1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu, đề xuất một số giải pháp quản lý rừng cộng đồng trên địa bàn huyện đakrông, tỉnh quảng trị​

126 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên Cứu, Đề Xuất Một Số Giải Pháp Quản Lý Rừng Cộng Đồng Trên Địa Bàn Huyện Đakrông, Tỉnh Quảng Trị
Tác giả Đinh Thiên Hoàng
Người hướng dẫn TS. Vũ Tiến Hưng
Trường học Trường Đại Học Lâm Nghiệp
Chuyên ngành Lâm Học
Thể loại luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2019
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 126
Dung lượng 864,96 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trên địabàn có 03 cộng đồng dân tộc cùng sinh sống đó là: Kinh, Vân Kiều, Pa Cô.Điều kiện kinh tế, xã hội nói chung còn gặp nhiều khó khăn, đời sống củanhân dân còn nghèo, kinh tế chủ yế

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP

ĐINH THIÊN HOÀNG

NGHIÊN CỨU, ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP QUẢN LÝ RỪNG CỘNG ĐỒNG TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN ĐAKRÔNG, TỈNH QUẢNG TRỊ

Trang 2

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

LỜI CAM ĐOAN

Tôi cam đoan, đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu,kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trongbất kỳ công trình nghiên cứu nào khác

Nếu nội dung nghiên cứu của tôi không trùng lặp với bất kỳ công trìnhnghiên cứu nào đã công bố, tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm và tuân thủ kếtluận đánh giá luận văn của Hội đồng khoa học

Hà Nội, ngày 29 tháng 10 năm 2019

Người cam đoan

Đinh Thiên Hoàng

Trang 3

Xin bày tỏ lòng biết ơn đến Ban giám hiệu Trường Đại học Lâm nghiệp,Khoa Sau đại học và các thầy giáo, cô giáo đã giảng dạy tôi trong suốt quátrình học tập.

Chân thành cảm ơn lãnh đạo Chi cục Kiểm lâm, lãnh đạo và cán bộ HạtKiểm lâm Đakrông cùng gia đình, bạn bè và đồng nghiệp đã giúp đỡ tôi hoànthành luận văn này

Mặc dù bản thân đã có nhiều cố gắng nhưng luận văn không tránh khỏinhững thiếu sót Rất mong quý thầy cô, những người quan tâm đến đề tài,đồng nghiệp tiếp tục có những ý kiến đóng góp, giúp đỡ để đề tài được hoànthiện hơn

Một lần nữa, tôi xin chân thành cảm ơn!

Trang 4

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT vi

DANH MỤC BẢNG BIỂU vii

DANH MỤC HÌNH HOẶC SƠ ĐỒ viii

MỞ ĐẦU 1

Chương 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 4

1.1 Nhận thức về quản lý rừng cộng đồng. 4

1.1.1 Khái niệm về cộng đồng

4 1.1.2 Khái niệm về cộng đồng tham gia quản lý bảo vệ rừng

5 1.1.3 Chiến lược và chính sách quản lý bảo vệ rừng dựa vào cộng đồng 7 1.1.4 Quan điểm về quản lý bảo vệ rừng dựa vào cộng đồng

7 1.2 Quản lý bảo vệ rừng dựa vào cộng đồng ở nước ngoài: 8

1.3 Quản lý bảo vệ rừng cộng đồng ở Việt Nam 11

1.3.1 Các tổ chức cộng đồng ở Việt Nam

11 1.3.2 Hình thức quản lý bảo vệ rừng dựa vào cộng đồng ở Việt Nam

12 1.3.3 Hiệu quả đạt được từ quản lý bảo vệ rừng dựa vào cộng đồng ở Việt Nam

14

Trang 5

1.3.4 Những bài học kinh nghiệm quản lý bảo vệ rừng dựa vào cộng đồng 16

Chương 2 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI 18

2.1 Điều kiện tự nhiên huyện Đakrông. 18

Trang 6

2.1.5 Tài nguyên đất 21

2.1.6 Tài nguyên rừng 22

2.1.7 Tài nguyên khoáng sản 24

2.1.8 Tài nguyên nhân văn 24

2.1.9 Thực trạng môi trường 24

2.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội 25

2.2.1 Khái quát thực trạng phát triển kinh tế 25

2.2.2 Dân số và lao động 28

Chương 3 MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 30

3.1 Mục tiêu nghiên cứu 30

3.1.1 Mục tiêu tổng quát 30

3.1.2 Mục tiêu cụ thể 30

3.2 Đối tượng nghiên cứu của đề tài 30

3.3 Nội dung nghiên cứu 30

3.4 Phương pháp nghiên cứu 31

3.4.1 Phương pháp luận 31

3.4.2 Phương pháp kế thừa 32

3.4.3 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu 33

3.4.4 Phương pháp đánh giá 34

3.5 Xử lý, tổng hợp và phân tích số liệu 36

Chương 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 37

4.1 Các nhân tố ảnh hưởng đến công tác quản lý bảo vệ rừng trên địa bàn huyện Đakrông 37

4.1.1 Ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội 37

4.1.2 Ảnh hưởng của phong tục tập quán, kiến thức và thể chế bản địa của cộng đồng liên quan đến công tác quản lý bảo vệ rừng 39

4.2 Các hình thức quản lý rừng trên địa bàn huyện Đakrông 49

Trang 7

4.3 Tình hình quản lý bảo vệ rừng ở huyện Đakrông 52

4.3.1 Cơ cấu tổ chức lực lượng về quản lý bảo vệ rừng:

4.3.4 Những nguy cơ và thách thức trong công tác quản lý, bảo vệ rừng 77

4.3.5 Mức độ quan trọng của tài nguyên rừng đối với cộng đồng

81

4.4 Đánh giá kết quả bảo vệ rừng của cộng động sau khi được giao rừng:

844.5 Đánh giá tiềm năng quản lý rừng của cộng đồng dân cư thôn, bản 884.6 Đề xuất một số giải pháp quản lý rừng cộng đồng 90

Trang 9

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

Trang 10

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Biểu 2.1: Cơ cấu sử dụng đất huyện Đakrông 2018 21

Biểu 2.2: Diện tích rừng và đất rừng huyện Đakrông phân theo mục đích sử dụng 2018 23

Biểu 3.1: Các điểm tiến hành nghiên cứu tại huyện Đakrông 34

Biểu 4.1: Diện tích rừng phân theo chủ quản lý huyện Đakrông 49

Biểu 4.2: Thống kê tiền chi trả dịch vụ môi trường rừng tại 3 cộng đồng nghiên cứu 51

Biểu 4.3: Nguy cơ và thách thức trong quản lý bảo vệ rừng trên địa bàn 80

Biểu 4.4: Mức độ quan trọng của tài nguyên rừng đối với cộng đồng 82

Biểu 4.5: Thống kê khu rừng giao cho cộng đồng dân cư Làng Cát 84

Biểu 4.6 Thống kê khu rừng giao cho cộng đồng dân cư Tà Lềng. 84

Biểu 4.7: Thống kê khu rừng giao cho cộng đồng dân cư Pa Tầng 85

Biểu 4.8: Kết quả phân tích điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, thách thức 88

của cộng đồng thôn, bản trong công tác quản lý rừng. 88

Biểu đồ 4.1: Hiện trạng sử dụng đất ở huyện Đakrông 21

Biểu đồ 4.2: Diễn biến vi phạm lâm luật trên địa bàn huyện Đakrông do Hạt Kiểm lâm Đakrông xử lý từ 2016 – 2018 66

Trang 11

DANH MỤC HÌNH HOẶC SƠ ĐỒ

Sơ đồ 4.1: Quá trình xây dựng quy ước bảo vệ rừng của thôn, bản 47

Sơ đồ 4.2: Sơ đồ về cơ cấu tổ chức lực lượng quản lý, bảo vệ rừng 53

tại huyện Đakrông 53

Hình 4.1: Tuyên truyền công tác bảo vệ rừng tại xã A Ngo 63

Hình 4.2: Các lực lượng chữa cháy rừng ở xã Hải Phúc, huyện Đakrông 71

Hình 4.3: Cơ quan chức năng huyện Đakrông khám nghiệm hiện trường vụ Hủy hoại rừng tại xã Tà Long, huyện Đakrông 76

Trang 12

MỞ ĐẦU

Trong thời gian qua để làm tốt công tác quản lý bảo vệ & phát triểnvốn rừng, Nhà nước đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách, văn bản quiphạm pháp luật trong lĩnh vực quản lý rừng, bảo vệ và phát triển rừng và quản

lý lâm sản Nhà nước đầu tư nhiều kinh phí, khuyến khích mọi tổ chức, cánhân trong và ngoài nước thực hiện công tác trồng rừng để phủ xanh đất trốngđồi trọc, khoanh nuôi bảo vệ, xúc tiến tái sinh các khu rừng non, rừng nghèo,thành lập các khu bảo tồn thiên nhiên có các loại động vật, thực vật quý hiếm

để bảo vệ nghiêm ngặt, nên công cuộc bảo tồn và phát triển vốn rừng đã cónhững kết quả có ý nghĩa hết sức quan trọng về kinh tế, khoa học, môi trườngsinh thái và an ninh quốc phòng Tuy nhiên do nhiều nguyên nhân từ kháchquan đến chủ quan như: Thiếu lực lượng chuyên trách, thiếu kinh phí đầu tư

và quan trọng nhất là thiếu một chiến lược phát triển toàn diện và nhất quántrong công tác quản lý bảo vệ rừng, nên tình trạng xâm hại tài nguyên rừng ởmột số nơi vẫn xảy ra nghiêm trọng, làm cho diện tích rừng bị thu hẹp, trửlượng và chất lượng rừng giảm sút Một số động, thực vật bị khai thác quámức dẫn đến cạn kiệt có nguy cơ bị tuyệt chủng, mức độ đa dạng sinh học củarừng giảm đi Một trong những nguyên nhân cơ bản làm cho diện tích, chấtlượng rừng trên địa bàn bị suy giảm là công tác quản lý bảo vệ rừng chỉ coitrọng biện pháp hành chính Nhà nước mà chưa lôi cuốn được cộng đồng thamgia quản lý bảo vệ rừng

Chính vì vậy công tác quản lý bảo vệ rừng đang đặt ra những vấn đềhết sức bức thiết, đòi hỏi phải có sự quan tâm của các cấp, các ngành, sự thamgia tích cực của cộng đồng, sự đổi mới của lực lượng chuyên trách bảo vệrừng, nhằm đề ra những giải pháp chiến lược để thực hiện tốt nhiệm vụ quản

lý bảo vệ rừng trước mắt cũng như lâu dài

Trang 13

Quản lý, bảo vệ rừng là một hệ thống các biện pháp tổng hợp từ banhành chế độ chính sách, cơ chế quản lý, các giải pháp kinh tế - kỷ thuật đểgiải quyết tốt mối quan hệ tương hổ giữa Con người - Rừng cây - Xã hội,nhằm sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên thiên nhiên có khả năng tái tạo này, dựbáo và ngăn chặn những yếu tố ảnh hưởng bất lợi của tự nhiên và con ngườiđến tài nguyên rừng, từ đó duy trì phát triển bền vững vốn rừng một cách lâudài và liên tục

Đakrông là một huyện phía Tây Nam tỉnh Quảng trị có tổng diện tích

tự nhiên là 122.467,40 ha, trong đó diện tích rừng 80.022,94 ha, độ che phủcủa rừng chiếm 64,72%%, có khí hậu tương đối khắc nghiệt, mùa nắng nóngkéo dài, khô hạn, lại chịu ảnh hưởng mạnh của gió phơn Tây Nam Trên địabàn có 03 cộng đồng dân tộc cùng sinh sống đó là: Kinh, Vân Kiều, Pa Cô.Điều kiện kinh tế, xã hội nói chung còn gặp nhiều khó khăn, đời sống củanhân dân còn nghèo, kinh tế chủ yếu dựa vào sản xuất nông, lâm nghiệp, thunhập của của người dân trên địa bàn huyện và trình độ dân trí còn thấp, sảnxuất nông, lâm nghiệp còn lạc hậu, ý thức về công tác bảo vệ rừng chưa cao,một bộ phận nhân dân còn chuyên sống dựa vào rừng, tình hình xâm hại tàinguyên rừng một số nơi vẫn còn diễn ra Hệ thống quản lý bảo vệ rừng ở đâychủ yếu dựa vào các cơ quan Nhà nước, các chủ rừng và các Ban quản lý rừngphòng hộ, Ban quản lý rừng đặc dụng Việc tham gia quản lý bảo vệ rừng củacộng đồng đã từng bước được triển khai tuy nhiên vẫn còn hạn chế

Các nghiên cứu lý luận và thực tiễn ở trong và ngoài nước đã chứngminh rằng cộng đồng dân cư là đối tượng thích hợp nhất quản lý bảo vệ rừng,nhất là đối với các diện tích rừng phòng hộ, xa dân cư mà hộ gia đình, các tổchức không thể quản lý bảo vệ được Quản lý bảo vệ rừng dựa vào cộng đồng

là hình thức nhằm nâng cao năng lực và tăng cường sự hợp tác, chia sẻ kiếnthức, kinh nghiệm cho cộng đồng và các bên liên quan, từ đó đạt được mục

Trang 14

tiêu quản lý bảo vệ rừng bền vững Hiện nay, các công trình nghiên cứu vàtổng kết kinh nghiệm về quản lý bảo vệ rừng cộng đồng trên địa bàn huyệnĐakrông chưa có, vì vậy việc nghiên cứu và đề xuất các giải pháp để hoànthiện mô hình này là hết sức cần thiết.

Xuất phát từ thực tiễn trên mà tôi tiến hành đề tài “Nghiên cứu, đề

xuất một số giải pháp quản lý rừng cộng đồng trên địa bàn huyện Đakrông, tỉnh Quảng Trị".

Đề tài góp phần làm rõ vai trò của cộng đồng với tư cách là chủ thểquản lý bảo vệ rừng (rừng giao cho cộng đồng quản lý bảo vệ và hưởng lợi).Các tổng kết trong quản lý, bảo vệ rừng mà đề tài rút ra được sẽ làm phongphú thêm các kinh nghiệm về quản lý rừng dựa vào cộng đồng Đóng góp cơ

sở lý luận để hình thành các giải pháp giải quyết mối quan hệ giữa lợi ích củacộng đồng và phát triển tài nguyên rừng, nâng cao hiệu quả quản lý, bảo vệrừng

Trang 15

Chương 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1.1 Nhận thức về quản lý rừng cộng đồng.

1.1.1 Khái niệm về cộng đồng

Các nghiên cứu đưa ra nhiều khái niệm về cộng đồng:

Theo FAO, 2000: Cộng đồng trong khái niệm quản lý rừng cộngđồng, được giới hạn là tập hợp của các cá nhân trong một thôn, bản gầnrừng gắn bó chặt chẽ với nhau qua hoạt động sản xuất, sinh hoạt và đờisống văn hóa xã hội

Theo N H Quân, 2000: Cộng đồng bao gồm toàn thể những ngườisống trong một xã hội có những đặc điểm giống nhau và có mối quan hệgắn bó chặt chẽ với nhau

Luật đất đai (2013) và Luật Lâm nghiệp (2017): Cộng đồng dân cưgồm cộng đồng người Việt Nam sinh sống trên cùng địa bàn thôn, làng, ấp,bản, buôn, phum, sóc, tổ dân phố và điểm dân cư tương tự có cùng phongtục, tập quán hoặc có chung dòng họ;

Từ các khái niệm trên cho thấy, cộng đồng có thể là cộng đồng dân

cư thuộc làng, bản, cộng đồng các dòng họ, các nhóm người có những đặcđiểm và lợi ích chung Ở nghiên cứu của đề tài này, cộng đồng được hiểutheo nghĩa là cộng đồng thôn, xóm, làng, bản (kể cả các tổ chức đoàn thểtrong cộng đồng)

Quản lý rừng dựa vào cộng đồng là quản lý rừng mà phát huy đượcnhững nội lực của cộng đồng cho tổng thể các hoạt động nhằm bảo toàn,phát triển hệ sinh thái rừng; phòng, chống những tác động gây thiệt hại đếnrừng như: chặt, phá, lấn chiếm rừng, săn, bẫy bắt động vật rừng trái phép,phòng cháy chữa cháy rừng, phòng trừ sinh vật gây hại rừng, và thực hiệntheo quy định của pháp luật về quản lý bảo vệ rừng Những giải pháp quản

lý bảo vệ rừng dựa vào cộng đồng là phát huy những yếu tố tích cực của

Trang 16

luật tục, phong tục, tập quán, nhận thức, kiến thức của người dân, đặc điểmquan hệ gia đình, họ hàng, các tổ chức đoàn thể, làng, bản phù hợp vớichính sách, pháp luật của Nhà nước.

1.1.2 Khái niệm về cộng đồng tham gia quản lý bảo vệ rừng

Cộng đồng tham gia quản lý bảo vệ rừng cũng có thể thay thế bằng mộtcụm từ chung nhất là Lâm nghiệp cộng đồng (LNCĐ)

LNCĐ cũng đề cập đến sự xác định nhu cầu của địa phương, tăngcường quản lý sử dụng cây cối cải thiện mức sống của người dân theo mộtphương thức bền vững, đặc biệt là cho người nghèo (FAO,2000)

Theo Arnold (1992) đưa ra: Lâm nghiệp cộng đồng là một thuật ngữbao trùm hàng loạt các hoạt động gắn kết người dân nông thôn với trồng rừngcũng như các sản phẩm và lợi ích thu được từ rừng trồng và rừng tự nhiên

Ở Việt Nam, hiện nay có hai hình thức quản lý rừng cộng đồng phù hợp với định nghĩa của FAO như sau:

- Thứ nhất là quản lý rừng của cộng đồng: Là đối tượng chính trong phạm vi nghiên cứu của đề tài

Đây là hình thức mà mọi thành viên của cộng đồng tham gia quản lý và

ăn chia sản phẩm hoặc hưởng lợi từ những khu rừng thuộc quyền quản lý, sửdụng, sở hữu của cộng đồng hoặc quyền sử dụng chung của cộng đồng Đó làrừng của làng bản đã được quản lý theo truyền thống lâu đời (rừng thiêng,rừng ma, rừng mó nước, rừng di tích văn hóa lịch sử…quản lý theo các luậttục truyền thống với tinh thần tự nguyện cao); rừng trồng của các hợp tác xã,rừng tự nhiên được giao cho các hợp tác xã trước đây, nay hợp tác xã giao lạicho các xã, hoặc các thôn quản lý; rừng được chính quyền địa phương giaocho cộng đồng để quản lý bảo vệ và hưởng lợi với tính chất hợp tác, hỗ trợ lẫnnhau, chia sẻ lợi ích cùng nhau trên cơ sở tự nguyện (tạo thêm sức mạnh đểbảo vệ rừng, hỗ trợ hoặc đổi công cho nhau trong các hoạt động lâm nghiệp)

Trang 17

- Thứ hai là quản lý rừng của các chủ rừng khác (quản lý rừng dựa vàocộng đồng): Đây là hình thức cộng đồng tham gia quản lý các khu rừng khôngthuộc quyền quản lý, sử dụng, sở hữu chung của họ mà thuộc quyền quản lý, sửdụng của các thành phần kinh tế khác nhưng có quan hệ trực tiếp đến đời sống, đếnviệc làm, thu hoạch sản phẩm, thu nhập hay các lợi ích khác của cộng đồng

+ Đối tượng thứ hai, rừng thuộc quyền quản lý, sử dụng, sở hữu củacác tổ chức nhà nước (rừng do UBND xã quản lý theo QĐ 07/QĐ-TTg của Thủtướng chính phủ, rừng do các ban quản lý rừng phòng hộ, đặc dụng, các lâmtrường, công ty lâm nghiệp nhà nước, các trạm trại…) và các tổ chức tư nhân khác.Cộng đồng tham gia các hoạt động bảo vệ, khoanh nuôi xúc tiến

tái sinh, phục hồi rừng, trồng rừng với tư cách là người làm thuê thông quacác hợp đồng khoán và hưởng lợi theo các cam kết trong hợp đồng Ngoài racộng đồng còn tham gia hỗ trợ các chủ rừng chữa cháy rừng, dập dịch sâubệnh hại, ngăn chặn các hành vi xâm hại rừng khi có yêu cầu của chủ rừng vàđiều động của cấp có thẩm quyền

Từ sự phân tích trên đây cho thấy thuật ngữ QLRCĐ được sử dụng với

ý nghĩa hẹp hơn để chỉ cộng đồng quản lý những khu rừng của một cộng đồngdân cư, còn nói đến LNCĐ hay cộng đồng tham gia quản lý rừng chính là diễn tảhàng loạt các hoạt động gắn người dân trong cộng đồng dân cư thôn bản với rừng,cây, các sản phẩm của rừng và việc phân chia lợi ích từ rừng Hay nói cách khác,LNCĐ là một hình thức quản lý, bảo vệ, sử dụng và phát triển rừng do cộng đồngdân cư thôn bản thực hiện bao gồm cả rừng của cộng đồng và rừng của các thànhphần kinh tế khác

Với những lý luận như trên, nên chấp nhận LNCĐ bao gồm cả quản lýrừng cộng đồng (cộng đồng quản lý rừng của cộng đồng) và quản lý bảo vệrừng dựa vào cộng đồng (cộng đồng quản lý bảo vệ rừng của các chủ rừngkhác) Khái niệm này vừa phù hợp với định nghĩa của FAO vừa phát huy

Trang 18

được nhiều hơn sự đóng góp của cộng đồng vào quản lý, bảo vệ, xây dựng và phát triển rừng.

1.1.3 Chiến lược và chính sách quản lý bảo vệ rừng dựa vào cộng đồng

Chiến lược và chính sách quản lý, bảo vệ rừng dựa vào cộng đồng ở Việt nam và các nước trong khu vực đều được tiến hành theo những hướng sau:

- Nâng cao vai trò trách nhiệm, nghĩa vụ và quyền lợi của cộng đồngtrong quản lý bảo vệ rừng ; Phát huy những luật tục, phong tục tập quán tích cực của cộng đồng để quản lý bảo vệ rừng theo hướng bền vững

- Tăng cường các giải pháp về chính sách hỗ trợ về kinh tế - xã hội đểkhuyến khích người dân tham gia, trong đó chú trọng phát triển đào tạo, tập huấncho cộng đồng để thực hiện tốt nhiệm vụ quản lý bảo vệ rừng

-Xây dựng hệ thống tuần tra bảo vệ rừng, phòng cháy chữa cháy rừng ởtrên từng địa bàn cơ sở với sự tham gia tích cực của người dân

1.1.4 Quan điểm về quản lý bảo vệ rừng dựa vào cộng đồng

vào những quyết định cụ thể về bảo vệ, phát triển và sử dụng rừng của cộng đồng.Điểm này thể hiện rõ nét nhất đối với quản lý những khu rừng làng, rừng bản đượccộng đồng quản lý theo truyền thống

- Thứ hai, Nhà nước giao đất, giao rừng cho cộng đồng và hỗ trợ cộng

đồng về vốn, kỹ thuật… để quản lý bảo vệ, khoanh nuôi tái sinh, trồng rừng, khaithác sử dụng rừng

các cộng đồng bảo vệ, khoanh nuôi tái sinh và trồng rừng Cộng đồng chỉ làngười làm thuê, được hưởng tiền công khoán và một phần sản phẩm trên đấtrừng nhận khoán tuỳ theo thời gian và công sức mà mình bỏ ra

khác cung cấp các dịch vụ hỗ trợ, ký hợp đồng về đào tạo, khuyến lâm và chuyểngiao kỹ thuật cho cộng đồng tham gia quản lý bảo vệ rừng

Trang 19

-Thứ năm, quản lý bảo vệ tài nguyên rừng, nếu không có sự tham gia

của cộng đồng dân cư thôn, bản thì không thành công Hoạt động quản lý bảo

vệ rừng chỉ đạt được hiệu quả cao khi có biện pháp khuyến khích, thu hút sựtham gia tích cực và chính sách hỗ trợ kinh tế, xã hội đối với cộng đồng dân

cư thôn, bản, bởi bảo vệ rừng cũng chính là người dân mà phá rừng cũngchính là người dân

1.2 Quản lý bảo vệ rừng dựa vào cộng đồng ở nước ngoài:

Ở Nêpan, Lâm nghiệp cộng đồng mới xuất hiện nổi bật là sự tham giacủa người dân vào quản lý rừng Ngày nay trở thành nguồn thu nhập và cơ hội tạoviệc làm, cải thiện đời sống của các cộng đồng nông thôn Với sự hỗ trợ tài chính

và kỹ thuật của nhiều tổ chức phi chính phủ và tổ chức tài trợ quốc tế, chươngtrình này đã được thực thi ở toàn quốc và phần lớn chương trình đã thành côngtrong giai đoạn này (Paudel,2000)

Ở Ấn Độ, hình thức “đồng quản lý rừng” đang được mở rộng nhanhchóng bởi cải cách thể chế trong chính sách về rừng đang được thực thi với dấu hiệu

rõ nhất là phi tập trung hóa và dân chủ hóa quản lý nguồn tài nguyên D’Silva (1997)tin rằng chương trình “đồng quản lý rừng” tuy còn ở giai đọan đầu – giai đọan chuyểnviệc bảo vệ rừng từ sự kiểm sóat của Nhà nước sang việc kiểm soát của cộng đồng

Ấn Độ đang thực hiện bước cải cách thể chế tổ chức mặc dù các vấn đề đặt ra choviệc cải cách thì còn xa mới đạt tới

Ở Bănglađét, vấn đề xây dựng chiến lược, thể chế với sự trợ giúp củalâm nghiệp xã hội đã nổi lên từ những năm 1967 Sự phản ứng rất hạn chế củaChính phủ về xác định quyền sử dụng đất và tài nguyên thiên nhiên, cái chính

là không an toàn một cách phổ biến, đã làm suy yếu quản lý lâm nghiệp cộngđồng Những vấn đề pháp lý không tìm được câu trả lời như quyền chiếm hữukhông chắc chắn và mâu thuẫn giữa tư nhân và sở hữu công về rừng, đất rừng,quyền quản lý đất đai theo truyền thống xảy ra bởi sự kiện những người sống

về đất, những người thiếu đất và việc dân chủ hóa là nguyên nhân chính

Trang 20

của việc phá hoại nguồn tài nguyên rừng và mất đa dạng sinh học Sự thiếu tintưởng giữa người dân địa phương với cơ quan lâm nghiệp, thiếu chính sách minhbạch để thực thi quản lý xã hội và quản lý rừng có người dân tham gia cũng lànguyên nhân dẫn đến mất rừng (Poffenberger, 2000 và Thakur, 2001).

Tại Srilanka, từ năm 1982 đến 1988 pha 1 của Dự án Lâm nghiệp cộngđồng do ADB tài trợ cho Cục Lâm nghiệp Srilanka đã tạo cơ hội tiếp cận kinhnghiệm có người dân tham gia trong quản lý rừng Quá trình này được thựcthi không đem lại lợi ích nào về kiến thức địa phương và sự phản ứng hạn chếtới nguồn tài nguyên địa phương, nhận biết nhu cầu và các ưu tiên Sự thiếuvắng tổ chức cộng đồng được ủy quyền để quyết định việc giao đất rừng chotrồng trọt và với một số lượng rất hạn chế của cán bộ Bộ Lâm nghiệp đã dẫnđến việc kiểm soát lỏng lẻo việc chuyển đổi đất rừng sang đất nông nghiệptrong toàn quốc Năm 1995, Chính phủ Srilanka đã đưa ra một kế hoạch tổngquan lâm nghiệp mới, trong đó đề ra việc tăng độ che phủ rừng, tăng năngsuất nhằm đáp ứng các nhu cầu hiện tại và tương lai, nâng cao mức sống, kinh

tế của người dân địa phương cũng như toàn dân tộc Rừng thuộc sở hữu Nhànước phải quản lý theo nguyên tắc bền vững về sinh thái Ngày nay cácchương trình đồng quản lý rừng thông qua sự tham gia của người dân đangđược thực thi (Poffengerg, 2000, Thaksur, 2001)

Tại Philipin, việc chuyển đổi lâm nghiệp công đồng của Philipin có thểchia làm 3 giai đọan Giai đoạn đầu tiên là khai phá (1971-1980); giai đoạnthứ hai là củng cố và hợp nhất (1982-1989) và giai đoạn thứ 3 là mở rộng vàthể chế hóa Trong giai đoạn khai phá về quản lý lâm nghiệp cộng đồng, trồngrừng và trồng cây công cộng là khuynh hướng chính của Lâm nghiệp cộngđồng thông qua sự tham gia của người dân địa phương Việc hợp nhất chươngtrình Lâm nghiệp xã hội và Lâm nghiệp cộng đồng là chương trình chủ yếutrong giai đoạn thứ 2 và tăng trưởng rừng cộng đồng trong giai đoạn 3 Ngườidân trở thành đối tác, người quản lý và người chủ của các nguồn tài nguyên

Trang 21

rừng Quản lý rừng trên cơ sở cộng đồng là thông qua hợp đồng thuê quyền

sử dụng bằng việc tăng cường bảo vệ, quản lý, phục hồi và phát triển rừng.Các tổ chức của người dân đang làm việc trên diện tích này với quyền sửdụng an toàn trong 25 năm Quyền 25 năm với rừng tạo ra cơ hội để bảo vệquản lý và bán các sản phẩm rừng ở các rừng cộng đồng của họ (Bhumihar,

1998 và Thakur, 2001)

Ở Thái lan, Wasi (1997) cho rằng lâm nghiệp cộng đồng là một nhân tốtrợ giúp cho việc phát triển xã hội dân sự ở Thái Lan Các cộng đồng có đòi hỏi rấtlớn được tham gia vào quản lý các nguồn tài nguyên địa phương của họ do mộtdiện tích rừng lớn đã bị mất bởi việc khai thác gỗ hợp pháp trong những thập kỷtrước đây Vandergeets (1996) nhận thấy rằng khai thác rừng ở Thái Lan đã bị cấm

từ năm 1989, Cục Lâm nghiệp Hoàng gia Thái Lan đã chuyển các mục tiêu từquản lý khai thác gỗ sang mở rộng bảo tồn rừng Quyền của các cộng đồng địaphương quản lý các nguồn tài nguyên của họ đã trở thành mục tiêu chính của nhiều

tổ chức phi chính phủ và cơ quan nghiên cứu Gỵmour và Fisher (1997) nhận xétrằng các họat động quản lý rừng cộng đồng có liên quan đến việc mở rộng trồngrừng trên diện tích đã mất rừng, ở mức độ nào đó khá hơn là việc phối hợp quản lýhoặc chuyển giao việc kiểm soát cho các cộng đồng Mô hình quản lý rừng cộngđồng của người Thái tại bản Nhộp đã thể hiện tính sự hiệu quả trong việc hạn chếkhai thác gỗ trái

phép, khai thác củi bừa bãi, đốt nương làm rẫy Theo Báo cáo phân tích củaĐào Hữu Bính và cộng sự (2010), việc phân công trách nhiệm cho 1 nhómnhỏ, phối hợp với các tổ chức đoàn thể, giáo dục ý thức bảo vệ rừng cho cộngđồng là yếu tố mang đến sự thành công cho mô hình Báo cáo và phân tíchcủa tác giả Ngô Trí Dũng và Bùi Phước Chương (2010) cũng cho thấy, trongquá trình thực hiện các dự án liên quan đến cộng đồng tham gia quản lý tàinguyên rừng, việc quan tâm đến giải pháp sinh kế, xây dựng, nâng cấp nănglực tổ chức, thể chế cộng đồng, cung cấp thông tin chi tiết về tài nguyên rừng,

Trang 22

nâng cao ý thức của cộng đồng về giá trị tài nguyên là những vấn đề then chốt

để đạt được hiệu quả trong thực hiện mô hình QLRCĐ

Có thể nói, quản lý BVR dựa vào cộng đồng đang được xem như là mộtgiải pháp hữu hiệu đối với việc bảo vệ tốt rừng hiện nay, giải quyết tình trạngdiện tích, chất lượng rừng giảm sút Từ những kết quả thực tế của các nước,đây sẽ là những bài học quý báu cho quá trình xây dựng những giải pháp quản

lý bền vững tài nguyên rừng dựa vào cộng đồng ở Việt Nam Tuy nhiênnhững người làm công tác quản lý nhà nước về bảo vệ và phát triển rừng phải

có các giải pháp để cộng đồng hiểu được những lợi ích mang lại từ việc thamgia bảo vệ & phát triển rừng để khuyến khích họ tích cực tham gia

1.3 Quản lý bảo vệ rừng cộng đồng ở Việt Nam

1.3.1 Các tổ chức cộng đồng ở Việt Nam

Theo thống kê ở nước ta hiện có 54 dân tộc, với mỗi cộng đồng dân tộcđều có những đặc điểm riêng về văn hoá, tổ chức xã hội, tiếng nói, phong tụctập quán và có khoảng 50.000 làng, bản tập hợp trong gần 9.000 xã Từ xưamỗi làng bản được coi là là một tổ chức cộng đồng chặt chẽ với những đặcđiểm rất riêng như làng xóm ở miền xuôi là hình thức cộng đồng lâu đời đượchình thành trên cơ sở của phương thức canh tác lúa nước; Trong khi thôn, bảnmiền núi là hình thức cộng đồng được hình thành trên cơ sở quan hệ sắc tộc,nền kinh tế tự nhiên, tự cấp, tự túc, ít đầu tư và sử dụng các sản phẩm tự nhiênsẳn có Điều này có ảnh hưởng sâu sắc đến công tác quản lý, bảo vệ rừng

Ngoài hai hình thức chủ yếu trên còn có các loại hình cộng đồng khácnhư: cộng đồng tôn giáo, cộng đồng họ tộc, cộng đồng giới tính Một số loạihình cộng đồng đã được phát triển thành các tổ chức đoàn thể có mục tiêu,điều lệ rõ ràng, hoạt động theo quy chế tổ chức chính trị xã hội hay các tổchức kinh tế Một số đoàn thể đã tham gia và có nhiều đóng góp cho việc pháttriển lâm nghiệp tại các địa phương như: UBMTTQ, Hội nông dân, Hội phụ

nữ, Hội cựu chiến binh, Đoàn thanh niên

Trang 23

1.3.2 Hình thức quản lý bảo vệ rừng dựa vào cộng đồng ở Việt Nam

Lâm nghiệp cộng đồng ở Việt Nam được hình thành từ lâu đời và đang trởthành một phương thức quản lý rừng có hiệu quả được Nhà nước quan tâm,khuyến khích phát triển Lâm nghiệp cộng đồng đang là một thực tiễn sinh độngmang lại hiệu quả trong quản lý rừng và phát triển cộng đồng vùng núi

Hình thức quản lý này thường gắn với luật tục của cộng đồng Đây làmột hình thức tri thức bản địa liên quan tới cộng đồng thôn, bản Các cộngđồng đã có nhiều kinh nghiệm và truyền thống quản lý rừng theo hướng sửdụng tài nguyên thiên nhiên ổn định và bền vững Trong thời gian dài tạinhiều vùng khác nhau, quản lý rừng và môi trường sinh thái của cộng đồng đãđóng một vai trò rất quan trọng và mang lại hiệu quả thiết thực cho người dânđịa phương

Theo công bố thống kê của Bộ Nông nghiệp và PTNT về hiện trạngrừng toàn quốc năm 2018, tính đến 31/12/2018 tổng diện tích rừng trên toànquốc là 14.491.295 ha Trong đó diện tích rừng giao cho cộng đồng là1.156.714 ha Chi tiết được thể hiện ở Phụ biểu 1

Như vậy diện tích rừng giao cho cộng đồng chiếm gần 8%, diện tíchrừng tự nhiên giao cho cộng đồng chiếm hơn 10, 2% trong tổng diện tích rừng

tự nhiên trên toàn quốc

Trong thời gian gần đây rừng tự nhiên giao cho các tổ chức, doanhnghiệp nhà nước chưa được quản lý bảo vệ tốt và vẫn đang bị xâm hại, đặcbiệt khu vực Miền Trung, Tây Nguyên., nơi còn nhiều rừng tự nhiên có trữlượng Rừng tự nhiên ở Việt Nam đang tiếp tục giảm sút về cả diện tích vàchất lượng, đặc biệt là các diện tích rừng đặc dụng và rừng phòng hộ (nơi ítnhiều vẫn còn các khu rừng giàu và trung bình với nhiều loại động thực vậtquý hiếm) Vì vậy, ngành lâm nghiệp cần phải có các giải pháp khác có hiệuquả hơn để quản lý và bảo vệ các diện tích rừng tự nhiên còn lại, trong đó lâmnghiệp cộng đồng và đồng quản lý rừng là giải pháp đang được nhân rộng

Trang 24

Tại Quảng Trị, trên cơ sở Quyết định 178/2001/QĐ-TTg ngày12/11/2001 của Thủ tướng Chính phủ về quyền hưởng lợi, nghĩa vụ của hộgia đình, cá nhân được giao, được thuê, nhận khoán rừng và đất lâm nghiệp;Thông tư liên tịch số 08/2003/TTLT-BNN-BTC ngày 03/9/2003 của Bộtrưởng Bộ NN&PTNT và Bộ tài chính về Hướng dẫn thực hiện Quyết định178/2001/QĐ-TTg ngày 12/11/2001 của Thủ tướng chính phủ về quyềnhưởng lợi, nghĩa vụ của hộ gia đình, cá nhân được giao, được thuê, nhậnkhoán rừng và đất lâm nghiệp; Năm 2005 Chi cục Kiểm lâm xây dựng Đề ángiao rừng tự nhiên cho cộng đồng dân cư thôn, hộ gia đình và cá nhân đãđược UBND tỉnh đồng ý cho triển khai giao thí điểm tại huyện Đakrông vàHướng Hóa Đến năm 2009 đề án đã được phê duyệt theo quyết định số 2352/QĐ-UBND của UBND tỉnh Từ năm 2005 đến 2018 trên địa bàn huyệnĐakrông đã tổ chức giao 7.871,5 ha rừng tự nhiên cho cộng đồng và hộ giađình bảo vệ và hưởng lợi theo chính sách của Nhà nước, của tỉnh Qua giaothí điểm rừng tự nhiên cho cộng đồng nhận và bảo vệ và hưởng lợi đã tạocông ăn việc làm cho người dân, phát huy được các luật tục tích cực tại địaphương Thông qua thực hiện các quy ước bảo vệ rừng do người dân xâydựng từ đó người dân trong cộng đồng đoàn kết giử gìn trật tự trị an trên địabàn Tình trạng khai thác, phát rừng làm nương rẫy, bẫy bắt động vật trongrừng cộng đồng và hộ gia đình giảm hẳn, các vụ cháy rừng không còn xảy ra.

Vì vậy rừng được sinh trưởng phát triển tốt góp phần bảo vệ môi trường sinhthái, bảo vệ nguồn nước chống sạt lở xói mòn đất Bảo vệ hệ sinh thái cảnhquan rừng tại địa phương Đặc biệt với các khu rừng do cộng đồng tự quản lýtheo tập tục và truyền thống như rừng ma của người dân tộc Vân kiều, Pa Kô,khu rừng phòng hộ cảnh quan của làng, bản đồng bằng đã được bảo vệnghiêm ngặt, không xảy ra tình trạng chặt phá, mọi người nhắc nhở nhau tựgiác bảo vệ, đây là những cơ sở để cần làm rõ vai trò tác động của cộng đồngtrong công tác quản lý bảo vệ rừng

Trang 25

1.3.3 Hiệu quả đạt được từ quản lý bảo vệ rừng dựa vào cộng đồng ở Việt Nam

Đã có một số kinh nghiệm bước đầu về quản lý rừng cộng đồng thôngqua các dự án lâm nghiệp cộng đồng (LNCĐ) của các dự án ODA và dự áncủa Chính phủ đã thực hiện ở Việt nam như các dự án Lâm nghiệp xã hộiSông Đà và Chương trình hợp tác lâm nghiệp Việt- Đức của GTZ, dự ánETSP (Hỗ trợ đào tạo khuyến nông vùng cao) của Thuỵ Sỹ, dự án Chươngtrình thí điểm LNCĐ của TFF, dự án SNV, dự án PPFP vv Các dự án lâmnghiệp cộng đồng và đồng quản lý rừng đã và đang được Nhà nước quan tâm

và hỗ trợ để thử nghiệm và nhân rộng ở Việt nam

Thực tiễn cho thấy do tính đa dạng của các cộng đồng nên không thể cómột mô hình lâm nghiệp cộng đồng chung mà cần có các loại hình lâm nghiệpcộng đồng khác nhau, phù hợp với từng điều kiện cụ thể Nhiều vấn đề đangđặt ra cho quản lý rừng cộng đồng như địa vị pháp lý của cộng đồng dân cưthôn trong quản lý rừng, các khía cạnh về quyền đầy đủ khi cộng đồng thamgia quản lý rừng, kế hoạch quản lý rừng, sử dụng thương mại sản phẩm từrừng cộng đồng, cơ chế hưởng lợi, tổ chức quản lý rừng, vấn đề này cũngđược đưa ra đánh giá tại Hội thảo quốc gia về quản lý rừng cộng đồng5/6/2009 Ngoài ra, từ tổng kết của các dự án Lâm nghiệp cộng đồng tại ViệtNam cũng đưa ra một số nhận định như sau:

- Mô hình giao rừng tự nhiên cho cộng đồng thôn, bản quản lý và sử dụngđược đánh giá là mô hình giao rừng có hiệu quả nhất, đặc biệt ở các vùng đồng bàodân tộc ít người có truyền thống sinh hoạt theo cộng đồng với các phong tục, luật tụcđơn giản và có hiệu quả về quản lý sử dụng rừng và nơi mà các quyết định cộng đồngvẫn đang là một chuẩn mực văn hoá Rừng sau khi giao cho cộng đồng nhìn chung đãđược bảo vệ tốt hơn so với trước đây

- Quản lý rừng tự nhiên dựa vào cộng đồng là một giải pháp phù hợp giúpchia sẻ lợi ích thu được từ rừng một cách công bằng và bền vững Công bằng trongviệc chia sẻ lợi ích giữa các thành viên cộng đồng là một trong các nhân tố quyết địnhcho sự thành công và tính bền vững của quản lý bảo vệ rừng

Trang 26

- Thông qua việc giao rừng và cắm mốc ranh giới trên thực địa, chínhquyền địa phương đã bước đầu xác lập quyền quản lý và sử dụng rừng của cộngđồng và đã thừa nhận quyền sử dụng lâu dài của cộng đồng và các cộng đồng cũngcảm nhận được họ là chủ thực sự của các khu rừng được giao .

- Các cộng đồng sau khi được giao rừng đã chủ động tìm các phươngthức quản lý bảo vệ rừng phù hợp Nhiều cộng đồng lựa chọn hình thức xây dựng

tổ bảo vệ rừng thôn chuyên trách, trong khi các cộng đồng khác chọn hình thức tổkhông chuyên trách quy định tất cả các hộ gia đình đều phải cử người luân phiêntham gia tuần tra rừng để bảo đảm tính công bằng (hộ nào cũng được hưởng tiền

hỗ trợ bảo vệ rừng và khai thác gỗ và lâm sản ngoài gỗ trong rừng cộng đồng và

hộ nào cũng phải tham gia bảo vệ rừng)

- Kiến thức bản địa của các cộng đồng tham gia dự án là rất tốt và là cơ

sở để cộng đồng có thể tham gia đầy đủ vào tất cả các hoạt động Lâm nghiệp cộngđồng như xác định ranh giới rừng, chất lượng rừng, phân loại được loại đất nàophù hợp với cây trồng gì; nhận biết từng động vật rừng theo dấu chân, nhận biếtcác loài cây rừng; kiến thức về khai thác, trồng và sử dụng các sản phẩm từ rừng

- Quy ước bảo vệ phát triển rừng thôn bản là công cụ để đưa công tácquản lý bảo vệ rừng đi vào nề nếp, là cơ sở để tạo lập cơ chế tự quản ở thôn/ xã vàtiền đề cho việc xây dựng và thực hiện kế hoạch quản lý rừng cộng đồng

- Năng lực và sự ủng hộ của cộng đồng đã được nâng cao một bước khi cộng đồng được tham gia vào tất cả các hoạt động điều tra rừng (như đánh giá chất lượng rừng, xác định ranh giới lô rừng, đo đếm cây rừng … sử dụng các kiến thức bản địa sẵn có), thảo luận quy ước bảo vệ phát triển rừng, kế hoạch quản lý rừng cộng đồng Người dân đã bước đầu nhận thức được, đây là rừng của họ, nên họ sẵn sàng bảo vệ dù chưa có hoặc chỉ có hỗ trợ hạn chế của các dự án.

- Quỹ bảo vệ và phát triển rừng cộng đồng do một số dự án hỗ trợ thànhlập tuy còn hạn chế nhưng là nguồn vốn rất quan trọng ban đầu để cộng đồng tổchức bảo vệ và phát triển rừng của họ, khi họ chưa có thu nhập từ rừng và tạo điềukiện cho cộng đồng tập sự xây dựng và sử dụng quỹ này

Trang 27

- Góp phần khôi phục truyền thống văn hoá, phong tục tập quán tốt đẹpcủa cộng đồng Thông qua việc quản lý rừng cộng đồng, có sự giúp đỡ và hướng dẫncủa các tổ chức Nhà nước, đã góp phần thúc đẩy việc xây dựng và thực hiện quy chếquản lý, bảo vệ rừng ở cộng đồng; thực hiện quy chế dân chủ

ở cơ sở; khôi phục truyền thống văn hoá tốt đẹp, hương ước của cộng đồng

- Tư cách pháp lý, các quyền lợi của cộng đồng đã được cụ thể hóa tại các văn bản pháp luật

Tuy đạt được những kết quả trên, nhưng trong quá trình thực hiện còn một số bất cập như sau :

- Chính sách hưởng lợi còn bất cập; Trong khi cơ chế cơ chế hưởng lợirừng từ dịch vụ môi trường đang được triển khai tương đối hiệu quả thì vấn đề thểchế hoá khai thác thương mại và cơ chế hưởng lợi sản phẩm rừng thương mại từrừng cộng đồng chưa rõ ràng;

- Thiếu các chính sách hỗ trợ sau giao đất, giao rừng đối với chủ rừng

là hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư thôn bản như đầu tư tín dụng, hỗ trợ kỹthuật, bao tiêu sản phẩm ;

- Do điều kiện kinh phí và giao thông đi lại khó khăn, nên việc cộng đồng tham gia tuần tra bảo vệ rừng đạt kết quả chưa cao

1.3.4 Những bài học kinh nghiệm quản lý bảo vệ rừng dựa vào cộng đồng

Từ những lý luận và thực tiển có thể rút ra những bài học chủ yếu cho quản lý bảo vệ rừng dựa vào cộng đồng ở Việt Nam như sau :

- Một là: Quản lý bảo vệ rừng dựa vào cộng đồng là phương thức quản

lý cần thiết, hiệu quả cao, đáp ứng nhu cầu sinh kế ở các vùng sâu, vùng xa vùngđồng bào dân tộc thiểu số phù hợp với tập quán truyền thống, điều kiện sản xuất vàthị trường kém phát triển, trình độ quản lý còn thấp Các sản

Trang 28

phẩm từ rừng chủ yếu được sử dụng cho tiêu dùng trong cộng đồng như gỗ đểlàm nhà, củi đốt, khai thác lâm sản ngoài gỗ Rừng được quản lý theo truyềnthống được quy định trong hương ước của cộng đồng.

- Hai là : Quản lý bảo vệ rừng dựa vào cộng đồng sẽ thành công khi kếthợp hài hoà giữa lợi ích người dân - cộng đồng- nhà nước

- Ba là : Thái độ, sự tham gia của người dân là yếu tố quan trọng đảm bảo sự thành công của quản lý bảo vệ rừng dựa vào cộng đồng

- Bốn là : Quản lý bảo vệ rừng dựa vào cộng đồng cần phải được phốihợp với các phương thức quản lý khác mà trước hết là phương thức quản lý dựavào chính sách thể chế của Nhà nước, phương thức phát huy mọi tiềm năng nội lựccủa các thành phần trong cộng đồng

Nhìn chung, quản lý bảo vệ rừng dựa vào cộng đồng là một vấn đề tổnghợp và phụ thuộc nhiều vào khuôn khổ thể chế, chính sách của từng quốc gia,từng địa phương Do vậy, không thể sao chép nguyên vẹn một mô hình nào từnơi này sang nơi khác Tuy nhiên, việc chia sẻ kinh nghiệm, chia sẻ những bàihọc thành công hay thất bại trong cả nước và khu vực là rất cần thiết trong bốicảnh chính sách lâm nghiệp đang cải cách và hoàn thiện như hiện nay Điềuđáng chú ý là phải có những nghiên cứu tổng hợp đánh giá và đúc kết kinhnghiệm, bổ sung và xây dựng những chính sách mới phù hợp cho mỗi vùng

Vì vậy quản lý bảo vệ rừng dựa vào cộng đồng được xem như nền tảngcủa sự phát triển vì nó đảm bảo đáp ứng được những nhu cầu lợi ích cho cộngđồng, góp phần xoá đói giảm nghèo và khắc phục được tình trạng khánh kiệttài nguyên trong những phương thức sử dụng kém bền vững

Đề tài tập trung phân tích đánh giá sâu điều kiện tự nhiên, kinh tế, xãhội, phong tục tập quán, kiến thức, thể chế bản địa và đánh giá thực trạngcông tác bảo vệ rừng trên địa bàn huyện, đồng thời đánh giá mức độ đe doạ,mối quan tâm và khả năng hợp tác của các bên liên quan trong, ngoài cộngđồng đến công tác bảo vệ rừng cũng như đánh giá tiềm năng quản lý bảo vệrừng của cộng đồng

Trang 29

Chương 2 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI

2.1 Điều kiện tự nhiên huyện Đakrông.

2.1.1 Vị trí địa lý

Đakrông là huyện miền núi nằm phía Tây Nam tỉnh Quảng Trị, có vị tríđịa lý từ 160 27’55’’ đến 16 0 49’12’’ vĩ độ Bắc; 1070 14’15’’ đến 107014’15’’ kinh độ Đông

Phía Bắc giáp huyện Gio Linh và Cam Lộ, tỉnh Quảng Trị

Phía Nam giáp tỉnh Thừa Thiên Huế và nước Cộng hòa dân chủ nhândân Lào

Phía Đông giáp huyện Triệu Phong và Hải Lăng tỉnh Quảng Trị

Phía Tây giáp huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị và nước Cộng hòa dânchủ nhân dân Lào

Huyện có vị trí địa lý kinh tế quan trọng không chỉ đối với tỉnh Quảng trị

mà còn với cả khu vực Bắc Trung Bộ và cả nước Trên địa bàn huyện cómạng lưới giao thông đường bộ đi qua như Quốc lộ 9, đường xuyên Á nốiViệt Nam – Lào – Thái Lan – Mianma và đường Hồ Chí Minh huyền thoại làtuyến đường xuyên Việt, nối hệ thống cảng biển với các cửa khẩu Lao Bảo,

La Lay, A Lưới Ngoài ra, huyện có hệ thống đường tỉnh lộ, huyện lộ là tiềmnăng dồi dào tạo ra thế mạnh không những trong việc giao lưu phát triển kinh

tế, văn hóa, xã hội của huyện mà còn là cầu nối cho sự phát triển các địaphương khác

2.1.2 Địa hình, địa mạo

Nhìn chung, địa hình của huyện là đồi núi bị chia cắt mạnh bởi hệ thốngsông suối, và hệ thống sông Đakrông và sông Quảng Trị (Ba Lòng) Đỉnh caonhất là đỉnh Kovaladut 1.251m so với mắt nước biển nằm ở phía Đông Namhuyện, thấp nhất là bãi bồi ven sông Đakrông, đoạn chảy qua Ba Lòng vớichiều dài 25km Toàn huyện có ba dạng địa hình chính:

Trang 30

- Dạng thung lũng hẹp được phân bố ở các xã Hướng Hiệp, Mò Ó, TriệuNguyên, Ba Lòng, Hải Phúc và một số ở Tà Rụt Dạng địa hình này tương đốibằng phẳng thích hợp cho việc phát triển cây nông nghiệp.

- Dạng địa hình đồi núi thấp có độ dốc 8-200m với độ cao địa hình từ150-300m được phân bố chủ yếu ở các xã phía Bắc và Đông Bắc huyện, địa hình này thích hợp để phát triển cây lâu năm như cây ăn quả, mít, hồ tiêu

- Dạng địa hình đồi núi cao, có độ cao địa hình trung bình 600-800m.Dạng này được phân bố hầu hết ở các xã trong huyện nhưng nhiều nhất là các

xã Ba Nang, Tà Long, Húc Nghì, A Vao, Tà Rụt, A Bung, A Ngo Đây làvùng địa hình đa phần thích nghi cho phát triển lâm nghiệp

* Chế độ mưa: Lượng mưa bình quân 2.375 mm/năm (các xã phía nam

có lượng mưa lớn hơn 300-400mm) Lượng mưa phân bố không đều, 86%tổng lượng mưa tập trung vào các tháng 9, 10, 11 Đây là tác nhân hàng đầugây rửa trôi, xói mòn đất, đặc biệt đối với địa bàn vùng là nơi có diện tích đất

có độ dốc lớn chiếm tỷ lệ khá cao Ngoài ra, còn gây ngập úng cho khu vựcđất thấp Đây là yếu tố giảm đáng kể độ màu mỡ và tầng dày của đật, hạn chếkhông ít tới việc khai thác sử dụng cho phát triển các hệ thống canh tác Thời

kỳ mưa lại trùng với thời kỳ nắng nóng, lượng bốc hơi lớn, độ ẩm không khíthấp gây khô hạn nặng trên diện rộng, hạn chế khả năng gieo trồng, năng suấtcác loài cây trồng bị giảm đáng kể

* Gió: Đakrông chịu ảnh hưởng của gió Tây khô nóng, trung bình

45-50 ngày/năm, thời kỳ có gió nóng độ ẩm hạ thấp, lượng bay hơi lớn, nền nhiệtcao ảnh hưởng đến phát triển cây trồng, gây nguy cơ cháy rừng lớn

Trang 31

- Tiểu vùng phía Nam huyện (đường Hồ Chí Minh) cũng như tiểu vùngphía Bắc chịu ảnh hưởng của chế độ khí hậu nhiệt đới gió mùa nhưng do độ caođịa hình và thảm thực vật rừng còn nhiều nên lượng mưa hàng năm, độ ẩm khôngkhí lớn hơn tiểu vùng phía bắc Nền nhiệt trung bình cả năm thấp hơn tiểu vùngtrên 3,30C.

2.1.4 Tài nguyên nước:

Nguồn nước mặt trong vùng rất phong phú, hệ thống sông suối khá đều

có hai sông lớn chảy qua: sông Quảng Trị và sông Đakrông

+ Hệ thống sông Quảng Trị: Sông Quảng Trị được hợp lưu của hai consông chính là sông Đakrông và sông Rào Quán, chiều dài chảy qua huyện 38km,qua các xã Đakrông, Mò Ó, Triệu Nguyên, ba Lòng, Hải Phúc

+ Hệ thống sông Đakrông: Sông Đakrông được bắt nguồn từ dãy núiTrường Sơn phía Nam và Đông Nam huyện, qua các xã A Bung, A Ngo, Tà Rụt,Húc Nghì, Tà Log, ba nang và Đakrông với chiều dài 85 km

Ngoài hệ thống sông lớn trên, phía bắc (xã Hướng Hiệp) có suối KheDuyên đổ ra sông Trịnh Hinh (Cam Lộ) và các ao hồ sông suối nhỏ Tuynhiên lưu lượng nước mùa kiệt của hệ thống khe suối này khá nhỏ

* Nguồn nước ngầm: Nhìn chung nguồn nước trong vùng khá phongphú nhưng có một số hạn chế do địa hình dốc, lòng sông sâu nên việc khaithác, sử dụng nguồn nước mặt rất khó khăn, nguồn nước ngầm phân bố sâuđòi hỏi phải đầu tư đáng kế mới có thể khai thác đưa và sử dụng cho sản xuất

và sinh hoạt Tuy nhiên phía hạ lưu sông Quảng Trị (đoạn chảy qua Triệu

Trang 32

Nguyên, Ba Lòng, Hải Phúc) lòng sông rộng, sâu, nhân dân sử dụng vào vậntải đường sông khá thuận lợi.

2.1.5 Tài nguyên đất

Trong các loại đất trên địa bàn huyện Đakrông, nhóm đất dạng địa hình

gò, đồi, núi chiếm tỷ lệ lớn so với diện tích tự nhiên và gồm 7 loại đất chínhlà: Đất phù sa được bồi, đất nâu vàng trên đất phù sa cổ, đất đỏ vàng trên đất

đá sét, đất nâu tím trên đá sét, đất đỏ vàng trên đá biến chất, đất vàng trên đácát và đất vàng đỏ trên đá macma acid

Biểu 2.1: Cơ cấu sử dụng đất huyện Đakrông 2018

2 Đất phi nông nghiệp 3.142,95 2,57% diện tích tự nhiên

3 Đất chưa sử dụng 19.638,78 16,03% diện tích tự nhiên

Nguồn: Phòng TN-MT huyện Đakrông 2018

Biểu đồ 2.1: Hiện trạng sử dụng đất ở huyện Đakrông

3% 16%

81%

Đất nông nghiệp Đất phi nông nghiệp Đất chƣa sử dụng

( Nguồn Phòng TN-MT huyện Đakrông )

Trang 33

Nhìn chung đất đai của Đakrông phù hợp với nhiều nhóm cây trồngkhác nhau, song hiện nay nhiều diện tích đất đã và đang bị suy thoái do thảmthực vật bị tàn phá nặng nề và những tập quán canh tác lạc hậu, quảng canhbóc lột đất Do vậy cần áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất,đưa các mô hình canh tác hợp lý trên đất dốc, trồng rừng phòng hộ để bảo vệđất sử dụng hiệu quả, lâu dài

2.1.6 Tài nguyên rừng

Đakrông hiện có 80.022,94 ha rừng, độ che phủ chiếm 64,72% (Chi tiếttại Phụ biểu 3); Hiện nay trên địa bàn huyện Đakrông, trong số 1.452 loàithực vật, đã ghi nhận được 38 loài nằm trong Sách đỏ Việt Nam, 40 loài trongSách đỏ Thế giới; hệ động vật xương sống có 401 loài (91 loài thú, 193 loàichim, 32 loài bò sát, 17 loài lưỡng cư, 71 loài cá) Tuy nhiên trong những nămqua nguồn tài nguyên này có xu hướng giảm sút, nhiều loài thú quý hiế có xuhướng tuyệt chủng trên địa bàn (gấu, hổ…) cùng với việc tái tạo vốn rừng,nguồn động vật hoang dã quý hiếm cũng cần được bảo vệ chặt chẽ vì đây lànguồn tài nguyên có giá trị cao vệ nhiều mặt không dễ tái tạo, phát triển

Trang 34

Biểu 2.2: Diện tích rừng và đất rừng huyện Đakrông phân theo mục đích

I RỪNG THEO NGUỒN GỐC

79265,83 36926,64 15796,34 26203,99 338,86 1- Rừng tự nhiên

1, Đất có rừng trồng chưa đạt

Trang 35

757,11 63,62 10,21 657,49 25,79 tiêu chí thành rừng

2, Đất có cây gỗ tái sinh chưa

14041,51 2979,39 3400,28 7661,84 0 đạt tiêu chí thành rừng

6, Đất khác

1719,24 98,1 454,27 1165,64 1,23

(Nguồn Hạt Kiểm lâm Đakrông 2018 )

Trang 36

2.1.7 Tài nguyên khoáng sản

Đakrông có nhiều khoáng sản quý và có trữ lượng lớn gồm:

- Vàng ở A Vao, Tà Long, A Ngo, A Bung nằm ở dạng quặng chính:Các đới biến chất nhiệt dịch chồng lên các đới milonit giàu Sulphur và các đaimạch thạch anh – sulphur phân chia hai đới cấu trúc địa tầng A Vương và A Linrất có triển vọng khai thác công nghiệp

- Mỏ nước khoáng tự nhiên ở Đakrông có lưu lượng 1,7 l/s, cố nhiệt độ bình quân 53 0C, độ PH = 7

2.1.8 Tài nguyên nhân văn

Trong lịch sử vùng đất Đakrông từng thuộc các huyện Hướng Hóa, GioLinh, Cam Lộ, Triệu Phong Do ảnh hưởng của chiến tranh, yêu cầu cáchmạng nên nhiều lần tách ra hợp vào Đakrông là nơi hội tụ của nhiều nền vănhóa thời tiền sử Qua các phát hiện khảo cổ đã tìm thấy nhiều dấu vết của thời

kỳ đá mới thuộc văn hóa Hòa Bình, Bắc Sơn ở Đakrông Ở đây còn phát hiệnnhiều dấu vết của nền văn hóa đồ đồng như rìu đồng, giáo đồng, lưỡi câuđồng và một số đồ trang sức Những dữ kiện nói trên chứng tỏ Đakrông có

bề dày trong tiến trình phát triển của lịch sử dân tộc

Dân cư ở đây không chỉ có người Chăm mà gồm cả đồng bào dân tộc ítngười như Vân Kiều, PaCô cùng người kinh định cư lâu đời Từ 1831 khi nhàNguyễn thành lập tỉnh Quảng Trị thì Đakrông chính thức thuộc về tỉnh QuảngTrị Mặc dù có nhiều thành phần dân tộc nhưng trải qua quá trình chung sống,đấu tranh với thiên nhiên và giặc ngoại xâm các dân tộc huyện Đakrông đã trởthành một bộ phận quan trọng không thể tách rời của cộng đồng cư dân ViệtNam nói chung và Quảng Trị nói riêng

Sau khi người Kinh đến sinh sống cùng, nơi đây đã trở thành một cộng đồng cư dân mới hết sức đoàn kết và gắn bó cùng nhau tồn tại và phát triển

2.1.9 Thực trạng môi trường

* Thực trạng môi trường không khí:

Nhìn chung Đakrông có khí hậu trong lành, chưa bị ô nhiễm bởi các nhà

Trang 37

máy công nghiệp; độ che phủ của rừng chiếm gần 63% Một vài khu vực đôngdân cư nông thôn có hoạt động sản xuất kinh doanh dịch vụ, các khu vực tậptrung chất thải của người và gia súc; hay những đoạn đường có chất lượngmặt đường kém thường xảy ra tình trạng ô nhiệm không khí tuy nhiên chỉmang tình cục bộ

* Thực trạng môi trường đất:

Tập quán canh tác của người dân huyện Đakrông đang làm cho chấtlượng môi trường đất ngày càng suy giảm, bị thoái hóa do xói mòn, rửa trôi,mất chất hữu cơ, khô hạn dẫn đến nhiều vùng đất bị cằn cỗi, giảm năng suất,sản lượng, cây trồng

Môi trường đất tại các thị trấn, thị tứ trong huyện cũng đang có dấu hiệu

ô nhiễm cục bộ do nước thải sản xuất, sinh hoạt không qua xử lý và tiêu thoátbằng cách ngấm tự nhiên xuống đất Ngoài ra, tại các khu vực chứa rác chất lượngmôi trường đất cũng bị ô nhiễm và suy thoái do các chất gây ô nhiễm trong nướcrác thấm xuống

Đặc biệt, việc sử dụng thuộc bảo vệ thực vật cho cây trồng trong nôngnghiệp, việc khai thác không đi kèm với phục hồi đất trong lâm nghiệp cũnglàm cho môi trường đất bị suy thoái

2.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội

2.2.1 Khái quát thực trạng phát triển kinh tế

2.2.1.1.Cơ sở hạ tầng:

Đakrông là 1 trong 62 huyện nghèo của cả nước Kết quả thực hiện hiệnNghị quyết 30a/ NQ-CP ngày 27/12/2008 của Chính phủ về chương trình hỗtrợ giảm nghèo nhanh và bền vững, Đakrông đã thu được những thành tựu hếtsức quan trọng trên các lĩnh vực Việc đầu tư xây dựng các công trình cơ sở

hạ tầng, tạo điều kiện thúc đẩy kinh tế - xã hội của địa phương phát triển và

có ý nghĩa quyết định trong việc thực hiện từng bước mục tiêu công nghiệphóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn Mạng lưới điện, đường, trường,

Trang 38

trạm không ngừng hoàn thiện, nhiều công trình được đầu tư xây dựng và đãvào sử dụng đem lại hiệu quả phục vụ sản xuất, phục vụ đời sống dân sinh.Đến nay 14/14 xã, thị trấn đã có điện lưới quốc gia và đường giao thông kiên

cố vào đến trung tâm xã Các công trình phục vụ y tế, giáo dục, thể thao, vănhóa đã được quan tâm đầu tư nhằm phục vụ nhân dân được tốt hơn

2.2.1.2 Nông - Lâm nghiệp:

Đakrông là huyện có trên 93% dân số sinh sống ở khu vực nông thôn,nông nghiệp và thủy sản; có trên 90% lao động trực tiếp sản xuất trong ngànhnông nghiệp

Trong sản xuất nông lâm nghiệp, Đakrông đã tập trung chuyển dịch cơcấu cây trồng, vật nuôi theo hướng sản xuất hàng hoá; hình thành các vùngchuyên canh sản xuất các sản phẩm có năng suất, chất lượng và hiệu quả kinh

tế cao; gắn sản xuất nông nghiệp với công nghiệp chế biến; chăn nuôi pháttriển cả số lượng lẫn chủng loại Qua thống kê năm 2018, tổng giá trị sản xuấtnông nghiệp đạt 216,1 tỷ đồng, tăng 10,34% so với năm 2017

Trồng trọt được xác định là ngành sản xuất then chốt trong nông nghiệpcủa huyện, Các cây trồng chủ yếu là lúa nước, ngô lai, sắn nguyên liệu, lạc,rau, đậu thực phẩm, cây công nghiệp dài ngày

Đến cuối năm 2018, tổng đàn gia súc gần 30.000 con, gia cầm 90.000con; tổng lượng thịt hơi xuất chuồng 1.100 tấn

Tổng giá trị sản xuất lâm nghiệp năm 2018 ước đạt 61,1 tỷ đồng, sosánh đánh giá với năm 2010 tăng 106% Phấn đấu toàn huyện đến năm 2020trồng được 13.000 ha rừng trồng tập trung

2.2.1.3 Thương mại - Dịch vụ:

Thương mại và dịch vụ của huyện Đakrông đang phát triển theo chiềuhướng tích cực Số lượng các ngành nghề kinh doanh – dịch vụ ngày càngđược mở rộng đã cơ bản đáp ứng đủ nhu cầu tiêu dùng trên địa bàn Tổngmức bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng năm 2018 ước đạt 396 tỷ đồng, số

hộ kinh doanh cá thể 1.035 hộ

Trang 39

Các loại hình dịch vụ được mở rộng trên các lĩnh vực bảo hiểm, ngânhàng, bưu chính viễn thông tăng trưởng khá, chất lượng dịch vụ được cải tiếnđáng kế Hoạt động du lịch đã có sự khởi sắc

2.2.1.4.Công nghiệp, Tiểu thủ công nghiệp:

Sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp được chú trọng ưu đãi vàphát triển Giá trị sản xuất công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp đạt 310,5 tỷđồng, chủ yếu tập trung vào công nghiệp khai thác, công nghiệp chế biến vàsản xuất điện Công tác khuyến công được chính quyền địa phương chú trọngđầu tư, hỗ trợ phát triển Một số sản phẩm truyền thống đã được đăng ký sởhữu trí tuệ như Rượu men lá Ba Nang; Dưa hấu Mò Ó; Lạc chiến khu BaLòng, Đậu xanh Ba Lòng

Đến nay toàn huyện có 103/103 thôn được sử dụng lưới điện quốc gia(đạt 98,6%)

2.2.1.5.Giáo dục - Đào tạo:

Hiện toàn huyện có 38 đơn vị trường học, giảm quy mô so với thời giantrước do sáp nhập để phù hợp với tình hình thực tế công tác giáo dục, đào tạotại địa phương gồm 10 trường Tiểu học, 15 trường mầm non, 4 trường tiểuhọc và Trung học cơ sở, 4 trường Trung học cơ sở, 2 trường Phổ thông dântộc bán trú, 2 trường Phổ thông trung học

Kết thúc năm học 2017-2018, toàn huyện có 4.772 học sinh hoàn thànhchương trình học, đạt 96,9% Toàn huyện đã phổ cập mầm non cho trẻ 5 tuổi;phổ cập tiểu học đạt chuẩn mức độ 3

Công tác phát triển số lượng và chất lượng đội ngũ cán bộ, giáo viên đượcchú trọng, công tác kiểm định chất lượng giáo dục ngày càng được tăng cường

2.2.1.6 Y tế:

Chất lượng công tác chăm sóc sức khỏe và khám chữa bệnh cho nhândân có những bước phát triển tốt từng bước đáp ứng nhu cầu của nhân dân,công tác chăm sóc sức khỏe trong thời điểm giao mùa và phòng chống cácloại dịch bệnh được chú trọng Toàn huyện có 01 trung tâm y tế , 01 phòng

Trang 40

khám tư nhân và 14/14 xã có Trạm Y tế đạt chuẩn quốc gia về y tế xã đã đápứng nhu cầu khám, chữa bệnh, tư vấn cho nhân dân trong đó phần lớn là ng-ười đồng bào dân tộc thiểu số Pa Kô, Vân Kiều, gia đình chính sách, người cócông trong đó có cả nhân dân nước bạn Lào ở các huyện giáp biên giới vớihuyện Đakrông.

2.2.2 Dân số và lao động

2.2.2.1 Dân số

Theo số liệu thống kê của đợt tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2019,đến tháng 4 toàn huyện có 10.274 hộ, 43.208 người, trong đó khu vực đô thị4.732 người, khu vực nông thôn 38.476 người

Mật độ dân số trung bình toàn huyện là 67 người/ km2, song phân bốkhông đều chủ yếu tập trung ở thị trấn

Về dân tộc, toàn huyện có 3 dân tộc chính, dân tộc Vân Kiều chiếm51,42%, Pa Cô 27,54%, Kinh chiếm 20,84%, và dân tộc khác 0,2%

Phần lớn các dân tộc thiểu số nhưng chiếm đa số trên địa bàn huyện cótrình độ dân trí thấp, sống phân tán rải rác, sản xuất lạc hậu còn mang tính tựcung tự cấp

2.2.2.2 Lao động - việc làm

Theo số liệu thống kê, năm 2018 dân số trong độ tuổi lao động củaĐakrông có 22.254 lao động, chiếm 51,5% tổng số dân, trong khu vục thànhthị chiếm 20,25% và khu vực nông thôn 79,75%, dân số chưa đến độ tuổi laođộng 20.954 người chiếm 48,5% dân số toàn huyện Như vậy dân số huyệnĐakrông là dân số trẻ, nguồn lao động dồi dào, song chất lượng nguồn laođộng nhìn chung còn thấp, số lao động đã qua đào tạo hiện nay mới chiếmkhoảng 12% tổng số lao động

Về cơ cấu, lao động nông – lâm nghiệp chiếm chủ yếu 93 % lao độngphi nông nghiệp chiếm 7% tổng số lao động Do tốc độ tăng dân số còn khácao (1,84% năm 2010 ), tình trạng không có hoặc thiếu việc làm nhất là với

Ngày đăng: 29/06/2021, 18:42

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w