tư pháp, Hà Nội Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w