1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đề tài nghiên cứu khoa học cấp trườnglao động cưỡng bức theo quy định của pháp luật lao động việt nam – thực trạng và giải pháp

69 12 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 69
Dung lượng 1,12 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI (6)
    • 1.1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu (6)
    • 1.2. Tình hình nghiên cứu (8)
      • 1.2.1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới (8)
      • 1.2.2. Tình hình nghiên cứu ở Việt nam (10)
    • 1.3. Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu (13)
      • 1.3.1. Đối tượng nghiên cứu (13)
      • 1.3.2. Phạm vi nghiên cứu (13)
    • 1.4. Mục tiêu nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu (14)
      • 1.4.1. Mục tiêu nghiên cứu (14)
      • 1.4.2. Phương pháp nghiên cứu (14)
    • 1.5. Ý nghĩa của nghiên cứu (15)
    • 1.6. Kết cấu của đề tài nghiên cứu (16)
  • CHƯƠNG 2. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ LAO ĐỘNG CƯỠNG BỨC (16)
    • 2.1. Khái quát chung về lao động cưỡng bức (17)
      • 2.1.1. Khái niệm lao động cưỡng bức (17)
      • 2.1.2. Đặc điểm của lao động cưỡng bức (20)
      • 2.1.3. Các hình thức của lao động cưỡng bức (24)
    • 2.2. Pháp luật về lao động cưỡng bức (26)
      • 2.2.1. Khái niệm pháp luật về lao động cưỡng bức (26)
      • 2.2.2. Nội dung pháp luật điều chỉnh về lao động cưỡng bức (27)
      • 2.2.3. Sự cần thiết phải điều chỉnh bằng pháp luật về lao động cưỡng bức (31)
  • CHƯƠNG 3. THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ LAO ĐỘNG CƯỠNG BỨC Ở VIỆT NAM HIỆN NAY (33)
    • 3.1. Thực trạng các quy định của pháp luật Việt Nam về lao động cưỡng bức (33)
      • 3.1.1. Ngoại lệ và những hình thức lao động cưỡng bức bị cấm theo quy định của pháp luật Việt Nam (33)
      • 3.1.3. Thực trạng các quy định về lao động cưỡng bức trong một số trường hợp khác (41)
      • 3.1.4. Thực trạng các quy định về xử lý các hành vi lao động cưỡng bức . 39 3.2. Thực tiễn thực hiện các quy định của pháp luật lao động về lao động cưỡng bức ở Việt Nam hiện nay (44)
      • 3.2.1. Thực tiễn thực hiện các quy định về lao động cưỡng bức đối với người lao động trong quan hệ hợp đồng lao động (45)
      • 3.2.2. Thực tiễn thực hiện các quy định về xử lý các hành vi lao động cưỡng bức (48)
    • 3.3. Đánh giá chung thực trạng pháp luật về lao động cưỡng bức hiện nay ở Việt Nam (50)
      • 3.3.1. Những thành tựu đạt được (50)
      • 3.3.2. Những vấn đề tồn tại (50)
  • CHƯƠNG 4. QUAN ĐIỂM HOÀN THIỆN VÀ ĐỂ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ LAO ĐỘNG CƯỠNG BỨC Ở VIỆT NAM HIỆN NAY (16)
    • 4.1. Quan điểm hoàn thiện pháp luật về lao động cưỡng bức ở Việt Nam hiện (54)
      • 4.1.1. Khắc phục những tồn tại trong hệ thống pháp luật (54)
      • 4.1.2. Bảo đảm phù hợp với các công ước quốc tế nhằm tạo nền tảng vững chắc cho hội nhập quốc tế (55)
      • 4.1.3. Bảo đảm phù hợp với trình độ phát triển và và những yếu tố xã hội đặc thù của Việt Nam (56)
    • 4.2. Một số giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện pháp luật về lao động cưỡng bức ở Việt Nam hiện nay (57)
      • 4.2.1. Về khái niệm lao động cưỡng bức (57)
      • 4.2.2. Đối với các quy định về lao động cưỡng bức được thực hiện đối với người lao động trong quan hệ hợp đồng lao động bao gồm (58)
      • 4.2.3. Đối với lao động là phạm nhân chấp hành hình phạt tù (60)
    • 4.3. Một số giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về lao động cưỡng bức ở Việt Nam hiện nay (62)
      • 4.3.1. Tăng cường vai trò và hoạt động của tổ chức Công đoàn các cấp (62)
      • 4.3.2. Tuyên truyền, phổ biến pháp luật và trợ giúp pháp lý cho NLĐ (63)
      • 4.3.3. Đẩy mạnh các biện pháp thanh, kiểm tra, giám sát, xử phạt NSDLĐ (63)
  • KẾT LUẬN (16)

Nội dung

TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI

Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu

Sự phát triển kinh tế và hội nhập toàn cầu đã dẫn đến nhiều vấn đề về quan hệ lao động, trong đó lao động cưỡng bức là một trong những hình thức tồi tệ nhất Lao động cưỡng bức vi phạm quyền tự do lao động và thân thể, là một trong những quyền cơ bản được pháp luật bảo vệ Việc xóa bỏ lao động cưỡng bức là tiêu chí quan trọng cho một xã hội văn minh và tiến bộ, đồng thời là tiêu chuẩn lao động quốc tế được công nhận Theo báo cáo của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) năm 2014, lao động cưỡng bức trong khu vực kinh tế tư nhân tạo ra 150 tỷ USD lợi nhuận bất hợp pháp hàng năm, với hơn 1/3 lợi nhuận đến từ khu vực châu Á - Thái Bình Dương Trên toàn cầu, khoảng 20,9 triệu người là nạn nhân của lao động cưỡng bức, trong đó 9,8 triệu người bị bóc lột bởi tư nhân và hơn 2,4 triệu người là nạn nhân của buôn người.

Đảng và Nhà nước Việt Nam đã thể hiện quan điểm nhất quán về lao động cưỡng bức và việc xóa bỏ nó thông qua các văn bản pháp lý, đặc biệt sau khi phê chuẩn Công ước 29 của ILO năm 2007 và trong quá trình gia nhập WTO Việt Nam đang tiến tới việc gia nhập Công ước 105 về xóa bỏ lao động cưỡng bức, điều này yêu cầu quốc gia phải "nội luật hóa" các nội dung của Công ước Hệ thống pháp luật liên quan đến lao động cưỡng bức tại Việt Nam phù hợp với Công ước 29, nghiêm cấm mọi hình thức lao động cưỡng bức, được ghi nhận trong Hiến pháp năm 2013.

I don't know!

Bộ luật Lao động năm 2012 và Luật Công đoàn năm 2012 đã ghi nhận các quy định liên quan đến lao động cưỡng bức, mặc dù chưa có luật riêng về vấn đề này Các quy định về lao động cưỡng bức được thể hiện qua nhiều văn bản pháp luật như Luật nghĩa vụ quân sự, Luật phòng chống ma túy, Bộ luật hình sự, và Bộ luật lao động, áp dụng trong các lĩnh vực như lao động trong doanh nghiệp, người mại dâm, người nghiện ma túy, thanh thiếu niên vi phạm pháp luật, và người thi hành án phạt tù.

Việt Nam đã nỗ lực thực hiện cam kết xóa bỏ lao động cưỡng bức sau gần 10 năm gia nhập Công ước số 29; tuy nhiên, hệ thống pháp luật lao động hiện tại vẫn chưa đầy đủ và minh bạch Luật lao động, với vai trò là luật chuyên ngành, còn tồn tại nhiều hạn chế trong việc điều chỉnh lao động cưỡng bức, dẫn đến việc xuất hiện các hình thức tinh vi hơn của lao động cưỡng bức Gần đây, nhiều trường hợp người lao động bị dụ dỗ, ép buộc làm thêm giờ, đe dọa và nhận mức lương thấp diễn ra khá phổ biến Hơn nữa, pháp luật hiện chưa có hướng dẫn cụ thể về các hình thức lao động cưỡng bức bị cấm, và thiếu quy định rõ ràng về những trường hợp không được coi là lao động cưỡng bức, điều này tạo điều kiện cho doanh nghiệp lợi dụng để ép buộc người lao động làm việc không mong muốn với mức lương thấp hơn.

Công ước 105 của ILO nhằm mục tiêu xóa bỏ lao động cưỡng bức, tuy nhiên, yêu cầu giữa các công ước khác nhau Công ước 29, mà Việt Nam đã tham gia, cho phép các quốc gia thành viên có lộ trình linh hoạt để thực hiện cam kết Điều này có nghĩa là trong một thời gian nhất định, một số hình thức lao động phục vụ lợi ích công cộng vẫn được phép tồn tại Ngược lại, Công ước 105 yêu cầu các quốc gia thành viên phải áp dụng mọi biện pháp để ngay lập tức loại bỏ lao động cưỡng bức dưới mọi hình thức và cam kết không sử dụng bất kỳ dạng lao động cưỡng bức nào.

Tình hình nghiên cứu về lao động cưỡng bức ở Việt Nam hiện vẫn còn hạn chế, đặc biệt là các nghiên cứu lý luận về các hình thức cưỡng bức lao động Việc nhận diện hành vi này và thực trạng lao động cưỡng bức trên toàn cầu và tại Việt Nam còn nhiều thiếu sót Thực tiễn áp dụng pháp luật về lao động cưỡng bức cần được xem xét để đưa ra các điều chỉnh pháp lý phù hợp trong bối cảnh quan hệ lao động của nền kinh tế thị trường Việt Nam Do đó, đề tài “Lao động cưỡng bức theo quy định của pháp luật lao động Việt Nam – Thực trạng và giải pháp” mang ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn.

Tình hình nghiên cứu

1.2.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới:

Trên toàn cầu, có nhiều nghiên cứu đa dạng về cưỡng bức lao động và lao động bắt buộc Trong số đó, một số nghiên cứu gần đây đã tập trung vào vấn đề lao động cưỡng bức, nhấn mạnh tính cấp thiết của việc hiểu rõ và giải quyết các hình thức lao động này.

A.C.L Davies, trong tác phẩm "Perspectives on Labour Law" (2003), đã phân tích các nội dung quan trọng trong Hiến chương Châu Âu về các quyền cơ bản của Liên minh Châu Âu Ông nhấn mạnh các quy định liên quan đến vấn đề cưỡng bức lao động và sự cần thiết phải xóa bỏ tình trạng này tại các quốc gia thuộc Liên minh Châu Âu.

Bài viết của John D.R Craig và S Michael Lynk, “Toàn cầu hóa và tương lai của luật lao động” (2006), nêu bật các vấn đề quan trọng liên quan đến việc bảo vệ quyền lợi của lao động nữ Đầu tiên, lao động nữ không được phân biệt đối xử và bị buộc thôi việc trong thời gian mang thai, đồng thời phải được đảm bảo quyền trở lại làm việc với mức lương tương đương với vị trí trước khi nghỉ sinh Thứ hai, việc kết hôn của người lao động nữ không thể là lý do để buộc thôi việc trong quá trình làm việc.

Sách “Cân đối hài hòa giữa an ninh và linh hoạt ở các nước mới nổi” do ILO và Chính phủ Đan Mạch thực hiện vào tháng 12/2009 nhấn mạnh rằng thể chế thị trường lao động cần đảm bảo sự linh hoạt tối ưu cho nhà sử dụng lao động (NSDLĐ) và an ninh cần thiết cho người lao động (NLĐ) Việc cưỡng bức lao động có thể xảy ra trong mọi giai đoạn lao động, dẫn đến nguy cơ NLĐ bị sa thải, đặc biệt ở những quốc gia có chính sách bảo hộ việc làm chặt chẽ Tuy nhiên, nhiều doanh nghiệp hiện nay đã tìm cách phá vỡ sự bảo hộ này bằng các chính sách điều chỉnh, như hiện tượng sa thải NLĐ lớn tuổi trong Liên minh châu Âu thông qua chính sách bảo trợ xã hội Ngoài ra, các hình thức điều chỉnh khác như chương trình đào tạo chuyển đổi ở Pháp cũng được áp dụng, trong đó NLĐ được hỗ trợ để tìm công việc mới Bộ luật Lao động ở các nước phát triển quy định rõ ràng về việc thông báo trước khi sa thải NLĐ và thông báo cho công đoàn cũng như chính quyền Do đó, vai trò quản lý của Nhà nước trong quan hệ lao động là rất quan trọng để kiểm soát và loại bỏ cưỡng bức lao động, đồng thời đảm bảo sự linh hoạt trong quản lý và sử dụng lao động.

Báo cáo của Tổng Giám đốc "Liên minh toàn cầu chống lao động cưỡng bức: Báo cáo toàn cầu theo dõi Tuyên bố của ILO về các nguyên tắc và quyền cơ bản tại nơi làm việc 2005" của Tổ chức Lao động Quốc tế, Geneva, 2005, đề cập đến khái niệm, phân loại và đo lường lao động cưỡng bức, cùng với các hình thức chủ yếu và đối tượng lao động bị cưỡng bức theo giới tính và độ tuổi Báo cáo cũng cung cấp cái nhìn tổng quan về tình hình lao động cưỡng bức tại một số quốc gia đang phát triển, bao gồm Myanmar, khu vực Nam Á, Mỹ Latinh và Châu Phi, nơi đang phải đối mặt với các vấn đề như lao động di cư và bóc lột tình dục Để nâng cao nhận thức xã hội và khuyến khích sự tham gia của các tổ chức xã hội, báo cáo đưa ra các đề xuất nhằm nhận diện và xóa bỏ lao động cưỡng bức trong quan hệ lao động hiện nay.

- Kevin Bales, Laurel Fletcher, Eric Stover, “ Forced Labor in the United

Bài viết của Nhóm tác giả tại Human Rights Center (2005) cung cấp cái nhìn tổng quan về tình trạng cưỡng bức lao động ở Hoa Kỳ từ tháng 1 năm 1998 đến năm 2003 Đây là nghiên cứu đầu tiên đánh giá toàn diện vấn đề này trên toàn quốc, bao gồm nguyên nhân, số liệu về nạn nhân từ nhiều quốc gia và chủng tộc, cùng với phản ứng của Chính phủ Nhóm tác giả cũng đề xuất các cơ chế bảo vệ quyền lợi cho lao động nhập cư và lao động da màu, đồng thời tăng cường hỗ trợ vật chất và pháp lý từ các cơ quan dịch vụ xã hội nhằm bảo vệ nhóm lao động yếu thế.

- N Roger Baldwin, “Forced labor: the Communist Betrayal of Human Rights”, Adolf A Berle - S.l : Oceana Publ, 1953; Richard K Carlton,“Forced labor in the "people's democracies" Groundwood Books, 2008…

1.2.2.Tình hình nghiên cứu ở Việt nam:

Cưỡng bức lao động là một vấn đề quan trọng và đã được đề cập trong nhiều nghiên cứu, luận văn và tài liệu Tuy nhiên, tại Việt Nam, vẫn còn thiếu các công trình nghiên cứu khoa học pháp lý chuyên sâu về chủ đề này.

1.2.2.1 Các tài liệu là giáo trình, bài giảng Luật Lao động của các trường đại học có đề cập đến vấn đề lý luận về lao động cưỡng bức, cung cấp các khái niệm về lao động cưỡng bức, những hình thức lao động cưỡng bức bị cấm:

Giáo trình Luật Lao động, được biên soạn bởi PGS.TS Trần Hoàng Hải và xuất bản bởi Nxb Đại học Quốc gia TP.HCM vào năm 2011, là tài liệu học tập quan trọng tại Trường Đại học Luật TP.HCM.

- Giáo trình Luật Lao động của Trường Đại học Luật Hà Nội, Nxb Công an nhân dân phát hành 2014 do tác giả Lưu Bình Nhưỡng chủ biên

- Học viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Giáo trình chủ nghĩa duy vật lịch sử, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2003

1.2.2.2 Một số luận văn, luận án và công trình nghiên cứu khoa học liên quan:

Nguyễn Thị Ngọc Yến đã nghiên cứu về pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam liên quan đến việc xóa bỏ lao động cưỡng bức hoặc bắt buộc trong luận văn thạc sĩ luật học của mình tại Đại học Quốc gia Luận văn này cung cấp cái nhìn sâu sắc về các quy định pháp lý và cam kết quốc tế nhằm bảo vệ quyền con người, đồng thời phân tích thực trạng và những thách thức trong việc thực thi các quy định này tại Việt Nam.

Năm 2012, tác giả đã phân tích tình hình lao động cưỡng bức toàn cầu và tại Việt Nam, đồng thời nghiên cứu pháp luật quốc tế và quy định của một số quốc gia về vấn đề này Tác giả cũng đánh giá các quy định pháp luật hiện hành của Việt Nam liên quan đến lao động cưỡng bức Dựa trên những nghiên cứu đó, tác giả đề xuất các giải pháp nhằm xóa bỏ tình trạng lao động cưỡng bức hoặc bắt buộc.

Phạm Trọng Nghĩa trong tác phẩm "Thực hiện các Công ước cơ bản của Tổ chức lao động quốc tế tại Việt Nam: cơ hội và thách thức" (Nxb chính trị quốc gia, 2014) đã phân tích những cơ hội và thách thức trong việc áp dụng các công ước lao động quốc tế tại Việt Nam, nhấn mạnh tầm quan trọng của việc tuân thủ các tiêu chuẩn lao động quốc tế để nâng cao chất lượng cuộc sống của người lao động và phát triển bền vững nền kinh tế.

- Nguyễn Việt Cường, 72 vụ án tranh chấp lao động điển hình – tóm tắt và bình luận, Nxb Lao động – xã hội, 2004

- Bộ lao động thương bình và xã hội, Tài liệt tham khảo pháp luật lao động nước ngoài, Nxb Lao động xã hội, Hà nội, 2010

Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội đã đề cập đến một số vấn đề quan trọng liên quan đến lao động cưỡng bức và các biện pháp nhằm xóa bỏ tình trạng này Trong tài liệu năm 2007, Bộ đã nêu rõ các chính sách và chiến lược cần thiết để ngăn chặn lao động cưỡng bức, bảo vệ quyền lợi của người lao động và thúc đẩy sự phát triển bền vững trong lĩnh vực lao động.

1.2.2.3 Một số tạp chí, Hội thảo khoa học và bài viết liên quan:

Phạm Trọng Nghĩa trong bài viết “Tác động của việc thực hiện các tiêu chuẩn lao động quốc tế cơ bản đến khả năng cạnh tranh của quốc gia” đăng trên tạp chí Nghiên cứu lập pháp điện tử năm 2010 đã phân tích mối liên hệ giữa việc áp dụng các tiêu chuẩn lao động quốc tế và sức cạnh tranh của quốc gia Bài viết nhấn mạnh rằng việc tuân thủ các tiêu chuẩn này không chỉ cải thiện điều kiện làm việc mà còn nâng cao hình ảnh và giá trị thương hiệu quốc gia trên trường quốc tế Thực hiện các tiêu chuẩn lao động cơ bản sẽ góp phần tạo ra môi trường kinh doanh bền vững, thu hút đầu tư và thúc đẩy phát triển kinh tế.

- Hội thảo “Dự thảo kế hoạch triển khai thực hiện Công ước số 29 về lao động cưỡng bức hoặc bắt buộc” trong 2 ngày 1 và 2/02/2007, tại Thành phố Hồ

Chí Minh, do Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội phối hợp với Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) tổ chức

Hội thảo "Nâng cao nhận thức về lao động cưỡng bức" diễn ra tại Hà Nội vào ngày 3 và 4 tháng 12 năm 2007, cùng với một buổi tại TP Hồ Chí Minh vào ngày 6 tháng 12 năm 2007, do Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam và Văn phòng Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) phối hợp tổ chức.

- Lê Thị Hoài Thu, “Hoàn thiện pháp luật lao động Việt Nam”, Tạp chí Đại học Quốc gia Hà Nội, kinh tế - luật số 24 (2008)

Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu

1.3.1 Đối tượng nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu gồm các vấn đề lý luận cơ bản về lao động cưỡng bức, về thực trạng và thực tiễn áp dụng pháp luật lao động cưỡng bức tại Việt Nam hiện nay Các văn bản pháp luật với tư cách là nguồn điều chỉnh các quan hệ này sẽ được nghiên cứu với tư cách là đối tượng chính Bên cạnh đó, văn bản quy phạm pháp luật quốc tế và một số quốc gia cũng được nghiên cứu Đối tượng bị cưỡng bức được nghiên cứu là những NLĐ bị cưỡng bức, bóc lột, đe dọa về quyền và lợi ích Những chủ thể bị áp dụng hình phạt do thực hiện hành vi vi phạm pháp luật không được xác định là nạn nhân của lao động cưỡng bức đề cập trong nghiên cứu này

Nội dung nghiên cứu tập trung vào vấn đề lao động cải tạo (LĐCB) từ góc độ pháp lý, chủ yếu dựa trên Bộ luật Lao động năm 2012 và các văn bản hướng dẫn thực hiện Bài viết phân tích các quy định pháp luật liên quan đến LĐCB đối với người lao động trong mối quan hệ lao động, bao gồm cả những đối tượng đặc thù như người nghiện ma túy, người mại dâm, người vi phạm pháp luật phải vào trường giáo dưỡng, và người bị kết án hình phạt tù tham gia lao động cải tạo Ngoài ra, nghiên cứu cũng xem xét pháp luật về LĐCB trong một số trường hợp khác.

Nghiên cứu quy định về lao động công chức trong các văn bản pháp lý hiện hành tại Việt Nam, đặc biệt là Bộ luật Lao động năm 2019, là một chủ đề quan trọng.

Năm 2012, các văn bản hướng dẫn và cam kết về việc xóa bỏ lao động cưỡng bức (LĐCB) đã được ghi nhận trong Hiệp định TPP, mà Việt Nam chính thức ký kết tham gia vào tháng 2/2016 Tác giả cũng đã liên hệ với các quy định tương đồng trong các Công ước và khuyến nghị của Tổ chức Lao động Quốc tế nhằm làm tài liệu tham khảo cho đề tài nghiên cứu của mình.

Mục tiêu nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu

- Làm sáng tỏ những vấn đề lý luận cơ bản về lao động cưỡng bức

Nghiên cứu và đánh giá thực trạng pháp luật lao động hiện hành tại Việt Nam về lao động cưỡng bức là cần thiết để nhận diện những điểm còn thiếu sót Việc hoàn thiện pháp luật lao động về vấn đề này không chỉ giúp phù hợp với Công ước 29 của ILO mà còn tạo điều kiện thuận lợi cho việc phê chuẩn Công ước 105 Sự cải cách này sẽ góp phần bảo vệ quyền lợi của người lao động và nâng cao tiêu chuẩn lao động trong nước.

- Đưa ra quan điểm, đề xuất một số giải pháp góp phần hoàn thiện các quy định của pháp luật về lao động cưỡng bức ở Việt Nam hiện nay

Nghiên cứu này dựa trên lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin về nhà nước và pháp luật, đồng thời phản ánh quan điểm của Đảng và Nhà nước trong quá trình đổi mới Mục tiêu là xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, chú trọng đến đặc trưng của quan hệ lao động và thị trường lao động.

Đề tài này áp dụng phương pháp luận duy vật lịch sử kết hợp với các phương pháp nghiên cứu truyền thống trong khoa học pháp lý, nhằm tạo ra sự liên kết chặt chẽ giữa lý luận và thực tiễn Việc kết hợp này không chỉ giúp nâng cao hiệu quả nghiên cứu mà còn làm rõ những vấn đề lý luận trong bối cảnh thực tế, từ đó đóng góp vào sự phát triển của khoa học pháp lý.

Phương pháp tổng hợp được áp dụng để phân tích và phân loại các quy định về lao động công bằng (LĐCB), nhằm làm rõ các vấn đề lý luận liên quan đến LĐCB Bên cạnh đó, việc nghiên cứu các quy định về LĐCB từ một số quốc gia trên thế giới sẽ giúp làm sáng tỏ khái niệm và nội dung pháp luật về LĐCB trong Chương 2.

Phương pháp so sánh được áp dụng để phân tích pháp luật về lao động công bằng (LĐCB) giữa Việt Nam và một số quốc gia khác, nhằm đối chiếu với các Công ước và tiêu chuẩn lao động quốc tế Qua đó, tác giả rút ra bài học kinh nghiệm trong việc điều chỉnh pháp luật theo quan điểm của Tổ chức Lao động quốc tế và các quốc gia khác Điều này tạo nền tảng cho việc đánh giá những hạn chế của pháp luật hiện hành về LĐCB tại Việt Nam trong Chương 3.

Tác giả đã sử dụng phương pháp phân tích để đánh giá thực trạng áp dụng các quy định pháp luật về lao động công bằng (LĐCB) tại Việt Nam Qua đó, bài viết làm rõ những vấn đề hiện có và đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật về LĐCB trong bối cảnh hiện nay, được trình bày chi tiết trong Chương 3 và Chương 4.

Phương pháp phân tích và so sánh sẽ được áp dụng chủ yếu trong toàn bộ các chương của nghiên cứu, nhằm làm rõ các nội dung cần nghiên cứu dựa trên cơ sở lý luận và thực tiễn.

Ý nghĩa của nghiên cứu

Nghiên cứu này tập trung vào việc đánh giá toàn diện các vấn đề pháp lý liên quan đến lao động cưỡng bức (LĐCB) trên thế giới và tại Việt Nam Đồng thời, nghiên cứu cũng nhằm cung cấp cơ sở lý luận cho việc ban hành các văn bản pháp quy trong lĩnh vực LĐCB, hướng tới việc hoàn thiện pháp luật về chống LĐCB và tạo nền tảng pháp lý cho việc tham gia Công ước 105 của ILO trong tương lai.

Nghiên cứu này có thể hỗ trợ giảng dạy trong chương trình Luật Lao động và Luật an sinh xã hội, đồng thời cung cấp thông tin hữu ích cho những người tham gia xây dựng và áp dụng pháp luật, cũng như tư vấn pháp luật trong lĩnh vực liên quan.

Kết cấu của đề tài nghiên cứu

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, đề tài nghiên cứu gồm 3 chương:

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI

NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ LAO ĐỘNG CƯỠNG BỨC

Khái quát chung về lao động cưỡng bức

2.1.1 Khái niệm lao động cưỡng bức

Lao động cưỡng bức (LĐCB) được định nghĩa lần đầu trong Công ước về LĐCB 1930 (Công ước 29), theo đó, LĐCB là mọi công việc hoặc dịch vụ mà một người bị ép buộc phải thực hiện dưới sự đe dọa của hình phạt và không tự nguyện Để được coi là LĐCB, hoạt động phải thỏa mãn ba yếu tố: (i) có một người thực hiện công việc hoặc dịch vụ cho người khác; (ii) người đó không tự nguyện, có thể bị bắt cóc, buôn bán, cầm tù tại nơi làm việc hoặc bị lừa gạt về điều kiện làm việc; (iii) người thực hiện công việc bị đe dọa sẽ chịu hình phạt nếu không hoàn thành công việc hoặc dịch vụ.

Yếu tố "ép buộc" và "không tự nguyện" là hai dấu hiệu chính xác định nạn nhân của lao động cưỡng bức (LĐCB) Ép buộc liên quan đến việc sử dụng áp lực thể xác hoặc tinh thần để buộc một người thực hiện điều họ không mong muốn, trong khi không tự nguyện chỉ ra rằng cá nhân đó không muốn làm việc gì nhưng vẫn phải miễn cưỡng thực hiện Theo tác giả, chỉ cần một trong hai dấu hiệu này cũng đủ để xác định LĐCB, vì chúng có nội hàm chung và có thể xảy ra trong bất kỳ giai đoạn nào của quá trình giao kết hợp đồng Công ước 29 cũng nêu rõ một số ngoại lệ liên quan đến LĐCB tại Điều 2.1.2, trong đó không bao gồm các công việc theo nghĩa vụ quân sự bắt buộc và các công việc mang tính chất quân sự thuần túy, nhằm phục vụ cho an ninh quốc phòng, chẳng hạn như nghĩa vụ quân sự.

Việc sử dụng lao động không được chấp nhận cho mục đích kinh tế, và chỉ những công việc hoặc dịch vụ thuộc nghĩa vụ công dân bình thường mới được thực hiện Ngoài ra, các công việc do tòa án quyết định phải được giám sát bởi cơ quan công quyền và không được chuyển nhượng cho tư nhân Trong trường hợp khẩn cấp như chiến tranh, thiên tai hoặc dịch bệnh, công việc cũng có thể được yêu cầu Cuối cùng, những công việc vì lợi ích tập thể do các thành viên thực hiện có thể coi là nghĩa vụ công dân, với điều kiện các thành viên có quyền tham khảo ý kiến về sự cần thiết của công việc đó.

Năm 1957, Công ước 105 về xóa bỏ lao động cưỡng bức đã bổ sung một định nghĩa mới, trong đó nêu rõ rằng "lao động cưỡng bức và bắt buộc" không bao gồm các biện pháp như cưỡng chế hay giáo dục chính trị, cũng như các hình phạt đối với những người có quan điểm khác biệt Công ước này cũng loại trừ các biện pháp huy động nhân công cho phát triển kinh tế, xử lý vi phạm kỷ luật lao động, trừng phạt người tham gia đình công, và phân biệt đối xử dựa trên chủng tộc, xã hội, dân tộc hoặc tôn giáo Theo quy định của Công ước 105, định nghĩa này được áp dụng một cách thống nhất.

Khái niệm lao động cưỡng bức (LĐCB) áp dụng cho tất cả các độ tuổi, bao gồm cả người lớn và trẻ em, có nghĩa là mọi trường hợp theo Công ước 29 của ILO đều được xem xét Tuy nhiên, Công ước 29 của ILO không đưa ra định nghĩa cụ thể về "trẻ em" trong bối cảnh này.

Theo quy định của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO), trẻ em được xác định là những người dưới 18 tuổi theo Công ước 182 về những điều kiện lao động tồi tệ nhất đối với trẻ em năm 1999 Công ước này nêu rõ rằng các điều kiện lao động tồi tệ nhất bao gồm việc tuyển chọn trẻ em một cách cưỡng bức hoặc bắt buộc tham gia vào các cuộc xung đột vũ trang Tuy nhiên, Công ước 182 không cung cấp thêm giải thích nào về các yếu tố cấu thành lao động cưỡng bức đối với trẻ em, do đó, việc hiểu rõ về vấn đề này cần dựa trên nội dung của Công ước.

29 của ILO sẽ được dẫn chiếu và áp dụng

Cần phân biệt giữa “lao động cưỡng bức” và “cưỡng bức lao động”, mặc dù chúng có nhiều điểm tương đồng Lao động cưỡng bức nhấn mạnh đến nạn nhân bị ép buộc thực hiện công việc hoặc dịch vụ nào đó dưới đe dọa hình phạt, bao gồm mọi loại hình công việc, hợp pháp hay bất hợp pháp Hình phạt có thể không chỉ là hình thức chế tài hình sự mà còn là việc tước quyền tự do, đe dọa về thể xác, tính mạng, hoặc tâm lý Trong khi đó, cưỡng bức lao động tập trung vào việc xác định hành vi vi phạm và tội phạm liên quan đến lao động cưỡng bức.

Trong hệ thống pháp luật Việt Nam, khái niệm về lao động cưỡng bức chỉ được nhắc đến trong bối cảnh giải thích về "ngược đãi" và "cưỡng bức lao động" Bộ luật Lao động năm 1994 quy định quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người lao động khi bị cưỡng bức Nghị định số 44/2003/NĐ-CP ngày 09/5/2003 của Chính phủ cũng đã làm rõ rằng ngược đãi và cưỡng bức lao động bao gồm các hành vi đánh đập, nhục mạ, hoặc ép buộc người lao động thực hiện những công việc không phù hợp với giới tính của họ.

Theo Điều 11 Nghị Định số 44/2003/NĐ-CP, hai khái niệm “ngược đãi” và “cưỡng bức lao động” được hiểu đồng nghĩa trong bối cảnh hợp đồng lao động Bộ luật Lao động (BLLĐ) sửa đổi năm 2012 định nghĩa cưỡng bức lao động là việc sử dụng vũ lực, đe dọa vũ lực hoặc các thủ đoạn khác để buộc người lao động làm việc trái ý muốn Mặc dù khái niệm này dựa trên Công ước 29, nhưng việc giải thích về yếu tố không tự nguyện chưa đầy đủ, đặc biệt là khái niệm “thủ đoạn khác” không được làm rõ Hơn nữa, thuật ngữ “lao động” trong BLLĐ 2012 chỉ giới hạn ở việc tạo ra giá trị vật chất hoặc tinh thần hợp pháp, dẫn đến hiểu lầm rằng cưỡng bức lao động chỉ xảy ra khi người lao động phải thực hiện công việc hợp pháp trái ý muốn, trong khi những công việc bất hợp pháp không được coi là cưỡng bức lao động.

Lao động cưỡng bức được định nghĩa là mọi công việc hoặc dịch vụ mà một người bị buộc phải thực hiện do sự đe dọa của hình phạt hoặc các thủ đoạn từ tổ chức hoặc cá nhân trong mối quan hệ lao động.

2.1.2 Đặc điểm của lao động cưỡng bức Đặc điểm của LĐCB được nhận biết dựa trên hai căn cứ chủ yếu, đó là:

2.1.2.1 Căn cứ vào đối tượng bị LĐCB: Đối tượng bị LĐCB là bất kì ai, bao gồm người trưởng thành cũng như trẻ em, không phân biệt quốc tịch dù là công dân của quốc gia nào Xét về đặc điểm giới tính: (i) đối với nam giới: LĐCB thường gắn với các công việc nặng nhọc, nguy hiểm và độc hại ở công trường xây dựng, các hầm mỏ, nông nghiệp làm vườn…v.v; (ii) đối với nữ giới: LĐCB chủ yếu là những người làm công việc gia đình, nhà máy, xí nghiệp dệt may hoặc bị cưỡng bức tham gia hoạt động mại dâm…v.v

2.1.2.2 Căn cứ vào các dấu hiệu bị lao động cưỡng bức

Có rất nhiều dấu hiệu nhận biết bị lao động cưỡng bức, có thể tập trung trong 10 dấu hiệu cơ bản như sau:

Lạm dụng tình trạng khó khăn của người lao động là một vấn đề nghiêm trọng, đặc biệt đối với những người thiếu trình độ, kiến thức pháp luật, hoặc thuộc nhóm dân tộc, tôn giáo thiểu số Những cá nhân này thường có ít lựa chọn mưu sinh và dễ bị cô lập trong cộng đồng, khiến họ trở thành nạn nhân của cưỡng bức lao động Khi người lao động rơi vào hoàn cảnh khó khăn, sự thiếu thốn về lựa chọn không nhất thiết dẫn đến tình trạng lao động cưỡng bức, nhưng nếu người sử dụng lao động lợi dụng hoàn cảnh này để áp đặt thời gian làm việc quá mức hoặc giữ lại tiền lương, tình trạng lao động cưỡng bức sẽ phát sinh Ngoài ra, sự phụ thuộc của người lao động vào người sử dụng lao động về công việc, nơi ở, và nhu cầu sinh hoạt cũng là yếu tố góp phần vào việc hình thành tình trạng lao động cưỡng bức.

Lừa gạt người lao động (NLĐ) là tình trạng không thực hiện những cam kết đã hứa, dẫn đến việc NLĐ bị tuyển chọn với lời hứa về công việc và thu nhập hấp dẫn, nhưng thực tế lại gặp phải điều kiện làm việc và sinh hoạt không như mong đợi Nạn nhân thường không có đủ thông tin để đưa ra quyết định, và nếu biết rõ sự thật, họ sẽ không chấp nhận công việc Hành vi lừa đảo trong tuyển dụng có thể bao gồm lời hứa về điều kiện làm việc, mức lương, loại hình công việc, tư cách di cư hợp pháp và địa điểm làm việc Trẻ em cũng có thể trở thành nạn nhân thông qua những lời hứa liên quan đến việc học tập hoặc việc thăm nom từ cha mẹ.

Hạn chế sự di chuyển của người lao động là dấu hiệu của tình trạng cưỡng bức lao động, thể hiện qua việc NLĐ không có quyền tự do ra vào nơi làm việc Điều này có thể bao gồm việc bị giám sát qua camera hoặc nhân viên bảo vệ trong khu vực làm việc, cũng như việc theo dõi ngoài nơi làm việc bởi thám tử hoặc chủ sử dụng lao động đi cùng họ mỗi khi rời khỏi nhà máy.

Cô lập người lao động (NLĐ) là một vấn đề nghiêm trọng, khi họ có thể không biết vị trí làm việc của mình, đặc biệt nếu nơi đó cách xa khu dân cư và không có phương tiện giao thông Họ cũng có thể bị nhốt trong các khu vực đông dân cư với cửa luôn đóng kín hoặc bị tịch thu điện thoại di động, làm cho việc liên lạc với gia đình và tìm kiếm sự giúp đỡ trở nên khó khăn Tình trạng này thường xảy ra tại các cơ sở kinh doanh không hợp pháp hoặc không được đăng ký, khiến cho các cơ quan thực thi pháp luật gặp khó khăn trong việc xác định địa điểm và giám sát tình hình của NLĐ.

Pháp luật về lao động cưỡng bức

2.2.1.Khái niệm pháp luật về lao động cưỡng bức

Pháp luật về lao động cưỡng bức, dựa trên khái niệm của Công ước 29, được hiểu là tổng thể các quy phạm pháp luật điều chỉnh hoạt động lao động không tự nguyện.

Công ước 29 cấm mọi hành vi lao động cưỡng bức, bao gồm các công việc mà một người bị ép buộc thực hiện dưới sự đe dọa của hình phạt hoặc do áp lực từ tổ chức hay cá nhân trong mối quan hệ lao động.

2.2.2 Nội dung pháp luật điều chỉnh về lao động cưỡng bức

Hệ thống các quy phạm pháp luật quốc tế về LĐCB khá đồ sộ, bao gồm:

Bộ luật Nhân quyền quốc tế bao gồm ba văn kiện quan trọng của Liên Hợp Quốc: Tuyên ngôn chung về quyền con người, Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị, cùng với Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa Ngoài ra, các công ước và nghị định thư của ILO, đặc biệt là Công ước 29 về lao động cưỡng bức và bắt buộc, cũng đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ quyền con người.

1930 của ILO; Công ước 105 về xóa bỏ LĐCB năm 1957 của ILO; Công ước

Các hiệp định quốc tế như Công ước 182 về việc cấm lao động trẻ em tồi tệ nhất năm 1999 và Khuyến nghị số 35 về lao động cưỡng bức của ILO, cùng với các hiệp định thương mại như TBT và TPP, đều nhấn mạnh tầm quan trọng của việc loại bỏ lao động trẻ em và lao động cưỡng bức Nội dung của các công ước này có thể được phân loại thành hai nhóm cơ bản liên quan đến pháp luật về lao động cưỡng bức.

2.2.2.1 Nhóm quy định pháp luật về đối tượng bị LĐCB cũng như các hình thức chống LĐCB: Đối tượng bị LĐCB rất đa dạng, bao gồm người trưởng thành cũng như trẻ em, không phân biệt giới tính, trình độ, không phân biệt quốc tịch dù là công dân của quốc gia nào Tuy nhiên, trong phạm vi nghiên cứu của đề tài chỉ hướng tới đối tượng bị LĐCB là người lao động trong các quan hệ lao động (bao gồm NLĐ trưởng thành và lao động trẻ em)

Tuyên bố ASEAN về bảo vệ và thúc đẩy các quyền của NLĐ di trú năm 2007 nhấn mạnh rằng NLĐ di trú không có giấy tờ tùy thân không phải là lỗi của họ, và các nước thành viên cần hợp tác để bảo vệ quyền lợi của NLĐ di trú, nhằm ngăn chặn lao động cưỡng bức Tuyên bố kêu gọi thúc đẩy sự bảo vệ việc làm, trả công công bằng, và đảm bảo NLĐ di trú được tiếp cận bình đẳng với điều kiện sống tốt Đồng thời, các NLĐ di trú là nạn nhân của phân biệt đối xử, lạm dụng và bạo lực cần được hỗ trợ tiếp cận hệ thống pháp luật Những quy định này nhằm chống và xóa bỏ lao động cưỡng bức trong cộng đồng ASEAN, đồng thời tìm kiếm giải pháp nâng cao chất lượng lao động và xây dựng lực lượng lao động đáp ứng nhu cầu thị trường, hướng tới phát triển kinh tế xã hội bền vững và toàn diện.

Vào ngày 18/10/2010 tại Hà Nội, một hội nghị đã diễn ra nhằm thảo luận về Công ước Quốc tế về các Quyền Dân sự và Chính trị (ICCPR), được Đại Hội đồng Liên Hợp Quốc thông qua vào ngày 16/12/1966 Công ước này khẳng định rõ ràng rằng mọi cá nhân không được phép bị tra tấn hay chịu đựng các hình thức đối xử tàn ác, vô nhân đạo hoặc hạ thấp nhân phẩm (Điều 7) Ngoài ra, nó cũng cấm mọi hình thức nô lệ và buôn bán nô lệ, đồng thời khẳng định rằng không ai có thể bị bắt làm nô dịch hoặc bị yêu cầu lao động bắt buộc hoặc cưỡng bức.

Công ước 29 tại Điều 4 khẳng định rằng các cơ quan có thẩm quyền không được phép áp đặt lao động cưỡng bức vì lợi ích của tư nhân Điều 5 cũng nhấn mạnh rằng không có sự nhượng quyền nào cho tư nhân nhằm áp đặt lao động cưỡng bức để sản xuất hoặc tiêu thụ sản phẩm Theo Điều 2 của Công ước 105, các nước tham gia có trách nhiệm cam kết xóa bỏ hoàn toàn lao động cưỡng bức Để chống lại lao động cưỡng bức, các nước thành viên cần chú trọng giáo dục trong việc xóa bỏ lao động trẻ em, thực hiện các biện pháp hiệu quả trong thời gian nhất định, bao gồm ngăn chặn trẻ em khỏi những hình thức lao động tồi tệ nhất, cung cấp hỗ trợ cần thiết để đưa trẻ ra khỏi lao động tồi tệ, đảm bảo tiếp cận giáo dục miễn phí và dạy nghề, xác định trẻ em có nguy cơ cao, và xem xét hoàn cảnh đặc biệt của trẻ em gái.

Theo Điều 7 Công ước 182 và Điều 2 Khuyến nghị 35 về lao động trẻ em, cần tránh các hình thức gián tiếp tạo ra sức ép kinh tế giả tạo đối với người dân, khiến họ phải tìm kiếm việc làm có trả lương Các hình thức này bao gồm: a) áp dụng thuế và hình thức đóng thuế buộc người dân phải làm việc tại các doanh nghiệp tư nhân; b) áp đặt hạn chế về sở hữu, định cư, hoặc sử dụng đất đai, gây khó khăn cho việc kiếm sống của những người canh tác độc lập; c) mở rộng tình trạng lang thang kiếm sống; d) thông qua luật pháp hạn chế di chuyển, dẫn đến một số lao động phục vụ cho những người có địa vị ưu thế hơn Văn bản cũng khuyến nghị không nên có bất kỳ hạn chế nào về di chuyển lao động tự nguyện giữa các hình thức thuê mướn hoặc giữa các vùng, trừ khi những hạn chế đó được xem là cần thiết vì lợi ích của cộng đồng hoặc của chính những lao động liên quan.

Khuyến nghị 190 của ILO tại Điều 8 yêu cầu các nước thành viên thiết lập cơ chế giám sát và thực hiện quy định cấm lao động trẻ em tồi tệ nhất Để đảm bảo hiệu quả thi hành, các nước cần áp dụng biện pháp hành chính, dân sự hoặc hình sự, như giám sát doanh nghiệp vi phạm Trong trường hợp tái phạm, có thể xem xét rút giấy phép hoạt động tạm thời hoặc vĩnh viễn Mặc dù hiệp định thương mại quốc tế và khu vực không đề cập trực tiếp đến lao động trẻ em, nhưng việc điều chỉnh các văn bản này nhằm thúc đẩy tự do thương mại và kiểm soát nguồn gốc hàng hóa có thể gián tiếp ngăn chặn việc sử dụng lao động trẻ em tại các doanh nghiệp.

2.2.2.2 Nhóm quy định pháp luật về xử lý hành vi lao động cưỡng bức Điều 6 Công ước về Nô lệ 1926 quy định “Hành vi nô dịch hóa người khác hay xúi giục người khác tự biến mình hay một người phụ thuộc vào mình thành nô lệ, hoặc tòng phạm hay tham gia và âm mưu thực hiện những hành vi đó, sẽ bị coi là tội phạm hình sự” Điều 25 Công ước 29 còn quy định về trách nhiệm đối với việc sử dụng lao động bất hợp pháp, theo đó sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự và bị áp dụng các hình phạt thích hợp Khuyến nghị 190 nêu rõ, các nước thành viên nên quy định những hình thức lao động trẻ em tồi tệ nhất sau đây là tội phạm: a) Tất cả các hình thức nô lệ hay những tập tục tương tự như nô lệ, ví dụ như việc buôn bán trẻ em, giam giữ thế nợ, lao động khổ sai, lao động cưỡng ép hay bắt buộc để sử dụng trong các cuộc xung đột vũ trang; b) Việc sử dụng, mua bán hay dụ dỗ trẻ em cho mục đích mại dâm sản xuất sách báo đồi trụy hay các cuộc biểu diễn khiêu dâm; c) Sử dụng mua bán hay dụ dỗ trẻ em cho các hoạt động bất hợp pháp đặc biệt cho việc sản xuất và buôn lậu ma túy như đã được định nghĩa trong các Hiệp ước quốc tế có liên quan, hay cho các hoạt động có liên quan đến việc mang hay sử dụng súng trường hay các loại vũ khí khác một cách bất hợp pháp (Điều 12) Vì ILO là cơ quan chuyên môn của Liên Hợp Quốc, là tổ chức liên chính phủ quốc tế bao gồm các quốc gia, cấu trúc tổ chức theo cơ chế ba bên – gồm đại diện từ chính phủ, NSDLĐ và NLĐ tại các quốc gia thành viên Chức năng, nhiệm vụ và thẩm quyền được xác định là tổ chức bảo vệ NLĐ không giới hạn đối tượng, lĩnh vực ngành nghề; đối với những vấn đề về quyền con người, về an sinh xã hội như: cưỡng bức lao động, phân biệt đối xử Do đó, văn bản quốc tế trực tiếp điều chỉnh đến LĐCB chủ yếu là từ ILO Bên cạnh đó còn hàng trăm văn bản, Công ước, thỏa thuận quốc tế gián tiếp chống LĐCB, bảo vệ con người của Liên Hợp Quốc như: Công ước về ngăn chặn và trừng trị tội ác A-pác-thai năm 1973; Công ước quốc tế của Liên Hợp Quốc về chống tra tấn và các hình thức đối xử hay trừng phạt dã man, vô nhân đạo hay hạ nhục con người thông qua ngày 10/12/1984; Tuyên ngôn Liên Hợp Quốc về quyền trẻ em (1977); Tuyên ngôn về xóa bỏ các hình thức phân biệt chủng tộc (1963); Tuyên bố về xóa bỏ sự phân biệt đối xử với phụ nữ (1967); Tuyên bố về phát triển và tiến bộ xã hội (1969); Công ước ngăn ngừa và trừng trị tội diệt chủng (1948); Công ước về xóa bỏ về tất cả các hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ (1979)

2.2.3 Sự cần thiết phải điều chỉnh bằng pháp luật về lao động cưỡng bức

Việc điều chỉnh pháp luật về lao động công bằng (LĐCB) là cần thiết để phát huy nguồn lực quốc gia, hướng tới một xã hội công bằng, dân chủ và văn minh, đồng thời bảo vệ quyền con người trong một lĩnh vực nhạy cảm giữa tự nguyện và cưỡng bức Quyền được làm việc, đảm bảo sức khỏe, danh dự và nhân phẩm là quyền của tất cả mọi người, và người lao động (NLĐ) đóng vai trò quan trọng trong việc tạo ra của cải cho xã hội Để phát triển kinh tế bền vững, cần thiết phải xây dựng cơ chế pháp lý bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của NLĐ Tuy nhiên, thực tế cho thấy không phải NLĐ nào cũng tuân thủ đầy đủ quy định pháp luật, và không phải cơ quan quản lý nào cũng nhận thức được tầm quan trọng này.

Để đảm bảo quyền lợi cho người lao động (NLĐ) và đạt được mục tiêu phát triển bền vững, cần thiết phải có quy chế pháp lý hiệu quả trong việc phòng chống lao động cưỡng bức (LĐCB) Việc hoàn thiện hệ thống pháp luật về LĐCB và trật tự xã hội là rất quan trọng, tạo ra hành lang pháp lý rõ ràng giúp mọi người hiểu và đánh giá đúng các hoạt động chống LĐCB Các quy định pháp luật rõ ràng không chỉ bảo vệ quyền lợi hợp pháp của người sử dụng lao động (NSDLĐ) mà còn giúp họ phòng tránh những hậu quả không mong muốn Đặc biệt, ở những quốc gia đã phê chuẩn Công ước 29 và 105 về LĐCB, các doanh nghiệp liên quan sẽ phải đối mặt với hình phạt nghiêm khắc Do đó, việc thiết lập các quy định pháp luật phù hợp là cần thiết để bảo vệ NSDLĐ chân chính và đảm bảo quyền lợi của các bên liên quan, bao gồm tổ chức giới thiệu việc làm, cơ sở dạy nghề và tổ chức Công đoàn.

THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ LAO ĐỘNG CƯỠNG BỨC Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

QUAN ĐIỂM HOÀN THIỆN VÀ ĐỂ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ LAO ĐỘNG CƯỠNG BỨC Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

Ngày đăng: 29/06/2021, 19:33

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
7. Báo cáo “Tác động của khủng hoảng tài chính – kinh tế đối với công nhân nữ nhập cư và những rủi ro về mua bán người”, Tổ chức Action Aid Việt Nam, Hà Nội, 2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tác động của khủng hoảng tài chính – kinh tế đối với công nhân nữ nhập cư và những rủi ro về mua bán người
17. Dự án quan hệ lao động Việt Nam – ILO, Báo cáo tư vấn “Nhận diện và ứng phó với những hành vi không công bằng trong lao động đối với công nhân và công đoàn”, Hà Nội, 2016 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhận diện và ứng phó với những hành vi không công bằng trong lao động đối với công nhân và công đoàn
2. Báo cáo ban chấp hành Tổng liên đoàn lao động Việt Nam khóa X tại đại hội Công đoàn Việt Nam lần thứ XI, Hà Nội, 2013 Khác
3. Báo cáo tóm tắt của ban chấp hành Tổng liên đoàn lao động Việt Nam khóa X tại đại hội Công đoàn Việt Nam lần thứ XI, Hà Nội, 2013 Khác
4. Báo cáo số 50 Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam ngày 28/5/2013 về Tổng kết chương trình phát triển đoàn viên công đoàn giai đoạn 2008 – 2013 Khác
5. Báo cáo tổng kết tình hình thực hiện nhiệm vụ năm 2015 và triển khai nhiệm vụ năm 2016 của ngành công thương của Bộ Công thương ngày 31/12/2015 Khác
6. Báo cáo về tình hình giám sát thực hiện chính sách mức lương tối thiểu trong các doanh nghiệp có tổ chức công đoàn trên địa bàn thành phố ĐN, 2014 Khác
8. Báo cáo hoạt động năm 2015, CEP – Quỹ trợ vốn cho người lao động nghèo tự tạo việc làm, TP.HCM, 2016 Khác
9. Báo cáo Điều tra lao động và việc làm Việt Nam 2011, Bộ Kế hoạch đầu tư, Hà Nội, 2012 Khác
10. Bộ tài liệu phục vụ học tập của Viện Ngân hàng thế giới, Không chỉ là tăng trưởng kinh tế, NXB Văn hóa thông tin, Hà Nội, 2005 Khác
11. Bùi Thị Quyên Quyên (2012), Pháp luật quốc tế về lao động trẻ em: khóa luận tốt nghiệp, Khóa luận tốt nghiệp Khác
12. Bùi Văn Bốn (2010), Pháp luật điều chỉnh hoạt động đưa người Việt Nam đi lao động ở nước ngoài – Những vấn đề lý luận và thực tiễn, Khóa luận tốt nghiệp Khác
13. Các thỏa thuận khung toàn cầu của Industriall, 2014 Chương trình đối tác tư pháp, Trợ giúp pháp lý tại Châu Âu: 9 con đường tiếp cận công lý, 2015 Khác
14. Nguyễn Hữu Chí, Công đoàn Việt Nam và pháp luật điều chỉnh hoạt động của đại diện công đoàn trong quan hệ lao động, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, 6/2010, trang 37 Khác
15. Nguyễn Huy Cường (2012), Một số vấn đề về kỷ luật sa thải trái pháp luật theo quy định Bộ luật Lao động, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, 3/2012, trang 53 Khác
16. Nguyễn Mạnh Cường (2009), Dự báo tác động của việc gia nhập WTO đối với vấn đề lao động và xã hội của Việt Nam, ILO- Những vấn đề lao động và xã hội trong các Hiệp định Thương mại quốc tế, trang 190 Khác
18. Đỗ Thanh Hằng (2012), Cấm phân biệt đối xử trong pháp luật lao động Việt Nam dưới độ tiểu chuẩn lao động, Luận văn thạc sĩ Luật học Khác
19. Lê Thị Mỹ Hằng (2012), Những vấn đề pháp lý về việc làm và giải quyết việc làm qua thực tiễn ở tỉnh Vĩnh Long, Luận văn thạc sĩ Luật học Khác
20. Phạm Thị Hằng (2009), Pháp luật Thụy Điển về chống phân biệt đối xử với lao động nữ tại nơi làm việc và một số kinh nghiệm lập pháp đối với Việt Nam, Luận văn thạc sĩ Luật học Khác
21. Bùi Thị Hòa (2014), Hoàn thiện pháp luật về NLĐ di trú ở Việt Nam, luận văn thạc sĩ Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w