Phong trào chống, phá ACL ở các tỉnh duyên hải Nam Trung Bộ đã góp phần cùng với quân dân miền Nam đánh bại “quốc sách ấp chiến lược”, góp phần làm phá sản hoàn toàn chiến lược “Chiến tr
Trang 1ĐẠI HỌC HUẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
NGUYỄN TIẾN VINH
PHONG TRÀO CHỐNG, PHÁ ẤP CHIẾN LƯỢC
Ở CÁC TỈNH DUYÊN HẢI NAM TRUNG BỘ
Trang 2i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận án với đề tài: “Phong trào chống, phá ấp chiến lược ở các tỉnh duyên hải Nam Trung Bộ (1961 – 1965) là công trình nghiên cứu độc lập Các số liệu, kết quả nêu trong luận án là trung thực, có xuất xứ rõ ràng và chưa từng
được ai công bố trong bất kỳ công trình nào
Nghiên cứu sinh
Nguyễn Tiến Vinh
Trang 3ii
LỜI CẢM ƠN
Tôi xin bày tỏ lòng tri ân sâu sắc đến PGS TS Trần Ngọc Long và PGS TS Trương Công Huỳnh Kỳ đã tận tình hướng dẫn tôi trong quá trình học tập và thực hiện đề tài luận án Tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn đến quý thầy, cô giáo Khoa Lịch sử - Trường Đại học sư phạm - Đại học Huế và quý thầy cô ở Phòng Đào tạo Sau Đại học - Trường Đại học Sư phạm, Đại học Huế đã tạo điều kiện thuận lợi để tôi hoàn thành luận án
Tôi cũng bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến Ban Giám hiệu Trường THPT Chuyên Trần Đại Nghĩa, Tp Hồ Chí Minh, đến quý thầy cô, quý bạn bè đồng nghiệp Tổ Lịch sử đã luôn giúp đỡ, động viên tôi trong suốt quá trình học tập
Xin chân thành cảm ơn quý thư viện Tổng hợp Tp HCM, Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II, Tp Hồ Chí Minh, phòng khoa học quân sự Quân khu V, VII, các vị lão thành cách mạng đã hỗ trợ và cung cấp nhiều tư liệu quý báu trong quá trình thực hiện luận án
Xin cảm ơn gia đình, bạn bè và học trò đã luôn ở bên cạnh giúp đỡ và động viên để tôi có thể hoàn thành tốt chặng đường học tập của mình
Nghiên cứu sinh
Nguyễn Tiến Vinh
Trang 4iii
MỤC LỤC
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Phụ lục vi
Danh mục những từ viết tắt vii
Danh mục các bảng viii
Mở đầu 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 3
2.1 Mục đích 3
2.2 Nhiệm vụ 3
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4
3.1 Đối tượng nghiên cứu 4
3.2 Phạm vi nghiên cứu 4
4 Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu 5
4.1 Nguồn tài liệu 5
5 Đóng góp của luận án 6
6 Bố cục của luận án 6
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 7
1.1 Vấn đề nghiên cứu 7
1.2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài 11
1.2.1 Nhóm các công trình nghiên cứu về phong trào chống, phá ấp chiến lược ở miền nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước 11
1.2.2 Nhóm các công trình nghiên cứu đề cập có đến phong trào chống, phá ấp chiến lược ở các tỉnh duyên hải Nam Trung Bộ 25
1.3 Nhận xét về kết quả nghiên cứu và những vấn đề luận án cần tiếp tục giải quyết 27
1.3.1 Kết quả nghiên cứu 27
1.3.2 Những vấn đề luận án tập trung nghiên cứu giải quyết 28
Trang 5iv
CHƯƠNG 2: PHONG TRÀO CHỐNG, PHÁ ẤP CHIẾN LƯỢC Ở CÁC
TỈNH DUYÊN HẢI NAM TRUNG BỘ TỪ NĂM 1961 ĐẾN NĂM 1963 30
2.1 Những nhân tố ảnh hưởng đến phong trào chống, phá ấp chiến lược ở các tỉnh duyên hải Nam Trung Bộ 30
2.1.1 Điều kiện tự nhiên - xã hội 30
2.1.2 Truyền thống yêu nước và đấu tranh cách mạng của nhân dân các tỉnh duyên hải Nam Trung Bộ 33
2.1.3 Tình hình các tỉnh duyên hải Nam Trung Bộ trước năm 1961 36
2.2 Quân và dân các tỉnh duyên hải Nam Trung Bộ đấu tranh chống, phá ấp chiến lược từ năm 1961 đến năm 1963 40
2.2.1.2 Chủ trương của Đảng Lao động Việt Nam về chống, phá ấp chiến lược 58
2.2.2.1 Ở Quảng Nam – Quảng Đà 66
2.2.2.2 Ở Quảng Ngãi 69
2.2.2.3 Ở Bình Định 72
2.2.2.4 Ở Phú Yên 76
2.2.2.5 Ở Khánh Hòa 78
2.2.2.6 Ở Ninh Thuận 80
2.2.2.7 Ở Bình Thuận 81
Tiểu kết chương 2 83
CHƯƠNG 3: PHONG TRÀO CHỐNG, PHÁ ẤP TÂN SINH Ở CÁC TỈNH DUYÊN HẢI NAM TRUNG BỘ TỪ NĂM 1964 ĐẾN NỬA ĐẦU NĂM 1965 85 3.1 Chương trình lập ấp tân sinh của Mỹ - chính quyền Việt Nam Cộng hòa 85
3.1.1 Tình hình miền Nam sau cuộc đảo chính Ngô Đình Diệm (11 – 1963) 85 3.1.2 Quá trình triển khai chương trình ấp tân sinh ở các tỉnh duyên hải Nam Trung Bộ 90
3.2 Chủ trương của Đảng Lao động Việt Nam về chống, phá ấp tân sinh 92
3.2.1 Chủ trương của Trung ương Đảng và Trung ương Cục miền Nam 92
3.2.2 Chủ trương của Khu ủy v, Khu ủy vi 95
3.2.3 Chủ trương của tỉnh ủy các tỉnh duyên hải Nam Trung Bộ 96
Trang 6v
3.3 Đấu tranh chống, phá ấp tân sinh ở các tỉnh duyên hải Nam Trung Bộ 98
3.3.1 Ở Quảng Nam – Quảng Đà 99
3.3.2 Ở Quảng Ngãi 102
3.2.3 Ở Bình Định 104
3.2.4 Ở Phú Yên 107
3.2.5 Ở Khánh Hòa 109
3.2.6 Ở Ninh Thuận 110
3.2.7 Ở Bình Thuận 111
Tiểu kết chương 3 114
CHƯƠNG 4: MỘT SỐ NHẬN XÉT VÀ KINH NGHIỆM.…… ………… 116
4.1 Một số nhận xét: 116
4.1.1 Kết quả 116
4.1.1.1 Góp phần làm phá sản hoàn toàn chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” của ỹ và chính quyền Việt Nam Cộng hòa ở Nam Trung Bộ 116
4.1.1.2 Mở rộng vùng giải phóng, giành dân, giữ vững hành lang vận chuyển chiến lược trên địa bàn duyên hải Nam Trung Bộ 119
4.1.2.1 Trong giai đoạn đầu, một số cán bộ lãnh đạo địa phương còn có tư tưởng chủ quan, chưa nhận thức được đầy đủ mức độ khó khăn, ác liệt của cuộc đấu tranh chống, phá ấp chiến lược 121
4.1.2.2 Có lúc, có nơi sự phối hợp giữa hoạt động của lực lượng vũ trang với phong trào nổi dậy quần chúng thiếu chặt chẽ 122
4.1.2.3 Ở một số địa phương do lực lượng vũ trang còn mỏng, phân tán nên kết quả chống, phá ấp chiến lược không cao 123
4.1.3 Đặc điểm 124
4.1.3.1 Phong trào chống, phá ấp chiến lược ở các tỉnh duyên hải Nam Trung Bộ diễn ra sớm và quyết liệt ngay từ đầu 124
4.1.3.2 Phong trào đấu tranh chống, phá ấp chiến lược ở các tỉnh duyên hải Nam Trung Bộ thu hút đông đảo các tầng lớp nhân dân tham gia 127
Trang 7vi
4.1.3.3 Phong trào đấu tranh chống, phá ấp chiến lược diễn ra trên quy mô rộng lớn với nhiều hình thức đấu tranh phong phú, đa dạng, trong đó đấu
tranh quân sự đóng vai trò quyết định trực tiếp 130
4.2 Một số kinh nghiệm 135
4.2.1 Đánh giá đúng tình hình thực tiễn để trên cơ sở đó đề ra phương thức, biện pháp đấu tranh hiệu quả, phù hợp với điều kiện cụ thể ở từng địa phương 135
4.2.2 Phát huy thế trận lòng dân, tiến hành chiến tranh nhân dân để chống lại âm mưu và thủ đoạn của kẻ thù 138
4.2.3 Vận dụng linh hoạt các phương thức, biện pháp trong quá trình đấu tranh 140
4.2.4 Trong đấu tranh, phải bảo đảm sự liên tục, có sự phối hợp chặt chẽ giữa các lực lượng 141
Tiểu kết chương 4 143
Kết luận 144
Tài liệu tham khảo 150
Phụ lục
Trang 8vii
DANH MỤC NHỮNG TỪ VIẾT TẮT
Trang 10Chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” được thực hiện chủ yếu với ba biện pháp
chiến lược: Một là, tăng cường quân đội VNCH do các cố vấn Mỹ chỉ huy, sử dụng
chiến thuật “trực thăng vận”, “thiết xa vận” để nhanh chóng tiêu diệt lực lượng vũ
trang cách mạng còn nhỏ yếu; Hai là, giữ vững các thành thị, xây dựng bộ máy
chính quyền VNCH thật mạnh để ngăn chặn và dập tắt phong trào cách mạng ở
nông thôn bằng “bình định” và lập ấp chiến lược; Ba là, ra sức phong tỏa biên giới,
kiểm soát vùng biển, cắt đứt sự chi viện từ miền Bắc vào miền Nam nhằm cô lập cách mạng miền Nam Trong các biện pháp trên, ACL được coi là “quốc sách”, là
“xương sống” có ảnh hưởng đến sự thành bại của các kế hoạch chiến tranh, nhất là
khi Mỹ thực hiện chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” (1961 – 1965) trên chiến trường miền Nam Việt Nam Mục đích của việc thực hiện “quốc sách ấp chiến lược” là nhằm chiếm đất, giành dân, kiểm soát vùng nông thôn, đánh phá hậu phương và căn
cứ cách mạng, tiến tới cô lập và tiêu diệt hoàn toàn lực lượng cách mạng, áp đặt chủ nghĩa thực dân mới ở miền Nam Việt Nam
Từ sau cuộc đảo chính quân sự ngày 01 – 11 – 1963, chính quyền VNCH được Mỹ giúp sức đã đổi tên ấp chiến lược thành ấp tân sinh Thực chất của việc thay đổi tên gọi ACL thành ATS chỉ là hình thức “bình mới rượu cũ” Do tính chất phản động và nham hiểm của “quốc sách ấp chiến lược” nên trong suốt quá trình
Mỹ - chính quyền VNCH triển khai thực hiện đã vấp phải sự chống phá quyết liệt của các lực lượng cách mạng
Trang 112
Phong trào chống, phá ACL bùng phát và lan rộng trên toàn miền Nam, trong
đó có khu vực duyên hải Nam Trung Bộ
Trong giai đoạn từ năm 1961 đến năm 1965, xuất phát từ điều kiện tự nhiên,
xã hội vùng miền, dưới sự lãnh đạo của Đảng Lao động Việt Nam, Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam, Khu ủy V, Khu ủy VI và Đảng bộ các địa phương, phong trào chống, phá ACL ở các tỉnh duyên hải Nam Trung Bộ đã diễn ra rất quyết liệt, sôi động với nhiều hình thức đấu tranh sáng tạo, độc đáo, thể hiện sự nhạy bén, sáng tạo của từng địa phương trong việc vận dụng chủ trương, đường lối của Đảng Lao động Việt Nam vào phong trào chống, phá ACL
Phong trào diễn ra tại đây vừa có nhiều điểm tương đồng với phong trào chống, phá ACL ở miền Nam nói chung, vừa có những điểm riêng, độc đáo và sáng tạo Phong trào chống, phá ACL ở các tỉnh duyên hải Nam Trung Bộ đã góp phần cùng với quân dân miền Nam đánh bại “quốc sách ấp chiến lược”, góp phần làm phá sản hoàn toàn chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” của Mỹ và chính quyền VNCH, đưa thế và lực của cách mạng miền Nam phát triển lên một bước mới
Trong quá trình nghiên cứu về cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước đã có khá nhiều công trình nghiên cứu về phong trào chống, phá ACL được công bố Tuy nhiên cho đến nay chưa có một công trình nào đi sâu tìm hiểu, nghiên cứu một cách
có hệ thống và đầy đủ về phong trào chống, phá ACL ở các tỉnh duyên hải Nam Trung Bộ
Nghiên cứu phong trào chống, phá ấp chiến lược ở các tỉnh duyên hải Nam Trung Bộ có ý nghĩa khoa học và thực tiễn trên nhiều mặt:
Về ý nghĩa khoa học, luận án phục dựng một cách tương đối đầy đủ quá trình
hình thành, phát triển, thành tựu, hạn chế, đặc điểm và ý nghĩa của phong trào chống, phá ACL ở các tỉnh duyên hải Nam Trung Bộ, góp phần bổ sung cho bức tranh lịch sử của phong trào chống, phá ACL ở miền Nam Việt Nam trong kháng chiến chống Mỹ từ năm 1961 đến năm 1965 Qua đó, sẽ minh chứng quân và dân các tỉnh duyên hải Nam Trung Bộ đã vận dụng đúng đắn, sáng tạo những chủ trương của Đảng Lao động Việt Nam về chống, phá ACL trong những năm 1961 –
1965 Từ kết quả nghiên cứu, đề tài còn nhằm góp phần làm rõ và sâu sắc hơn lịch
Trang 123
sử cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của quân và dân các tỉnh duyên hải Nam Trung Bộ
Về ý nghĩa thực tiễn, từ kết quả nghiên cứu, đúc kết một số kinh nghiệm có
thể vận dụng trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay Đây còn là nguồn tài liệu cần thiết phục vụ trong việc xây dựng nông thôn mới; giảng dạy và học tập lịch sử Việt Nam hiện đại ở các trường đại học, cao đẳng và chương trình giáo dục lịch sử địa phương bậc trung học phổ thông ở các tỉnh, thành phố vùng duyên hải Nam Trung Bộ
Chính vì những lý do trên, nghiên cứu sinh quyết định chọn vấn đề: Phong trào chống, phá ấp chiến lược ở các tỉnh duyên hải Nam Trung Bộ (1961 – 1965) làm đề tài cho luận án Tiến sĩ ngành Lịch sử Việt Nam
2 MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
2.1 Mục đích
Phục dựng phong trào chống, phá ấp chiến lược của quân và dân các tỉnh duyên hải Nam Trung Bộ trong giai đoạn từ năm 1961 đến năm 1965 có tính hệ thống và toàn diện theo quan điểm khách quan; đúc rút một số kinh nghiệm để có thể vận dụng trong công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước hiện nay
2.2 Nhiệm vụ
Để đạt được mục đích nêu trên, luận án thực hiện một số nhiệm vụ sau:
- Đánh giá về tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài; các kết quả nghiên cứu và xác định những vấn đề luận án cần tiếp tục làm sáng tỏ
- Phân tích làm rõ âm mưu và quá trình thiết lập ấp chiến lược của Mỹ và chính quyền Việt Nam Cộng hòa ở Nam Trung Bộ
- Khái quát những yếu tố tác động đến phong trào đấu tranh chống, phá ấp chiến lược ở các tỉnh duyên hải Nam Trung Bộ từ năm 1961 đến năm 1965
- Tái hiện quá trình quân và dân các tỉnh duyên hải Nam Trung Bộ đấu tranh
chống, phá ấp chiến lược
- Khái quát một số kết quả nổi bật và chỉ ra những hạn chế của phong trào chống, phá ấp chiến lược ở các tỉnh duyên hải Nam Trung Bộ Qua đó, nêu lên đặc điểm và rút ra một số kinh nghiệm có ý nghĩa lý luận và thực tiễn đối với công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay
Trang 134
3 ĐỐI TƢỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
3.1 Đối tƣợng nghiên cứu
Luận án tập trung nghiên cứu phong trào đấu tranh chống, phá ấp chiến lược của quân và dân các tỉnh duyên hải Nam Trung Bộ trong giai đoạn từ năm 1961 đến nửa đầu năm 1965
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Về thời gian nghiên cứu: Từ năm 1961 đến giữa năm 1965 Đây là giai đoạn
Mỹ và chính quyền VNCH triển khai thực hiện chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” ở
miền Nam Việt Nam với “xương sống” là chương trình ấp chiến lược Đây cũng là
giai đoạn phong trào đấu tranh chống, phá ACL ở các tỉnh duyên hải Nam Trung Bộ diễn ra sôi nổi, quyết liệt, góp phần làm phá sản chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” của Mỹ và chính quyền VNCH
Về không gian nghiên cứu:
Trong giai đoạn từ năm 1961 đến năm 1965, về tổ chức Đảng: Trung ương Đảng tổ chức chiến trường Trung và Nam Trung Bộ thành hai Khu ủy V và Khu ủy
VI Khu ủy V trực thuộc Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Khu ủy VI chịu sự lãnh đạo trực tiếp của Trung ương Cục miền Nam
Về tổ chức quân sự: gồm Quân khu V và Quân khu VI
Với cách tổ chức trên đây, trong giai đoạn 1961 – 1965, các tỉnh duyên hải Nam Trung Bộ bao gồm các tỉnh: Quảng Đà, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa, Ninh Thuận, Bình Thuận Tuy nhiên, để có “cái nhìn đối sánh”, trong một chừng mực nhất định, không gian nghiên cứu của luận án có thể được mở rộng ra một số địa phương
Về phạm vi nội dung, luận án tập trung làm rõ:
- Âm mưu, thủ đoạn lập ấp chiến lược của Mỹ và chính quyền Việt Nam Cộng hòa ở các tỉnh duyên hải Nam Trung Bộ
- Chủ trương chống, phá ấp chiến lược của Đảng Lao động Việt Nam
- Quá trình, phương thức, biện pháp, lực lượng, kết quả, hạn chế của phong trào chống, phá ấp chiến lược ở Nam Trung Bộ và so sánh với phong trào chống, phá ấp chiến lược ở các địa phương khác
Trang 145
- Đặc điểm và những kinh nghiệm được đúc kết từ phong trào chống, phá ấp chiến lược
4 NGUỒN TÀI LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
4.1 Nguồn tài liệu
Luận án được thực hiện chủ yếu dựa trên những nguồn tài liệu sau đây:
- Các nghị quyết, chỉ thị của Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương Đảng,
Xứ ủy, Trung ương Cục miền Nam, Khu ủy V, Khu ủy VI, các tài liệu tổng kết của các địa phương lưu trữ tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II, Trung tâm Lưu trữ Bộ Quốc phòng, Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam, Phòng Khoa học - Công nghệ Quân khu V, Trung tâm lưu trữ của Tỉnh ủy các tỉnh duyên hải Nam Trung Bộ
- Tài liệu của Việt Nam Cộng hòa hiện đang lưu trữ tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II (Tp Hồ Chí Minh) bao gồm các báo cáo, biên bản họp, quyết định, tờ trình, sơ đồ, bản đồ và tranh ảnh của Phủ Tổng thống Đệ nhất Việt Nam Cộng hòa,
Bộ Công chánh và Giao thông, Hội đồng Quân nhân cách mạng, Bộ Đặc nhiệm Văn hóa Xã hội… Đây là những tài liệu quan trọng để nghiên cứu sinh tham khảo trong quá trình thực hiện luận án
- Các tác phẩm của Chủ tịch Hồ Chí Minh, các vị lãnh đạo Đảng và nhà nước, quân đội viết về cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước; các bài viết trên các tạp chí: Nghiên cứu lịch sử, Lịch sử Quân sự, Lịch sử Đảng, kỉ yếu các hội thảo và hội nghị, các hồi kí và lời kể của các nhân chứng lịch sử từng hoạt động ở địa bàn các tỉnh duyên hải Nam Trung Bộ trong giai đoạn từ năm 1961 đến năm 1965
- Các tài liệu lưu trữ liên quan đến phong trào chống, phá ấp chiến lược hiện lưu trữ ở Phòng Khoa học quân sự các Quân khu V, VII và Trung tâm lưu trữ ở các tỉnh duyên hải Nam Trung Bộ; các công trình tổng kết lịch sử của Khu ủy, các địa phương
ở Nam Trung Bộ
- Các công trình nghiên cứu về cuộc chiến tranh Việt Nam của các tác giả nước ngoài Các công trình nghiên cứu trong nước có đề cập đến phong trào chống, phá ấp chiến lược ở các tỉnh duyên hải Nam Trung Bộ Các luận án, luận văn liên quan đến đề tài nghiên cứu
Trang 156
4.2 Phương pháp nghiên cứu
Luận án được thực hiện dựa trên các phương pháp luận của chủ nghĩa Marx - Lenin, tư tưởng Hồ Chí Minh về chiến tranh cách mạng Phương pháp nghiên cứu chủ đạo của luận án là phương pháp lịch sử kết hợp với phương pháp logic Trên cơ
sở này, luận án sử dụng một số phương pháp cụ thể khác như phương pháp thống
kê, so sánh, phân tích, tổng hợp nhằm cung cấp cái nhìn toàn diện, xuyên suốt về phong trào chống, phá ấp chiến lược ở các tỉnh duyên hải Nam Trung Bộ (1961 – 1965) Ngoài ra, công tác xác minh, điền dã, phỏng vấn, đánh giá, xử lý tư liệu cũng được quan tâm chú trọng để làm sáng tỏ các nội dung nghiên cứu trong luận án
5 ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN ÁN
- Luận án là công trình đầu tiên tái hiện một cách có hệ thống và toàn diện phong trào đấu tranh chống, phá ấp chiến lược của quân và dân các tỉnh duyên hải Nam Trung Bộ trong giai đoạn đấu tranh chống chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” (1961 – 1965) của Mỹ và chính quyền Việt Nam Cộng hòa
- Làm rõ sự vận dụng sáng tạo chủ trương của Đảng Lao động Việt Nam về đấu tranh chống, phá ấp chiến lược của quân dân các tỉnh duyên hải Nam Trung Bộ
- Khái quát được một số kết quả nổi bật và đưa ra một số nhận xét, đánh giá tương đối khách quan cũng như những hạn chế của phong trào chống, phá ấp chiến lược ở các tỉnh duyên hải Nam Trung Bộ, đồng thời đúc kết được một số đặc điểm
và kinh nghiệm có giá trị khoa học và ý nghĩa thực tiễn
- Luận án cung cấp một số tư liệu mới, góp phần phục vụ công tác nghiên cứu, biên soạn giáo trình giảng dạy, học tập và giáo dục truyền thống lịch sử các địa phương ở Nam Trung Bộ
6 BỐ CỤC CỦA LUẬN ÁN
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, luận án gồm có
4 chương:
Chương 1 Tổng quan tình hình nghiên cứu (23 trang)
Chương 2 Phong trào chống, phá ấp chiến lược ở các tỉnh duyên hải Nam Trung Bộ từ năm 1961 đến năm 1963 (55 trang)
Chương 3 Phong trào chống, phá ấp tân sinh ở các tỉnh duyên hải Nam Trung Bộ từ năm 1964 đến nửa đầu năm 1965 (31 trang)
Chương 4 Một số nhận xét và kinh nghiệm (34 trang)
Trang 167
Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
1.1 VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
Phong trào “Đồng khởi” (1959 – 1960) của nhân dân miền Nam đã làm lung lay tận gốc chính quyền VNCH ở nhiều vùng nông thôn thuộc các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long, miền Đông Nam Bộ, Nam Trung Bộ, Tây Nguyên; đồng thời làm thất bại hình thức thống trị điển hình của chủ nghĩa thực dân kiểu mới mà Mỹ và chính quyền VNCH đã tốn bao công sức, tiền của xây dựng từ năm 1955, đẩy chính quyền VNCH lâm vào tình trạng khủng hoảng nghiêm trọng
Để cứu vãn sự sụp đổ của chính quyền VNCH, từ giữa năm 1961, Mỹ quyết định thực hiện chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” ở miền Nam Việt Nam, trong đó coi trọng việc dồn dân lập ACL “Chương trình ấp chiến lược” được nâng lên thành
“quốc sách” và được coi là “xương sống” của chiến lược “Chiến tranh đặc biệt”
sự, chính trị, kinh tế - xã hội Quốc sách ấp chiến lược là một chiến lược trường kỳ và trọng đại của Việt Nam Cộng hòa, là một trách nhiệm của dân tộc trước lịch sử, đòi hỏi những công dân mới, những cán bộ mới, những chiến sĩ mới Quốc sách ấp chiến lược đã cụ thể hóa đường lối nhân vị, cộng đồng và đồng tiến của Việt Nam Cộng hòa một cách rõ rệt và hữu hiệu nhằm mục đích: vãn hồi an ninh ở nông thôn và thực thi dân chủ … [105]
Ấp chiến lược mà Mỹ và chính quyền VNCH triển khai trong chiến lược
“Chiến tranh đặc biệt” chính là sự tiếp tục, biến hóa của các chính sách Dinh điền, Khu trù mật; là hình thức tập trung dân nhằm chống phá phong trào cách mạng So với chính sách Dinh điền, Khu trù mật thì Ấp chiến lược có bước phát triển cao hơn,
Trang 178
quy mô hơn và thâm độc hơn Nếu Dinh điền chỉ tập trung những người kháng chiến cũ, những người miền Bắc di cư vào hệ thống khu tập trung ở nơi hẻo lánh, vùng rừng núi xa xôi; Khu trù mật chủ yếu tập trung dân vào những vùng có vị trí chiến lược quan trọng ở đồng bằng, cạnh các trục đường giao thông, căn cứ quân sự
để dễ kiểm soát và ngăn chặn sự nổi dậy của quần chúng; Ấp chiến lược thì nặng về quân sự, được tiến hành xây dựng rộng rãi trên khắp miền Nam để dồn tất cả những người nông dân miền Nam vào các trại tập trung được lập ra trong mỗi thôn, ấp và gắn với văn hóa làng xã cổ truyền, từ vùng núi đến các vùng nông thôn đồng bằng, xung quanh các đô thị, thậm chí ở cả một số vùng thuộc trung tâm đầu não của chính quyền VNCH Mỗi ACL thực sự là một “pháo đài quân sự”, bao bọc xung quanh là ba lớp hàng rào tre và hệ thống dây kẽm gai Giữa hai hàng rào là hào rộng
2 mét, sâu 1 mét 50 có cắm chông và gài mìn Muốn vào trong ấp phải vượt qua ba hàng rào và hai hào sâu Bốn góc ACL có bốt gác, tối đến các cửa ra vào đều đóng kín Các ACL xung yếu đều có đồn lính đóng bên cạnh Mỗi ACL đều có Ban trị sự, đứng đầu là ấp trưởng, ấp phó
Theo Từ điển Bách khoa Quân sự Việt Nam thì ấp chiến lược thực chất là:
Khu dồn dân ở nông thôn miền Nam do Mỹ và chính quyền Sài Gòn lập ra từ năm 1961, nhằm tách nhân dân ra khỏi cách mạng, “tát nước bắt cá” để thực hiện chính sách bình định của Mỹ ở miền Nam Việt Nam Ấp chiến lược mang tính chất cứ điểm phòng vệ của chính quyền Sài Gòn chống phong trào nổi dậy và chiến tranh du kích của nhân dân miền Nam trong giai đoạn
“Chiến tranh đặc biệt” Ấp chiến lược được xây dựng theo những tiêu chuẩn thống nhất: xếp các hộ thành từng nhóm có trách nhiệm kiểm soát và bảo vệ lẫn nhau (ngũ gia liên bảo); tổ chức thanh niên vũ trang bảo vệ ấp; mọi sinh hoạt đều phải tuân theo những quy định nghiêm ngặt; bên ngoài có hàng rào bao quanh, cổng ra vào được canh gác ngày đêm, có hầm hào chiến đấu để chống các cuộc tấn công của du kích; quản lý bằng biện pháp tổng hợp: chính trị, quân sự, kinh tế, văn hóa, trong đó quân sự là hàng đầu Mỹ - Diệm coi chương trình xây dựng ấp chiến lược là quốc sách, là xương sống của chiến tranh đặc biệt [51, tr.15]
Trang 189
Theo quan điểm và cách nhìn nhận của các chiến lược gia Mỹ, trong chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” thì việc dồn dân lập ACL được coi là biện pháp chiến lược cơ bản nhất, là mục đích của cuộc chiến tranh xâm lược thực dân kiểu mới nhằm kiểm soát vùng nông thôn rộng lớn, phá hoại hậu phương, căn cứ địa và tiêu diệt lực lượng cách mạng miền Nam Do đó, Mỹ và chính quyền VNCH muốn giành những ưu tiên cho việc tổ chức ACL ở nông thôn Chính Ngô Đình Diệm đã
khẳng định: “Nông thôn, nông dân là vấn đề căn bản của quốc gia, xã ấp còn, quốc
gia còn, xã ấp mất, quốc gia mất” [27, tr.46] Trong công văn số
07682-BNV/CTI8M ngày 15 – 12 – 1961 của Bộ Nội vụ Việt Nam Cộng hòa chỉ rõ:
“Danh từ Ấp chiến lược bao gồm nhiều phương diện: quân sự, chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa Người dân ở ấp chống sự chia rẽ, chống sự chậm tiến, chống cộng sản, hấp thu nền văn minh mới Vai trò của Ấp chiến lược là làm thế nào cho người dân ý thức được sự tự bảo vệ lấy họ và thống nhất ý chí kiến quốc” [49]
Ngày 03 – 02 – 1962, Tổng thống Ngô Đình Diệm ký Sắc lệnh số 11 - TTP lập ra “Ủy ban Liên bộ đặc trách Ấp chiến lược” Từ tháng 04 – 1962, Mỹ và chính
quyền VNCH thống nhất đưa chương trình ACL lên tầm “quốc sách”, là “xương
sống” của chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” cần phải được thực hiện trên toàn miền
Nam, có vai trò tạo cơ sở, nền tảng cho sự củng cố, phát triển của chính quyền và quân đội VNCH để chống lại hoạt động chiến tranh du kích của quân và dân miền
Nam Ngày 19 – 04 – 1962, Quốc hội VNCH thông qua Quyết nghị số 1214 -
CT/LP Tán trợ Quốc sách Ấp chiến lược và Ủng hộ toàn diện sách lược Ấp chiến lược Từ đó “chương trình ấp chiến lược” được nhanh chóng triển khai trên khắp
miền Nam Mỹ và chính quyền VNCH chọn Quảng Ngãi (Nam Trung Bộ) và Vĩnh Long (Tây Nam Bộ), làm nơi thí điểm thực hiện chương trình ACL để từ đó nhân rộng ra toàn miền Nam Đối với Quảng Ngãi, cố vấn Ngô Đình Nhu trực tiếp chỉ đạo xây dựng ACL và chính quyền VNCH chọn ấp Kim Sa (xã Tịnh Thọ, huyện Sơn Tịnh) làm nơi thí điểm lập “ấp chiến lược kiểu mẫu” để từ đó nhân rộng ra toàn
tỉnh Quảng Ngãi và Nam Trung Bộ
Sau sự kiện nhóm tướng lĩnh trong quân đội VNCH, đứng đầu là tướng Dương Văn Minh làm cuộc đảo chính lật đổ chế độ độc tài gia đình trị Ngô Đình
Diệm (01 – 11 – 1963), ấp chiến lược không còn là “quốc sách” nhưng vẫn có vai
Trang 19Như vậy, ấp chiến lược (hay ấp tân sinh) đều là một bộ phận quan trọng trong chính sách bình định nông thôn của Mỹ và chính quyền VNCH, đều được
xem là “xương sống” của chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” Trong giai đoạn Mỹ thực hiện kế hoạch Staley - Taylor (1961 – 1963), “quốc sách ấp chiến lược” được
xem là một biện pháp tổng lực trên tất cả các mặt: chính trị, kinh tế, quân sự đến xã hội, tâm lý, gián điệp nhằm mục tiêu cuối cùng là tiêu diệt các cơ sở cách mạng ở
hạ tầng, đẩy lực lượng cách mạng ra khỏi xã, ấp, tách dân khỏi cách mạng, tiến tới nắm dân, thực hiện chương trình “bình định” miền Nam
Để chủ động đối phó với âm mưu và thủ đoạn của Mỹ và chính quyền VNCH trong việc gom dân vào ACL, quân và dân miền Nam dưới sự lãnh đạo của
TW Đảng, TW Cục miền Nam đã đẩy mạnh đấu tranh chống và phá ACL với quyết
tâm “Một tấc không đi, một ly không rời”, kiên quyết bám đất, giữ làng, phá thế
kìm kẹp của địch Phong trào chống, phá ACL ở mỗi vùng, miền tuy có khác nhau
về quy mô, diễn biến nhưng đều hướng đến mục tiêu là góp phần làm phá sản hoàn toàn chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” Xuất phát từ điều kiện địa lý tự nhiên, kinh
tế - xã hội và đặc điểm của từng vùng, miền mà phong trào chống, phá ACL ở miền Nam Việt Nam diễn ra ở nhiều nơi với nhiều hình thức và phương pháp đấu tranh
đa dạng, phong phú
Phong trào chống, phá ACL ở các tỉnh duyên hải Nam Trung Bộ là một bộ phận của phong trào chống, phá ACL trên toàn miền Nam, góp phần quan trọng làm phá sản chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” của Mỹ và chính quyền VNCH Quán triệt tinh thần Nghị quyết của Bộ Chính trị và Chỉ thị của TW Đảng, TW Cục miền
Trang 201.2 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
Phong trào chống, phá ấp chiến lược ở các tỉnh duyên hải Nam Trung Bộ có những nét tương đồng với phong trào chống, phá ACL ở các vùng miền khác trên toàn miền Nam, đồng thời cũng có những nét riêng mang tính đặc thù Bởi vậy mà lâu nay, mảng đề tài này đã thu hút sự quan tâm của đông đảo các nhà nghiên cứu
cả trong và ngoài nước, có thể kể đến một số công trình tiêu biểu thuộc các nhóm sau:
1.2.1 Nhóm các công trình nghiên cứu về phong trào chống, phá ấp chiến lược
ở miền Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước
* Trong nước
Có nhiều công trình nghiên cứu về lịch sử cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước ít nhiều đều có đề cập đến phong trào chống, phá ACL, trong đó có thể kể đến
một số công trình tiêu biểu như: “Tổng kết cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước:
Thắng lợi và bài học” (Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1996) của Ban Chỉ đạo
Tổng kết chiến tranh trực thuộc Bộ Chính trị Công trình này đã trình bày có hệ thống những nội dung cơ bản trong đường lối kháng chiến của Đảng, trong đó có chủ trương, biện pháp để chống lại âm mưu, thủ đoạn dồn dân lập ACL của Mỹ và chính quyền VNCH ở miền Nam Việt Nam trong giai đoạn 1961 – 1965 Công trình cũng đã làm rõ một số vấn đề cơ bản của phong trào chống, phá ACL, đánh giá vai trò, ý nghĩa của phong trào:
“Ở miền Nam, chiến tranh nhân dân phát triển sâu rộng trên cả ba vùng chiến lược, các hình thức vũ trang, đấu tranh chính trị, ba mũi giáp công trên các chiến trường cũng phát triển mạnh làm cho quốc sách ấp chiến lược
bị phá sản, các chiến thuật “trực thăng vận”, “thiết xa vận” giảm hiệu lực Chiến lược tiến công tổng hợp của nhân dân miền Nam đã phát huy hiệu lực rất lớn trong việc chống phá “quốc sách” ấp chiến lược” [9, tr.55]
Trang 2112
Năm 2015, Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam cho ra mắt bộ Lịch sử kháng
chiến chống Mỹ, cứu nước gồm 9 tập (Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2015) trong
đó có Tập 3 trình bày chi tiết âm mưu, thủ đoạn của Mỹ trong chiến lược “Chiến tranh đặc biệt”; quá trình đấu tranh của quân dân miền Nam, trong đó có phong trào chống, phá ACL Trong công trình này, bên cạnh việc tái hiện một số chiến thắng quan trọng của quân và dân miền Nam như Ấp Bắc (1963), An Lão, Dương Liễu – Đèo Nhông (1964), Ba Gia (1965),…các tác giả đã phân tích nguyên nhân thắng lợi, ý nghĩa và rút ra những bài học kinh nghiệm giúp người đọc có thể tiếp cận một cách rõ nhất về phong trào chống, phá ACL ở miền Nam Công trình đã có những phân tích sâu sắc sự chỉ đạo chiến lược của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh trong việc đề ra đường lối, phương pháp cách mạng sáng tạo, xử lý các tình huống một cách kịp thời, nhạy bén cùng với việc chuẩn bị lực lượng chủ động, tích cực, kết hợp đấu tranh chính trị với vũ trang, tiến công địch bằng ba mũi giáp công: quân sự,
chính trị, binh vận với phương châm “bốn bám” trong phong trào chống, phá ACL
ở miền Nam nói chung và các tỉnh duyên hải Nam Trung Bộ nói riêng [52]
Cuốn Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của Việt Nam: Sự lựa chọn lịch
sử (Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 2015) do Nguyễn Thị Việt Nga biên soạn đã
trình bày rõ nét bối cảnh lịch sử khi Mỹ chuyển sang chiến lược “Chiến tranh đặc biệt”; chủ trương của Thường vụ TW Cục miền Nam và Khu ủy V, Khu ủy VI trong việc tích cực phát động phong trào chống, phá ACL ở các tỉnh duyên hải Nam Trung Bộ Thắng lợi của phong trào đã góp phần làm phá sản hoàn toàn chiến lược
“Chiến tranh đặc biệt” của Mỹ [85]
Về sự lãnh đạo của Đảng, Khu ủy V trong phong trào chống, phá ACL có thể
kể đến công trình Văn kiện Đảng về chống Mỹ, cứu nước (Tập 1) do Nxb Chính trị
quốc gia, Hà Nội phát hành năm 2011 Bộ sách này đã tập hợp và hệ thống lại các văn kiện để bạn đọc có thể thấy được diễn biến của chiến tranh qua từng giai đoạn, thấy được Đảng Lao động Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng đầu đã có những nhận định, chủ trương và đề ra những quyết định sáng suốt đối với phong trào chống, phá ACL ở miền Nam Việt Nam nói chung và các tỉnh duyên hải Nam Trung Bộ nói riêng [60]
Trang 2213
Về sự lãnh đạo của TW Cục miền Nam, Khu ủy VI trong phong trào chống, phá ACL của quân dân các tỉnh duyên hải Nam Trung Bộ có thể kể đến công trình
Miền Nam giữ vững thành đồng của Trần Văn Giàu (được in lại trong Tổng tập
Trần Văn Giàu (2006), Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội) Công trình này đã dành một phần nói về một số vấn đề liên quan đến ACL, đường lối chỉ đạo của TW Cục miền Nam, phương cách quân dân miền Nam chống chính quyền và quân đội VNCH càn quét, dồn dân, lập ACL Công trình cho thấy:
“Đấu tranh chống phá ấp chiến lược là một cuộc đấu tranh hết sức phức tạp
và hết sức gay go, gồm các hình thức quân sự, chính trị và binh vận Đồng bào miền Nam tổng hợp các hình thức đó lại trong khái niệm “ba mũi giáp công” … Một điều đáng chú ý là phong trào chống gom dân, phá ấp chiến lược tuy quyết liệt, thường là đẫm máu nhưng không phải vì thế mà huy động
ít người hơn trước; trái lại, phong trào đã đoàn kết được rộng rãi hơn trước, chẳng những huy động được nông dân mà còn lôi cuốn được cả những người thuộc tầng lớp trên tham gia” [67]
Cuốn Chung một bóng cờ (Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, tái bản năm
2015) do Trần Bạch Đằng chủ biên, đã minh chứng rõ nét về vai trò lãnh đạo của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, sự sáng tạo của phương châm “hai chân, ba mũi”, góp phần tích cực trong việc đánh bại
“Chiến tranh đặc biệt” của Mỹ ở miền Nam Trong công trình này, có bài viết của Nguyễn Phụng Minh - nguyên Khu ủy viên Khu V, đã khái quát những nét chính về cuộc kháng chiến của quân dân Khu V, trong đó có phong trào chống, phá ACL ở các tỉnh duyên hải Nam Trung Bộ (1961 – 1965) [63]
Nhóm các công trình nghiên cứu chuyên sâu về cuộc kháng chiến chống Mỹ
ở Nam Trung Bộ có đề cập đến phong trào chống, phá ACL có thể kể đến các công
trình lịch sử Khu VI (Cực Nam Trung Bộ - Nam Tây Nguyên) kháng chiến chống
Mỹ (1954 – 1975), (Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1995) Công trình đã khắc họa
rõ nét cuộc chiến đấu đầy khó khăn gian khổ của quân và dân Khu VI trong kháng chiến chống Mỹ Trong công trình này cũng đã dành một phần nêu bật quá trình đấu tranh chống, phá ACL của quân dân Khu VI Qua đó khẳng định phong trào đã góp
Trang 2314
phần cùng toàn Miền đánh bại chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” của Mỹ [56]
Về phong trào chống “bình định”, Hà Minh Hồng với công trình Nam Bộ
(1945 – 1975) - Những góc nhìn từ lịch sử chiến tranh cách mạng (Nxb Đại học
Quốc gia TP Hồ Chí Minh, 2008) đã đưa ra một số nhận xét về những nét nổi bật trong phong trào chống, phá ACL:
“Phong trào chiến tranh du kích phát triển rộng khắp, cách đánh thì vô cùng phong phú sáng tạo, một biểu hiện rõ rệt nhất của việc phong trào đã đi vào quần chúng, thật sự là phong trào quần chúng Chống phá ấp chiến lược ở nông thôn còn kết hợp chặt chẽ với đấu tranh ở thành thị, phong trào ở đô thị
có những cao trào dồn dập diễn ra ngay các sào huyệt của địch, tạo thuận lợi không nhỏ cho nông thôn chống phá ấp chiến lược hiệu quả” [77, tr.57]
Công trình Lịch sử phong trào đấu tranh chống phá bình định trong kháng
chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 – 1975) do Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam tổ
chức biên soạn, gồm 4 tập (Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2015); trong đó Tập 2
do tác giả Nguyễn Huy Thục chủ biên, đã tập trung nghiên cứu nhiều vấn đề liên quan đến phong trào chống, phá ACL ở miền Nam trong giai đoạn 1961 – 1965, trong đó có các tỉnh duyên hải Nam Trung Bộ Qua công trình này cho thấy tiến công quân sự và nổi dậy của quần chúng có mối quan hệ chặt chẽ về điều kiện, gắn
bó, thúc đẩy lẫn nhau trong cuộc đấu tranh chống phá bình định của Mỹ và chính quyền VNCH ở miền Nam Thắng lợi quân sự càng lớn thì đấu tranh chống, phá ACL và thế kìm kẹp của địch ở các địa phương càng thu được nhiều kết quả … và chính từ thực tế chiến đấu cam go, sinh tử đó, phương châm “bốn bám”, phương thức kết hợp “hai chân”, “ba mũi” trong đấu tranh chống bình định, phá ACL, giải phóng dân, giữ vững và mở rộng địa bàn giải phóng được hình thành [53]
Viện Sử học (2017), Lịch sử Việt Nam, (tái bản lần thứ nhất), Nxb Khoa học
Xã hội, Hà Nội Bộ sách gồm 15 tập, trình bày lịch sử Việt Nam từ khởi thủy đến năm 2000, trong đó, phần lịch sử kháng chiến chống Mỹ, cứu nước được trình bày khá toàn diện ở Tập 12 (từ năm 1954 đến năm 1965) Trong giai đoạn 1954 – 1965, công trình đã nêu bật một số chủ trương chống phá bình định của Đảng Phân tích
và làm rõ âm mưu, thủ đoạn của Mỹ và chính quyền VNCH; đồng thời điểm qua
Trang 2415
một số phong trào đấu tranh tiêu biểu của nhân dân miền Nam, trong đó có phong trào chống, phá ấp chiến lược (1961 – 1965) [146]
Công trình Lịch sử Nam Bộ kháng chiến (Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội,
2010) của Hội đồng Ban Chỉ đạo biên soạn Lịch sử Nam Bộ kháng chiến là công trình được biên soạn công phu và tương đối hoàn chỉnh về các giai đoạn của cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ ở vùng đất Nam Bộ Trong công trình này, tập thể tác giả có đề cập đến phong trào chống, phá ACL trên toàn miền Nam với nhiều sự kiện phong phú, trong đó có địa bàn Nam Trung Bộ [72] Những sự kiện lịch sử trong công trình này là phương tiện tra cứu quan trọng trong việc nghiên cứu phong trào chống, phá ACL ở Nam Trung Bộ Đây là một công trình quý giá mà tác giả tham khảo cả về sự kiện, nội dung và phương pháp luận khi thực hiện luận án của mình
Công trình Chiến tranh nhân dân địa phương trong cuộc kháng chiến chống
Mỹ, cứu nước 1954 – 1975 (Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1997) của Bộ Quốc
phòng, trong đó có chuyên đề: Chống phá bình định giành dân và giữ dân trên địa
bàn Khu V đã phản ánh rõ nét phong trào đấu tranh sôi nổi của quân dân Khu V
chống lại âm mưu càn quét, lấn chiếm, dồn dân lập khu dinh điền, khu trù mật, ấp chiến lược, ấp tân sinh của Mỹ và chính quyền VNCH Nội dung công trình cũng cho thấy lúc đầu phong trào có tính chất tự phát, sau đó có sự lãnh đạo chặt chẽ của
TW Đảng, Đảng bộ các địa phương nên phong trào đã phát triển mạnh mẽ, quyết liệt và trở thành một phong trào đấu tranh rộng khắp trên tất cả các địa bàn trọng điểm của Khu V, giành được nhiều thắng lợi [54]
Các công trình nghiên cứu chuyên sâu về ACL có thể kể đến các công trình đang được lưu giữ tại Học viện Hành chính Quốc gia (cơ sở Tp Hồ Chí Minh) Đó
là các luận văn khoa học của học viên Học viện Hành chính Quốc gia Việt Nam
Cộng hòa về ACL như: Luận văn tốt nghiệp Ban Đốc sự “Quốc sách ấp chiến lược
trong công cuộc phát triển kinh tế Quốc gia” của tác giả Nguyễn Viết Danh (Học
viện Quốc gia Hành chánh, 1963) [64] và luận văn tốt nghiệp Cao học hành chánh:
“Thử lượng giá các cuộc cải tổ hành chánh xã ấp từ năm 1964 đến nay” của tác giả
Võ Văn Phận (Học viện Quốc gia Hành chánh, 1969) [92] Đây là những luận văn
Trang 2516
đầu tiên nghiên cứu về “quốc sách ấp chiến lược” và những cải tổ hành chánh xã
ấp thời VNCH Các công trình trên đã cung cấp cho tác giả luận án có góc nhìn đa
chiều về “quốc sách ấp chiến lược”
Công trình Đảng lãnh đạo cuộc đấu tranh chống phá “quốc sách” ấp chiến
lược của Mỹ - ngụy ở miền Nam Việt Nam (1961 – 1965) của Trần Thị Thu Hương
(Nxb CTQG, Hà Nội, 2003) đã phản ánh một cách chân thật, sinh động cuộc đấu tranh đầy khó khăn, ác liệt của quân và dân miền Nam chống lại âm mưu thủ đoạn thâm độc, xảo quyệt của Mỹ và chính quyền VNCH trong quá trình thực thi chương trình ACL trên toàn miền Nam Công trình phát triển từ luận án thuộc mã ngành Lịch sử Đảng nên chủ yếu tập trung làm rõ vai trò lãnh đạo, chỉ đạo nhạy bén, sáng tạo và linh hoạt của TW Đảng, TW Cục và Đảng bộ các địa phương ở miền Nam đối với phong trào; Hơn nữa không gian là cả miền Nam nên chưa có điều kiện phản ánh quá trình hình thành, phát triển cũng như đánh giá vai trò của phong trào chống, phá ACL ở các tỉnh duyên hải Nam Trung Bộ một cách đầy đủ [78]
Công trình Phong trào đấu tranh chống phá ấp chiến lược (1963 – 1964) của
Nguyễn Công Thục (Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2006) Bằng những nguồn sử liệu phong phú, tác giả đã làm sáng tỏ quá trình đấu tranh chống, phá ACL của quân dân miền Nam trong những năm 1963 – 1964 và rút ra một số nguyên nhân thắng lợi, bài học kinh nghiệm về xây dựng cơ sở Đảng và quần chúng, lực lượng, phương thức tiến hành đấu tranh của phong trào chống, phá ACL ở miền Nam [128] Tuy nhiên, do phạm vi nghiên cứu là cả miền Nam nên công trình chưa có điều kiện phản ánh chi tiết phong trào chống, phá ACL ở các tỉnh duyên hải Nam Trung Bộ
Tác giả luận án đã kế thừa và phát triển có chọn lọc những công trình chuyên khảo của hai tác giả trên để nghiên cứu làm sáng tỏ hơn phong trào chống, phá ACL
ở các tỉnh duyên hải Nam Trung Bộ trong giai đoạn từ năm 1961 đến năm 1965
Trong nghiên cứu về phong trào chống, phá ấp chiến lược ở từng vùng miền
cụ thể có thể kể đến luận án Tiến sĩ Sử học “Phong trào đấu tranh chống, phá ấp
chiến lược ở miền Đông Nam Bộ (1961 – 1965) của tác giả Huỳnh Thị Liêm (2006)
Luận án đã phục dựng có hệ thống và tương đối toàn diện về phong trào chống, phá ACL quyết liệt, mạnh mẽ, rộng khắp của quân và dân miền Đông Nam Bộ trong
Trang 2617
giai đoạn từ năm 1961 đến năm 1965 Luận án đã phân tích và rút ra những bài học kinh nghiệm quý báu về phát huy sức mạnh tổng hợp của chiến tranh nhân dân, coi trọng công tác xây dựng đội ngũ cán bộ đảng viên trung kiên, vấn đề giành và giữ dân nhằm khơi dậy sức mạnh của phong trào quần chúng yêu nước chống, phá ấp chiến lược [80]
Gần đây nhất, Phạm Đức Thuận (2017) đã hoàn thành luận án Tiến sĩ với
nhan đề: Phong trào đấu tranh chống phá ấp chiến lược ở miền Tây Nam Bộ (1961
– 1965) Luận án cũng đã cung cấp cho người đọc bức tranh tổng thể về phong trào
chống, phá ACL ở vùng đồng bằng sông Cửu Long Luận án đã phân tích những chủ trương đúng đắn của Đảng bộ các địa phương trong việc đề ra các biện pháp đấu tranh đúng đắn trên cơ sở xác định đúng âm mưu và thủ đoạn của kẻ thù, phát huy có hiệu quả sức mạnh tổng hợp của ba mũi giáp công, sử dụng nhiều cách đánh sáng tạo, đoàn kết với các dân tộc trên địa bàn miền Tây Nam Bộ, góp phần đánh bại chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” của Mỹ - chính quyền VNCH [129]
Nghiên cứu về ACL được công bố trên các Tạp chí khoa học Tiêu biểu,
tháng 07 – 1963, Duy Nghĩa có bài viết “Ấp chiến lược, trại tập trung dân và cứ
điểm quân sự của Mỹ - Diệm” đăng trong Tạp chí Học tập Bài viết đã phân tích rõ
âm mưu và khái quát một số nội dung cơ bản kế hoạch xây dựng chương trình ACL
và lên án hành động dồn dân lập ACL của Mỹ và chính quyền VNCH [86] Tác giả
Phạm Quang Toàn với bài viết “Hậu quả 20 năm bình định tàn bạo và thâm độc
của Mỹ ngụy đối với nông thôn miền Nam Việt Nam” (Tạp chí Nghiên cứu lịch sử,
số 171, 1976) đã trình bày rõ nét các chính sách bình định nông thôn của Mỹ và chính quyền VNCH ở miền Nam, trong đó có đề cập đến việc xây dựng ACL [131]
Nguyễn Công Thục với bài “Ấp chiến lược, một biện pháp bình định chủ yếu
trong “Chiến tranh đặc biệt” của Mỹ ở miền Nam” (Tạp chí Lịch sử quân sự, 04 –
1999) [127, tr.27-31] Vũ Thúy Hiền có bài viết “Phụ nữ Việt Nam tham gia đấu
tranh chống chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” của đế quốc Mỹ 1961 – 1965” được
đăng trong Tạp chí Lịch sử Đảng tháng 07 – 2000 [70] Các bài viết nêu trên đều
làm rõ âm mưu của Mỹ và chính quyền VNCH trong việc dồn dân lập ACL, những
nỗ lực nhằm thực hiện cho bằng được “quốc sách” ACL, đồng thời cũng làm rõ vai
Trang 2718
trò lãnh đạo kịp thời, nhạy bén của TW Đảng, TW Cục miền Nam trong việc phát động quân dân miền Nam đấu tranh chống, phá ACL, góp phần làm thất bại chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” của Mỹ
Tóm lại, qua kết quả nghiên cứu của các công trình trên, nhiều vấn đề quan trọng về chương trình ACL của Mỹ và chính quyền VNCH, các Nghị quyết và Chỉ thị của TW Đảng, TW Cục miền Nam, các Khu ủy lãnh đạo phong trào chống, phá ACL… đã được đề cập cơ bản Những công trình trên cũng giúp cho tác giả luận án
có cách nhìn toàn diện về phong trào chống, phá ACL ở miền Nam cũng như có cơ
sở để so sánh, đối chiếu những điểm giống và khác nhau giữa phong trào chống, phá ACL ở các tỉnh duyên hải Nam Trung Bộ với phong trào ở các vùng khác
* Ngoài nước
Chiến tranh Việt Nam (1954 – 1975) và nhất là giai đoạn từ năm 1961 đến năm 1965, khi Mỹ và chính quyền VNCH thực hiện chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” ở miền Nam Việt Nam với trọng tâm là “quốc sách ấp chiến lược” đã được rất nhiều nhà nghiên cứu nước ngoài quan tâm Có thể kể đến một số công trình nghiên cứu tiêu biểu sau:
Trong Bản báo cáo của Lầu Năm Góc với nhan đề The Strategic Hamlet
Program 1961 – 1963 tạm dịch là Chương trình ấp chiến lược 1961 – 1963 (Boston,
1971) đã đề cập tương đối đầy đủ về các nguồn viện trợ, về âm mưu, quá trình tổ chức, thực hiện quốc sách ACL của Mỹ Bản báo cáo cho thấy rõ mục đích, vai trò của ACL; đó là:
“Chương trình ấp chiến lược có ý nghĩa rộng lớn hơn nhiều so với việc xây dựng các ấp chiến lược cho nông dân gia nhập Nó có vai trò loại bỏ những phần tử nổi loạn từ một khu vực và bảo vệ dân chúng ở nông thôn, tiến triển thông qua việc thành lập các cơ sở hạ tầng và từ đó dẫn đến việc cung cấp các dịch vụ mà qua đó nông dân xác định sẽ trung thành với chính phủ của họ Các chương trình ấp chiến lược trong ngắn hạn là một nỗ lực của chiến lược chống nổi dậy Mục tiêu là chính trị mặc dù các phương tiện để thực hiện nó là một hỗn hợp của quân sự, biện pháp kinh tế và chính trị tâm lý xã hội” [155]
Robert Thompson (1989) - người được xem là chuyên gia quân sự hàng đầu
Trang 2819
trong chương trình bình định nông thôn của Anh và Mỹ và cũng chính là người trực tiếp thi hành các kế hoạch chống nổi dậy ở nông thôn Malaysia hiệu quả, đã xuất
bản hai công trình quan trọng về ấp chiến lược với nhan đề: Make for the Hills:
Memories of Far Eastern Wars - No Exit From Vietnam (Leo Cooper, London), tạm
dịch là Nhớ về cuộc chiến tranh ở phương Đông - Cuộc chiến không lối thoát ở Việt
Nam [153] và công trình Defeating communist insurgency: The lesson of Malaysia and Vietnam (tạm dịch là Đánh bại sự nổi dậy của cộng sản: Bài học của Malaysia
và Việt Nam) Chatto & Windus Press, London [152] Với hai công trình này, tác giả
đã diễn giải về mục đích, cách thức cũng như quá trình xây dựng ACL ở Malaysia
và miền Nam Việt Nam trong “cái nhìn đối sánh” Từ đó chỉ ra nguyên nhân thất bại của chương trình ACL ở miền Nam Việt Nam trong giai đoạn “Chiến tranh đặc biệt” Tuy nhiên, do góc nhìn phiến diện nên tác giả cho rằng sự thất bại của chương trình ACL ở Việt Nam chủ yếu là do vai trò của cố vấn chính trị Ngô Đình Nhu, đã phạm phải những sai lầm hết sức nghiêm trọng như quá “nôn nóng” trong
việc thực hiện chương trình này nên “đã áp đặt kiểm soát chính trị từ trên xuống
chứ không phải giành được sự ủng hộ từ dân chúng,… quá đề cao vai trò của Thanh niên Cộng hòa gây nên sự xung đột giữa hai thế hệ già trẻ trong cộng đồng,…không hiểu được nguy cơ ngày càng tăng của Cộng sản” Ngoài ra, R
Thompson còn mắc sai lầm trong việc lấy “chương trình ấp chiến lược” ở Malaysia làm khuôn mẫu áp dụng ở miền Nam Việt Nam vì cuộc đấu tranh của những người cộng sản ở Malaysia phần lớn các nhóm là người gốc Hoa nên có thể phân biệt với người Malaysia bản địa bên trong ACL, trong khi đó ở nông thôn miền Nam Việt Nam thì không thể phân biệt đâu là những người cộng sản, đâu là những người
nông dân đơn thuần
Cuốn In Retrospect: The Tragedy and Lessons of Vietnam của cựu Bộ trưởng
Quốc phòng Mỹ Robert S McNamara được Hồ Chính Hạnh, Huy Bình, Thu Thủy,
Minh Nga dịch sang tiếng Việt với nhan đề: Nhìn lại quá khứ, tấn thảm kịch và những
bài học về Việt Nam (Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1995) Trong cuốn sách này,
McNamara đã thừa nhận sự sai lầm của chính quyền Mỹ trong việc thực hiện chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” ở Việt Nam trong giai đoạn từ năm 1961 đến năm 1965 và
Trang 2920
ông cho rằng sự thất bại của Mỹ ở miền Nam Việt Nam là do chính quyền Mỹ đánh giá
thấp sức mạnh của chủ nghĩa dân tộc, thúc đẩy một dân tộc đấu tranh và hy sinh cho lý tưởng và các giá trị của nó; sự thiếu hiểu biết cơ bản về lịch sử, văn hóa, chính trị về một dân tộc có truyền thống kiên cường, bất khuất trong quá trình đấu tranh dựng nước
và giữ nước [123]
Gabriel Kolko (1994), Anatomy of a War, Vietnam, the United States anh the
Modern Historical Experience, (The New Press, New York, 1985, tái bản năm
1994) Năm 2003, Nguyễn Tấn Cưu dịch sang tiếng Việt với nhan đề: Giải phẫu
một cuộc chiến tranh Công trình này đã đề cập một số vấn đề liên quan đến giai
đoạn 1961 – 1965 khi Mỹ và chính quyền VNCH thực hiện chiến lược “Chiến tranh
đặc biệt” với “quốc sách ấp chiến lược” Công trình cho thấy chính quyền VNCH
muốn có một kết quả nhanh chóng nên huy động toàn bộ quân đội để ép tạo ra những ACL… Khi nhân dân không chịu vào ACL thì quân đội VNCH dùng phi pháo để buộc họ phải chạy vào ấp để tránh Kết quả có thể thấy trước được đó là việc những người đến tuổi nhập ngũ trốn ra ngoài để tham gia các lực lượng của Mặt trận; đó là một làn sóng bất bình rộng lớn, lần này vượt quá các vấn đề ruộng đất để đòi quyền
sở hữu và đòi một xã hội nông thôn ổn định [69, tr.160-161]
Công trình nghiên cứu của Gabriel Kolko đã phân tích rất nhiều các khía cạnh của cuộc chiến tranh Những nhận xét, đánh giá của tác giả về việc dồn dân lập ACL của chính quyền VNCH đã cung cấp cho người đọc những kiến giải mới mẻ, thực chất về “quốc sách” này và nêu ra được phần nào nguyên nhân thất bại của nó
Công trình nghiên cứu của Neil Sheehan, A Bright Shining Lie - John Paul
Vann and America in Vietnam được xuất bản năm 1988, dịch giả Đoàn Doãn dịch
với nhan đề: Sự lừa dối hào nhoáng - John Paul Vann và nước Mỹ ở Việt Nam (Nxb
Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2003) Là người trong cuộc, tác giả đã có những nhận xét xác đáng về thái độ của nông dân miền Nam đối với ACL:
“Có hai nhóm nông dân căm tức Trước hết là những người buộc phải di chuyển để tách khỏi Việt Cộng, phải tự mình xây dựng nhà trong ấp mới, những ngôi nhà kém xa nhà cũ, sau đó lại bị bom và napalm thiêu trụi… Nạn dịch tha hóa tham nhũng của chế độ càng làm dân chúng nặng gánh Những
Trang 3021
người có trách nhiệm ở địa phương bán lại cho nông dân những tấm tôn và vật liệu mà lẽ ra Hoa Kỳ cho không họ Nhóm nông dân thứ hai gồm những người vẫn giữ được nhà ở nhưng bây giờ phải sống chung trong thôn ấp đông dân…” [84] Cả hai nhóm nông dân này cùng căm phẫn với chính
quyền VNCH vì bắt họ phải làm những ngày lao động nghĩa vụ dài ngày để đào hầm hố, chôn cột giăng dây thép gai, dựng chỗ ở cho cảnh sát, chặt tre vót nhọn làm chông Trong khi đó, những nông dân giàu có lo lót để được
miễn làm việc, càng dồn gánh nặng lên những người nghèo
Đồng thời tác giả cũng thừa nhận:
“Nếu ở lại Việt Nam chúng ta phải trả giá gánh nặng thường xuyên về tài chính Nhất là chúng ta đã nhức nhối dai dẳng bởi vết thương tinh thần khi
cố thống trị một dân tộc không bao giờ chấp nhận chúng ta Người Việt Nam chẳng bao giờ chấp nhận một sự thống trị nào hết của nước ngoài Lịch sử chứng tỏ họ không ngừng chiến thắng, đẩy lùi quân xâm lược dù là người Trung Hoa, Mông Cổ, Mãn Châu, Pháp và dĩ nhiên cả người Mỹ” [84]
Với kinh nghiệm thực tế trên chiến trường, tác giả đã cho người đọc nhận thức được bản chất thật sự về cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam của Mỹ, nhất là trong giai đoạn từ năm 1961 đến năm 1965 với sự thất bại của chương trình ACL Đồng thời tác giả cũng chỉ ra sự bất tài, tham nhũng của quan chức chính quyền VNCH, sự bi quan của Mỹ trong việc thực hiện chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” và ý chí kiên cường, bất khuất trong các cuộc kháng chiến chống ngoại xâm của nhân dân Việt Nam
Nguyên Giám đốc CIA William Colby - người đầu tiên vạch ra chương trình ACL ở miền Nam Việt Nam, đã thực hiện thí điểm ACL ở Buôn Ênao, một buôn nhỏ cách Buôn Ma Thuột khoảng mười kilômét, đã xuất bản cuốn sách với nhan đề
Một chiến thắng bị bỏ lỡ (Nguyễn Huy Cầu dịch, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội,
2007) đã nêu lên sự bất cập về mục đích và phương thức lập ACL:
“Chương trình này do Nhu đích thân chỉ đạo chính thức và chịu trách nhiệm trong thực hiện Để đưa nó ra, ông triệu tập các quan chức cao cấp về hành chính và quân sự các cấp đến dự những cuộc thảo luận bất tận, trong đó ông giải thích cho họ về những căn cứ chính trị và trừu tượng của khái niệm Run
Trang 31với sự thất bại nặng nề của chính quyền VNCH trong việc dồn dân lập ACL
Khi phân tích sự thất bại của Mỹ tại miền Nam Việt Nam trong giai đoạn
1954 – 1963, Edward Miller trong công trình Misalliance: Ngo Dinh Diem, the
United States and the Fate of South Vietnam, do Minh Thu, Trọng Minh, Kim Thoa
dịch với nhan đề: Liên minh sai lầm: Ngô Đình Diệm, Mỹ và số phận Nam Việt
Nam (Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2016) đã dựa trên quan điểm, lập trường và
những nguồn tư liệu khai thác được, ông đã phác họa rõ nét và đa chiều về sự bất đồng, xung đột giữa Mỹ với Ngô Đình Diệm trong giai đoạn 1954 – 1963 Trong đó chỉ ra rằng:
“Trong những tháng cuối năm 1961, Nhu bắt đầu tổng hợp những nghiền ngẫm lý thuyết của mình thành một sáng kiến mới và quan trọng của Việt Nam Cộng hòa có tên gọi Chương trình ấp chiến lược… Quan điểm của Nhu coi ấp chiến lược như một “hệ thống phòng thủ thu nhỏ”, là một sự khởi đầu quan trọng trong quan điểm chính thức của Việt Nam Cộng hòa về hoạt động chống nổi dậy và cải cách điền địa Bằng việc tổ chức để người dân nông thôn tự bảo vệ mình, Chương trình ấp chiến lược còn hướng tới các mục tiêu vượt ra ngoài phạm vi những biện pháp kiểm soát dân mà các chính phủ trước đây đã dựa vào… Diệm và Nhu một mực cho rằng, Chương trình
ấp chiến lược không chỉ đơn thuần là một chiến lược quân sự, mà còn là phương tiện để đi đến mục tiêu cuối cùng là hiện thực hóa cuộc cách mạng nhân vị đã hứa hẹn từ lâu” [66, tr.315-319]
Qua công trình nghiên cứu của mình, ông đã cho người đọc thấy rõ vai trò của người Mỹ trong việc thực hiện chương trình ACL, quan điểm của anh em Diệm
- Nhu về viện trợ Mỹ, từ đó phản ánh một cách chân thật mối quan hệ đầy thăng
Trang 3223
trầm giữa Mỹ với chính quyền Diệm và cả số phận chính quyền VNCH, dẫn đến sự sụp đổ của chính quyền Ngô Đình Diệm vào ngày 01 – 11 – 1963
Công trình America’s Longest War: The United States and Vietnam, 1950 –
1975 của George C Herring (Nxb Mc Graw-Hill, New York) đã được Phạm Ngọc
Thạch dịch với nhan đề: Cuộc chiến tranh dài ngày nhất của nước Mỹ (1950 – 1975)
với 4 lần tái bản tại nước Mỹ Tác giả đã nói lên góc nhìn của mình về ACL:
“Các ấp chiến lược ở Việt Nam bị dựng lên để chống lại chính người dân, những người đã sống ở các làng mạc với nhiều thế hệ… Mỹ đã chi rất nhiều tiền để tổ chức các dịch vụ tại các ấp chiến lược, nhưng do bất lực hoặc tham nhũng, phần lớn số tiền này không đến đúng địa chỉ Chính quyền Việt Nam Cộng hòa thiếu những người có năng lực để làm việc theo chương trình
và nhiều quan chức bất tài và tham nhũng lại đại diện cho chương trình ở cấp xã Trong mọi tình huống, Diệm và Nhu coi chương trình này chủ yếu là biện pháp để mở rộng kiểm soát đối với vùng nông thôn…” [58]
Qua công trình này, George C Herring đã cung cấp nguồn sử liệu phong phú
về việc Mỹ và chính quyền VNCH đã bỏ nhiều công sức, tiền của để thực hiện chương trình ACL, từ đó, người đọc có thể hình dung được quá trình thiết lập ACL
và bản chất thật sự của ACL Theo ông, chính sự độc tài, hoang tưởng, tự cao, tự đại, đi ngược lại với những giá trị truyền thống dân tộc Việt Nam của Mỹ và anh em
Diệm – Nhu; sự bất tài, tham nhũng của các quan chức chính quyền VNCH là
nguyên nhân chính làm cho chương trình ACL thất bại
Trong luận văn Thạc sĩ khoa học quân sự của James M Higgin với đề tài
The Misapplication of the Malayan Counterinsurgency Model to the Strategic Hamlet Program (Sai lầm của chiến lược chống nổi dậy của người Malaya trong chương trình ấp chiến lược) (Đại học Massachusetts, 1989) khi liên hệ với ACL ở
Việt Nam, tác giả nhận xét:
“Diệm, người Mỹ và người Anh không bao giờ có thể giành chiến thắng trong dân cư nông thôn với sự nghiệp này Điều đó có nghĩa là Việt Cộng đã nắm giữ các sáng kiến về xây dựng nông thôn chiến đấu và nông dân nông thôn Việt Nam không đứng về chính quyền Diệm Các chương trình ấp chiến
Trang 3324
lược sẽ không dẫn đến việc thiết lập các “vùng trắng” ở Việt Nam như đã xảy ra ở Malaysia” [150, tr.82]
Trong luận văn Thạc sĩ Khoa học và Công nghệ của Peter Francis Lealy1 tại
Trường Đại học New South Wales (Australia) với đề tài Why did the strategic
hamlet program fail?(Tại sao chương trình ấp chiến lược thất bại?), tác giả đã nêu
ra những nguyên nhân làm cho chương trình ACL của Mỹ và chính quyền VNCH thất bại như: Thiếu một kế hoạch và chương trình hoàn thiện; Thiếu tài nguyên và vật lực; Thời gian triển khai chương trình thiếu thực tế; Địa điểm và vị trí xây dựng ACL; Thiếu đánh giá đầy đủ và khách quan trong quá trình triển khai; Hạn chế ở các địa phương khi xây dựng ACL; Phản ứng của nông dân; Vai trò của Tổng thống Ngô Đình Diệm - một con người theo chủ nghĩa quốc gia, nhưng cũng là một vị quan phong kiến; Thiếu sự nỗ lực đoàn kết vì mục tiêu chung; Bộ máy điều hành không phù hợp với thực tiễn; Tác dụng của viện trợ Mỹ; Phản ứng của Việt cộng [151, tr.153-171] Do góc nhìn của mình, tác giả cho rằng những yếu kém về kế hoạch triển khai, tiền bạc cùng với những bất cập của bộ máy chính quyền VNCH
là nguyên nhân cơ bản dẫn đến sự thất bại của chương trình ACL
Công trình Vietnam – A History (Việt Nam – một câu chuyện lịch sử), (The Viking Press, New Youk, 1983) của nhà báo Stanley Karnow – chuyên viết về chiến tranh Việt Nam, đã chỉ rõ thực trạng của ACL:
“Trong thực tế, nó là một thảm họa…người nông dân đã bị buộc phải ra khỏi làng của họ, nơi có nguồn gốc và phần mộ của tổ tiên và thế là mô hình
xã hội truyền thống của họ bị gián đoạn, vì lý do họ không thể hiểu được Tệ hơn nữa, hai mươi ngàn nông dân đã được huy động để xây dựng một dự án
mà chỉ có thể phục vụ khoảng sáu ngàn người Như vậy, mười bốn ngàn người đàn ông và phụ nữ đã bị buộc phải từ bỏ các loại cây trồng và công việc của họ mà không được trả công xứng đáng” [154]
Nhìn chung, hầu hết những công trình nghiên cứu của các tác giả nước ngoài
đã phản ánh rõ nét âm mưu, thủ đoạn của Mỹ và chính quyền VNCH trong việc thực hiện chương trình ACL Qua đó, các tác giả muốn phản ánh sự phi nghĩa của
1 Peter Francis Lealy hiện nay là Giáo sư tại Trường Đại học Canberra, nguyên là Trung tướng chỉ huy trưởng Quân đội Hoàng gia Australia từ năm 2002 đến năm 2008
Trang 3425
cuộc chiến tranh ở Việt Nam do người Mỹ gây ra và rút ra bài học cảnh tỉnh cho người Mỹ về việc phải tôn trọng các nền văn hoá của mỗi quốc gia, dân tộc khi âm mưu thống trị toàn cầu Những công trình này tuy có nhiều quan điểm, cách nhìn nhận, phân tích, đánh giá khác nhau nhưng những dữ liệu mà các nhà nghiên cứu sử dụng ở bên ngoài Việt Nam đã cung cấp cho giới nghiên cứu lịch sử chiến tranh Việt Nam một cái nhìn khách quan, toàn diện, đầy đủ hơn về giai đoạn quân và dân miền Nam chiến đấu chống chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” của Mỹ và chính quyền VNCH với trọng tâm là “quốc sách ấp chiến lược”
1.2.2 Nhóm các công trình nghiên cứu đề cập có đến phong trào chống, phá ấp chiến lƣợc ở các tỉnh duyên hải Nam Trung Bộ
Bộ Tư lệnh Quân khu V đã biên soạn và xuất bản công trình Khu V, 30 năm
chiến tranh giải phóng gồm 3 tập (Bộ Tư lệnh Quân khu V, 1989) Công trình đã tái
hiện khá rõ nét các giai đoạn lịch sử chiến tranh cách mạng ở Khu V; đồng thời công trình đã nêu bật vai trò lãnh đạo của Khu ủy V trong việc đưa phong trào cách mạng phát triển từ thấp lên cao, từ chiến tranh du kích tiến lên tác chiến tập trung với quy mô lớn và giành nhiều chiến thắng quan trọng Phong trào chống, phá ACL trong giai đoạn 1961 – 1965 được đề cập trong Tập 2 (1989) Trong tập này đã đưa
ra một số đánh giá khái quát về ưu điểm và hạn chế của phong trào đấu tranh chống phá bình định trên địa bàn nói chung, phong trào chống, phá ACL nói riêng Về hạn chế, công trình chỉ rõ khuyết điểm của ta lúc đầu phá ACL là không dựa vào dân nên không thành công Bộ đội và du kích về phá ACL, chúng bắt dân làm lại Một vấn đề được rút ra là chỉ có nhân dân được Đảng Lao động Việt Nam phát động,
đoàn kết đứng lên, có sự hỗ trợ của lực lượng vũ trang mới phá được ACL [55]
Hai công trình quan trọng liên quan trực tiếp đến phong trào chống, phá ACL
ở các tỉnh duyên hải Nam Trung Bộ là công trình Nam Trung Bộ kháng chiến (1945
– 1975) của Viện Lịch sử Đảng (Nxb Chính trị Quốc gia, 1995) [73] và Lịch sử Khu
VI - (Cực Nam Trung Bộ - Nam Tây Nguyên) kháng chiến chống Mỹ, 1954 – 1975
của Bộ Tư lệnh Quân khu V (Nxb Quân đội nhân dân, 1995) [56] Những công trình này đã trình bày có hệ thống quá trình quân và dân các tỉnh duyên hải Nam Trung Bộ kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 – 1975); Các tác giả đã nêu bật
Trang 3526
được quá trình đấu tranh kiên cường, bất khuất của quân và dân các tỉnh duyên hải Nam Trung Bộ trên các mặt quân sự, chính trị và binh vận, trong đó có phong trào chống, phá ACL Trong hai công trình này, các tác giả đã khẳng định đế quốc Mỹ
và tay sai tiến hành chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” với kế hoạch dồn dân lập ACL rất tàn bạo, Nhưng nhờ có đường lối đúng đắn của Đảng đã phát huy được sức mạnh tổng hợp của quân và dân ta trên cả ba vùng (rừng núi, đồng bằng, đô thị), lại được sự chi viện quan trọng của TW Đảng và miền Bắc, quân và dân các tỉnh duyên hải Nam Trung Bộ vượt qua khó khăn, chiến đấu ngoan cường, đẩy địch lùi từng bước, cùng toàn miền Nam đánh bại chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” của địch
Cả hai công trình này đều nêu bật được sự chỉ đạo của Quân Khu ủy VI đối với phong trào chống, phá ACL, đó là cần phải tập trung mọi lực lượng, liên tục tổ chức tiến công phá ACL, mở rộng vùng căn cứ giải phóng, tiêu hao, tiêu diệt sinh lực địch, nỗ lực xây dựng lực lượng ta về mọi mặt Trong đánh phá ACL phải dùng
cả ba thứ quân kết hợp chặt chẽ với đấu tranh chính trị và binh vận
Trong những công trình này, các tác giả đã phần nào tái hiện phong trào chống, phá ACL ở các tỉnh duyên hải Nam Trung Bộ với nhiều hình thức đấu tranh phong phú, đa dạng
Vấn đề chống, phá ACL còn được thể hiện trong các công trình lịch sử
kháng chiến của các tỉnh duyên hải Nam Trung Bộ như: Lịch sử Đảng bộ Quảng
Nam – Đà Nẵng (1930 – 1975)[6]; Lịch sử Đảng bộ tỉnh Quảng Ngãi (1930 – 1975)[7]; Quảng Ngãi – lịch sử chiến tranh nhân dân 30 năm (1945 – 1975)[12]; Lịch sử Đảng bộ tỉnh Bình Định (1930 – 1975)[2]; Phú Yên – 30 năm chiến tranh giải phóng (1945 – 1975)[11]; Phú Yên kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 – 1975)[10]; Lịch sử Đảng bộ Khánh Hòa (1930 – 1975)[4]; Lịch sử Đảng bộ tỉnh Ninh Thuận (1930 – 1975)[5]; Lịch sử Đảng bộ tỉnh Bình Thuận (1930 – 1975)[3]… Nội dung chủ yếu của các công trình nghiên cứu trên đã phản ánh toàn
diện cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của quân và dân các tỉnh duyên hải Nam Trung Bộ dưới sự lãnh đạo của TW Đảng, TW Cục miền Nam, các Khu ủy V,
VI và của Tỉnh ủy các tỉnh Các công trình đã cung cấp nhiều tư liệu quan trọng về
Trang 3627
phong trào chống, phá ACL trong giai đoạn từ năm 1961 đến năm 1965 Đây cũng
là một kênh tham thảo quan trọng để nghiên cứu sinh tham khảo trong quá trình thực hiện luận án
Ngoài ra, nội dung về phong trào chống, phá ACL cũng đã được đề cập
nhiều trong các công trình nghiên cứu lịch sử các huyện, thị trên địa bàn như: Lịch
sử Đảng bộ huyện Thăng Bình, Lịch sử Đảng bộ thành phố Tam Kỳ (Quảng Nam), Lịch sử Đảng bộ huyện Sơn Tịnh, Lịch sử Đảng bộ huyện Mộ Đức, Lịch sử Đảng bộ huyện Đức Phổ (Quảng Ngãi), Lịch sử Đảng bộ huyện Hoài Nhơn, Lịch sử Đảng bộ thị xã An Nhơn, Lịch sử Đảng bộ huyện Phù Cát (Bình Định), Lịch sử Đảng bộ Thành phố Tuy Hòa, Lịch sử Đảng bộ huyện Sông Cầu (Phú Yên), Lịch sử Đảng huyện Diên Khánh, Lịch sử Đảng bộ huyện Ninh Hòa (Khánh Hòa)… Đây là những
nơi mà chính quyền VNCH lập nhiều ACL, nhất là các “ấp chiến lược kiểu mẫu” và cũng là nơi phong trào chống, phá ACL diễn ra một cách mạnh mẽ, quyết liệt nhất Những công trình nghiên cứu này cung cấp nguồn tư liệu phong phú về phong trào chống, phá ACL ở các địa phương vùng duyên hải Nam Trung Bộ
Tóm lại, các công trình nghiên cứu trên đều chưa nghiên cứu sâu và toàn diện
về phong trào chống, phá ACL ở các tỉnh duyên hải Nam Trung Bộ mà chỉ dừng lại ở mức độ phân tích từng sự kiện riêng lẻ ở mỗi địa phương trong toàn bộ cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 – 1975), chưa có sự liên kết chặt chẽ giữa các tỉnh
và cũng chưa làm rõ được những đặc điểm, ý nghĩa cũng như rút ra một số kinh nghiệm trong phong trào chống, phá ACL ở các tỉnh duyên hải Nam Trung Bộ Tuy nhiên, kết quả nghiên cứu là nguồn tư liệu tham khảo vô cùng quý giá, bổ ích cho tác giả trong việc thực hiện luận án của mình
1.3 NHẬN XÉT VỀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ LUẬN
ÁN CẦN TIẾP TỤC GIẢI QUYẾT
1.3.1 Kết quả nghiên cứu
Kết quả của các công trình nghiên cứu có liên quan trực tiếp và gián tiếp đến
đề tài của luận án là rất quan trọng, mà trước hết là cung cấp nguồn tư liệu quý giá
và vô cùng bổ ích cho tác giả trong quá trình thực hiện luận án của mình Trong
luận án “Phong trào chống, phá ấp chiến lƣợc ở các tỉnh duyên hải Nam Trung
Trang 3728
Bộ (1961 – 1965)”, tác giả đã có sự kế thừa những kết quả nghiên cứu của các nhà
khoa học đi trước một số nội dung sau:
- Phương pháp nghiên cứu về ấp chiến lược, phong trào chống, phá ấp chiến lược, có những tham chiếu thực tế, so sánh giữa các vùng
- Những vấn đề có tính lý luận của phong trào chống, phá ấp chiến lược như:
Sự chỉ đạo của TW Đảng, TW Cục miền Nam trong phong trào chống, phá ACL; bối cảnh lịch sử, sự vận dụng hiệu quả và sáng tạo của quân dân miền Nam với phương châm “bốn bám”, phương thức đấu tranh “hai chân, ba mũi” để chống, phá ACL trong “Chiến tranh đặc biệt” ở miền Nam Việt Nam
- Quá trình chống, phá ấp chiến lược tại các địa phương trên địa bàn Nam Trung Bộ
Với nguồn tư liệu phong phú về phong trào chống, phá ACL ở mỗi tỉnh có sự khác nhau, giúp tác giả có cái nhìn tổng quan để phân tích, so sánh, đối chiếu và rút
ra những đặc điểm riêng về phong trào chống, phá ACL ở các tỉnh duyên hải Nam Trung Bộ, từ đó đúc kết một số kinh nghiệm có thể kế thừa và vận dụng trong công cuộc xây dựng nông thôn mới theo hướng công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước hiện nay
1.3.2 Những vấn đề luận án tập trung nghiên cứu giải quyết
Từ kết quả nghiên cứu về ACL và phong trào chống, phá ACL ở miền Nam trong giai đoạn từ năm 1961 đến năm 1965, xuất phát từ yêu cầu mục tiêu và nhiệm
vụ của luận án, nhiều vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu để làm sáng tỏ trong luận án:
- Nghiên cứu một cách có hệ thống về âm mưu, thủ đoạn của Mỹ và chính quyền VNCH trong việc triển khai “chương trình ấp chiến lược” ở các tỉnh duyên hải Nam Trung Bộ
- Làm rõ vai trò lãnh đạo, chỉ đạo sáng tạo, linh hoạt, kịp thời của TW Đảng,
TW Cục miền Nam và các Khu ủy, Tỉnh ủy các địa phương đối với phong trào
chống, phá ACL ở các tỉnh duyên hải Nam Trung Bộ với phương châm “bốn bám”
(Đảng bám dân, dân bám đất, du kích và bộ đội bám địch, cấp trên bám cấp dưới),
phương thức đấu tranh kết hợp “hai chân” (quân sự, chính trị), “ba mũi” (quân sự,
chính trị, binh vận)
Trang 3829
- Tái hiện một cách khách quan, toàn diện, có hệ thống quá trình chống, phá ACL ở các tỉnh duyên hải Nam Trung Bộ từ năm 1961 đến năm 1965, làm rõ những thắng lợi và hạn chế của phong trào
- Đánh giá khách quan vai trò, khái quát những đặc điểm nổi bật của phong trào chống, phá ACL ở các tỉnh duyên hải Nam Trung Bộ, đặt trong “cái nhìn đối sánh” với các phong trào chống, phá ACL các địa phương khác ở miền Nam Việt Nam; rút ra một số kinh nghiệm có thể vận dụng trong công cuộc xây dựng và bảo
vệ Tổ quốc hiện nay
Trang 3930
Chương 2 PHONG TRÀO CHỐNG, PHÁ ẤP CHIẾN LƯỢC Ở CÁC TỈNH DUYÊN HẢI NAM TRUNG BỘ TỪ NĂM 1961 ĐẾN NĂM 1963
2.1 NHỮNG NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN PHONG TRÀO CHỐNG, PHÁ
ẤP CHIẾN LƯỢC Ở CÁC TỈNH DUYÊN HẢI NAM TRUNG BỘ
2.1.1 Điều kiện tự nhiên - xã hội
Theo phân vùng địa lý tự nhiên, vùng duyên hải Nam Trung Bộ bao gồm các tỉnh, thành phố sau: thành phố Đà Nẵng, các tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa, Ninh Thuận và Bình Thuận
Trong giai đoạn từ năm 1961 đến năm 1965, địa giới hành chính theo phân chia của chính quyền cách mạng thì vùng duyên hải Nam Trung Bộ bao gồm các tỉnh: Quảng
Đà, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa, Ninh Thuận và Bình Thuận
Dưới thời Việt Nam Cộng hòa, vùng duyên hải Nam Trung Bộ bao gồm các tỉnh: Quảng Nam – Đà Nẵng (từ năm 1962 là Quảng Nam, Quảng Tín), Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa, Ninh Thuận, Bình Thuận Từ năm 1961, các tỉnh duyên hải Nam Trung Bộ thuộc Vùng I và Vùng II chiến thuật, được chính quyền VNCH chia thành 3 Khu chiến thuật bao gồm: Khu chiến thuật 12 (sở chỉ huy đặt tại Tam Kỳ) gồm các tỉnh Quảng Ngãi, Quảng Tín và đặc khu Quảng Nam -
Đà Nẵng do Sư đoàn 2 phụ trách gọi là Bắc Trung Phần; Khu chiến thuật 22 (sở chỉ huy đặt tại Quy Nhơn) gồm các tỉnh Bình Định, Phú Yên, Phú Bổn do Sư đoàn 22 phụ trách và Khu chiến thuật 23 (sở chỉ huy đặt tại Buôn Ma Thuột) gồm các tỉnh Đắk Lắc, Tuyên Đức, Quảng Đức, Khánh Hòa, Lâm Đồng, Ninh Thuận, Bình Thuận do Sư đoàn 23 phụ trách gọi là Cao nguyên và duyên hải Nam Trung phần2
Về phía chính quyền cách mạng, từ năm 1961 đến năm 1965, theo chỉ thị của
2 Ngày 13 – 04 – 1961, Tổng thống VNCH Ngô Đình Diệm ký sắc lệnh số 98/QP thiết lập trên toàn lãnh thổ Việt Nam Cộng hòa thành 3 vùng chiến thuật gồm: Vùng I chiến thuật từ vĩ tuyến 17 đến hết tỉnh Quảng Ngãi; Vùng II chiến thuật gồm các tỉnh Tây Nguyên và Nam Trung Bộ; Vùng III chiến thuật gồm các tỉnh còn lại Từ ngày 27 – 11 – 1964, chính quyền VNCH lập Vùng IV chiến thuật gồm Khu chiến thuật Định Tường, Khu chiến thuật 41 và Khu chiến thuật 42
Trang 40ra biển chia cắt dải đồng bằng ven biển Bờ biển dốc khúc khuỷu tạo nên nhiều vũng vịnh nước sâu, nhiều bán đảo, quần đảo và đảo ven bờ Vì vậy, nơi đây rất thuận lợi cho việc phát triển mạnh ngư nghiệp, công nghiệp chế biến, thương nghiệp, dịch vụ Với vị trí địa lý và kinh tế như trên, vùng duyên hải Nam Trung
Bộ có ý nghĩa chiến lược trong giao lưu kinh tế và an ninh quốc phòng Địa bàn này được coi là cửa ngõ của Tây Nguyên, là cầu nối của Nam Bộ với các tỉnh phía Bắc, quan trọng hơn cả Nam Trung Bộ được xem là cơ sở hậu cần để khai thác kinh tế biển đảo và bảo vệ chủ quyền biển Đông Chính vì vậy mà ngay từ khi tiến hành chiến tranh xâm lược Việt Nam, Mỹ ra sức bình định nông thôn các tỉnh duyên hải Nam Trung Bộ nhằm kiểm soát vùng đất quan trọng này
Ở các tỉnh duyên hải Nam Trung Bộ, đất nông nghiệp thích hợp để trồng lúa, ngô, sắn, khoai, rau quả và một số cây công nghiệp có giá trị như: bông vải, mía đường; vùng đất rừng chân núi có điều kiện phát triển chăn nuôi gia súc lớn; diện tích rừng liền một khối với rừng Tây Nguyên với hơn 1,77 triệu ha; có hệ thống sông ngòi rất phong phú, chủ yếu bắt nguồn từ dãy Trương Sơn và đổ ra biển Đông như sông Hàn, sông Thu Bồn, sông Trà Khúc, sông Côn, sông Lại Giang, sông Đà Rằng, sông Cái,… Đây là những tuyến đường sông giữ vai trò quan trọng trong việc vận chuyển lương thực, vũ khí, nhân lực lên chiến trường Tây Nguyên; đồng bào vùng tạm chiếm nhờ những dòng sông này để tiếp tế thuốc men, quần áo, súng đạn, lương thực cho các khu căn cứ cách mạng Đây lại là một địa bàn chiến lược quan