Từ những quy định trên có thể hiểu: Cưỡng chế chuyển giao quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất trong thi hành án dân sự là biện pháp cưỡng bức bắt buộc do Chấp hành viên thực hi
Trang 1TRONG THI HÀNH ÁN DÂN SỰ
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Hà Nội – 2020
Trang 2TRONG THI HÀNH ÁN DÂN SỰ
Chuyên ngành: Luật dân sự và tố tụng dân sự
Mã số: 8380101.04
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS NGUYỄN VĂN CƯƠNG
Hà Nội – 2020
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong luận văn đảm bảo độ tin cậy, chính xác và trung thực Những kết luận khoa học của luận văn chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Đặng Đình Trung
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 8
CHƯƠNG I NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BIỆN PHÁP CƯỠNG CHẾ CHUYỂN GIAO QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT VÀ TÀI SẢN GẮN LIỀN VỚI ĐẤT TRONG THI HÀNH ÁN DÂN SỰ 14
1.1 Khái quát về biện pháp cưỡng chế chuyển giao quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất trong thi hành án dân sự 14
1.1.1 Khái quát chung về thi hành án dân sự 14
1.1.2 Cưỡng chế trong thi hành án dân sự 15
1.1.3 Cưỡng chế chuyển giao quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất trong thi hành án dân sự 16
1.2 Đặc điểm biện pháp cưỡng chế chuyển giao quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất trong thi hành án dân sự 17
1.3 Điều kiện áp dụng biện pháp cưỡng chế chuyển giao quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất 21
1.4 Nguyên tắc áp dụng biện pháp cưỡng chế chuyển giao quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất 23
1.5 Những yếu tố ảnh hưởng đến việc áp dụng biện pháp cưỡng chế chuyển giao quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất 26
1.6 Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc quy định biện pháp cưỡng chế chuyển giao quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất 28
1.6.1 Cơ sở lý luận 28
1.6.2 Cơ sở thực tiễn 29
1.7 Ý nghĩa của biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự 29
Kết luận chương I 30
Trang 5CHƯƠNG II THỰC TRẠNG QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH VỀ BIỆN PHÁP CƯỠNG CHẾ CHUYỂN GIAO QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT VÀ
TÀI SẢN GẮN LIỀN VỚI ĐẤT 31
2.1 Chủ thể tham gia cưỡng chế chuyển giao quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất 31
2.1.1 Chấp hành viên 32
2.1.2 Người được thi hành án 33
2.1.3 Người phải thi hành án 34
2.1.4 Viện kiểm sát nhân dân 35
2.1.5 Ủy ban nhân dân 36
2.1.5.1 Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện 36
2.3.1 Tiến hành xác minh điều kiện thi hành án của người phải thi hành án 38 2.3.1.1 Xác minh hiện trạng quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất và người quản lý, sử dụng quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất phải chuyển giao 39
2.3.1.2 Xác minh về nhân thân của người phải thi hành án và gia đình người phải thi hành án 40
2.3.1.3 Xác minh quan hệ, quan điểm của địa phương, thái độ của dư luận đối với vụ án và đối với người phải thi hành án 40
2.3.1.4 Xác minh điều kiện địa hình và giao thông nơi tổ chức cưỡng chế 42
2.3.1.5 Xác minh nơi ở khác của người phải thi hành án 43
2.3.2 Ban hành quyết định cưỡng chế 43
2.3.3 Thông báo cưỡng chế 46
2.3.4 Xây dựng kế hoạch cưỡng chế 50
2.3.4.1 Căn cứ xây dựng kế hoạch cưỡng chế 51
2.3.4.2 Nội dung bản án, quyết định 51
2.3.4.3 Điều kiện thi hành án của người phải thi hành án 51
Trang 62.3.4.4 Đặc điểm, thái độ của người phải thi hành án 51
2.3.4.5 Yêu cầu về thành phần tham gia cưỡng chế 51
2.3.4.6 Nội dung kế hoạch cưỡng chế 52
2.3.5 Thực hiện cưỡng chế 55
2.3.5.1 Trước khi đến địa điểm cưỡng chế 55
2.3.5.2 Tại địa điểm cưỡng chế 55
2.3.6 Dự kiến tình huống 56
Kết luận chương II 58
CHƯƠNG III THỰC TRẠNG TỔ CHỨC THI HÀNH, NHỮNG KHÓ KHĂN, VƯỚNG MẮC VÀ NHỮNG GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ ÁP DỤNG BIỆN PHÁP CƯỠNG CHẾ CHUYỂN GIAO QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT VÀ TÀI SẢN GẮN LIỀN VỚI ĐẤT TRONG THI HÀNH ÁN DÂN SỰ 60
3.1 Thực trạng tổ chức thi hành, những khó khăn, vướng mắc trong việc áp dụng biện pháp cưỡng chế chuyển giao quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất 60
3.1.1 Thực trạng áp dụng biện pháp cưỡng chế chuyển giao quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất 60
3.1.2 Những khó khăn, vướng mắc gặp phải trong quá trình áp dụng biện pháp cưỡng chế chuyển giao quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất 63
3.1.2.1 Khó khăn trong việc xác định tài sản phải chuyển giao 63
3.1.2.2 Sự chống đối của người phải thi hành án và thân nhân của người phải thi hành án 65
3.1.2.3 Trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, đạo đức của một bộ phận chấp hành viên còn hạn chế 67
3.1.2.4 Công tác phối hợp trong tổ chức cưỡng chế 68
3.1.2.5 Khó khăn, vướng mắc trong quy định của pháp luật 69
Trang 73.1.2.6 Cơ sở vật chất, công cụ hỗ trợ chấp hành viên trong quá trình tổ chức
thi hành 72
3.2 Những giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng biện pháp cưỡng chế chuyển giao quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất 72
3.2.1 Xây dựng, hoàn thiện pháp luật 73
3.2.2 Nâng cao năng lực, trình độ chuyên môn, phẩm chất đạo đức của cán bộ làm công tác thi hành án 75
3.2.3 Tăng cường công tác quản lý, chỉ đạo, kiểm tra, giám sát 76
3.2.4 Nâng cao hiệu quả hoạt động của Ban chỉ đạo thi hành án dân sự 76
3.2.5 Tăng cường công tác phối hợp trong thi hành án dân sự 77
3.2.6 Tăng cường tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về thi hành án dân sự 77
3.2.7 Hoàn thiện cơ sở vật chất, công cụ hỗ trợ chấp hành viên trong quá trình tổ chức thi hành án 78
Kết luận chương III 78
KẾT LUẬN 79
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 81
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Xuất phát từ nguyên tắc Hiến định “Bản án, quyết định của Tòa án nhân dân có hiệu lực pháp luật phải được cơ quan, tổ chức, cá nhân tôn trọng;
cơ quan, tổ chức, cá nhân hữu quan phải nghiêm chỉnh ch1ấp hành”, hoạt động thi hành án nói chung và hoạt động thi hành án dân sự nói riêng có ý nghĩa rất quan trọng đảm bảo các bản án, quyết định của Tòa án được thi hành trên thực tế nhằm bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của Nhà nước, cá nhân và
tổ chức, góp phần nâng cao hiệu lực của các bản án, quyết định, bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa, duy trì ổn định, trật tự kỷ cương xã hội
Nhận thức được vai trò quan trọng của công tác thi hành án dân sự, Nghị quyết 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới; Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/5/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020 và Nghị quyết số 49-NQ-TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 đã nhấn mạnh đến nội dung cải cách về thi hành án dân sự
Trên tinh thần đó, để thể chế hoá đường lối, chính sách của Đảng đối với công tác thi hành án dân sự, Quốc hội và Uỷ ban thường vụ Quốc hội đã ban hành các văn bản có hiệu lực pháp lý cao như: Pháp lệnh Thi hành án dân
sự năm 2004, Luật Thi hành án dân sự năm 2008 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự năm 2008 đáp ứng yêu cầu cải cách
tư pháp, tạo cơ sở pháp lý cho cơ quan Thi hành án dân sự thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình
Cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội, các vụ việc thi hành án ngày càng khó khăn, phức tạp, đặc biệt số vụ việc có giá trị thi hành lớn ngày càng
Trang 9nhiều Thêm vào đó, việc tổ chức thi hành án trực tiếp tác động đến lợi ích của người phải thi hành án nên người phải thi hành án mặc dù có điều kiện để thi hành bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật nhưng luôn có thái độ chây ỳ, trốn tránh thi hành nghĩa vụ thi hành án Đối với những đối tượng chây ỳ, trốn tránh nghĩa vụ thi hành án, để đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật cũng như bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người được thi hành
án, việc cơ quan Thi hành án dân sự áp dụng các biện pháp cưỡng chế để buộc họ thi hành án là cần thiết
Qua thực tiễn công tác thi hành án dân sự, các biện pháp cưỡng chế thi hành án được các cơ quan thi hành án áp dụng thường xuyên Mặc dù, Luật Thi hành án dân sự năm 2008, Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật thi hành án dân sự năm 2008 và các văn bản hướng dẫn thi hành quy định về các biện pháp cưỡng chế thi hành án, điều kiện, trình tự, thủ tục áp dụng khá cụ thể, chặt chẽ, đã khắc phục một số điểm hạn chế của Luật Thi hành án dân sự năm 2008 Tuy nhiên, vẫn tồn tại một số bất cập trong các quy định của pháp luật về các biện pháp cưỡng chế thi hành án Trong thực tiễn áp dụng, các cơ quan thi hành án vẫn còn gặp nhiều khó khăn, vướng mắc, từ đó, dẫn đến việc khiếu kiện của công dân đối với việc tổ chức thi hành án của các cơ quan thi hành án, hiệu quả của các biện pháp cưỡng chế thi hành án chưa cao, ảnh hưởng không nhỏ đến kết quả tổ chức thi hành án của cơ quan thi hành án
Trong các biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự, biện pháp cưỡng chế chuyển giao quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất là biện pháp cưỡng chế rất khó khăn, phức tạp, hay xảy ra sai phạm Vì vậy, với mục đích nghiên cứu sâu hơn về biện pháp cưỡng chế chuyển giao quyền sử dụng đất
và tài sản gắn liền với đất, tìm ra những bất cập, hạn chế trong lý luận và thực tiễn áp dụng biện pháp cưỡng chế này, đồng thời đề xuất các giải pháp để khắc phục những bất cập, hạn chế nhằm nâng cao hiệu quả tổ chức thi hành
Trang 10án của các cơ quan thi hành án, tôi lựa chọn đề tài “Cưỡng chế chuyển giao quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất trong thi hành án dân sự” là
đề tài luận văn thạc sĩ Luật học
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Hiện nay, chưa có một đề tài nghiên cứu cụ thể về biện pháp cưỡng chế chuyển giao quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất trong thi hành án dân sự Tuy nhiên, liên quan đến nội dung các biện pháp cưỡng chế trong thi hành án dân sự đã có một số giáo trình, đề tài khoa học, luận văn, bài viết trên các tạp chí
- Giáo trình Luật Thi hành án dân sự của Trường Đại học Luật Hà Nội,
do TS.Nguyễn Công Bình, TS.Bùi Thị Huyền chủ biên, Nhà xuất bản Công
an nhân dân, năm 2018
- Giáo trình nghiệp vụ thi hành án dân sự phần kỹ năng của Học viện
Tư pháp, do TS.Nguyễn Xuân Thu, ThS.Nguyễn Thị Phíp (chủ biên), Nhà xuất bản Tư pháp, năm 2016
- Đề tài “Những điểm mới của Luật Thi hành án dân sự năm 2008” của tác giả Trần Anh Tuấn, đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường, Trường Đại
học Luật Hà Nội năm 2010;
- Đề tài “Biện pháp cưỡng chế kê biên và xử lý tài sản của người phải thi hành án dân sự”, của tác giả Nguyễn Anh Tuấn, luận văn thạc sĩ năm
2015, Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội
- Đề tài “Các biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự liên quan đến đất
ở theo pháp luật Việt Nam từ thực tiễn huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương”, của tác giả Nguyễn Đình Kiên, luận văn thạc sĩ năm 2016, Học viện Khoa học
xã hội
- “Những vướng mắc từ thực tiễn thi hành Luật Thi hành án dân sự”,
của tác giả Nguyễn Thị Khanh, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật số 05/2010;
Trang 113 Phạm vi và mục đích nghiên cứu
- Phạm vi nghiên cứu
Trong khuôn khổ luận văn thạc sĩ, trên cơ sở các quy định của pháp luật hiện hành về thi hành án dân sự như: Luật Thi hành án dân sự, các Nghị định, Thông tư hướng dẫn Luật Thi hành án dân sự; thực tiễn nghiên cứu về các biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự, luận văn tập trung nghiên cứu các vấn đề lý luận, thực tiễn áp dụng biện pháp cưỡng chế chuyển giao quyền
sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất trong thi hành án dân sự như: Khái niệm, đặc điểm, nguyên tắc, ý nghĩa, nội dung các quy định của pháp luật và thực tiễn áp dụng biện pháp cưỡng chế chuyển giao quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại các cơ quan thi hành án dân sự
- Mục đích nghiên cứu
Đánh giá được sự cần thiết, những điểm hợp lý và chỉ ra một số điểm bất cập trong các quy định của pháp luật về biện pháp cưỡng chế chuyển giao quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất, những khó khăn, vướng mắc các cơ quan thi hành án thường gặp trong thực tiễn áp dụng Trên cơ sở đó, đưa ra một số giải pháp để hoàn thiện các quy định của pháp luật và hướng khắc phục những tồn tại, hạn chế góp phần nâng cao hiệu quả áp dụng biện pháp cưỡng chế chuyển giao quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất
4 Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
Thứ nhất; khái quát các vấn đề lý luận về biện pháp cưỡng chế chuyển giao quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất trong thi hành án dân sự như: Khái niệm, đặc điểm, điều kiện và nguyên tắc áp dụng, cơ sở lý luận, cơ
sở thực tiễn của biện pháp cưỡng chế chuyển giao quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất
Thứ hai; phân tích, đánh giá nội dung các quy định của pháp luật, thực tiễn áp dụng biện pháp cưỡng chế chuyển giao quyền sử dụng đất và tài sản
Trang 12gắn liền với đất, đồng thời nêu một số khó khăn, vướng mắc gặp phải trong thực tiễn áp dụng
Thứ ba; đưa ra một số giải pháp để khắc phục những tồn tại, khó khăn, vướng mắc trên
5 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn được thực hiện trên cơ sở quan điểm của chủ nghĩa Lênin, phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử; tư tưởng Hồ Chí Minh và chủ trương, đường lối của Đảng về Nhà nước và pháp luật
Mác-Đồng thời, trong quá trình nghiên cứu, tác giả còn sử dụng các phương pháp nghiên cứu như: Phương pháp phân tích, phương pháp so sánh, phương pháp thống kê, tổng hợp …
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
- Ý nghĩa lý luận: Trên cơ sở phân tích các khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa và nội dung biện pháp cưỡng chế chuyển giao quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất, luận văn đánh giá thực trạng tổ chức thi hành án, những khó khăn, vướng mắc trong việc áp dụng biện pháp cưỡng chế chuyển giao quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất Góp phần hoàn thiện pháp luật
về thi hành án dân sự, đáp ứng yêu cầu của công cuộc cải cách tư pháp, cung cấp thêm các nguồn tài liệu cho việc giảng dạy, nghiên cứu
- Ý nghĩa thực tiễn: Từ những phân tích, đánh giá trên cơ sở lý luận, thực tiễn, luận văn đưa ra các giải pháp khắc phục những tồn tại, khó khăn vướng mắc góp phần nâng cao hiệu quả việc tổ chức thi hành các bản án, quyết định, bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa, đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của Nhà nước, tổ chức, cá nhân
7 Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận văn gồm 3 chương, cụ thể:
Trang 13Chương 1: Những vấn đề lý luận về biện pháp cưỡng chế chuyển giao quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất trong thi hành án dân sự
Chương 2 Thực trạng quy định pháp luật về biện pháp cưỡng chế
chuyển giao quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất
Chương 3 Thực trạng tổ chức thi hành, những khó khăn, vướng mắc và những giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng biện pháp cưỡng chế chuyển giao quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất trong thi hành án dân sự
Trang 14CHƯƠNG I NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BIỆN PHÁP
CƯỠNG CHẾ CHUYỂN GIAO QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT VÀ TÀI SẢN GẮN LIỀN VỚI ĐẤT TRONG THI HÀNH ÁN DÂN SỰ
1.1 Khái quát về biện pháp cưỡng chế chuyển giao quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất trong thi hành án dân sự
1.1.1 Khái quát chung về thi hành án dân sự
Thi hành án dân sự là hoạt động của cơ quan thi hành án dân sự, người được thi hành án, người phải thi hành án và các chủ thể khác trong việc thực hiện các bản án, quyết định dân sự; hình phạt tiền, tịch thu tài sản, truy thu tiền, tài sản thu lợi bất chính, xử lý vật chứng, tài sản, án phí và quyết định dân sự trong bản án, quyết định hình sự; phần tài sản trong bản án, quyết định hành chính của Tòa án, quyết định của Tòa án giải quyết phá sản, quyết định
xử lý vụ việc cạnh tranh của Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh có liên quan đến tài sản của bên phải thi hành án và phán quyết, quyết định của Trọng tài thương mại (Sau đây gọi chung là bản án, quyết định) [18, Điều 1]
Hiện nay, có nhiều quan điểm khác nhau về hoạt động thi hành án dân
sự Quan điểm thứ nhất cho rằng thi hành án dân sự là một dạng của hoạt động hành chính; quan điểm thứ hai cho rằng thi hành án dân sự là một dạng của hoạt động hành chính - tư pháp; quan điểm thứ ba cho rằng thi hành án dân sự là một dạng của hoạt động tư pháp
Tuy nhiên, theo quan điểm cá nhân, thi hành án dân sự là một dạng hoạt động hành chính- tư pháp bởi lý do:
- Tính hành chính thể hiện ở chỗ: Thi hành án là dạng hoạt động mang tính chấp hành các bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án, Trọng tài, Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh, toàn bộ quá trình thi hành án với những hoạt động, biện pháp, cách thức khác nhau đều nhằm thực hiện những nội dung đã được thể hiện trong các bản án, quyết định của Tòa án và
Trang 15theo các quy định cụ thể của pháp luật Bên cạnh đó, thi hành án là dạng hoạt động quản lý vì thi hành án là sự tác động của pháp luật, của các cơ quan thi hành án tới đối tượng phải thi hành án để họ tự giác thi hành hoặc áp dụng các biện pháp buộc họ phải thi hành nghĩa vụ đã được xác định trong các bản án, quyết định của Tòa án; phải tuân theo các quy định của pháp luật
- Tính tư pháp thể hiện ở chỗ: Thi hành án dân sự gắn liền với hoạt động xét xử, giải quyết tranh chấp vì xét xử, giải quyết tranh chấp và thi hành
án dân sự là hai mặt của quá trình bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của đương
sự, thi hành án dân sự mang tính độc lập đặc trưng của hoạt động tư pháp và
do cơ quan thi hành án dân sự tổ chức thực hiện
1.1.2 Cưỡng chế trong thi hành án dân sự
Theo quy định của pháp luật, bản án, quyết định của Tòa án là nhân danh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thể hiện quyền lực nhà nước Khi bản án, quyết định được ban hành và có hiệu lực pháp luật thì tất cả các chủ thể có liên quan có nghĩa vụ phải chấp hành nghiêm chỉnh phán quyết
đó Tuy nhiên, không phải lúc nào các phán quyết đều được các chủ thể chấp hành trên thực tế Vì vậy, để đảm bảo các phán quyết được thi hành trên thực
tế, bảo vệ lợi ích của các chủ thể cần thiết phải quy định các biện pháp cưỡng chế cụ thể và trình tự, thủ tục áp dụng các biện pháp cưỡng chế Việc thực hiện các quy định này là phương tiện để thực hiện quyền lực nhà nước đồng thời là phương tiện để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của các chủ thể liên quan trong thi hành án
Thi hành án dân sự là quá trình thực hiện các quyền, nghĩa vụ dân sự của các đương sự đã được xác định trong các bản án quyết định được đưa ra thi hành Do vậy, trong thi hành án dân sự, động viên, thuyết phục các đương
sự tự nguyện thi hành án được coi là biện pháp quan trọng trong hoạt động thi hành án dân sự Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp, người phải thi hành án
Trang 16mặc dù có điều kiện thi hành án nhưng vẫn không tự nguyện thi hành trong thời gian mà cơ quan thi hành án đã ấn định, tìm cách trì hoãn, trốn tránh việc thi hành án Trong trường hợp này để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người được thi hành án, bảo đảm cho bản án, quyết định được thi hành nghiêm chỉnh thì việc cưỡng chế thi hành án là hết sức cần thiết Theo quy định tại Điều 45 Luật Thi hành án dân sự 2008 (được sửa đổi, bổ sung năm 2014), sau khi hết thời gian tự nguyện thi hành án do Chấp hành viên ấn định, nếu người phải thi hành án có điều kiện thi hành mà không thi hành án, hoặc trong trường hợp cần ngăn chặn người phải thi hành án có hành vi tẩu tán, hủy hoại tài sản hoặc trốn tránh việc thi hành án thì Chấp hành viên có quyền
áp dụng các biện pháp cưỡng chế thi hành án
Cưỡng chế là dùng quyền lực nhà nước bắt buộc cá nhân, tổ chức phải thực hiện những việc trái với ý muốn của họ Cưỡng chế gắn liền với hoạt động quản lý nhà nước và là một trong những phương pháp chủ yếu của hoạt động quản lý nhà nước Trong nhà nước pháp quyền, việc cưỡng chế nhằm mục đích thi hành pháp luật của nhà nước, duy trì trật tự xã hội [2,tr 232]
Như vậy, cưỡng chế thi hành án dân sự là một biện pháp thi hành án dân sự dùng quyền lực nhà nước buộc người phải thi hành án thực hiện nghĩa
vụ thi hành án dân sự của họ được xác định trong bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật, do Chấp hành viên áp dụng trong trường hợp mặc dù người phải thi hành án có điều kiện thi hành mà không tự nguyện thi hành án hoặc trong trường hợp cần ngăn chặn người phải thi hành án có hành vi tẩu tán, hủy hoại tài sản hoặc trốn tránh việc thi hành án
1.1.3 Cưỡng chế chuyển giao quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất trong thi hành án dân sự
Khoản 1 Điều 104 Luật Đất đai năm 2013 quy định về cấp Giấy chứng
nhận đối với tài sản gắn liền với đất, như sau: “Tài sản gắn liền với đất được
Trang 17cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất bao gồm nhà ở, công trình xây dựng khác, rừng sản xuất là rừng trồng và cây lâu năm có tại thời điểm cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất”
Như vậy, theo quy định của pháp luật, tài sản gắn liền với đất bao gồm nhà ở, công trình xây dựng khác, rừng sản xuất là rừng trồng và cây lâu năm
có tại thời điểm cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở
và tài sản khác gắn liền với đất
Từ những quy định trên có thể hiểu: Cưỡng chế chuyển giao quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất trong thi hành án dân sự là biện pháp cưỡng bức bắt buộc do Chấp hành viên thực hiện khi người phải thi hành án
có nghĩa vụ chuyển giao quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất, mặc dù
có điều kiện thi hành nhưng không tự nguyện thi hành, nhằm chuyển quyền quản lý, sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất từ người phải thi hành án sang người được thi hành án để thi hành các bản án, quyết định đã có hiệu lực
1.2 Đặc điểm biện pháp cưỡng chế chuyển giao quyền sử dụng đất
và tài sản gắn liền với đất trong thi hành án dân sự
Thứ nhất; cưỡng chế chuyển giao quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất thể hiện quyền lực của Nhà nước và được đảm bảo thực hiện bằng sức mạnh của Nhà nước [2, tr 233]
Việc cưỡng chế thi hành án nói chung và cưỡng chế chuyển giao quyền
sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất nói riêng là nhân danh nhà nước buộc người phải thi hành án thực hiện nghĩa vụ thi hành án của mình, nên phải được thực hiện bởi các cơ quan nhà nước có thẩm quyền Các tổ chức, cá nhân khác không có quyền tự mình dùng sức mạnh để buộc người phải thi hành án thi hành nghĩa vụ đã được xác định trong bản án, quyết định Ở nước
ta, trước đây thẩm quyền tổ chức thi hành án dân sự được giao cho các cơ
Trang 18quan thi hành án dân sự Trong quá trình tổ chức thi hành án chỉ có Chấp hành viên đại diện cho cơ quan thi hành án dân sự là chủ thể có thẩm quyền lựa chọn các biện pháp cưỡng chế và ra quyết định áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự phù hợp
Hiện nay, theo xu thế xã hội hóa thi hành án dân sự, hoạt động thi hành
án nói chung và tổ chức cưỡng chế thi hành án dân sự nói riêng còn được giao cho Thừa phát lại Điều 3 Nghị định số 61/2009/NĐ-CP ngày 24 tháng 7 năm
2009 quy định như sau:
“Điều 3 Công việc Thừa phát lại được làm
1 Thực hiện việc tống đạt theo yêu cầu của Tòa án hoặc Cơ quan thi hành án dân sự
2 Lập vi bằng theo yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ chức
3 Xác minh điều kiện thi hành án theo yêu cầu của đương sự
4 Trực tiếp tổ chức thi hành án các bản án, quyết định của Tòa án theo yêu cầu của đương sự Thừa phát lại không tổ chức thi hành án các bản án, quyết định thuộc diện Thủ trưởng Cơ quan thi hành án dân sự chủ động ra quyết định thi hành án.”
Tuy nhiên, từ khi Thừa phát lại được tổ chức thí điểm và đi vào hoạt động trên cả nước thì hoạt động tổ chức thi hành án dân sự của Thừa phát lại còn rất hạn chế Theo số liệu thống kê, từ ngày 01/01/2016 đến ngày 30/07/2018, các Văn phòng Thừa phát lại mới thực hiện xác minh điều kiện thi hành án 70 vụ và trực tiếp tổ chức thi hành án 195 vụ việc
Thứ hai; biện pháp cưỡng chế chuyển giao quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất được Chấp hành viên áp dụng trong trường hợp người phải thi hành án có nghĩa vụ chuyển giao quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất theo quy định của pháp luật hoặc theo bản án, quyết định mặc dù có điều kiện thi hành nhưng không tự nguyện thi hành án [2, tr 234]
Trang 19Theo quy định của Luật thi hành án dân sự, cưỡng chế chuyển giao quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất được áp dụng trong hai trường hợp: Bản
án, quyết định của Tòa án tuyên cụ thể nghĩa vụ chuyển giao quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất của người phải thi hành án Hoặc theo quy định của pháp luật, cưỡng chế chuyển giao quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất theo quy định của pháp luật là nghĩa vụ của người phải thi hành án trong bản án, quyết định của tòa án không phải là nghĩa vụ chuyển giao quyền
sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất Tuy nhiên, để thực hiện nghĩa vụ của người phải thi hành án theo bản án, quyết đã tuyên thì phải thực hiện giai đoạn cưỡng chế chuyển giao quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất Nghĩa là, cưỡng chế chuyển giao quyền sử dụng đất là một giai đoạn trong quá trình tổ chức thi hành bản án, quyết định
Như vậy, xét về bản chất, nghĩa vụ chuyển giao quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất là nghĩa vụ chuyển giao về tài sản
Trong thi hành án dân sự, nhà nước luôn khuyến khích các bên đương
sự tự nguyện thi hành án, có quyền tự do thể hiện ý chí của mình, tự định đoạt hay thoả thuận về việc thi hành án dân sự Tuy nhiên, biện pháp động viên, thuyết phục các bên đương sự tự nguyện thi hành án hay để các bên đương sự
tự thỏa thuận việc thi hành án không phải lúc nào cũng đạt hiệu quả Trong trường hợp này, để đảm bảo quyền, lợi ích chính đáng của người được thi hành án và thể hiện sự nghiêm minh của pháp luật trước thái độ không chấp hành án của người phải thi hành án việc áp dụng các biện pháp cưỡng chế thi hành án được xem là giải pháp cần thiết nhằm buộc người phải thi hành án phải thực hiện nghĩa vụ thi hành án của họ
Thứ ba; đối tượng của biện pháp cưỡng chế chuyển giao quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất Trong thi hành án dân sự, đối tượng của các biện pháp cưỡng chế thi hành án gồm tài sản hoặc hành vi của người phải thi
Trang 20hành án Biện pháp cưỡng chế chuyển giao quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất có đối tượng là tài sản của người phải thi hành án, những tài sản này thường có giá trị lớn, là nơi sinh sống, làm ăn duy nhất của người phải thi hành án và gia đình
Thứ tư; khi áp dụng biện pháp cưỡng chế chuyển giao quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất ngoài việc phải thực hiện các nghĩa vụ trong bản án, quyết định người phải thi hành án còn phải chịu mọi chi phí cưỡng chế thi hành án dân sự [2, tr 235]
Khi bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật, người phải thi hành án buộc phải biết những nghĩa vụ của mình đã được xác định trong bản án, quyết định và có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ đó Việc người phải thi hành án không tự nguyện thực hiện các nghĩa vụ buộc cơ quan Thi hành án dân sự phải áp dụng các biện pháp cưỡng chế để buộc người phải thi hành án thực hiện nghĩa vụ của mình là do lỗi của họ Vì vậy, người phải thi hành án ngoài nghĩa vụ phải thực hiện theo bản án, quyết định thì còn phải chịu các chi phí phát sinh từ việc tổ chức cưỡng chế thi hành án
Thứ năm; biện pháp cưỡng chế chuyển giao quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất được Chấp hành viên quyết định áp dụng không những có hiệu lực đối với người phải thi hành án mà còn có hiệu lực cả đối với các cá nhân, cơ quan, tổ chức có liên quan [2, tr 236]
Quyết định cưỡng chế chuyển giao quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất là quyết định cưỡng chế do Chấp hành viên ban hành nhằm mục đích thi hành các bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật, nhân danh quyền lực Nhà nước Vì vậy, các đương sự, các cá nhân, tổ chức có liên quan đều phải nghiêm chỉnh chấp hành
Trang 211.3 Điều kiện áp dụng biện pháp cưỡng chế chuyển giao quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất
Thứ nhất; bản án, quyết định hoặc theo quy định của pháp luật xác định người phải thi hành án có nghĩa vụ chuyển giao quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất [28, tr 411]
Biện pháp cưỡng chế chuyển giao quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất được quy tại khoản 5 Điều 71, Điều 117 và Điều 115 Luật thi hành án dân sự năm 2008 (được sửa đổi bổ sung năm 2014) Biện pháp này do Chấp hành viên áp dụng khi người phải thi hành án có trách nhiệm thực hiện nghĩa
vụ chuyển giao quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất theo bản án, quyết định hoặc theo quy định của pháp luật
Người phải thi hành án có nghĩa vụ chuyển giao quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất theo bản án, quyết định là trường hợp tại phần quyết định của bản án, quyết định tuyên người phải thi hành án có nghĩa vụ chuyển giao quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất cho người được thi hành án [28, tr 411]
Người phải thi hành án có nghĩa vụ chuyển giao quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất theo quy định của pháp luật là trường hợp người phải thi hành án có nghĩa vụ trả tiền theo bản án, quyết định do không tự nguyện thi hành nên cơ quan Thi hành án dân sự đã áp dụng biện pháp cưỡng chế kê biên, bán đấu giá quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất để thi hành án Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất đã được bán đấu giá thành mà người phải thi hành án không tự nguyện chuyển giao quyền sử dụng đất cho người mua trúng đấu giá nên Chấp hành viên áp dụng biện pháp cưỡng chế chuyển giao quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất Hoặc từ sau hai lần giảm giá, quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất vẫn không có người đăng ký tham gia đấu giá hoặc bán đấu giá không thành, người được thi hành
Trang 22án đồng ý nhận tài sản để trừ vào số tiền được thi hành án mà người phải thi hành án không tự nguyện chuyển giao quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất nên Chấp hành viên tổ chức cưỡng chế chuyển giao quyền sử dụng đất
và tài sản gắn liền với đất cho người mua trúng đấu giá hoặc người được thi hành án [28, tr 411- 412]
Thứ hai; đã hết thời hạn tự nguyện thi hành hoặc người phải thi hành án
có hành vi tẩu tán, hủy hoại hoặc trốn tránh việc thi hành án [28, tr 142]
Khoản 1 Điều 45 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (được sửa đổi, bổ sung năm 2014) quy định:
“Thời hạn tự nguyện thi hành án là 10 ngày, kể từ ngày người phải thi hành án nhận được quyết định thi hành án hoặc được thông báo hợp lệ quyết định thi hành án.”
Chấp hành viên chỉ được tổ chức cưỡng chế chuyển giao quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất cho người được thi hành án hoặc người mua trúng đấu giá sau khi đã hết thời gian tự nguyện thi hành án mà người phải thi hành án có điều kiện thi hành nhưng không tự nguyện thi hành
Tuy nhiên, trong trường hợp xét thấy người phải thi hành án có hành vi tẩu tán tài sản hoặc trốn tránh việc thi hành án thì mặc dù chưa hết thời gian
tự nguyện thi hành án, Chấp hành viên vẫn có quyền áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành nghĩa vụ chuyển giao quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất
Đối với trường hợp cưỡng chế chuyển giao quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất theo quy định của pháp luật: Sau khi cơ quan thi hành án ban hành quyết định thi hành án, người phải thi hành án đã có thời gian tự nguyện thi hành án là 10 ngày kể từ khi nhận được quyết định thi hành án hoặc được thông báo hợp lệ quyết định thi hành án Sau khi Chấp hành viên thực hiện các thủ tục áp dụng biện pháp cưỡng chế kê biên, bán đấu giá quyền
Trang 23sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất của người phải thi hành án, đã có người mua trúng đấu giá hoặc người được thi hành án nhận tài sản để đối trừ nghĩa
vụ thi hành án mà người phải thi hành án không tự nguyện thi hành thì Chấp hành viên tiếp tục áp dụng biện pháp cưỡng chế chuyển giao quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất để giao tài sản Hiện nay, pháp luật không quy định hay hướng dẫn về việc người phải thi hành án tiếp tục có thời gian tự nguyện để thực hiện việc giao tài sản hay không Tuy nhiên, để đảm bảo quyền lợi của người phải thi hành án, thực tiễn thi hành án các cơ quan Thi hành án vẫn áp dụng thời hạn tự nguyện để người phải thi hành án tự nguyện giao tài sản cho người được thi hành án theo quy định tại khoản 1 Điều 45 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (được sửa đổi, bổ sung năm 2014)
1.4 Nguyên tắc áp dụng biện pháp cưỡng chế chuyển giao quyền
sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất
Việc áp dụng biện pháp cưỡng chế trong thi hành án dân sự nói chung
và cưỡng chế chuyển giao quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất nói riêng là biện pháp nghiêm khắc nhất mà Chấp hành viên áp dụng, sử dụng quyền lực nhà nước buộc người phải thi hành án thực hiện bản án, quyết định nên không thể tùy tiện, thiếu thống nhất mà ngược lại phải tuân theo các nguyên tắc do pháp luật thi hành án dân sự quy định Các nguyên tắc cưỡng chế thi hành án không được quy định trong một điều luật cụ thể mà được quy định rải rác trong các điều luật Theo quy định tại Điều 45, Điều 46 và Điều
71 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (được sửa đổi, bổ sung năm 2014) thì việc áp dụng biện pháp cưỡng chế phải tuân thủ các nguyên tắc sau:
Thứ nhất; chỉ Chấp hành viên mới có quyền áp dụng các biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự [2, tr 238]
Cưỡng chế thi hành án dân sự là dùng quyền lực nhà nước để buộc người phải thi hành án thực hiện nghĩa vụ thi hành án của mình Do vậy, chủ
Trang 24thể tiến hành phải là người được nhà nước giao quyền, nhân danh nhà nước
áp dụng các biện pháp cưỡng chế Chủ thể này phải đáp ứng được các tiêu chuẩn, điều kiện do pháp luật quy định Theo pháp luật hiện hành, Chấp hành viên là những người được nhà nước giao quyền để tổ chức thi hành các bản
án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật và là chủ thể có quyền quyết định áp dụng các biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự để thi hành án Ngoài Chấp hành viên các chủ thể khác tự tổ chức việc cưỡng chế bằng sức mạnh để “siết nợ”, “bắt nợ” đều bị coi là trái pháp luật
Thứ hai; chỉ được tổ chức cưỡng chế trong thời gian pháp luật cho phép [2, tr 239]
Việc cưỡng chế thi hành án dân sự là cần thiết nhằm đảm bảo hiệu lực của bản án, quyết định, bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của người được thi hành án Tuy nhiên, để việc thi hành án dân sự không ảnh hưởng tới trật tự công cộng, vì mục đích nhân đạo và tôn trọng phong tục truyền thống tốt đẹp của dân tộc, pháp luật quy định không được tiến hành cưỡng chế thi hành án trong thời gian từ 22 giờ đến 06 giờ sáng ngày hôm sau, các ngày nghỉ, ngày
lễ theo quy định của pháp luật và các trường hợp đặc biệt khác do Chính phủ quy định [19, Điều 46]
Theo quy định tại Điều 115 Bộ luật Lao động năm 2012, các ngày nghỉ, ngày lễ gồm:
“Người lao động được nghỉ làm việc, hưởng nguyên lương những ngày
lễ, tết sau đây:
- Tết dương lịch 01 ngày (Ngày 01 tháng 01 dương lịch);
- Tết âm lịch 05 ngày;
- Ngày Chiến thắng 01 ngày (Ngày 30 tháng 4 dương lịch);
- Ngày Quốc tế lao động 01 ngày (Ngày 01 tháng 5 dương lịch);
- Ngày Quốc khánh 01 ngày (Ngày 02 tháng 9 dương lịch);
Trang 25- Ngày Giỗ Tổ Hùng Vương 01 ngày (Ngày 10 tháng 3 âm lịch)”
Ngoài ra, khoản 2, khoản 3 Điều 13 Nghị định số 62/2015/NĐ-CP ngày 18/7/2015 của Chính phủ cũng quy định:
“Ngoài những trường hợp không tổ chức cưỡng chế thi hành án do
Luật Thi hành án dân sự quy định, cơ quan thi hành án dân sự không tổ chức cưỡng chế thi hành án có huy động lực lượng trong thời gian 15 ngày trước
và sau tết Nguyên đán; các ngày truyền thống đối với các đối tượng chính sách, nếu họ là người phải thi hành án; các trường hợp đặc biệt khác ảnh hưởng nghiêm trọng đến an ninh, chính trị, trật tự an toàn xã hội, phong tục, tập quán tại địa phương.”
Thứ ba; chỉ được áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án sau khi đã hết thời gian tự nguyện thi hành án, trừ trường hợp cần áp dụng các biện pháp bảo đảm hoặc biện pháp cưỡng chế theo quy định tại khoản 2 Điều 45 Luật thi hành án dân sự năm 2008 (được sửa đổi, bổ sung năm 2014)
Để khuyến khích người phải thi hành án tự nguyện thi hành án, Luật Thi hành án dân sự đã quy định thời gian tự nguyện thi hành án 10 ngày, kể từ ngày nhận được hoặc được thông báo hợp lệ quyết định thi hành án Nếu trong thời gian tự nguyện thi hành án không đạt được kết quả như mong muốn thì Chấp hành viên mới được áp dụng các biện pháp cưỡng chế để buộc người phải thi hành án thi hành theo đúng bản án, quyết định Như vậy, Chấp hành viên chỉ áp dụng các biện pháp cưỡng chế khi và chỉ khi đã hết thời gian tự nguyện thi hành án
Tuy nhiên, để đảm bảo công tác thi hành án dân sự đạt kết quả, với mục đích ngăn chặn các hành vi tẩu tán, hủy hoại tài sản hoặc trốn tránh nghĩa vụ thi hành án của người phải thi hành án, trong thời gian tự nguyện thi hành án, Chấp hành viên được áp dụng các biện pháp bảo đảm, biện pháp cưỡng chế được quy định tại chương IV về việc áp dụng các biện pháp bảo đảm, biện
Trang 26pháp cưỡng chế thi hành án dân sự và khoản 2 Điều 45 về việc cần ngăn chặn việc tẩu tán tài sản, trốn tránh việc thi hành án của Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (được sửa đổi, bổ sung năm 2014)
1.5 Những yếu tố ảnh hưởng đến việc áp dụng biện pháp cưỡng chế chuyển giao quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất
- Ý thức chấp hành pháp luật về thi hành án dân sự
Trong hoạt động tổ chức thi hành án dân sự nếu các bên đương sự, các
tổ chức, cá nhân có liên quan đến việc thi hành án đều có ý thức chấp hành pháp luật, biết điều chỉnh hành vi của mình phù hợp với quy định của pháp luật thì quá trình giải quyết thi hành án sẽ được thực hiện nhanh chóng, đạt hiệu quả cao Tuy nhiên, do tính chất của hoạt động thi hành án dân sự là tác động trực tiếp đến quyền, lợi ích của các bên đương sự, nên các bên đương sự luôn tìm cách để bảo vệ lợi ích của mình mà không quan tâm đến các quy định của pháp luật Đối với người được thi hành án, tâm lý chung là muốn được thi hành án nhanh hoặc giải quyết thi hành án theo hướng có lợi cho mình, nên họ thường tìm mọi cách để tác động đến quá trình tổ chức thi hành
án Ngược lại, đối với người phải thi hành án, không muốn mất đi các lợi ích của mình mà tìm đủ mọi biện pháp để chống đối, trốn tránh nghĩa vụ thi hành
án của mình khiến cho việc thi hành án khéo dài, gặp nhiều khó khăn
- Sự phối hợp trong công tác thi hành án dân sự
Để tổ chức cưỡng chế chuyển giao quyền sử dụng đất và các tài sản gắn liền với đất yêu cầu phải có sự tham gia, phối hợp của rất nhiều cơ quan liên quan như: Tòa án, Viện kiểm sát, Cơ quan Công an, cơ quan quản lý nhà nước về đất đai, UBND các cấp …, nếu trong quá trình giải quyết, công tác phối hợp giữa các cơ quan, ban ngành được thực hiện tốt sẽ góp phần nâng cao hiệu quả, tăng tiến độ giải quyết thi hành án, đồng thời tiết kiệm được chi phí, công sức cho cơ quan thi hành án cũng như các đương sự Ngược lại, nếu
Trang 27công tác phối hợp không được thực hiện tốt sẽ làm cho việc thi hành án bị kéo dài, thậm chí không giải quyết được làm ảnh hưởng đến quyền, lợi ích của đương sự
- Sự đồng bộ, thống nhất giữa các quy định của pháp luật
Để tổ chức thi hành án, Chấp hành viên không chỉ căn cứ vào các quy định của Luật Thi hành án dân sự mà phải căn cứ vào các quy định của các ngành luật khác có liên quan đến vụ việc thi hành án Nếu các quy định của pháp luật đồng bộ, thống nhất với nhau, điều này sẽ tạo cơ sở pháp lý vững chắc để chấp hành viên tổ chức thi hành Trong thực tiễn tổ chức thi hành án hiện nay, các quy định của pháp luật về thi hành án và các quy định của các ngành luật khác còn chưa có sự đồng bộ khiến cho việc giải quyết thi hành án gặp nhiều khó khăn, vướng mắc
- Năng lực, trình độ chuyên môn nghiệp vụ của Chấp hành viên
Năng lực, trình độ chuyên môn nghiệp vụ của Chấp hành viên cũng là một trong những yếu tố ảnh hưởng đến việc tổ chức cưỡng chế chuyển giao quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất Nếu Chấp hành viên có trình độ chuyên môn vững vàng, có kinh nghiệm trong việc tổ chức cưỡng chế thì việc
tổ chức cưỡng chế thi hành án sẽ đạt hiệu quả cao Ngược lại, sẽ khiến việc tổ chức thi hành án bị kéo dài, tình trạng khiếu kiện, ảnh hưởng đến việc tổ chức thi hành án
- Tính chất của vụ việc thi hành án
Việc tổ chức cưỡng chế chuyển giao quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất có được thực hiện nhanh chóng, hiệu quả hay không còn phụ thuộc vào tính chất của từng vụ việc Đối với những vụ việc cưỡng chế phức tạp, phải huy động nhiều lực lượng, vụ việc ảnh hưởng đến tình hình chính trị,
an ninh, trật tự xã hội tại địa phương thì việc tổ chức cưỡng chế thi hành án cũng sẽ kéo dài, gặp nhiều khó khăn
Trang 281.6 Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc quy định biện pháp cưỡng chế chuyển giao quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất
Trong thi hành án dân sự, để bản án, quyết định được thi hành, Chấp hành viên có thể áp dụng các biện pháp động viên, thuyết phục người phải thi hành án tự nguyện thi hành hoặc áp dụng các biện pháp bảo đảm thi hành án dân sự để răn đe, tạo áp lực để người phải thi hành án thi hành Tuy nhiên, thực tiễn tổ chức thi hành án thấy rằng, đối với những đối tượng phải thi hành
án có thái độ chây ỳ, trốn tránh thực hiện nghĩa vụ thi hành án thì những biện pháp động viên, thuyết phục hay áp dụng các biện pháp bảo đảm không đủ sức răn đe, không đem lại hiệu quả Vì vậy, yêu cầu cần phải có một biện pháp mạnh mẽ hơn để áp đặt, buộc người phải thi hành án thực hiện nghĩa vụ của họ
Thứ hai; yêu cầu của việc đa dạng hóa các biện pháp tổ chức thi hành
án dân sự và sự khác nhau giữa các biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự [1, tr26]
Nghĩa vụ thi hành án của người phải thi hành án rất phong phú, đa dạng gồm: Trả tiền, chuyển giao quyền tài sản, chuyển giao đồ vật, buộc thực hiện công việc nhất định … Mỗi nghĩa vụ thi hành án đều có những đặc điểm riêng, yêu cầu những trình tự, thủ tục khác nhau khi tổ chức thi hành Vì vậy,
để tổ chức thi hành mỗi nghĩa vụ thi hành án cần phải có một biện pháp cưỡng chế cụ thể
Trang 291.6.2 Cơ sở thực tiễn
Trong thực tiễn tổ chức thi hành án, không phải lúc nào người phải thi hành án đều có ý thức tự nguyện thi hành án, đối với những nghĩa vụ tài sản
có giá trị lớn, người phải thi hành án thậm chí còn có thái độ chống đối, chây
ỳ Để bản án, quyết định được thi hành, cơ quan Thi hành án dân sự phải áp dụng biện pháp cưỡng chế buộc người phải thi hành án thực hiện nghĩa vụ của
họ theo bản án, quyết định
1.7 Ý nghĩa của biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự
Việc áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự là giải pháp có hiệu quả nhằm bảo đảm việc thực hiện nghĩa vụ của người phải thi hành án, bảo đảm hiệu lực của bản án, quyết định và thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật trước thái độ không chấp hành án của người phải thi hành án Thực
tế cho thấy trong trường hợp người phải thi hành án không tự nguyện thi hành
án nếu không áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự thì sẽ không thể thi hành án được
Các biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự là công cụ quan trọng để bảo vệ triệt để quyền lợi hợp pháp của người được thi hành án Bởi lẽ, các biện pháp cưỡng chế thi hành án dân sự được áp dụng sẽ buộc người phải thi hành án thực hiện một cách thực tế, đầy đủ nghĩa vụ dân sự của họ, từ đó thực
sự bảo vệ được quyền, lợi ích hợp pháp của người được thi hành án
Ngoài hai ý nghĩa trên, việc áp dụng biện pháp cưỡng chế còn có tác dụng lớn trong việc răn đe, giáo dục ý thức pháp luật cho mọi công dân, nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền pháp luật trong việc thi hành án đồng thời
là cơ sở để tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa
Trang 30Kết luận chương I
Cưỡng chế chuyển giao quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất là một trong 6 biện pháp cưỡng chế được quy định tại Điều 71 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (được sửa đổi, bổ sung năm 2014) Vì vậy, biện pháp cưỡng chế này cũng tuân thủ những nguyên tắc áp dụng, điều kiện áp dụng, trình tự, thủ tục áp dụng như những biện pháp cưỡng chế khác Tuy nhiên, biện pháp cưỡng chế chuyển giao quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất cũng có những nét đặc thù riêng do đối tượng cưỡng chế của biện pháp cưỡng chế này
là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất, là những tài sản có giá trị rất lớn, thường là nơi sinh sống, cư trú và làm việc của người phải thi hành án, gia đình người phải thi hành án Hơn nữa, biện pháp cưỡng chế này trực tiếp
Trang 31tước đi nơi sinh sống, cư trú và nơi làm việc của họ nên việc tổ chức cưỡng chế có tính chất phức tạp hơn những biện pháp cưỡng chế khác Vì vậy, để tổ chức cưỡng chế chuyển giao quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất, Chấp hành viên phải thực hiện theo trình tự, thủ tục được pháp luật quy rất chặt chẽ để đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự
CHƯƠNG II THỰC TRẠNG QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH VỀ BIỆN PHÁP CƯỠNG CHẾ CHUYỂN GIAO QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT VÀ TÀI SẢN GẮN LIỀN VỚI ĐẤT
Hiện nay, nhìn chung các quy định của pháp luật về cưỡng chế chuyển giao quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất trong thi hành án dân sự được quy định cụ thể, chặt chẽ trong Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (được sửa đổi, bổ sung năm 2014) và các văn bản hướng dẫn thi hành Đây là những cơ sở pháp lý quan trọng giúp các Chấp hành viên có căn cứ để tổ chức thi hành án
2.1 Chủ thể tham gia cưỡng chế chuyển giao quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất
Cưỡng chế chuyển giao quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất là biện pháp cưỡng chế có nhiều chủ thể tham gia, mỗi chủ thể đều có quyền, nghĩa vụ khác nhau trong quá trình tổ chức thi hành án Cụ thể:
Trang 322.1.1 Chấp hành viên
Chấp hành viên là người được Nhà nước giao nhiệm vụ thi hành các bản án, quyết định Khi tổ chức thi hành án, Chấp hành viên là người thực hiện công vụ, nhân danh quyền lực nhà nước và phải chịu trách nhiệm trước nhà nước về các quyết định của mình Nhiệm vụ, quyền hạn của Chấp hành viên được quy định tại Điều 20 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (được sửa đổi, bổ sung năm 2014), trong việc áp dụng biện pháp cưỡng chế chuyển giao quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất Chấp hành viên có những nhiệm
vụ, quyền hạn gồm:
- Kịp thời tổ chức thi hành vụ việc được phân công; ra các quyết định
về thi hành án theo thẩm quyền
- Thi hành đúng nội dung bản án, quyết định; áp dụng đúng các quy định của pháp luật về trình tự, thủ tục thi hành án, bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; thực hiện nghiêm chỉnh chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp Chấp hành viên
- Triệu tập đương sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan để giải quyết việc thi hành án
- Xác minh tài sản, điều kiện thi hành án của người phải thi hành án; yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan cung cấp tài liệu để xác minh địa chỉ, tài sản của người phải thi hành án và những việc khác liên quan đến thi hành án
- Quyết định áp dụng biện pháp bảo đảm thi hành án, biện pháp cưỡng chế thi hành án; lập kế hoạch cưỡng chế thi hành án
- Yêu cầu cơ quan Công an tạm giữ người chống đối việc thi hành án theo quy định của pháp luật
- Được sử dụng công cụ hỗ trợ trong khi thi hành công vụ theo quy định của Chính phủ
Trang 332.1.2 Người được thi hành án
Người được thi hành án là cá nhân, cơ quan, tổ chức được hưởng quyền, lợi ích trong bản án, quyết định được thi hành [19, Điều 3] Quyền và nghĩa vụ của người được thi hành án được quy định tại Điều 7 Luật Thi hành
án dân sự năm 2008 (được sửa đổi, bổ sung năm 2014), trong việc áp dụng biện pháp cưỡng chế chuyển giao quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất, người được thi hành án có những quyền và nghĩa vụ gồm:
- Yêu cầu thi hành án, áp dụng biện pháp bảo đảm, áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án;
- Được thông báo về thi hành án;
- Thỏa thuận với người phải thi hành án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan về thời gian, địa điểm, phương thức, nội dung thi hành án;
- Yêu cầu Tòa án giải thích những điểm chưa rõ hoặc số liệu sai sót;
- Khởi kiện dân sự để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình trong trường hợp có tranh chấp về tài sản liên quan đến thi hành án;
- Tự mình hoặc ủy quyền cho người khác xác minh, cung cấp thông tin
về điều kiện thi hành án của người phải thi hành án;
- Yêu cầu thay đổi Chấp hành viên trong trường hợp có căn cứ cho rằng Chấp hành viên không vô tư khi làm nhiệm vụ;
- Ủy quyền cho người khác thực hiện quyền, nghĩa vụ của mình;
- Chuyển giao quyền được thi hành án cho người khác;
- Khiếu nại, tố cáo về thi hành án;
Trang 342.1.3 Người phải thi hành án
Người phải thi hành án là cá nhân, cơ quan, tổ chức phải thực hiện nghĩa vụ trong bản án, quyết định được thi hành [19, Điều 3] Quyền và nghĩa
vụ của người phải thi hành án được quy định tại Điều 7a Luật Thi hành án dân
sự năm 2008 (được sửa đổi, bổ sung năm 2014), trong việc áp dụng biện pháp cưỡng chế chuyển giao quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất, người
phải thi hành án có những quyền, nghĩa vụ gồm:
- Tự nguyện thi hành án; thỏa thuận với người được thi hành án, người
có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan về thời gian, địa điểm, phương thức, nội dung thi hành án; tự nguyện giao tài sản để thi hành án;
- Được thông báo về thi hành án;
- Yêu cầu thay đổi Chấp hành viên trong trường hợp có căn cứ cho rằng Chấp hành viên không vô tư khi làm nhiệm vụ;
- Yêu cầu Tòa án giải thích những điểm chưa rõ hoặc số liệu sai sót; khởi kiện dân sự để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình trong trường hợp có tranh chấp về tài sản liên quan đến thi hành án;
- Được xét miễn, giảm một phần hoặc toàn bộ chi phí cưỡng chế thi hành án theo quy định của pháp luật;
- Khiếu nại, tố cáo về thi hành án;
- Thi hành đầy đủ, kịp thời bản án, quyết định;
- Kê khai trung thực điều kiện thi hành án; cung cấp đầy đủ tài liệu, giấy tờ có liên quan đến tài sản của mình khi có yêu cầu của người có thẩm quyền và chịu trách nhiệm trước pháp luật về nội dung kê khai đó;
- Thực hiện các quyết định, yêu cầu của Chấp hành viên trong thi hành án; thông báo cho cơ quan thi hành án dân sự khi có thay đổi về địa chỉ, nơi
cư trú;
- Chịu chi phí thi hành án theo quy định của pháp luật
Trang 352.1.4 Viện kiểm sát nhân dân
Viện kiểm sát nhân dân kiểm sát việc tuân theo pháp luật của cơ quan thi hành án dân sự, Chấp hành viên, cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan trong việc thi hành án dân sự Nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát nhân dân được quy định tại khoản 2 Điều 12 Luật Thi hành án dân sự 2008 (được sửa đổi, bổ sung năm 2014), trong việc áp dụng biện pháp cưỡng chế chuyển giao quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất gồm:
- Yêu cầu Chấp hành viên ra quyết định về thi hành án; yêu cầu cơ quan, tổ chức và cá nhân cung cấp hồ sơ, tài liệu có liên quan đến việc thi hành án;
- Kiến nghị xem xét hành vi, quyết định liên quan đến thi hành án có vi phạm pháp luật ít nghiêm trọng của cơ quan thi hành án dân sự, yêu cầu khắc phục vi phạm pháp luật và xử lý người vi phạm;
- Trực tiếp kiểm sát hoạt động tổ chức thi hành biện pháp cưỡng chế của Chấp hành viên, các cơ quan, tổ chức và cá nhân có liên quan;
- Kháng nghị hành vi, quyết định của Thủ trưởng, Chấp hành viên cơ quan thi hành án dân sự có vi phạm pháp luật nghiêm trọng xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân; yêu cầu đình chỉ việc thi hành, thu hồi, sửa đổi, bổ sung hoặc hủy bỏ quyết định có vi phạm pháp luật trong việc thi hành án, chấm dứt hành vi vi phạm pháp luật;
Trang 362.1.5 Ủy ban nhân dân
2.1.5.1 Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện
Nhiệm vụ, quyền hạn của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh được quy định tại Điều 173, Ủy ban nhân dân cấp huyện được quy định tại Điều 174 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (được sửa đổi, bổ sung năm 2014) Trong tổ chức cưỡng chế chuyển giao quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện có các nhiệm vụ, quyền hạn sau:
- Chỉ đạo việc tổ chức phối hợp các cơ quan có liên quan trong thi hành
án dân sự trên địa bàn;
- Giải quyết kịp thời những vướng mắc, khó khăn phát sinh trong việc phối hợp giữa các cơ quan có liên quan trong thi hành án dân sự;
- Chỉ đạo việc tổ chức cưỡng chế thi hành các vụ án lớn, phức tạp, có ảnh hưởng đến an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội ở địa phương theo đề nghị của Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự
2.1.5.2 Ủy ban nhân dân cấp xã
- Phối hợp với Chấp hành viên trong quá trình tổ chức thi hành án: Thông báo thi hành án, xác minh điều kiện thi hành án;
- Cử lực lượng, công cụ hỗ trợ tham gia cưỡng chế thi hành án;
- Thực hiện theo các yêu cầu của Chấp hành viên trong quá trình tổ chức cưỡng chế
2.1.6 Cơ quan Công an
Nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan Công an trong việc tổ chức cưỡng chế được quy định tại Thông tư số 03/2012/TTLT-BTP-BCA ngày 30/3/2012
Cụ thể trong tổ chức cưỡng chế chuyển giao quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất, cơ quan Công an có nhiệm vụ, quyền hạn gồm:
- Xây dựng kế hoạch và lập phương án bảo vệ cưỡng chế;
Trang 37- Cử lực lượng tham gia, bảo vệ cưỡng chế đảm bảo an toàn cho buổi cưỡng chế thi hành án;
- Thực hiện các yêu cầu của Chấp hành viên trong quá trình tổ chức cưỡng chế
2.1.7 Cơ quan quản lý nhà nước về đất đai
- Tạm dừng hoặc dừng việc thực hiện các yêu cầu liên quan đến các giao dịch đối với tài sản của người phải thi hành án đăng ký tại cơ quan đăng
ký đất đai ngay sau khi nhận được yêu cầu của Chấp hành viên, cơ quan thi hành án dân sự;
- Cử lực lượng tham gia cưỡng chế thi hành án
2.2 Căn cứ áp dụng biện pháp cưỡng chế chuyển giao quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất
Điều 70 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (được sửa đổi, bổ sung năm 2014) quy định căn cứ để cưỡng chế bao gồm:
“1 Bản án, quyết định;
2 Quyết định thi hành án;
3 Quyết định cưỡng chế thi hành án, trừ trường hợp bản án, quyết định đã tuyên kê biên, phong tỏa tài sản, tài khoản và trường hợp thi hành quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời của tòa án”
Như vậy, biện pháp cưỡng chế chuyển giao quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất không thuộc trường hợp không phải ra quyết định cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 70, để tổ chức cưỡng chế chuyển giao quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất Chấp hành viên phải có đủ ba căn cứ:
- Bản án, quyết định đã có hiệu lực thi hành;
- Quyết định thi hành án của thủ trưởng cơ quan thi hành án;
Trang 38- Quyết định cưỡng chế chuyển giao quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất của Chấp hành viên
2.3 Trình tự, thủ tục cưỡng chế chuyển giao quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất
Để tổ chức cưỡng chế chuyển giao quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất, Chấp hành viên cần thực hiện đầy đủ các thủ tục sau:
2.3.1 Tiến hành xác minh điều kiện thi hành án của người phải thi hành án
Trước khi tổ chức cưỡng chế chuyển giao quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất cho người được thi hành án, xác minh điều kiện thi hành án của người phải thi hành án là một hoạt động quan trọng, bắt buộc Chấp hành viên phải tiến hành Bởi vì:
- Đây là căn cứ để xác định người phải thi hành án có hay không có điều kiện thi hành án, là căn cứ để áp dụng biện pháp cưỡng chế
- Đây là cơ sở để Chấp hành viên có phương án tổ chức thi hành, xây dựng kế hoạch tổ chức cưỡng chế …
Trước khi thực hiện việc xác minh điều kiện thi hành án của người phải thi hành án, Chấp hành viên cần nghiên cứu kỹ nội dung bản án, quyết định
để hình dung và nắm sơ bộ nghĩa vụ thi hành án, hoàn cảnh phát sinh nghĩa
vụ, nhân thân, hoàn cảnh sống, cũng như điều kiện thi hành án, thái độ thi hành án của người phải thi hành án
Xác minh thi hành án dân sự được quy định tại Điều 44 Luật thi hành
án dân sự năm 2008 (được sửa đổi, bổ sung năm 2014), Điều 9 Nghị định số 62/2015/NĐ-CP ngày 18 tháng 7 năm 2015; Điều 3 Thông tư liên tịch số 11/2016/TTLT-BTP-TANDTC-VKSNDTC ngày 01 tháng 8 năm 2016
Để thực hiện việc cưỡng chế chuyển giao quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất Chấp hành viên cần xác minh, làm rõ những nội dung sau:
Trang 392.3.1.1 Xác minh hiện trạng quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất và người quản lý, sử dụng quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất phải chuyển giao
Để thực hiện xác minh hiện trạng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất, Chấp hành viên cần xác minh, đo đạc thực tế tại nơi có tài sản Việc xác minh phải xác định rõ: Vị trí, ranh giới, diện tích đất phải giao, tài sản gắn liền với đất gồm những tài sản gì; số lượng, chất lượng Sau khi thực hiện xác minh cần đối chiếu, so sánh với bản án, quyết định cũng như giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất (Nếu
đã được cấp) có sự sai lệch hay không Trường hợp có sai lệch về diện tích đất phải làm rõ nguyên nhân của sự sai lệch Trường hợp có sự thay đổi về tài sản gắn liền với đất phải làm rõ do đâu, người phải thi hành án hay cá nhân tổ chức nào có sửa chữa, xây dựng thêm hoặc phá dỡ, sự thay đổi có từ thời điểm nào trước hay sau khi có bản án, quyết định …
- Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất hiện nay do ai đang quản lý, sử dụng, sử dụng vào mục đích gì: Ở, cho thuê hay bỏ không
- Giấy tờ liên quan đến quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất hiện nay có hay không, nếu có do ai đang nắm giữ Để xác minh, Chấp hành viên phải trực tiếp làm việc với người phải thi hành án để xác minh về giấy tờ liên quan đến quyền sử dụng đất và các tài sản gắn liền với đất Theo quy định của Luật Thi hành án dân sự, người phải thi hành án hoặc những cá nhân, tổ chức đang quản lý giấy tờ liên quan đến tài sản có nghĩa vụ xuất trình cho Chấp hành viên các loại giấy tờ này Trong trường hợp người phải thi hành án không xuất trình, từ chối cung cấp thông tin thì Chấp hành viên phải xác minh tại Ủy ban nhân dân hoặc Văn phòng Đăng ký quyền sử dụng đất hoặc các cơ quan nhà nước có thẩm quyền
Trang 402.3.1.2 Xác minh về nhân thân của người phải thi hành án và gia đình người phải thi hành án
Xác minh về nhân thân của người phải thi hành án và gia đình người phải thi hành án được thực hiện tại nơi ở, nơi sinh sống của người phải thi hành án hoặc qua chính quyền địa phương Việc xác minh cần làm rõ:
- Trình độ nhận thức, hiểu biết pháp luật của người phải thi hành án; người phải thi hành án có bệnh án không; tiền án, tiền sự chưa; nghề nghiệp của người phải thi hành án Người phải thi hành án có biểu hiện, thái độ chống đối như đã và đang hoặc sẽ có các hành vi chống đối không; nếu có thì mức độ biểu hiện như thế nào như: Đe dọa, thách thức, chuẩn bị hung khí, lực lượng để chống đối … [28, tr 221]
- Thái độ của các thành viên trong gia đình người phải thi hành án như thế nào; gia đình, họ hàng của người phải thi hành án có đối tượng hình sự mà
cơ quan Công an đang quản lý không như: Tập trung cải tạo hoặc đã hết thời hạn thụ hình … hoặc gia đình thuộc diện chính sách, có công với cách mạng, trong nhà có ai có bệnh án gì không? … [28, tr 222]
Kết quả xác minh sẽ là cơ sở để Chấp hành viên xây dựng kế hoạch, bố trí thành phần tham gia, số lượng người tham gia cưỡng chế và dự liệu các tình huống có thể xảy ra trong buổi cưỡng chế chuyển giao quyền sử dụng đất
và tài sản gắn liền với đất
Việc xác minh càng chi tiết thì dự liệu các tình huống xảy ra, hướng xử
lý trong quá trình cưỡng chế càng đầy đủ và thấu đáo, góp phần rất lớn vào sự thành công của buổi cưỡng chế thi hành án
2.3.1.3 Xác minh quan hệ, quan điểm của địa phương, thái độ của
dư luận đối với vụ án và đối với người phải thi hành án
- Xác minh về quan hệ của người phải thi hành án và thân nhân của họ