Chế tài do vi phạm HĐXD theo pháp luật Việt Nam được đặt ra nhằm nâng cao trách nhiệm của mỗi bên trong việc thực hiện đúng hợp đồng, buộc bên vi phạm hợp đồng phải gánh chịu những hậu q
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN THỊ THU HƯƠNG
CHẾ TÀI DO VI PHẠM HỢP ĐỒNG XÂY DỰNG
THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Hà Nội - 2020
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN THỊ THU HƯƠNG
CHẾ TÀI DO VI PHẠM HỢP ĐỒNG XÂY DỰNG
THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM
Chuyên ngành: Luật dân sự và tố tụng dân sự
Mã số: 8380101.04
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS TS NGÔ HUY CƯƠNG
Hà Nội - 2020
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo
vệ Luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
NGƯỜI CAM ĐOAN
Nguyễn Thị Thu Hương
Trang 4DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
- BLDS : Bộ luật dân sự năm 2015
- CĐT: Chủ đầu tư
- HĐXD: Hợp đồng trong hoạt động xây dựng
- LTM : Luật thương mại năm 2005
- NTXD : Nhà thầu xây dựng
- Nghị định 37: Nghị định 37/2015/NĐ – CP ngày 22 tháng 04 năm 2015 của Chính phủ quy định về hợp đồng trong hoạt động xây dựng
- Thông tư 09: Thông tư 09/2011/TT – BXD ngày 28 tháng 6 năm 2011 của Bộ xây dựng hướng dẫn mẫu Hợp đồng xây dựng
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Đặt vấn đề 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu 1
1.2 Mục tiêu và phạm vi nghiên cứu 2
1.3 Phạm vi nghiên cứu 2
1.4 Tính mới và những đóng góp của đề tài 2
2 Phương pháp nghiên cứu 3
3 Kết cấu của luận văn 4
Chương 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ HỢP ĐỒNG XÂY DỰNG VÀ CHẾ TÀI DO VI PHẠM HỢP ĐỒNG XÂY DỰNG THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM 5
1.1 Khái niệm, đặc trưng của Hợp đồng xây dựng 5
1.1.1 Khái niệm Hợp đồng xây dựng 5
1.1.2 Đặc trưng của Hợp đồng xây dựng 7
1.2 Vi phạm Hợp đồng xây dựng và chế tài do vi phạm Hợp đồng xây dựng 19
1.2.1 Khái niệm chế tài do vi phạm Hợp đồng xây dựng 19
1.2.2 Ý nghĩa của chế tài do vi phạm hợp đồng xây dựng 23
1.3 Nguồn luật điều chỉnh chế tài do vi phạm Hợp đồng xây dựng 24
1.3.1 Nguồn luật điều chỉnh 24
1.3.2 Tính thống nhất của các văn bản quy phạm pháp luật quy định về chế tài do vi phạm Hợp đồng xây dựng 27
Chương 2: PHÁP LUẬT THỰC ĐỊNH VỀ CHẾ TÀI DO VI PHẠM HỢP ĐỒNG XÂY DỰNG VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG 30
2.1 Căn cứ áp dụng do vi phạm Hợp đồng xây dựng 30
2.1.1 Có hành vi vi phạm Hợp đồng xây dựng 31
2.1.2 Có thiệt hại thực tế xảy ra 39
2.1.3 Có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm Hợp đồng xây dựng và thiệt hại thực tế xảy ra 40
Trang 62.2 Các hình thức chế tài do vi phạm Hợp đồng xây dựng và thực tiễn áp dụng 41
2.2.1 Buộc thực hiện đúng Hợp đồng xây dựng 41
2.2.2 Chế tài bồi thường thiệt hại 52
2.2.3 Phạt vi phạm Hợp đồng xây dựng 61
2.2.4 Tạm ngừng thực hiện công việc trong Hợp đồng xây dựng 66
2.2.5 Đơn phương chấm dứt Hợp đồng xây dựng 71
2.3 Các trường hợp miễn trừ trách nhiệm do vi phạm Hợp đồng xây dựng 78
2.3.1 Do sự kiện bất khả kháng 79
2.3.2 Do lỗi của bên có quyền 80
2.3.3 Do thỏa thuận trong Hợp đồng xây dựng 81
2.3.4 Do quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền 81
Chương 3: ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN
QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ CHẾ TÀI DO VI PHẠM
HỢP ĐỒNG XÂY DỰNG 83
3.1 Sự cần thiết phải hoàn thiện quy định của pháp luật về chế tài do vi phạm Hợp đồng xây dựng 83
3.2 Định hướng xây dựng và hoàn thiện quy định của pháp luật về chế tài do vi phạm Hợp đồng xây dựng 84
3.3 Các giải pháp nhằm hoàn thiện quy định của pháp luật về chế tài do vi phạm Hợp đồng xây dựng 84
3.3.1 Giải pháp về cơ chế chính sách và pháp luật 84
3.3.2 Giải pháp về tổ chức thực hiện Hợp đồng xây dựng 85
3.4 Các pháp nhằm hoàn thiện quy định của pháp luật về CHẾ TÀI do vi phạm Hợp đồng xây dựng 86
3.4.1 Giải pháp về cơ chế chính sách và pháp luật 86
3.4.2 Giải pháp về tổ chức thực hiện Hợp đồng xây dựng 87
3.4.3 Các giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện một số quy định pháp luật về Hợp đồng xây dựng 88
KẾT LUẬN 97
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 99
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Đặt vấn đề
1.1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Hợp đồng xây dựng được xác lập thể hiện mối quan hệ và sự ràng buộc pháp
lý giữa bên giao thầu và bên nhận thầu nhằm đạt được các lợi ích nhất định Qua đó, tạo cơ sở pháp lý cho các bên thực hiện việc xây dựng công trình, hạng mục công trình hoặc phần việc xây dựng theo thiết kế xây dựng công trình Dưới góc độ pháp
lý, các thỏa thuận hợp pháp có giá trị ràng buộc giữa các bên và được pháp luật bảo
vệ Lợi ích của chủ thể chỉ được thỏa mãn khi đối tác của họ thực hiện nghiêm chỉnh các nghĩa vụ đã cam kết Chế tài do vi phạm HĐXD theo pháp luật Việt Nam được đặt ra nhằm nâng cao trách nhiệm của mỗi bên trong việc thực hiện đúng hợp đồng, buộc bên vi phạm hợp đồng phải gánh chịu những hậu quả bất lợi do hành vi
vi phạm hợp đồng cũng như để khắc phục, hạn chế được các thiệt hại có thể xảy ra
Ngày 07/05/2010, Chính phủ ban hành Nghị định số 48/2010/NĐ-CP về hợp đồng trong hoạt động xây dựng để bước đầu quy định về hợp đồng xây dựng Nghị định này sau đó đã được sửa đổi bằng Nghị định 207/2013/NĐ-CP ngày 11/12/2013 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của NĐ 48/2010/NĐ-CP ngày 07/05/2010 của Chính phủ về hợp đồng trong hoạt động xây dựng và sự ra đời của Luật xây dựng năm 2014 Hiện nay, NĐ 48/2010/NĐ-CP đã được thay thế hoàn toàn bằng Nghị định 37/2015/NĐ-CP ngày 22/4/2015 của Chính phủ quy định chi tiết về hợp đồng xây dựng
Hành vi vi phạm HĐXD rất đa dạng và xảy ra khá phổ biến đã ảnh hưởng không nhỏ đến lợi ích của các bên như làm chậm tiến độ xây dựng công trình, chất lượng công trình không bảo đảm… Tuy nhiên, các quy định về chế tài do vi phạm HĐXD theo pháp luật Việt Nam trong các văn bản nêu trên còn nhiều hạn chế dẫn đến những vướng mắc, bất cập trong thực tiễn áp dụng và gây nhiều tranh cãi Điều này đã làm giảm hiệu lực và hiệu quả của pháp luật trong việc áp dụng chế tài do vi phạm HĐXD theo pháp luật Việt Nam đối với hành vi vi phạm HĐXD
Trang 8Trước thực tế đó, học viên đã chọn đề tài “Chế tài do vi phạm hợp đồng xây
dựng theo pháp luật Việt Nam” để làm luận văn thạc sỹ của mình Qua luận văn,
học viên sẽ làm rõ một số vấn đề lý luận có liên quan, thực trạng áp dụng và phương hướng hoàn thiện các quy định của pháp luật về chế tài do vi phạm HĐXD theo pháp luật Việt Nam nhằm giải quyết các vướng mắc, bất cập đã nêu
1.2 Mục tiêu và phạm vi nghiên cứu
Luận văn của tác giả hướng tới mục tiêu sau đây:
- Phân tích các hình thức chế tài do vi phạm hợp đồng nói chung và chế tài
do vi phạm HĐXD theo pháp luật Việt Nam nói riêng;
- Phân tích, đánh giá, chỉ rõ những hạn chế trong quy định của pháp luật chuyên ngành về chế tài do vi phạm HĐXD theo pháp luật Việt Nam và thực tiễn áp dụng;
- Đề xuất một số giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện quy định pháp luật chuyên ngành về chế tài do vi phạm HĐXD theo pháp luật Việt Nam
1.3 Phạm vi nghiên cứu:
Luận văn tập trung nghiên cứu các quy định của pháp luật về chế tài do vi phạm HĐXD theo pháp luật Việt Nam cụ thể là HĐXD theo quy định của Luật xây dựng năm 2014, Nghị định 37 về hợp đồng trong hoạt động xây dựng và các văn bản liên quan
1.4 Tính mới và những đóng góp của đề tài
Tính đến thời điểm hiện nay, các công trình nghiên cứu về chế tài do vi phạm HĐXD theo pháp luật Việt Nam đã có một số công trình, đó là:
+ Tác giả Nguyễn Ngọc Khánh với cuốn sách “Chế định hợp đồng trong Bộ luật dân sự Việt Nam”, Nxb Tư pháp, năm 2007 đã nêu những vấn đề chung nhất về chế định hợp đồng, trong đó tác giả chỉ dành một số trang về bồi thường thiệt hại
và phạt vi phạm hợp đồng;;
+ Tác giả Ngô Huy Cương với cuốn sách “Giáo trình luật hợp đồng Việt Nam – Phần chung” Nxb Đại học quốc gia Hà Nội, năm 2013;
+ Tác giả Nguyễn Như Phát, Lê Thị Thu Thủy với cuốn sách “Một số vấn đề
lý luận và thực tiễn về pháp luật hợp đồng ở Việt Nam hiện nay”, Nxb Công an nhân dân, năm 2003
Trang 9+ Tác giả Đỗ Văn Đại với cuốn sách“Các biện pháp xử lý việc không thực
hiện đúng hợp đồng trong pháp luật Việt Nam”, Nxb chính trị Quốc gia - Sự thật, đã
phân tích rất cụ thể về việc không thực hiện đúng hợp đồng và các biện pháp cụ thể nhằm xử lý việc không thực hiện đúng hợp đồng nói chung
Những công trình nghiên cứu trên đây chủ yếu tập trung nghiên cứu về vấn
đề hợp đồng nói chung, về vấn đề chế tài do do vi phạm HĐXD mới chỉ dừng lại ở khía cạnh nghiên cứu tổng thể, chỉ ra được những vấn đề chung nhất Ở cấp độ luận văn thạc sĩ, có thể kể đến như:
- Luận văn thạc sĩ luật học của tác giả Chu Nguyên Chương về “Nghiên cứu
các vấn đề rủi ro của nhà thầu xây dựng khi thực hiện hợp đồng trọn gói” (2011) đã
nghiên cứu những vấn đề rủi ro tiềm ẩn trong hợp đồng trọn gói thi công
- Luận văn thạc sĩ ngành Luật kinh tế của tác giả Nguyễn Ngọc Yến (2015)
“Hợp đồng xây dựng công trình có sử dụng vốn ngân sách nhà nước ở Việt Nam”
đã nghiên cứu các vấn đề HĐXD có sử dụng vốn ngân sách nhà nước
- Luận văn thạc sĩ ngành Luật kinh tế của tác giả Nguyễn Hữu Thiện (2017)
“Giải quyết tranh chấp hợp đồng trong xây dựng từ thực tiễn xét xử sơ thẩm tại Tòa
án nhân dân tỉnh Bình Dương” đã nghiên cứu các quy định của pháp luật Việt Nam
và thực tiễn áp dụng pháp luật của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một tỉnh Bình Dương về tranh chấp hợp đồng trong xây dựng
Tuy nhiên, nghiên cứu về chế tài do vi phạm HĐXD theo pháp luật Việt Nam thì chưa có công trình nào nghiên cứu Vì vậy, việc nghiên cứu đề tài luận văn thạc sĩ luật học của học viên là công trình mang tính độc lập, tính mới nhằm đưa ra những kết quả nghiên cứu trong lĩnh vực về chế tài do vi phạm HĐXD theo pháp luật Việt Nam
Kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ là nguồn tham khảo cho quá trình sửa đổi, bổ sung quy định của pháp luật về HĐXD, tạo sự thống nhất trong quá trình áp dụng pháp luật và giải quyết các tranh chấp trong thực tiễn
2 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn vận dụng các nguyên tắc, phương pháp luận triết học duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác – Lê nin, kết hợp với các phương pháp
Trang 10phân tích, tổng hợp, so sánh để nhằm làm nổi bật nội dung của đề tài, qua đó đề xuất những vấn đề cụ thể nhằm hoàn thiện quy định của pháp luật về chế tài do vi
phạm HĐXD theo pháp luật Việt Nam
3 Kết cấu của luận văn
Ngoài lời cam đoan, mục lục, danh mục chữ viết tắt, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, kết cấu của luận văn gồm 3 chương:
* Chương 1: Lý luận chung về Hợp đồng xây dựng và chế tài do vi phạm
Hợp đồng xây dựng theo pháp luật Việt Nam
* Chương 2: Pháp luật thực định về chế tài do vi phạm Hợp đồng xây dựng
và thực tiễn áp dụng
* Chương 3: Định hướng và giải pháp hoàn thiện quy định của pháp luật về
chế tài do vi phạm hợp đồng xây dựng.
Trang 11Chương 1
LÝ LUẬN CHUNG VỀ HỢP ĐỒNG XÂY DỰNG VÀ CHẾ TÀI DO VI PHẠM HỢP ĐỒNG XÂY DỰNG THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM
1.1 Khái niệm, đặc trƣng của Hợp đồng xây dựng
1.1.1 Khái niệm Hợp đồng xây dựng
Xây dựng là một hoạt động kinh tế kỹ thuật có vai trò hết sức quan trọng trong nền kinh tế Nó góp phần tạo nên bộ mặt của nền kinh tế đất nước, đồng thời tạo lập cơ sở vật chất - kỹ thuật ban đầu cho các ngành sản xuất khác phát triển Hoạt động xây dựng hết sức đa dạng, bao gồm: Hoạt động xây dựng gồm lập quy hoạch xây dựng, lập dự án đầu tư xây dựng công trình, khảo sát xây dựng, thiết kế xây dựng, thi công xây dựng, giám sát xây dựng, quản lý dự án, lựa chọn nhà thầu, nghiệm thu, bàn giao đưa công trình vào khai thác sử dụng, bảo hành, bảo trì công trình xây dựng và hoạt động khác có liên quan đến xây dựng công trình Để thực hiện được các hoạt động nêu trên, CĐT đã thông qua việc ký kết các hợp đồng xây dựng với nhà thầu xây dựng Quan hệ HĐXD được thiết lập thể hiện mối quan hệ và
sự ràng buộc pháp lý giữa các bên giao và nhận thầu trong việc thực hiện các công việc cụ thể của hoạt động xây dựng nhằm thỏa mãn các lợi ích mà các bên hướng tới Tuy nhiên, hợp đồng đó chỉ có hiệu lực khi ý chí của các bên phù hợp với ý chí của Nhà nước Các bên được tự do thỏa thuận để thiết lập hợp đồng nhưng sự “tự do” ấy phải được đặt trong giới hạn bởi lợi ích của người khác, lợi ích chung của xã hội và trật tự công cộng Nhất là khi quan hệ HĐXD được thiết lập để thực hiện các công việc xây dựng trong các dự án đầu tư xây dựng công trình có sử dụng nguồn vốn ngân sách nhà nước thì việc kiểm soát và quản lý của nhà nước đối với quan hệ hợp đồng đó càng cần thiết phải chặt chẽ để đảm bảo cho tính hiệu quả trong việc
sử dụng vốn ngân sách nhà nước Theo quy định “Hợp đồng xây dựng là hợp đồng
dân sự được thỏa thuận bằng văn bản giữa bên giao thầu và bên nhận thầu để thực hiện một phần hay toàn bộ công việc trong hoạt động đầu tư xây dựng” [23, Điều 138,
khoản 1]
Là một hoạt động mang tính đặc thù, vì vậy mà việc thực hiện các công việc
Trang 12xây dựng yêu cầu chặt chẽ về điều kiện và năng lực của chủ thể thực hiện CĐT với
tư cách là người sở hữu vốn hoặc được giao quản lý và sử dụng vốn để đầu tư xây dựng công trình trong nhiều trường hợp không thể tự mình thực hiện tất cả các công việc trong hoạt động xây dựng nêu trên Trên cơ sở thiết lập với nhau những quan
hệ qua đó chuyển giao cho nhau các lợi ích vật chất nhằm đáp ứng nhu cầu của mỗi bên là một tất yếu đối với mọi hoạt động nói chung cũng như hoạt động xây dựng nói riêng Quan hệ này phải xuất phát từ những hành vi có sự thống nhất ý chí của các chủ thể Đó chính là quan hệ HĐXD Kết quả đạt được của hoạt động này là hình thành các sản phẩm xây dựng với tính chất là tài sản cố định để có thể đưa vào khai thác, sử dụng một cách hiệu quả theo các yêu cầu đã đặt ra
HĐXD là một loại hợp đồng đặc thù trong lĩnh vực xây dựng Vì vậy khái niệm pháp lý về HĐXD cũng được xây dựng dựa trên các quy định chung về hợp đồng theo quy định của luật dân sự, luật thương mại và luật xây dựng Theo khoản
1, Điều 2 Nghị định 37 quy định:
Hợp đồng xây dựng là hợp đồng dân sự được thỏa thuận bằng văn bản giữa bên giao thầu và bên nhận thầu để thực hiện một phần hay toàn bộ công việc trong hoạt động đầu tư xây dựng [4]
Theo đó, các thỏa thuận trong HĐXD được coi là “pháp luật thứ hai” mà các bên đã xác lập và phải tuân thủ Khi HĐXD có hiệu lực, từ lúc đó các bên đã tự nhận về mình những nghĩa vụ pháp lý nhất định cũng như những chế tài sẽ phải gánh chịu nếu vi phạm Vì vậy, theo nội dung đã cam kết, dưới dự hỗ trợ của pháp luật, các bên phải thực hiện đối với nhau các quyền và nghĩa vụ đã thỏa thuận
Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, mọi quan hệ kinh tế nói chung và quan hệ giao nhận thầu xây dựng nói riêng giữa các chủ thể đều được thiết lập và thực hiện trên cơ sở hợp đồng Trong những năm qua, cùng với đà phát triển chung của nền kinh tế, khối lượng đầu tư cho xây dựng cơ bản của nước ta tăng nhanh, thị trường xây dựng có sự phát triển vượt bậc đã tạo ra hệ thống cơ sở vật chất lớn cho
xã hội Cùng với đó, các HĐXD được ký kết ngày càng nhiều với khối lượng công việc ngày càng lớn và phức tạp Có thể nói, HĐXD nói riêng đã và đang phát huy tích cực vai trò của nó trong hoạt động đầu tư xây dựng ở Việt Nam hiện nay, đó là:
- HĐXD với tư cách là công cụ quản lý nhà nước về xây dựng Mặc dù hợp
Trang 13đồng là sự thỏa thuận của các bên trên cơ sở tự nguyện, nhưng để hợp đồng thực sự phát huy vai trò của mình như một công cụ pháp lý để triển khai hoạt động đầu tư xây dựng, Nhà nước cần phải có những quy định cần thiết bảo đảm cho các lợi ích
xã hội, đồng thời bảo vệ quyền lợi cho các chủ thể hoạt động đầu tư xây dựng Thông qua hợp đồng, Nhà nước có thể thực hiện sự quản lý của mình đối với hoạt động đầu tư xây dựng bằng việc quy định điều kiện chủ thể của hợp đồng, nội dung
và hình thức của hợp đồng, căn cứ, thủ tục giao kết hợp đồng, cơ chế thực hiện và giải quyết vi phạm, tranh chấp hợp đồng;
- HĐXD với tư cách là hình thức pháp lý của việc tổ chức các quan hệ kinh
tế trong lĩnh vực đầu tư xây dựng Thông qua quá trình lựa chọn nhà thầu, đàm phán
và ký kết hợp đồng, các bên có thể lựa chọn đối tác theo đúng nhu cầu của mình phù hợp với đặc điểm của từng công trình và dự án cụ thể Đồng thời các bên có thể xác lập với nhau các quyền và nghĩa vụ cụ thể HĐXD là cơ sở pháp lý rất quan trọng cho việc bảo vệ quyền và lợi ích của các bên, cơ sở pháp lý cho việc giải quyết các tranh chấp Thông qua quan hệ HĐXD, các bên giao và nhận thầu phải chịu trách nhiệm trực tiếp với nhau về kết quả công việc trên cơ sở những điều khoản mà các bên đã cam kết
1.1.2 Đặc trưng của Hợp đồng xây dựng
Hoạt động xây dựng là hoạt động phức tạp có yêu cầu cao về mặt kỹ thuật với những đặc thù riêng, vì vậy HĐXD cũng là hợp đồng có những đặc trưng của riêng nó Nghiên cứu các đặc trưng pháp lý của HĐXD nhằm hiểu rõ bản chất của quan hệ HĐXD và giúp chúng ta phân biệt giữa HĐXD và các loại hợp đồng khác Xuất phát từ các đặc trưng này mà pháp luật có cơ chế điều chỉnh đặc thù riêng đối với chế tài do vi phạm HĐXD theo pháp luật Việt Nam khác với các loại hợp đồng dân sự, thương mại khác Qua đó có thể đánh giá, so sánh sự khác nhau trong quy định của pháp luật đối với từng loại hợp đồng và đưa ra các giải pháp phù hợp nhằm hoàn thiện các quy định pháp luật tương ứng HĐXD có một
số đặc trưng pháp lý sau đây:
1.1.2.1 Thứ nhất, chủ thể của Hợp đồng xây dựng phải đáp ứng các yêu cầu
về năng lực hoạt động xây dựng
Trang 14Chủ thể tham gia HĐXD là các bên tham gia vào quan hệ hợp đồng đó và có
tư cách pháp lý phù hợp với quy định của pháp luật Theo quy định của pháp luật hiện hành, chủ thể của HĐXD gồm có: Chủ đầu tư (bên giao thầu), nhà thầu xây dựng (bên nhận thầu) Ngoài ra, trong quan hệ HĐXD còn có sự tham gia của bên thứ ba là những cơ quan, tổ chức có thẩm quyền trong việc thực hiện chức năng quản lý về công nghệ, về môi trường, phòng chống cháy nổ và an toàn lao động
Một trong các chức năng pháp lý của pháp luật về hợp đồng là xác định tư cách pháp lý của chủ thể tham gia quan hệ hợp đồng đó thông qua việc quy định các điều kiện về năng lực mà chủ thể phải thỏa mãn để có thể tham gia quan hệ hợp đồng cũng như các quyền và nghĩa vụ của chủ thể khi tham gia Việc xác định các điều kiện về năng lực chủ thể cũng như các quyền và nghĩa vụ của họ trong quan hệ hợp đồng có ý nghĩa trong việc xác định trách nhiệm của chủ thể đó khi có sự vi phạm nghĩa vụ Trong quan hệ HĐXD, điều kiện về năng lực hoạt động xây dựng
và hành nghề xây dựng cũng như quyền và nghĩa vụ của mỗi chủ thể được quy định không giống nhau, tùy thuộc chủ thể đó là ai Cụ thể:
a Chủ đầu tư
Chủ đầu tư với tư cách là bên giao, là chủ thể cơ bản tham gia xác lập và ký
kết HĐXD với bên nhận thầu Theo quy định “Chủ đầu tư xây dựng là cơ quan, tổ
chức, cá nhân sở hữu vốn, vay vốn hoặc được giao trực tiếp quản lý và sử dụng vốn
để thực hiện hoạt động đầu tư xây dựng” [23, Điều 3, khoản 9] Tùy theo từng loại
dự án đầu tư và nguồn vốn đầu tư xây dựng công trình mà pháp luật quy định chủ đầu tư khác nhau Đối với dự án sử dụng nguồn vốn ngân sách nhà nước: Dự án quan trọng cấp quốc gia thì CĐT là các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, cơ quan khác ở Trung ương, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh và doanh nghiệp nhà nước; Các dự án nhóm A, nhóm B và nhóm C thì CĐT là đơn vị quản lý và sử dụng công trình xây dựng Đối với dự án sử dụng nguồn vốn tín dụng, người vay vốn là CĐT Đối với dự án sử dụng vốn khác, CĐT là chủ sở hữu vốn hoặc là người đại diện theo quy định của pháp luật
Khi tham gia vào quan hệ HĐXD, CĐT cần phải thỏa mãn các điều kiện về năng lực chủ thể trong giao dịch dân sự nói chung theo quy định của BLDS Cụ thể,
Trang 15đối với cá nhân phải là người có đủ năng lực hành vi dân sự, đối với tổ chức phải là
tổ chức có tư cách pháp nhân hoặc đơn vị phụ thuộc được pháp nhân trao quyền Bên cạnh các điều kiện nêu trên, CĐT phải đáp ứng các điều kiện về năng lực chuyên môn phù hợp để thực hiện nhiệm vụ quản lý dự án đầu tư xây dựng và thực hiện HĐXD CĐT có thể sử dụng bộ máy hiện có của mình (các Phòng, Ban chuyên môn) thông qua việc thành lập Ban quản lý dự án trực thuộc để quản lý thực hiện dự
án, thực hiện hợp đồng Trong trường hợp CĐT không đủ điều kiện, năng lực, trình
độ chuyên môn nghiệp vụ để thực hiện và quản lý thực hiện công việc xây dựng thì CĐT phải thuê tổ chức tư vấn quản lý dự án để quản lý thực hiện dự án
Là một bên tham gia quan hệ HĐXD, CĐT được chủ động thực hiện các công việc lựa chọn nhà thầu, ký kết hợp đồng và chịu trách nhiệm trước pháp luật
và người quyết định đầu tư về nhiệm vụ, quyền hạn được giao Theo Điều 68 Luật xây dựng thì CĐT tham gia quan hệ HĐXD có các quyền và nghĩa vụ sau đây:
- CĐT có các quyền: a) Lập, quản lý dự án khi có đủ điều kiện năng lực theo quy định của Luật này; b) Yêu cầu cơ quan, tổ chức có liên quan cung cấp thông tin, tài liệu về lập, quản lý dự án; c) Lựa chọn, ký kết hợp đồng với nhà thầu
tư vấn để lập, quản lý dự án; d) Tổ chức lập, quản lý dự án; quyết định thành lập, giải thể Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng một dự án theo thẩm quyền; đ) Các quyền khác theo quy định của pháp luật
- CĐT có các nghĩa vụ sau: a) Xác định yêu cầu, nội dung nhiệm vụ lập dự án; cung cấp thông tin, tài liệu cần thiết trong trường hợp thuê tư vấn lập dự án; tổ chức nghiệm thu kết quả lập dự án và lưu trữ hồ sơ dự án đầu tư xây dựng; b) Lựa chọn tổ chức tư vấn lập dự án có đủ điều kiện năng lực theo quy định của Luật này; c) Chịu trách nhiệm về cơ sở pháp lý, tính chính xác của các thông tin, tài liệu được cung cấp cho tư vấn khi lập dự án; trình dự án với cơ quan có thẩm quyền phê duyệt theo quy định của pháp luật; d) Lựa chọn tổ chức, cá nhân tư vấn có đủ năng lực, kinh nghiệm để thẩm tra dự án theo yêu cầu của cơ quan, tổ chức thẩm định dự án
và của người quyết định đầu tư; đ) Tổ chức quản lý thực hiện dự án theo quy định tại Điều 66 của Luật này; e) Kiểm tra, giám sát việc thực hiện dự án; định kỳ báo cáo việc thực hiện dự án với người quyết định đầu tư, cơ quan quản lý nhà nước có
Trang 16thẩm quyền; g) Thu hồi vốn, trả nợ vốn vay đối với dự án có yêu cầu về thu hồi vốn, trả nợ vốn vay; h) Các nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật
Các quyền và nghĩa vụ của CĐT được pháp luật quy định đã khẳng định địa
vị pháp lý của bên giao thầu trong quan hệ HĐXD và là cơ sở để xác định chế tài
do vi phạm nghĩa vụ theo hợp đồng đã ký kết Trường hợp CĐT vi phạm hợp đồng, thì họ phải chịu chế tài đối với bên nhận thầu xây dựng theo quy định của pháp luật
b Nhà thầu trong hoạt động xây dựng
Nhà thầu trong hoạt động xây dựng là tổ chức, cá nhân có đủ năng lực hoạt động xây dựng, năng lực hành nghề xây dựng khi tham gia quan hệ hợp đồng trong hoạt động xây dựng Pháp luật quy định chặt chẽ về điều kiện về năng lực tối thiểu của NTXD nhằm đảm bảo cho việc thực hiện nghĩa vụ theo hợp đồng được tốt nhất với chất lượng cao nhất
Theo quy định, ngoài việc thỏa mãn các điều kiện về năng lực chủ thể của quan hệ hợp đồng nói chung, NTXD còn phải đáp ứng các điều kiện khác về năng lực hoạt động xây dựng Đối với NTXD là tổ chức, đó thường là các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế được thành lập theo quy định của pháp luật, có đăng
ký hoạt động xây dựng Các quy định về điều kiện năng lực NTXD cũng được pháp luật quy định cụ thể tại Điều 148 Luật xây dựng 2014 quy định chung về điều kiện năng lực của tổ chức, cá nhân hoạt động xây dựng: Cá nhân tham gia hoạt động xây dựng phải có văn bằng, chứng chỉ đào tạo phù hợp với công việc đảm nhận do các
cơ sở đào tạo hợp pháp cấp; Nhà thầu là tổ chức, cá nhân nước ngoài hoạt động xây dựng tại Việt Nam phải tuân thủ quy định của pháp luật về đấu thầu và được cơ quan quản lý nhà nước về xây dựng cấp giấy phép hoạt động; Những chức danh, cá nhân hành nghề hoạt động xây dựng độc lập phải có chứng chỉ hành nghề theo quy định gồm an toàn lao động; giám đốc quản lý dự án, cá nhân trực tiếp tham gia quản
lý dự án; chủ trì thiết kế quy hoạch xây dựng; chủ nhiệm khảo sát xây dựng; chủ nhiệm, chủ trì thiết kế, thẩm tra thiết kế xây dựng; chỉ huy trưởng công trường; giám sát thi công xây dựng; kiểm định xây dựng; định giá xây dựng Chứng chỉ hành nghề được phân thành hạng I, hạng II, hạng III; Tổ chức tham gia hoạt động
Trang 17xây dựng được phân thành hạng I, hạng II, hạng III do cơ quan nhà nước có thẩm quyền về xây dựng đánh giá, cấp chứng chỉ năng lực Bộ Xây dựng cấp chứng chỉ năng lực hạng I; Sở Xây dựng cấp chứng chỉ năng lực hạng II, hạng III Tổ chức tham gia hoạt động xây dựng phải đăng ký kinh doanh ngành nghề phù hợp theo quy định của pháp luật; Chính phủ quy định chi tiết về điều kiện năng lực của tổ chức, cá nhân hoạt động xây dựng; điều kiện, thẩm quyền, trình tự, thủ tục cấp phép hoạt động của nhà thầu là tổ chức, cá nhân nước ngoài; chương trình, nội dung, hình thức tổ chức sát hạch cấp chứng chỉ hành nghề, chứng chỉ năng lực của tổ chức và điều kiện của cơ sở đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ về hoạt động xây dựng
Nhà thầu nước ngoài có thể nhận thầu tại Việt Nam nếu được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cấp giấy phép thầu xây dựng theo từng hợp đồng nhận thầu, sau khi đã tiến hành thẩm tra hồ sơ pháp lý chứng minh tư cách, năng lực hành nghề và kết quả đấu thầu hoặc quyết định chọn thầu hoặc hợp đồng giao nhận thầu hợp pháp
Ngoài các điều kiện về năng lực hoạt động xây dựng và hành nghề xây dựng thì NTXD phải đáp ứng được điều kiện về cạnh tranh theo quy định của Luật đấu thầu năm 2013 và các văn bản hướng dẫn thi hành Để đảm bảo cho việc lựa chọn NTXD có đầy đủ khả năng và điều kiện thực hiện nghĩa vụ theo hợp đồng một cách tốt nhất Pháp luật xây dựng quy định hình thức và biện pháp giúp cho bên đầu tư vốn (chủ đầu tư) có thể lựa chọn được người thực hiện công việc được tốt nhất Vì thế, các quy định về đầu thầu, quy trình lựa chọn nhà thầu trong hoạt động xây dựng được đặt ra có ý nghĩa quan trọng trong việc lựa chọn NTXD tham gia ký kết HĐXD Năng lực pháp lý, năng lực hoạt động xây dựng, kinh nghiệm của NTXD cũng như năng lực tài chính đều được đánh giá cụ thể và chặt chẽ
Theo quy định tại Nghị định 37, khi tham gia quan hệ HĐXD, bên giao thầu
và bên nhận thầu có các quyền và nghĩa vụ sau:
1 Quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia hợp đồng xây dựng do các bên thỏa thuận trong hợp đồng bảo đảm nguyên tắc không trái với các quy định của pháp luật
2 Bên giao thầu, bên nhận thầu phải thông báo bằng văn bản cho bên kia biết
về quyền và trách nhiệm của người đại diện để quản lý thực hiện hợp đồng Khi các
Trang 18bên thay đổi người đại diện để quản lý thực hiện hợp đồng thì phải thông báo cho bên kia biết bằng văn bản Riêng trường hợp bên nhận thầu thay đổi người đại diện để quản lý thực hiện hợp đồng, nhân sự chủ chốt thì phải được sự chấp thuận của bên giao thầu
3 Trường hợp bên nhận thầu là tập đoàn, tổng công ty khi thực hiện hợp đồng xây dựng có thể giao trực tiếp cho các đơn vị thành viên của mình nhưng phải đảm bảo nguyên tắc công khai, minh bạch, phù hợp với năng lực của từng thành viên và phải được bên giao thầu chấp thuận trước
4 Tùy theo từng loại hợp đồng xây dựng cụ thể, quyền và nghĩa vụ của bên giao thầu, bên nhận thầu còn được quy định từ Điều 25 đến Điều 34 Nghị định này
Pháp luật quy định các điều kiện về năng lực hoạt động cũng như các quyền
và nghĩa vụ của NTXD nêu trên là cơ sở cho việc xác định chế độ chịu trách nhiệm
và năng lực chịu trách nhiệm khi có vi phạm hợp đồng đã ký kết Trường hợp NTXD vi phạm các nghĩa vụ theo hợp đồng thì NTXD sẽ phải chịu trách nhiệm trước bên giao thầu
Trong cơ chế thực hiện nghĩa vụ xây dựng, pháp luật cho phép NTXD được quyền giao thầu lại một phần công việc cho nhà thầu phụ Vì vậy, pháp luật quy định có hai hình thức nhà thầu, đó là nhà thầu chính và nhà thầu phụ:
Nhà thầu chính: là nhà thầu chịu trách nhiệm tham dự thầu, đứng tên dự thầu
và trực tiếp ký, thực hiện hợp đồng nếu được lựa chọn Nhà thầu chính có thể là nhà thầu độc lập hoặc thành viên của nhà thầu liên danh Nhà thầu chính là nhà thầu trực tiếp ký kết hợp đồng xây dựng với chủ đầu tư xây dựng
Nhà thầu phụ: là nhà thầu tham gia thực hiện gói thầu theo hợp đồng được
ký với nhà thầu chính Nhà thầu phụ đặc biệt là nhà thầu phụ thực hiện công việc quan trọng của gói thầu do nhà thầu chính đề xuất trong hồ sơ dự thầu, hồ sơ đề xuất trên cơ sở yêu cầu ghi trong hồ sơ mời thầu, hồ sơ yêu cầu Nhà thầu phụ là nhà thầu ký kết hợp đồng xây dựng với nhà thầu chính hoặc tổng thầu
Pháp luật cho phép việc giao thầu lại như trên xuất phát từ đặc điểm của hoạt động đầu tư xây dựng là NTXD thường phải đảm nhiệm những công việc có quy
Trang 19mô lớn, nhưng về kỹ thuật có thể phân chia thành các bộ phận, hạng mục công trình nhỏ hơn để thực hiện Hơn nữa hoạt động xây dựng được tiến hành trên một mặt bằng thi công rộng lớn, cho nên tại một địa điểm xây dựng xác định vào cùng một thời gian, nhiều đơn vị có thể cùng thi công các bộ phận, hạng mục công trình khác nhau nhằm rút ngắn thời gian thực hiện Quy định này cũng phù hợp với thông lệ, tập quán quốc tế về hoạt động xây dựng
Tuy nhiên, để đảm bảo cho chất lượng các công việc do nhà thầu phụ thực hiện theo hợp đồng thầu phụ cũng như đảm bảo tiến độ xây dựng, việc giao thầu lại theo hợp đồng thầu phụ phải có sự chấp thuận của chủ đầu tư Theo quy định, nhà thầu chính được ký kết hợp đồng với một hoặc một số nhà thầu phụ nhưng các nhà thầu phụ này phải được chủ đầu tư chấp thuận, nội dung các hợp đồng thầu phụ này phải thống nhất, đồng bộ với nội dung của hợp đồng thầu chính Nhà thầu chính phải chịu trách nhiệm với chủ đầu tư về tiến độ, chất lượng, an toàn lao động, bảo vệ môi trường và các sai sót của mình và các công việc do các nhà thầu phụ thực hiện Nhà thầu chính không được giao lại toàn bộ công việc theo hợp đồng cho nhà thầu phụ thực hiện Đây là một trong các đặc trưng của chế độ chịu trách nhiệm trong quan hệ hợp đồng thầu chính và hợp đồng thầu phụ Mặc dù, hợp đồng thầu phụ được ký kết giữa nhà thầu chính với nhà thầu phụ, còn hợp đồng thầu chính được ký kết giữa chủ đầu tư (giao thầu) với nhà thầu chính, tuy nhiên khi nhà thầu phụ vi phạm hợp đồng thì pháp luật quy định nhà thầu chính vẫn phải chịu trách nhiệm trước chủ đầu tư về chất lượng công việc theo hợp đồng thầu chính
1.1.2.2 Thứ hai, Hợp đồng xây dựng có kết quả được vật thể hóa, mang tính đơn chiếc và có giá trị kinh tế cao
Kết quả của HĐXD là bộ phận công trình xây dựng, hạng mục công trình xây dựng hoặc công trình xây dựng hoàn thành (một căn nhà, một nhà máy, một con đường hay một cây cầu) Bộ phận công trình xây dựng, hạng mục công trình xây dựng hoặc công trình xây dựng hoàn thành đó phải được xác định trước theo mẫu, theo thiết kế đã được phê duyệt trước, nó chỉ được hiện thực hóa sau khi nhà thầuhoàn thành công việc của mình theo hợp đồng Để hoàn thành được bộ phận công trình, hạng mục công trình và công trình xây dựng đó, các công việc mà bên
Trang 20nhận thầu tiến hành phải mang tính kỹ thuật, tuân theo trình tự nhất định, đòi hỏi trong quá trình thực hiện phải tuân thủ theo những chuẩn mực nhất định Xem xét một cách đầy đủ và toàn diện thì bộ phận công trình, hạng mục công trình hay công trình xây dựng hoàn thành chính là là sự hiện thực hóa của tất cả các hoạt động xây dựng Đó là dự án đầu tư xây dựng đã được phê duyệt, các số liệu khảo sát xây dựng, các bản vẽ thiết kế xây dựng tất cả đều nhằm chuẩn bị cho hoạt động thi công xây dựng và là cơ sở, điều kiện để tạo nên một công trình xây dựng hoàn chỉnh Xây dựng công trình chính là quá trình hiện thựchóa những ý tưởng xây dựng công trình từ bản vẽ theo dự án đầu tư xây dựng mà kết quả là một sản phẩm xây dựng hiện hữu trên thực tế trở thành đối tượng của HĐXD
Trong xây dựng, ít có lĩnh vực sản xuất sẵn hàng loạt để bán, trừ một số trường hợp có thể xây dựng sẵn để bán hoặc cho thuê như các khu chung cư, nhà ở cho thuê Ngay cả trong trường hợp xây dựng theo thiết kế mẫu như công trình trạm
y tế, trường học, bưu điện thì mỗi công trình phải được thay đổi cho phù hợp với địa chất, khí hậu… tại địa điểm xây dựng công trình Như vậy, sản xuất xây dựng không sản xuất được hàng loạt hàng hóa như trong các ngành công nghiệp khác mà thường sản xuất theo đơn đặt hàng đơn chiếc Do đó, đối tượng của HĐXD chưa hiện hữu vào thời điểm giao kết hợp đồng Trong nhiều trường hợp, quá trình thực hiện hợp đồng phát sinh những công việc hoặc có những thay đổi mà trước đó các bên không thể dự liệu trong hợp đồng Đặc trưng này của HĐXD đòi hỏi pháp luật phải quy định các tiêu chuẩn, quy phạm kỹ thuật cần thiết và đầy đủ làm cơ sở cho các bên xác định đối tượng của hợp đồng khi giao kết hợp đồng Tuân thủ theo quy chuẩn và tiêu chuẩn xây dựng là một nguyên tắc cơ bản trong hoạt động xây dựng Vì thế, pháp luật đặt ra các yêu cầu đối với công tác nghiệm thu xây dựng là hết sức cần thiết Công tác nghiệm thu xây dựng với những căn cứ, thành phần và nội dung nghiệm thu được pháp luật quy định cụ thể cũng là nhằm đảm bảo cho chất lượng của sản phẩm xây dựng có đạt yêu cầu so với thiết kế xây dựng hay không từ đó có thể xác định nghĩa vụ của nhà thầu thi công đã hoàn thành hay chưa Trên cơ sở đó, chế tài pháp lý đối với nhà thầu thi công được áp dụng nếu nghĩa vụ thi công xây dựng chưa hoàn thành và chất lượng sản phẩm xây dựng không đảm bảo theo yêu cầu
Trang 21Mặt khác, đối tượng của HĐXD từ các công trình có quy mô nhỏ như nhà ở đơn lẻ, cho đến các công trình có quy mô lớn như công trình công nghiệp, công trình giao thông, công trình năng lượng đều là những sản phẩm được kết tinh từ khối lượng lớn vật liệu xây dựng từ nhiều chủng loại, từ rất nhiều nhân công và hao phí máy móc, thiết bị Vì thế, giá trị kinh tế của một công trình xây dựng hoàn thành cao hơn hẳn so với các sản phẩm công nghiệp thông thường khác Hơn nữa các công trình xây dựng có những tác động to lớn và ảnh hưởng nhiều mặt đến đời sống kinh tế - xã hội,
có ảnh hưởng trực tiếp đến sinh hoạt của nhân dân Các công trình xây dựng sau khi được hoàn thành sẽ được đưa vào khai thác, vận hành và sử dụng mà việc khai thác, vận hành, sử dụng đó ảnh hưởng rất lớn đến sự an toàn về tính mạng, sức khỏe cho người sử dụng, khai thác Do vậy các yêu cầu về an toàn cho người sử dụng và công trình lân cận là một yêu cầu bắt buộc không thể thiếu trong thi công xây dựng
Chính giá trị kinh tế và tầm quan trọng đặc biệt như vậy của công trình xây dựng đã đặt ra những yêu cầu nghiêm ngặt đối với chất lượng của nó cũng như việc
thực hiện đúng hợp đồng là hết sức quan trọng Việc tuân thủ nguyên tắc “Thực
hiện đúng hợp đồng” của NTXD trong trường hợp này cần được nêu cao hơn trong
suốt quá trình thực hiện HĐXD Xuất phát từ đặc trưng này của HĐXD, pháp luật cần phải quy định cụ thể về các quy chuẩn và tiêu chuẩn xây dựng, các định mức kinh tế kỹ thuật áp dụng bắt buộc trong xây dựng, cũng như quy định rõ ràng về quyền và nghĩa vụ của các chủ thể tham gia quan hệ hợp đồng đối với việc đảm bảo chất lượng của công trình xây dựng Đặc trưng này chi phối đến một số điều khoản trong HĐXD như điều khoản về đối tượng của hợp đồng, điều khoản yêu cầu chất lượng công trình, điều khoản trách nhiệm trong việc giải quyết các sự cố, mua bảo hiểm trong xây dựng và trách nhiệm trong việc khắc phục các sai sót, hư hỏng do vi phạm nghĩa vụ của nhà thầu gây ra
Các sản phẩm là đối tượng của HĐXD cũng đòi hỏi phải đáp ứng những yêu cầu nghiêm ngặt của pháp luật về quy hoạch xây dựng, đảm bảo mỹ quan công trình, bảo vệ môi trường và cảnh quan chung; phù hợp với điều kiện tự nhiên, đặc điểm văn hóa, xã hội của từng địa phương; kết hợp phát triển kinh tế - xã hội với an ninh quốc phòng
Trang 22Như vậy, xét về đặc trưng pháp lý thì HĐXD cũng là một loại hợp đồng gia công mà chủ đầu tư là bên đặt gia công còn nhà thầu là bên nhận gia công Theo đó, các quy định chung của BLDS về hợp đồng gia công sẽ được áp dụng để xác định quyền và nghĩa vụ của bên giao thầu và nhận thầu trong HĐXD, từ đó xác định chế tài pháp lý tương ứng
1.1.2.3 Thứ ba, việc thực hiện nghĩa vụ của nhà thầu diễn ra trong một khoảng thời gian dài và chịu nhiều ảnh hưởng bởi yếu tố thời tiết
Trong HĐXD, nghĩa vụ chủ yếu trong việc thực hiện hợp đồng thuộc về NTXD Trong khi đó, xây dựng là một hoạt động kinh tế - kỹ thuật hết sức phức tạp bao gồm nhiều hoạt động cụ thể như xây dựng và lắp đặt thiết bị đối với các công trình xây dựng mới, sửa chữa, cải tạo, di dời, tu bổ, phục hồi; phá dỡ công trình; bảo hành công trình, bảo trì công trình Hoạt động này là nghĩa vụ mà NTXD phải thực hiện khi HĐXD có hiệu lực nhằm tạo ra sản phẩm xây dựng hoàn Hoạt động xây dựng với yêu cầu nghiêm ngặt về trình tự, thủ tục thực hiện đòi hỏi NTXD phải tiến hành các hoạt động này trong một thời gian dài với từng bước cụ thể Hơn nữa, do yêu cầu về mặt tổ chức đòi hỏi phải có thời gian hợp lý cho sự phối hợp giữa các khâu có liên quan như giao và nhận mặt bằng thi công, bố trí lán trại, nơi tập kết vật liệu, huy động thiết bị, vật tư, bố trí nhân sự… Vì vậy, có thể khẳng định rằng việc xây dựng theo HĐXD là hoạt động chủ yếu và kéo dài Đặc trưng này sẽ ảnh hưởng
và chi phối đến việc xác định tiến độ của dự án đầu tư xây dựng từ đó xác định chế tài pháp lý của nhà thầu khi có sự vi phạm về tiến độ thực hiện HĐXD
Mặt khác, hoạt động xây dựng chủ yếu diễn ra ở ngoài trời với thời gian dài nên nó chịu ảnh hưởng của yếu tố thời tiết Sự ảnh hưởng của yếu tố này đối với việc thực hiện nghĩa vụ xây dựng của nhà thầu biểu hiện qua những tác động như gây nên tình trạng gián đoạn công trình đang thi công dẫn đến kéo dài thời gian hoàn thành công trình, ảnh hưởng đến chi phí đầu tư, làm cho hiệu quả đầu tư bị giảm sút, ảnh hưởng đến kế hoạch sản xuất kinh doanh và có thể làm hư hỏng các kết cấu công trình đang xây lắp Đặc trưng này của HĐXD dẫn đến sự chi phối các quy định của pháp luật về quản lý vốn đầu tư, tiến độ thanh toán theo từng đợt, lãi suất, tỷ giá… miễn trách nhiệm do vi phạm Bên cạnh đó là các quy định về trách
Trang 23nhiệm của các bên trong việc ứng phó với các thiệt hại do nguyên nhân thời tiết như mưa, bão, động đất, sóng thần… có thể gây ra Yếu tố này chi phối đến việc quy định trách nhiệm của các bên trong việc mua các loại bảo hiểm trong hoạt động xây dựng, từ đó có thể khắc phục được các rủi ro, thiệt hại do điều kiện thời tiết gây ra Qua đó có thể xác định chế tài pháp lý hoặc miễn trách nhiệm do vi phạm hợp đồng của các bên đối với việc thực hiện các nghĩa vụ của mình khi có các sự cố, rủi ro do thiên nhiên gây ra
1.1.2.4 Thứ tư, quyền và nghĩa vụ theo hợp đồng của các chủ thể hợp đồng
có liên quan đến bên thứ ba
Nếu trong các quan hệ hợp đồng dân sự, thương mại thông thường khác thường chỉ có hai bên ký kết hợp đồng chủ động thực hiện các nghĩa vụ và trách nhiệm của mỗi bên theo thỏa thuận trong hợp đồng thì trong quan hệ HĐXD thì có
sự tham gia của tư vấn giám sát Chủ thể này đóng vai trò cố vấn, giám sát các bên thực hiện nhiệm vụ hợp đồng và đảm bảo cho kết quả hợp đồng, đó là đơn vị tư vấn giám sát xây dựng Pháp luật quy định, đơn vị tư vấn giám sát phải thực hiện nghĩa
vụ giám sát quá trình xây dựng của nhà thầu trên cơ sở thực hiện các nhiệm vụ được chủ đầu tư giao Quy định này xuất phát từ những yêu cầu về mặt chất lượng, tiến độ
và chi phí đầu tư cũng như những tác động to lớn của công trình xây dựng trong quá trình khai thác, sử dụng mà pháp luật đòi hỏi quá trình xây dựng của NTXD luôn phải
có sự giám sát chặt chẽ của tư vấn giám sát xây dựng Hơn nữa, pháp luật yêu cầu CĐT phải có đủ điều kiện năng lực, trình độ chuyên môn để thực hiện và quản lý thực hiện công việc xây dựng Trong trường hợp không đủ điều kiện năng lực thì CĐT phải thuê tổ chức tư vấn giám sát để giám sát việc xây dựng của nhà thầu
Đơn vị tư vấn giám sát xây dựng là tổ chức hành nghề độc lập thuộc các thành phần kinh tế, có tư cách pháp nhân, có đăng ký kinh doanh về tư vấn giám sát xây dựng theo quy định của pháp luật Năng lực của đơn vị tư vấn giám sát xây dựng được quy định bao gồm có đủ năng lực hoạt động xây dựng tương ứng với cấp
và loại công trình tham gia; các cá nhân tham gia giám sát xây dựng phải có chứng chỉ hành nghề giám sát xây dựng tương ứng với loại và cấp công trình
Trong quá trình xây dựng, sự có mặt của nhà thầu tư vấn, giám sát có ý nghĩa hết sức quan trọng, đặc biệt trong công tác nghiệm thu khối lượng xây lắp, tổng
Trang 24nghiệm thu bàn giao công trình đưa vào sử dụng, thanh quyết toán hợp đồng Ở các
công tác này, “không chỉ được hai bên chủ đầu tư và nhà thầu thi công tham gia
thực hiện mà còn có sự tham gia và ý kiến của đơn vị tư vấn, giám sát” [12, tr.11]
Vì vậy, việc đánh giá sản phẩm xây dựng có hoàn thành, đảm bảo chất lượng theo yêu cầu và phù hợp với tiến độ hay không còn phụ thuộc vào đơn vị tư vấn, giám sát Việc phát hiện và xác định các hành vi vi phạm hợp đồng của NTXD phụ thuộc nhiều vào đơn vị tư vấn giám sát Nếu hành vi vi phạm được phát hiện và yêu cầu
xử lý kịp thời sẽ khắc phục và hạn chế thiệt hại có thể xảy ra, ngược lại sẽ gây khó khăn cho việc giải quyết hậu quả, áp dụng chế tài và giải quyết các tranh chấp Tuy nhiên việc áp dụng chế tài do vi phạm HĐXD theo pháp luật Việt Nam của NTXD lại không phụ thuộc vào tư vấn giám sát xây dựng Bất kỳ sự chấp thuận, kiểm tra, xác nhận, đồng ý, xem xét, giám sát, thông báo, yêu cầu, kiểm định hoặc hành động tương tự nào của tư vấn giám sát xây dựng cũng không hề miễn cho nhà thầu khỏi bất kỳ trách nhiệm nào theo hợp đồng, bao gồm cả trách nhiệm đối với các sai sót,
bỏ sót, không nhất quán và không tuân thủ đúng
Trong hệ thống các tổ chức kinh tế hoạt động xây dựng, nhà thầu tư vấn giám sát giữ vị trí quan trọng, đóng vai trò là cầu nối giữa chủ đầu tư và NTXD Ở các nước phát triển, vai trò của tổ chức tư vấn trong xây dựng được đề cao và ngày càng khẳng định được vị trí khi các công việc mà tổ chức tư vấn tham gia đã đem lại hiệu quả đầu tư xây dựng cao, đã giảm thiểu được rất nhiều công việc cho cho CĐT Quá trình tham gia của tổ chức tư vấn cũng tháo gỡ được những khó khăn, vướng mắc trong việc xác định trách nhiệm pháp lý của mỗi bên do vi phạm HĐXD
1.1.2.5 Thứ năm, Hợp đồng xây dựng phải được thể hiện dưới hình thức bằng văn bản
Hình thức của hợp đồng là cách thức thể hiện nội dung của HĐXD Theo quy định hiện hành, HĐXD phải được thể hiện dưới hình thức bằng văn bản hợp đồng Trong văn bản HĐXD, các bên sẽ ghi nhận các điều khoản đã thống nhất qua quá trình giao kết hợp đồng hoặc quá trình lựa chọn nhà thầu trong hoạt động xây dựng theo quy định của Luật đấu thầu năm 2013 và các văn bản hướng dẫn thi hành Cuối văn bản hợp đồng là sự xác nhận nội dung các điều khoản mà các bên đã
Trang 25cam kết thông qua việc ký tên, đóng dấu vào văn bản hợp đồng
Việc quy định hình thức bằng văn bản là bắt buộc đối với HĐXD đảm bảo cho tính xác thực của quan hệ hợp đồng mà các bên đã giao kết Điều này phù hợp với tính xác định chặt chẽ về hình thức của pháp luật nói chung Đảm bảo tính có căn cứ và là cơ sở pháp lý cho việc thực hiện đúng HĐXD cũng như giải quyết các tranh chấp giữa các bên Các điều khoản được ghi nhận trong văn bản HĐXD được
coi là “pháp luật” mà các bên đã tạo lập và phải thực hiện Một khi văn bản HĐXD
đó được coi là “pháp luật” cho việc thực hiện thì nó cần phải được thể hiện một cách rõ ràng và minh bạch Hình thức bằng văn bản được ghi nhận như là yếu tố nhằm đảm bảo các yêu cầu nêu trên
Tóm lại, những đặc trưng của HĐXD nêu trên có ảnh hưởng rất lớn đến sự điều chỉnh của pháp luật trong việc quy định chế tài pháp lý do vi phạm HĐXD Pháp luật cần phải có sự điều chỉnh phù hợp với những đặc thù của HĐXD, có như vậy mới phát huy được hiệu quả điều chỉnh của pháp luật đối với quan hệ HĐXD
1.2 Vi phạm Hợp đồng xây dựng và chế tài do vi phạm Hợp đồng xây dựng
1.2.1 Khái niệm chế tài do vi phạm Hợp đồng xây dựng
HĐXD có hiệu lực sẽ làm phát sinh quyền và nghĩa vụ pháp lý giữa bên giao thầu và nhận thầu xây dựng Các cam kết theo hợp đồng có sự ràng buộc pháp lý đối với mỗi bên, các quyền và nghĩa vụ trong hợp đồng được coi là luật mà các bên phải thực hiện Nguyên tắc thực hiện đúng hợp đồng luôn được đặt ra và yêu cầu các bên phải tuân thủ Tuy nhiên, việc thực hiện đúng hợp đồng không phải lúc nào cũng được các bên tuân thủ một cách tuyệt đối Việc không thực hiện hay thực hiện không đúng những nghĩa vụ pháp lý đó được coi là hành vi vi phạm hợp đồng
đã ký kết
Theo LTM thì “vi phạm hợp đồng là việc một bên không thực hiện, thực
hiện không đầy đủ hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ theo theo thuận giữa các bên hoặc theo quy định của Luật này” [21, Điều 3, khoản 2] BLDS không đề
cập trực tiếp đến khái niệm vi phạm hợp đồng nhưng cũng tiếp cận khái niệm vi phạm hợp đồng theo hướng của LTM mà nội dung của vi phạm hợp đồng được hiểu là không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ theo hợp đồng
Trang 26Việc thực hiện không đúng nghĩa vụ cũng đã bao hàm việc thực hiện không đầy
đủ nghĩa vụ của hợp đồng
Trong HĐXD, nghĩa vụ thực hiện đúng hợp đồng được đặt ra với cả bên giao thầu và bên nhận thầu Tuy nhiên, nghĩa vụ chính và chủ yếu được đặt ra đối với bên nhận thầu là tiến hành các công việc cụ thể theo tiêu chuẩn và yêu cầu kỹ thuật
để các bộ phận, hạng mục công trình, công trình xây dựng được hoàn thành Đối với bên giao thầu, nghĩa vụ được đặt ra là tạm ứng hợp đồng, thanh toán hợp đồng và một số nghĩa vụ khác
Quá trình nhà thầu thực hiện nghĩa vụ theo hợp đồng đã ký kết là quá trình thực hiện các công việc mang tính kỹ thuật đặc thù, theo thiết kế đã được phê duyệt
từ trước có sự kiểm tra, giám sát của nhà thầu tư vấn giám sát Tuy nhiên, vi phạm HĐXD vẫn xảy ra khi bên có nghĩa vụ không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ theo hợp đồng Điều này có thể xâm hại đến lợi ích hợp pháp của bên có quyền và trong nhiều trường hợp làm cho mục đích giao kết hợp đồng của các bên không đạt được Hành vi vi phạm HĐXD rất đa dạng và xảy ra khá phổ biến đã ảnh hưởng không nhỏ đến tiến độ, chất lượng công trình, ảnh hưởng đến việc khai thác, sử dụng công trình của CĐT, ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của các bên
Dưới góc độ pháp lý, các thỏa thuận hợp pháp có giá trị ràng buộc giữa các bên và được pháp luật bảo vệ Lợi ích của chủ thể chỉ được thỏa mãn khi đối tác của
họ thực hiện nghiêm chỉnh các nghĩa vụ đã cam kết Chế tài do vi phạm HĐXD được đặt ra nhằm nâng cao trách nhiệm của mỗi bên trong việc thực hiện đúng hợp đồng, buộc bên vi phạm hợp đồng phải gánh chịu những hậu quả bất lợi do hành vi
vi phạm hợp đồng cũng như để khắc phục, hạn chế được các thiệt hại có thể xảy ra
Chế tài do vi phạm hợp đồng là một loại trách nhiệm pháp lý do không thực hiện nghĩa vụ pháp lý, nó chỉ phát sinh khi có hành vi vi phạm nghĩa vụ theo hợp đồng của các bên Ở mức độ khái quát, chế tài do vi phạm hợp đồng mang bản chất
là một dạng cụ thể của chế tài do vi phạm HĐXD theo pháp luật Việt Nam Vì vậy, chế tài do vi phạm nghĩa vụ hợp đồng trước hết mang những đặc điểm của chế tài
do vi phạm hợp đồng theo pháp luật Việt Nam nói chung, tuy nhiên nó có điểm đặc thù là chỉ phát sinh trong lĩnh vực hợp đồng khi có hành vi vi phạm hợp đồng Và
Trang 27như vậy, việc áp dụng chế tài do vi phạm HĐXD theo pháp luật Việt Nam chỉ được tiến hành khi các bên trong quan hệ HĐXD không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ theo HĐXD đã ký kết Với cách tiếp cận như vậy, luận văn chỉ xem xét các vấn đề lý luận và thực tiễn về chế tài do vi phạm HĐXD theo pháp luật Việt Nam do vi phạm HĐXD với ý nghĩa là một loại chế tài pháp lý phát sinh khi có hành vi vi phạm HĐXD Trong khoa học pháp lý, khái niệm chế tài do vi phạm HĐXD theo pháp luật Việt Nam được nghiên cứu dưới hai góc độ chủ quan và khách quan
Theo nghĩa chủ quan, chế tài do vi phạm HĐXD theo pháp luật Việt Nam được hiểu là sự gánh chịu hậu quả bất lợi của bên có hành vi vi phạm HĐXD Khi hợp đồng có hiệu lực, các bên có nghĩa vụ thực hiện nghiêm chỉnh các điều khoản
đã cam kết Nếu một bên có hành vi vi phạm thì phải gánh chịu những hậu quả bất lợi do hành vi vi phạm đó gây ra Việc gánh chịu những hậu quả này phải tuân theo quy định của pháp luật về HĐXD nói chung và HĐXD nói riêng Pháp luật hiện hành cho phép áp dụng nhiều hậu quả bất lợi đối với bên vi phạm hợp đồng như: Buộc sửa chữa khắc phục những sai sót hư hỏng của công trình xây dựng (Buộc thực hiện đúng hợp đồng); buộc bồi thường thiệt hại; phạt vi phạm hợp đồng; tạm ngừng thực hiện hợp đồng; đơn phương chấm dứt hợp đồng
Theo nghĩa khách quan, chế tài do vi phạm HĐXD theo pháp luật Việt Nam được hiểu là một chế định pháp luật bao gồm tổng hợp các quy phạm pháp luật điều chỉnh nhóm quan hệ xã hội phát sinh do vi phạm chế độ pháp lý về HĐXD Những quy phạm pháp luật này có thể cho phép áp dụng bồi thường thiệt hại hay phạt vi phạm hợp đồng… ngay cả khi các bên không thỏa thuận điều đó trong hợp đồng Đây
là sự thể hiện thái độ phản ứng của Nhà nước đối với hành vi vi phạm hợp đồng gây hại cho bên kia và cho kinh tế - xã hội nói chung Theo nghĩa này, cấu trúc chung của chế định trách nhiệm do vi phạm HĐXD bao gồm các nội dung sau đây:
• Quy định về căn cứ xác định chế tài do vi phạm HĐXD theo pháp luật Việt Nam
• Quy định về các hình thức chế tài do vi phạm HĐXD theo pháp luật Việt Nam
• Quy định về hậu quả pháp lý khi áp dụng chế tài do vi phạm HĐXD theo
Trang 28pháp luật Việt Nam
• Quy định về miễn trách nhiệm do vi phạm HĐXD theo pháp luật Việt Nam Các quy định trong những nội dung nêu trên có thể được sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với sự phát triển của các quan hệ kinh tế tùy theo từng thời kỳ nhất định nhưng cấu trúc pháp lý của chế định chế tài do vi phạm HĐXD này không thể thay đổi Mặt khác, nếu thiếu đi một trong bốn nội dung nêu trên thì hệ thống các quy định của pháp luật về chế tài pháp lý do vi phạm HĐXD sẽ không phát huy được vai trò và hiệu quả của pháp luật trong việc điều chỉnh và áp dụng chế tài HĐXD trên thực tế
Trong phạm vi luận văn này, tác giả tập trung nghiên cứu các quy định của pháp luật về chế tài do vi phạm HĐXD theo pháp luật Việt Nam Đó là những hậu quả bất lợi mà bên vi phạm hợp đồng phải gánh chịu trước bên bị vi phạm Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng đối với bên thứ ba phát sinh từ việc thực hiện nghĩa vụ theo HĐXD không nằm trong nội dung nghiên cứu của luận văn Vấn
đề này được đặt ra là vì trong nội dung nghiên cứu của luận văn, tác giả có đề cập đến các loại hành vi vi phạm HĐXD là căn cứ chủ yếu làm phát sinh các loại trách nhiệm do vi phạm HĐXD theo pháp luật Việt Nam theo quy định của pháp luật Theo đó, có những hành vi vi phạm HĐXD dẫn đến hậu quả là bên vi phạm sẽ phải gánh chịu các trách nhiệm do vi phạm HĐXD theo pháp luật Việt Nam khác nhau như chế tài bồi thường thiệt hại, phạt hợp đồng, tạm ngừng hợp đồng… đối với bên kia của quan hệ hợp đồng và cũng có thể bên vi phạm phải chịu trách nhiệm do vi phạm HĐXD theo pháp luật Việt Nam khác như bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng đối với bên thứ ba không tham gia quan hệ hợp đồng Ví dụ như chế tài bồi thường thiệt hại của nhà thầu xây dựng đối với các tổ chức, cá nhân bị thiệt hại (không phải là bên giao thầu) khi nhà thầu vi phạm nghĩa vụ về quản lý, bảo đảm an toàn lao động, vệ sinh công trường xây dựng
Đối với trách nhiệm do vi phạm HĐXD theo pháp luật Việt Nam của một bên do nguyên nhân của bên thứ 3 gây ra, pháp luật hiện hành cũng đưa ra cách
giải quyết rất cụ thể mang tính nguyên tắc Đó là, “Trường hợp một bên vi
phạm hợp đồng do nguyên nhân của bên thứ ba, bên vi phạm phải chịu trách nhiệm
Trang 29vi phạm hợp đồng trước bên kia Tranh chấp giữa bên vi phạm với bên thứ ba được giải quyết theo quy định của pháp luật.” [23, Điều 146, khoản 6]
1.2.2 Ý nghĩa của chế tài do vi phạm hợp đồng xây dựng
Hoạt động xây dựng là một hoạt động có ý nghĩa về mặt kinh tế hết sức quan trọng trong sự phát triển của nền kinh tế, nó tạo ra cơ sở vật chất kỹ thuật ban đầu cho xã hội Hệ thống các quy định của pháp luật điều chỉnh hoạt động xây dựng nhằm đảm bảo cho trật tự của các quan hệ xã hội trong hoạt động xây dựng nói chung cũng như quan hệ HĐXD nói riêng Việc các bên vi phạm nghĩa vụ theo hợp đồng đã giao kết sẽ phải gánh chịu những hậu quả bất lợi theo thỏa thuận và theo quy định của pháp luật Do đó, chế tài do vi phạm HĐXD theo pháp luật Việt Nam được quy định có ý nghĩa quan trọng, thể hiện ở các khía cạnh sau đây:
- Thứ nhất là, chế tài do vi phạm HĐXD theo pháp luật Việt Nam nhằm bảo
vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên trong quan hệ HĐXD Khi tham gia vào quan hệ HĐXD, các bên đều hướng đến những lợi ích nhất định Đó là những lợi ích hợp pháp nhận được từ việc thực hiện nghĩa vụ theo hợp đồng như lợi nhuận từ việc sản xuất, thi công, công trình xây dựng hoàn thành để sử dụng… Hành vi vi phạm HĐXD sẽ trực tiếp ảnh hưởng, làm giảm sút những lợi ích trên của bên bị vi phạm và để bảo vệ lợi ích của bên bị vi phạm, pháp luật cho phép họ được tự mình hoặc yêu cầu cơ quan có thẩm quyền áp dụng các chế tài đối với bên vi phạm
- Thứ hai là, chế tài do vi phạm HĐXD theo pháp luật Việt Nam nhằm ngăn
ngừa và hạn chế vi phạm hợp đồng, nâng cao ý thức trách nhiệm của các bên trong việc ký kết và thực hiện HĐXD Với nguyên tắc “lỗi suy đoán”, pháp luật buộc các bên phải gánh chịu chế tài với mọi hành vi vi phạm hợp đồng đã ký kết và có hiệu lực, ngoại trừ các trường hợp miễn chế tài mà nghĩa vụ chứng minh thuộc về bên vi phạm hợp đồng Với những bất lợi không muốn có mà bên vi phạm hợp đồng phải gánh chịu, chế tài do vi phạm nghĩa vụ hợp đồng được đặt ra nhằm tác động vào ý thức của các bên trong việc tôn trọng và thực hiện nghiêm chỉnh các cam kết theo hợp đồng, từ đó hạn chế vi phạm HĐXD
- Thứ ba là, chế tài do vi phạm HĐXD theo pháp luật Việt Nam góp phần
đảm bảo trật tự vận hành của hoạt động xây dựng, của nền kinh tế thị trường nói chung
Trang 30HĐXD được ký kết và có hiệu lực thì nó sẽ ràng buộc chế tài giữa các bên thông qua
các quyền và nghĩa vụ Lúc này, nguyên tắc “thực hiện đúng hợp đồng” được đặt ra và
buộc các bên phải thực hiện Do vậy, để trách tình trạng tùy tiện, không tôn trọng các cam kết theo hợp đồng thì chế tài do vi phạm HĐXD được đặt ra góp phần đảm bảo cho sự vận hành có trật tự của các quan hệ trong hoạt động xây dựng cũng như quan hệ kinh tế nói chung Điều này càng có ý nghĩa hơn đối với quan hệ HĐXD xây dựng những công trình sử dụng nguồn vốn ngân sách nhà nước
1.3 Nguồn luật điều chỉnh chế tài do vi phạm Hợp đồng xây dựng
1.3.1 Nguồn luật điều chỉnh
Nghiên cứu và xác định nguồn luật điều chỉnh chế tài do vi phạm HĐXD theo pháp luật Việt Nam có ý nghĩa hết sức quan trọng trong việc xác định những quy phạm pháp luật hiện hành nào điều chỉnh quan hệ HĐXD từ đó áp dụng pháp luật điều chỉnh và giải quyết các tranh chấp phát sinh từ HĐXD Pháp luật về chế tài do vi phạm HĐXD theo pháp luật Việt Nam là hệ thống các quy phạm pháp luật
do Nhà nước ban hành hoặc thừa nhận điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh do
vi phạm chế độ pháp lý về HĐXD
Nguồn luật điều chỉnh quy định về chế tài do vi phạm hợp đồng nói chung có
sự khác nhau phụ thuộc vào hệ thống pháp luật của từng nước quy định về vấn đề
đó Ở các nước theo hệ thống luật Common Law như Anh, Mỹ thì án lệ là nguồn luật quan trọng, thẩm phán có quyền giải thích và sáng tạo luật Còn những nước theo hệ thống dân luật Civil Law như Pháp, Đức thì thẩm quyền này của thẩm phán
bị hạn chế, án lệ là nguồn luật không chủ yếu khi xét xử mà các quy định của luật, văn bản dưới luật chủ yếu được áp dụng
Ở một số nước, nhất là những nước có nền kinh tế thị trường phát triển thì tập quán thương mại cũng đóng vai trò quan trọng trong việc điều chỉnh các quan hệ thương mại Trong Bộ luật thương mại Nhật Bản, khi xác định thứ tự áp dụng tập quán thương mại thậm chí còn ưu tiên áp dụng trước các quy định của Bộ luật dân
sự và tập quán dân sự Ở Việt Nam, tập quán là một nguồn phụ trợ của pháp luật, đóng vai trò nhất định trong điều chỉnh các quan hệ hợp đồng, các văn bản như BLDS và LTM đều có quy định về áp dụng tập quán Cụ thể, Điều 5, BLDS quy
Trang 31định áp dụng tập quán như sau: “Trường hợp các bên không có thỏa thuận và pháp
luật không quy định thì có thể áp dụng tập quán nhưng tập quán áp dụng không được trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự quy định tại Điều 3 của
Bộ luật này.” [20] Khoản 2, Điều 5, LTM cũng có quy định về nguyên tắc áp dụng
tập quán thương mại quốc tế:
Các bên trong giao dịch thương mại có yếu tố nước ngoài được thỏa thuận
áp dụng pháp luật của nước ngoài, tập quán thương mại quốc tế nếu pháp luật của nước ngoài, tập quán thương mại quốc tế đó không trái với nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam [21]
Ở Việt Nam, án lệ chính thức được thừa nhận trong hệ thống pháp luật Việt Nam là bước ngoặt lớn, đánh dấu sự đột phá trong quá trình cải cách tư pháp Tuy nhiên, nguồn luật chủ yếu và quan trọng nhất chính là hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền ban hành, đây cũng chính là bộ phận quan trọng nhất trong hệ thống nguồn luật điều chỉnh về mỗi lĩnh vực kinh tế - xã hội Pháp luật điều chỉnh chế tài do vi phạm HĐXD theo pháp luật Việt Nam nói chung
và HĐXD nói riêng được quy định trong nhiều văn bản quy phạm pháp luật khác nhau, hết sức đa dạng Bao gồm các văn bản quy phạm pháp luật sau:
Văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh chung về chế tài do vi phạm HĐXD theo pháp luật Việt Nam do vi phạm hợp đồng dân sự là BLDS Các quy định này được ghi nhận trong các chế định pháp lý về nghĩa vụ dân sự, chế định pháp lý về hợp đồng dân sự Theo đó, BLDS đã có những quy định chung về chế tài
do vi phạm HĐXD theo pháp luật Việt Nam do vi phạm nghĩa vụ và vi phạm hợp đồng áp dụng cho mọi quan hệ hợp đồng nói chung Mặc dù, được ghi nhận rải rác trong các chế định khác nhau nhưng BLDS đã quy định tương đối bao quát và đầy
đủ cấu trúc chung của hệ thống các quy định pháp luật về chế tài do vi phạm hợp đồng Đó là các nội dung cơ bản như: Quy định về căn cứ xác định chế tài do vi phạm nghĩa vụ dân sự và hợp đồng dân sự; quy định về một số hình thức chế tài do
vi phạm nghĩa vụ dân sự và hợp đồng dân sự; quy định về loại trừ chế tài do vi phạm nghĩa vụ dân sự và hợp đồng dân sự; quy định về hậu quả pháp lý khi áp dụng chế tài do vi phạm nghĩa vụ và hợp đồng
Trang 32 Văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh riêng về chế tài do vi phạm hợp đồng trong hoạt động kinh doanh thương mại đó là LTM quy định về chế tài trong thương mại Trên cơ sở các quy định chung mang tính nguyên tắc về chế tài
do vi phạm HĐXD theo pháp luật Việt Nam do vi phạm nghĩa vụ dân sự và hợp đồng dân sự, LTM quy định về chế tài áp dụng đối với hành vi vi phạm hợp đồng trong hoạt động kinh doanh thương mại nói riêng như hợp đồng mua bán hàng hóa, hợp đồng dịch vụ, hợp đồng gia công trong thương mại…Khác với BLDS, trong LTM đã dành một mục ghi nhận chế định riêng biệt về chế tài do vi phạm hợp
đồng thương mại, đó là chế định “chế tài trong thương mại” [21, Chương VII, Mục
1] Chế định pháp luật về chế tài trong thương mại ghi nhận đầy đủ và tập trung và mang tính khái quát cao các quy định về chế tài do vi phạm hợp đồng thương mại với đầy đủ cấu trúc cơ bản của nó, đó là: quy định về căn cứ áp dụng chế tài trong thương mại; quy định về các loại chế tài trong thương mại; quy định về các trường hợp miễn chế tài do vi phạm hợp đồng; quy định về hậu quả pháp lý khi áp dụng chế tài
Văn bản quy phạm pháp luật chuyên ngành quy định về chế tài do vi phạm HĐXD theo pháp luật Việt Nam nói chung và HĐXD nói riêng là Luật xây dựng năm 2014 và các văn bản dưới luật nhằm hướng dẫn thi hành như Nghị định 37, Thông tư số 09 (gọi là các văn bản quy phạm pháp luật về xây dựng) Trên cơ sở các quy định về chế tài do vi phạm nghĩa vụ dân sự, hợp đồng dân sự trong BLDS
và các quy định về chế tài trong thương mại theo quy định của LTM, các văn bản quy phạm pháp luật về xây dựng đã quy định về chế tài do vi phạm HĐXD theo pháp luật Việt Nam phù hợp với đặc thù của HĐXD Các quy định về chế tài do vi phạm HĐXD theo pháp luật Việt Nam trong pháp luật chuyên ngành được đề cập một cách rải rác trong một số điều khoản khác nhau và trong nhiều văn bản quy phạm pháp luật khác nhau, chưa có tính khái quát cao, tuy nhiên cũng đã ghi nhận một số vấn đề chủ yếu như: Căn cứ áp dụng chế tài do vi phạm HĐXD theo pháp luật Việt Nam, các hình thức chế tài do vi phạm HĐXD theo pháp luật Việt Nam và hậu quả pháp lý khi áp dụng
Bên cạnh các văn bản quy phạm pháp luật do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành, các điều ước quốc tế có liên quan đến hợp đồng nói chung mà Việt
Trang 33Nam là thành viên cũng là một loại nguồn luật điều chỉnh quy địnhvề chế tài do vi phạm HĐXD theo pháp luật Việt Nam như: Công ước Viên 1980 của Liên Hợp Quốc về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế; Bộ nguyên tắc hợp đồng thương mại quốc tế UNIDROIT
Với sự đa dạng về nguồn luật quy định chế tài do vi phạm HĐXD theo pháp luật Việt Nam nêu trên, thì hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật quốc gia về hợp đồng là nguồn luật chủ yếu và cơ bản được áp dụng ở nước ta hiện nay Bởi lẽ, chế độ pháp lý về chế tài do vi phạm hợp đồng nói chung được ghi nhận khá đầy đủ trong hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật chung, hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật riêng và hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật chuyên ngành
1.3.2 Tính thống nhất của các văn bản quy phạm pháp luật quy định về chế tài do vi phạm Hợp đồng xây dựng
Việc nghiên cứu và hiểu rõ tính thống nhất của hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật quy định về chế tài do vi phạm hợp đồng có ý nghĩa rất lớn trong việc xây dựng hệ thống pháp luật đồng bộ phù hợp với các yêu cầu đặt ra Hơn nữa, một hệ thống pháp luật đồng bộ, hoàn thiện sẽ là cơ sở cho việc áp dụng pháp luật được thống nhất và có hiệu quả cao Tính thống nhất của hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật quy định về chế tài do vi phạm HĐXD được thể hiện trong mối quan hệ giữa luật chung - luật riêng và luật chuyên ngành Đây là một nguyên tắc áp dụng pháp luật cơ bản ở hầu hết các nước theo truyền thống Civil Law như Pháp, Nhật, Việt Nam Cụ thể, BLDS được coi là một đạo luật gốc (luật chung), các quy định trong đó được áp dụng cho mọi giao dịch có tính chất bình đẳng, tự nguyện giữa các chủ thể tham gia trong các lĩnh vực: dân sự, thương mại, lao động LTM (luật riêng) trên cơ sở các quy định của luật gốc đã quy định những vấn đề riêng trong hoạt động thương mại, các quy định đó được áp dụng riêng cho hoạt động thương mại có tính chất kinh doanh thu lợi như: mua bán hàng hóa, cung ứng dịch
vụ, xúc tiến thương mại, gia công trong thương mại và các hoạt động trung gian thương mại khác Trong lĩnh vực xây dựng cụ thể, Luật xây dựng và các văn bản hướng dẫn thi hành quy định những vấn đề áp dụng riêng cho HĐXD Quy định riêng về HĐXD trong luật chuyên ngành thường đề cập các vấn đề chủ yếu mang tính
Trang 34chất đặc trưng của loại hợp đồng đó Trong mối quan hệ giữa luật chung - luật riêng và luật chuyên ngành, pháp luật cho phép luật chuyên ngành (luật riêng trong từng lĩnh vực cụ thể) có thể có những quy định không đồng nhất với luật chung, nhưng những quy định này phải đảm bảo tính thống nhất của toàn bộ hệ thống pháp luật, không chồng chéo, gây khó khăn khi áp dụng Mối quan hệ giữa luật chung luật riêng và luật chuyên ngành không chỉ giải quyết vấn đề xác định các văn bản nào chứa đựng quy phạm điều chỉnh quan hệ đó mà còn đưa ra nguyên tắc áp dụng pháp luật
Nguyên tắc áp dụng pháp luật về chế tài do vi phạm HĐXD theo pháp luật Việt Nam được thực hiện trên cơ sở mối quan hệ giữa luật chung - luật riêng và luật chuyên ngành Cụ thể như sau:
- Việc áp dụng các quy định pháp luật về chế tài do vi phạm HĐXD theo pháp luật Việt Nam ngoài việc tuân theo các quy định riêng của Luật xây dựng và các văn bản hướng dẫn thi hành nó còn chịu sự điều chỉnh của BLDS Vấn đề này được đặt ra để giải quyết là vì BLDS cũng quy định những vấn đề pháp lý chung mang tính nguyên tắc về chế tài do vi phạm nghĩa vụ dân sự và hợp đồng dân sự (trong tất cả các lĩnh vực từ giao dịch dân sự thông dụng đến kinh doanh thương mại) Vì vậy, những vấn đề mà Luật xây dựng và các văn bản hướng dẫn thi hành quy định về HĐXD không có quy định thì sẽ áp dụng các quy định của BLDS để giải quyết
- HĐXD cũng là một loại hợp đồng thương mại (được hiểu theo nghĩa rộng)
Vì vậy, những vấn đề liên quan đến HĐXD không những chịu sự điều chỉnh của Luật xây dựng và các văn bản hướng dẫn thi hành mà còn được điều chỉnh bởi các quy định của LTM Trong mối quan hệ với LTM thì Luật xây dựng là luật riêng điều chỉnh chế tài do vi phạm HĐXD theo pháp luật Việt Nam có tính chất thương mại chỉ trong lĩnh vực xây dựng, còn luật thương mại là luật chung điều chỉnh các vấn đề về hợp đồng thương mại nói chung Do vậy, khi áp dụng chế tài do vi phạm HĐXD theo pháp luật Việt Nam cần áp dụng các quy định chung về chế tài do vi phạm hợp đồng thương mại Trường hợp, có những vấn đề mà Luật xây dựng và các văn bản hướng dẫn thi hành không quy định thì sẽ áp dụng các quy định về chế tài trong thương mại theo LTM để giải quyết Đối với những vấn đề mà Luật xây dựng, LTM
Trang 35không quy định thì sẽ áp dụng các quy định trong BLDS để giải quyết.
- Trường hợp điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên có quy định khác với pháp luật về chế tài do vi phạm HĐXD theo pháp luật Việt Nam của nước ta thì
áp dụng quy định của điều ước quốc tế đó
Như vậy, việc áp dụng chế tài do vi phạm HĐXD theo pháp luật Việt Nam cần phải đảm bảo tính thống nhất của hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật trong mối quan hệ giữa luật chung - luật riêng và luật chuyên ngành cũng như đảm bảo tính thống nhất giữa pháp luật quốc gia và các điều ước quốc tế Có như vậy thì
hệ thống pháp luật về hợp đồng nói chung và HĐXD nói riêng mới hoàn thiện và phát huy được hiệu lực, hiệu quả trong việc điều chỉnh các quan hệ xã hội Từ đó tạo cơ sở pháp lý cho các bên giao kết, thực hiện đúng hợp đồng và xác định chế tài pháp lý do vi phạm cũng như giải quyết các tranh chấp phát sinh
Trang 362.1 Căn cứ áp dụng do vi phạm Hợp đồng xây dựng
Căn cứ áp dụng chế tài do vi phạm HĐXD theo pháp luật Việt Nam là những dấu hiệu cần và đủ để áp dụng các hình thức chế tài đối với bên vi phạm HĐXD Pháp luật quy định căn cứ áp dụng chế tài tạo cơ sở pháp lý cho việc áp dụng thống nhất pháp luật cũng như xác định hình thức chế tài tương ứng Mỗi hình thức chế tài khác nhau thì có các căn cứ phát sinh khác nhau, tuy nhiên căn cứ đầu tiên và chung nhất của tất cả các hình thức chế tài do vi phạm hợp đồng đó là phải có hành vi vi phạm hợp đồng Các yếu tố khác như thiệt hại xảy ra, mối quan hệ nhân quả chỉ áp dụng đối với chế tài bồi thường thiệt hại
Trong pháp luật xây dựng hiện hành, không có quy định nào mang tính khái quát về căn cứ áp dụng chế tài HĐXD Căn cứ áp dụng chế tài HĐXD được quy định rải rác trong một số điều luật mà chủ yếu là việc ghi nhận một số dạng hành vi
vi phạm HĐXD từ đó có thể áp dụng chế tài do vi phạm Đối với yếu tố lỗi của bên
vi phạm HĐXD, pháp luật chuyên ngành không ghi nhận yếu tố lỗi là căn cứ áp dụng chế tài bồi thường thiệt hại theo tinh thần của LTM Cụ thể, theo quy định tại
khoản 6, Điều 146, Luật xây dựng “Trường hợp một bên vi phạm hợp đồng do
nguyên nhân của bên thứ ba, bên vi phạm phải chịu trách nhiệm vi phạm hợp đồng trước bên kia Tranh chấp giữa bên vi phạm với bên thứ ba được giải quyết theo quy định của pháp luật.” [23, Điều 146, Khoản 6] Theo đó, việc các bên vi phạm
Trang 37HĐXD xuất phát từ nguyên nhân gì, có lỗi hay không có lỗi thì họ luôn phải chịu trách nhiệm trước bên bị vi phạm Điều này phù hợp với đặc trưng về chủ thể và chế
độ chịu trách nhiệm, mối quan hệ giữa các chủ thể liên quan đến HĐXD mà pháp luật quy định
Nghiên cứu, so sánh các quy định tương ứng về yếu tố lỗi trong chế tài do vi phạm hợp đồng theo quy định của một số hệ thống pháp luật như Bộ nguyên tắc châu Âu về hợp đồng, áp dụng chế tài bồi thường thiệt hại “không cần yếu tố lỗi”
Bộ nguyên tắc hợp đồng thương mại quốc tế Unidroit cũng quy định:
Việc không thực hiện một nghĩa vụ đem lại cho bên có quyền quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại [28, Điều 7.4.1] và theo phần bình luận về điều luật này thì
“Bên có quyền chỉ phải chứng minh việc không thực hiện, có nghĩa là họ đã không nhận được những gì đã được cam kết Bên này đặc biệt không cần phải chứng minh rằng việc không thực hiện là do lỗi của bên có nghĩa vụ [14, tr 32]
2.1.1 Có hành vi vi phạm Hợp đồng xây dựng
Hành vi vi phạm HĐXD là yếu tố đầu tiên và quan trọng làm căn cứ áp dụng chế tài do vi phạm HĐXD của bên vi phạm Đây là yếu tố bắt buộc phải có khi áp dụng bất kỳ hình thức chế tài nào, nếu không có hành vi vi phạm HĐXD, chế tài sẽ không được áp dụng Trong quan hệ HĐXD, hành vi vi phạm hợp đồng là hành vi của một bên không thực hiện hợp đồng hoặc thực hiện không đúng hợp đồng Yếu
tố hợp đồng ở đây được hiểu không chỉ bao gồm thỏa thuận giữa các bên mà còn cả các quy định của pháp luật về hợp đồng Như vậy, vi phạm HĐXD là hành vi của bên giao thầu hoặc bên nhận thầu đã không xử sự hoặc xử sự trái với quy định của pháp luật hoặc trái với nội dung các nghĩa vụ đã cam kết theo HĐXD
Khi nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn về hành vi vi phạm trong quan hệ HĐXD, ở đây đề cập đến hai vấn đề có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định tính trái pháp luật của hành vi và việc áp dụng trách nhiệm đối với hành vi vi phạm Đó là: cơ sở pháp lý để xác định hành vi vi phạm HĐXD và các dạng hành vi
vi phạm HĐXD thường gặp
Cơ sở pháp lý để xem xét, đánh giá tính trái pháp luật của hành vi vi phạm HĐXD là những nghĩa vụ trong hợp đồng có hiệu lực pháp luật, hồ sơ hợp đồng và
Trang 38những quy định của pháp luật về HĐXD Khi HĐXD được thiết lập, nghĩa vụ hợp đồng phát sinh và có ý nghĩa bắt buộc thực hiện đối với các bên Sự thỏa thuận chi tiết về các điều khoản trong hợp đồng như điều khoản về khối lượng công việc, về yêu cầu về chất lượng, tiến độ thi công xây dựng, điều khoản về giá hợp đồng cũng là những điều khoản về nghĩa vụ của các bên là cơ sở để xem xét, đánh giá tính phù hợp hay sự vi phạm hợp đồng Trong một số trường hợp, nội dung các điều khoản mà các bên cam kết không đầy đủ dẫn tới mâu thuẫn, bất đồng trong việc thực hiện nghĩa vụ HĐXD thì những quy định của pháp luật trở thành cơ sở để đánh giá tính trái pháp luật của hành vi Đó là những điều khoản mà pháp luật đã quy định nhưng các bên không thỏa thuận trong hợp đồng, song phải mặc nhiên thừa nhận quy định đó Khoa học pháp lý gọi đó là những điều khoản thông thường, được áp dụng ngay cả khi các bên không thỏa thuận và ghi vào hợp đồng Thực tiễn ký kết và thực hiện HĐXD thường gặp các điều khoản thông thường như: nghĩa
vụ của bên giao thầu và nghĩa vụ của bên nhận thầu, điều khoản về chất lượng, tiến
độ, nghiệm thu, bảo hành Các điều khoản trong HĐXD mà các bên đã thỏa thuận
và quy định của pháp luật về những vấn đề liên quan là cơ sở để đánh giá tính trái pháp luật của hành vi và xác định hành vi vi phạm Đối với những vấn đề các bên không thỏa thuận và pháp luật cũng không quy định thì không đủ cơ sở pháp lý để xác định tính trái pháp luật của hành vi và do đó không thể xác định chế tài trong trường hợp này
Về các dạng hành vi vi phạm HĐXD: Trong quan hệ HĐXD, có rất nhiều loại hành vi vi phạm với hình thức, mức độ và nội dung vi phạm khác nhau Những hành vi vi phạm đó là tiền đề dẫn tới hậu quả pháp lý tất yếu là chế tài do vi phạm HĐXD theo pháp luật Việt Nam Thực tiễn ký kết và thực hiện HĐXD xảy ra các loại hành vi vi phạm cơ bản sau đây:
- Hành vi vi phạm về khối lượng và chất lượng các công việc theo Hợp đồng xây dựng
Điều khoản khối lượng và chất lượng công việc xây dựng là những điều khoản chủ yếu trong nội dung HĐXD Pháp luật quy định nội dung và khối lượng công việc mà bên giao thầu ký kết với bên nhận thầu phải được các bên thỏa thuận
Trang 39rõ trong hợp đồng Nội dung khối lượng công việc được xác định căn cứ vào hồ sơ mời thầu hoặc hồ sơ yêu cầu, hồ sơ dự thầu hoặc hồ sơ đề xuất, các biên bản đàm phán và các văn bản pháp lý có liên quan Đối với HĐXD, nội dung khối lượng công việc thực hiện là việc cung cấp vật liệu xây dựng, nhân lực, máy móc và thiết
vi không cung cấp hoặc cung cấp vật liệu xây dựng, nhân lực, máy móc thiết bị không đủ hoặc thiếu khối lượng đã được tính toán, xác nhận theo hợp đồng Các hành vi vi phạm về khối lượng xây dựng thường dẫn đến hệ quả kéo theo là vi phạm
về chất lượng và tiến độ xây dựng Chính vì thế mà các loại hành vi vi phạm HĐXD
có mối liên quan chặt chẽ với nhau, việc phân chia các loại hành vi vi phạm một cách rõ ràng và tách bạch với nhau chỉ mang tính chất tương đối
Trong quá trình xây dựng, khối lượng phát sinh ngoài thiết kế, dự toán đã phê duyệt là vấn đề thường xảy ra Theo quy định, khi có khối lượng công việc phát sinh ngoài thiết kế, dự toán được duyệt thì chủ đầu tư và nhà thầu thi công phải xem xét xử lý tùy theo từng hình thức hợp đồng (giá HĐXD) theo quy định và tùy theo nguồn vốn của hợp đồng mà có cách thức xử lý khác nhau Khối lượng phát sinh được CĐT, người có thẩm quyền quyết định đầu tư chấp thuận, phê duyệt và được các bên thỏa thuận bổ sung theo HĐXD đã ký kết được thực hiện theo phụ lục của hợp đồng và là cơ sở để thực hiện hợp đồng cũng như xác định hành vi vi phạm hợp đồng Các hành vi thông đồng giữa các bên nhằm mục đích khai khống, khai tăng khối lượng thi công dẫn đến làm sai khối lượng thanh toán không phải là hành vi vi phạm HĐXD mà đó là những hành vi vi phạm pháp luật về quản lý xây dựng Những người tham gia và thực hiện sẽ phải chịu các chế tài khác theo quy định của
Trang 40pháp luật Chất lượng xây dựng thể hiện ở chất lượng của các sản phẩm xây dựng
mà bên nhận thầu thực hiện Chất lượng của các sản phẩm xây dựng phải đáp ứng các yêu cầu theo thiết kế xây dựng đã được phê duyệt và theo quy định của pháp luật Đó là sự phù hợp với quy chuẩn xây dựng, tiêu chuẩn xây dựng (tiêu chuẩn Quốc tế, Việt Nam, và ngành) và đúng với các bước thiết kế đã được phê duyệt và thống nhất Sản phẩm xây dựng là các công trình, hạng mục công trình chỉ được nghiệm thu để đưa vào sử dụng khi đáp ứng được các yêu cầu của thiết kế, quy chuẩn kỹ thuật quốc gia, tiêu chuẩn áp dụng cho công trình, chỉ dẫn kỹ thuật và các yêu cầu khác của CĐT theo nội dung của hợp đồng và quy định của pháp luật có liên quan Hành vi vi phạm về chất lượng xây dựng công trình là những hành vi của nhà thầu không thực hiện hoặc thực hiện không đúng quy chuẩn, tiêu chuẩn xây dựng cũng như thiết kế đã được phê duyệt dẫn đến sản phẩm xây dựng không đảm bảo chất lượng theo yêu cầu Cụ thể đó có thể là những hành vi: Không thi công theo bản vẽ thiết kế xây dựng (kể cả phần sửa đổi đã được chủ đầu tư chấp thuận); thi công không phù hợp với hệ thống quy chuẩn, tiêu chuẩn được áp dụng cho dự án; không thực hiện việc thí nghiệm vật liệu xây dựng; không cung cấp hoặc cung cấp không đầy đủ về các kết quả thí nghiệm vật liệu, sản phẩm của công việc hoàn thành; không đảm bảo vật tư, thiết bị có nguồn gốc xuất xứ như quy định trong hợp đồng; không thực hiện hoặc thực hiện không đúng công tác nghiệm thu sản phẩm các công việc hoàn thành theo yêu cầu
- Hành vi vi phạm về thời gian, tiến độ thi công xây dựng theo hợp đồng Thời
gian, tiến độ thực hiện hợp đồng cũng là một điều khoản chủ yếu
và quan trọng của HĐXD Thời gian thực hiện hợp đồng được tính từ ngày hợp đồng có hiệu lực cho đến khi các bên hoàn thành các nghĩa vụ theo hợp đồng
và phải phù hợp với tiến độ thực hiện dự án Theo quy định, bên nhận thầu có trách nhiệm lập tiến độ chi tiết thực hiện hợp đồng trình bên giao thầu chấp thuận để làm căn cứ thực hiện Tiến độ thực hiện hợp đồng phải thể hiện được các mốc hoàn thành, bàn giao các công việc, sản phẩm chủ yếu Về nguyên tắc, tiến độ xây dựng công trình phải phù hợp với tổng tiến độ của dự án và đã được người có thẩm quyền phê duyệt, tuy nhiên tiến độ xây dựng thường ngắn hơn tổng tiến độ của dự án đề