1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu tập tính sử dụng vùng sống của hai cá thể voọc cát bà (trachypithecus poliocephalus trouessart, 1911) tại vườn quốc gia cát bà, hải phòng​

141 12 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 141
Dung lượng 18,27 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

---MAI SỸ LUÂN NGHIÊN CỨU TẬP TÍNH SỬ DỤNG VÙNG SỐNG CỦA HAI CÁ THỂ VOỌC CÁT BÀ Trachypithecus poliocephalus TROUESSART, 1911 TẠI VƯỜN QUỐC GIA CÁT BÀ, HẢI PHÒNG Chuyên ngành: Quản lý tà

Trang 1

-MAI SỸ LUÂN

NGHIÊN CỨU TẬP TÍNH SỬ DỤNG VÙNG SỐNG CỦA HAI CÁ

THỂ VOỌC CÁT BÀ (Trachypithecus poliocephalus TROUESSART,

1911) TẠI VƯỜN QUỐC GIA CÁT BÀ, HẢI PHÒNG

LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP

Hà Nội, 2013

Trang 2

-MAI SỸ LUÂN

NGHIÊN CỨU TẬP TÍNH SỬ DỤNG VÙNG SỐNG CỦA HAI CÁ

THỂ VOỌC CÁT BÀ (Trachypithecus poliocephalus TROUESSART,

1911) TẠI VƯỜN QUỐC GIA CÁT BÀ, HẢI PHÒNG

Chuyên ngành: Quản lý tài nguyên rừng

Mã số: 60620211

LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

TS ĐỒNG THANH HẢI

Hà Nội, 2013

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Sau thời gian học tập và rèn luyện, khóa học Cao học Lâm nghiệp K19b (2011 - 2013) đã bước vào giai đoạn kết thúc Được sự nhất trí của của nhà trường

và Khoa đào tạo Sau đại học, tôi tiến hành thực tập tốt nghiệp với đề tài “Nghiên

cứu tập tính sử dụng vùng sống của hai cá thể Voọc Cát Bà (Trachypithecus poliocephalus Trouessart, 1911) tại Vườn Quốc gia Cát Bà, Hải Phòng” Sau

gần một năm thực hiện, đến nay đề tài đã hoàn thành.

Nhân dịp này, cho phép tôi được bày tỏ lời cảm ơn chân thành nhất tới TS Đồng Thanh Hải, người đã trực tiếp hướng dẫn và tận tình giúp đỡ, tạo mọi điều kiện thuận lợi trong quá trình nghiên cứu để tôi có thể hoàn thành đề tài này.

Xin chân thành cảm ơn các Thầy, Cô giáo thuộc khoa Đào tạo Sau đại học, Khoa QLBVTNR; Lãnh đạo và đồng nghiệp tại Dự án Bảo tồn Voọc Cát Bà, Vườn thú Munster đã động viên, giúp tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài.

Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn đến các nhân viên trạm Kiểm lâm Giỏ Cùng, Vạn Trà, cán bộ Vườn Quốc gia Cát Bà cùng bạn bè đồng nghiệp đã tạo điều kiện tốt nhất, giúp đỡ động viên và chia sẻ với tôi một phần công việc trong những ngày thu thập số liệu tại hiện trường.

Mặc dù đã rất cố gắng trong quá trình thực hiện, tuy nhiên do đối tượng nghiên cứu là loài ngoài tự nhiên, vì vậy rất khó thu thập số liệu một cách đầy đủ Hơn nữa, do điều kiện về thời gian và tư liệu tham khảo còn hạn chế nên luận văn chắc chắn không tránh khỏi thiếu sót Kính mong nhận được những ý kiến đóng góp, bổ sung của các nhà khoa học và các bạn đồng nghiệp để luận văn hoàn thiện hơn.

Tôi xin cam đoan Luận văn này là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu thu thập, kết quả xử lý, tính toán là trung thực và được trích dẫn rõ ràng.

Xin trân trọng cảm ơn!

Hà Nội, tháng 11 năm 2013

Mai Sỹ Luân

Trang 4

MỤC LỤC

Lời cảm ơn i

Mục lục ii

Danh mục các chữ viết tắt iv

Danh mục các bảng v

Danh mục các hình vi

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 3

1.1 Vùng sống và một số phương pháp nghiên cứu vùng sống 3

1.1.1 Khái niệm về vùng sống 3

1.1.2 Một vài phương pháp ước tính vùng sống đang được sử dụng 3

1.1.3 Kích thước vùng sống 4

1.1.4 Quãng đường di chuyển theo ngày 6

1.1.5 Nơi ngủ 7

1.2 Phân loại học 9

1.2.1 Phân loại học Linh trưởng Việt Nam 9

1.2.2 Vị trí phân loại của loài Voọc Cát Bà 11

1.2 Một số đặc điểm sinh thái và tập tính của loài Voọc Cát Bà 11

1.2.1 Đặc điểm hình thái loài Voọc Cát Bà 11

1.2.2 Sinh thái và tập tính 11

1.3 Các mối đe dọa 13

1.3.1 Săn bắn 13

1.3.2 Sự chia cắt quần thể 14

Chương 2 MỤC TIÊU - NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 15

2.1 Mục tiêu nghiên cứu 15

2.1.1 Mục tiêu chung 15

2.1.2 Mục tiêu cụ thể 15

2.2 Nội dung nghiên cứu 15

Trang 5

2.3 Phương pháp nghiên cứu 15

2.3.1 Phương pháp điều tra theo tuyến 17

2.3.2 Phương pháp xác định các đặc trưng tập tính sử dụng vùng sống 20

2.3.3 Phương pháp xác định và đánh giá các mối đe dọa 22

2.4 Phương pháp nội nghiệp 22

Chương 3 ĐẶC ĐIỂM KHU VỰC NGHIÊN CỨU 23

3.1 Đặc điểm tự nhiên 23

3.1.1 Vị trí địa lý, hành chính 23

3.1.2 Đặc điểm địa hình 24

3.1.3 Đặc điểm địa chất, thổ nhưỡng 25

3.1.4 Đặc điểm khí hậu thuỷ văn 27

3.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội 30

3.2.1 Đặc điểm kinh tế 30

3.2.2 Đặc điểm xã hội 31

3.3 Những thuận lợi và khó khăn của khu vực nghiên cứu 32

3.3.1 Những thuận lợi 32

3.3.2 Những khó khăn 33

Chương 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 34

4.1 Quãng đường di chuyển theo ngày 34

4.2 Kích thước vùng sống 40

4.3 Cường độ sử dụng sinh cảnh 51

4.4 Các mối đe dọa tới loài và sinh cảnh tại khu vực nghiên cứu 57

4.4.1 Các mối đe dọa 57

4.4.2 Đánh giá các mối đe dọa 64

4.5 Một số giải pháp nâng cao hiệu quả công tác bảo tồn và phát triển quần thể Voọc Cát Bà 66

KẾT LUẬN - TỒN TẠI - KHUYẾN NGHỊ 70 TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 7

DANH MỤC CÁC BẢNG

mang số hiệu 1696 từ tháng 11 năm 2012 đến tháng 4 năm 2013

mang số hiệu 1696 từ tháng 11 năm 2012 đến tháng 4 năm 2013

số hiệu 1833 từ tháng 11 năm 2012 đến tháng 4 năm 2013

Bà số hiệu 1833 từ tháng 11 năm 2012 đến tháng 4 năm 2013

Voọc Cát Bà với một số loài Voọc trong giống Trachypithecus

Sự khác nhau về kết quả ước tính kích thước vùng sống (km2)

hiệu 1696 từ tháng 11 năm 2012 đến tháng 4 năm 2013

Sự khác nhau về kết quả ước tính kích thước vùng sống (km2)

Trang 8

4.12 Tổng hợp các mối đe dọa theo mức độ tác động khác nhau

Trang 9

DANH MỤC CÁC HÌNH

2.2 Hệ thống tuyến điều tra tại khu vực nghiên cứu

4.1 Các điểm ghi nhận hai cá thể Voọc Cát Bà tại khu vực nghiên

cứu từ tháng 11 năm 2012 đến tháng 4 năm 2013

4.11 Cường độ sử dụng sinh cảnh của Voọc mang số hiệu 16964.12 Cường độ sử dụng sinh cảnh của Voọc mang số hiệu 1833

Trang 10

4.20 Chèo cai-ack trong khu bảo tồn

Trang 11

ĐẶT VẤN ĐỀ

Voọc Cát Bà (Trachypithecus poliocephalus Trouessart, 1911) là một

trong 6 loài Linh trưởng đặc hữu của Việt Nam [48], kể từ năm 2000 Voọc Cát

Bà đã được xếp vào một trong 25 loài Linh trưởng nguy cấp nhất trên thế giới[40, 41, 42] Về tình trạng bảo tồn, Voọc Cát Bà được xếp loại có nguy cơtuyệt chủng cao cấp - CR (Critically Endangered) trong sách đỏ IUCN 2013[34], Sách đỏ Quốc gia của Việt Nam [1] và cũng thuộc nhóm IB Nghị định

32 (32/2006/NĐ-CP) của Thủ tướng Chính phủ [2]

Theo báo cáo trước đây, Voọc Cát Bà phân bố ở đảo Cái Chiêm, tỉnhQuang Ninh [8] Tuy nhiên, những ghi nhận gần đây cho thấy Voọc Cát Bà chỉtìm thấy tại Vườn Quốc gia Cát Bà, đảo Cát Bà là nơi duy nhất nuôi dưỡngquần thể Voọc Cát Bà với số lượng khoảng 120 - 150 cá thể năm 1998 [9],

104 - 135 cá thể năm 2000 [47], 52 - 54 cá thể năm 2003 [57] và 60 - 70 cáthể năm 2009 [56]

Cho đến nay, đã có một số công trình nghiên cứu về cấu trúc, đặc điểmsinh thái, tập tính và sự phân bố của loài Voọc Cát Bà đã được công bố [8, 47,

51, 53] Kết quả nghiên cứu đã bổ sung những hiểu biết về sinh thái và tậptính của loài Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu đề cập tới kích thước sửdụng vùng sống của loài này vẫn còn khá ít cả về số lượng và nội dung nghiêncứu Một số tác giả đã đề cập đến độ rộng sử dụng vùng sống của Voọc Cát

Bà, tuy nhiên các nghiên cứu này chỉ dừng lại ở việc ước tính kích thước vùngsống và mô tả vị trí một vài nơi ngủ của chúng [7, 8, 51] Hiện tại chưa cócông trình nghiên cứu nào đề cập đến độ dài di chuyển theo ngày cũng nhưcường độ sử dụng sinh cảnh của Voọc Cát Bà ở Việt Nam

Theo Burt (1943), vùng sống của một loài động vật có liên quan chặtchẽ tới sinh thái và tập tính của mỗi loài thông qua các hoạt động thường ngàycủa chúng, như kiếm ăn, giao phối và chăm sóc con non [22] Do vậy, nghiên

Trang 12

cứu về tập tính sử dụng vùng sống là một nội dung quan trọng, giúp ích cho việchiểu biết về tập tính sinh thái Mặt khác, theo Bekoff và Mech (1984), nghiêncứu tập tính sử dụng vùng sống vừa là những hoạt động cần thiết để hiểu biết vềsinh thái và tập tính của một loài động vật, đồng thời tạo nền tảng cơ sở cho việcxây dựng các hoạt động bảo tồn động vật hoang dã hiệu quả [50].

Do sự săn bắt, cộng với sự phát triển của xã hội thì quần thể Voọc Cát

Bà đã bị chia cắt một cách nghiêm trọng, một số đàn chỉ còn lại toàn cá thểcái Hai cá thể Voọc cái bị cô lập tại đảo Đồng Công trong nhiều năm do rừngngập mặn được chúng sử dụng như một chiếc cầu nối tự nhiên tới đảo chính

đã bị phá hủy để làm đầm nuôi tôm Hai cá thể này coi như đã bị tuyệt chủng

về phương diện sinh thái học, chúng không có ý nghĩa trong bảo tồn nếukhông có sự can thiệp của con người Vào ngày 11 tháng 11 năm 2012 hai cáthể Voọc cái đã được bắt và di dời thành công từ bán đảo Đồng Công tới khubảo tồn Voọc nơi có các cá thể Voọc đực sinh sống với hy vọng chúng có thểsinh sản Mỗi cá thể Voọc cái này đã được gắn thiết bị GPS đeo cổ nhằm thuthập thông tin về sự di chuyển, thói quen và sự sinh sản của chúng

Với mong muốn được góp phần nghiên cứu và bảo tồn loài Voọc Cát

Bà ở Việt Nam, tôi tiến hành thực hiện đề tài “Nghiên cứu tập tính sử dụng

vùng sống của hai cá thể Voọc Cát Bà (Trachypithecus poliocephalus

Trouessart, 1911) tại Vườn Quốc gia Cát Bà, Hải Phòng”.

Số liệu thu thập được và kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ bổ sung thêmthông tin về vùng sống, góp phần vào nâng cao hiểu biết về vùng sống và tập

tính sử dụng vùng sống của loài Voọc Cát Bà (Trachypithecus poliocephalus)

tại khu vực nghiên cứu, là cơ sở khoa học cho việc đưa ra các giải pháp quản

lý bảo tồn loài Linh trưởng quý hiếm này ở Việt Nam

Trang 13

Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Vùng sống và một số phương pháp nghiên cứu vùng sống

1.1.1 Khái niệm về vùng sống

Vùng sống của mỗi loài động vật được định nghĩa là “Khu vực dichuyển bởi các cá thể trong các hoạt động bình thường của chúng cho việctìm kiếm thức ăn, giao phối và chăm sóc con non” [22]

Phân tích vùng sống của một loài động vật là việc vạch ra khu vực màcác loài đó tiến hành các hoạt động bình thường Burt (1943), ghi lại những vịtrí mà các cá thể đã được ghi nhận quan sát Những thông tin ghi nhận từ việcnghiên cứu và phân tích vùng sống có thể được sử dụng để kiểm tra các họcthuyết cơ bản liên quan tới tập tính của động vật, sử dụng nguồn tài nguyên,

sự phân bố quần thể hoặc kiểm tra sự tương tác lẫn nhau giữa các cá thể trongquần thể [23]

Kích thước vùng sống có thể chịu ảnh hưởng của nhân tố chủ quan vàkhách quan Theo Burt (1943), kích thước vùng sống có thể thay đổi theo giớitính, mùa, mật độ quần thể và có thể theo độ tuổi Ngoài ra, sự thay đổi kíchthước vùng sống của đàn còn chịu ảnh hưởng của kích thước đàn [61] Trongkhi đó, một số ý kiến khác về các loài Linh trưởng lại cho rằng, kích thướcvùng sống tương quan với trọng lượng cơ thể [39]

Ngoài những nhân tố chủ quan kể trên, ước tính kích thước vùng sốngchịu ảnh hưởng của việc lựa chọn kỹ thuật, phương pháp ước tính Độ chínhxác kích thước vùng sống khi ước tính bị thay đổi khi áp dụng phương pháp

hệ thống ô lưới trong việc sử dụng các kích thước ô lưới khác nhau [30]

1.1.2 Một vài phương pháp ước tính vùng sống đang được sử dụng

Hiện nay, có nhiều phương pháp được sử dụng để phân tích, ước tínhkích thước vùng sống Trên cơ sở, xác định vị trí các điểm nghiên cứu vềvùng sống nói chung, phân tích vùng sống có thể chia thành 4 phương pháp:

Trang 14

Đa giác lồi tối thiểu (Minimum convex polygons).

Mô hình 2 biến số thông thường (Bivariate normal models)

Mô hình phi tham số (Nonparametric models)

Mô hình đường đồng mức (Contouring models)

Nguồn: Carr &, Rodger 2002 [23]

Trong nghiên cứu và ước tính vùng sống của các loài Linh trưởng, cácnhà khoa học thường sử dụng một số phương pháp như: phương pháp ô lưới(Grids cell - GC); đa giác lồi tối thiểu (Minimum convex polygons - MCP);phương pháp đa giác lồi tối thiểu có điều chỉnh (Adjusted minimum convexpolygons - Ajusted MCP)

Việc áp dụng các phương pháp ước tính vùng sống khác nhau trên cùngmột đối tượng có thể cho các kết quả khác nhau Ngoài ra, khi áp dụng phươngpháp ô lưới với mỗi loại kích thước ô lưới khác nhau (Tỉ lệ bản đồ khác nhau)cũng có thể làm thay đổi khá lớn kích thước vùng sống [23] Chẳng hạn, khinghiên cứu về việc lựa chọn phương pháp ước tính vùng sống của loài Voọc mũi

hếch Vân Nam (Rhinopithecus bieti), Grueter và ctv (2008), nhận thấy kích

thước vùng sống theo hàng tháng có sự thay đổi đáng kể với mỗi phương pháp,(MCP - 16,96 km2; Adjust MCP - 14,52 km2; và GC

-1,06 km2) Ngoài ra, kết quả nghiên cứu từ nhóm tác giả cũng cho thấy tổngkích thước vùng sống tăng từ 24,75 km2 lên 34,25 km2 khi tăng kích thước ôlưới 250m lên 500m [23]

1.1.3 Kích thước vùng sống

Kích thước vùng sống của nhóm khỉ ăn lá khác nhau tùy thuộc vào mỗiloài, có thể biến đổi từ vài chục cho tới hàng trăm ha, kích cỡ vùng sống cònthay đổi hàng tháng và chịu ảnh hưởng bởi số lượng cá thể trong đàn hoặc

kích cỡ quần thể Đối với loài Voọc mũi hếch (Rhinopithecus avunculus) kích

thước vùng sống của một đàn gồm 32 cá thể là 2,185 km2 [12], Voọc đỏ

Trang 15

(Presbytis rubicinda) được ghi nhận chỉ từ 3,3 - 9,9 ha [35], đối với loài Vượn cao vít (Nomascus nasutus) được ước lượng khoảng 130 ha cho mỗi nhóm

Fan Peng-Fei (2011)

Một vài tác giả khi nghiên cứu về vùng sống của một số các loài khỉ ăn

lá cho thấy kích thước vùng sống có liên quan tới chất lượng cũng như sựphân bố theo không gian và thời gian của nguồn thức ăn [38] Theo Li &

Rogers (2004), chất lượng nơi sống của loài Voọc má trắng (Trachypithecus francoisi) tăng lên được thể hiện ở số loài thức ăn ưa thích của chúng nhiều

hơn, điều này cũng sẽ làm tăng sự hấp dẫn của các con cái từ phía con đực, do

đó kích cỡ trong đàn tăng lên, phù hợp với chất lượng nơi sống tăng [36].Trong khi đó theo Boonratana (2000), tỉ lệ lượng hoa và quả trong chế độ ăncủa chúng sẽ làm ảnh hưởng tới kích thước vùng sống

Bảng 1.1: Kích thước vùng sống của một số loài khỉ ăn lá Châu Á

Trang 16

al (2008) khi nghiên cứu về loài Khỉ vòi (Nasalis larvatus) nhận thấy, mức

độ sẵn có của các loại quả ảnh hưởng tới vùng sống của chúng Nhóm tác giảcho rằng sự sẵn có của nguồn thức ăn và mối nguy hiểm từ sự xuất hiện củacác loài ăn thịt ảnh hưởng chính tới vùng phân bố của loài [38]

1.1.4 Quãng đường di chuyển theo ngày

Độ dài quãng đường di chuyển trong ngày là một tiêu chí quan trọng,

có liên quan tới tập tính sử dụng vùng sống của loài Theo Burt (1943), hoạtđộng thường ngày của một loài động vật là được thể hiện thông qua việc dichuyển kiếm ăn, giao phối và chăm sóc con non [22] Do vậy, khi nghiên cứuvùng sống của một số loài Linh trưởng, một số tác giả cho thấy độ dài dichuyển trong ngày có liên hệ với tập tính sử dụng vùng sống của mỗi loài, baogồm: Mức độ phong phú, tính sẵn có và sự phân bố của các loài thức ăn [38]

Nguyễn Vĩnh Thanh (2008) cho rằng chiều dài trung bình di chuyển

trong ngày của mỗi đàn Voọc mông trắng (Trachypithecus delacouri) là khác

nhau (666,3 - 781m) Kết quả phân tích thống kê cho thấy, sự khác nhaukhông có ý nghĩa Theo tác giả, chiều dài di chuyển trong ngày lớn nhất củaloài này được ghi nhận tháng 4 năm 2006 vào thời điểm lượng thức ăn cungcấp cho loài là nhiều nhất Tuy nhiên, kết quả phân tích mối liên hệ cho thấy

có khác biệt rõ rệt giữa độ dài di chuyển trong ngày với vật hậu học của cácloài thực vật làm thức ăn cho chúng

Quãng đường di chuyển trong ngày cũng thay đổi theo các mùa khácnhau, điều này được giải thích cơ bản thông qua sự chênh lệch về mức độ phong

phú của các nguồn thức ăn ưa thích giữa các mùa cũng khác nhau Zhou et al.

2006, khi nghiên cứu về loài Voọc đầu trắng, nhận thấy chiều dài di chuyển khácnhau lần lượt giữa mùa khô và mùa mưa là 403m so với 471m [65]

Độ dài di chuyển trong ngày của loài Khỉ vòi lớn hơn khá nhiều so vớimột số loài kể trên, có thể thay đổi phạm vi lớn từ vài trăm đến hàng nghìn

Trang 17

mét [64] Kết quả nghiên cứu của Boonratana (2000) chỉ ra rằng, không có sựtương quan giữa các yếu tố gồm: Lượng mưa hàng tháng, lượng lá non, lượnghoa, quả với chiều dài quãng đường di chuyển trong ngày Duy nhất, tỉ lệthành phần lá non trong khẩu phần ăn của loài này tương quan với chiều dàiquãng đường di chuyển trong ngày Theo tác giả, khi lượng lá non nhiều hơncác loại quả trong chế độ ăn của chúng, độ dài quãng đường di chuyển sẽ lớnhơn, điều này cũng đồng nghĩa đây là thời điểm cho thấy sự đa dạng trongkhẩu phần ăn của loài này cũng tăng lên Ngoài ra, sự gia tăng độ dài dichuyển trong ngày của loài có thể do chúng đã thăm dò, thám hiểm xungquanh và kiếm ăn trên nhiều loại thức ăn [38].

1.1.5 Nơi ngủ

Nơi ngủ của một vài loài trong nhóm khỉ ăn lá được ghi nhận là khá đadạng, bao gồm: Hang [31, 63, 64, 65], vách đá, rìa đá, bờ đá [16, 31, 63, 64,65] và trên cây [21, 38, 63] Trong số này riêng loài Khỉ tây tạng được ghinhận là ngủ trên 5 dạng khác nhau [63] Tuy nhiên, theo ghi nhận của nhómtác giả, loài Voọc đầu trắng sử dụng hang ngủ chỉ là tạm thời, khi trong quátrình di chuyển trên đường bất ngờ bị gián đoạn bởi mưa to [65]

Tập tính sử dụng và lựa chọn nơi ngủ của một vài loài trong nhóm khỉ

ăn lá được các tác giả cho rằng để hạn chế sự nguy hiểm và bị phát hiện bởi

những loài động vật ăn thịt [64] Theo Zhou et al (2009), trong suốt quá trình

di chuyển theo hướng vào nơi ngủ, loài Voọc đầu trắng thường di chuyển rấtnhanh nhẹn nhằm hạn chế sự phát hiện của kẻ thù; sau khi rời khỏi nơi kiếm

ăn cuối cùng, chúng thường dành khoảng 30 phút để nghỉ ngơi tại khu vựcgần nơi ngủ nhất trước khi ngủ Thời gian ngủ của loài này được ghi nhậntrong khoảng từ 18h30 đến 19h50, thường sớm vào mùa đông, mùa xuân vàmuộn hơn vào mùa hè, mùa thu; trước và trong quá trình ngủ, chúng luôn giữyên lặng [65] Theo các nghiên cứu của Nguyễn Hải Hà (2003), Nguyễn

Trang 18

Mạnh Hà (2006) đều chỉ ra rằng một điều khá đặc biệt về nơi ngủ của loài

Voọc Hà Tĩnh (Trachypithecus laotum hatinhensis) đó là, chúng không thay

đổi nơi ngủ trong nhiều năm, chúng thường chọn các hang nhỏ và vách đá đểngủ Đây là các vị trí bảo vệ chúng khá tốt, tránh được mưa ướt, khí hậu lạnhcũng như tránh được kẻ thù ngoài tự nhiên Độ cao của một số nơi ngủkhoảng từ 29 - 50m [9, 31]

Loài khỉ vòi thường chọn nơi ngủ là những cây gần bờ sông [21, 38]

Theo Matsuda et al 2008, vùng sống chính của loài này chạy dọc theo bờ

sông, điều này được giải thích thông qua tập tính đặc trưng của loài là quaytrở lại những cây ven bờ sông cho việc ngủ đêm Những cây ven bờ sông cóthể là nơi an toàn cho việc tránh những sự nguy hiểm từ những loài ăn thịttrên mặt đất Ngoài ra khu vực diễn ra các hoạt động thường xuyên nhất củaloài Khỉ vòi được ghi nhận là nơi có khoảng cách tới bờ sông gần hơn nhữngkhu vực khác, điều này được giả định rằng chúng là loài thích chọn vị trí ngủnơi bờ sông để thuận lợi cho việc di chuyển, hạn chế sự đe dọa từ những loài

ăn thịt [38]

Các vị trí ngủ được lựa chọn làm nơi diễn ra phần lớn các hoạt độngcủa chúng, gần những nơi kiếm ăn chính hoặc cũng có thể là khu vực kiếm ăncuối cùng trong ngày và kiếm ăn đầu tiên của ngày hôm sau [65]

Một số loài trong nhóm Khỉ ăn lá thường có tập tính ngủ tại một nơitrong nhiều đêm liên tiếp [64, 65] Theo Zhao và Deng (1988) loài Khỉ tâytạng thường ngủ sau khi kiếm ăn trên một khu vực ổn định (an toàn) nào đó,đàn sẽ quay lại những vị trí ngủ gần kề để ngủ [64]

Phạm Nhật (2002), chỉ ra rằng trong mỗi vùng sống Voọc Cát Bà

(Trachyithecus poliocephalus poliocephalus) có 2 hoặc 3 nơi ngủ, nhìn chung

nơi ngủ của các phân loài thuộc nhóm Voọc đen tương đối giống nhau, đó làcác vách đá trong thung lũng khuất gió Chưa gặp nơi ngủ nào hướng ra biển

Trang 19

Mùa nóng Voọc thường ngủ trên các gờ đá phía ngoài của hang, mùa lạnh chúng chui vào hang để ngủ [8].

1.2 Phân loại học

1.2.1 Phân loại học Linh trưởng Việt Nam

Quan điểm về phân loaịthúLinh trưởng ởViêṭNam thay đổi theo thờigian và rất khác nhau giữa các tác giả Chẳng hạn, theo phân loại của PhạmNhật (2002) cho rằng thú Linh trưởng Việt Nam bao gồm 25 loài và phân loài

thuộc 3 họ; Roos (2004) và Tilo Nadler et al (2007) cho rằng thú Linh trưởng

Việt Nam bao gồm 24 loài và phân loài thuộc 3 họ Trong khi đó Groves(2004) chỉ ra rằng Việt Nam có 24 loài và phân loài, trong đó có 6 loài và phân

loài là đặc hữu của Việt Nam: gồm Voọc mũi hếch (Rhinopithecus avunculus), Voọc mông trắng (Trachypithecus delacouri), Voọc Cát Bà (Trachypithecus policocephalus poliocephalus), Chà vá chân xám (Pygathrix nemaeus cinerea), Khỉ đuôi dài Côn Đảo (Macaca fascicularis condorensis), Vượn đen Cao Vít (Nomascus nasutus nasutus) Tuy có sự khác nhau về số lượng loài và

phân loài, nhìn chung các tác giả đều thống nhất rằng khu hệ thú Linh trưởng ởViệt Nam có 3 ho ̣chính: Ho ̣Cu li (Loridae), ho ̣Khỉ (Cercopithecidae) vàho ̣Vươṇ (Hylobatidae)

Theo hệ thống phân loại của Groves (2004) khu hệ thú Linh trưởng ViệtNam được trình bày ở bảng dưới đây

Trang 20

Bảng 1.2: Phân loại khu hệ thú Linh trưởng Việt Nam theo Grove (2004)

Trang 21

24 Vượn má hung

Trang 22

1.2.2 Vị trí phân loại của loài Voọc Cát Bà

Trong luâṇ văn này, sử dụng hê ̣thống phân loại thú Linh trưởng theo hệthống phân loại của Groves (2004) vì đây là hệ thống phân loại phản ánh đẩy

đủ phân loại học của khu hệ thú Linh trưởng Việt Nam và được các nhà khoahọc đang sử dụng rộng rãi Vị trí phân loại của Voọc Cát Bà hiện nay như sau:

Bộ Linh trưởng - Primates

Họ Khỉ, Voọc - Cercopithecidae

Họ phụ Voọc - Colobinae

Giống - Trachypithecus

Voọc Cát Bà- Trachypithecus poliocephalus

1.2 Một số đặc điểm sinh thái và tập tính của loài Voọc Cát Bà

1.2.1 Đặc điểm hình thái loài Voọc Cát Bà

Đặc điểm nhận biết: Voọc Cát Bà có bộ lông dày nhưng sợi lông hơi

thô và cứng Con trưởng thành có lông đầu và vai màu vàng nhạt hoặc trắngvàng Vùng mông màu xám nhạt Đầu có mào lông với gốc lông vàng nhạt,mút lông phớt xám Đuôi dài, thon, dày lông và màu đen Lông con non mớisinh màu vàng cam [8]

Kích thước: Dài đầu và thân 57,0 cm; dài đuôi 79,0 - 80,0 cm; dài chi

trước 12,0 - 14 cm; dài chi sau 16,0 cm; cao tai 4,0 cm, trọng lượng cơ thể 9,0

- 9,1 kg [62]

1.2.2 Sinh thái và tập tính

Sinh cảnh sống: Voọc Cát Bà sống trong kiểu rừng trên núi đá ở đảo

Cát Bà Tuy nhiên, nơi sống của chúng rất khác nhau: rừng giàu, rừng nghèo

và thậm chí cả ở những chỗ núi đá có cây bụi và dây leo [8]

Thức ăn: Trong khẩu phần thức ăn của Voọc Cát Bà bao gồm các thành

phần thực vật như: lá, chồi non, cuộng lá và quả cây rừng Phạm Nhật (2002)

Trang 23

đã ghi nhận 98 loài thực vật được Voọc Cát Bà sử dụng làm thức ăn, trong đó

90 loài được Voọc sử dụng lá chồi non, 30 loài được ăn quả, 2 loài được ăn củ

và 1 loài được ăn thân [8]

Tổ chức đàn: Theo ghi nhận của Nguyễn Phiên Ngung (1997), đơn vị

xã hội cơ bản của Voọc Cát Bà là 1 đực thường đi với 2 đến 3 cá thể cái cùngcác con non ở các thế hệ khác nhau [7] Theo Nadler và Hà Thanh Long

(2000); Rode et al (2009), kích thước trung bình trong đàn thay đổi từ 6 - 10

cá thể [47, 51] Phạm Nhật (2002) cho biết, số lượng con trong đàn thay đổi từ

5 - 15 con, kích thước đàn trong khoảng 7 - 10 con hay gặp hơn [8] Trong khi

đó Schrudde (2009), lại cho rằng hai đàn Voọc ở khu bảo tồn có số lượng lớncác cá thể đực, chứ không phải là kết cấu đàn như vẫn thường thấy là có mộtcon đực đầu đàn với một vài con cái và các đời con, cháu [55] Tuy có sự khácnhau về kích thước đàn, nhìn chung tổ chức đàn của Voọc Cát Bà gồm kiểuđơn vị 1 đực trưởng thành vài cá thể cái và các con non ở các thế hệ khácnhau

Tập tính xã hội: Voọc Cát Bà sống thành đàn, các tập tính xã hội của

Voọc Cát Bà đã ghi nhận được bao gồm: di chuyển, nghỉ ngơi, chuốt lông, nô

đùa và các hoạt động khác [8, 47, 51, 53] Rode et al (2009) chỉ ra rằng, nghỉ

ngơi là tập tính chiếm tỷ lệ lớn nhất (66%) ở Voọc Cát Bà [51]

Di chuyển và kiếm ăn: Voọc Cát Bà hoạt động ngày, kiếm ăn ngày haibuổi sáng và chiều, trưa nghỉ, hoạt động kiếm ăn của Voọc Cát Bà chủ yếu ởtrên cây Cường độ kiếm ăn của chúng diễn ra mạnh vào từ đầu buổi sáng vàgiảm dần lúc gần trưa [8]

Sinh sản: Hiện tại chưa có nghiên cứu nào về sinh sản của Voọc Cát Bà,

theo ghi nhận của Phạm Nhật (2002) cho rằng Voọc Cát Bà có khả năng sinhsản ở các tháng khác nhau của năm Đã gặp con mẹ mang con non từ tháng 2đến tháng 11, tuy nhiên, mùa gặp con mẹ mang con non nhiều nhất từ tháng 4đến tháng 10 [8]

Trang 24

1.3 Các mối đe dọa

1.3.1 Săn bắn

Săn bắn đã từng diễn ra rất phổ biến trên toàn bộ vùng phân bố củaVoọc Cát Bà Đây cũng là mối đe dọa chính và là nguyên nhân trực tiếp củaviệc suy giảm số lượng đối với hầu hết các loài động vật trên đảo Cát Bà, đặcbiệt đối với quần thể Voọc Cát Bà và ước tính từ 2500 - 2800 cá thể vàonhững năm 1960 xuống còn 53 cá thể vào năm 2000, điều này cho thấy sốlượng bị giảm đi 98% chỉ trong 40 năm [58] Kết quả nghiên cứu của Nadler

và Ha Thanh Long (2000) cho thấy khoảng 500 đến 800 con Voọc Cát Bà đã

bị bắn trong gia đoạn từ 1970 - 1986 [47] Nadler và Ha Thanh Long (2000)chỉ ra rằng mỗi xã trên đảo Cát Bà có một nhóm thợ săn thông thường từ 3đến 5 người họ ở trong rừng khoảng 1đến 2 tuần để lấy mật ong, trong thờigian này, không thể mang đầy đủ thịt làm thức ăn do vậy, họ săn bắn động vậthoang dã làm thức ăn thay thế [47]

Stenke (2001) cho biết: Tháng 1 năm 2000 có thông tin một đàn Voọc

đã bắt 9 con tại khu vực bảo tồn, chỉ còn 2 con thoát và bị thương rất nặng.Tháng 4 năm 2001 kiểm lâm Vườn Quốc gia Cát Bà đã truy đổi 2 thợ săn và

đã thu hai khẩu súng tại khu vực Vạn Tà [13]

Ngoài việc sử dụng thịt Voọc Cát Bà làm thức ăn, chúng còn là nguyênliệu để chế biến thuốc chữa bệnh, hoặc dùng để nấu cao [47]

Mặc dù trường hợp báo cáo gần đây nhất về việc một cá thể Voọc Cát

Bà bị thợ săn giết vào năm 2001 Tuy nhiên, săn bắn vẫn là một mối đe dọalớn nhất đối với sự sinh tồn của loài Voọc Cát Bà [54, 55, 56] Áp lực của việcsăn bắt lên các loài động vật khác vẫn đang rất lớn Buôn bán động hoang dãtrái phép là một vấn đề hết sức nan giải ở Việt Nam và việc Voọc Cát Bà ngàymột hiếm càng làm tăng giá trên thị trường các sản phẩm chế

Trang 25

biến từ Voọc, do đó làm tăng nguy cơ chúng bị săn bắt Thực tế trước đây chothấy Voọc Cát Bà là một con mồi rất dễ đối với những thợ săn có súng.

Nghiên cứu của Stenke & Canh (2004); Stenke et al (2008) chỉ ra rằng

có một số tiểu quần thể Voọc Cát Bà chỉ còn lại những cá thể cái sống trênmột số hòn đảo bị cô lập, chúng không thể giao lưu với các đàn khác, do đóchúng không có khả năng sinh sản góp phần vào tăng kích thước quần thể [59,60] Những nhóm Voọc khác cũng gần như bị mắc kẹt trong những khu vực bịvây quanh bởi nước, đường xá, nơi định cư của người dân, và những diện tíchcanh tác nông nghiệp [56]

Trang 26

Chương 2 MỤC TIÊU - NỘI DUNG

VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Mục tiêu nghiên cứu

2.1.1 Mục tiêu chung

Xây dựng cơ sở dữ liệu về vùng sống và tập tính sử dụng vùng sống của

hai cá thể Voọc Cát Bà (Trachypithecus poliocephalus) góp phần nâng cao hiệu

quả công tác bảo tồn và phát triển loài Voọc quý hiếm này tại Việt Nam

2.1.2 Mục tiêu cụ thể

1 Xác định vùng sống và tập tính sử dụng vùng sống của hai cá thể Voọc Cát Bà tại khu vực nghiên cứu

2 Đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả công tác bảo tồn và phát triển quần thể Voọc Cát Bà tại khu vực nghiên cứu

2.2 Nội dung nghiên cứu

1 Nghiên cứu quãng đường di chuyển theo ngày của hai cá thể Voọc Cát Bà tại khu vực nghiên cứu

2 Xác định độ rộng vùng sống của hai cá thể Voọc Cát Bà tại khu vực nghiên cứu

3 Xác định cường độ sử dụng sinh cảnh của hai cá thể Voọc Cát Bà tại khu vực nghiên cứu

4 Đánh giá các mối đe dọa đối với loài Voọc Cát Bà và sinh cảnh tại khu vực nghiên cứu

5 Đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả công tác bảo tồn và phát triển quần thể Voọc Cát Bà tại Vườn Quốc gia Cát Bà

2.3 Phương pháp nghiên cứu

Công tác chuẩn bị

Tham khảo các tài liệu liên quan đến các vấn đề nghiên cứu bao gồm:điều kiện tự nhiên, dân sinh kinh tế xã hội, thu thập, tổng hợp và phân tích tài

Trang 27

liệu hiện có về các đặc điểm sinh học sinh thái và tập tính sử dụng vùng sốngcủa Voọc Cát Bà, tìm hiểu về Vườn Quốc gia Cát Bà, Hải Phòng.

Chuẩn bị các trang thiết bị và dụng cụ cần thiết cho công tác điều trangoại nghiệp: Thiết kế các bảng biểu phục vụ cho việc thu thập số liệu, nhật

ký thực tập, hệ thống radio tracking, ống nhòm, máy ảnh, la bàn, GPS cầmtay, bản đồ địa hình, xuồng cao tốc 25cv và kinh phí

Các thiết bị nghiên cứu

Bảng 2.1: Các thiết bị phục vụ nghiên cứu

Trang 28

Hình 2.1: Các thiết bị nghiên cứu

Điều tra ngoại nghiệp

2.3.1 Phương pháp điều tra theo tuyến

Do đặc thù của khu vực nghiên cứu là đảo bao gồm hệ sinh thái rừngtrên cạn và hệ sinh thái biển Chính vì vậy, hai hệ hệ thống tuyến điều trađược thiết lập: (1) Tuyến điều tra trên rừng và (2) Tuyến điều tra trên biển,được thể hiện như hình dưới đây

Trang 29

Hình 2.2: Hệ thống tuyến điều tra tại khu vực nghiên cứu

Hệ thống tuyến điều tra rừng trên cạn (rừng): Tuyến điều tra được sử

dụng để xác định vùng sống của hai cá thể Voọc trong khu vực nghiên cứu.Nguyên tắc lập tuyến: Dựa trên bản đồ địa hình, tỉ lệ: 1/25.000, bản đồ phân

bố thảm thực vật và kết hợp khảo sát thực tế, tôi đã xác lập hệ thống tuyếnđiều tra Tuyến điều tra được thiết lập dựa trên các lối mòn có sẵn hoặc tạomới đi qua các dạng sinh cảnh khác nhau Đặc biệt, các tuyến đi qua các khuvực có sự xuất hiện của hai cá thể Voọc Cát Bà Chiều dài của mỗi tuyến trongkhoảng 2,5 - 3,5 km tùy thuộc vào địa hình của mỗi tuyến

Trang 30

Trong quá trình điều tra trên tuyến, các yêu cầu và nguyên tắc trongđiều tra ngoại nghiệp luôn được tuân thủ như: di chuyển nhẹ nhàng, khôngnói chuyện, không hút thuốc và di chuyển với tốc độ 1,5 - 2,5 km/giờ [11].

Hệ thống tuyến điều tra trên biển: Dựa trên bản đồ địa hình và kết hợp

khảo sát thực tế, tôi đã xác lập hệ thống tuyến điều tra trên biển Tuyến điềutra được thiết lập đi qua các khu vực có khả năng xuất hiện của hai cá thểVoọc Cát Bà Xuồng cao tốc được sử dụng trong quá trình điều tra tuyến, dichuyển trên tuyến với tốc độ 5 - 10 km/h, chiều dài mỗi tuyến 4 - 10km, cóthể phải di chuyển lặp lại nhiều lần trên tuyến trong ngày điều tra

Ngoài ra, có thể kết hợp cả tuyến trên biển và tuyến trên rừng, sau khi

đã điều tra tuyến trên biển lặp lại nhiều lần nhưng không phát hiện được hai

cá thể Voọc Cát Bà (không tải được dự liệu về máy)

Trên tuyến điều tra sử dụng hệ thống radio để dò tìm tín hiệu hai cá thểVoọc Cát Bà đã được gắn thiết bị phát tần số và GPS đeo cổ, khi hệ thốngradio nhận tín hiệu và phát ra tiếng kêu, đồng nghĩa với Voọc ở gần khu vựcquan sát, di chuyển chậm, dò tìm và quan sát cẩn thận, tránh gây tiếng ồnhoặc làm ảnh hưởng đến chúng Sử dụng Antenna di chuyển các hướng khácnhau để tìm tín hiệu radio lớn nhất, khi đó chúng ta xác định được hướng xuấthiện của Voọc Lúc này chúng ta lắp hệ thống máy BaseStation với antenna đểtải dữ liệu từ thiết bị GPS đeo cổ Voọc (ngay cả chúng ta không quan sát trựctiếp chúng ngoài hiện trường bằng mắt thường hoặc bằng ống nhòm)

Nếu có thể quan sát bằng mắt thường hoặc bằng ống nhòm, chú ý quansát các dấu hiệu nhận biết, các cá thể đặc biệt trong đàn như cá thể được gắnthiết bị GPS đeo cổ, điều này sẽ giúp cho việc nhận dạng và phân biệt với cácđàn khác, đồng thời cũng cho biết hai cá thể có thiết bị GPS đeo cổ có đi cùngnhau hay không cũng như khả năng tách và gia nhập đàn mới của chúng

Trang 31

2.3.2 Phương pháp xác định các đặc trưng tập tính sử dụng vùng sống

Chiều dài quãng đường di chuyển theo ngày

Hai cá thể Voọc Cát Bà sau thả được gắn thiết bị GPS đeo cổ, thiết bịnày đã được cài đặt sẵn, cứ 2 tiếng đồng hồ nó sẽ ghi lại tọa độ một điểm từ 5giờ đến 17 giờ hàng ngày, điều này có nghĩa là trong mỗi ngày thiết bị GPSđeo cổ Voọc sẽ ghi lại 7 vị trí của Voọc ngoài thực địa Tuy nhiên, không phảitất cả các ngày trong tháng đều có thể ghi được 7 tọa độ, có thể ít hơn vì cònphụ thuộc vào thời tiết, vị trí của Voọc ngoài thực địa cũng như độ mạnh yếucủa vệ tinh Việc ước tính quãng đường di chuyển theo ngày được tính thôngqua xác định tổng khoảng cách thẳng giữa 5 điểm ghi nhận Voọc liên tiếptrong từng ngày của tháng Điểm đầu tiên được tính từ 5 - 7 giờ, điểm cuốiđược tính từ 15 - 17 giờ hàng ngày (hai tiếng lấy mẫu một lần) Đây là thờiđiểm rời hang và về hang ngủ của Voọc Cát Bà, tập tính rời hang và về hangviệc di chuyển là không đáng kể Những ngày trong tháng thiết bị GPS đeo cổghi được ít hơn 5 điểm, kể cả những ngày ghi được 5 vị trí nhưng điểm đầutiên không phải từ 5 - 7 giờ, điểm cuối từ 15 - 17 giờ cũng không được sửdụng để ước tính quãng đường di chuyển theo ngày

Như vậy, kích thước vùng sống (HRs) của mỗi cá thể Voọc Cát Bà sẽđược ước tính bằng km2 thông qua công thức:

Trang 32

HRs = (Số ô lưới ghi nhận Voọc xuất hiện) x (0,0625km2 và 0,25km2) Phương pháp đa giác lồi tối thiểu (Minimum Convex Polygons - MCP)

là một trong những phương pháp đầu tiên được sử dụng để ước tính vùngsống của một loài động vật [33] Đây là một phương pháp trực giác đơn giản

để ước tính vùng sống trong phạm vi một loạt điểm (Bekoff and Mech, 1984).Phương pháp này được xác định bằng cách nối các điểm ngoại biên của mộtnhóm các điểm của một loài động vật, như vậy nó sẽ tạo ra một đa giác lồi vớigóc trong không quá 1800 [44]

Sử dụng thanh công cụ HRT (Home range Tools) cài đặt thêm trongphần mềm ArcGIS 9.3 để ước tính vùng sống bằng phương pháp đa giác lồitối thiểu (Minimum Convex Polygons - MCP)

Cường độ sử dụng sinh cảnh

Cường độ sử dụng sinh cảnh được xác định thông qua việc tổng hợp,đếm số lần ghi nhận Voọc xuất hiện trên mỗi ô lưới, sau đó sử dụng phầnmềm MapInfo 10.0 tiến hành xây dựng và chồng xếp hệ thống ô lưới kíchthước 250x250m và bản đồ thảm thực vật để xác định cường độ sử dụng sinhcảnh Tổng số lần xuất hiện của Voọc trên mỗi ô lưới sẽ được phân nhóm vàsắp xếp theo từng cấp, tương ứng với đó là cường độ sử dụng khác nhau giữacác dạng sinh cảnh trong khu vực nghiên cứu

Nơi ngủ

Nơi ngủ của Voọc Cát Bà bao gồm nơi ngủ đêm và ngủ ngày (ngủ trưa,nghỉ trưa) Nơi ngủ đêm được quy ước là khu vực bất kỳ trong đó chúng dànhthời gian ngủ qua đêm Nơi ngủ trưa (nghỉ trưa) được quy ước là nơi chúngngừng hoạt động kiếm ăn, hạn chế di chuyển và dành thời gian chủ yếu đểnghỉ ngơi Trong nghiên cứu này, chúng tôi chỉ tiến hành xác định các vị tríngủ qua đêm thông qua tọa độ GPS đeo cổ vào lúc 5 giờ sáng hàng ngày

Trang 33

2.3.3 Phương pháp xác định và đánh giá các mối đe dọa

Quan sát trực tiếp và phỏng vấn người dân các thông tin về mức độ tácđộng của con người vào tài nguyên rừng như; săn bắt động vật hoang dã, khaithác gỗ, khai thác lâm sản ngoài gỗ, phát triển du lịch, các thông tin thu thậpđược ghi vào mẫu biểu 3.1 (xem phần phụ lục 2)

Việc đánh giá mức độ các mối đe dọa tới loài Voọc Cát Bà và sinh cảnhtại khu vực nghiên cứu được thực hiện theo phương pháp của Margoluis vàSalafsky (2001), trên cơ sở xếp hạng và cho điểm từ 1 đến 5, sau đó sắp xếpgiảm dần theo mức độ ảnh hưởng của các mối đe dọa theo 3 tiêu chí: Diệntích, Cường độ và Tính cấp thiết của mối đe dọa

2.4 Phương pháp nội nghiệp

Số liệu thu thập được phân tích, lưu giữ và xử lý bằng máy tính xáchtay HP Compaq 6520 theo từng nội dung nghiên cứu, với các chương trìnhnhư: Word, Excel, SPSS 13.0, DNR Garmin, MapInfo 10.0 và ArcGIS 9.3.Phần mền Word được sử dụng cho việc hoàn thiện đề tài, Excel được sử dụng

để tổng hợp các tọa độ GPS, phần mềm SPSS 13.0 được sử dụng để phân tíchthống kê, phần mềm DNR Garmin được sử dụng để tải dữ liệu từ thiết bị GPS(hệ thống định vị toàn cầu) vào máy tính, phần mềm MapInfo 10.0 và ArcGIS9.3 được sử dụng cho việc phân tích, xử lý bản đồ thể hiện sự di chuyển, phân

bố, ước tính vùng sống của Voọc, xây dựng các bản đồ

Trang 34

Chương 3 ĐẶC ĐIỂM KHU VỰC NGHIÊN CỨU 3.1 Đặc điểm tự nhiên

VQG Cát Bà nằm trong khoảng toạ độ địa lý sau:

Từ 20044’ - 200 52’ vĩ độ Bắc

Từ 1060 59’ - 1070 06 ’kinh độ ĐôngTheo quyết định số 79/CP, ngày 31/3/1986 của Chủ tịch Hội đồng Bộtrưởng (nay là Thủ tướng Chính phủ), VQG có diện tích tự nhiên là 15.200

ha, thuộc địa phận hành chính của các xã sau: xã Gia Luận, xã Phù Long, xãHiền Hào, xã Xuân Đám, xã Trân Châu, xã Việt Hải và thị trấn Cát Bà, baobọc xung quanh các xã trên và VQG là sông, biển

Phía Đông và Đông Bắc giáp vịnh Hạ Long được ngăn cách bởi lạchNgăn và lạch Đầu xuôi của tỉnh Quảng Ninh

Phía Tây và Tây Nam là cửa sông Bạch Đằng, sông Cấm và biển HảiPhòng - Đồ Sơn

Phía Đông và đông Nam giáp với vịnh Lan Hạ

Đây là vùng nằm trong hệ thống quần đảo vịnh Hạ Long gồm rất nhiềuđảo đá vôi lớn nhỏ khác nhau, trong đó Cát Bà là đảo đá vôi lớn nhất Vùng nàynằm trong vùng địa lý thực vật bắc bộ có khí hậu nhiệt đới ẩm mưa mùa Nhưvậy, hệ thực vật ở đây mang tính chất của khu hệ thực vật bản địa Bắc Việt Nam

Trang 35

Kiểu địa hình núi đá vôi

Đây là vùng địa hình của một miền karst ngập nước biển khá điển hình,

bị quá trình karst chia cắt từ lâu đời thành các chóp, các đỉnh có nhiều dáng vẻkhác nhau đã tạo nên địa hình muôn vẻ và cũng khá hiểm trở với nhiều bề mặtlởm chởm đá tai mèo sắc nhọn Địa hình lại dốc đứng, độ cao từ 100m-300m.Trên vùng này, khả năng sinh trưởng và phát triển của thực vật diễn ra rấtchậm chạp và vô cùng khó khăn

Kiểu địa hình đồi đá phiến

Địa hình đồi đá phiến chiếm một diện tích nhỏ So với địa hình núi đá vôithì địa hình đồi đá phiến mềm mại hơn nhiều, sườn thoải, đỉnh tròn và thấp hơnnúi đá vôi, khả năng sinh trưởng và phát triển của thực vật cũng khả quan hơn

Kiểu địa hình thung lũng giữa núi

Thung lũng giữa núi là những vùng trũng với nhiều hình dạng khácnhau thường kéo dài theo vỉa đá vôi và nối với nhau qua sống đá thấp tạothành máng trũng dài Thung lũng trong vùng có dáng khá bằng phẳng vàđược phủ bởi tàn tích của đá vôi Như thung lũng Trung trang, thung lũng ViệtHải, thung lũng Khe Sâu…đất đai ở các thung nhìn chung khá tốt có thể sửdụng trồng cây ăn quả, rau xanh, và trồng các loài cây màu, lúa

Kiểu địa hình bồi tích ven biển

Đây là kiểu đồng bằng bồi tụ do sông, biển có độ dốc tuyệt đối thấp,địa hình bằng phẳng và luôn chịu ảnh hưởng của nước mặn và ngập Triềuthường xuyên hay gián đoạn theo con nước và độ cao địa hình Vùng này là

Trang 36

nơi có điều kiện rất thuận lợi cho các loài cây rừng ngập mặn sinh trưởng vàphát triển.

3.1.3 Đặc điểm địa chất, thổ nhưỡng

Đặc điểm địa chất

Khu vực Cát Bà cũng như phần Đông Bắc Việt Nam có lịch sử pháttriển địa chất lâu dài, từng là một bộ phận của cấu trúc uốn nếp caledoni đánhdấu sự kết thúc chế độ địa máng biển sâu Karstzia vào cuối kỷ Silua

Các khối đá vôi này có tuổi trung bình là các bon muộn pecmi (250

-280 triệu năm) Cấu tạo dạng khối, đôi khi phân tầng khá mỏng, màu xám hayxám trắng nằm xen kẽ với đá vôi silic Chúng có đầy đủ những dạng của mộtmiền Karst ngập nước biển, do tác động của nước mặt và nước ngầm đã tạo ramột hệ thống các hang động ở các độ cao khác nhau (4m, 15m và 25 - 30m)

Do các hoạt động của sóng biển đã tạo ra các ngấn sóng vỗ ở tất cả các chânđảo đá vôi vùng Cát Bà và các mái hiên mài mòn dạng dài và hẹp bao quanhchân, có nơi gập ngấn sóng kép ở mức 3,5 - 4m và 1,0 - 1,5m ở các vùng kín,sóng biển còn tạo ra các tích tụ cát rất sạch, bao quanh các đảo nhỏ Đó là cácbãi tắm mini rất lý tưởng cho các dịch vụ du lịch tắm biển

Về phía Bắc và Tây Bắc đảo Cát Bà còn có một diện tích khá lớn thànhtạo đệ tứ không phân chia (Q) tạo nên dạng đồng bằng ven biển, chúng đượcthành tạo do phù sa sông biển Lớp trầm tích phủ lên trên khá dày (> 2m),dưới sâu hơn là phù sa hạt thô (độ sâu 5 - 10m) chủ yếu là sỏi cuội và cát Sát biển hơn (nơi hàng ngày chịu ảnh hưởng của nước triều) có sú, vẹt, đước,trang, mắm, bần mọc dầy đặc phủ kín hầu hết diện tích này

Đặc điểm thổ nhưỡng

Kết quả điều tra thực địa, cho thấy các xã trong và ngoài VQG Cát Bà

vì nền đá mẹ hầu hết là đá vôi cùng với các điều kiện địa hình Karst và khíhậu nhiệt đới ẩm nên đã hình thành những loại đất chính như sau:

Trang 37

Đất Feralit đỏ nâu phát triển trên đá vôi: Đất màu đỏ nâu, cấu tạo hạt rấtchắc, đất tốt, thiếu nước, đất có phản ứng trung tính, ít chua và khá giàu mùn,tầng đất chỉ dày 30 - 40 cm Phân bố trên sườn ít dốc hay trong hốc đá vôi, cónhiều tại các xã Trân Châu, Gia Luận, Việt Hải.

Đất Feralit nâu đỏ dốc tụ chân núi đá vôi: được hình thành do sườn tíchđất từ đỉnh và sườn núi trượt xuống Đất có màu vàng đỏ, thường ẩm, tầngdầy từ 50 - 100m, có phản ứng trung tính, cấu tượng viên hơi chặt, thành phần

cơ giới nặng, giầu mùn, phù hợp cho các thảm thực vật rừng phát triển Phân

bố hầu hết các xã trong quần đảo, đất thích hợp trồng cây ăn quả như Cam,Quýt, Nhãn Vải

Đất Feralit nâu vàng phát triển từ các sản phẩm phong hóa đá vôi dốc

tụ hỗn hợp: Đất màu nâu vàng, có phản ứng trung bình, ít chua, giàu mùn,thường bị khô hạn vào mùa khô, nơi thấp có thể bị úng nước tạm thời vàongày mưa lớn Phân bố ở các thung lũng rộng có nước chảy trên mặt nhưthung lũng Trung Trang, Việt Hải, Gia Luận, Đồng Cỏ Đất này đã được sửdụng để trồng rừng, cây ăn quả và hoa màu

Đất dốc tụ thung lũng: Được phân bố trong các thung lũng, giếng Karst.Đất có màu nâu đến vàng nhạt, tầng dày 80 - 100cm Giầu mùn, có phản ứngtrung tính đến chua Mùa mưa có thể bị ngập nước tạm thời, mùa khô thiếunước Một số diện tích đã được khai phá trồng lúa và hoa màu

Đất bồi chua mặn: Đất này là loại đất hỗn hợp biển, đầm lầy ở bãi triềucao Phân bố ở xã Xuân Đám về phía biển, sau này được đắp đê ngăn mặn, cảitạo để cây lúa 1 - 2 vụ

Đất mặn Sú vẹt: Bùn lỏng, ảnh hưởng của thuỷ triều, rất mặn Phân bốtập trung chủ yếu vùng Cái Viềng, Phù Long và rải rác ở vài nơi quanh đảo(thuộc bãi triều thấp) Tại đây hình thành rừng ngập mặn khá tốt và là hệ sinhthái độc đáo của đảo Cát Bà

Trang 38

3.1.4 Đặc điểm khí hậu thuỷ văn

Đặc điểm khí hậu

Vườn Quốc gia Cát bà thuộc chế độ khí hậu nhiệt đới gió mùa và chịuảnh hưởng trực tiếp của khí hậu đại dương, có gió mùa Tây Nam về mùa hạ

và gió mùa Đông Bắc về mùa đông, ít khắc nghiệt hơn các vùng có cùng vĩ độ

ởđất liền Tuy nhiên, do sự khác biệt về địa hình, và ảnh hưởng của biển, nhất

là ảnh hưởng của các yếu tố độ cao, hướng núi, thảm thực vật rừng mà chế độkhí hậu cũng có sự khác nhau giữa các khu vực, trong vùng

Nhiệt độ

Nhiệt độ trung bình năm là: 23,60 C Tháng có nhiệt độ cao nhất làtháng 7, nhiệt độ trung bình từ 28 - 290C, cao nhất 320C Tháng có nhiệt độthấp nhất là tháng 1 nhiệt độ trung bình từ 16 - 170 C, thấp nhất 100C, đôi khixuống tới 50C Mùa nóng bắt đầu từ tháng 5 đến tháng 10, mùa lạnh từ tháng

11 đến tháng 4 năm sau Giữa hai mùa chênh lệch từ 11 - 120C

Tổng số ngày nắng trong năm giao động từ 150 đến 160 ngày, thángcao nhất có 188 giờ nắng, tháng 5, tháng 7

Lượng mưa hàng năm

Lượng mưa trung bình quân cả năm là: 1.500 - 2.000 mm/năm Mộtnăm có hai mùa rõ rệt

Mùa mưa (từ tháng 5 đến tháng 10): lượng mưa trong mùa này chiếmgần 80 - 90 % tổng lượng mưa cả năm, tập trung vào các tháng 7,8,9

Mùa khô (từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau): đầu mùa khô thường hanh,cuối mùa ẩm ướt và có mưa phùn (từ tháng 2 đến tháng 4)

Độ ẩm không khí trung bình cả năm là 86%, thấp nhất vào tháng 1 là73%, cao nhất tháng 4 đạt 91% Lượng bốc hơi nước hàng năm khoảng700mm, trong các tháng khô hanh thường xảy ra khô hạn thiếu nước

Trang 39

Sương mù thường xuất hiện vào mùa Đông và mùa xuân từ tháng 12đến tháng 4 năm sau Thời gian này còn có mưa phùn (20 - 40 ngày/năm) đãlàm giảm đáng kể chế độ khô hạn trong vùng.

Đặc điểm thuỷ văn và hải văn

Đặc điểm thủy văn

Cát Bà là quần đảo đá vôi, gần như hệ thống sông suối trên đảo khôngphát triển Những dòng chảy tạm thời chỉ xuất hiện trong cơn mưa và ngừngngay sau khi mưa Vào mùa mưa, nước đọng lại ở một số vùng nhỏ, thấm dộttrong những hang động Tuy rất ít, nhưng đây lại là nguồn nước khá thườngxuyên cho động thực vật trên đảo Trên một số đảo nhỏ hoặc ven đảo lớn Cát

Bà, nơi có nứt gãy kiến tạo chạy qua có xuất hiện "nước xuất Lộ" với dunglượng từ vài lít đến vài chục lít mỗi ngày Nguồn nước xuất lộ lớn nhất ở suốiThuồng Luồng có lưu lượng trung bình 5 lít/s (mùa mưa 7,5 lít/s), mùa khô2,5 l/s) Cát Bà có các túi nước ngầm, nguồn gốc thấm đọng từ nước mưa (đãkhai thác 6 giếng khoan, trữ lượng khoảng 1500 - 2000m3/ ngày, mức độ khaithác cho phép khoảng 1000m3/ ngày

Đặc điểm hải văn

Thuỷ triều theo chế độ nhật triều thuần nhất, mức nước trung bình 3,3 3,5 m Mùa mưa (tháng 5 đến tháng 9) thuỷ triều lên cao vào buổi chiều Mùakhô (tháng 10 đến tháng 4 năm sau) thuỷ triều lên cao vào buổi sáng

-Thủy triều và mực nước: -Thủy triều có tính nhật triều đều rõ ràng(trong một ngày đêm có 1 lần nước lớn và 1 lần nước ròng) Biên độ cực đạigần 4m Do ảnh hưởng của địa hình nên thường chậm pha hơn Hò n Dấu đến

Trang 40

đảo Cát Bà Trước đây vài thập kỷ, rừng đã bao phủ phần lớn diện tích đất đaicủa đảo Hiện nay rừng tự nhiên đã bị tác động nhiều, làm biến đổi sâu sắc vềmặt cấu trúc, tổ thành và tầng tán của rừng Tuy nhiên, rừng Cát Bà vẫn đượccoi là một khu rừng độc đáo trên núi đã vôi của cả vùng biển Đông Bắc ViệtNam, với diện tích 13.200 ha (số liệu năm 1997) chiếm 60% diện tích núi đávôi của đảo, ở đây còn lưu giữ được kiểu rừng nhiệt đới thường xanh mưamùa đai thấp (còn 852ha rừng nguyên sinh hiện đang được bảo vệ nghiêmngặt) với hơn 1.561 loài thực vật bậc cao có mạch, thuộc 842 chi, 186 họ và 5ngành thực vật.

Rừng ngập mặn phân bố nhiều ở phía Tây Bắc của đảo, với các loài câychủ yếu như: Sú, Vẹt, Đước, Giá, Bần, Trang, Mắm, Rừng ngập mặn cũng

là cảnh quan đặc sắc của vùng triều cửa sông ven biển ở vùng nhiệt đới và cậnnhiệt đới Rừng ngập mặn thường phát triển ở độ cao 1,8m trên nền đáy bùnphù sa Rừng ngập mặn có ý nghĩa trong việc cố định bùn, chống xói lở và lànơi cư trú của nhiều loài chim di cư và cũng là nơi cung cấp nguồn giống thủyhải sản

Khu hệ động vật

Mặc dù không phong phú bằng các hệ động vật trong các khu rừng đặcdụng trong đất liền, nhưng quần thể động vật trên đảo Cát Bà vẫn có đến 53loài thú với 18 họ thuộc 8 bộ; 160 loài chim với 46 họ thuộc 16 bộ; 46 loài bòsát với 16 họ thuộc 2 bộ; 21 loài lưỡng cư với 5 họ thuộc 1 bộ Đặc biệt cóloài Voọc đầu vàng là loài đặc hữu chỉ có ở Cát Bà

Động vật biển: Theo số liệu điều tra của Viện Hải dương học tại HảiPhòng cho biết, hiện nay có 900 loài cá, 500 loài thân mềm, 400 loài giáp xác.Trong đó có nhiều loài có giá trị kinh tế cao như Cá Hồng, Cá Song, Cá Thu,

Cá Chim Một trong những loài quý hiếm của Cát Bà là Cá Heo lớn và CáHeo Bé Ngoài ra hệ động vật đáy cũng vô cùng phong phú Qua thống kê đã

Ngày đăng: 29/06/2021, 18:37

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w