BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNTTRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP HÀ VĂN NGOẠN NGHIÊN CỨU SỰ ĐA DẠNG CÁC LOÀI BÒ SÁT REPTILIA VÀ ẾCH NHÁI AMPHIBIA TẠI KHU DỰ TRỮ THIÊN NHIÊN ĐỘNG CH
TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
Tổng luận các công trình đã công bố về vấn đề nghiên cứu
Việt Nam nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa và có địa hình phức tạp tạo nên sự đa dạng về sinh cảnh ở cả vùng đồng bằng, trung du và vùng núi nên phù hợp cho sự phát triển của động vật nói chung, ếch nhái và bò sát nói riêng.
Nỗ lực nghiên cứu về ếch nhái và bò sát ở Việt Nam được thể hiện qua các giai đoạn cụ thể như sau:
Công trình được công bố đầu tiên về bò sát và lưỡng cư ở Việt Nam phải kế đến cuốn ''Nam dược thần hiệu'' của Tuệ Tĩnh đã liệt kê các vị thuốc được làm từ các loài bò sát và lưỡng cư (được dịch sang tiếng Việt và tái bản vào năm 1972).
Giai đoạn trước năm 1945: đã có một số nhà khoa học nước ngoài nghiên cứu về bò sát và lưỡng cư ở khu vực Đông Dương, trong đó có Việt Nam Hàng loạt các sách chuyên khảo được ra đời trong thời gian này có thể kể đến như Bourret
Giai đoạn 1954-1975: nghiên cứu về bò sát và lưỡng cư ở miền Bắc do các nhà khoa học trong nước thực hiện như Đào Văn Tiến, Trần Kiên, Lê Vũ Khôi, các công bố về thành phần loài và sinh thái của các bò sát và lưỡng cư (Dao 1957,
1962) Ở miền Nam đáng chú ý là công trình nghiên cứu về rắn của Camp-den Main (1970).
Giai đoạn 1975-1996: với sự kết hợp của các nhà khoa học trong và ngoài nước các nghiên cứu tập trung vào khám phá đa dạng thành phần loài đã tiến hành ở nhiều vùng khác nhau trong cả nước Nổi bật trong giai đoàn này có thể kể đến các khóa định loài về bò sát và lưỡng cư của Đào Văn Tiến (1977, 1978, 1879, 1981,
1982) Nguyễn Văn Sáng & Hồ Thu Cúc (1996) đã ghi nhận ở Việt Nam có 340 loài bò sát và lưỡng cư đến năm 1996.
Giai đoạn từ 1997 đến nay: bên cạnh phương pháp định loài hình thái truyền thống, nhờ sự hỗ trợ của phương pháp sinh học phân tử trong phân tích các mối quan hệ di truyền đã góp phần khám phá thêm nhiều loài bò sát và lưỡng cư mới cho Việt Nam Với tổng số 458 loài vào năm 2005 (Nguyễn Văn Sáng và cs 2005) đã tăng lên 545 loài vào năm 2009 (Nguyen et al 2009) Theo thống kê của hai trang web về cơ sơ dữ liệu của bò sát và ếch nhái thế giới (Reptile database and
Amphibian Species of the World) thì số lượng loài bò sát và ếch nhái của Việt Nam tính đến thời điểm hiện tại năm 2020 là khoảng 790 loài, trong đó có 288 loài ếch nhái, 214 loài thằn lằn, 248 loài rắn, 37 loài rùa và 3 loài cá sấu (Uetz & Hošek 2020; Forst 2020).
Những kết quả nghiên cứu về khu hệ ếch nhài và bò sát tại khu vực hệ sinh thái núi đá vôi ở Việt Nam gần đây có thể kể đến: Luu et al 2013 đã báo cáo tổng cộng 151 loài (101 loài bò sát và 50 loài lưỡng cư) trong đó ghi nhận 13 loài mới cho VQG Phong Nha - Kẻ Bàng và tỉnh Quảng Bình, theo Ziegler et al 2014 đã cung cấp một danh lục của 102 loài (50 loài lưỡng cư và 52 loài bò sát) trong đó ghi nhận lần đầu tiên cho tỉnh Hà Giang 8 loài ếch nhái và 12 loài bò sát Nguyen et al.
2016 đã ghi nhận 31 loài lưỡng cư và bò sát từ kết quả nghiên cứu thực địa ở năm
2015 và 2016 trong đó có 8 loài mới ghi nhận cho huyện Hướng Hóa và 4 loài ghi nhận mới cho tỉnh Quảng Trị Pham et al 2017 đã lần đầu báo cáo 21 loài ếch nhái cho hệ sinh thái núi đá vôi của huyện Hà Lang, tỉnh Cao Bằng trong đó ghi nhận mới 3 loài (Odorrana bacboensis, O graminea, Rhacophorus maximus) cho tỉnh Cao Bằng.
Số loài mới cho khoa học được công bố hàng năm cũng tăng lên rõ rệt qua các thời kỳ Nếu trong thời kỳ 1954-1975 chỉ phát hiện được 1 loài bò sát mới cho khoa học, thì từ năm 1976-1996, số loài phát hiện mới cho khoa học đã tăng lên 16 loài (4 loài ếch nhái, 12 loài bò sát), trong giai đoạn từ 1996-2005 số lượng loài mới phát hiện là 57 loài (28 loài ếch nhái, 29 loài bò sát), trong giai đoạn 5 năm gần đây từ 2015-2020 số lượng loài mới phát hiện đã tăng nhanh lên đến 123 loài cho ViệtNam (94 loài ếch nhái và 39 loài bò sát) Một số loài mới được công bố gần đây có thể kể đến: 53 loài BSEN mới được công bố với mẫu chuẩn thu ở Việt Nam với 33 loài ếch nhái, 20 loài bò sát chẳng hạn như: Cyrtodactylus bobrovi (Nguyen, Le,Van Pham, Ngo, Hoang, The Pham & Ziegler, 2015; Cyrtodactylus Soni( Le,Nguyen, Le & Ziegler, 2016); Dixonius Minhlei (Ziegler, Botov, Nguyen, Bauer,Brennan, Ngo & Nguyen, 2016); Oligodon Condaoensis (Nguyen, Nguyen, Le &
Murphy, 2016); Cyrtodactylus Gialaiensis (Luu, Dung, Nguyen, Le & Ziegler, 2017); Cyrtodactylus Sonlaensis (Nguyen, Pham, Ziegler, Ngo & Le, 2017);
Opisthotropis Voquyi (Ziegler, David, Ziegler, Pham, Nguyen & Le, 2018); Parafimbrios Vietnamensis (Ziegler, Ngo, Pham, Nguyen, Le & Nguyen, 2018); Acanthosaura phongdienensis (Nguyen, Jin, Vo, Nguyen, Zhou, Che, Murphy &
Zhang, 2019); Cyrtodactylus taybacensis (Pham, Le, Ngo, Ziegler, Nguyen, 2019);
Scincella badenensis (Nguyen, Nguyen, Nguyen & Murphy, 2019); Lycodon namdongensis (Luu, Ziegler , Ha, Le & Hoang, 2019); Oligodon rostralis (Nguyen,
Tran, Nguyen, Neang, Yushenko & Poyarkov, 2020); Rhacophorus vanbanicus (Kropachev, Orlov, Ninh, and Nguyen, 2019); Megophrys caobangensis (Nguyen, Pham, Nguyen, Luong, and Ziegler, 2020); Gacixalus trieng (Rowley, Le, Hoang, Cao, and Dau, 2020); Kurixalus gracilloides (Nguyen, Duong, Luu, and Poyarkov, 2020);
Tại Khu bảo tồn thiên nhiên Bắc Hướng Hoá thì Nguyen Thanh Luan et al
(2016) đã nghiên cứu trong giai đoàn 2015 đến 2016 và đã bổ sung cho danh lục của Khu bảo tồn thiên nhiên Bắc Hướng Hoá Báo cáo này đã hoàn thành danh lục với 31n loài bò sát, ếch nhái với 16 họ thuộc 2 bộ.
Hiện tại nhiều số liệu đã cũ, chưa kịp cập nhật bổ sung mới Nhiều loài còn đang thiếu thông tin và dẫn liệu vì vậy cần điều tra bổ sung và cập nhật những thông tin mới nhất để có được số liệu tham khảo cho những nghiên cứu sau này.
Cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu
Một số công trình nghiên cứu điển hình về bò sát, ếch nhái tại Quảng Bình có thể kể đến các nghiên cứu tại VQG Phong Nha - Kẻ Bàng nơi được đánh giá cao về tính đa dạng sinh học VQG Phong Nha - Kẻ Bàng đã công bố danh lục bò sát, ếch nhái với 151 loài, trong đó có 50 loài lưỡng cư, 12 loài rùa, 31 loài thằn lằn, và 58 loài rắn.Tuy nhiên, các nghiên cứu trước đây ở tỉnh Quảng Bình chỉ tập trung chủ yếu tại VQGPhong Nha - Kẻ Bàng, các khu vực khác chưa được quan tâm Đặc biệt là KDTTN Động Châu - Khe Nước Trong, mới được điều tra duy nhất một lần vào năm 2015 bởiPhạm Thế Cường và cộng sự, kết quả báo cáo có 67 loài bò sát, ếch nhái tại khu vực Động Châu - Khe Nước Trong (Rừng phòng hộ Động Châu), tuy nhiên nghiên cứu này chỉ mới tập trung ở một số tiểu khu như 528, 534, 533, 535, do vậy cần có thêm nghiên cứu để cập nhật và bổ sung thông tin Hơn nữa, từ khi thành lập vào ngày 25 tháng 06 năm 2020, chưa có nghiên cứu nào về các loài bò sát, ếch nhái tại khu vực này Đây sẽ là thông tin để bổ sung cho KVNC về thành phần loài bò sát, ếch nhái cũng như sự đa dạng của nó.
Khu DTTN Động Châu - Khe Nước Trong, tỉnh Quảng Bình là một khu vực có diện tích rộng và có sinh cảnh đa dạng phong phú từ rừng thường xanh đến các thủy vực và đồng ruộng Đây là môi trường phát triển của nhiều loài bò sát, ếch nhái Nhưng do sự tác động mạnh mẽ của con người nên đã gây nhiều ảnh hưởng đến quần thể loài bò sát, ếch nhái Kết quả nghiên cứu thành phần loài bò sát, ếch nhái tại đây sẽ là cơ sở để có các giải pháp bảo tồn hiệu quả nhằm khôi phục khu hệ bò sát ếch nhái góp phần bảo tồn nguồn gen.
Vì vậy, những nghiên cứu để bổ sung thành phân loài, cập nhật hệ thống phân loại, phân bố và đánh giá tình trạng bảo tồn khu hệ bò sát, ếch nhái trong khu vực là hết sức cần thiết Từ đó đề xuất các phương pháp bảo tồn khu hệ bò sát, ếch nhái nói riêng và khu hệ động vật tại Khu dự trữ thiên nhiên Động Châu - KheNước Trong, huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình nói chung.
ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ VÀ XÃ HỘI KHU VỰC NGHIÊN CỨU
Điều kiện tự nhiên
Khu dự trữ thiên nhiên Động Châu - Khe Nước Trong được thành lập theo quyết định số 2156/QĐ-UNND ngày 25 tháng 06 năm 2020 của chủ tịch UBND tỉnh Quảng Bình, nằm ở phía Tây - Nam tỉnh Quảng Bình thuộc địa giới hành chính xã Kim Thủy, huyện Lệ Thủy Phía Tây giáp với CHDCND Lào, phía Đông giáp với xã Ngân Thuỷ, phía Bắc giáp với xã Lâm Thuỷ (huyện Lệ Thuỷ), phía Nam giáp với KBTTN Bắc Hướng Hoá (tỉnh Quảng Trị) Khu DTTN Động Châu - Khe Nước Trong có 22 tiểu khu, với tổng diện tích là 22.595,94 ha.
Có toạ độ địa lý: Từ 16° 55' 19'' đến 17° 4' 55'' vĩ độ bắc Từ 106° 32' 50'' đến 106° 48' 26'' kinh độ đông
2.1.2 Đặc điểm khí hậu, thủy văn
Khu vực nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa có mùa đông tương đối lạnh Hàng năm mùa khô kéo dài từ tháng 4 đến đầu tháng 9 (khô hạn gay gắt nhất trong tháng 6 và tháng 7), mùa mưa từ cuối 9 đến tháng 12, mưa nhiều nhất vào thời kỳ cuối mùa thu (tháng 10 và tháng 11), Trong khu vực không có trạm quan trắc khí tượng, chỉ có trạm Khe Sanh là gần với khu vực nhất và có điều kiện tương đối phù hợp để tham khảo Theo số liệu quan trắc khí tượng 20 năm tại Khe Sanh, các chỉ tiêu khí tượng trung bình như sau:
- Nhiệt độ bình quân năm 22,3 0 C
- Nhiệt độ bình quân tối cao 25,8 0 C vào tháng 6,
- Nhiệt độ bình quân tối thấp 18,1 0 C vào tháng 1,
- Lượng mưa bình quân năm 2.079 mm,
- Lượng mưa bình quân tháng thấp nhất 18,8 mm vào tháng 2,
- Lượng mưa bình quân tháng cao nhất nhất 456,2 mm vào tháng 10,
Có 3 loại gió mùa chính thịnh hành trong khu vực Gió mùa đông- nam mang theo hơi ẩm và mưa lớn, thịnh hành từ tháng 9 đến tháng 11 Gió mùa đông- bắc mang theo hơi lạnh và mưa phùn, thịnh hành từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau. Gió mùa tây- nam bắt đầu từ tháng 5 đến tháng 9, thường khô và nóng nên mùa khô bắt đầu từ tháng 5 đến tháng 9.
Toàn bộ khu vực là vùng đầu nguồn của sông Long Đại và sông Kiến Giang (hai nhánh của sông Nhật Lệ) là một trong những sông lớn nhất tỉnh Quảng Bình. Trong nội vi khu vực rất nhiều khe suối nhỏ chằng chịt tạo thành 2 hệ sông suối chính là hệ sông Sa Ram (KNT) và Khe Bang Hệ Sa Ram gồm nhiều suối lớn đổ về như Khe Vàng, Khe Bung, suối Sa Ram Hệ Khe Bang cũng gồm nhiều suối lớn như: An Bai, Rào Chân và Khe Bang.Các sông suối trong khu vực thường ngắn, có độ dốc lớn, xâm thực sâu, vì thế thường gây lũ và làm sạt lở đất, ảnh hưởng tới giao thông đi lại trong vùng.
2.1.3 Địa hình và địa chất
Khu dự trữ thiên nhiên Động Châu - Khe Nước Trong nằm trong vùng núi thấp với địa hình tương đối dốc Độ cao trung bình trong khu vực khoảng 500 -
600 m so với mực nước biển Điểm thấp nhất là 120 m, nằm ở ranh giới tại khu vực Khe Bang Đỉnh cao nhất là đỉnh 1220 m giữa ranh giới 2 tỉnh Quảng Bình - Quảng Trị và Lào Còn lại là hầu hết các đỉnh núi cao dưới 1000 m so với mực nước biển.
Vùng núi có độ cao trên 700 m chiếm một phần nhỏ (khoảng 10%) diện tích khu vực Còn lại 90% diện tích là vùng đồi núi có độ cao dưới 700 m Theo Thái Văn Trừng (1978) thì đây là rừng nhiệt đới thường xanh trên núi đất thấp Trên toàn quốc, rừng ở dạng địa hình này đang bị suy thoái và trở nên rất hiếm do rừng d ễ tiếp cận nên bị tác động mạnh Do có nguy cơ đe dọa cao nên các tổ chức bảo tồn thiên nhiên xếp loại rừng này là rừng có giá trị bảo tồn cao (WWF 2008) Trong khi đó ở Khu dự trữ thiên nhiên Động Châu - Khe Nước Trong có kiểu rừng trên vùng núi đất thấp còn chiếm một tỷ lệ rất cao Đây chính là đối tượng cần phải bảo tồn trong khu vực và là mục tiêu bảo tồn trong toàn quốc.
2.1.3.2 Địa chất Địa chất vùng điều tra thuộc miền vòng trống Paleozoi rộng lớn thuộc đớiTrường Sơn Bắc, có cấu tạo đặc thù với nhiều mặt cắt Paleozoi khá đầy đủ và dày.Bao gồm các trầm tích Odovic thượng và Silua Thành phần bồi lắng gồm
8 có sắt, cát, Conglonurat, cuội, sỏi, dăm Song song với quá trình bồi lắng là quá trình xâm nhập các khối Magma acid như Granit, Daxit, Rhefonit Trong vùng điều tra xuất hiện diện tích đáng kể của kiểu thung lũng kiến tạo và xâm thực nằm dọc theo các con sông suối Nham thạch chủ yếu bao gồm các khối được tạo thành từ
Magma, Granit, Rhyonit, đặc điểm đá rất mỏng, có kết cấu hạt thô, tỷ lệ thạch anh lớn khó phong hóa Các vùng thạch tạo từ trầm tích hạt thô như sa thạch, cuội kết, dăm kết, conglomerat có kết cấu hạt thô, bở, rời, phong hóa nhanh, dễ rửa trôi và xói mòn Đất được hình thành trên các loại phiến thạch sét, sa thạch và magma acid kết tính chua, chúng phân bố đan xen vào nhau khá phức tạp, tạo nên khá nhiều loại đất có độ phì khác nhau, tùy thuộc vào các kiểu địa hình, thảm thực bì, độ cao và độ dốc của địa hình.
Khu vực này rất phong phú về kiểu thảm thực vật rừng, đặc biệt là thảm thực vật ở vùng núi thấp (có độ cao dưới 700 m so với mực nước biển) Ở các địa phương khác, kiểu rừng này do gần dân cư và dễ tiếp cận, đã bị phá hủy và còn lại rất ít Tuy nhiên, ở khu dự trữ thiên nhiên Động Châu - Khe Nước Trong thì các kiểu thảm thực vật này còn khá nhiều, khoảng trên 18.000 ha Kết quả giải đoán ảnh vệ tinh và điều tra ngoài thực địa cho thấy tỷ lệ độ che phủ của rừng trong khu vực đề xuất lên tới 99% Theo quan điểm phân loại thảm thực vật rừng của Thái Văn
Trừng (1978), các kiểu thảm thực vật chính và phụ của khu vực được trình bày chi tiết tại bảng 2.1.
Bảng 2.1 Hiện trạng thảm thực vật
Stt Kiểu thảm thực vật Diện tích (ha) Tỷ lệ %
1 Rừng kín thường xanh mưa ẩm á nhiệt đới 2.019,01 8,94
2 Rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới núi thấp 12.555,09 55,56
3 Kiểu rừng thứ sinh sau khai thác kiệt 6.261,39 27,71
4 Kiểu rừng thứ sinh phục hồi sau biến mất rừng 495,30 2,19
5 Kiểu rừng phát triển trên núi đá vôi 687,06 3,04
7 Trảng cỏ, cây bụi, cây gỗ rải rác 173,63 0,77
(Nguồn: Viện điều tra Quy hoạch rừng điều tra trong các năm 2009- 2011, Chi cục Kiểm lâm và các chuyên gia rà soát bổ sung đầu năm 2018)
Kế thừa các tài liệu trước đây và các kết quả khảo sát của các nhà khoa học Quốc tế, Viện Sinh thái Tài nguyên Sinh vật, Trường Đại học Lâm nghiệp và Trung tâm Bảo tồn Tthiên nhiên Việt (VietNature) điều tra trong các năm 2014-2017 đã thống kê sơ bộ được 357 loài động vật có xương sồng trên cạn; trong đó: 76 loài thú, 214 loài chim và 67 bò sát ếch nhái (chi tiết xem bảng 2.2).
Bảng 2.2 Thành phần loài động vật có xương sống tại Khu Dự trữ Thiên nhiên Động Châu - Khe Nước Trong
Bộ Số loài IUCN SĐVN CITES NĐ 64 Nguồn
Nguồn: Trung tâm Bảo tồn thiên nhiên Việt (VietNature) Tổng số 76 loài thú đã ghi nhận ở Khu dự trữ thiên nhiên Động Châu - Khe Nước Trong Trong có tất cả các loài thú đặc trưng cho vùng Bắc Trường Sơn đã ghi nhận được thông qua khảo sát trực tiếp hoặc kết quả bẫy ảnh Các loài này bao gồm: Khỉ mặt đỏ, Khỉ đuôi lợn, Chà vá chân nâu, Vượn siki, Thỏ vằn, Tê tê java, Gấu ngựa, Mang trường sơn, Mang lớn, Saola, Sơn dương, Trong số các loài này có hai loài thú đang bị đe dọa tuyệt chủng ở cấp cao nhất là Tê tê java và Saola (cấp Rất Nguy cấp: CR).
Khu hệ chim KVNC đặc trưng cho vùng chim đặc hữu đất thấp Trung Bộ. Đã ghi nhận được có 214 loài chim ở khu vực Ghi nhận 4 trong số 7 loài là những loài phân bố hẹp ở vùng chim đặc hữu, bao gồm các loài: Trĩ sao, Khướu mỏ dài, Chích chạch má xám và Khướu má xám Có hai loài đang bị đe dọa ở cấp toàn cầu là Gà lôi lam mào trắng (CR) và Đuôi cụt bụng đỏ VU), trong đó loài Gà lôi lam mào trắng chỉ ghi nhận qua phỏng vấn thợ săn địa phương Với nhiều rất nhiều nỗ lực điều tra bằng phương pháp bẫy ảnh của Trung tâm Bảo tồn Thiên nhiên Việt,tuy nhiên cho tới thời điểm hiện tại các chuyên gia vẫn chưa ghi nhận được ảnh của loài Gà lôi lam mào trắng trên thực địa.
Thực trạng về dân sinh, kinh tế - xã hội
Khu dự trữ thiên nhiên Động Châu - Khe Nước Trong nằm trọn trong địa giới hành chính xã Kim Thủy và không có dân sinh sống trong phạm vi ranh giới.
Xã Lâm Thủy là xã giáp ranh với xã Kim Thủy có khoảng cách tới khu rừng tương đối gần, và có một phần ranh giới xã giáp với ranh giới khu bảo tồn thiên nhiên Vì vậy vùng đệm của KVNC được xác định là diện tích ngoài ranh giới Khu dự trữ thiên nhiên Động Châu - Khe Nước Trong thuộc 02 xã Kim Thủy và Lâm Thủy.
2.2.1 Đặc điểm dân số và dân tộc
Hai xã vùng đệm thuộc khu vực miền núi rẻo cao, giáp biên giới nên có mật độ dân số rất thưa Theo số liệu năm 2016, mật độ dân số trung bình của xã Kim
Thủy là 75,34 người/km 2 và xã Lâm Thủy chỉ có 5,97 người/ km 2 Tỉ lệ tăng dân số cơ học của 02 xã rất thấp, tại xã Kim Thủy năm 2015 dân số có 3.661 người, năm
2016 có 3.672 người tỷ lệ tăng dân số 0,3%, tại xã Lâm Thủy năm 2015 có 1.355 người, năm 2016 có 1.360 người, tỷ lệ tăng dân số 0,37% (Nguồn: Niên giám thống kê huyện Lệ Thủy tháng 5/2017).
Thành phần dân tộc tại 02 xã chỉ gồm người Kinh và Vân Kiều, trong đó chủ yếu là người Vân Kiều chiếm tới 73,6% tổng số hộ với 78,9% dân số của hai xã, người Kinh chiếm 26,4% số hộ và 21,1% dân số Trong đó, xã Lâm thủy có tới
94,1% là người Vân Kiều, xã Kim Thủy chiếm 72,6% là người Vân Kiều.
Kim Thủy và Lâm Thủy là 2 xã miền núi giáp biên giới Việt - Lào và nằm trong những xã có diện tích thuộc loại lớn của Quảng Bình, tổng diện tích tự nhiên
2 xã là 71.527,16 ha, trong đó đất lâm nghiệp chiếm tới 94,47%.
Bảng 2.3 Cơ cấu sử dụng đất Đơn vị tính: ha
Stt Hạng mục Xã Kim Xã Lâm Tổng %
1 Đất sản xuất nông nghiệp 1.449,91 404,8 1.854,71 2,59
(Nguồn: Niên giám thống kê huyện Lệ Thủy tháng 5 năm 2017)
Diện tích đất nông nghiệp chiếm tỷ lệ rất ít (2,59%), do vậy cùng với sản xuất nông nghiệp thì sản suất lâm nghiệp là ngành mang lại thu nhập chính Số hộ kinh doanh thương mại dịch vụ; sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp rất ít chỉ chiếm 0,97%, còn lại chủ yếu phụ thuộc vào sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp.
2.2.3 Đặc điểm xã hội và cơ sở hạ tầng
2.2.3.1 Giáo dục Điều kiện cơ sở hạ tầng cho giáo dục đã được cải thiện rất nhiều Hầu hết các cụm thôn, bản đều có điểm trường mầm non Hiện tại, địa phương có nhiều chính sách ưu đãi đối với học sinh là con em đồng bào dân tộc thiểu số, nên hầu hết trẻ em ở độ tuổi 5-6 tuổi đến trường đạt tỷ lệ 100% Tỷ lệ mù chữ thấp, chỉ còn tồn tại ở những người lớn tuổi.
Các xã đều đã có trạm y tế, thường nằm ở trung tâm xã được xây dựng kiên cố Mỗi trạm được thiết kế với 10 phòng khép kín, được đầu tư trang thiết bị khám chữa bệnh tương đối đầy đủ Trạm Kim Thủy đạt chuẩn quốc gia Lực lượng cán bộ y tếmỗi trạm gồm 01 bác sỹ, 01 y sỹ, 03 y tá và điều dưỡng Ngoài ra, các thôn bản đều có y tá thôn bản Tuy nhiên đối với chăm sóc sức khoẻ cộng đồng do trình độ nghiệp vụ cán bộ y tế còn nhiều hạn chế nên đã ảnh hưởng nhiều tới chất lượng khám chữa bệnh trong vùng.
Trong những năm qua, các tuyến đường chính đã được làm mới và nâng cấp, đặc biệt là tuyến đường mòn Hồ Chí Minh chạy qua địa bàn xã Kim Thủy, xã Lâm Thủy và đường tỉnh lộ 16 chạy dọc xã Kim Thủy được hoàn thành nên việc giao dịch buôn bán, giao lưu với bên ngoài được mở rộng và phát triển, diện mạo các xã cũng thay đổi, đời sống người dân được nâng cao.
Xã Kim Thủy và xã Lâm Thủy đã cơ bản có điện lưới về tận các bản Các thôn bản đều đã có nước sạch sử dụng cho sinh hoạt Điều kiện sinh hoạt, trang thiết bị trong các hộ gia đình đang từng bước được cải thiện Tất cả các hộ tại các bản có điện lưới cơ bản đã có ti vi, một số hộ đã có tủ lạnh,…
MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Mục tiêu nghiên cứu
- Mục tiêu tổng quát: Cung cấp dữ liệu về các loài bò sát, ếch nhái và các thông tin khác liên quan đến chúng làm cơ sở khoa học hỗ trợ công tác bảo tồn và quản lý rừng bền vững tại KDTTN Động Châu - Khe Nước Trong, huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình.
+ Đánh giá được mức độ đa dạng thành phần loài bò sát, ếch nhái tại
+ Đánh giá được phân bố các loài bò sát, ếch nhái theo sinh cảnh, theo độ cao tại KDTTN Động Châu - Khe Nước Trong;
+ Đề xuất được các giải pháp bảo tồn bò sát, ếch nhái tại KDTTN Động Châu
Đối tượng, phạm vi và thời gian nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Các loài bò sát, ếch nhái
- Phạm vi nghiên cứu: Tại Khu DTTN Động Châu - Khe Nước Trong, huyện
Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình.
- Thời gian nghiên cứu: Thời gian điều tra thực địa được thực hiện từ tháng 07 năm 2018 đến tháng 8 năm 2020 với tổng cộng 95 ngày thực địa với 38 lượt người tham gia, chi tiết xem bảng 3.1.
Bảng 3.1 Nỗ lực nghiên cứu thực địa tại KDTTN Động Châu –
Khe Nước Trong Thời gian Số ngày thực địa Số lượt người tham gia
Nội dung nghiên cứu
- Xác định sự đa dạng về thành phần các loài bò sát, ếch nhái, đánh giá sự tương đồng về thành phần các loài bò sát, ếch nhái của khu vực nghiên cứu với một số KBT/VQG lân cận và/hoặc có sinh cảnh tương tự ở Bắc Trung Bộ và phía Bắc Việt Nam.
- Đặc điểm phân bố của các loài bò sát, ếch nhái theo các dạng sinh cảnh sống, theo độ cao ghi nhận loài.
- Đánh giá tình trạng bảo tồn của các loài bò sát, ếch nhái tại khu vực nghiên cứu dựa trên tính đặc hữu, tính quý hiếm và bị đe doạ.
- Xác định các nhân tố đe doạ đến quần thể bò sát, ếch nhái tại khu vực nghiên cứu.
- Đề xuất một số giải pháp bảo tồn các loài bò sát, ếch nhái tại khu vực nghiên cứu.
Phương pháp nghiên cứu
3.4.1 Phương pháp điều tra ngoại nghiệp
Thiết bị, dụng cụ: bản đồ địa hình, GPS, la bàn, đèn pin, dao, túi sơ cứu, gậy bắt rắn, máy ảnh, thước, túi vải đựng mẫu, cồn xử lý mẫu, bộ đồ mổ, xi lanh, nhãn, bút kim, bút chì, lọ nhựa đựng mẫu vật, sổ tay ghi chép. Điều tra theo tuyến: 10 tuyến điều tra chính được thiết lập tại KDTTN Động
Châu - Khe Nước Trong Tuyến điều tra được lập dựa vào bản đồ địa hình, thảm thực vật và sinh cảnh sống của các loài bò sát, ếch nhái tại khu vực nghiên cứu. Trong nghiên cứu này, các tuyến điều tra chính được thiết lập dựa trên các đường mòn tuần tra, giám sát được thiết kế bởi Trung tâm Bảo tồn Thiên nhiên Việt, chi tiết các tuyến điều tra chính xem hình 3.1 và bảng 3.2 Các tuyến điều tra phụ sẽ được thiết kế dựa trên các tuyến chính nhằm đảm bảo sẽ đi qua các dạng sinh cảnh, độ cao khác nhau của khu vực nghiên cứu, đặc biệt quan tâm đến các điểm có nước, vách đá và thung lũng Mỗi tuyến điều tra được đánh dấu điểm đầu và điểm cuối bằng các cây to hay địa vật cụ thể.
Chọn điểm thu mẫu: Tập trung vào các khu vực ẩm ướt như ven suối, vũng nước, vách đá, cửa hang, trên cây và quan sát dưới mặt đất.
Ghi chép các ghi nhận: Ghi các toạ độ bằng máy định vị vệ tinh GPS Garmin
78s (Hệ toạ độ VN-2000), ghi chép vào sổ thực địa Ghi độ ẩm bằng máy Rocktrail Z29592 Chụp ảnh bằng máy ảnh Canon Rebel XL2.
Thời gian thu mẫu: Thời gian điều tra quan sát và thu thập mẫu vật ban ngày từ 09:00 - 16:00, ban đêm từ 19:00 - 24:00.
Phương pháp thu mẫu: Chủ yếu thu thập mẫu vật bằng tay và các dụng cụ chuyên dụng (như kẹp và gậy bắt rắn) Mẫu vật được đựng trong túi vải hoặc túi nilon chắc chắn Sau khi chụp ảnh và định loại sơ bộ, một số mẫu vật phổ biến sẽ được thả lại tự nhiên, các mẫu vật đại diện sẽ được lưu giữ lại làm tiêu bản nghiên cứu.
Hình 3.1 Bản đồ các tuyến điều tra chính tại KDTTN Động Châu
Bảng 3.2 Các tuyến điều tra chính tại KDTTN Động Châu - Khe Nước Trong
Tên tuyến Tọa độ điểm đầu Tọa độ điểm cuối
Tuyến 1: Rum Ho- Ngọn khe Đan 567120 1881520 561230 1880562 Tuyến 2: Cầu Khỉ - Ngọn khe Le 567914 1878860 563779 1877580 Tuyến 3: Cầu Khỉ -Ngọn khe Vàng 567914 1878860 567308 1874016 Tuyến 4: Trung Đoàn - Ngọn khe Lương 571069 1878527 569796 1874130 Tuyến 5: Trung Đoàn - Ngọn khe Máy Bay 574068 1879075 569948 1876631 Tuyến 6: TK527 - Ngọn khe Gõ 582886 1876659 578856 1875438
Tuyến 9: Chốt Rộp - Ngọn Kiến Giang 579400 1883584 574639 1879478
Gây mê: Mẫu vật được gây mê trong vòng 24 giờ bằng miếng bông thấm etyl acetate Mẫu cơ hoặc mẫu gan dùng để phân tích sinh học phân tử (ADN) được lưu giữ trong cồn 95% và được cách ly formalin.
Gắn nhãn kỹ hiệu mẫu: Sau khi gây mê, mẫu vật được đeo nhãn có đánh số ký hiệu Nhãn và chỉ buộc không thấm nước, chữ viết trên nhãn không bị tan trong cồn Đối với ếch nhái thì buộc nhãn vào đầu gối Cố định mẫu: Việc cố định mẫu cần đảm bảo mẫu có hình dạng dễ phân tích hoặc quan sát sau này Sắp xếp mẫu vật theo hình dạng mong muốn, sau đó phủ vải màn hoặc giấy thấm lên trên, ngâm trong cồn 80-90% trong vòng 8-10 tiếng Đối với mẫu bò sát, ếch nhái cỡ lớn, cần tiêm cồn 80% vào bụng và cơ của con vật để tránh thối hỏng mẫu.
Bảo quản mẫu vật: Để bảo quản lâu dài, sau khi cố định mẫu được chuyển sang ngâm trong cồn 70%.
3.4.2 Phương pháp phân tích hình thái và định danh mẫu vật BSEN
3.4.2.1 Phương pháp phân tích hình thái mẫu vật BSEN
Các chỉ số hình thái sử dụng theo Nguyen el al (2012) cho các loài ếch nhái,Phung & Ziegler (2011) cho các loài thằn lằn, và theo David et al (2012) cho các loài rắn Các chỉ số về hình thái được đo bằng thước kẹp điện tử Alpha-Tool với đơn vị đo nhỏ nhất là 0,01 mm Một số chỉ số chính được thể hiện tại bảng 3.3.
Bảng 3.3 Bảng các chỉ số đo chính của BSEN
Stt Kí hiệu Giải thích
1 SVL Chiều dài mút mõm đến hậu môn
2 HH Chiều cao tối đa của đầu
3 HL Dài đầu: Đo từ mút mõm đến góc sau của xương hàm dưới
4 SNL Khoảng cách mút mõm đến mũi
5 SE Khoảng cách từ mõm đến mắt
6 NEL Khoảng cách từ góc trước của mắt đến mũi
7 SL Khoảng cách từ mút mõm đến góc trước của mắt
8 ED Đường kính lớn nhất của mắt theo chiều ngang
9 TED Khoảng cách từ bờ trước của màng nhĩ đến góc sau của mắt
10 TD Đường kính lớn nhất của màng nhĩ
11 HW Rộng đầu: Đo phần rộng nhất của đầu
12 IND Khoảng cách gian mũi (giữa 2 lỗ mũi)
13 AOD Khoảng cách góc trước giữa hai ổ mắt
14 IOD Khoảng cách gian ổ mắt: Đo khoảng cách hẹp nhất giữa 2 ổ mắt
15 UEW Rộng mí mắt: Phần rộng nhất của mí mắt trên
16 FLL Dài chi trước từ mép ngoài của đĩa ngón III đến nách
17 LAL Chiều dài cánh tay đo từ nách đến khuỷu tay
19 F2L Chiều dài ngón tay II
20 F3L Chiều dài ngón tay III (ngón dài nhất)
21 F4L Chiều dài ngón tay IV
22 FD3 Chiều rộng đĩa bám ngón tay III
23 MTTi Chiều dài củ bàn trong
Stt Kí hiệu Giải thích
24 MTTe Chiều dài củ bàn ngoài
25 HLL Dài chi sau từ mép ngoài đĩa ngón IV chân sau tới bẹn
26 FL Chiều dài đùi (từ lỗ huyệt đến đầu gối)
27 TL Chiều dài ống chân (từ đầu gối đến khớp cổ-bàn)
28 FOT Chiều dài bàn chân (từ khớp cổ bàn đến mút ngón IV)
32 T4L Chiều dài ngón IV (ngón dài nhất)
34 TD4 Chiều rộng đĩa bám ngón chân IV
35 TBW Chiều rộng ống chân
36 MTTi Chiều dài củ bàn trong
37 MTTe Chiều dài củ bàn ngoài Đuôi
3.4.2.2 Phương pháp định danh mẫu vật
So sánh hình thái của mẫu vật thu được với các mẫu đã được định tên đang lưu giữ ở Trường Đại học Lâm nghiệp Định loại tên loài theo các tài liệu của Inger et al (1999), Bain & Nguyen (2004), Bain et al (2006, 2009), Hendrix et al (2008), Nguyen Van Sang et al (2009), Nguyen Quang Truong et al (2012), Ziegler & Vu
(2009) và một số tài liệu khác có liên quan Tên khoa học và phổ thông của loài theo Nguyen Van Sang et al (2009) và một số tài liệu mới công bố gần đây.
3.4.3 So sánh mức độ tương đồng về thành phần loài giữa các khu vực
Dựa trên số liệu thu thập được trong quá trình thực địa, kết hợp tham khảo các công trình đã công bố, nghiên cứu này so sánh mức độ tương đồng về thành phần loài giữa KDTTN Động Châu - Khe Nước Trong với các KBT, VQG có sinh cảnh tương tự gồm KBTTN Bắc Hướng Hóa (Quảng Trị), VQG Phong Nha - Kẻ Bàng (Quảng Bình), VQG Cúc Phương (Ninh Bình) So sánh tương quan giữa thành phần loài giữa các khu vực, sử dụng phần mềm PAST Statistic (Hammer et al.
2001) để phân tích thống kê Số liệu được mã hoá theo dạng đối xứng (1: Có mặt; 0: Không có mặt) Chỉ số tương đồng (Sorensen-Dice index) được tính như sau: d jk =2M/(2M+N); trong đó M là số loài ghi nhận cả 02 vùng, N là tổng số loài chỉ ghi nhận ở một vùng.
3.4.4 Phương pháp đánh giá đặc điểm phân bố các loài bò sát, ếch nhái
3.4.4.1 Phân bố theo sinh cảnh
Căn cứ vào phân chia dạng thảm thực vật của UNESCO 1973 và mức độ tác động của con người đếm thảm thực vật theo tài liệu “Sổ tay hướng dẫn điều tra và giám sát đa dạng sinh học (2003), căn cứ hiện trạng rừng tại khu vực nghiên cứu và căn cứ vào kết quả nghiên cứu thực địa, chúng tôi đánh giá phân bố của các loài rắn ở 03 dạng sinh cảnh chính gồm: Khu dân cư và đất nông nghiệp (ao, vườn quanh nhà, đất canh tác), rừng thứ sinh đang phục hồi (rừng phục hồi sau nương rẫy, sau cháy, rừng bị khai thác mạnh, cây bụi) và rừng thường xanh ít bị tác động (rừng giàu, rừng cây lá rộng, rừng hỗn giao thường xanh), kết quả sẽ được thể hiện theo mẫu biểu 01.
Mẫu biểu 01: Phân bố các loài rắn theo sinh cảnh tại khu vực nghiên cứu
Tên Tên Sinh cảnh ghi nhận
Stt khoa học phổ thông Sinh cảnh Sinh cảnh Sinh cảnh
3.4.4.2 Phân bố theo độ cao
Tác giả Bain & Hurley (2011) căn cứ vào điều kiện tự nhiên gồm địa hình và thảm thực vật đã phân chia khu vực Đông Dương thành 02 đai độ cao dưới 800 m và trên 800 m Về nguyên tắc chúng tôi vẫn tuân thủ theo phương pháp phân chia như trên và vẫn tổng hợp số liệu để so sánh Tuy nhiên, do căn cứ vào đặc điểm
19 thực tế sinh cảnh và mức độ tác động của con người tại KDTTN, chúng tôi chia độ cao tại KVNC theo mỗi mức 400 m, vì ở độ cao dưới 400 m là khu vực dân cư, 400 m đến 800 m là rừng thứ sinh đang phục hồi, trên 800 m là rừng thường xanh ít bị tác động Kết quả sẽ được thể hiện theo mẫu biểu 02.
Mẫu biểu 02: Phân bố thành phần loài rắn theo độ cao tại KBT Nam Động
Stt Tên Tên Đai cao (m) khoa học phổ thông Dưới 400 m Từ 400 -800 Trên 800
3.4.5 Đánh giá tình trạng bảo tồn
- Đánh giá tình trạng bảo tồn: Dựa trên các căn cứ pháp lý gồm Nghị định
06/2019/NĐ-CP, Nghị định 64/2019/NĐ-CP của Chính phủ; Căn cứ khoa học gồm Sách Đỏ Việt Nam (2007), Danh lục Đỏ IUCN (2020), các loài hiện chỉ ghi nhận phân bố ở Việt Nam được coi là đặc hữu.
Tư liệu nghiên cứu
- Đã phân tích đặc điểm hình thái của 207 mẫu bò sát, ếch nhái thu thập tại KDTTN Động Châu - Khe Nước Trong năm 2018, 2019 và 2020.
- Tham khảo các mẫu vật lưu giữ tại Trường Đại học Lâm Nghiệp (VNUF).
- Tham khảo các mẫu vật lưu giữ tại Bảo tàng khoa học VQG Cúc Phương.
- Các tài liệu trong nước và quốc tế bao gồm sách, tạp chí khoa học, báo cáo, luận văn tốt nghiệp thạc sĩ và các tài liệu khác có liên quan đến bò sát, ếch nhái khác.
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
Đa dạng về thành phần loài BSEN tại KDTTN Động Châu - Khe Nước Trong21 1 Đa dạng thành phần loài bò sát tại Khu DTTN Động Châu - Khe Nước Trong
Dựa trên kết quả phân tích 204 mẫu vật và quan sát 3 mẫu rùa, chúng tôi đã định danh được 56 loài (34 loài bò sát, 22 loài ếch nhái) thuộc 42 giống (28 giống bò sát, 14 giống ếch nhái), 18 họ (12 họ bò sát, 6 họ ếch nhái) cho KDTTN Động Châu – Khe Nước Trong So với nghiên cứu của Phạm Thế Cường và cs (2019), kết quả nghiên cứu này ghi nhận mới 16 loài (11 loài bò sát, 05 loài ếch nhái) thuộc
16 giống (11 giống bò sát, 04 giống ếch nhái) trong 10 họ (07 họ bò sát, 03 họ ếch nhái) cho danh lục các loài bò sát, ếch nhái của KDTTN Động Châu - Khe Nước
Trong, trong đó có 01 loài ghi nhận mới cho tỉnh Quảng Bình Có 03 họ được ghi nhận mới cho danh lục các họ bò sát, ếch nhái của KDTTN, nâng tổng số họ bò sát, ếch nhái của KDTTN lên 21 họ với 83 loài Tuy nhiên so với nghiên cứu của Phạm Thế Cường và cs (2019) thì kết quả nghiên cứu ngày không ghi nhận được 03 họ gồm họ Thằn lằn chính thức Lacertidae, họ Trăn Pythonidae, và họ Rắn hổ mây Pareatidae; và không ghi nhận được 27 loài (15 loài bò sát, 12 loài ếch nhái) so với kết quả của nghiên cứu trước.
4.1.1 Đa dạng thành phần loài bò sát tại Khu DTTN Động Châu - Khe Nước Trong
Trên cơ sở phân tích 129 mẫu vật bò sát và quan sát 3 mẫu rùa chúng tôi đã định danh được 34 loài bò sát Kết hợp với kết quả nghiên cứu trước 1 , chúng tôi cập nhật danh lục bò sát tại KDTTN Động Châu - Khe Nước Trong gồm có 49 loài bò sát thuộc 32 giống, 15 họ, 2 bộ Tuy nhiên, có 15 loài bò sát có tên trong tài liệu nghiên cứu trước nhưng không ghi nhận được chúng trong đợt nghiên cứu này.Trong tổng số 34 loài được định danh qua phân tích mẫu vật, chúng tôi ghi nhận bổ sung 11 loài bò sát cho KDTTN Động Châu - Khe Nước Trong (trong đó, có 01 loài ghi nhận phân bố mới cho tỉnh Quảng Bình là Rắn khuyết lào Lycodon laoensis).Đặc biệt, ghi nhận bổ sung 3 họ mới cho Khu DTTN Động Châu - Khe Nước Trong bao gồm họ Thằn lằn Rắn (Anguidae), họ Rắn bồng (Homalopsidae) và họ Rắn hổ xiên (Pseudoxenodontidae) (xem bảng 4.1).
Bảng 4.1 Danh lục các loài bò sát tại Khu DTTN Động Châu –
Tên khoa học Tên Việt Nam Phạm Thế
Nghiên Cường và cứu này cs (2019)
1 Acanthosaura lepidogaster (Cuvier, 1829) Ô rô vẩy x x
2 Calotes versicolor (Daudin, 1802) Nhông xám x x
3 C.emma Gray, 1845 Nhông em-ma x x
4 Physignathus cocincinus Cuvier, 1829 Rồng đất x x
Cyrtodactylus cf pseudoquadrivirgatus Thạch sùng ngón giả bốn x X
Rửsler, Nguyen, Vu, Ngo & Ziegler, 2008 vạch
6 Gekko reevesii (Linnaeus, 1758) Tắc kè x X
7 Hemidactylus frenatus (Schlegel, 1836) Thạch sùng đuôi sần x X
3 Lacertidae HọThằn lằn chính thức
8 Takydromus hani Chou, Nguyen & Pauwels,
4 Scincidae Họ Thằn lằn bóng
9 Eutropis longicaudatus (Hallowell, 1857) Thằn lằn bóng đuôi dài x x
10 Plestiodon quadrilineatus Blyth, 1853 Thằn lằn tốt mã bốn vạch x x
Thằn lằn cổ đuôi đỏ x x
12 S melanosticta (Boulenger, 1887) Thằn lằn cổ x x
13 Sphenomorphus indicus (Gray, 1853) Thằn lằn phê-nô ấn độ x x
14 S maculatus (Blyth, 1853) Thằn lằn phê-nô đốm x x
Thằn lằn tai nam bộ x x
5 Anguidae Họ Thằn lằn rắn
16 Dopasia harti (Boulenger, 1899) * Thằn lằn rắn hác x
17 Python molurus (Linnaeus, 1758) Trăn đất x
19 Ahaetula prasina (Boie, 1827) Rắn roi thường x x
20 Dendrelaphis pictus (Gmelin, 1789)* Rắn leo cây thường x
21 Boiga guangxiensis Wen, 1998* Rắn rào quảng tây x
22 B.kraepelini (Stejneger, 1902) Rắn rào k-ra-pe-lin x
23 Coelognathus radiatus (Boie, 1827)* Rắn sọc dưa x
Tên khoa học Tên Việt Nam Phạm Thế
Nghiên Cường và cứu này cs (2019)
24 Chrysopelea ornata (Shaw, 1802) Rắn cườm X
25 Ptyas multicinctus (Roux, 1907) Rắn nhiều đai X x
26 Lycodon futsingensis (Pope, 1928) Rắn khuyết fut sing x
L ruhstrati abditus (Vogel, David, Pauwels,
27 Sumontha, Norval, Hendrix, Vu & Ziegler, Rắn khuyết ẩn x x 2009)
28 Lycodon laoensis Günther, 1864** Rắn khuyết lào x
29 L.cf rosozonatum (Hu & Zhao, 1972) Rắn lệch đầu hồng x x
30 Oligodon chinensis (Günther, 1888)* Rắn khiếm trung quốc x
31 Oreocryptophis porphyraceus (Cantor, 1839) Rắn sọc đốm đỏ x
32 Rhynchophis boulengeri Mocquard, 1897 Rắn vòi x
8 Natricidae Họ Rắn nước chính thức
33 Parahelicops annamensis Bourret, 1934 Rắn bình mũi trung bộ x
34 Rhabdophis subminiatus (Schlegel, 1837) Rắn sãi cổ đỏ x
35 R chrysargos ( Shhlegel,1837)* Rắn hoa cỏ vàng x
36 Trimerodytes percarinatus (Boulenger, 1899) Rắn hoa cân vân đen x
9 Pareatidae Họ Rắn hổ mây
37 Pareas hamptoni (Boulenger, 1905) Rắn hổ mây ham-tơn x
38 Bungarus fasciatus (Schneider, 1801) Rắn cạp nong x
39 B multifasciatus Blyth, 1860 Rắn cạp nia bắc x x
40 Naja cf atra Cantor, 1842 Rắn hổ mang trung quốc x
41 Hypsiscopus plumbea (Boie, 1827)* Rắn bồng chì x
12 Pseudoxenodontidae Họ Rắn hổ xiên
42 Pseudoxenodon bambusicola Vogt, 1922* Rắn hổ xiên tre x
43 Protobothrops muscrosquamatus (Cantor, 1839) Rắn lục cườm x x
44 Trimeresurus stejnegeri Schmidt, 1925 Rắn lục xanh x x
14 Platysternidae Họ Rùa đầu to
45 Platysternon megacephalum Gray, 1930 Rùa đầu to x x
46 Cuora bourreti Obst & Reimann, 1994 Rùa hộp bua-rê x
47 C.mouhotii (Gray, 1862) Rùa sa nhân x
48 Cyclemys oldhamii Gray, 1863* Rùa đất sepon x
49 Sacalia quadriocellata (Siebenrock, 1903) Rùa bốn mắt x x
Ghi chú: * Loài ghi nhận mới cho KDTTN ** Loài ghi nhận mới cho tỉnh Quảng Bình
1Phạm Thế Cường và cs (2019)
Xét theo tính đa dạng về giống thì họ Rắn nước Colubridae đa dạng nhất với
10 giống (chiếm 31,2% tổng số giống bò sát ghi nhận được), tiếp đến là họ Thằn lằn chính thức Scincidae với 5 giống (chiếm 15,6% tổng số giống bò sát ghi nhận được); xếp thứ ba là các họ: họ Nhông Agamidae, họ Tắc kè Gekkonidae và họ Rắn nước chính thức Natricidae với 03 loài ở mỗi họ; có 3 họ ghi nhận 2 giống là họ
Rắn hổ Elapidae, họ Rắn lục Viperidae và họ Rùa đầm Geoemydidae; các họ còn lại đều ghi nhận được duy nhất 01 giống (xem hình 4.1 và bảng 4.1).
Xét theo tính đa dạng thành phần loài thì họ Rắn nước Colubridae đa dạng nhât với 14 loài chiếm 28,57% tổng số loài ghi nhận, tiếp đến là họ Thằn lằn chính thức Scincidae với 7 loài chiếm 14,28% tổng số loài ghi nhận; có 3 họ ghi nhận 4 loài gồm họ Nhông Agamidae, Rắn nước chính thức Natricidae chiếm 8,16% tổng số loài ghi nhận và họ Rùa đầm Geomydidae; các họ ghi nhận 3 loài gồm họ Tắc kè
Gekkonidae, họ Rắn hổ Elapidae; họ Rắn lục Viperidae và họ Trăn Pythonidae mỗi họ ghi nhận 2 loài; các họ còn lại đều ghi nhận 1 loài (xem hình 4.1 và bảng 4.1).
Hình 4.1 Đa dạng các họ bò sát theo giống và loài
4.1.2 Đa dạng thành phần loài Ếch nhái tại KDTTN Động Châu - Khe Nước Trong
Kết quả phân tích 75 mẫu vật đã định danh được 23 loài ếch nhái Kết hợp với tài liệu nghiên cứu trước 1 , chúng tôi cập nhật danh lục ếch nhái tại KDTTN Động Châu - Khe Nước Trong gồm 34 loài thuộc 19 giống, 6 họ Có 05 loài ếch nhái được ghi nhận bổ sung cho KVNC, tuy nhiên có 12 loài được ghi nhận trong nghiên cứu trước nhưng không ghi nhận được trong nghiên cứu này (Chi tiết xem bảng 4.2.).
Bảng 4.2 Danh lục các loài ếch nhái tại Khu DTTN Động Châu
Stt Tên khoa học Tên Việt Nam Nghiên Nghiên cứu trước 1 cứu này
2 Ingerophrynus macrotis (Boulenger, 1887) Cóc tai to x
3 Brachytarsophrys intermedia (Smith, 1921) Cóc mắt trung gian x x
6 Megophrys maosonensis Boulenger, 1937 Cóc mắt bên x x
7 M microstoma Boulenger, 1903* Cóc núi miệng nhỏ x
8 M gerti (Ohler, 2003) Cóc núi gớt x
9 Microhyla heymonsi Vogt, 1911 Nhái bầu hây môn x x
10 M marmorata (Bain & Nguyen, 2004) Nhái bầu hoa cương x
11 M pulchra (Hallowell, 1861) Nhái bầu vân x x
4 Dicroglossidae Họ Ếch nhái chính thức
13 Limnonectes kiziriami Ye, Fei & Jiang, Ếch nhẽo x x
14 L limborgi (Sclater, 1892) Ếch lim-boc x x
15 L poilani (Bourret, 1942) Ếch poa-lan x x
16 Quasipaa verrucospinosa (Bourret, 1937) Ếch gai sần x x
17 Amolops cremnobatus Inger et Kottelat, Ếch bám đá x
18 Hylarana attigua (Inger, Orlov & Darevsky, Ếch đồng dạng x
Stt Tên khoa học Tên Việt Nam Nghiên Nghiên cứu trước 1 cứu này 1999)
20 Sylvirana guentheri (Boulenger, 1882)* Chẫu chuộc x
21 S maosonensis (Bourret, 1937)* Chàng mẫu sơn x
22 Odorrana chloronota (Günther, 1875) Ếch xanh x
23 O morafkai (Bain, Lathrop, Murphy, Orlov Ếch mô-ráp-ka x
24 Rana johnsi Smith, 1921 Hiu hiu x x
25 Kurixalus banaensis (Bourret, 1939) Nhái cây bà nà x
26 K bissaculus (Taylor, 1962) Nhái cây sần nhỏ x x
27 Polypedates megacephalus Hallowell, 1861 Ếch cây đầu to x x
28 Rhacophorus annamensis Smith, 1924 Ếch cây trung bộ x x
29 Zhangixalus dennysi (Blanford, 1881)* Ếch cây đốm xanh x
30 R exechopygus Inger, Orlov & Darevsky, Ếch cây nếp da mông x 1999
31 R orlovi Ziegler & Kohler, 2001 Ếch cây oóc-lốp x x
32 Theloderma asperum (Boulenger, 1886) Ếch cây sần a-x-pơ x
33 T corticale (Boulenger, 1903)* Ếch cây sần bắc bộ x
Ghi chú: * Loài ghi nhận mới cho KDTTN Động Châu - Khe Nước Trong
1 Phạm Thế Cường và cs (2019)
Xét theo tính đa dạng thành phần giống: Trong 6 họ ghi nhận tại KDTTN thì họ Ếch nhái Ranidae là họ đa dạng giống nhất với 5 giống (chiếm 26,3% tổng số giống); tiếp đến là họ Ếch cây Rhacophorus và họ Cóc bùn Megophrydae với 4 giống; họ Ếch nhái chính thức Dicroglossidae ghi nhận 3 giống; họ Cóc Bufonidae ghi nhận 2 giống, cuối cùng là họ Nhái bầu Microhylidae ghi nhận 1 giống (xem hình 4.2 và bảng 4.2).
Hình 4.2 Đa dạng các họ ếch nhái theo giống và loài
Xét theo tính đa dạng thành phần loài: họ Ếch cây Rhacophorus là họ đa dạng loài nhất với 10 loài (chiếm 29,4 % tổng số loài); tiếp đến là họ Ếch nhái Ranidae ghi nhận 8 loài; họ Cóc bùn Megophrydae ghi nhận 6 loài; họ Ếch nhái chính thức ghi nhận 5 loài; tiếp đến là họ Nhái bầu Microhylidae ghi nhận 3 loài và họ Cóc Bufodidae ghi nhận 2 loài (chi tiết xem hình 4.2 và bảng 4.2).
Mô tả một số đặc điểm hình thái các loài Bò sát, ếch nhái ghi nhận mới cho
4.2.1 Đặc điểm hình thái các loài bò sát ghi nhận mới cho KVNC
So với nghiên cứu của Phạm Thế Cường và cs (2019), trong nghiên cứu này tôi đã bổ sung 3 họ cho Khu DTTN Động Châu - Khe Nước Trong, và ghi nhận mới
12 loài cho KVNC, trong đó có 10 loài bò sát có vảy và 1 loài rùa: Thằn lằn rắn hác
Dopasia harti (Boulenger, 1899), Rắn leo cây thường Dendrelaphis pictus (Gmelin,
1789), Rắn rào quảng tây Boiga guangxiensis (Wen, 1998), Rắn sọc dưa
Coelognathus radiatus (Boie, 1827), Rắn lệch đầu fut sing Lycodon futsingensis
(Pope, 1928), Rắn khuyết lào Lycodon laoensis (Günther, 1864), Rắn khiếm trung quốc Oligodon chinensis (Günther, 1888), Rắn hoa cỏ vàng Rhabdophis chrysargos (Schlegel, 1837), Rắn bồng chì Hypsiscopus plumbea (Boie, 1827), Rắn hổ xiên tre
Pseudoxenodon bambusicola (Vogt, 1922), Rùa đất sepon Cyclemys oldhamii
(Gray, 1863) Một số đặc điểm hình thái của các loài này được trình bày cụ thể ở phần dưới đây:
B u fo n id ae Ra ni da eR ha co ph or id ae
A ga m id ae G ek ko n id ae La ce rti d ae Sc en cid ae An gu id ae Py th on id ae C o lu b ri d ae Na tri cid ae Pả ea tid ae El ap id ae Ho m al op sid ae P e se u d o xe n o d ae V ip er id ae Pl at ys te rn id ae Ge om yd id ae M e go p h ry id ae M ic ro h yl id ae D ic ro gl o ss id ae
Phạm Thế Cường và cộng sự Nghiên cứu này
Hình 4.3 Các loài bò sát ghi nhận mới tại KVNC
Họ Thằn lằn rắn Anguidae
1 Thằn lằn Rắn hác Dopasia harti (Boulenger, 1899)
Mẫu vật nghiên cứu (n = 1): 01 mẫu cái kí hiệu KNT.19.45 Đặc điểm nhận dạng: SVL 120,5 mm 16 hàng vảy giữa hai nếp gấp sườn;
95 hàng vảy dọc nếp gấp sườn Mặt lưng nâu xám hoặc trắng-kem; dọc lưng có sọc ngang sẫm màu; 2 bên lưng có sọc sẫm màu nhỏ chạy từ sau mắt tới mút đuôi; bụng trắng đục (định loại theo Nguyen et al., 2011.
Thông tin khác về mẫu: Mẫu vật được thu vào khoảng 9h30, ở ven đường mòn có nhiều lá khô, trong rừng phục hồi.
2 Rắn leo cây thường Dendrelaphis pictus (Gmelin, 1789)
Mẫu vật nghiên cứu (n=1): 01 mẫu đực KNT.19.30 (SVL 685,2 mm, TaL
303 mm). Đặc điểm nhận dạng: Đặc điểm hình thái của mẫu vật phù hợp với mô tả của
Smith (1943), Nguyễn Văn Sáng (2007), Ngô Đắc Chứng và Dương Đức Lợi (2016): Dài đầu 20,2 mm; rộng đầu 9,6 mm; đầu phân biệt với cổ; dài tấm gian mũi 1,9 mm; dài tấm trước trán 2,5mm; DSR 15-11-11, trơn; 201 tấm bụng; vảy dưới đuôi 145, chia đôi; tấm hậu môn chia; môi trên 9 tấm, tấm thứ 3,4,5 tiếp giáp mắt ở bên trái, tấm 4,5,6 tiếp giáp mắt ở bên phải, tấm thứ 5/6 lớn nhất; môi dưới 9 tấm, có 04 tấm tiếp giáp tấm sau cằm trước; 01 tấm trước ổ mắt; 02 tấm sau ổ mắt; 02 tấm thái dương trước; 2/3 tấm thái dương sau.
Màu sắc mẫu sống: Mặt lưng vàng nâu Bên đầu có một đường đen từ mõm qua mắt tới bên gáy Có một đường vàng nhạt viền đen chạy dọc sườn Môi, họng và bụng màu vàng rất nhạt.
Một số đặc điểm sinh thái: Mẫu vật thu được bị chết do xe cán ở đường Sinh cảnh xung quanh là rừng trồng keo, nhiệt độ môi trường 27,0 0 C, độ ẩm 65,0%. Thức ăn của loài là ếch nhái, thằn lằn và chim nhỏ (theo Nguyễn Văn Sáng, 2007).
Phân bố: Ở Việt Nam loài này phân bố từ Điện Biên đến Cà Mau Trên thế giới loài này phân bố tại Ấn Độ, Nê-pan, Trung Quốc, Đông Nam Á (Nguyen et al.
2009) Loài ghi nhận phân bố mới cho KVNC.
Hình 4.5 Rắn leo cây thường Dendrelaphis pictus (Ảnh: Hà Văn Nghĩa)
3 Rắn rào quảng tây Boiga guangxiensis (Wen, 1998)
Mẫu vật nghiên cứu (n=1): 01 mẫu cái (KNT.19.34). Đặc điểm hình thái: Đặc điểm hình thái của mẫu vật thu được phù hợp với mô tả của Ziegler et al (2007) Kích thước SVL 985 mm; TaL 380 mm; Đầu dài hơn rộng HL 23,32 mm, HW 13,2 mm, mắt to hình bầu dục, tấm thái dương trước 2/2; tấm sau thái dương 3/3; vảy môi trên 8/8; vảy môi dưới 10/10; hàng vảy thân: 23:15:15, vảy bụng 270; vảy dưới đuôi 145; kép.
Màu sắc khi mẫu sống: Đầu và thân có màu nâu đỏ, phía trước thân có những khoang màu đỏ đen càng về cuối thân càng mờ đi và không rõ Bụng màu vàng nhạt.
Một số đặc điểm sinh thái: Mẫu vật được thu khi đang trườn trên mặt đất rừng ở rừng thứ sinh tự nhiên.
Hình 4.6 Rắn rào quảng tây Boiga guangxiensis
4 Rắn sọc dưa Coelognathus radiatus (Boie, 1827)
Mẫu vật nghiên cứu (n=1): 01 mẫu đực (KNT.19.36). Đặc điểm hình thái: Đặc điểm hình thái của mẫu vật thu được phù hợp với mô tả của Hoàng Xuân Quang và cs (2012): Kích thước SVL 925 mm, TailL 180 mm Đầu dài, phân biệt rõ với cổ Mắt trung bình, con ngươi tròn Lỗ mũi nằm giữa tấm mũi chia Tấm mõm rộng hơn cao, có thể nhìn thấy một phần từ phía trên; 2
31 tấm gian mũi bé hơn 2 tấm trước trán; tấm trán dài hơn rộng, chạm tấm trước mắt ở một điểm Có 1 tấm má dài hơn cao, nằm trên tấm mép trên thứ hai và thứ ba; 1 tấm trước mắt cao, 2 tấm sau mắt Tấm thái dương 2 + 2.Có 9 tấm mép trên, tấm thứ 4,
5 và 6 chạm mắt; 10 tấm mép dưới mỗi bên, 4 tấm đầu tiên chạm tấm sau cằm thứ nhất Tấm cằm bé, hình tam giác, viền tấm cằm bé hơn viền của tấm mõm Có 2 cặp tấm sau cằm, cặp thứ nhất lớn hơn cặp thứ hai, tiếp xúc nhau, cặp thứ hai phân cách nhau bởi 1 + 2 vảy họng Vảy thân 19 hàng có gờ yếu trừ hàng vảy ngoài cùng nhẵn; 227 vảy bụng; 60 vảy dưới đuôi, kép Tấm hậu môn nguyên Thân và đầu màu nâu hồng Xung quanh mắt có 3 vệt đen nhỏ, gồm 2 vệt chạy xuống môi và 1 vệt chạy ra sau nối với vòng đen ở phía bên gáy Lưng màu nâu xám hay xám Có 4 sọc đen chạy dọc tới quá nửa thân, 2 sọc ở giữa lưng to, liên tục, 2 sọc hai bên mảnh hơn và đứt đoạn Bụng màu vàng nhạt.
Phân bố: Việt Nam: Khắp các vùng trong cả nước
Hình 4.7 Rắn sọc dưa Coelognathus radiatus 5 Rắn lệch đầu fut sing Lycodon futsingensis (Pope,
Mẫu vật nghiên cứu (n =1): 01 mẫu đực KNT19.35 (SVL 470,0 mm, TaL
130,0 mm). Đặc điểm nhận dạng: Đặc điểm hình thái của mẫu vật phù hợp với mô tả của
Bourret (1936), Nguyễn Văn Sáng (2007), Vogel et al (2009), Luu et al (2013b),
Nguyen et al (2016), Pham et al (2017), Nguyen et al (2018): Thân dài, đầu phân biệt với cổ; 02 tấm thái dương trước; 03 tấm thái dương sau; 01 tấm má không chạm mắt; 01 tấm trước ổ mắt; 02 tấm sau ổ mắt; môi trên 08 tấm, tấm thứ 3,4,5 tiếp giáp với mắt, tấm số 06 lớn nhất; môi dưới 10 tấm, 05 tấm tiếp giáp với tấm sau cằm trước; DSR 17-17-15, trơn; 201, tấm bụng; tấm hậu môn đơn; vảy dưới đuôi 81.
Màu sắc mẫu sống: Màu sắc màu xám đen có 19 vòng trắng quanh thân, có
14 vòng trắng quanh đuôi, bụng màu trắng đục.
Một số đặc điểm sinh thái: Mẫu vật thu được vào ban đêm, mẫu đang trườn ở ven suối Sinh cảnh xung quanh là rừng thường xanh núi đất, thời gian từ 19h30- 21:20, nhiệt độ môi trường từ 22,9 - 24,1 0 C, độ ẩm không khí từ 88,0 - 93,0%.
Đặc điểm phân bố các loài bò sát, ếch nhái tại KVNC
Đặc điểm sinh thái: Ở khu vực nghiên cứu mẫu vật tìm thấy ở trên các lá cây, tảng đá có bám rêu, xung quanh là cây bụi, cây gỗ lớn, và ở gần khe suối.
Hình 4.19 Ếch cây sần bắc bộ Theloderma corticale 4.3 Đặc điểm phân bố các loài bò sát, ếch nhái tại
4.3.1 Phân bố các loài bò sát theo đai cao
Có 20 loài bò sát được ghi nhận ở độ cao dưới 400 m như: Thạch sùng đuôi sần, Hemidactylus frenatus, Ô rô vẩy Acanthosaura lepidogaster, Nhông xám
Calotes versicolor, Nhông em-ma Calotes emma, Rồng đất Physignathus cocincinus…
Có 25 loài bò sát được ghi nhận ở độ cao từ 400 - 800m như: Ô rô vẩy
Acanthosaura lepidogaster, Nhông xám Calotes versicolor, Nhông em-ma Calotes emma, Rồng đất Physignathus cocincinus, Rắn khiếm Trung Quốc Oligodon chinensis, Rắn hoa cỏ vàng Rhabdophis chrysargos…
Có 5 loài bò sát được ghi nhận từ độ cao trên 800 m: Thạch sùng ngón giả bốn vạch Cyrtodactylus cf pseudoquadrivirgatus, Gekko reevesii, Rắn roi thường
Ahaetula prasina, Rắn lệch đầu hồng Lycodon rosozonatus, Rắn hổ xiên trePseudoxenodon bambusicola.
46 Độ cao từ 400 – 800 m có mức độ đa dạng về loài với 25 loài bò sát ( so với
31 loài ghi nhận tại đợt nghiên cứu này) cho thấy độ cao này thuận lợi cho nhiều loài bò sát sinh sống và phát triển Độ cao từ 800 m chỉ ghi nhận 5 loài bò sát, cho thấy với độ cao này có thể do điều kiện điều tra rất ít và độ cao trên 800 m ở khu vực này cũng không nhiều, nên có thể ghi nhận chưa được nhiều loài.
Hình 4.20 Phân bố các loài bò sát theo đai cao
4.3.1.2 Phân bố các loài ếch nhái theo đai cao
Kết quả tổng hợp, phân tích số liệu cho thấy các loài ếch nhái tại KVNC đươc phân bố như sau: độ cao dưới 400 m có 11 loài được ghi nhận gồm các loài như: Nhái bầu hây môn Microhyla heymonsi, Nhái bầu vân Microhyla pulchra, Ngoé Fejervarya limnocharis…
Từ 400 - 800m có 15 loài được ghi nhận gồm các loài như Ếch nhẽo
Limnonectes bannaensis, Ếch lim-boc Limnonectes limborgi, Ếch poa-lan
Limnonectes poilani, Cóc mắt bên Megophrys majo…
Từ độ cao 800m có 2 loài được ghi nhận gồm Ếch gai sần Quasipaa verrucospinosa, Ếch cây sần bắc bộ Theloderma corticale
Ta thấy được độ cao từ 400 - 800 m thì số loài ghi nhận được nhiều nhất với
15 loài so với tổng số 19 loài ếch nhái ghi nhận trọng đợt điều tra này Điều này có thể lý giải do độ cao này là môi trường thích hợp cho nhiều loài ếch nhái sinh sống. Độ cao trên 800 m ghi nhận được số loài ít nhất với 2 loài do thời gian ít và sinh cảnh ở đây đi lại điều tra khó khăn.
Hình 4.21 Phân bố các loài ếch nhái theo đai cao 4.3.2 Phân bố bò sát, ếch nhái theo sinh cảnh
Tùy theo đối tượng và KVNC, các tác giả khác nhau có cách phân chia sinh cảnh khác nhau như: Trần Ngũ Phương (1970) đã đề xuất bảng phân loại rừng miền
Bắc Việt Nam theo các yếu tố đất đai, khí hậu, độ cao; UNESCO (1973) đã phân loại thảm rừng ở Việt Nam thành 2 lớp quần hệ; Thái Văn Trừng (1999) chia thành các kiểu thảm thực vật khác nhau; Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (2009) đã đưa ra tiêu chí xác định và phân loại rừng Việt Nam; Vũ Tấn Phương và nnk
(2012) đã phân chia thành 10 kiểu rừng khác nhau Chúng tôi theo quan điểm phân chia các dạng sinh cảnh của Lê Nguyên Ngật (2003) trong Sổ tay hướng dẫn điều tra và giám sát đa dạng sinh học Căn cứ vào đối tượng nghiên cứu và các điều kiện tự nhiên (địa hình, thảm thực vật) cũng như mức độ tác động của con người tại
KVNC, chúng tôi chia KVNC thành 3 sinh cảnh chính: Khu dân cư và đất nông nghiệp (ao, vườn quanh nhà, đất canh tác), rừng thứ sinh đang phục hồi (rừng phục hồi sau nương rẫy, sau cháy, rừng bị khai thác mạnh, cây bụi) và rừng thường xanh ít bị tác động (rừng giàu, rừng cây lá rộng, rừng hỗn giao thường xanh).
4.3.2.1 Phân bố các loài bò sát theo sinh cảnh
Nhìn vào biểu đồ hình 4.22 ta thấy số lượng loài bò sát phân bố nhiều nhất ở dạng sinh cảnh rừng thường xanh ít bị tác động với 25 loài (chiếm 50 % tổng số loài
48 bò sát tại KDTTN) Đây là sinh cảnh rừng giàu chủ yếu ở các tiểu khu như 517,
516, 535,…Các loài bò sát ghi nhận ở sinh cảnh này như Rồng đất, Thạch sùng ngón giả bốn vạch, Tắc kè, Rắn lục cườm, …Như vậy, có thể thấy rằng sinh cảnh sinh cảnh này phù hợp nhất cho nhiều loài bò sát sinh sống và phát triển.
Tiếp đến là sinh cảnh rừng thứ sinh đang phục hồi ghi nhận phân bố của 16 loài (chiếm 32 % tổng số loài bò sát tại KDTTN) Đây là sinh cảnh rừng phục hồi chủ yếu ở các tiểu khu 523, 523, 527,…Các loài bò sát ghi nhận được ở sinh cảnh này như Thằn lằn bóng đuôi dài, Thằn lằn phê nô ấn độ, Rắn nhiều đai,….
Sinh cảnh ghi nhận ít loài nhất là sinh cảnh khu dân cư và đất nông nghiệp với 7 loài (chiếm 14 % tổng số loài bò sat tại KDTTN), đây là sinh cảnh chủ yếu phân bố các loài bò sát phổ biến như Thằn lằn bóng đuôi dài, Rắn sọc dưa, Ô rô vảy,….
Khu dân cư và đất nông Rừng thứ sinh đang phục hồi Rừng thường xanh ít bị tác nghiệp động
Hình 4.22 Phân bố các loài bò sát theo sinh cảnh tại KVNC
4.3.2.2 Phân bố các loài ếch nhái theo sinh cảnh
Nhìn vào biểu đồ hình 4.23 ta thấy sinh cảnh rừng thường xanh ít bị tác động ghi nhận được nhiều loài ếch nhái nhất với 19 loài (chiếm 38 % tổng số loài ếch nhái của KDTTN), các loài ếch nhái được ghi nhận ở sinh cảnh này như Cóc mắt bên, Ếch gai sần, Ếch cây trung bộ,…Như vậy, có thể thấy đây là sinh cảnh có phù hợp nhất cho nhiều loài ếch nhái sinh sống và phát triển.
Tiếp theo là sinh cảnh rừng thứ sinh đang phục hồi ghi nhận 16 loài ếch nhái (chiếm 32 % tổng số loài ếch nhái của KDTTN), các loài ếch nhái được ghi nhận ở sinh cảnh này như Hiu hiu, Ếch cây oóc-lốp, Chàng mẫu sơn,….
Sinh cảnh ghi nhận ít loài ếch nhái nhất là khu dân cư và đất nông nghiệp với chỉ 6 (chiếm 12 % tổng số loài ếch nhái của KDTTN), các loài ếch nhái ghi nhận tại sinh cảnh này như Ếch cây đầu to, Chẫu chuộc, Ngóe,… Đây là khu vực gần dân nhất nên có thể bị tác động của người dân ảnh hưởng đến sinh cảnh sống của các loài ếch nhái, hơn nữa các hoạt động thu bắt ếch nhái làm thức ăn cũng như hoạt động mua bán thương mại vẫn diễn ra do vậy chỉ ghi nhận phần lớn là các loài thông thường tại sinh cảnh này.
Khu dân cư và đất nông nghiệp Rừng thứ sinh đang phục hồi Rừng thường xanh ít bị tác động
Hình 4.23 Phân bố các loài ếch nhái theo sinh cảnh tại KVNC
So sánh sự tương đồng của bò sát, ếch nhái KVNC với các VQG và KBT khác ở Việt Nam
KBT khác ở Việt Nam Để đánh giá mức độ tương đồng về thành phần loài bò sát, ếch nhái giữa các khu bảo tồn lân cận và có sinh cảnh tương tự với KDTTN Động Châu - Khe Nước Trong Chúng tôi sử dụng số liệu về thành phần loài của 03 Khu Bảo tồn Thiên nhiên (KBTTN) và Vườn Quốc gia (VQG) gồm KBTTN Bắc Hướng Hoá theo Nguyen Thanh Luan et al (2016), VQG Phong Nha - Kẻ Bàng theo Luu et al.
(2013), VQG Cúc Phương theo Nguyễn Huy Quang và cs (2018).
Kết quả đánh giá cho thấy KDTTN Động Châu - Khe Nước Trong có sự đa dạng về thành phần loài lớn hơn so với KBTTN Bắc Hướng Hoá, tuy nhiên kém đa dạng so với VQG Cúc Phương và VQG Phong Nha - Kẻ Bàng, điều này có thể lý giải do hai VQG có diện tích rộng hơn, các cuộc điều tra, nghiên cứu nhiều hơn so với KDTTN Động Châu - Khe Nước Trong Kết quả so sánh chỉ số tương đồng Sorensen-Dice ở bảng 2 cho thấy KDTTN Động Châu - Khe Nước Trong có mức độ tương đồng về thành phần các loài bò sát, ếch nhái cao nhất với VQG Phong Nha
Kẻ Bàng (d jk = 0,51), tương đồng thấp nhất với KBTTN Bắc Hướng Hoá (d jk 0,39) Điều này có thể giải thích do KDTTN Động Châu - Khe Nước Trong và VQG Phong Nha - Kẻ Bàng cùng khu vực địa lý và và đặc biệt là cùng thuộc một tỉnh Ngoài ra, chưa có nhiều nghiên cứu được thực hiện tại KBTTN Bắc Hướng Hóa, do vậy thành phần loài bò sát, ếch nhái chưa phản ánh đúng thực tế của khu này.
Bảng 4.3 Chỉ số tương đồng (Sorensen-Dice index) về đa dạng loài bò sát, ếch nhái giữa một số KBTTN và VQG Địa điểm Động Châu-Khe Phong Nha-Kẻ Cúc Bắc Hướng
Nước Trong Bàng Phương Hoá Động Châu-Khe
KDTTN Động Châu - Khe Nước Trong, VQG Cúc Phương và VQG PhongNha - Kẻ Bàng tập hợp lại thành một nhánh, đây là các khu vực gần nhau về địa lý hoặc đã được nghiên cứu kỹ lưỡng (xem hình 4.24) Riêng KBTTN Bắc Hướng Hóa chưa thực hiện nhiều nghiên cứu về bò sát, ếch nhái.
Hình 4.24 Sự tương đồng về thành phần loài bò sát, ếch nhái tập hợp theo nhóm giữa một số KBT và VQG ở Việt Nam (giá trị gốc nhánh với số lần nhắc lại là 1000)
Ghi chú: BHH: Khu bảo tồn thiên nhiên Bắc Hướng Hoá;PNKB: VQG Phong Nha -
Kẻ Bàng; CP: VQG Cúc Phương; DC-KNT: KDTTN Động Châu - Khe Nước
Tình trạng bảo tồn và các mối đe dọa
4.5.1 Đánh giá tình trạng bảo tồn
Trong số 83 loài bò sát, ếch nhái được ghi nhận ở KDTTN Động Châu - KNT có 14 loài quý hiếm và đặc hữu (chiếm 16,86 % tổng số loài ghi nhận được): có 08 loài trong Sách Đỏ Việt Nam (chiếm 57,14 % số loài quý hiếm, đặc hữu ghi nhận được), trong đó có 02 loài bậc CR (Rất nguy cấp), 03 loài bậc EN (Nguy cấp ),
3 loài bậc VU (Sẽ nguy cấp ); có 07 loài trong IUCN 2020 (chiếm 50,00 % số loài quý hiếm, đặc hữu ghi nhận được) trong đó có 01 loài bậc CR (Rất nguy cấp), 03 loài bậc
EN (Nguy cấp), 03 loài bậc VU (Sẽ nguy cấp); có 07 loài có tên trong Nghị định 06/2019/NĐ-CP (chiếm 50,00 % số loài quý hiếm, đặc hữu ghi nhận được) trong đó nhóm IB (nhóm các loài nghiêm cấm khai thác, sử dụng vì mục đích thương mại và thuộc phụ lục I công ước CITES) có 01 loài, nhóm IIB (nhóm các
52 loài hạn chế khai thác, sử dụng vì mục đích thương mại và thuộc phụ lục II công ước CITES) có 06 loài và có 03 loài đặc hữu Việt Nam (chiếm 21,42 % số loài quý hiếm, đặc hữu ghi nhận được).
Tuy nhiên, kết quả nghiên cứu này chỉ ghi nhận 5/14 loài bò sát, ếch nhái quý hiếm gồm Nhái cây trường sơn, Rồng đất, Rùa bốn mắt, Rùa đầu to, Tắc kè 09 loài quý hiếm còn lại chỉ được ghi nhận bởi Phạm Thế Cường và cs (2019) gồm Liu điu xanh, Nhái cây bà nà, Rắn cạp nong, Rắn hổ mang trung quốc, Rắn sọc đốm đỏ, Rùa hộp bua-rê, Rùa sa nhân, Trăn đất, Trăn gấm Điều này cho thấy mức độ hiếm của những loài này tại khu vực KDTTN Động Châu - Khe Nước Trong.
Bảng 4.4 Tình trạng bảo tồn của các loài bò sát, ếch nhái tại KVNC
TT Tên Việt Nam Tên khoa học SĐVN IUCN NĐ Đặc
1 Rồng đất cocincinus VU VU
2 Tắc kè Gekko gecko VU
3 Liu điu xanh Takydromus hani VN
4 Trăn đất Python molurus CR VU IIB
5 Trăn gấm Python reticulatus CR IIB
Rắn sọc đốm đỏ Oreocryptophis
7 Rắn cạp nong Bungarus fasciatus EN
Rùa hộp bua-rê Cuora bourreti (C
13 Nhái cây bà nà Kurixalus banaensis VN
4.5.2 Phân vùng ưu tiên bảo tồn các loài bò sát, ếch nhái tại KVNC
Kết quả phân tích, tổng hợp số liệu ghi nhận các loài bò sát, ếch nhái tại 17 tiểu khu rừng thực hiện nghiên cứu này cho thấy tiểu khu 516, 517 ghi nhận được nhiều loài nhất với 29 loài ở mỗi tiểu khu (chiếm 51,8 tổng số loài ghi nhận được) Tiếp theo là các tiểu khu 533, 534, 535 ghi nhận được lần lượt 26, 24, 20 loài bò sát, ếch nhái (xem hình 4.25 và bảng 4.5).
Số loài ghi nhận cao nhất/TK
Số loài ghi nhận ít nhất/TK
Hình 4.25 So sánh các loài bò sát, ếch nhái ghi nhận được tại các tiểu khu rừng của KDTTN Động Châu – Khe Nước Trong
Các tiểu khu còn lại đều ghi nhận dưới 10 loài ở mỗi tiểu khu, (chi tiết về số loài ghi nhận ở mỗi tiểu khu xem hình 4.6 và phụ lục 4).
Căn cứ vào quả ghi nhận 05 loài quý, hiếm gồm Nhái cây trường sơn, Rồng đất, Rùa bốn mắt, Rùa đầu to, Tắc kè và các loài bò sát, ếch nhái khác tại các tiểu khu rừng KDTTN Động Châu – Khe Nước Trong, chúng tôi tiến hành phân vùng các khu vực ưu tiên bảo tồn các loài bò sát ếch nhái dựa theo các tiêu chí được đề xuất tại bảng 4.5 phân các khu vực ưu tiên thành 04 cấp độ gồm CAO, TRUNGBINH, THẤP, CHƯA RÕ (chưa đủ cơ sở dữ liệu để đánh giá).
Bảng 4.5 Tiêu chí đề xuất xếp hạng khu vực ưu tiên bảo tồn bò sát, ếch nhái tại KDTTN Động Châu - Khe Nước Trong
Cấp độ ưu Tiêu chí đề xuất tiên
Một tiểu khu rừng được phân vùng ưu tiên bảo tồn các loài bò sát, ếch nhái ở mức CAO khi đáp ứng ít nhất 01 (một) trong các tiêu chí sau:
CAO 1 Có ít nhất 02 loài bò sát, ếch nhái đặc hữu, hoặc bị đe dọa trong Sách Đỏ Việt Nam 2007, IUCN 2020 và được bảo vệ bởi Chính Phủ Việt Nam (Nghị định 06/2019, Nghị định 64/2019).
2 Có trên 20 loài bò sát, ếch nhái.
Một tiểu khu rừng được phân vùng ưu tiên bảo tồn các loài bò sát, ếch nhái ở mức TRUNG BÌNH khi đáp ứng ít nhất 01 (một) trong các tiêu chí sau:
TRUNG 1 Có 01 loài bò sát, ếch nhái đặc hữu, hoặc bị đe dọa trong
BÌNH Sách Đỏ Việt Nam 2007, IUCN 2020 và được bảo vệ bởi
Chính Phủ Việt Nam (Nghị định 06/2019, Nghị định 64/2019).
2 Có từ 11 đến dưới 20 loài bò sát, ếch nhái.
Một tiểu khu rừng được phân vùng ưu tiên bảo tồn các loài bò sát, ếch nhái ở mức THẤP khi đáp ứng 02 (hai) tiêu chí sau:
1 Không có loài bò sát, ếch nhái đặc hữu, hoặc bị đe dọa
THẤP trong Sách Đỏ Việt Nam 2007, IUCN 2020 và được bảo vệ bởi Chính Phủ Việt Nam (Nghị định 06/2019, Nghị định 64/2019).
2 Có dưới 11 loài bò sát, ếch nhái.
CHƯA RÕ Các tiểu khu chưa đủ cơ sở dữ liệu để đánh giá
Kết quả tổng hợp, phân tích và đánh giá cho thấy các tiểu khu 516, 517, 533,
534, 535 được xếp hạng phân vùng ưu tiên bảo tồn các loài bò sát, ếch nhái ở cấp
55 độ CAO, do đáp ứng tiêu chí 1 của cấp độ ưu tiên này khi có lần lượt 2, 3, 3, 2, 2 loài quý hiếm, đặc hữu và đều ghi nhận số loài bò sát, ếch nhái lần lượt 29, 29, 26,
24, 20 loài (đáp ứng tiêu chí 2 của cấp độ ưu tiên CAO) Các tiểu khu này chủ yếu là rừng giàu, có hệ thủy dày đặc phân bố ở phía Tây của khu DTTN Động Châu - Khe Nước Trong Các tiểu khu 496, 522, 524, 525, 528, 529, 531, 538 được xếp hạng phân vùng ưu tiên bảo tồn các loài bò sát, ếch nhái ở cấp độ TRUNG BÌNH, do đáp ứng tiêu chí 1 của cấp độ ưu tiên này khi có 01 loài quý hiếm, đặc hữu Các tiểu khu này chủ yếu ở phía đông của KDTTN với phần lớn là rừng trung bình Các tiểu khu còn lại được xếp hạng phân vùng ưu tiên ở cấp độ THẤP, chi tiết xem bảng 4.6, hình 4.26 và phụ lục 4) Kết quả đề xuất phân khu ưu tiên bảo tồn nhằm cho các đơn vị chức năng cũng như đơn vị quản lý nắm rõ được tình trạng phân bố của các loài bò sát, ếch nhái tại khu vực nghiên cứu từ đó có hoạch định chính sách nhằm đưa ra các biện pháp để bảo tồn các bò sát, ếch nhái quý hiếm tại khu vực nghiên cứu.
Bảng 4.6 Số loài bò sát, ếch nhái ghi nhận được phân theo các tiểu khu rừng của
KDTTN Động Châu – Khe Nước Trong
Các loài quý hiếm, đặc hữu
Tên Rùa Rùa Nhái thông
Stt tiểu đầu bốn Tổng thường đất kè trường khu to mắt khác 1 sơn
1Loài thông thường là loài không có tên trong Sách Đỏ Việt Nam 2007, IUCN
2020, Nghị định 06/2019/NĐ-CP, Nghị định 64/2019/NĐ-CP và không phải loài đặc hữu.
Hình 4.26 Bản đồ phân vùng các khu vực ưu tiên bảo tồn các loài bò sát, ếch nhái tại KDTTN Động Châu – Khe Nước Trong
4.5.3 Các nhân tố đe dọa
Mặc dù công tác quản lý bảo vệ rừng và thực thi pháp luật đã được cán bộ KDTTN Động Châu - Khe Nước Trong thực hiện nghiêm túc và quyết liệt, tuy nhiên do xung quanh KDTTN chủ yếu là đồng bào dân tộc Vân Kiều, điều kiện dân sinh, kinh tế các xã vùng đệm còn nghèo, cuộc sống lệ thuộc vào tài nguyên rừng nên các hoạt động bất hợp pháp tác động tới tài nguyên rừng vẫn thường xuyên xảy ra Qua quá trình điều tra, nghiên cứu và phỏng vấn cán bộ, người dân sống trong và xung quanh vùng đệm của Khu DTTN Động Châu - Khe Nước Trong cũng như kinh nghiệm thực tế trong quá trình công tác tại khu vực thì hiện nay các mối đe đến khu hệ bò sát, ếch nhái của Khu DTTN Động Châu - Khe Nước Trong chủ yếu là :
Săn bắt: Hoạt động săn bắt, buôn bán và tiêu thụ trái phép động vật hoang dã là nguyên nhân chủ yếu khiến các quần thể động vật ở KVNC bị suy giảm, trong đó có các loài bò sát, ếch nhái Đây là nguy cơ đe dọa tiềm tàng nhất tới các quần thể động vật ở đây trong thời gian tới nếu tình trạng trên không được kiểm soát và ngăn chặn một cách triệt để Hình 4.27 là ảnh người dân Lâm Thủy đang chuẩn bị nướng
Hình 4.27 Săn bắt các loài bò sát ếch nhái làm thực phẩm tại Lâm Thủy
Hình thức săn bắt và sử dụng tùy theo từng nhóm loài: Đối với ếch nhái chủ yếu săn bắt vào ban đêm Thời điểm săn bắt chủ yếu vào tháng 4 đến tháng 9, sau các trận mưa với lượng mưa đủ lớn tạo nên các dòng chảy ớ các khe suối và các vũng nước đọng Thời điểm này phần lớn các loài ếch nhái tập trung bên các vũng nước, ao, hồ, khe suối để giao phối và sinh sản nên việc săn bắt dễ dàng hơn Săn bắt ếch nhái của người dân chủ yếu để làm thức ăn; Đối với bò sát người dân săn bắt cả ban ngày và ban đêm, nhưng chủ yếu vào ban đêm Thời điểm săn bắt từ tháng 3 đến tháng 11 hàng năm Nhiều quần thể trong nhóm này có số lượng cá thể giảm mạnh, tần xuất bắt gặp chúng ngoài tự nhiên ngày một nhỏ đặc biệt là các loài quý hiếm có giá trị kinh tế cao như: Rắn hổ mang, Tắc kè …