Đóng góp mới của luận án - Tổng hợp những vấn đề về môi trường thẩm mỹ theo quan điểm mỹ học mácxít; - Làm rõ nội dung về môi trường thẩm mỹ trong cơ quan hành chính nhà nước và vai t
Trang 1LA ĐỨC ĐẠI
MÔI TRƯỜNG THẨM MỸ TRONG
CƠ QUAN HÀNH CHÍNH THUỘC THÀNH PHỐ HÀ NỘI
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÀNH: MỸ HỌC
\
HÀ NỘI - 2021
Trang 2LA ĐỨC ĐẠI
MÔI TRƯỜNG THẨM MỸ TRONG
CƠ QUAN HÀNH CHÍNH THUỘC THÀNH PHỐ HÀ NỘI
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÀNH: MỸ HỌC
Trang 3Tôi xin cam đoan công trình nghiên cứu này là của riêng tôi Các số liệu trong luận án là trung thực Những kết luận trong luận án chưa từng được công bố ở bất cứ công trình nào khác
TÁC GIẢ LUẬN ÁN
La Đức Đại
Trang 4MỞ ĐẦU 1
Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN
1.1 Tình hình nghiên cứu về môi trường và môi trường thẩm mỹ 6
1.2 Tình hình nghiên cứu về môi trường và môi trường thẩm mỹ ở Thủ đô
Hà Nội 20 1.3 Những vấn đề đặt ra cần tiếp tục nghiên cứu 24
Chương 2: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ MÔI TRƯỜNG THẨM MỸ
2.1 Lý luận về môi trường 27
2.2 Lý luận về môi trường thẩm mỹ 39
2.3 Lý luận về môi trường thẩm mỹ trong cơ quan hành chính 50
2.4 Các yếu tố tác động đến môi trường thẩm mỹ trong cơ quan hành chính 62
Chương 3: NHỮNG VẤN ĐỀ THỰC TIỄN VỀ MÔI TRƯỜNG THẨM MỸ
3.1 Khái quát về môi trường thẩm mỹ trong cơ quan hành chính nhà nước
3.2 Nhận diện môi trường thẩm mỹ trong các cơ quan hành chính thuộc
thành phố Hà Nội 74
Chương 4: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ
MÔI TRƯỜNG THẨM MỸ TRONG CƠ QUAN HÀNH CHÍNH THUỘC
4.1 Phương hướng xây dựng môi trường thẩm mỹ trong cơ quan hành chính 116
4.2 Các giải pháp mang tính định hướng 117
4.3 Các nhóm giải pháp cụ thể nâng cao hiệu quả của việc xây dựng môi trường
thẩm mỹ trong cơ quan hành chính thuộc thành phố Hà Nội 122
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
1.1 Trong những năm qua công tác cải cách hành chính được Chính phủ điều hành đã được triển khai trên diện rộng, đội ngũ cán bộ công chức được đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ để hoàn thành công việc được giao Môi trường
để đội ngũ cán bộ công chức làm việc là một yếu tố đang được quan tâm, nhất là môi trường thẩm mỹ Đặc thù của công việc hành chính là giải quyết các thủ tục mang tính pháp lý, giúp cho hoạt động hành chính nhà nước hoạt động hiệu quả và vận hành thông suốt, đáp ứng được nhu cầu của thực tiễn Việc tạo ra môi trường làm việc cho cán bộ công chức hiện nay cần được hiểu theo những tiêu chí đánh giá như: nội dung công việc, hình thức thể hiện, sự thân thiện của con người với môi trường xung quanh, cảm hứng sáng tạo, cảm hứng thẩm mỹ Để đội ngũ cán bộ công chức hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình, ngoài những yếu tố về trình độ chuyên môn được đào tạo, có yếu tố rất quan trọng đó là vấn đề văn hóa trong đó bao hàm cả yếu tố văn hóa thẩm mỹ Đại hội lần thứ XII của Đảng đã chủ trương:
Xây dựng nền văn hóa và con người Việt Nam phát triển toàn diện, hướng đến chân- thiện- mỹ, thấm nhuần tinh thần dân tộc, nhân văn, dân chủ và khoa học Văn hóa thực sự trở thành nền tảng tinh thần vững chắc của xã hội, là sức mạnh nội sinh quan trọng bảo đảm sự phát triển bền vững và bảo vệ vững chắc Tổ quốc vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh [30, tr.126]
1.2 Ngày nay, trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước, xu thế hội nhập quốc tế đang diễn ra một cách mạnh mẽ và sôi động Điều này đòi hỏi mỗi công dân nói chung và mỗi cán bộ công chức hành chính nói riêng cần phải nỗ lực không ngừng rèn luyện để phát triển toàn diện về trí lực, nhân cách, đạo đức đáp ứng yêu cầu của thời đại Tại Đại hội Đảng lần thứ XI đã chỉ rõ: “Tập trung xây dựng đời sống, lối sống và môi trường văn hóa lành mạnh, coi trọng văn hóa trong lãnh đạo, quản lý và văn hóa trong ứng xử” [29, tr.126] Vấn đề đặt ra trong quá trình xây dựng nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc hiện nay là phải xây dựng con người mới mang các yếu tố văn minh hiện đại, tiếp cận được khoa học công nghệ của thế giới, tiếp thu có chọn lọc và chuyển hóa những tinh hoa của nhân loại phù
Trang 6hợp với văn hóa truyền thống của dân tộc Xây dựng lối sống, xây dựng văn hóa cộng đồng thể hiện tình cảm, đạo đức trong sáng, tình nghĩa giữa người với người tạo nên sự đoàn kết, thống nhất giữa cá nhân với tập thể và cộng đồng tạo nên những giá trị cao đẹp chân - thiện - mỹ Tuy nhiên, quá trình toàn cầu hóa và sự vận hành của nền kinh tế thị trường, nhiều yếu tố tiêu cực từ bên ngoài cũng thâm nhập, tác động không nhỏ đến tư tưởng, quan điểm, lối sống, đạo đức, nhân cách của con người nói chung và của mỗi cá nhân cán bộ hành chính nói riêng
Với những giá trị của cái đẹp, môi trường thẩm mỹ nói chung và môi trường thẩm mỹ trong cơ quan hành chính nói riêng sẽ tác động tới con người một cách tự nhiên, hình thành nên những phẩm chất thẩm mỹ mới, điều chỉnh hành vi của con người Môi trường thẩm mỹ đánh thức con người không chỉ năng lực thẩm mỹ mà còn toàn bộ năng lực sáng tạo tiềm ẩn trong hoạt động sản xuất vật chất và tinh thần Nhờ đó, môi trường thẩm mỹ tác động đến thế giới tinh thần, tình cảm của con người, góp phần hình thành và phát triển nhân cách của con người
1.3 Trong quá trình hiện đại hóa đất nước, Thủ đô Hà Nội - trái tim của đất nước đang được xây dựng và phát triển một cách toàn diện để có được một diện mạo mới của văn hóa thủ đô hướng tới “năm 2020, Hà Nội phải trở thành một đô thị văn minh, hiện đại, thành phố du lịch hấp dẫn của khu vực, phát huy tốt vai trò là trung tâm lớn về văn hóa, khoa học - công nghệ, giáo dục - đào tạo, kinh tế và giao dịch quốc tế của cả nước” [88, tr.59] Với chủ đề công tác năm 2017 của thủ đô là
“Năm kỷ cương hành chính”, trong phiên khai mạc kỳ họp thứ 3, khóa XV (nhiệm
kỳ 2016 - 2020) của Hội đồng nhân dân Hà Nội, Bí thư Thành ủy Hà Nội Hoàng Trung Hải nhấn mạnh: “Thành phố quyết tâm tăng cường trật tự, kỷ cương hành chính, nâng cao vai trò nêu gương, đạo đức công vụ, tinh thần, thái độ, ý thức, văn hóa ứng xử của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức các cấp tại công sở, nơi cư trú
và nơi công cộng” [78] Để làm được điều này, việc xây dựng môi trường thẩm mỹ nói chung và môi trường thẩm mỹ trong cơ quan hành chính nói riêng lại quan trọng hơn bao giờ hết Xây dựng môi trường thẩm mỹ trong cơ quan hành chính ở
Hà Nội không chỉ làm cho diện mạo của thủ đô văn minh - thanh lịch - hiện đại mà còn góp phần vào công tác giáo dục thẩm mỹ, tác động một cách trực tiếp đến quá trình hình thành nhân cách cho cán bộ công chức, đảm bảo sự phát triển bền vững
Trang 7của Thủ đô, tạo nguồn lực nội sinh quan trọng thể hiện lòng tự hào của người dân thủ đô trước nhân dân cả nước và bè bạn năm châu
Với những kiến giải trên, chúng tôi chọn đề tài Môi trường thẩm mỹ trong các cơ quan hành chính nhà nước thuộc thành phố Hà Nội làm đề tài luận án
tiến sĩ chuyên ngành Mỹ học với mong muốn góp phần vào việc xây dựng môi trường thẩm mỹ cho sự vận hành có hiệu quả của các cơ quan hành chính nhà nước, đảm bảo cho sự phát triển bền vững của Thủ đô trong quá trình đổi mới và hội nhập quốc tế hiện nay
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
2.1 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở làm rõ những vấn đề lý luận về môi trường thẩm mỹ trong cơ quan hành chính, luận án nghiên cứu đánh giá thực trạng môi trường thẩm mỹ trong các cơ quan hành chính thuộc thành phố Hà Nội, đề xuất phương hướng và giải pháp góp phần nâng cao chất lượng môi trường thẩm mỹ ở cơ quan hành chính nhà nước thuộc thành phố Hà Nội hiện nay
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích đề ra, luận án thực hiện các nhiệm vụ sau:
Một là, góp phần làm rõ cơ sở lý luận về môi trường thẩm mỹ và môi trường
thẩm mỹ trong cơ quan hành chính thuộc thành phố Hà Nội
Hai là, nhận diện về thực trạng môi trường thẩm mỹ tại một số cơ quan
hành chính thuộc thành phố Hà Nội, chỉ ra những mặt tích cực và hạn chế của môi trường thẩm mỹ trong cơ quan hành chính thuộc thành phố Hà Nội
Ba là, những vấn đề đặt ra đối với nâng cao chất lượng môi trường thẩm mỹ
tại cơ quan hành chính nhà nước thuộc thành phố Hà Nội
3 Đối tượng, phạm vi và giới hạn nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án là môi trường thẩm mỹ trong cơ quan hành chính thuộc thành phố Hà Nội, các yếu tố tác động đến môi trường thẩm mỹ, thực trạng môi trường thẩm mỹ trong cơ quan hành chính, các quan hệ thẩm mỹ được biểu hiện thông qua chủ thể thẩm mỹ, khách thể thẩm mỹ và được gắn với các giá trị chân - thiện - mỹ
Trang 8Phạm vi nghiên cứu của đề tài là những cơ quan hành chính nhà nước thuộc Thành phố Hà Nội bao gồm: các Sở thuộc Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội Qua khảo sát thực tế tại Sở Xây dựng, Sở Tài chính, Sở Thông tin và truyền thông, Sở Lao động - Thương binh và Xã hội, Sở Văn hóa - Thể thao Đây là những Sở được lựa chọn ngẫu nhiên theo phương pháp khảo sát xã hội học Thời gian tiến hành khảo sát các Sở từ tháng 6/2017 đến tháng 8/2017
Môi trường thẩm mỹ trong cơ quan hành chính thuộc thành phố Hà Nội là một khái niệm rộng, bao hàm trong đó toàn bộ hoạt động thực thi công vụ trên cơ
sở quản lý và phục vụ xã hội Luận án tập trung nghiên cứu môi trường thẩm mỹ trong phạm vi cơ quan hành chính, các hoạt động hành chính, kết quả của hoạt động hành chính thông qua lăng kính thẩm mỹ
4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
4.1 Về cơ sở lý luận
Luận án được thực hiện trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng ta về giáo dục và phát triển con người; Nguyên lý Mỹ học Mác - Lênin
4.2 Về phương pháp nghiên cứu
Phương pháp luận nghiên cứu của luận án là chủ nghĩa duy vật biện chứng
và chủ nghĩa duy vật lịch sử Trên cơ sở phương pháp luận chung đó, luận án sử dụng các phương pháp cụ thể như:
Phương pháp lịch sử và logic như một phương pháp xuyên suốt của quá trình thực hiện, giải quyết các nhiệm vụ mà luận án cần giải quyết
Phương pháp phân tích, tổng hợp: làm rõ các quan điểm có liên quan đến môi trường thẩm mỹ trong lịch sử, dùng các thao tác phân tích, tổng hợp thành hệ thống để làm sáng tỏ vấn đề một cách toàn diện
Phương pháp so sánh: nhận diện sự giống nhau và khác nhau giữa môi trường thẩm mỹ nói chung và môi trường thẩm mỹ trong cơ quan hành chính
Phương pháp liên ngành: luận án vận dụng những thành tựu của triết học, mỹ học, văn hóa học và lịch sử để đạt được mục đích đề ra
Phương pháp gắn lý luận với thực tiễn: Trên cơ sở lý luận về môi trường thẩm mỹ, luận án tập trung vào môi trường thẩm mỹ trong các cơ quan hành chính nhà nước thuộc thành phố Hà Nội, từ đó luận án phân tích thực trạng về
Trang 9môi trường thẩm mỹ trong cơ quan hành chính để hoàn thành những nhiệm vụ nghiên cứu
Phương pháp điều tra xã hội học: nội dung các câu hỏi tập trung phát hiện nhận thức, thái độ, hành vi của cán bộ công chức trong thực thi công vụ hành chính Tiến hành điều tra, khảo sát ngẫu nhiên có chủ đích phù hợp với đối tượng khảo sát
Sử dụng phần mềm Spss 20.0 để sử lý số liệu
5 Đóng góp mới của luận án
- Tổng hợp những vấn đề về môi trường thẩm mỹ theo quan điểm mỹ
học mácxít;
- Làm rõ nội dung về môi trường thẩm mỹ trong cơ quan hành chính nhà
nước và vai trò của nó đối với giáo dục thẩm mỹ trong việc hình thành và phát triển nhân cách, làm hình thành năng lực hành vi, hành động cao đẹp của mỗi cán bộ công chức trong cơ quan hành chính;
- Khái quát thực trạng về môi trường thẩm mỹ trong các cơ quan hành chính nhà nước thuộc thành phố Hà Nội, từ đó bàn luận và khuyến nghị một số giải pháp xây dựng môi trường thẩm mỹ trong cơ quan hành chính nhà nước thuộc thành phố
Hà Nội hiện nay
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
Luận án có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu và giảng dạy môn mỹ học, hành chính học và bồi dưỡng đội ngũ cán bộ công chức; đồng thời cung cấp cho các cơ quan hành chính những tài liệu tham khảo về lĩnh vực đã nêu trên
7 Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận và phụ lục, nội dung luận án được kết cấu gồm
4 chương, 14 tiết
Trang 10Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
1.1 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ MÔI TRƯỜNG VÀ MÔI TRƯỜNG THẨM MỸ
1.1.1 Những nghiên cứu về môi trường xã hội, môi trường văn hóa
Con người tồn tại không thể tách rời mối quan hệ với môi trường sinh thái và môi trường xã hội Đây là vấn đề không chỉ mang tính lý thuyết thuần túy, mà còn
có ý nghĩa rất quan trọng trong quá trình nhận thức và tác động đến thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội của nước ta hiện nay Trong một thời gian rất dài, con người đã quan tâm đến khai thác tài nguyên tự nhiên đến sự phát triển kinh tế Vào những năm 80 của thế kỷ XX, nhận thức rằng sự phát triển kinh tế không đi liền với phát triển văn hóa thì đó vẫn là sự phát triển một chiều, cho nên UNESCO đã phát động thập kỷ phát triển văn hóa để cho kinh tế và văn hóa có sự tương tác Vào thập niên đầu của những năm 90, con người nhận thức rằng, thế hệ trước muốn thỏa mãn nhu cầu của mình thì phải chuẩn bị cho thế hệ sau cùng thỏa mãn tốt nhu cầu của mình,
cho nên, UNESCO đã đề xuất khái niệm phát triển bền vững Khái niệm này gắn
liền với toàn bộ sự phát triển của con người đến môi trường Hội nghị Thượng đỉnh đầu tiên của thế giới về môi trường và phát triển diễn ra ở Rio De Janeiro, Braxin (từ 3/6- 14/6/1992) đã đề cập toàn diện đến quan điểm chủ yếu, những vấn đề chủ yếu, các chính sách và giải pháp chủ yếu về mối quan hệ của môi trường với sự phát triển của hành tinh chúng ta Các vấn đề này đã được Lê Quý An trình bày cụ thể trên các tạp chí Thông tin môi trường số 3 năm 1992 và Tạp chí Hoạt động khoa học số 3 và số 8 năm 1992 Bên cạnh việc Lê Quý An thông tin về những vấn đề toàn cầu của môi trường, ở nước ta trước đó và tiếp sau có rất nhiều học giả đã nghiên cứu sâu về các khía cạnh của môi trường Trong các công trình nghiên cứu
về môi trường nói chung, nhiều nhà nghiên cứu nhìn nhận theo hai khía cạnh: môi trường sinh thái và môi trường xã hội
Các công trình nghiên cứu về môi trường sinh thái (môi trường tự nhiên) cần phải kể đến các công trình như: Môi trường sinh thái, vấn đề và giải pháp của Phạm
Trang 11Thị Ngọc Trầm [101]; Mối quan hệ giữa con người và tự nhiên trong sự phát triển
xã hội của Hồ Sĩ Quý [80]; Môi trường và ô nhiễm của Lê Văn Khoa [59]; Sinh thái
và môi trường của Nguyễn Văn Tuyên [108];… Trong cuốn Mối quan hệ giữa con người và tự nhiên trong sự phát triển xã hội [80], Hồ Sĩ Quý cho rằng, trước tình
trạng ngày càng xấu đi của môi trường thì vấn đề xây dựng môi trường sinh thái càng được thế giới đặc biệt coi trọng; hơn thế, còn trở thành một tiêu chuẩn không thể thiếu của chiến lược phát triển bền vững Ở Việt Nam, vấn đề đạo đức môi trường tới thời điểm hiện nay, vẫn chưa thật sự được quan tâm như một vấn đề bức xúc Từ đó, ông nhận định: đạo đức môi trường đang dần trở thành một tiêu chuẩn không thể thiếu đối với các xã hội đi theo xu hướng phát triển bền vững
Phạm Thị Ngọc Trầm với công trình Quản lý nhà nước đối với tài nguyên
và môi trường vì sự phát triển bền vững dưới góc nhìn xã hội - nhân văn [102] đã
giải quyết những vấn đề cốt lõi nhất của vấn đề môi trường sinh thái ở Việt Nam giai đoạn hiện nay Công trình đã khai thác vấn đề thực trạng môi trường sinh thái
và những vấn đề bức xúc của môi trường sinh thái dưới góc nhìn triết học - xã hội gắn liền với sự phát triển bền vững Tác giả cũng đưa ra những phân tích sâu sắc về vai trò của nhà nước và thực trạng của quản lý nhà nước đối với môi trường sinh thái ở nước ta hiện nay Từ đó, tác giả đề xuất một số quan điểm lý luận - phướng pháp luận về cơ sở xã hội - nhân văn trong quản lý Nhà nước đối với môi trường sinh thái dựa trên nền tảng mối quan giữa phát triển kinh tế, phát triển con người, xã hội với việc bảo vệ môi trường theo hướng phát triển bền vững ở Việt Nam
Cuốn sách Văn hóa sinh thái - nhân văn của Trần Lê Bảo [8], trong đó đã đề
cập đến khái niệm, thực chất của vấn đề môi trường sinh thái - nhân văn, cơ sở triết học - xã hội của mối quan hệ giữa con người, xã hội và tự nhiên, tác động của con người vào môi trường tự nhiên, truyền thống hòa hợp với thiên nhiên của người Việt Nam; Trần Lê Bảo đã đề cập đến tác động của con người vào môi trường tự nhiên, môi trường sinh thái - nhân văn và sự phát triển bền vững, đạo đức sinh thái, truyền thống hòa hợp với thiên nhiên của người Việt Nam, thực trạng và thách thức
về môi trường sinh thái - nhân văn ở nước ta hiện nay
Trang 12Năm 2002, Cục Môi trường đã cho xuất bản cuốn Hành trình vì sự phát triển
bền vững 1972 - 1992 [21], công trình này đã trình bày các tuyên bố của thế giới về
môi trường và phát triển bền vững gắn liền với những giải pháp mang tính khả thi đảm bảo cho sự hài hòa giữa môi trường sinh thái với sự phát triển
Các công trình nghiên cứu về môi trường xã hội chủ yếu được các nhà khoa
học diễn giải trên các phương diện như môi trường lao động, môi trường nông thôn, môi trường đô thị, môi trường văn hóa… trong đó, môi trường văn hóa được các
nhà nghiên cứu đặc biệt chú trọng Tiêu biểu có các công trình Văn hóa - một số
vấn đề lý luận của Trường Lưu [69], đã xem xét môi trường văn hóa trong mối quan
hệ thống nhất hữu cơ với môi trường tự nhiên và môi trường xã hội, từ đó đặt ra yêu cầu trong hoạt động xây dựng môi trường văn hóa cần có sự kết hợp hài hòa, đồng
bộ với nhiệm vụ xây dựng môi trường tự nhiên và môi trường xã hội nhằm phát triển toàn diện con người, qua đó tác động tới sự phát triển của văn hóa, xã hội
Hoàng Vinh trong cuốn Mấy vấn đề lý luận và thực tiễn xây dựng môi
trường văn hóa ở nước ta hiện nay [112] nhấn mạnh vai trò của việc tổ chức xây
dựng đời sống văn hóa ở cơ sở - bước đi ban đầu của sự nghiệp xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc - đưa văn hóa thâm nhập vào cuộc sống hàng ngày của nhân dân
Từ việc đi sâu nghiên cứu khái niệm, bản chất, chức năng của văn hóa, Trần
Văn Bính trong Đề cương bài giảng lý luận văn hóa cho hệ đào tạo cao học và
nghiên cứu sinh [9], xem môi trường văn hóa được hình thành bởi các giá trị mà hoạt động của con người tạo ra
Trong công trình nghiên cứu Xây dựng môi trường văn hóa ở nước ta hiện
nay từ góc nhìn giá trị học [49], Đỗ Huy đã tiếp cận môi trường văn hóa theo thước
đo giá trị lịch sử - xã hội, làm hiện diện bản chất của môi trường văn hóa như một di sản có nhiều năng lượng quý hiếm mà tất cả các thế hệ tiếp nối đều phải gìn giữ và sáng tạo tiếp Từ đó đề ra việc đánh giá môi trường văn hóa phải được dựa vào một
hệ chuẩn nhất định Ngoài chương mở đầu và kết luận, công trình đã trình bày một cách cô đọng môi trường văn hóa Việt Nam vận động một cách logic từ quá khứ
Trang 13đến hiện tại và xuyên suốt tương lai Đó là các vấn đề về xây dựng môi trường văn hóa nông thôn truyền thống và hiện đại; sự vận động của môi trường văn hóa nông thôn trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa; môi trường văn hóa đô thị ở nước ta hiện nay; môi trường văn hóa gia đình…
Tiếp cận văn hóa như một tổng thể chiều sâu, bề rộng, tầm cao của các giá trị
mang tính nhân văn, Văn Đức Thanh trong cuốn Về xây dựng môi trường văn hóa
cơ sở [87] đã đặt ra yêu cầu nhận thức và vận dụng đúng đắn những vấn đề phương
pháp luận trong quá trình xây dựng môi trường văn hóa cơ sở
Công trình Con người, môi trường và văn hóa là tập hợp các bài viết (có bổ
sung, sửa chữa) về chủ đề trên của Nguyễn Xuân Kính đã công bố trong các hội thảo, tạp chí từ năm 1991 đến nay [65] Thông qua cuốn sách, người đọc sẽ hình dung về người Việt Nam trong mối quan hệ với môi trường tự nhiên, môi trường xã hội và với chính mình Con người Việt Nam với những kiểu dạng cụ thể: người nông dân, người thành thị, người thợ thủ công, người buôn bán, nhà nho, người trí thức tân học… với các khía cạnh ẩm thực, trang phục, đi lại và làm lụng, với một số biểu hiện của văn hóa xã hội và văn hóa tinh thần, được tác giả đặt trong những thời
kì, giai đoạn lịch sử cụ thể Bên cạnh những kiểu người thuộc tầng lớp dân chúng, người đọc còn thấy thấp thoáng chân dung của vua chúa, quan chức thời quân chủ độc lập qua những chính sách, việc làm, phát ngôn của họ; thấy cả hậu quả của chủ nghĩa thực dân Pháp và vai trò của văn hóa Pháp đối với nước ta từ cuối thế kỷ XIX đến Cách mạng tháng Tám năm 1945
Ngoài ra, nhiều tác giả không trực tiếp đề cập đến môi trường văn hóa mà
đi sâu nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn về văn hóa như: Văn hóa và
đổi mới của Phạm Văn Đồng [33]; Vấn đề văn hóa và phát triển của tác giả
Hoàng Trinh [103]; Quản lý hoạt động văn hóa của Nguyễn Văn Hy, Phan Văn
Tú và Hoàng Sơn Cường [56]; Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam
tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc của Nguyễn Khoa Điềm [31]; Những vấn đề văn hóa Việt Nam đương đại của tác giả Bùi Khái Vinh [113] Đây thực sự là
những công trình nghiên cứu có giá trị, tạo cơ sở cho việc nghiên cứu toàn diện
về môi trường văn hóa
Trang 14Một số tác giả cũng đã nghiên cứu về môi trường thẩm mỹ, môi trường nghệ thuật như một biểu hiện đặc trưng của môi trường văn hóa Trong đó, phải kể đến
các công trình tiêu biểu của Đỗ Huy như: Xây dựng môi trường văn hóa ở nước ta
hiện nay từ góc nhìn giá trị học [51]; Văn hóa Việt Nam trên con đường giải phóng, đổi mới, hội nhập và phát triển vì chủ nghĩa xã hội [52]; Các giá trị văn hóa Việt Nam chuyển từ truyền thống đến hiện đại [53]… Các công trình của Đỗ Huy đã
phân tích sâu giá trị của môi trường thẩm mỹ với tư cách là một bộ phận của môi trường văn hóa ở nước ta xoay quanh hệ giá trị của cái đúng, cái tốt, cái đẹp Tác giả cho rằng, tiếp cận giá trị học về môi trường văn hóa không thể tách rời khỏi cái đẹp Cái chân, cái thiện, cái mỹ trên môi trường văn hóa có mối quan hệ không thể tách rời Cái đẹp làm cho môi trường văn hóa luôn luôn sinh động và sống động Nhà nghiên cứu còn nêu rõ, trong mọi hoàn cảnh khó khăn, Đảng ta luôn luôn coi cái đẹp có gốc rễ từ lao động, từ đấu tranh, từ xây dựng cuộc sống Vì thế, cái đẹp
có ở ngay trong hoạt động lao động, trong đời sống hàng ngày Vì vậy, để xây dựng môi trường văn hóa thì chúng ta cần phải tích cực xây dựng môi trường thẩm mỹ trên cơ sở của cái đẹp bên cạnh cái đúng và cái tốt
1.1.2 Những nghiên cứu về môi trường thẩm mỹ
Vào những năm 70 của thế kỷ XX, đất nước ta đang trong giai đoạn phát triển kinh tế tập thể, ưu tiên phát triển công nghiệp, những vấn đề môi trường đặc biệt là môi trường thẩm mỹ đã được nhiều cơ quan và các nhà nghiên cứu chú ý
Trên tạp chí Thanh niên số 11 năm 1973 đã xuất hiện các bài viết về Cái đẹp và môi
trường sáng tạo; số 12 năm 1973 có những bài viết về Nhân tố thẩm mỹ của sản phẩm lao động; số 8 năm 1977 có bài viết về Đưa cái đẹp vào lao động sản xuất
Trên tạp chí Triết học số 3 năm 1977 có bài viết Đưa cái đẹp vào cuộc sống hằng
ngày Trên tạp chí Công đoàn số 109, tháng 8 năm 1989 cũng đã đề cập đến vấn đề
văn hóa thẩm mỹ trong quản lý lao động Ngoài ra, có rất nhiều cuốn sách của các tác giả chuyên nghiên cứu về mỹ học, mỹ thuật công nghiệp đã đi sâu nghiên cứu nhiều vấn đề phức tạp của môi trường thẩm mỹ
* Nhóm công trình nghiên cứu về thẩm mỹ
Trên phương diện khái niệm cũng như bản chất và biểu hiện của lĩnh vực thẩm mỹ đã thu hút rất nhiều nhà nghiên cứu mỹ học, nghệ thuật học trong và ngoài
Trang 15nước Các giáo trình, sách chuyên khảo nước ngoài có đề cập vấn đề chung về lý
luận và thực tiễn liên quan đến lĩnh vực thẩm mỹ phải kể đến những công trình
khoa học nghiên cứu như: Nguyên lý mỹ học Mác - Lênin của IU Lukin, V.C
Xcacherơsiccốp [68] đã nghiên cứu bản chất của lĩnh vực thẩm mỹ, coi cái thẩm mỹ
là một phương diện quan trọng trong việc xây dựng và phát triển nhân cách con người Ngoài ra công trình còn trình bày về biểu hiện của cái thẩm mỹ thông qua ba phương diện bao gồm khách thể thẩm mỹ với cái đẹp, cái bi, cái hài, cái cao cả trong đó cái đẹp giữ vị trí trung tâm; chủ thể thẩm mỹ và nghệ thuật
Đến những năm 80 - 90 của thế kỷ XX ở Liên Xô xuất hiện nhiều công trình:
Mỹ học Mác - Lênin và việc giáo dục bộ đội của Ax Milôviđốp và B Xaphrônốp
[73]; Mỹ học Mác - Lênin là một khoa học của P.S Tơrôphimốp; Mỹ học - khoa học
diệu kỳ của B A Eren Grôx; Sáng tạo nghệ thuật, hiện thực, con người (1984) của
M.B Khraptrenco; Mỹ học cơ bản và nâng cao (2001) của Ốpxiannhicốp… Những
công trình này đều bàn về các yếu tố, cung bậc ý thức thẩm mỹ của chủ thể như: tình cảm thẩm mỹ, nhu cầu thẩm mỹ, thị hiếu thẩm mỹ, lý tưởng thẩm mỹ, quan điểm thẩm mỹ được đề cập trong quan hệ với khách thể thẩm mỹ Đồng thời, các công trình cũng đề cập đến sự cải biến khách thể gắn với ý thức thẩm mỹ của chủ thể trong lĩnh vực sáng tạo và thưởng thức nghệ thuật
Mỹ học cơ bản và nâng cao (Ốpxiannhicốp chủ biên, 2001) đã đề cập các
vấn đề cơ bản của mỹ học như đối tượng, nhiệm vụ của mỹ học; đặc trưng, bản chất của nghệ thuật, các loại hình nghệ thuật và các khách thể thẩm mỹ như cái đẹp, cái cao cả, cái bi, cái hài Tác giả đưa ra định nghĩa và tính phổ biến của cái thẩm mỹ trong đời sống xã hội và nghệ thuật
Những công trình khoa học trong nước, nổi bật là công trình của Đỗ Huy
nghiên cứu về Cái đẹp - một giá trị, đã phân tích cơ chế đánh giá của chủ thể thẩm
mỹ và khẳng định: “Không có chủ thể thẩm mỹ, sẽ không có đánh giá, thưởng thức
và sáng tạo những giá trị thẩm mỹ Không có chủ thể thẩm mỹ không có cái gì được gọi là cái bi, cái hài, cái đẹp và cái giá trị” [43, tr.183] Theo tác giả, các phạm trù thẩm mỹ là sản phẩm tất yếu của sự đánh giá, thưởng thức và sáng tạo những giá trị thẩm mỹ của chủ thể thẩm mỹ dựa trên trình độ, năng lực thẩm mỹ và những kinh
Trang 16nghiệm thẩm mỹ trong hoạt động thực tiễn Theo tác giả, cái thẩm mỹ mặc dù có cội nguồn là thế giới hiện thực nhưng chỉ có thể xuất hiện với tư cách là sản phẩm phức hợp của sự tương tác biện chứng trực tiếp giữa chủ thể thẩm mỹ với khách thể thẩm mỹ
Công trình nghiên cứu Thị hiếu thẩm mỹ trong đời sống của Nguyễn Chương
Nhiếp [74] đã đề cập đến phạm trù thẩm mỹ thông qua việc lý giải và phân tích về thị hiếu thẩm mỹ trong cấu trúc của nhận thức thẩm mỹ Trong khi luận giải vai trò của thị hiếu thẩm mỹ đối với đời sống thẩm mỹ, tác giả đã chỉ ra: thị hiếu thẩm mỹ với tư cách vừa là nhân tố chủ đạo trong thưởng thức thẩm mỹ, vừa là yếu tố quan trọng trong hoạt động đánh giá của chủ thể, vừa là một yếu tố cấu thành năng lực sáng tạo của chủ thể thẩm mỹ Vì vậy, yếu tố thẩm mỹ rất cần thiết đối với mọi hoạt động của con người
Sách Quan hệ giữa cái thẩm mỹ và cái đạo đức trong cuộc sống và trong
nghệ thuật của Nguyễn Văn Phúc [77] đã phân tích tính đặc thù của cái thẩm mỹ,
đồng thời làm rõ sự khác biệt của chủ thể về mặt nhận thức thẩm mỹ (tình cảm thẩm mỹ, thị hiếu thẩm mỹ, quan điểm thẩm mỹ, lý tưởng thẩm mỹ) trong so sánh với cái đạo đức và sự tác động qua lại lẫn nhau giữa chúng Điều này chứng tỏ rằng, cái thẩm mỹ biểu hiện ở nhận thức thẩm mỹ, tình cảm thẩm mỹ, ý chí thẩm mỹ, quan điểm thẩm mỹ không thể tách rời các khía cạnh khác của đời sống kinh tế, chính trị - xã hội, đạo đức - pháp quyền, khoa học, nghệ thuật, tôn giáo của từng thời đại, từng cộng đồng, từng tập đoàn xã hội nhất định, thêm vào đó là cả những điều kiện sinh hoạt vật chất của xã hội cũng như điều kiện sống riêng của từng cá nhân Tiếp cận theo hướng này là rất cần thiết đối với luận án khi nghiên cứu về mối quan hệ và biểu hiện của mối quan hệ giữa cái thẩm mỹ và cơ quan hành chính nhà nước
Bàn về Sự biến đổi của chuẩn mực đánh giá thẩm mỹ trong thời kỳ đổi mới ở
Việt Nam, Vũ Thị Kim Dung [24] đã luận giải đặc điểm cơ bản của chuẩn mực
đánh giá thẩm mỹ trong môi trường văn hoá thẩm mỹ là nằm trong cấu trúc chủ thể thẩm mỹ, có sự tham gia tổng hợp của các yếu tố: xúc cảm, tình cảm, quan điểm, lý tưởng thẩm mỹ Tác giả đã đề cập đến trình độ phát triển của ý thức thẩm mỹ với
Trang 17tư cách năng lực đánh giá thẩm mỹ Từ đây, Vũ Kim Dung cũng phân tích về sự chuyển đổi mang tính lệch pha của các chuẩn mực về đánh giá thẩm mỹ trong thời
kỳ đổi mới ở Việt Nam hiện nay Đây là một công trình có giá trị đánh giá về môi trường thẩm mỹ trong cơ quan hành chính nhà nước hiện nay ở nước ta
+ Nhóm công trình nghiên cứu về văn hóa thẩm mỹ
Văn hóa thẩm mỹ là một vấn đề rất quan trọng trong đời sống con người Tuy nhiên, khái niệm văn hóa thẩm mỹ chỉ được đề cập và sử dụng phổ biến bắt đầu từ những năm 60, 70 của thế kỷ XX trong giới nghiên cứu triết học, mỹ học và văn hóa học ở Liên Xô Tiêu biểu là các công trình:
- Văn hóa thẩm mỹ của con người Xô viết của M.X.Cagan [12] đã trình bày
bản chất của văn hóa thẩm mỹ, xem giáo dục thẩm mỹ như là một phương diện hình thành nhân cách và khẳng định vai trò to lớn của môi trường văn hóa thẩm mỹ trong việc phát triển con người toàn diện
- Giáo trình Cơ sở lý luận văn hóa Mác - Lênin của A.I.Ácnônđốp [2] đã
dành cả chương XV để trình bày về môi trường văn hóa thẩm mỹ xã hội chủ nghĩa Trong chương này, tác giả đã trình bày những quan điểm chung nhất về môi trường văn hóa thẩm mỹ, chức năng và lĩnh vực biểu hiện của nó Tác giả cho rằng, môi trường văn hóa thẩm mỹ có vai trò to lớn trong mọi hoạt động nhận thức, đánh giá, sáng tạo của con người theo chuẩn mực Chân - Thiện - Mỹ
- Công trình Văn hoá thẩm mỹ và sự phát triển con người Việt Nam trong thế
kỷ mới của Nguyễn Văn Huyên đã đưa ra quan niệm:
Văn hoá thẩm mỹ là một thể thống nhất hữu cơ các giá trị thẩm mỹ và hoạt động sáng tạo thẩm mỹ của con người đang hiện thực hoá những năng lực thẩm mỹ của họ, đồng thời văn hoá thẩm mỹ còn là một hệ thống độc đáo xuyên suốt tất cả các lĩnh vực hoạt động của đời sống xã hội từ kinh tế, chính trị, khoa học… đến các quan hệ, các giao tiếp của con người [55, tr.52]
Trên cơ sở đó, các nhà nghiên cứu cũng xem xét ý thức thẩm mỹ cá nhân là một phương diện, thành tố của môi trường văn hoá thẩm mỹ - môi trường văn hoá thẩm mỹ cá nhân, và được biểu hiện ở những cấp độ khác nhau: Cấp độ hoạt động
Trang 18- thực tiễn; Cấp độ tâm lý - cảm xúc; Cấp độ lý tính công trình cũng đề cập đến
sự thể hiện vai trò của môi trường văn hoá thẩm mỹ trong nhận thức, đánh giá và sáng tạo của con người, những luận giải và cách tiếp cận đó gợi mở cho đề tài có cách nhìn biện chứng về vai trò của môi trường văn hoá thẩm mỹ với văn hóa thẩm mỹ cá nhân (mô thức hiện thực hoá và giá trị hoá môi trường văn hóa thẩm
mỹ chung ấy)
Nghiên cứu Văn hoá thẩm mỹ và nhân cách của Lương Quỳnh Khuê xác
định năng lực thẩm mỹ là một yếu tố cơ bản nằm trong cấu trúc nội tại của văn hoá thẩm mỹ, đó là một năng lực tinh thần - thực tiễn, là phẩm chất bậc cao của “những lực lượng bản chất của con người” [60] Lương Quỳnh Khuê đã trình bày và phân tích sâu mối quan hệ giữa môi trường văn hóa thẩm mỹ với sự phát triển nhân cách thể hiện các những năng lực thẩm mỹ của con người bao gồm năng lực nhận thức - đánh giá và sáng tạo
Từ góc độ tiếp cận chung về môi trường văn hoá thẩm mỹ và vai trò của nó
đối với phát triển nhân cách, Lê Thị Thuỳ Dung đã vận dụng để phân tích Vai trò
của văn hoá thẩm mỹ đối với sự phát triển nhân cách sinh viên Việt Nam hiện nay
[23] Tuy nhiên, công trình này chỉ dừng lại ở hai phương diện lớn trong vai trò của môi trường văn hoá thẩm mỹ đối với sự phát triển nhân cách là: định hướng giá trị, bồi dưỡng năng lực cảm xúc, hoàn thiện năng lực tư duy và phát triển năng lực sáng tạo Trong khi đó, nói tới vai trò của môi trường văn hoá nói chung và môi trường văn hóa thẩm mỹ nói riêng đối với phát triển nhân cách là nói tới tiềm năng cung cấp tri thức sống có văn hoá, có thẩm mỹ của cộng đồng đến hình thành nhân cách, cùng sức mạnh điều tiết bằng chân - thiện - mỹ của nó đối với quá trình phát triển nhân cách thông qua hoạt động giảng dạy và học tập, hoạt động chính trị - xã hội và hoạt động vui chơi giải trí trong môi trường nhà trường, đồng thời còn nhất thiết phải đề cập tới những nét bản sắc độc đáo về lối hành xử thẩm mỹ
Công trình nghiên cứu: Phát triển giá trị văn hoá trong nhân cách sĩ quan
trẻ Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay của Nguyễn Xuân Trường [104] đã đề
cập đến vai trò của văn hoá và giáo dục giá trị văn hoá trong phát triển ý thức thẩm
mỹ sĩ quan trẻ, thông qua việc luận giải cơ sở lý luận, thực tiễn và giải pháp phát
Trang 19triển giá trị văn hoá trong nhân cách sĩ quan trẻ hiện nay Điều đó liên quan đến giải pháp xây dựng môi trường văn hoá thẩm mỹ, làm cơ sở cho phát triển ý thức thẩm
mỹ của đội ngũ sĩ quan trẻ trong tương lai
+ Nhóm công trình nghiên cứu về giáo dục thẩm mỹ thông qua môi trường lao động
Giáo dục thẩm mỹ là một bộ phận quan trọng trong sự nghiệp giáo dục và xây dựng con người mới Vì vậy, nó đã thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu trên thế giới và ở nước ta Các thành tựu nghiên cứu ở nước ngoài đã được dịch
sang tiếng Việt, tiêu biểu phải kể đến các công trình: Mỹ học Mác - Lênin với việc
giáo dục bộ đội của A.X Milôviđốp, B.V Xaphrônốp [73]; Nguyên lý mỹ học Mác
- Lênin của IU Lukin, V.C Xcacherơsiccốp [68] đã nghiên cứu bản chất của giáo
dục thẩm mỹ, coi giáo dục thẩm mỹ thông qua môi trường lao động là một phương diện quan trọng trong việc xây dựng và phát triển nhân cách con người Các công
trình Cơ sở lý luận văn hóa Mác - Lênin của Acnônđốp [2]; Nguyên lý mỹ học Mác
- Lênin của đồng tác giả IU.Lukin, V.C Xcacherơsiccốp [68] đã trình bày những
quan niệm về bản chất, nội dung cũng như nhiệm vụ của giáo dục thẩm mỹ trong môi trường lao động
A.X Milôviđốp và B.V Xaphrônốp về Mỹ học Mác - Lênin với việc giáo
dục bộ đội [73] đã đề cập khá toàn diện đến giáo dục thẩm mỹ thông qua môi
trường lao động như con đường trực tiếp, cơ bản và quan trọng bậc nhất nhằm phát triển ý thức thẩm mỹ Đặc biệt, công trình đã gắn trực tiếp đến lĩnh vực giáo dục thẩm mỹ trong môi trường hoạt động quân sự bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, trong xây dựng tư cách và nếp sống của quân nhân Xô-viết Đây là tiền đề quan
trọng để nghiên cứu sinh tiếp thu, kế thừa, phát triển trong đề xuất giải pháp của
luận án
Sách Tâm lý văn nghệ của Chu Quang Tiềm [95] tuy không phải là một công
trình nghiên cứu chuyên sâu về giáo dục thẩm mỹ nhưng đã nghiên cứu công phu
về giáo dục thẩm mỹ thông qua môi trường lao động từ góc độ tâm lý học Nghiên cứu giáo dục thẩm mỹ như là quá trình hình thành thẩm mỹ, công trình đã cung cấp
cơ sở lý luận cho hoạt động giáo dục thẩm mỹ khi hướng dẫn mọi hoạt động đối với chủ thể thẩm mỹ
Trang 20Các công trình nghiên cứu tiêu biểu trong nước về giáo dục thẩm mỹ là rất
đa dạng và phong phú, trong đó cần nói tới các công trình sau: Giáo dục thẩm mỹ -
một số vấn đề lý luận và thực tiễn của Đỗ Huy [44]; Giáo dục lý tưởng thẩm mỹ cho thanh niên thông qua hệ thống thiết chế nhà văn hoá của Trần Quốc Bảng [7]; Đưa cái đẹp vào cuộc sống của Như Thiết [90]; Về giáo dục thẩm mỹ ở nước ta hiện nay
của Vĩnh Quang Lê [66]; Giáo dục thẩm mỹ trong việc hình thành lối sống văn hoá
cho thanh niên vùng đồng bằng sông Cửu Long hiện nay của Lương Thanh Tân
[85]; Vai trò của nghệ thuật trong giáo dục thẩm mỹ của Trần Tuý [107]; Vai trò
của truyền thông đại chúng trong giáo dục thẩm mỹ ở nước ta hiện nay của Trần
Ngọc Tăng [86]; Giáo dục thẩm mỹ - Món nợ lớn đối với thế hệ trẻ của Đỗ Xuân
Hà [38]; Một số hiểu biết cơ bản về văn hoá nghệ thuật và giáo dục thẩm mỹ của
Tổng cục Chính trị [99]
Trong công trình Giáo dục thẩm mỹ - một số vấn đề lý luận và thực tiễn, Đỗ
Huy quan niệm: “Giáo dục thẩm mỹ vừa là một thể thống nhất giữa các hình thức hoạt động khác nhau của con người, chịu sự tác động của toàn bộ quan hệ xã hội lại vừa có mục tiêu, phương tiện và nội dung riêng biệt” [44, tr.31] và trình bày bản chất giáo dục thẩm mỹ thông qua môi trường lao động là bồi dưỡng lòng khao khát đưa cái đẹp vào cuộc sống, tạo nên sự hài hoà giữa xã hội - con người - tự nhiên, nâng cao năng lực thụ cảm và sáng tạo của con người, làm cho con người phát triển hài hoà trong hoạt động lao động cũng như nghỉ ngơi, trong quan hệ gia đình cũng như xã hội Tuy nhiên, bản chất của giáo dục thẩm mỹ phải là sự thống nhất giữa hoạt động định hướng, truyền thụ thẩm mỹ của chủ thể giáo dục từ bên ngoài với vai trò tự định hướng của chủ thể thẩm mỹ trong lĩnh hội, lựa chọn, tiếp nhận giá trị thẩm mỹ nhằm chuyển hoá nhân cách theo mô hình xác định Theo đó, giáo dục thẩm mỹ vừa là quá trình giáo dục để hình thành, phát huy năng lực bản chất người theo quy luật cái đẹp, vừa là quá trình hoạt động tự giác, có chủ đích của các chủ thể
nhằm xây dựng và phát triển năng lực thẩm mỹ, ý thức thẩm mỹ, văn hoá thẩm mỹ
cho con người
Sách Mấy vấn đề đạo đức và thẩm mỹ trong thời kỳ quá độ ở nước ta của
Viện Triết học [111] là một công trình chuyên khảo tập hợp các bài tham luận của
Trang 21những nhà nghiên cứu về phương pháp tiếp cận giáo dục thẩm mỹ, bản chất của giáo dục thẩm mỹ, những hình thức cơ bản của giáo dục thẩm mỹ trong đó giáo dục thẩm mỹ thông qua môi trường lao động là một nội dung quan trọng mà các tác giả tập trung đề cập
Nhà nghiên cứu Như Thiết trong sách Đưa cái đẹp vào cuộc sống đã chỉ
ra: quy luật vận động tất yếu của cái đẹp ngày một phát triển gắn liền với đời sống hạnh phúc, văn minh, tiến bộ của xã hội, của mỗi người và gắn chặt với quy luật vận động tiến lên của chủ nghĩa xã hội, do đó phải đưa được cái đẹp vào các lĩnh vực quan trọng của cuộc sống hiện nay như: lao động, chiến đấu, học tập, quan hệ giao tiếp, nếp sống, lối sống, trang phục, nghệ thuật… để vạch trần những cái xấu, những biến tướng của nó trong các lĩnh vực ấy Từ đó, tác giả cho rằng: để thực hiện nhiệm vụ “đưa cái đẹp vào cuộc sống hàng ngày” đòi hỏi chủ thể thẩm mỹ phải có ý thức, năng lực thẩm mỹ và phát huy tính chủ động, tích cực của mình [90, tr.38] Vấn đề phát huy tính chủ động, tích cực của chủ thể trong phát triển ý thức thẩm mỹ là một nội dung quan trọng sẽ được kế thừa, phát triển trong nội dung của luận án
Vĩnh Quang Lê khi nghiên cứu Về giáo dục thẩm mỹ ở nước ta hiện nay
cũng có cách lý giải tương tự Tác giả đã làm rõ bản chất giáo dục thẩm mỹ thông
qua môi trường lao động là sự hình thành ở chủ thể năng lực đồng hoá thẩm mỹ đối
với hiện thực Với cách luận giải dưới góc độ mục tiêu của giáo dục thẩm mỹ, tác giả đã đề cập đến năng lực thẩm mỹ với tính cách là năng lực cải tạo, hoạt động sản sinh cái mới chỉ có thể hình thành trong môi trường lao động Theo đó, tác giả đưa
ra các thành phần chính yếu của ý thức thẩm mỹ hay năng lực thẩm mỹ là tình cảm
- cảm xúc thẩm mỹ, thị hiếu thẩm mỹ, lý tưởng thẩm mỹ để giúp cho chủ thể sống
và hoạt động theo quy luật của cái đẹp [66, tr.19]
Công trình Giáo dục thẩm mỹ trong việc hình thành lối sống văn hoá cho
thanh niên vùng đồng bằng sông Cửu Long hiện nay của Lương Thanh Tân [85] đã
phân tích ý nghĩa và giá trị của giáo dục thẩm mỹ thông qua môi trường lao động đối với thanh niên cả nước nói chung, thanh niên vùng đồng bằng sông Cửu Long nói riêng trong bối cảnh hội nhập quốc tế hiện nay; khẳng định những giá trị văn
Trang 22hoá truyền thống tốt đẹp của dân tộc; những mặt tiêu cực và hạn chế, ảnh hưởng của hội nhập quốc tế đối với thanh niên nơi đây Tác giả cũng đưa ra một số giải pháp
cơ bản nhằm nâng cao chất lượng giáo dục thẩm mỹ thông qua môi trường lao động trong việc hình thành lối sống cho thanh niên vùng đồng bằng sông Cửu Long mang đặc trưng lối sống vùng miền, nhưng không tách rời với thanh niên cả nước nói chung
Công trình Giáo dục lý tưởng thẩm mỹ cho thanh niên thông qua hệ thống
thiết chế nhà văn hoá của Trần Quốc Bảng [7] cũng đề cập đến vai trò của giáo dục
thẩm mỹ qua môi trường nhà văn hóa đối với việc hình thành nhân cách xã hội chủ nghĩa cho thanh niên Tác giả đi sâu phân tích những tác động của các giá trị văn hoá truyền thống và sự phát triển kinh tế - xã hội với việc giáo dục lý tưởng thẩm
mỹ ở hệ thống thiết chế nhà văn hoá, đồng thời đề xuất những giải pháp cơ bản nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục lý tưởng thẩm mỹ cho thanh niên trong hệ thống thiết chế nhà văn hoá
Các công trình khoa học trên đã đề cập nhiều vấn đề quan trọng về giáo dục thẩm mỹ thông qua môi trường lao động Trong đó, liên quan đến vai trò, nội dung, hình thức, phương tiện giáo dục thẩm mỹ thông qua môi trường lao động cho các đối tượng khác nhau Các cơ quan hành chính nhà nước với tư cách là một môi trường lao động đặc thù thì sự luận giải của các công trình kể trên ở một số nội dung khá sâu sắc là cơ sở quan trọng cho nghiên cứu sinh kế thừa, bổ sung, làm rõ thêm theo hướng nghiên cứu của luận án
+ Nhóm công trình nghiên cứu về khái niệm và giá trị của môi trường thẩm mỹ
Vào năm 1983, trên Tạp chí Triết học đăng tải bài viết Mấy vấn đề thẩm mỹ
hóa môi trường của Đỗ Huy [42] Bài viết đã phân tích và đánh giá về vai trò của
việc thẩm mỹ hóa môi trường trong đời sống xã hội Tác giả cũng cho rằng, nếu đứng trên lập trường, quan điểm thẩm mỹ của chủ nghĩa Mác - Lênin và hoàn thiện toàn bộ môi trường của chúng ta chắc chắn nó sẽ góp phần không nhỏ cả về mặt kinh tế, chính trị lẫn xây dựng con người mới cho thế hệ hôm nay và thế hệ mai sau
Vào năm 1999, Viện Mỹ thuật thuộc trường Đại học Mỹ thuật Hà Nội phối
hợp với Hội Mỹ thuật Việt Nam đã tổ chức Hội thảo khoa học với chủ đề Thẩm
Trang 23mỹ môi trường Tại hội thảo, các nhà khoa học với những cách nhìn khác nhau đã
đánh giá các khía cạnh, các phương diện về môi trường thẩm mỹ Những bài tham luận trong hội thảo đã bao quát rất nhiều vấn đề liên quan đến môi trường thẩm
mỹ như khái niệm môi trường thẩm mỹ, về hiện trạng và các biện pháp nhằm xây
dựng môi trường thẩm mỹ ở nước ta, trong đó có bài viết Sự lệch pha giữa ý niệm
thẩm mỹ môi trường và hiện trạng môi trường thẩm mỹ của nhà nghiên cứu Vũ
Ngọc Thư [110]; Phát huy không gian môi trường thẩm mỹ truyền thống trong
quy hoạch đô thị của Đoàn Bá Cử [110]… Các tác giả cho rằng, chúng ta đang có
sự khác biệt rất nhiều giữa lý luận (ý niệm thẩm mỹ) và thực tiễn (môi trường thẩm mỹ), từ đó các tác giả cũng đưa ra những nhận định sự thay đổi của môi trường thẩm mỹ từ truyền thống đến hiện đại và dự báo về xu hướng biến đổi của môi trường thẩm mỹ trong tương lai Từ những vấn đề chung mang tính lý luận, các tác giả cũng đã đưa ra những dẫn chứng cụ thể về biểu hiện, giá trị của môi trường thẩm mỹ và đưa ra những giải pháp mang tính đột phá nhằm xây dựng môi trường thẩm mỹ ở nước ta hiện nay
Trong bài báo Tìm đến giá trị của môi trường thẩm mỹ, tác giả Thái Hanh
đã tiếp cận giá trị của môi trường thẩm mỹ với tính cách là không gian sinh thái tự
nhiên và cảnh quan có quan hệ với cuộc sống của con người và do con người tạo nên Tác giả thể hiện điều đó bằng các thuật ngữ “không gian môi trường” và
“cảnh quan môi trường” [39, tr.8] thông qua mô tả các tác phẩm, công trình nghệ thuật kiến trúc, điêu khắc của loài người đã tạo nên cảnh quan đẹp mắt và bổ ích
Tuy nhiên, giá trị của môi trường thẩm mỹ còn được “chiết xuất” từ hệ thống giá
trị văn hoá thẩm mỹ trong các mối quan hệ mang tính thẩm mỹ của môi trường xã hội Để thẩm mỹ hoá môi trường phải tạo ra trường thẩm mỹ lành mạnh, tức là phải xây dựng các mối quan hệ, ứng xử, giao tiếp và các thiết chế văn hoá theo tiêu chí cái đẹp
Khi nghiên cứu về giá trị thẩm mỹ của môi trường, rất nhiều tác giả đã quan tâm đến các hệ giải pháp xây dựng môi trường thẩm mỹ Chương 6 trong
cuốn Xây dựng môi trường văn hóa ở nước ta hiện nay từ góc nhìn giá trị học
của Đỗ Huy đã trình bày sự tương tác giữa các hệ chuẩn của cái đúng, cái tốt với
Trang 24cái đẹp của môi trường [49] Coi cái đẹp của môi trường gồm cảnh quan, tự nhiên, các sản phẩm lao động do con người tạo ra, lối sống của con người và các thiết chế xã hội, tác giả đã đề xuất các quá trình thẩm mỹ hóa môi trường gắn với pháp luật và đạo đức
Hà Huy Bính trong Mấy vấn đề về đạo đức và thẩm mỹ trong thời kỳ quá độ trình bày hệ giải pháp xây dựng môi trường thẩm mỹ bằng giáo dục cái thẩm mỹ [11] Cũng trong tác phẩm này, tác giả Hồng Mai lại đề xuất vấn đề môi trường
thẩm mỹ từ quan điểm sống và sáng tạo theo quy luật của cái đẹp Ngoài ra, còn có một số tác giả như Lê Trung Kiên, Hoàng Đạo Kính, Nguyễn Trực Luyên đã đề xuất việc thẩm mỹ hóa môi trường nông thôn và môi trường đô thị ở nước ta từ quy hoạch kiến trúc
Những bài viết và công trình nghiên cứu về môi trường văn hóa, thẩm mỹ đã nêu trên bước đầu cho thấy môi trường thẩm mỹ dưới các góc độ khác nhau được các tác giả đã tiếp cận được môi trường thẩm mỹ và các giá trị của môi trường thẩm
mỹ trong đời sống xã hội
1.2 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ MÔI TRƯỜNG VÀ MÔI TRƯỜNG THẨM MỸ Ở THỦ ĐÔ HÀ NỘI
Vấn đề môi trường và môi trường thẩm mỹ ở Thủ đô Hà Nội đã được nhiều nhà nghiên cứu mỹ học, nghệ thuật học, văn hóa học… quan tâm nghiên cứu từ rất sớm Trước thời kỳ đổi mới đã có một số công trình nghiên cứu liên quan đến môi trường và môi trường thẩm mỹ ở thủ đô trong đó chủ yếu nghiêng về văn hóa ứng
xử của người Hà Nội
Công trình Văn hóa ứng xử của người Hà Nội với môi trường tự nhiên do
Nguyễn Viết Chức và các cộng sự đã trình bày khái quát về môi trường tự nhiên và văn hóa ứng xử với môi trường tự nhiên truyền thống [19] Trên cơ sở đó, các tác giả cũng đưa ra thực trạng môi trường tự nhiên ở Hà Nội trước thách thức của toàn cầu hòa trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa thủ đô Ngoài ra, công trình cũng đưa ra những phương hướng, giải pháp nhằm xây dựng văn hóa ứng xử với môi trường tự nhiên ở Thủ đô Hà Nội Các tác giả tập trung làm rõ mối quan hệ giữa môi trường thiên nhiên và văn hóa ứng xử đối với môi trường thiên nhiên ở
Trang 25người Hà Nội, từ truyền thống đến hiện đại Trước thách thức của toàn cầu hóa trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa - hiện đại hóa các tác giả đã đề xuất một
số phương hướng, quan điểm, giải pháp và điều kiện xây dựng văn hóa ứng xử của người Hà Nội với môi trường thiên nhiên Nhìn chung, cho đến nay chưa có công trình nào trực tiếp nghiên cứu chủ đề văn hóa ứng xử của người Hà Nội trong thời
kỳ đổi mới Các công trình nêu ở trên là sự gợi ý và cung cấp một số cơ sở luận cứ, luận chứng để hoàn thành việc nghiên cứu đề tài của luận án
Sở Văn hoá - Thông tin Hà Nội vào năm 1974 đã xuất bản công trình Người
Hà Nội thanh lịch [83] Công trình tập trung phân tích đánh giá những giá trị văn
hóa và biểu hiện chất thanh lịch ở người Hà Nội trong lịch sử và trong cuộc sống hàng ngày Các tác giả đặc biệt nhấn mạnh nét đẹp thanh lịch trong cuộc sống tập thể, về những giá trị văn hóa truyền thống của người Hà Nội trong việc hình thành
và phát triển môi trường thẩm mỹ của Hà Nội ở thời điểm hiện tại và tương lai
Vũ Khiêu, Nguyễn Vĩnh Cát với công trình Văn hóa Thủ đô hôm nay và
ngày mai [58] đã phân tích, đánh giá văn hóa Thủ đô qua 45 năm xây dựng và phát
triển (1945 - 1990), nhất là mục “Bộ mặt Thủ đô qua nếp sống ngày nay”, các tác giả đã làm rõ sự biến đổi của môi trường thẩm mỹ của người Hà Nội thông qua cách thức ứng xử trong sinh hoạt vật chất, tinh thần và cuộc vận động xây dựng Nếp sống văn minh - Gia đình văn hóa khi mới bước vào đổi mới Các tác giả dự báo xu hướng phát triển môi trường thẩm mỹ tiếp theo qua mối quan hệ ứng xử trong gia đình, giao tiếp xã hội và sinh hoạt cá nhân; tức là những nội dung cơ bản trong văn hóa ứng xử với môi trường xã hội và với chính bản thân mình
Từ năm 2000 trở lại đây, trong khuôn khổ nghiên cứu về môi trường văn hóa
và môi trường thẩm mỹ ở Hà Nội đã có rất nhiều công trình nghiên cứu, trong đó có
các công trình tiêu biểu là: Thăng Long - Hà Nội hội tụ và tỏa sáng của Trần Văn
Bính [10] Tuy không trực tiếp bàn về môi trường thẩm mỹ, nhưng thông qua việc làm sáng tỏ các giá trị văn hóa Thăng Long - Hà Nội (văn học, kiến trúc, mỹ thuật, giáo dục, lễ hội ), các tác giả đã cung cấp một cái nhìn tổng quan về diễn trình lịch
sử, về đặc điểm chung của môi trường thẩm mỹ và mối tương quan giữa văn hóa Thăng Long - Hà Nội với môi trường thẩm mỹ các vùng, miền trên đất nước (Phú
Trang 26Xuân - Huế, Sài Gòn - Thành phố Hồ Chí Minh) Hội tụ và tỏa sáng là đặc trưng tiêu biểu của môi trường thẩm mỹ Thăng Long - Hà Nội
Công trình Xây dựng tư tưởng đạo đức, lối sống và đời sống văn hóa ở Thủ
đô Hà Nội trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa hiện nay của
Nguyễn Viết Chức [17] Trên quan điểm lịch sử, văn hóa và đạo đức, tác giả đã khái quát và phân tích sâu sắc những quan điểm có liên quan, đồng thời trình bày thực trạng môi trường văn hóa nói chung và môi trường thẩm mỹ nói riêng ở Thủ
đô Hà Nội và đề xuất một số biện pháp nhằm nâng cao đời sống văn hóa ở Thu đô
Hà Nội trong hiện tại và tương lai
Công trình Nếp sống người Hà Nội của Nguyễn Viết Chức [18] đã làm rõ
môi trường thẩm mỹ của Thủ đô Hà Nội thông qua nếp sống, văn hóa sống Tác giả
đã phân tích khái niệm nếp sống, đánh giá khái quát quá trình phát triển của nếp sống người Thăng Long - Hà Nội qua các thời kỳ lịch sử và dự báo biến đổi nếp sống trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa Từ phân tích thực trạng nếp sống hiện nay các tác giả đã chỉ ra những vấn đề tồn tại và đề xuất kiến nghị xây dựng nếp sống như là một biểu hiện đặc trưng môi trường thẩm mỹ của người Hà Nội trong thời gian tới
Đến năm 2002, tác giả Nguyễn Viết Chức tiếp tục chủ biên và cho xuất
bản cuốn Những giá trị lịch sử - văn hóa 1000 năm Thăng Long - Hà Nội [20]
Trên quan điểm giá trị học văn hóa, công trình đã khái quát những giá trị lịch sử
- văn hóa Thăng Long - Hà Nội từ giá trị lịch sử - văn hóa vật thể đến giá trị lịch
sử - văn hóa phi vật thể Trong công trình, tác giả đã khái quát và phân tích sâu sắc những giá trị của môi trường thẩm mỹ của người Hà Nội, trong đó giá trị về nghệ thuật được tác giả đặc biệt quan tâm Tác giả công trình cũng đã khái quát, phân tích thực trạng và đưa ra những phương hướng, giải pháp nhằm khôi phục, giữ gìn và phát huy những giá trị lịch sử - văn hóa Thăng Long - Hà Nội trong thời kỳ đổi mới
Tháng 5 năm 2001, Sở Văn hóa thông tin Hà Nội và Viện Văn hóa đã tổ chức một cuộc hội thảo lớn bao gồm những nhà xã hội học, văn hóa học, mỹ học đến tham dự Cuộc hội thảo này tập trung nghiên cứu tư tưởng, đạo đức, lối sống,
Trang 27đời sống văn hóa ở Thủ đô Hà Nội trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước Hội thảo lớn bao gồm 32 chuyên mục tập trung lý giải nguồn gốc, bản chất, mỹ tục, lối sống thanh lịch của người Hà Nội từ truyền thống đến hiện đại Trong báo cáo đề dẫn hội thảo, giám đốc sở Văn hóa và thông tin - Nguyễn Viết Chức đã nói rõ là mục tiêu của hội thảo nhằm xây dựng tư tưởng đúng, đạo đức tốt, nếp sống đẹp trong môi trường văn hóa Thăng Long - Hà Nội của thời kỳ công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước Đa số các tham luận đã tập trung phân tích những vấn đề cấp bách của Thủ đô Hà Nội về cảnh quan tự nhiên, bảo vệ và phát huy di sản ngàn năm của cha ông, nhận diện các phản văn hóa và các phản thẩm mỹ trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa thủ đô và đề xuất quan điểm cùng những giải pháp thẩm mỹ hóa môi trường Thủ đô Hà Nội theo chuẩn mực của cái đúng, cái tốt, cái đẹp
Cuốn sách Con người, môi trường và văn hóa của Nguyễn Xuân Kính đã dành một chương để viết về môi trường thẩm mỹ của người Hà Nội với tiêu đề Nét
thanh lịch của người Hà Nội thể hiện qua những trang viết và qua con người nhà văn Vũ Ngọc Phan [65] Tác giả cho rằng, môi trường văn hóa nói chung và môi
trường thẩm mỹ nói riêng của người Hà Nội trong sáng tác của Vũ Ngọc Phan là sự thanh lịch biểu hiện ở hiếu học, ham đọc sách, trọng đạo lí; nói năng, ứng xử lịch sự; khéo tay hay nghề; sành ăn và khéo mặc Đây chưa phải là tất cả những phương diện thể hiện môi trường thẩm mỹ của Thủ đô Hà Nội, cũng như trong từng phương diện, chưa phải là tác giả đã khai thác hết Điều đó cũng dễ hiểu vì không một cá nhân nào có thể viết đủ, viết hết về môi trường thẩm mỹ của Thủ đô Hà Nội Cùng với những tác giả khác như Thạch Lam, Vũ Bằng, nhà văn Vũ Ngọc Phan đã có đóng góp riêng trong mảng đề tài này
Một số bài viết của Nguyễn Văn Dương về môi trường thẩm mỹ cũng đã
được đăng tải trên Tạp chí Nghiên cứu Mỹ thuật như: Mỹ thuật môi trường đô thị [25]; Mỹ thuật môi trường ở công viên thống nhất [26]… Các bài viết tác giả chủ
yếu đã đề cập đến vấn đề thẩm mỹ trong một số vấn đề nghệ thuật điêu khắc và xây
dựng tượng đài ở Hà Nội Lê Trung Kiên có các bài viết như: Khía cạnh thẩm mỹ
trong đời sống đô thị hiện nay [61]; Nghịch lý trong xây dựng môi trường thẩm mỹ
Trang 28đô thị Hà Nội [62]; Giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa môi trường đô thị Hà Nội hiện nay [63]… Các bài viết này của Lê Trung Kiên chủ yếu tập trung khai thác các
khía cạnh thẩm mỹ trong đời sống đô thị ở Thủ đô Hà Nội và đề xuất một số biện pháp nhằm giữ gìn và phát huy các giá trị bản sắc của môi trường thẩm mỹ tại thủ
đô hiện nay
Cuốn Cảm thụ thẩm mỹ người Hà Nội do Hồ Sỹ Vịnh [114] là một cuốn
sách lớn, viết tập trung về môi trường thẩm mỹ ở Hà Nội Cuốn sách này do 4 tác giả chuyên nghiên cứu về mỹ học viết Đó là tác giả Hồ Sỹ Vịnh, Đỗ Huy, Phạm Duy Đức, Nguyễn Duy Bắc viết Cuốn sách đề cập toàn diện đến các phương diện thẩm mỹ của môi trường Hà Nội từ truyền thống đến hiện đại Trước hết, cuốn sách xây dựng một hệ thống lý luận về tình cảm thẩm mỹ, nhận diện các quan điểm thẩm
mỹ ở Hà Nội, đề xuất các giá trị thẩm mỹ ở môi trường trong lối sống người Hà Nội Cuốn sách đã trình bày, phân tích và đánh giá về thực trạng môi trường thẩm
mỹ của nhân dân Thủ đô Hà Nội qua hơn 20 năm đổi mới (1986 - 2007) để lựa chọn những giá trị thẩm mỹ có tính ổn định, bền vững, đồng thời gạt bỏ những cái chưa đẹp, cái xấu, cái ngoại lai, cái bắt chước kệch cỡm trong lối sống, nếp sống
Từ đó, các tác giả cũng đưa ra những quan điểm, định hướng và giải pháp nhằm xây dựng môi trường thẩm mỹ gắn với việc xây dựng con người Hà Nội văn minh - thanh lịch - hiện đại
Thủ đô Hà Nội là trái tim của cả nước với nền văn hiến lâu đời, các giá trị thẩm mỹ nằm trong không gian Hà Nội được các tác giả tiếp cận chủ yếu từ văn hóa học và bước đầu quan tâm đến không gian thẩm mỹ và môi trường thẩm mỹ thông qua các sinh hoạt hàng ngày của người Hà Nội Môi trường thẩm mỹ trong cơ quan hành chính thuộc thành phố Hà Nội là đề tài nghiên cứu về môi trường thẩm mỹ trong cơ quan hành chính với cách tiếp cận từ văn hóa truyền thống, thẩm mỹ của người Hà Nội nhằm xây dựng môi trường thẩm mỹ của thành phố Hà Nội và môi trường thẩm mỹ trong cơ quan hành chính
1.3 NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA CẦN TIẾP TỤC NGHIÊN CỨU
Tình hình nghiên cứu ở trên cho thấy, vấn đề môi trường và môi trường thẩm
mỹ, giáo dục thẩm mỹ, văn hóa thẩm mỹ đã được đặt ra nghiên cứu trong suốt
Trang 29chiều dài lịch sử triết học, mỹ học, nghệ thuật học, tâm lý học; trong đó có tính chất vừa phổ quát vừa chuyên sâu của các học giả trong nước và ngoài nước Một số công trình đã nghiên cứu, lý giải sâu về môi trường bao gồm môi trường tự nhiên và môi trường xã hội, trong đó môi trường thẩm mỹ cũng đã được quan tâm nghiên cứu tuy không nhiều khi nghiên cứu về môi trường văn hóa Ngoài ra, các công trình cũng đã nghiên cứu sâu về lĩnh vực thẩm mỹ, lý giải về bản chất, đặc trưng, vai trò của môi trường văn hóa thẩm mỹ, về giáo dục thẩm mỹ thông qua môi trường lao động, về bản chất và giá trị của môi trường thẩm mỹ, đặc biệt là các giải pháp thẩm mỹ hóa môi trường Từ các vấn đề môi trường nói chung, vấn đề môi trường và môi trường thẩm mỹ tại Thủ đô Hà Nội cũng đã được các nhà nghiên cứu trong nước quan tâm từ rất sớm Đã có những công trình, bài viết, hội thảo công phu nghiên cứu về các vấn đề của môi trường và môi trường thẩm mỹ ở Hà Nội trên các phương diện về đặc trưng, biểu hiện, giá trị và thực trạng về môi trường thẩm
mỹ ở Hà Nội Tuy nhiên vấn đề môi trường thẩm mỹ trong các cơ quan hành chính
nhà nước chứa đựng tiềm năng to lớn và sự tác động đặc thù của nó đến nay hầu
như chưa được quan tâm nghiên cứu đúng mức và hệ thống Để thực hiện mục đích
và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án này, chúng tôi sẽ tập trung nghiên cứu để làm sáng rõ các nội dung chính sau:
- Những vấn đề lý luận về môi trường thẩm mỹ nói chung; bản chất, đặc điểm và khả năng tác động đặc thù và hiệu quả của môi trường thẩm mỹ trong cơ quan hành chính nhà nước;
- Khái quát thực trạng môi trường thẩm mỹ trong cơ quan hành chính nhà nước ở Thủ đô Hà Nội hiện nay, nhằm xác định mặt được và mặt chưa được trong việc xây dựng và phát triển môi trường thẩm mỹ; từ đó đề xuất các giải pháp nhằm xây dựng và phát huy vai trò của môi trường thẩm mỹ trong cơ quan hành chính nhà nước tại Thủ đô Hà Nội giai đoạn hiện nay nhằm xây dựng lối sống xã hội chủ nghĩa, đời sống văn hóa, nếp sống văn minh gắn liền hữu cơ với việc xây dựng con người Hà Nội văn minh, thanh lịch, hiện đại
Trang 30Tiểu kết chương 1
Hiện đại hóa nền hành chính là xu hướng tất yếu của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta hiện nay Môi trường để hoạt động hành chính có hiệu quả bao chứa rất nhiều yếu tố trong đó có yếu tố về không gian, kiến trúc, cảnh quan, phương tiện làm việc…tác động nên hoạt động hành chính Môi trường, môi trường thẩm mỹ đã được nhiều nhà khoa học tiếp cận ở nhiều công trình nhiên cứu khác nhau Trên cơ sở nghiên cứu và phân tích một số công trình khoa học trong và ngoài nước, có thể khẳng định, các công trình đã tổng quan đều là những công trình nghiên cứu công phu và nghiêm túc về môi trường thẩm mỹ, từ đó tác giả lựa chọn môi trường thẩm mỹ trong cơ quan hành chính là đề tài nghiên cứu nhằm đem đến góc nhìn mới của môi trường thẩm mỹ
Môi trường thẩm mỹ trong cơ quan hành chính là yếu tố quan trọng trong quá trình phát triển chung của đất nước Lý luận về môi trường trong cơ quan hành chính không những là hướng nghiên cứu mới phù hợp với thực tiễn mà còn làm phong phú hơn lý luận về mỹ học, thẩm mỹ Trên cơ sở phân tích một số công trình nghiên cứu về mỹ học, thẩm mỹ trong và ngoài nước, có thể khẳng định môi trường thẩm mỹ, nhất là môi trường thẩm mỹ trong cơ quan hành chính có tác động to lớn đến nền hành chính ở nước ta hiện nay Những khẩu hiệu như xây dựng Chính phủ kiến tạo, liêm chính, hành động quyết liệt phục vụ nhân dân đẩy mạnh cải cách hành chính…nhằm xây dựng đất nước phồn vinh, đem lại cuộc sống ấm no cho con người là mục tiêu của toàn Đảng, toàn dân Để tiến hành tốt những khẩu hiệu trên việc xem xét và đánh giá môi trường thẩm mỹ trong cơ quan hành chính là yếu tố quan trọng để thúc đẩy quá trình xây dựng và phát triển đất nước
Môi trường thẩm mỹ trong cơ quan hành chính nhà nước ở Việt Nam nói chung và ở Hà Nội nói riêng cho đến nay chưa được tổng hợp nghiên cứu theo quan điểm mỹ học mácxit Những bài viết và các công trình nghiên cứu được tổng quan trên là cơ sở để luận giải những vấn đề cơ bản của môi trường thẩm mỹ trong cơ quan hành chính nhà nước
Trang 31Chương 2 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ MÔI TRƯỜNG THẨM MỸ TRONG
CƠ QUAN HÀNH CHÍNH THUỘC THÀNH PHỐ HÀ NỘI
2.1 LÝ LUẬN VỀ MÔI TRƯỜNG
Môi trường từ lâu đã trở thành mối quan tâm của nhiều ngành khoa học
không chỉ ở Việt Nam mà còn nhiều quốc gia trên thế giới Đây là một khái niệm trừu tượng mà con người (ở vào thời kỳ muộn, chứ không phải có ngay từ buổi bình minh của loài người) phải đưa vào trong ngôn ngữ của mình để tư duy và nhận thức Theo cách thông thường, môi trường (Environment) được hiểu là một thực tế khách quan tồn tại bên ngoài, bao quanh con người và nhờ vào đó mà con người tồn tại và phát triển được Tuy nhiên môi trường là một khái niệm rộng và tương đối phức tạp Chính vì vậy, tùy thuộc vào cách nhìn nhận mối quan hệ của thực thể với các điều kiện xung quanh và phạm vi xem xét, nghiên cứu, khái niệm môi trường được cắt nghĩa theo nhiều hướng khác nhau:
Thứ nhất, môi trường được hiểu là toàn bộ thế giới vật chất, với tất cả sự đa
dạng, muôn màu muôn vẻ của nó và luôn tồn tại khách quan Đó chính là môi trường toàn cầu, môi trường trái đất và những điều kiện bao quanh trái đất Nó bao gồm khí quyển, thủy quyển và thạch quyển Ở nước ta, những năm 90 của thế kỷ
XX quan niệm này vẫn còn tồn tại khá phổ biến Trong mục tìm hiểu khái niệm Môi
trường và bảo vệ môi trường của tạp chí Cộng sản và tạp chí Công tác khoa giáo
cũng chỉ nhấn mạnh đến các yếu tố tự nhiên, sinh thái, các yếu tố vật chất nhân tạo bao quanh con người có ảnh hưởng tới sự tồn tại và phát triển của con người mà không hề đề cập đến các yếu tố tư tưởng, tinh thần, các yếu tố xã hội - với tư cách là một bộ phận quan trọng cấu thành môi trường sống của con người [96], [97]
Thứ hai, môi trường được hiểu là không gian sống, là phần của thế giới vật
chất đã và đang tồn tại sự sống, hay còn được gọi là sinh quyển Môi trường sống bao gồm trong đó những điều kiện vô cơ và hữu cơ liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến sự tồn tại, phát triển của các sinh thể
Trang 32Thứ ba, môi trường còn được hiểu là không gian bao chứa con người và xã
hội loài người Nó bao gồm sinh quyển và những điều kiện xã hội Nói cách khác,
đó là môi trường tự nhiên - xã hội, hay môi trường tự nhiên - người hóa, môi trường sinh thái nhân văn
Theo Hồ Sỹ Quý, khi dùng khái niệm môi trường trong lĩnh vực phát triển xã hội và xây dựng con người, nghĩa là khi phân tích ảnh hưởng của môi trường đến đời sống của các chủ thể, như cá nhân, nhóm, cộng đồng, đặc biệt khi gắn với các đặc trưng xã hội và nhân cách, người ta lại thấy thiếu hụt nếu không coi toàn bộ đời sống xã hội phong phú và phức tạp bên ngoài (các chủ thể đó) như là môi trường có ảnh hưởng và thường quy định, thậm chí quyết định diện mạo của mỗi chủ thể Cá nhân nào cũng ít nhiều là sản phẩm của một xã hội cụ thể, nghĩa là được tạo ra từ một hệ thống, một cơ chế cụ thể Xã hội nào cũng để dấu ấn của mình lên đời sống
cá nhân, dù là dấu ấn tích cực hay dấu ấn tiêu cực Trong những trường hợp như vậy, khái niệm môi trường xã hội xuất hiện [81]
Như vậy, thông qua các công trình nghiên cứu thì môi trường là toàn bộ những điều kiện tự nhiên và xã hội bao quanh con người, ảnh hưởng đến sự tồn tại
và phát triển của con người Ðể phân phân loại môi trường, Trần Quốc Vượng trong
cuốn Cơ sơ văn hóa Việt Nam có phân loại môi trường ra 2 loại: môi trường tự nhiên và môi trường nhân tạo Nguyễn Xuân Kính trong cuốn Con người, môi
trường và văn hóa, lại có cách phân loại khác, chia môi trường thành 3 loại: môi
trường sinh thái tự nhiên; môi trường sinh thái nhân văn và môi trường xã hội Dựa
vào chức năng để phân loại môi trường thì Lưu Ðức Hải trong cuốn Cơ sở khoa học
môi trường, phân loại môi trường có 3 loại: môi trường tự nhiên; môi trường xã hội;
môi trường nhân tạo
Năm 1981, Tổ chức giáo dục của Liên hợp quốc (UNESCO) đã đưa ra một định nghĩa về khái niệm này như sau: Môi trường bao gồm toàn bộ các hệ thống tự nhiên và nhân tạo, trong đó con người sinh sống và bằng lao động của mình đã khai thác những tài nguyên thiên nhiên hoặc nhân tạo để thỏa mãn những nhu cầu của mình Luật Bảo vệ Môi trường của Việt Nam, Ðiều 1: Môi trường bao gồm các yếu
tố tự nhiên và yếu tố vật chất nhân tạo quan hệ mật thiết với nhau, bao quanh con
Trang 33người, có ảnh hưởng tới đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và thiên nhiên
Nhà nghiên cứu Hoàng Đức Nhuận khẳng định, khi nghiên cứu về môi trường của con người thì cần phải được hiểu theo nghĩa rộng:
Nó bao gồm toàn bộ hệ thống tự nhiên và những gì do con người sáng tạo ra như các hệ sinh thái nhân tạo, những nhóm và những hội môi trường văn hóa trong đó con người sống và khai thác bằng lao động của mình, những nguồn lợi tự nhiên và nhân tạo cho phép thỏa mãn những nhu cầu của con người [75, tr.7]
Đồng tình với ý kiến trên, Nguyễn Anh Tường cũng cho rằng, “môi trường là tất cả các yếu tố xung quanh gồm vô sinh, hữu sinh, ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến cuộc sống con người, đến sự tồn tại phát triển của các sinh vật sống Môi trường bao gồm hai mặt: Môi trường tự nhiên và môi trường
xã hội” [106]
Tác giả Trường Lưu rất có lý khi cho rằng: “Về một định nghĩa chung thì môi trường là những gì gắn chặt và bao quanh con người; từ đó người ta vận dụng
vào các dạng môi trường khác nhau” [69, tr.241] Như vậy, có thể thấy: môi trường
là một khái niệm rất rộng dùng để chỉ toàn bộ các điều kiện vô cơ và hữu cơ có liên quan tới sinh tồn và phát triển của cơ thể sống, bao gồm tất cả những gì đang tồn tại khách quan với tất cả những hình thức biểu hiện muôn màu của nó Trong khái
niệm môi trường, các nhà nghiên cứu đã sử dụng để chỉ hai loại môi trường là môi
trường sinh thái và môi trường xã hội
Môi trường sinh thái (môi trường tự nhiên) bao gồm các yếu tố biotic (hữu
sinh) và abiotic (vô sinh), là tổng hợp những điều kiện tự nhiên có liên quan đến sự sống của con người, đến sự tồn tại và phát triển của xã hội Đó là sinh quyển, là một
hệ thống mở về nhiệt động học Sinh quyển có một phạm vi bao quát rất rộng lớn như vũ trụ, thế giới vật lý, thế giới sinh học Chúng là những hiện tượng tự nhiên như khí quyển, thạch quyền, thủy quyển vốn tồn tại ngoài tác động của con người
và cần thiết cho sự tồn tại và phát triển của con người và mọi sinh vật sống
Như vậy, môi trường sinh thái là sự tổng hợp những gì tồn tại khách quan, là cái đương nhiên tồn tại, không phải do ý muốn, hiểu biết và sáng tạo của con người
Trang 34Đó là toàn bộ thế giới vật chất, là vũ trụ và toàn bộ những hình thức biểu hiện muôn màu, muôn vẻ của nó, từ các yếu tố vô cơ, đến các sinh vật, vi sinh vật, con người
và xã hội loài người Con người và xã hội là sản phẩm của tự nhiên xuất hiện một cách tất yếu, khách quan trong quá trình tiến hóa của tự nhiên, do đó con người là một bộ phận đặc thù của tự nhiên
Con người và xã hội là các yếu tố thống nhất trong một chỉnh thể không tách rời Trong mối quan hệ chặt chẽ và sự tác động qua lại giữa xã hội và tự nhiên, yếu
tố tự nhiên có ảnh hưởng rất to lớn đối với sự tồn tại, phát triển của con người cũng như của xã hội loài người Đối với con người và xã hội loài người, môi trường sinh thái có một giá trị vô cùng to lớn, không thể thay thế: Nó vừa là nơi tồn tại, sinh trưởng và phát triển, vừa là nơi con người lao động và hưởng thụ những giá trị văn hóa vật chất và tinh thần do sự lao động đó tạo nên Tác giả Phạm Thị Ngọc Trầm
đã nhận định môi trường sinh thái “là môi trường sống của con người và xã hội loài người, là điều kiện đầu tiên, thường xuyên và tất yếu của quá trình sản xuất ra của cải vật chất, là một trong những yếu tố cơ bản nhất của tồn tại xã hội” [101, tr.68]
Quan hệ giữa con người với môi trường tự nhiên là quan hệ hết sức gắn bó Bởi, con người muốn tồn tại và phát triển không thể không cần đến những điều kiện cần thiết đối với sự sống như nước, ánh sáng, không khí, thức ăn Xã hội loài người cũng không thể phát triển nếu không có những nguồn tài nguyên thiên nhiên, khoáng sản và các nguồn nguyên vật liệu quan trọng khác Chỉ có tự nhiên mới có khả năng cung cấp cho con người tất cả những điều kiện vật chất cần thiết
đó Với những vai trò đặc biệt quan trọng như vậy, UNESCO đã đánh giá môi
trường sinh thái có ba chức năng chính đối với con người: Thứ nhất, môi trường
sinh thái là nơi cung cấp các nguồn tài nguyên cần thiết đối với sự tồn tại, phát
triển của con người và xã hội loài người Thứ hai, nó là nơi thu nhận các hoạt
động của con người nhằm phục vụ cho các nhu cầu về đời sống vật chất, tinh thần
cho con người Thứ ba, môi trường tự nhiên còn là nơi đồng hóa các chất thải do
kết quả của các hoạt động đó [75, tr.7]
Môi trường sinh thái là cơ sở tự nhiên của đời sống con người, là tiền đề của nền sản xuất xã hội Trong Bản thảo kinh tế - triết học năm 1844, khi đánh giá vị trí,
Trang 35vai trò của môi trường sinh thái đối với sự phát triển của con người và xã hội, C.Mác đã khẳng định:
Công nhân không thể sáng tạo ra cái gì nếu không có giới tự nhiên, nếu không có thế giới hữu hình bên ngoài Đó là vật liệu, trong đó lao động của anh ta được thực hiện, trong đó hoạt động lao động của anh ta triển khai, từ đó và nhờ đó, lao động của anh ta sản xuất ra sản phẩm Giới tự nhiên cung cấp cho lao động tư liệu sinh hoạt theo nghĩa là không có vật
để cho lao động tác động vào thì lao động không thể sống được; mặt khác, chính giới tự nhiên cũng cung cấp tư liệu sinh hoạt theo nghĩa hẹp hơn, nghĩa là cung cấp tư liệu để tồn tại về thể xác cho bản thân người công nhân [72, tr.130]
Sự phát triển của cuộc cách mạng khoa học công nghệ hiện đại trong thời đại ngày nay đã mang lại cho con người những khả năng và sức mạnh to lớn, cho phép con người có thể tạo ra những vật liệu mới, mà nguyên liệu để sản xuất vốn không
có sẵn trong tự nhiên Xét đến cùng, những thành phần để tạo nên những vật liệu mới đó cũng không thể lấy từ đâu khác ngoài giới tự nhiên Thực ra, dù rằng xã hội
có phát triển tới trình độ hiện đại đến đâu chăng nữa, con người cũng không thể tách khỏi tự nhiên, biệt lập với tự nhiên; không thể gạt tự nhiên đứng bên lề cuộc sống của mình Trái lại, xã hội càng phát triển, con người càng cần đến môi trường sinh thái, càng gắn bó với nó nhiều hơn Bởi lẽ, “những thành phần vốn có của tự nhiên không những là những yếu tố cần thiết đối với sự sống của con người, mà còn
là những nguồn tài lực vô cùng tận cho sự phát triển của xã hội, nếu như con người biết khai thác và sử dụng nó một cách khôn khéo, hợp lý” [101, tr.72] Tự nhiên vừa
là nguồn cung cấp tài nguyên, vừa là nơi thu nhận các hoạt động của con người nhằm cải biến những tài nguyên đó thành các giá trị vật chất và tinh thần phục vụ sự tồn tại, phát triển của con người, xã hội Con người, như quan niệm của triết học mác-xít, vừa là một thực thể tự nhiên, vừa là một thực thể xã hội Do vậy, tự nhiên còn là môi trường diễn ra các hoạt động sống của con người, trước hết là hoạt động lao động sản xuất, và nhờ vậy, con người duy trì được sự tồn tại, phát triển của chính bản thân mình Tồn tại trong một chỉnh thể thống nhất, các yếu tố tự nhiên, con người và xã hội luôn liên hệ chặt chẽ và tác động lẫn nhau C.Mác quan niệm:
Trang 36Giới tự nhiên là thân thể vô cơ của con người Con người sống bằng giới tự nhiên Như thế nghĩa là giới tự nhiên là thân thể của con người, thân thể mà với nó con người phải ở lại trong quá trình thường xuyên giao tiếp để tồn tại Nói rằng đời sống thể xác và tinh thần của con người gắn liền với giới tự nhiên, nói như thế chẳng qua chỉ có nghĩa là giới tự nhiên gắn liền với bản thân giới tự nhiên, vì con người là một bộ phận của giới tự nhiên [72, tr.135]
Thông qua quá trình hoạt động thực tiễn, trước hết là quá trình lao động sản xuất ra của cải vật chất, con người đã nhận được các dòng vật chất, năng lượng và thông tin từ môi trường tự nhiên, biến đổi chúng cho phù hợp với nhu cầu sống của mình, với sự tồn tại và phát triển của xã hội Nền sản xuất xã hội là phương thức trao đổi chất đặc thù giữa xã hội và
tự nhiên, thông qua chu trình sinh học [70, tr.266]
Thông qua quá trình sản xuất, con người đã tác động vào tự nhiên, khai thác
và lấy đi từ tự nhiên những nguồn tài nguyên cần thiết, cải biến chúng phục vụ nhu cầu sống của bản thân mình cũng như sự phát triển của xã hội Mác đã nhận định:
“Lao động trước hết là một quá trình diễn ra giữa con người và tự nhiên, một quá trình trong đó, bằng hoạt động của chính mình, con người làm trung gian, điều tiết
và kiểm tra sự trao đổi chất giữa họ và tự nhiên” [70, tr.266] Tuy nhiên, từ chỗ nhận thức chưa đúng về vai trò của tự nhiên, coi tự nhiên là kho của cải vô tận có thể mặc sức sử dụng, con người đã tác động mạnh mẽ vào tự nhiên thông qua hoạt động sản xuất và để lại những hậu quả to lớn nhiều khi không thể lường trước mức
độ cũng như tính chất nghiêm trọng của nó Nền sản xuất xã hội đã sử dụng một cách hết sức lãng phí những nguồn tài nguyên thiên nhiên, kể cả những nguồn tài nguyên có thể và không thể tái tạo được Đồng thời, nền sản xuất xã hội lại đổ vào
tự nhiên một lượng phế thải quá lớn, hơn nữa, còn độc hại và nguy hiểm Sự mở rộng, đẩy mạnh các hoạt động sản xuất của con người cả về quy mô, cường độ dựa trên sự phát triển ngày càng cao của lực lượng sản xuất xã hội đã mang lại cho
xã hội những lợi ích vật chất to lớn, như lượng tài nguyên khai thác được ngày càng nhiều, nền kinh tế tăng trưởng ngày càng nhanh và với tốc độ cao Đó là những kỳ
Trang 37tích không thể phủ nhận trong tiến trình chinh phục, cải biến tự nhiên vì lợi ích vật chất của con người Nhưng, cũng không phải là quá cực đoan khi cho rằng, bắt đầu
từ chỗ tạo ra những cái được gọi là kỳ tích ấy, con người và xã hội loài người đồng thời phải đối mặt với sự tiềm tàng của những hiểm họa, nguy cơ và thách thức nghiệt ngã, nếu không nói là bi kịch, của sự phát triển theo kiểu bóc lột tự nhiên
Tóm lại, môi trường sinh thái có tầm quan trọng đặc biệt đối với cuộc sống của con người, với sự phát triển bền vững của các cộng đồng, các quốc gia Quan niệm mới về sự phát triển, trong đó nguyên tắc chủ đạo là sự đồng tiến hóa giữa con người và tự nhiên, đòi hỏi trong quá trình mưu cầu hạnh phúc của mình, con người không chỉ khai thác tự nhiên mà nhiệm vụ không kém phần quan trọng, thậm chí có
ý nghĩa quyết định sự sống còn, là cần phải biết giữ gìn, bảo vệ môi trường sinh thái; xây dựng mối quan hệ hài hòa giữa tự nhiên và xã hội vì lợi ích chung, lâu dài của xã hội loài người
Môi trường xã hội với tư cách là một bộ phận của môi trường chung cũng đã
được rất nhiều nhà nghiên cứu quan tâm Trên quan điểm triết học, xã hội là hình thức vận động cao nhất, là đỉnh cao của quá trình tiến hóa của thế giới vật chất
C Mác đã viết: “Xã hội - cho dù nó có hình thức gì đi nữa - là cái gì? Là sản phẩm của sự tác động qua lại giữa những con người” [71, tr.657] Hình thức vận động của xã hội luôn lấy mối quan hệ qua lại và sự tác động lẫn nhau giữa người và người làm nền tảng Xã hội chính là tổng hòa các mối quan hệ giữa người với người Con người với tư cách là sản phẩm cao nhất của quá trình tiến hóa lâu dài và phức tạp của giới tự nhiên thì xã hội không thể là cái gì khác mà chính là một bộ phận đặc biệt được tách ra một cahcs hợp quy luật trong quá trình tiến hóa của thế giới vật chất
Trên cơ sở về khái niệm và bản chất của xã hội, chúng ta có thể thấy rằng, môi trường xã hội chính là môi trường của những mối quan hệ qua lại giữa người với người Môi trường xã hội là môi trường mà con người là nhân tố trung tâm, tham gia và chi phối môi trường Môi trường xã hội bao gồm: chính trị, kinh tế, văn hoá, thể thao, lịch sử, giáo dục xoay quanh con người và con người lấy đó làm nguồn sống, làm mục tiêu cho mình
Trang 38Từ sự tác động qua lại giữa con người với con người trong môi trường xã hội, con người đã hình thành nên những mối quan hệ đặc biệt quan trọng cho sự sinh tồn và phát triển của mình Đầu tiên là sự ra đời của mối quan hệ kinh tế đã làm nền tảng cơ sở hạ tầng cho xã hội Trên cơ sở hạ tầng kinh tế, con người đã dần dần xây dựng Nhà nước cùng với các công cụ của nó hay kiến trúc thượng tầng của
xã hội như chính trị, văn hóa, đạo đức, tôn giáo… Cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng của xã hội đã tạo thành cái khung xã hội để con người hoạt động và thể hiện bản chất xã hội của mình
Với tính chất quyết định của mình, cơ sở kinh tế đã trở thành nền tảng cho mối quan hệ giữa người với người trong môi trường xã hội Tuy nhiên, quan hệ giữa của con người không chỉ có các quan hệ kinh tế trong sự tồn tại và phát triển của xã hội Cùng với việc sáng tạo ra những giá trị vật chất khổng lồ trong quá trình quan hệ và tác động lên tự nhiên, con người còn tạo ra thế giới giá trị văn hóa đầy phong phú: văn hóa vật chất (văn hóa vật thể) và văn hóa tinh thần (văn hóa phi vật thể) Những giá trị văn hóa với những giá trị xã hội do lao động sản xuất và hoạt động sống tạo ra làm hình thành một dạng môi trường sống mới của con người - môi trường văn hóa Đặc biệt, hiểu theo nghĩa môi trường văn hóa thường được dùng với nghĩa rộng nhất, bao gồm toàn bộ đời sống con người về phương diện văn hóa, nghĩa là gần như trùng với khái niệm môi trường xã hội về mặt phạm vi, chỉ khác ở khía cạnh xem xét là văn hóa, chứ không phải là ở các mặt khác Rất ít khi môi trường văn hóa chỉ được hiểu là gồm các hoạt động thuần túy văn hóa Trong khi đó, các khái niệm khác thuộc môi trường xã hội lại được sử dụng theo nghĩa hẹp hơn và có phần chặt chẽ hơn, chẳng hạn, môi trường pháp lý, môi trường kinh tế, môi trường giáo dục…
Cùng với môi trường sinh thái, môi trường xã hội -môi trường văn hóa thường xuyên tác động tới con người, bồi dưỡng tâm hồn, đạo lý, rèn luyện ý chí và
tôi luyện nhân cách con người Trần Văn Bính trong công trình Đề cương bài giảng
lý luận văn hóa nhận định:
Nếu đại tự nhiên là cái nôi đầu tiên nuôi sống con người, thì văn hóa là cái nôi thứ hai, ở đó toàn bộ đời sống tinh thần của con người được hình
Trang 39thành, được nuôi dưỡng và phát triển Con người không thể tồn tại nếu tách rời đại tự nhiên, cũng như con người không thể thực sự là con người nếu tách rời môi trường văn hóa [9, tr.65]
Điều đó khẳng định môi trường văn hóa thực sự có ý nghĩa, hàm chứa hệ thống giá trị nhân văn, vốn tri thức và kinh nghiệm xã hội đã được đúc kết trong thực tiễn lịch sử, tạo thành môi trường văn hóa lành mạnh nuôi dưỡng con người, phát triển con người ngày càng hoàn thiện về mọi mặt đức - thể - mỹ
Môi trường văn hóa là khái niệm đặc biệt của môi trường xã hội Văn hóa
hình thành và phát triển trước hết trong mối quan hệ giữa con người với môi trường
tự nhiên và môi trường xã hội Hơn nữa xét về bản chất, văn hóa chính là: “Sự phát huy các năng lực bản chất của con người, là sự thể hiện đầy đủ nhất chất người, nên văn hóa trở thành năng lực tinh thần đặc biệt, giúp cho con người hoàn thiện nhân cách, tâm hồn, đồng thời nâng cao hiệu quả hoạt động của con người” [9, tr.65] Một khi đã hình thành, văn hóa lại tạo ra môi trường sống, môi trường văn hóa của con người, góp phần quan trọng trong việc hình thành con người như một thực thể văn hóa
Môi trường văn hóa chính là sự vận động của các quan hệ của con người trong các quá trình sáng tạo, tái tạo, lưu giữ và hưởng thụ các sản phẩm vật chất và tinh thần của mình Môi trường văn hóa với tư cách là tổng hòa các mối quan hệ xã hội - trở thành khách thể, là cái bao quanh con người, tác động trở lại con người một
cách khách quan Trong cuốn Cơ sở lý luận văn hóa Mác - Lênin do A.I
Ac-nôn-đốp chủ biên đã đưa ra định nghĩa về môi trường văn hóa như sau:
Môi trường văn hóa là một tổng thể ổn định những yếu tố vật thể và nhân cách, nhờ đó các cá thể tác động lẫn nhau Chúng ảnh hưởng tới hoạt động khai thác và sáng tạo giá trị văn hóa, tới nhu cầu tinh thần, hứng thú và định hướng giá trị của họ Môi trường văn hóa không chỉ là tổng hợp những yếu tố văn hóa vật thể, mà còn có những con người hiện diện văn hóa [2, tr.75]
Trong những năm gần đây, môi trường văn hóa ở Việt Nam đã được nhà nghiên cứu đã đề cập và tiếp cận môi trường văn hóa từ nhiều góc độ và cấp độ khác nhau Từ góc nhìn giá trị học, nhà nghiên cứu Đỗ Huy khẳng định: “Môi
Trang 40trường văn hóa gắn với toàn bộ hoạt động người Các lớp và không gian của môi trường gắn liền với sự đối tượng hóa các năng lực bản chất của con người ” [49, tr.24] và “môi trường văn hóa chính là sự vận động của các quan hệ của con người trong các quá trình sáng tạo, tái tạo, đánh giá, lưu giữ và hưởng thụ các sản phẩm vật chất và tinh thần của mình” [49, tr.35-36] Theo tác giả, môi trường văn hóa là một hệ thống các giá trị nhân văn có mối quan hệ mật thiết đối với quá trình hình thành, phát triển nhân cách con người, phát triển xã hội
Từ góc nhìn nhân học văn hóa, nhà nghiên cứu Phạm Minh Hạc cho rằng:
“Môi trường văn hóa chính là môi trường xã hội và tự nhiên, bao gồm các quan hệ người, nhóm, gia đình, tổ tiên, cộng đồng dân tộc, xã hội” Môi trường văn hóa theo quan điểm của tác giả là sự vận động của các mối quan hệ giao tiếp, thể hiện trong ứng xử của từng người và gia phong, lối sống, nếp sống và trật tự kỷ cương của xã hội
Công trình nghiên cứu khoa học của Bộ quốc phòng “Nuôi dưỡng giá trị văn hóa trong nhân cách người chiến sỹ quân đội nhân dân Việt Nam” khi đề cập đến vấn đề môi trường văn hóa, các tác giả đã nêu rõ: “Môi trường văn hóa là tổng hòa những thành tố vật chất và tinh thần tương đối ổn định trong một thời gian và không gian cụ thể, ở đó các cá nhân tác động đến nhau, con người là yếu tố quan trọng nhất của môi trường văn hóa [98, tr.32]
Trong cuốn sách Quản lý hoạt động văn hóa, từ góc độ lãnh đạo, quản lý
hoạt động văn hóa, tập thể tác giả nhận định: “Môi trường văn hóa là một tổng thể các sản phẩm văn hóa, chương trình văn hóa, hành vi văn hóa, thiết chế, phương tiện và cảnh quan văn hóa mà cá nhân tiếp xúc trong suốt đời mình và có ảnh hưởng qua lại với mình” [56, tr.77]
Như vậy, có thể thấy rằng, môi trường văn hóa chính là môi trường nhân
hóa theo hình ảnh mong muốn của con người Môi trường văn hóa là toàn bộ yếu tố tự nhiên nhân văn và tổng hợp những yếu tố văn hóa - xã hội và nhân cách văn hóa bao bọc xung quanh con người Nó tác động biện chứng tới con
người thông qua hệ thống các giá trị, các truyền thống được kết tinh lại trong các phong tục, tập quán, khuôn mẫu ứng xử của cộng đồng nhằm phối hợp điều