Các nghiên cứu về đặc điểm cấu trúc rừng 1.1.1.1 Các nghiên cứu về đặc điểm phân bố, sinh thái cây rừng Nghiên cứu về đặc điểm phân bố, sinh thái của các loài cây rừng trênthế giới đã có
Trang 1NGUYỄN HỮU THỊNH
NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM LÂM HỌC
CỦA CÂY ƯƠI (SCAPHIUM MACROPODUM) (MIQ.)
BEUMÉE EX K HEYNE TẠI MỘT SỐ TỈNH VÙNG
NAM TRUNG BỘ
CHUYÊN NGÀNH: LÂM HỌC
MÃ NGÀNH: 8620201
LUẬN VĂN THẠC SĨ LÂM HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS HOÀNG VĂN THẮNG PGS.TS LÊ XUÂN TRƯỜNG
Hà Nội, 2020
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn này được hoàn thành dựa trên các kết quảnghiên cứu của tôi trong khuôn khổ của đề tài nghiên cứu cấp Nhà nước
“Nghiên cứu khai thác và phát triển nguồn gen cây Ươi (Scaphium macropodum) tại một số tỉnh miền Trung và Tây Nguyên” mã số đề tài
NVQG-2018/07 do ThS Phạm Đình Sâm làm chủ nhiệm
Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng đượccông bố trong công trình nghiên cứu nào khác, nếu có gì sai tôi hoàn toàn chịutrách nhiệm
Hà Nội, ngày tháng năm 2020
Tác giả luận văn
Nguyễn Hữu Thịnh
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Luận văn được hoàn thành theo chương trình đào tạo Thạc sĩ giai đoạn
2018 - 2020 chuyên ngành Lâm học, hệ chính quy tại trường Đại học LâmNghiệp Để hoàn thành chương trình đào tạo Thạc sĩ chuyên ngành lâm học,tôi xin chân thành cảm ơn:
Quý thầy cô giáo trực tiếp giảng dạy lớp Cao học khóa 2018 - 2020,khoa Lâm học, Phòng Đào tạo sau đại học, Ban giám hiệu trường Đại họcLâm nghiệp đã tận tình giảng dạy và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốtthời gian khoá học
Lãnh đạo và tập thể cán bộ Viện Nghiên cứu Lâm sinh - Viện Khoa họcLâm nghiệp Việt Nam đã tạo điều kiện thuận lợi trong quá trình công tác vàthực hiện luận văn này
ThS Phạm Đình Sâm chủ nhiệm đề tài “Nghiên cứu khai thác và phát
triển nguồn gen cây Ươi (Scaphium macropodum) tại một số tỉnh miền Trung
và Tây Nguyên” cùng đồng nghiệp đã giúp đỡ cho tôi trong quá trình điều tra,thu thập số liệu phục vụ cho quá trình nghiên cứu
Đặc biệt tôi xin trân trọng cảm ơn TS Hoàng Văn Thắng và PGS TS LêXuân Trường, đã tận tình hướng dẫn tôi trong suốt thời gian thực tập và hoànthành luận văn này
Cuối cùng, tôi xin tỏ lòng biết ơn đến người thân trong gia đình đã luônbên cạnh ủng hộ, động viên tôi trong thời gian hoàn thành luận văn
Do thời gian có hạn, bản thân mới bước đầu làm quen với công tácnghiên cứu khoa học nên luận văn không tránh khỏi những thiếu sót Kínhmong quý thầy, cô giáo và bạn bè đồng nghiệp quan tâm góp ý để luận vănđược hoàn thiện hơn
Xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày tháng năm 2020
Tác giả
Nguyễn Hữu Thịnh
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ TỪ VIẾT TẮT v
DANH MỤC CÁC BẢNG vi
DANH MỤC HÌNH vii
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 3
1 Ngoài nước 3
1.1.1 Các nghiên cứu về đặc điểm cấu trúc rừng 3
1.1.2 Nghiên cứu về cây Ươi 6
1.2 Trong nước 9
1.2.1 Các nghiên cứu về đặc điểm cấu trúc rừng 9
1.2.2 Nghiên cứu về cây Ươi 15
1.3 Nhận xét, đánh giá 24
Chương 2 MỤC TIÊU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 25 2.1 Mục tiêu 25
2.1.1 Mục tiêu chung 25
2.1.2 Mục tiêu cụ thể 25
2.2 Đối tượng và giới hạn nghiên cứu 25
2.2.1 Đối tượng nghiên cứu 25
2.2.2 Giới hạn nghiên cứu 25
2.3 Nội dung nghiên cứu 25
2.3.1 Nghiên cứu đặc điểm phân bố, sinh thái của loài cây Ươi 25
2.3.2 Đặc điểm tầng cây cao lâm phần có Ươi phân bố 25
2.3.3 Đặc điểm tầng tái sinh của lâm phần có Ươi phân bố 26
2.3.4 Đề xuất các biện pháp kỹ thuật lâm sinh 26
Trang 52.4 Phương pháp nghiên cứu 26
2.4.1 Phương pháp thu thập số liệu hiện trường 26
2.4.2 Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp 27
2.4.3 Phương pháp xử lý số liệu 27
2.5 Phương pháp đề xuất các biện pháp lâm sinh phù hợp 31
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 32
3.1 Đặc điểm phân bố và sinh thái của cây Ươi 32
3.1.1 Đặc điểm phân bố của cây Ươi trong các trạng thái rừng tự nhiên 32
3.1.2 Đặc điểm khí hậu nơi cây Ươi phân bố 33
3.1.3 Đặc điểm đất nơi có Ươi phân bố 33
3.2 Đặc điểm tầng cây cao của lâm phần có Ươi phân bố 37
3.2.1 Đặc điểm tầng cây cao của lâm phần có Ươi phân bố tại Quảng Ngãi 37
3.2.2 Đặc điểm tầng cây cao của lâm phần có Ươi phân bố tại Quảng Nam 40
3.2.3 Đặc điểm cấu trúc rừng có Ươi phân bố 43
3.3 Đặc điểm tầng cây tái sinh của lâm phần có cây Ươi phân bố 49
3.3.1 Tổ thành và mật độ cây tái sinh của các trạng thái rừng có Ươi phân bố trong khu vực nghiên cứu 49
3.3.2 Chất lượng và nguồn gốc cây tái sinh 52
3.3.3 Kiểu phân bố tầng cây tái sinh 58
3.4 Đề xuất các biện pháp lâm sinh phù hợp 59
3.4.1 Căn cứ đề xuất 59
3.4.2 Đề xuất các điều kiện lập địa gây trồng loài cây Ươi ở Quảng Nam và Quảng Ngãi 59
3.4.3 Đề xuất biện pháp kỹ thuật trồng 60
3.4.4 Đề xuất biện pháp kỹ thuật xúc tiến tái sinh tự nhiên 61
KẾT LUẬN 62
TÀI LIỆU THAM KHẢO 64
PHỤ LỤC 67
Trang 6DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ TỪ VIẾT TẮT
Ký hiệu/từ viết tắt
cm
D1.3
DHIV%
mmmmN%
N/DN/HN/haOTCTSTV
%
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1: Một số đặc điểm khí hậu nơi có Ươi phân bố 33Bảng 3.2: Tính chất lý tính đất nơi có Ươi phân bố 34Bảng 3.3: Tính chất hóa tính của đất nơi có Ươi phân bố 36Bảng 3.4: Mật độ và các chỉ tiêu sinh trưởng của cây Ươi trong các trạng tháirừng tự nhiên ở Quảng Ngãi 38Bảng 3.5: Tổ thành tầng cây cao trong các trạng thái rừng có Ươi phân bố ởQuãng Ngãi 39Bảng 3.6: Mật độ và các chỉ tiêu sinh trưởng của lâm phần có Ươi phân bố tạiQuảng Nam 40Bảng 3.7: Tổ thành tầng cây cao trong các trạng thái rừng có Ươi phân bố ởQuảng Nam 42Bảng 3.8: Kết quả mô phỏng phân bố N/D1.3 của các trạng thái rừng có Ươiphân bố ở các khu vực nghiên cứu 44Bảng 3.9: Kết quả mô phỏng phân bố N/H của các trạng thái rừng có Ươiphân bố ở các khu vực nghiên cứu 46Bảng 3.10: Kiểu phân bố của tầng cây cao trong các trạng thái rừng có Ươiphân bố ở khu vực nghiên cứu 48Bảng 3.11: Công thức tổ thành cây tái sinh trong các trạng thái rừng tại
Quảng Ngãi 49Bảng 3.12: Công thức tổ thành cây tái sinh trong các trạng thái rừng tại
Quảng Nam 51Bảng 3.13: Chất lượng và nguồn gốc cây tái sinh trong các trạng thái rừng cóƯơi phân bố ở Quảng Nam và Quảng Ngãi 53Bảng 3.14: Mật độ tái sinh cây Ươi tại các trạng thái rừng 56Bảng 3.15: Kiểu phân bố của tầng cây tái sinh trong các trạng thái rừng cóƯơi phân bố ở khu vực nghiên cứu 58
Trang 8DANH MỤC HÌNH
Hình 1.1: Đặc điểm hình thái của loài Ươi ở Việt Nam 17
Hình 3.1: Ươi ở trạng thái rừng nghèo 32
Hình 3.2: Ươi ở trạng thái rừng giàu 32
Hình 3.3: Phẫu diện đất ở Quảng Nam 35
Hình 3.4: Phân bố lý thuyết và phân bố thực nghiệm N/D1.3 ở một số ô tiêu chuẩn 45
Hình 3.5: Phân bố lý thuyết và phân bố thực nghiệm N/H ở một số ô tiêu chuẩn 47
Hình 3.6: Ươi tái sinh ở trạng thái rừng nghèo 58
Trang 9ĐẶT VẤN ĐỀ
Ươi là loài cây gỗ đa tác dụng, có tên khoa học Scaphium macropodum
(Miq.) Beumée ex K Heyne, thuộc họ Trôm (Sterculiaceae) Loài này cóphân bố tự nhiên ở các tỉnh miền Trung và Tây Nguyên Sản phẩm chính củaƯơi là hạt, được sử dụng làm đồ uống và một số tác dụng trong ý học như:giải độc, lợi cổ họng và đặc biệt táo bón, gai cột sống,… Đây là loài cây cógiá trị cao về mặt kinh tế nên nhiều năm gần đây việc khai thác nguồn lợi nàydiễn ra thường xuyên và liên tục Do sự khai thác quả bằng cách chặt cây diễn
ra quá mức đã dẫn đến tình trạng các quần thể Ươi trong tự nhiên bị suy thoáinghiêm trọng cả về số lượng, diện tích và chất lượng Hàng trăm quần thể Ươivới hàng nghìn cá thể đã và đang bị chặt phá để lấy quả, điều này làm cho loàicây Ươi đang đứng trước nguy cơ bị đe dọa và đã được ghi tên trong Sách đỏViệt Nam (2007)
Nam Trung Bộ là vùng có mật độ phân bố Ươi nhiều trên cả nước với
số lượng cá thể Ươi cho quả nhiều Do đó, vùng này cũng là nơi cây Ươi bịkhai thác triệt để phục vụ nhu cầu trước mắt, trong khi đó việc trồng rừng vàphát triển rừng trồng loài cây Ươi chưa được quan tâm nhiều Cây Ươi là mộttrong những loài cây bản địa sinh trưởng khá nhanh và dễ tái sinh, tuy nhiên
do quá trình khai thác ngày càng nhiều nên số lượng cá thể giảm sút đáng kể.Một số công trình nghiên cứu về cây Ươi từ trước tới nay mới chỉ tập trungchủ yếu đề cập tới các kỹ thuật chọn giống và gây trồng Đây là nguồn thôngtin và cơ sở khoa học ban đầu có giá trị để đề tài kế thừa có chọn lọc và địnhhướng nghiên cứu bổ sung nhằm góp phần tạo cơ sở cho việc phát triển bềnvững Ươi Các nghiên cứu về đặc điểm sinh thái, phân bố, lâm học còn ítđược quan tâm
Xuất phát từ thực tiễn đó, đề tài luận văn: “Nghiên cứu một số đặc điểm
lâm học của cây Ươi (Scaphium macropodum (Miq.) Beumée ex K.
Trang 10Heyne) tại một số tỉnh vùng Nam Trung Bộ” được thực hiện là cần thiết, gópphần bổ sung cơ sở khoa học cho việc gây trồng và quản lý loài cây bản địa
đa tác dụng này, nhằm nâng cao thu nhập, xóa đói giảm nghèo cho người dânđịa phương ở các vùng trồng Ươi
Trang 11Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1 Ngoài nước
1.1.1 Các nghiên cứu về đặc điểm cấu trúc rừng
1.1.1.1 Các nghiên cứu về đặc điểm phân bố, sinh thái cây rừng
Nghiên cứu về đặc điểm phân bố, sinh thái của các loài cây rừng trênthế giới đã có khá nhiều công trình được thực hiện và đã đạt được kết quảđáng kể, rất nhiều loài đã được nghiên cứu phân loại giám định loài nhằm xácđịnh vùng phân bố, đặc điểm sinh thái, có thể liệt kê một số nghiên cứu củacác tác giả như Lecomte M (1931); Kochummen (1972); Samartin, A.(1992); các công trình nghiên cứu này đã chỉ ra vùng phân bố tự nhiên, kiểurừng phân bố, độ cao phân bố so với mực nước biển của một số loài cây như
Dẻ anh, Ươi, Sở chè
W.Lacher (1978) đã chỉ rõ vấn đề cần nghiên cứu sinh thái thực vật, sựthích nghi thực vật ở các điều kiện tự nhiên khác nhau E.P Odium (1975) đãphân chia ra sinh thái học cá thể và sinh thái học quần thể Sinh thái học cáthể nghiên cứu từng cá thể sinh vật hoặc từng loài Trong trường hợp đó chu
kỳ sống và tập tính cũng như khả năng thích nghi với môi trường được đặcbiệt chú ý Ngoài ra, các mối quan hệ giữa các yếu tố sinh thái, sinh trưởng cóthể định lượng bằng phương pháp toán học, mô phỏng, phản ánh các quy luậttương quan trong tự nhiên Các phương pháp thực nghiệm sinh thái học nhằmnghiên cứu mối quan hệ giữa các loài, phương pháp điều tra đánh giá đượctrình cụ thể trong ‘‘Thực nghiệm sinh thái học” của Stephen D.Wratten vàGary L.A Fry (1980)
1.1.1.2 Các nghiên cứu về đặc điểm lâm học một số loài cây rừng
Những cơ sở khoa học về rừng mưa nhiệt đới đã được nhiều tác giảquan tâm như: Richard (1959) với công trình Rừng mưa nhiệt đới; Baur G.N.(1962) với công trình Cơ sở sinh thái của kinh doanh rừng mưa; Catinot
Trang 12(1965) với công trình Lâm sinh học nhiệt đới , Các công trình nghiên cứu đãcho thấy hệ sinh thái rừng nhiệt đới rất đa dạng về thành phần loài và cấu trúctầng tán Bên cạnh đó, các tác giả đã nghiên cứu, thảo luận đưa ra nhiều lýluận khoa học, cơ sở thực tiễn, kỹ thuật, kinh tế, xã hội và cho thấy được vaitrò quan trọng của các yếu tố này trong kinh doanh hệ sinh thái rừng tự nhiên.
Có thể thấy, các nghiên cứu về cấu trúc tầng thứ của các tác giả trên mới chỉđưa ra nhận xét mang tính định tính, phân chia tầng thứ dựa vào cấp chiều caomang tính cơ giới nên phần nào chưa phản ánh đúng tính phức tạp của cấutrúc rừng nhiệt đới
Hiện tượng phân tầng là một đặc trưng quan trọng của rừng nhiệt đới.Một trong những cơ sở định lượng để phân chia tầng là quy luật phân bố sốcây theo cấp chiều cao Đã có một số tác giả đề xuất các phương pháp nghiêncứu tầng thứ của rừng nhiệt đới, điển hình như phương pháp vẽ biểu đồ mặtcắt đứng của rừng do Davit và P.W Risa (1933 - 1934) (Dẫn theo Trần VănCon và cộng sự, 2010) đề xướng và sử dụng lần đầu tiên ở Guyan vẫn làphương pháp có hiệu quả để nghiên cứu cấu trúc tầng rừng Tuy nhiên phươngpháp này có nhược điểm là chỉ minh hoạ được cách sắp xếp của các loài cây
gỗ trong một diện tích có hạn Cusen (1951) (Dẫn theo Trần Văn Con và cộng
sự, 2010) đã khắc phục bằng cách vẽ một số giải kề bên nhau và đưa lại mộthình tượng về không gian ba chiều Việc phân cấp cây rừng cho rừng hỗn loàinhiệt đới tự nhiên là vấn đề phức tạp, cho đến nay vẫn chưa có tác giả nào đưa
ra được phương án phân cấp cây rừng cho rừng nhiệt đới tự nhiên mà đượcchấp nhận rộng rãi Sampion Gripfit (1948) khi nghiên cứu rừng tự nhiên tại
Ấn Độ và rừng ẩm nhiệt đới Tây Phi có kiến nghị phân cấp cây rừng thành 5cấp cũng dựa vào kích thước cây rừng Dawkin (1958) cũng đưa ra một bảngphân cấp cây cho rừng tự nhiên với 5 cấp (Dẫn theo Trần Văn Con và cộng
sự, 2010)
Để có cái nhìn toàn diện hơn về cấu trúc rừng nhiệt đới các nghiên cứucấu trúc rừng được chuyển dần từ mô tả định tính sang định lượng với sự hỗ
Trang 13trợ của thống kê toán học và tin học, trong đó việc mô hình hoá cấu trúc rừng,xác lập mối quan hệ giữa các nhân tố cấu trúc rừng đã được nhiều tác giảnghiên cứu Vấn đề về cấu trúc không gian và thời gian của rừng được các tácgiả tập trung nghiên cứu nhiều nhất Có thể kể đến một số tác giả tiêu biểunhư: B.Rollet (1971) (Dẫn theo Trần Văn Con và cộng sự, 2010) đã biểu diễncác quan hệ chiều cao - đường kính ngang ngực, đường kính tán - đường kínhngang ngực bằng các hàm hồi quy; phân bố đường kính tán, đường kính thâncây dưới dạng các phân bố xác suất; Balley (1973) mô hình hoá cấu trúc thâncây với phân bố số cây theo cỡ kính (N-D) bằng hàm Weibull Nhiều tác giảkhác dùng hàm Schumacher, hyperbol, hàm mũ, Poisson, Charlier, để môhình hoá cấu trúc rừng.
Một vấn đề nữa có liên quan đến nghiên cứu cấu trúc rừng đó là việcphân loại rừng theo cấu trúc và ngoại mạo hay ngoại mạo sinh thái Cơ sởphân loại rừng theo xu hướng này là đặc điểm phân bố, dạng sống ưu thế, cấutrúc tầng thứ và một số đặc điểm hình thái khác của quần xã thực vật rừng.Tiêu biểu cho hệ thống phân loại rừng theo hướng này có Humbold (1809),Schimper (1903), Aubreville (1949), UNESCO (1973) (Dẫn theo Trần VănCon và cộng sự, 2010) Trong nhiều hệ thống phân loại rừng theo xu hướngnày khi nghiên cứu ngoại mạo của quần xã thực vật đã không tách rời khỏihoàn cảnh của nó và do vậy hình thành một hướng phân loại theo ngoại mạosinh thái
Khác với xu hướng phân loại rừng theo cấu trúc và ngoại mạo chủ yếu
mô tả rừng ở trạng thái tĩnh Trên cơ sở nghiên cứu rừng ở trạng thái độngMelekhov đã nhấn mạnh sự biến đổi của rừng theo thời gian, đặc biệt là sựbiến đổi của tổ thành loài cây trong lâm phần qua các giai đoạn khác nhautrong quá trình phát sinh và phát triển của rừng
Các kiến thức về cấu trúc không gian và thời gian là cơ sở để xây dựng
mô hình cấu trúc chuẩn và đề xuất các giải pháp xử lý lâm sinh để hướng rừngđến cấu trúc chuẩn
Trang 14Khẳng định sản lượng bền vững như là vấn đề kỹ thuật quan trọng nhấttrong kinh doanh rừng, D Alder (1980, 1992 ), J Vanclay (1994, 1998 ) đã
xây dựng nhiều phương pháp nghiên cứu, dự tính, dự báo sản lượng rừng tựnhiên làm cơ sở xác định các giải pháp kỹ thuật kinh doanh bền vững tàinguyên rừng
1.1.2 Nghiên cứu về cây Ươi
1.1.2.1 Phân loại và hình thái
Ươi (Scaphium macropodum (Miq.) Beumée ex K Heyne) thuộc họ
Trôm (Sterculiaceae), còn được gọi là malvanut (tiếng Anh) hoặc Kembangsemangkuk jantung (tiếng Malaysia), là cây thường gặp trong rừng mưa nhiệtđới ở khu vực Đông Nam Á (Kochummen, 1972)
Cây Ươi trưởng thành có chiều cao đạt tới 40 - 45m, đường kính thâncây 80 - 100cm Quá trình rụng lá của Ươi diễn ra trong thời gian ngắn và rahoa trên những cành đã rụng lá trước khi mọc những lá non (Kostermans,1953; Yamada và Suzuki, 2000) Lá mọc tập trung ở đỉnh cành, có 2 dạngkhác nhau: lá có 3 đến 5 thùy ở thân non và lá hình bầu dục ở thân lớn, rộngkhoảng 10 - 12cm, dài 15 - 25cm không có lông, và cuống dài 10 - 30cm Hoachùm, nhỏ, gồm hoa đực và hoa cái, cụm hoa màu xanh lá cây sáng hay màu
đỏ, đài có ống dài và có lông, tai 5, noãn sào có lông Quả thịt, manh nang,cao 10 - 15cm, tự khai, mau nở, màu nâu khi già, bao chung quanh một cánhmàng, dài 20cm và tự khai Hạt to hình bầu dục hay thuôn dài màu đỏ nhạthay nâu, da nhăn, thô, phù to khi gặp nước, có kích thước 25 x 15mm Mùahoa từ tháng 1 đến tháng 4, hoa chính tháng 3 Mùa quả từ tháng 6 đến tháng
8, chín rộ tháng 7 Chu kỳ quả 4 năm ra một lần
Theo Yamada và Suzuki (1997), hình thái lá và tán cây thay đổi tùythuộc vào kích thước cây, có liên quan đến sự tăng trưởng và sự sống của câytrồng Cây Ươi chỉ bắt đầu phát triển cành bên tự nhiên khi đường kính thânđạt được hàng chục cm trở lên và phát triển tăng đường kính tán chủ yếu bằng
Trang 15tăng kích thước và số lượng lá trong tán Khoảng cách phân tán của quả hiếmkhi vượt quá 50m so với gốc cây mẹ.
1.1.2.2 Các nghiên cứu về đặc điểm phân bố, sinh thái
Theo Kochummen (1972), Ươi có phân bố tự nhiên tại các rừng mưanhiệt đới ở Myanmar, Thái Lan, Campuchia, Malaysia, Indonesia, Brunei vàViệt Nam; nhập trồng ở Xishuangbana, Jinghong tỉnh Vân Nam, Trung Quốcvào năm 1970 Ươi xuất hiện trong những khu rừng thường xanh, chủ yếu làđất đá, thường là trên những sườn đồi Tuy nhiên, rất ít khi Ươi xuất hiện rừngthuần loài trong tự nhiên Ươi là cây ưa sáng và sinh trưởng khá nhanh,thường tái sinh xuất hiện như cây “tiên phong” trên các khoảng “trống” trongrừng tự nhiên
Ươi phân bố chủ yếu ở khu vực có độ cao 300 - 500m so với mực nướcbiển, nhiệt độ trung bình 20 - 260C, lượng mưa bình quân năm 1.000 -2.000mm Tuy nhiên, Ươi có thể phát triển trên những sườn đồi, rặng núi,rừng đầm lầy, và rừng tiểu vùng có độ cao lên đến 1.200m Ươi thích hợp với
2 loại đất là đất đỏ vàng và đất đỏ Ươi ưa đất tốt, có độ ẩm cao và hàm lượngmùn cao Ươi cũng có thể thích nghi với các loại đất chua và nghèo canxi
Hiện nay trên thế giới các công trình nghiên cứu đã công bố về tính đadạng di truyền cây Ươi còn rất hạn chế Do đó, đây là một khoảng trống cầnthiết thực hiện các nghiên cứu để lựa chọn được những cây ưu trội về kiểugen và xác định mối quan hệ giữa các cây trội về mặt di truyền, nhân tố nhằmhạn chế sự thoái hóa giống
1.1.2.3 Giá trị sử dụng và lợi ích kinh tế cây Ươi
Hạt Ươi chứa một số lượng lớn chất gelatine có thể được sử dụng để điều trị nhiễm trùng đường ruột, tiêu chảy, đau họng, hen suyễn, kiết lỵ, sốt,
ho, viêm và bệnh tiểu đường (Lim, 2012) Ở Trung Quốc, hạt Ươi cũng được
sử dụng như một loại thuốc truyền thống để ngăn ngừa viêm họng, điều trị chứng ho gà và táo bón Hạt Ươi cũng có đặc tính làm mát (Lamxay, 2001) Ươi là loại lâm sản có giá trị kinh tế cao và là nguồn thu nhập quan trọng của
Trang 16người dân một số khu vực ở các nước Lào, Indonesia, Malaysia, Thái Lan,Campuchia và Việt Nam Trung bình một cây trưởng thành cho năng suất 40
kg hạt khô/năm Lào là một trong những quốc gia xuất khẩu lớn, năm cao nhất(2001) sản lượng xuất khẩu đạt tới 1.700 tấn Giá hạt Ươi khô trên thị trườngthế giới dao động từ 15 đến 20 USD/kg Năm 2004, Thái Lan đã nhập khẩumột lượng lớn các chất được chiết suất từ hạt Ươi ở Malaysia, ước tính gần 10triệu USD (Thai Customs Department, 2004) Ngoài việc tiêu thụ nội địa ởcác nước có sản phẩm, hạt Ươi chủ yếu xuất khẩu sang Trung Quốc, một phầnsang Pháp, Đài Loan Nhu cầu thị trường hạt Ươi tương đối lớn và ổn định,nhưng nguồn cung cấp không lớn và dao động theo chu kỳ sai quả
1.1.2.4 Các nghiên cứu về kỹ thuật trồng, nuôi dưỡng Ươi
Theo Li và Wu (2003), cần chọn loại đất tốt và thoát nước để trồngƯơi Khoảng cách trồng giữa các cây 6m x 7m Cây Ươi trồng từ hạt có tỷ lệsống trung bình 75%, tốc độ sinh trưởng chiều cao trong 3 năm đầu đạt 1m/năm Sau khi trồng 7 năm, Ươi có thể cho quả vụ đầu Trong những nămđầu, Ươi rất cần được che nắng, có thể trồng xen cây Ươi dưới tán các cây gỗkhác Ở một số nước (Trung Quốc, Indonesia, Malaysia) đã trồng Ươi vớidiện tích tương đối lớn và cho hiệu quả kinh tế cao Các thí nghiệm trồng xenƯơi với các cây kinh tế khác hiện vẫn chưa thu được kết quả thuyết phục Đểkhắc phục tình trạng cây quá cao, không thuận lợi cho thu hoạch Tại VânNam, Trung Quốc các nhà khoa học đã dùng biện pháp ghép chồi bên và ứcchế sinh trưởng để tạo ra cây Ươi lùn có chiều cao 3 - 5m, cành bên dài khôngquá 1 m Với phương pháp này, 5 năm sau khi trồng, cây Ươi ra hoa lứa đầutiên, năng suất quả cao và dễ thu hái (Li và Wu, 2003)
Ở Malaysia, cây Ươi được trồng hỗn giao với các loài cây ăn quả kháctheo phương thức canh tác truyền thống trong vườn hộ cũng mang lại hiệuquả kinh tế cao cho người dân địa phương (Hashim, 1986; Lee, 2004; Hashim
và cs, 2004)
Trang 17Kết quả nghiên cứu bước đầu về kỹ thuật nhân giống và gây trồng câyƯơi chiết cành cho thấy che sáng 50% cho cây trồng có tác dụng làm tăngsinh trưởng chiều cao, tăng số lượng lá và diện tích lá, tuy nhiên lại hạn chếsinh trưởng đường kính của cây Ươi chiết so với đối chứng không che sáng(Wu và cs, 1997).
Lee và cs (2004) đã nghiên cứu phân tích tính đa dạng di truyền và chỉ
số đa dạng sinh học/H (Shanoon index) của một số quần thể Ươi dưới tácđộng của khai thác chọn, kết quả cho thấy với tác động ngắn hạn thì chưa ảnhhưởng tới đa dạng di truyền và H, nhưng với những tác động kéo dài liên tụcthì đa dạng di truyền bị suy giảm nghiêm trọng (chỉ số H suy giảm tới 31,5%)
ở những quần thể có mật độ cây Ươi thấp Điều này có thể do sự trôi dạt di truyền, nguồn gen và quá trình tự thụ phấn xảy ra do suy thoái quần thể
Yarwudhi và cộng sự (1994) đã tiến hành nghiên cứu khả năng tái sinh
tự nhiên của Ươi tại 3 loại hiện trường là rừng tự nhiên (P1), rừng thứ sinhsau khai thác (P2) và trảng cỏ cây bụi tại tỉnh Kanchanaburi, Thái Lan Kếtquả cho thấy, Ươi có mật độ tái sinh cao nhất tại P1 và P2, đặc biệt có khảnăng tái sinh tự nhiên cao trong các khoảng trống Theo Yamada và Suzuki(1997) khả năng tái sinh tự nhiên của Ươi được thiết lập thành công thườngnằm ngoài tán của cây mẹ, cách gốc khoảng 14m Các cây mẹ trưởng thành vàcây con tái sinh thường phân bố riêng rẽ theo cách “loại trừ nhau”, mật độ hạt
và tỷ lệ nảy mầm được phát hiện cao nhất dưới tán cây mẹ, nhưng tại đâycũng có tỷ lệ chết cây con cao nhất, bởi tầng rơi rụng và tầng tán các cây mẹquá dày
1.2 Trong nước
1.2.1 Các nghiên cứu về đặc điểm cấu trúc rừng
1.2.1.1 Các nghiên cứu về đặc điểm phân bố, sinh thái cây rừng
Trần Văn Con (1990) đã tiến hành nghiên cứu khả năng ứng dụng môphỏng toán để nghiên cứu một vài đặc trưng cấu trúc và động thái của hệ
Trang 18sinh thái rừng khộp Tây Nguyên Tác giả đã đi đến mốt số kết luận: Hệ sinhthái rừng khộp có thể diễn đạt bằng ngôn ngữ toán học dưới dạng các mô hình
lý thuyết, có thể ứng dụng các mô hình này để mô phỏng định lượng các đặctrưng cấu trúc của quần thụ rừng khộp; cấu trúc tổ thành rừng khộp có thể môphỏng bằng hàm h = H’(1- exp(-ks)) của Stocker và Bergmann (1977), từ đótác giả đã chia ra 16 kiểu ưu hợp thường gặp ở rừng khộp; cấu trúc N/D củarừng khộp tuân theo luật phân bố Weibull
Nghiên cứu về đặc điểm phân bố, sinh thái của các loài cây bản địa ởnước ta có khá nhiều công trình được thực hiện, có thể liệt kê một số nghiêncứu như sau:
Bảo Huy (1993) trong nghiên cứu “Góp phần nghiên cứu đặc điểm cấu
trúc rừng nửa rụng lá - rụng lá ưu thế Bằng lăng (Lagerstroemia calyculata)
làm cơ sở đề xuất giải pháp kỹ thuật khai thác - nuôi dưỡng ở Đắk Lắk, TâyNguyên” đã đề cập đến nhiều nội dung về các đặc điểm sinh học và sinh tháihọc của loài, các tương quan trong nghiên cứu lâm học, tái sinh, cấu trúc tổthành, nhưng tập trung theo điều tra rừng Các thành phần đi kèm chính với
Bằng lăng là Muồng đen (Cassia siamea), Bình linh (Vitex pubescens), Kháo (Machulus odoratissima), Quế rừng (Cinnamomum iners).
Nguyễn Bá Chất (1996) đã nghiên cứu đặc điểm lâm học và biện phápgây trồng nuôi dưỡng cây Lát hoa, ngoài những kết quả nghiên cứu về các đặcđiểm phân bố, sinh thái, tái sinh, tác giả cũng đã đưa ra một số biện pháp kỹthuật gieo ươm cây con và trồng rừng đối với Lát hoa
Hà Thị Mừng (2000) nghiên cứu quan hệ sinh thái loài Giáng Hương
(Pterrocapus macrocapus Kurz) với các loài cây khác trong rừng khộp Các
nghiên cứu này đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu sinh thái loài kết hợpvới xử lý thông kê trên máy tính để đưa ra được quan hệ sinh thái loài nghiêncứu các loài ưu thế khác trong quần xã làm cơ sở cho việc đề xuất các giảipháp gây trồng phát triển Có rất nhiều phần mềm ứng dụng để xử lý thống kênhư SPSS, Statgraphics Plus, Excel,
Trang 19Vương Hữu Nhi (2003) đã nghiên cứu một số đặc điểm sinh học và kỹthuật tạo cây con Căm xe góp phần phục vụ trồng rừng ở Đắc Lắc - TâyNguyên, từ kết quả nghiên cứu với những kết luận về đặc điểm hình thái,phân bố, cấu trúc, tái sinh tự nhiên, tác giả còn đưa ra những kỹ thuật gâytrồng đối với loài cây này.
Võ Hùng (2006) nghiên cứu một số đặc điểm sinh thái của loài Kim
tiền thảo (Desmodium styracifolium) tại Vườn Quốc gia Yok Đôn Các đặc
điểm sinh thái thu thập được đã làm cơ sở cho việc lựa chọn giải pháp gâytrồng thủ nghiệm Tìm hiểu các nhân tố sinh thái là một trong những vấn đềquan trọng phục vụ cho việc trồng và kinh doanh rừng Tác giả đã sử dụng cácphương pháp điều tra phân bố, thu thập số liệu, phân tích định tính, địnhlượng đưa ra các nhân tố sinh thái quan trọng ảnh hưởng tới quá trình sinhtrưởng, phát triển của Kim tiền thảo Để xác lập mối quan hệ giữa số lượngcây Kim tiền thảo xuất hiện với các nhân tố sinh thái nhà nghiên cứu đã sửdụng phần mềm thống kê Statgraphics để xây dựng và phân tích mối quan hệ
đa biến Các biến số định tính đã được mã hóa thống nhất theo chiều biếnthiên thay đổi, các biến số định lượng được sử dụng giá trị thực để xây dựngphương trình, làm cơ sở cho việc gây trồng thử nghiệm loài cây này
Nghiên cứu của Phạm Minh Toại và Vũ Đại Dương (2012) cho thấy, tại
tỉnh Sơn La loài Cáng Lò (Betula alnoides Buch – Ham.) phân bố chủ yếu ở
nơi có độ dốc nhỏ hơn 40˚, ở độ cao từ 500 – 1500 m so với mặt nước biển.Loài này là loài cây chiếm tỷ lệ lớn trong công thức tổ thành loài cây gỗ (hệ
số tổ thành đạt 9,24)
Nguyễn Văn Hợp và Nguyễn Thị Hạnh (2017), tại Khu bảo tồn thiên
nhiên Xuân Nha loài Thông Xuân Nha (Pinus cernua) phân bố ở độ cao tuyệt
đối từ 900 - 1400 m thuộc dãy Pha Luông của Cao nguyên Mộc Châu, nơi cóđịa hình bị chia cắt mạnh với nhiều đỉnh núi đá vôi xen lẫn núi đất và sườndốc dựng đứng Loại đất chính là đất sét phát triển từ đá mẹ sa thạch, sa phiến
Trang 20thạch Loài này phân bố nơi có độ tàn che bình quân 0,5 - 0,6 và thường mọcthuần loài theo đám hoặc mọc kèm với các loài cây lá rộng thường xanh thuộc
họ Chè (Theaceae), họ Long não (Lauraceae), họ Dẻ (Fagaceae),
Trần Ngọc Hải và cộng sự (2016), tại Vườn quốc gia Bến En loài Vù
hương (Cinnamomum balansae Lecomte) phân bố rải rác ở khu vực núi đất từ
độ cao 50 m trở xuống so với mặt nước biển, địa hình tương đối bằng phẳng,
độ dốc từ 100 – 250, đất Feralit nâu vàng trên đá thạch sét, trong các trạng tháirừng IIb, IIIa1 và IIIa2
Bùi Văn Hướng và công sự (2017), ở Việt Nam loài Hoàng liên ô rô lá
dày (Mahonia bealei (Fortune) Pynaert) thường phân bố ở những khu rừng
thưa hay các trảng cây bụi trên núi đá vôi nơi đất có lượng mùn ít, nghèo dinhdưỡng, độ cao từ 1.700- 2.500m so với mặt nước biển, nhiệt độ trung bìnhnăm khoảng 15 – 160C, độ ẩm không khí bình quân năm trên 80%, lượng mưabình quân đạt từ 1.800 - 2.800mm/năm; Cây tái sinh chủ yếu từ hạt; mật độcây trưởng thành (từ 0,5m trở lên) đạt 418-512 cá thể/ha tại khu vực nghiêncứu Thời gian ra chồi mới, lá non tập trung vào các tháng từ tháng 7 đếntháng 10 hàng năm, chiều cao tăng trưởng 11,73cm/ năm
Kết quả của các công trình nghiên cứu về đặc điểm sinh vật học, sinh thái họccủa các loài thực vật rừng tạo cơ sở cho việc đề xuất các giải pháp kỹ thuậtgây trồng, nuôi dưỡng nhằm đáp ứng được các mục đích khác nhau trongcông tác bảo tồn đa dạng sinh học, khai thác, phát triển một số loài cây bảnđịa có giá trị theo hướng bền vững
1.2.1.2 Các nghiên cứu về đặc điểm lâm học một số loài cây rừng
Cấu trúc rừng bao gồm: cấu trúc sinh thái (tổ thành, dạng sống, tầngphiến), cấu trúc hình thái (tầng thứ, mật độ, mạng hình phân bố) và cấu trúcthời gian (N/D1.3) Nghiên cứu của Nguyên Văn Trương, (1983) về rừng tựnhiên có thể coi là một trong các công trình nghiên cứu có hệ thống về cấutrúc rừng tự nhiên Việt Nam
Trang 21Cấu trúc sinh thái: rừng tự nhiên nhiệt đới là các kiểu rừng có cấu trúcsinh thái phức tạp nhất về thành phần loài, tầng phiến và dạng sống thể hiện
sự phong phú về đa dạng sinh học Các chỉ tiêu để chỉ sự đa dạng về loài củarừng tự nhiên là hệ số hỗn loài (số loài/số cây) Theo Đỗ Đình Sâm và cộng
sự (2001), trong rừng tự nhiên ở Việt Nam hệ số này biến động từ 1/5 đến1/13 (nếu số cây gỗ có đường kính ngang ngực từ 10 cm trở lên trong 1 habình quân là 500 cây thì số loài biến động từ 38-100 loài/ha) Cấu trúc tổthành loài nghiên cứu về tầm quan trọng sinh thái của mỗi loài trong quần thụ,các chỉ tiêu để định lượng về tổ thành thường được dùng là giá trị IV(Important Value) tính bằng % Giá trị này được tính cho tỷ trọng số cây củamột loài so với tổng quần thụ, hay tỷ trọng tiết diện ngang G, hoặc tổng củahai chỉ tiêu này Các loài có giá trị IV%> 5% được xếp vào các loài ưu thế.Phục vụ mục tiêu quản lý, người ta cũng nghiên cứu các quan hệ tương hỗgiữa các loài (nhóm sinh thái); nhóm các loài mục đích, các loài phù trợ vàcác loài phi mục đích Sự phân chia này là tương đối vì loài phi mục đích hômnay có thể trở thành loài kinh tế trong tương lai và ngược lại Việc khai thácrừng sẽ làm thay đổi cấu trúc tổ thành loài Theo kết quả nghiên cứu ở LâmTrường Ba Rền của Đỗ Đình Sâm và cộng sự (2001) cho thấy, trong khi nhómloài cây mục đích ở rừng giàu và trung bình chiếm 30-50% thì ở rừng nghèosau khai thác nhiều lần chỉ chiếm 13-25% Ở Hương Sơn có những vùngChẹo và Ngát chiếm 32%, các loài khác chiếm 41% nghĩa là 73% ưu thế làcác loài kém giá trị kinh tế Tại Kon Hà Nừng cũng nhận thấy tổ thành cácloài có giá trị kinh tế ở rừng giàu (Giổi, Sữa, Xoay, Re, Ươi, Thông nàng )chiếm 20% trong khi ở rừng nghèo chỉ có 13%
Cấu trúc thời gian N/D1.31.3: Phân bố số cây theo cấp kính là một trongnhững cơ sở quan trọng nhất của kết cấu lâm phần Đường kính là thành phầntham gia chủ yếu trong việc tính toán thể tích cây, từ đó xác định trữ lượngcủa rừng Phân bố đường kính cũng là cơ sở cho các biện pháp xử lý lâm sinh,
Trang 22đặc biệt là khai thác và điều chế Đối với rừng tự nhiên lá rộng thường xanh,các nghiên cứu của nhiều tác giả đều cho thấy dạng phân bố nói chung làgiảm dần và chia làm 3 kiểu: (i) Giảm đều; (ii) Đường cong giảm có một đỉnhlệch trái (ở cấp kính 12-16cm) và (iii) Đường cong giảm có hai đỉnh (ởd=16cm và d=80cm) Các dạng phân bố N/D1.3 đều có thể mô tả bằng toán.Các kết quả nghiên cứu của Lê Sáu (1996) ở Kon Hà Nừng; Đào Công Khanh(1996) ở Hương Sơn, Đỗ Đình Sâm và cộng sự (2006) đều cho thấy rừng tựnhiên ít bị tác động (trạng thái IV) đều có cấu trúc N/D1.3 ở dạng một đỉnhlệch trái và có thể mô phỏng được bằng hàm Weibull.
Quy luật kết cấu trữ lượng: tức là quy luật phân bố thể tích theo cỡkính, đây là cơ sở quan trọng để xác định phương thức và cường độ khai thác.Phương thức khai thác chính đối với rừng tự nhiên khác tuổi là khai thácchọn Với phương thức này kết cấu trữ lượng được chia thành 3 lớp cây: (i)Lớp dự trữ (D1.3 < 25cm), (ii) lớp kế cận (D1.3 = 25-40 cm) và (iii) lớp thànhthục (D1.3 > 40cm) Một mô hình rừng được coi là có kết cấu trữ lượng chuẩncần có tỷ lệ thể tích giữa ba lớp cây trên là: 1:3:5 Các mẫu rừng chuẩn ở Kon
Hà Nừng (Gia Lai) có kết cấu trữ lượng là: 1:3:13; ở Hương Sơn (Hà Tỉnh) là1:2:7; ở Gia Nghĩa (Đắk Nông) là: 0,8:3,2:4,9; ở Quảng Bình với rừng giàu:1,5:3,7:4,8; với rừng trung bình: 1,8:5,6:2,6 và với rừng nghèo là: 2,8:5,9:1,3
Cấu trúc thẳng đứng (tầng thứ): Phân bố số cây theo chiều cao cũngđược các nhà lâm học quan tâm để xác định tầng thứ của rừng Rừng tự nhiênnhiệt đới Việt nam có thể chia làm 3-5 tầng thứ
Hồ Ngọc Sơn (2017), tại khu Bảo tồn loài và sinh cảnh Nam Xuân Lạc
- Bắc Kạn tổ thành tầng cây cao của các lâm phân có Xoan mộc phân bố daođộng từ 14 đến 20 loài, trong đó 4 đến 7 loài ưu thế gồm các loài Xoan mộc,Nghiến, Trai lý, Sp, Trường mật, Vàng anh, Dẻ, Muồng đen Xoan mộc táisinh tương đối tốt, mật độ bình quân 720 cây/ha Tổ thành loài cây tái sinh ởtrong các lâm phân có Xoan mộc phân bố dao động từ 15-17 loài, trong đó có
Trang 2310-13 loài ưu thế , có một số loài như: Kháo, Dâu rừng, Giổi nhung, Trai, Vải rừng, Nghiến, Trường mật, Máu chó,
Phan Thị Thanh Huyền (2017), tại huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La, cấu trúctầng cây cao của rừng tự nhiên có Dẻ tùng sọc trắng hẹp phân bố có 3 tầngtán, tuy nhiên tầng vượt tán còn thưa thớt (1-8 cây/ha), tầng dưới tán có từ 8-
56 cây/ha và tầng ưu thế có 141-173 cây/ha Độ tàn che đạt mức trung bình từ
0,6-0,7 Phân bố N/D1.3 và N/Hvn ở tầng cây cao của rừng tự nhiên có Dẻtùng sọc trắng hẹp phân bố bị phá vỡ, hàm Weibull phù hợp nhất để mô phỏngphân bố số cây theo cấp đường kinh và cấp chiều cao Về cấu trúc tổ thành,trong 14 loài cây ưu thế trên tổng số 48 loài cây gỗ tham gia vào cấu trúc tổthành thì Dẻ tùng sọc trắng hẹp có mối quan hệ tương hỗ với các loài nhưĐỉnh tùng, Dẻ cuống, Kháo lá dài và có mối quan hệ bài xích ngẫu nhiên vớicác loài Xoan nhừ, Mạy châu, Vối thuộc, Đáng chân chim, Trâm vối, Dẻ gai,Ngát, Dẻ ấn độ, Phân mã, Mạ sưa, Sồi lá to
1.2.2 Nghiên cứu về cây Ươi
1.2.2.1 Phân loại và hình thái
Cây Ươi (Scaphium macropodum (Miq.) Beumée ex K Heyne) thuộc chi
Ươi (Scaphium), họ phụ Trôm (Sterculiaceae), có các danh pháp khoa họcđồng nghĩa khác: Sterculia lychnophora, Caryophyllum macropodum,Scaphium lychnophorum, Firmiana lychnophora Tên Việt Nam còn có một sốtên gọi khác như: Ươi bay, lười Ươi, thạch, bạng đại hải, hương đào, lù noi,sam rang, som vang, đười Ươi, đại đông quả, an nam tử(https://vi.wikipedia.org/wiki/Scaphium)
Ươi là loài bản địa mọc nhanh, gỗ lớn cao 20-35m, đường kính 100cm, thân thẳng vỏ nhiều xơ sợi, cành non có cạnh và có lông màu hung,phân bố phân tán trong rừng tự nhiên ở một số tỉnh miền Trung, Tây Nguyên
50-và Đông Nam Bộ Cây Ươi có lá to 50-và dày, mọc so le, tập trung ở đầu cành,
xẻ 5 thuỳ ở cây con, đơn nguyên ở cây trưởng thành, dài 15 40cm, rộng 7
Trang 24-22cm, gốc lá tròn, đỉnh nhọn, hai mặt nhẵn, mặt trên xanh lục, mặt dưới màunâu bạc; cuống lá dài 10-30cm, to và mập Hoa nhỏ mọc thành chuỳ ở đầucành trước khi cây ra lá Quả nang 1 - 5 đại cao 10 - 15cm, phần giáp cuốngphình rộng, thon dần về đỉnh Vỏ quả mỏng, mặt ngoài khi chín màu đỏ, mở
ra như một cánh để phát tán hạt đi xa, mặt trong trắng bạc Hạt hình bầu dục,hoặc thuôn, dài 2,5 - 3,5cm, rộng 1,2 - 2,5cm; vỏ hạt màu đỏ nhạt, nhẵn nheo,dính ở gốc quả Cây ra hoa vào tháng 3 và quả chín vào tháng 6 - 8 Ươi làcây gỗ cao, mọc thẳng, gỗ mềm dễ gãy, vì vậy để thu hạt thường phải chặtcây, hoặc nhặt các hạt rụng dưới gốc Quá trình ra hoa và đậu quả phụ thuộcrất lớn vào nhiệt độ môi trường Nhiệt độ thấp vào giai đoạn cây sắp ra hoalàm giảm mạnh số lượng hoa và quả trên mỗi cây, trong khi chế độ chiếu sáng
ít có tác động tới các quá trình này Cây Ươi sai quả theo chu kỳ, khoảng 3-4năm cây cho năng suất cao một lần Cây tái sinh dễ dàng bằng hạt và chồi.Vào mùa quả chín, hạt Ươi rụng xuống đất, hút nước và nẩy mầm sau khoảng
1 tháng (Lê Mộng Chân và Vũ Văn Dũng, 1992; Đỗ Tất Lợi, 2004)
Theo Lê Mộng Chân và Vũ Văn Dũng (1992), gỗ Ươi có đặc điểm mềm,nhẹ phù hợp làm gỗ dán lạng và đóng đồ dùng thông thường, vỏ hạt nhiềuchất nhày làm đồ uống giải khát, nhân chứa chất béo ăn được Theo Đỗ TấtLợi (2004), hạt Ươi vị ngọt, có tác dụng thanh nhiệt, lợi cổ họng, giải độc,thường dùng chữa ho khan, cổ họng sưng đau, nôn ra máu, chảy máu cam Doquả Ươi có giá trị cao trên thị trường nên hàng năm vào mùa quả chín, do thânthẳng, chiều cao dưới cành lớn 15 - 25m khó lấy quả, người dân vào rừng chặtcây để khai thác quả dẫn tới loài này đang giảm sút về số lượng và chất lượng;trong khi đó từ trước đến nay chưa có nghiên cứu nào nhằm cải thiện giống để
có thể kinh doanh cây Ươi như loài cây ăn quả trong vườn rừng tạo sản lượngquả ổn định, thuận lợi thu hái, không chặt hạ cây, cũng như khả năng cung cấp
gỗ duy trì nguồn gen và góp phần bảo vệ rừng
Trang 25Thân cây Ươi Lá cây Ươi
Hình 1.1: Đặc điểm hình thái của loài Ươi ở Việt Nam
Hồ Hỷ (2005) khẳng định, cây Ươi là cây gỗ đa tác dụng, có giá trị ở ViệtNam, sản phẩm chủ yếu là quả làm dược liệu và đồ uống bổ dưỡng, ngoài ra gỗ
có thể được sử dụng cho làm nhà hoặc đóng bao gói và đồ dùng đơn giản Sảnlượng thu hái tại Việt Nam có thể đạt mức trung bình 235 tấn hạt khô/năm Mộtcây Ươi thành thục, vào năm sai quả cho năng suất quả 60 - 100kg (có thể hơnnữa) và đem lại thu nhập cho người dân khoảng 12 - 18 triệu đồng (hiện tại 1kgquả có giá trung bình khoảng 250.000 - 350.000 vnđ/kg)
Ươi là cây có giá trị kinh tế cao, tuy nhiên nhiều năm trở lại đây, do sựkhai thác quả bằng chặt phá và diễn ra quá mức đã dẫn đến tình trạng cácquần thể Ươi tự nhiên bị suy thoái nghiêm trọng cả về số lượng, diện tích vàchất lượng Hàng trăm quần thể cây Ươi với hàng nghìn cá thể đã và đang bị
Trang 26chặt phá để khai thác (khai thác triệt), điều này làm cho loài cây Ươi đangđứng trước nguy cơ bị đe dọa và đã được ghi tên trong Sách đỏ (Sách Đỏ ViệtNam, 2007; Huy và cs, 2010b, 2012) Do đó, cần có biện pháp cấm chặt câykhi thu hạt và nghiên cứu biện pháp thu hái bền vững.
1.2.2.2 Các nghiên cứu về đặc điểm phân bố, sinh thái
Ở Việt Nam, Ươi mọc rải rác trong rừng ẩm nhiệt đới thường xanh trên
độ cao không quá 1.000m so với mực nước biển, nơi đất dày, màu mỡ và ẩm.Ươi có phân bố tại các tỉnh Thừa Thiên Huế (A Lưới, Phú Lộc), Quảng Nam(Hiên, Giàng, Phước Sơn, Trà My), Quảng Ngãi (Trà Bồng), Bình Định (VĩnhThanh, Tây Sơn), Phú Yên, Bình Thuận, Khánh Hoà, Tây Ninh, Đồng Nai(Tân Phú, Vĩnh An), Kon Tum (Đăk Glây, Đăk Long, Đăk Tô, Kon Plông, SaThày), Gia Lai (An Khê, Chư Pah, Chư Prông), Đăk Lăk (Đăk Mil), ĐăkNông, Lâm Đồng (Bảo Lộc, Đa Hoài), Kiên Giang (Phú Quốc) (Tên cây rừngViệt Nam, 2009)
Đoàn Đình Tam (2015) đã tiến hành điều tra, đánh giá một số chỉ tiêulâm học của Ươi tại các tỉnh Thừa Thiên Huế, Quảng Nam, Gia Lai, KonTum Kết quả cho thấy, Ươi là cây ưu trội trong các lâm phần điều tra và phân
bố theo cụm hoặc đám trong rừng tự nhiên
Lê Quốc Huy và cs (2010a) đã tiến hành nghiên cứu cấu trúc lâm phần,quần xã thực vật và động thái quần thể Ươi tại một số rừng ở Việt Nam dướiảnh hưởng của các mức độ tác động hiện trường (SDI) do khai thác, chặt phákhác nhau Kết quả cho thấy chỉ số đa dạng Shannon (H’) của các hiện trườngnghiên cứu giao động mạnh từ 1.19 đến 5.08 và tốc độ tăng trưởng quần thể
( giao động từ 0,981 đến 1,022 Trong đó, hiện trường Bạch Mã có giá trịH’ cao nhất, nơi có SDI trung bình và ở đó Ươi có sinh trưởng tốt nhất, vớigiá trị λ cao nhất Giá trị H’ thấp nhất tại Nam Cát Tiên, nơi có chỉ số tácđộng hiện trường SDI cao nhất và tốc độ tăng trưởng λ của cây Ươi đạt đượcthấp nhất Trong các hiện trường nghiên cứu này, chỉ số đa dạng sinh học H’
Trang 27tương quan tỷ lệ nghịch với giá trị quan trong tương đối của cây Ươi tronglâm phần và chỉ số H’ cũng tương quan với chỉ số tác động hiện trường SDItheo một đường cong xác định (H’ = -1,381 + 25,095 SDI – 27,441SDI2, r2=0.76, p<0,001), trong đó H’ tăng dần và đạt giá trị cực đại tại giá trị SDI tươngứng là 0,45 (giá trị trung bình) Từ các kết quả trên cho thấy quần thể Ươi tạiCát Tiên đang bị suy thoái khá nghiêm trọng cả về số lượng cá thể và chấtlượng quần thể (chỉ số phát triển λ= 0,971, <1), trong khi đó quần thể Ươi tạiRừng đặc dụng Đăk Uy và Vườn Quốc gia (VQG) Bạch Mã có chỉ số
λ >1 (tương ứng là 1,024 và 1,088) là quần thể đang có sự phát triển.Theo Lê Quốc Huy và cs (2010a), mật độ Ươi tái sinh cao nhất là 111cây/ha (chiếm 22,5% tổng số cây tái sinh) ở Nam Cát Tiên, tiếp theo là Rừngđặc dụng Đăk Uy 68 cây/ha (18,8%) và thấp nhất ở M’Đrăk chỉ có 22 cây/ha(13,2%) Ươi sinh trưởng tốt trong điều kiện thảm thực vật còn khá tốt, cótầng cây gỗ vượt tán, độ dày tầng đất khá (>80cm), ít đá lẫn, địa hình bằngphẳng (độ dốc <150), nhiệt độ bình quân năm 23 - 260C, lượng mưa lớn(>2.000 mm/năm) Ươi cũng ưa đất tốt, tơi xốp, thoát nước tốt, có hàm lượngmùn và đạm cao (3 - 4%), thích nghi với các loại đất chua có độ pH thấp (<4).Trên cơ sở các kết quả nghiên cứu, Lê Quốc Huy và cs (2010a) đã xây dựngđược Tiêu chuẩn lập địa và đánh giá độ thích hợp cây trồng cho trồng rừngƯơi tại các vùng Đông Nam Bộ, Tây Nguyên và Bắc Trung Bộ Qua đó đãxác định cây Ươi thích hợp với các loại đất feralit vàng xám (Fq), Bazan (Fk),vàng đỏ trên phiến thạch sét (Fs) đất có thành phần cơ giới nhẹ và trung bình,thoát nước tốt
Đánh giá đa dạng di truyền các loài cây, các giống cây trồng là một nộidung nghiên cứu quan trọng trong việc bảo tồn và khai thác phát triển nguồngen những loài cây có giá trị, tuy nhiên đây là một vấn đề còn khá mới đối vớicác loài cây lâm nghiệp Các kết quả nghiên cứu về đa dạng di truyền cây Ươi
ở Việt Nam hiện nay còn rất hạn chế Hiện nay, ngoài công trình của Lê Quốc
Trang 28Huy và cs (2010a) đã phân tích tính đa dạng di truyền các quần thể Ươi trong
tự nhiên thì chưa có thêm công trình nào được công bố chính thức, tuy nhiênkết quả nghiên cứu của các tác giả mới ở mức độ ban đầu mà chưa đi sâu vàoviệc đánh giá di truyền thế hệ sau
Theo Lê Quốc Huy và cs (2010a), mức độ đa dạng di truyền của cácxuất xứ thay đổi từ 0,155 (xuất xứ Bạch Mã) đến 0,303 (xuất xứ Quảng Nam),các xuất xứ Cát Tiên và Trảng Bom có mức độ đa dạng trung bình trong cácxuất xứ được sử dụng trong nghiên cứu này Kết quả cho thấy xuất xứ QuảngNam có mức độ đa dạng di truyền cao nhất (P = 55,32%) và cũng có số alenhữu hiệu/locus cao nhất (Ae = 1,3484) Tác giả cho rằng kết quả này là doxuất xứ Quảng Nam có phân bố rộng, số cây mẹ còn nhiều và kích thước quầnthể lớn Ngoài ra, hệ số tương đồng của 5 xuất xứ Ươi (Bạch Mã, Cát Tiên,Đăk Uy, Quảng Nam và Trảng Bom) và mối liên quan giữa các mẫu nghiêncứu trong cùng một quần thể và giữa các quần thể ở cấp độ phân tử cũng đượcthiết lập Kết quả chỉ ra rằng các xuất xứ đều nằm cùng với nhau theo cácnhóm lớn, trong đó các cá thể của xuất xứ Quảng Nam có hệ số tương đồngthấp nhất (0,68) và cao nhất đối với xuất xứ Bạch Mã (0,78), điều này cũngtrùng với kết quả phân tích về mức độ đa dạng di truyền của các xuất xứ
1.2.2.3 Giá trị sử dụng và lợi ích kinh tế cây Ươi
Ươi là một trong những cây đa mục đích, nhưng hầu hết tới nay nó chỉbiết đến nhiều nhất với mục đích làm nước giải khát thanh nhiệt là chính.Theo đông y: Hạt Đười Ươi là vị thuốc quý hỗ trợ gai cột sống chữa ho ngoàicông dụng quý trên hạt đười ươi còn có công dụng thanh nhiệt, giải độc, lợi
cổ họng, thông tiện, cổ họng sưng đau, đi cầu ra máu, nôn ra máu, viêmđường tiết niệu, chảy máu cam, đau mắt đỏ, nhức răng mỗi lần dùng 5 - 6 hạt
Hồ Hỷ (2005) khẳng định, cây Ươi là cây gỗ đa tác dụng, có giá trị ở ViệtNam, sản phẩm chủ yếu là quả làm dược liệu và đồ uống bổ dưỡng, ngoài ra gỗ
Trang 29có thể được sử dụng cho làm nhà hoặc đóng bao gói và đồ dùng đơn giản Sảnlượng thu hái tại Việt Nam có thể đạt mức trung bình 235 tấn hạt khô/năm.Một cây Ươi thành thục, vào năm sai quả cho năng suất quả 60 - 100kg (cóthể hơn nữa) và đem lại thu nhập cho người dân khoảng 12 - 18 triệu đồng(hiện tại 1kg quả có giá trung bình khoảng 250.000-350.000 vnđ/kg).
Trong những năm gần đây, nhu cầu sử dụng quả Ươi cao, trong khi sảnlượng thu hoạch ngày càng giảm do giảm số lượng cá thể Ươi cho quả, do ảnhhưởng của điều kiện thời tiết Nên giá Ươi ngày càng tăng mạnh và việc phânloại quả Ươi cũng khắt khe hơn Cụ thể:
Năm 2010: Giá ươi theo phân loại trên là 70.000 đ/kg đối với Ươi loại
3 và 100.000 đ/kg đối với Ươi loại 1
Năm 2014: Đây là năm thị trường Ươi sôi động nhất, với mức giá daođộng từ 140.000đ/kg đối với Ươi chặt tươi và 170.000đ/kg đối với Ươi chặt khô
Năm 2018: Do ảnh hưởng của quá trình khai thác ồ ạt của năm 2014,cộng với lượng mưa kéo dài từ cuối năm 2017 đến đầu năm 2018 đã làm giảmsản lượng Ươi xuống mức ước tính chỉ còn lại 40% so với năm 2014 Khiếncho giá cả Ươi tăng lên đáng kể Mặt khác việc phân loại Ươi trở nên khắt khehơn Giá Ươi loại 3 ( là loại Ươi non, Ươi lẫn được phơi khô) có giá 100.000đồng/kg Giá Ươi loại 2 có giá 250.000 đồng- 280.000 đồng/kg, là loại Ươichín do người dân khai thác bằng hình thức chặt cành phơi khô, loại này GiáƯơi loại 1 là 300.000 đồng- 350.000/kg tùy theo từng địa phương và tùy địađiểm
Giá cả trên là giá thu mua tại địa phương, khi đến tay người tiêu dùng,tùy từng nơi và giá thành vận chuyển mà giá Ươi tăng lên đến 450.000đồng –550.000 đồng/ kg
Hầu như toàn bộ quả Ươi tại các địa phương thường được người dân tạichỗ thu gom và bán cho thương lái Những thương lái sẽ gom với số lượnglớn hơn và bán lại cho những đại lý thu gom 1 phần quả Ươi sẽ được bán lại
Trang 30cho một số công ty để tạo ra các sản phẩm bán lẻ ở các địa phương khácnhưng chủ yếu là bán cho các thương lái Trung Quốc Có một số lượng rất ítquả được các hộ khai thác giữ lại để dùng.
1.2.2.4 Các nghiên cứu về kỹ thuật trồng, nuôi dưỡng Ươi
Đặng Thái Dương (1995) đã xác định được một số đặc điểm sinh lýsinh thái, một số điều kiện lập địa cho gây trồng Ươi tại tỉnh Thừa Thiên Huế;xác định một số loài cây để trồng hỗn giao với Ươi như Chò nhai, Trám,Tràm, Kiền kiền, Giổi, Đào, Sến, Huỷnh, Keo lá tràm; đã đề xuất xử lý quảsau khi thu hái là không nên tách hạt ra khỏi quả và phơi khô hạt trước khigieo ươm vì hạt mất sức nảy mầm nhanh, thay vào đó là sau khi thu hái nênđem gieo ngay sẽ đạt tỉ lệ nảy mầm rất cao (>90%) Đây là nghiên cứu khởiđầu bao gồm nhiều khía cạnh về cây Ươi ở nước ta, tuy nhiên do hạn chế vềthời gian và quy mô thực hiện, nên nghiên cứu mới chỉ giới hạn tại một địađiểm, chưa tiến hành được các nghiên cứu về cấu trúc, sinh thái quần thể dướitác động ảnh hưởng của các phương thức chặt khai thác khác nhau, chưa đềcập đến vấn đề xuất xứ, giống, các kỹ thuật gây trồng cụ thể, quy mô thínghiệm còn rất hạn chế, thời gian tiến hành thí nghiệm ngắn, chưa có đủ các
dữ liệu cần thiết cho đề xuất hướng dẫn kỹ thuật gây trồng
Bùi Việt Hải (2001) đã tiến hành thí nghiệm nghiên cứu sự khác nhaukhi trồng cây Ươi tại vị trí sườn đồi và đỉnh đồi; đánh giá được sinh trưởngkhi trồng cây Ươi kết hợp với các cây có chu kỳ kinh doanh ngắn (Keo lai vàChè) trên đất nương rẫy tại Da Nha, tỉnh Lâm Đồng Kết quả cho thấy khi câyƯơi trồng xen giữa 2 hàng cây Chè ở sườn đồi có tỉ lệ sống cao (90%), sinhtrưởng khá tốt Tuy nhiên, đối với mô hình trồng kết hợp cây Ươi với Keo lai
có có tỉ lệ sống thấp hơn rất nhiều Nguyên nhân là do cây Ươi con cần đượcche bóng thích hợp, nên khi trồng trên đồi trọc xen với Keo lai, nhưng vì tánKeo lai không đủ che bóng cho Ươi, nên Ươi bị chết nhiều
Lê Quốc Huy và cộng sự (2010) đã nghiên cứu kỹ thuật trồng Ươi, kết
Trang 31quả cho thấy phương thức trồng thuần với các mật độ khác (333, 500 và 625cây/ha) trên đất trống bằng phẳng trong năm đầu có tỷ lệ sống cao và sinhtrưởng tốt, trong đó công thức mật độ trồng 500 cây/ha có tỷ lệ sống và sinhtrưởng tốt nhất so với các mật độ trồng thí nghiệm khác Tuy nhiên sang nămthứ 2, do điều kiện thời tiết thất thường, nên tỷ lệ cây chết cao tới 19-27%.Phương thức trồng xen cây Điều tại Buôn Ma Thuật và trồng làm giàu rừngtại VQG Bạch Mã có tỷ lệ sinh trưởng năm 1 và 2 thấp hơn, nhưng tỷ lệ sốngcao hơn nhiều và cây trồng phát triển ổn định hơn so với phương thức trên.Đối với Ươi, đây là 2 phương thức trồng phù hợp Phương thức trồng làmgiàu rừng bằng Ươi theo băng (chặt 3m - chừa 3m, 40,2% ánh sáng) có tỷ lệsống, sinh trưởng đường kính, chiều cao, số lá và diện tích lá cao nhất so vớicác công thức mở sáng khác Các công thức bón phân (100, 150 và 200gNPK/cây) có tác dụng tăng sinh trưởng rõ rệt so với đối chứng không bón,trong đó liều lượng phân bón 200g NPK (5:10:3)/cây có phản ứng sinh trưởngcao nhất (tỷ lệ sống = 78,9%, ∆Hvn = 21,6cm/năm, ∆Do = 0,2cm/năm) so vớicác công thức khác (100 và 150g NPK/cây); tuy nhiên, không có ý nghĩa khácbiệt giữa các công thức bón về sinh trưởng và tỷ lệ sống.
Đoàn Đình Tam (2015) đã tiến hành nghiên cứu về các biện pháp kỹthuật gây trồng Ươi chiết, ghép tại VQG Bạch Mã và K’Bang - Gia Lai Kếtquả cho thấy, cây sinh trưởng tốt nhất khi được trồng dưới tán rừng, mật độ
160 cây/ha, bón thúc 20kg phân chuồng + 1kg lân/hố Cây được trồng thuần tập trung trong vườn hộ sinh trưởng tốt hơn trồng phân tán
Theo Lê Quốc Huy (2012), chế độ ánh sáng ảnh hưởng tới sinh trưởngchiều cao và đường kính của Ươi thí nghiệm 2 giai đoạn khác nhau Giai đoạn
1 từ tháng thí nghiệm thứ nhất đến tháng thứ 10, chế độ ánh sáng tăng (bắt
đầu từ 25 %) làm giảm sinh trưởng chiều cao, sinh trưởng chiều cao cao nhấttrung bình đạt 22,93cm và có khác biệt ý nghĩa với các công thức ánh sángkhác (12,5%; 50% và 100%), nhưng lại tác dụng làm tăng sinh trưởng đường
Trang 32kính của cây Ươi, trong khi đó từ tháng thí nghiệm thứ 11 đến 20 tháng (giaiđoạn 2), khi tăng chế độ ánh sáng thì tác dụng làm tăng cả sinh trưởng chiềucao và đường kính của cây Ươi Tổng hợp kết quả của toàn bộ quá trình thínghiệm và của tất cả các công thức chế độ ánh sáng, tác giả nhận thấy vớicông thức chế độ ánh sáng 50% sinh trưởng chiều cao, đường kính, cường độquang hợp và tốc độ tăng trưởng tương đối RGR (Relative Growth Rate) củacây Ươi thí nghiệm đạt được trị số cao nhất Từ kết quả thí nghiệm này, tácgiả kết luận: Chế độ ánh sáng 50% có thể được coi là tối ưu cho sinh trưởngcây Ươi giai đoạn dưới 20 tháng tuổi Kết quả tương tự cũng được tìm thấytrong thí nghiệm trồng làm giàu rừng với cây Ươi tại VQG Bạch Mã, ThừaThiên Huế Tại mô hình thí nghiệm hiện trường này, băng chặt với chiều rộng4m (chừa lại các cây mục đích) tạo được chế độ ánh sáng tương đương 50%
và cây Ươi trồng làm giàu rừng trong băng này đạt được tốc độ tăng trưởngtương đối RGR cao nhất
1.3 Nhận xét, đánh giá
Các nghiên cứu về đặc điểm phân bố, sinh thái, lâm học đã được thựchiện rất nhiều cả trong và ngoài nước cho nhiều loài cây, loại rừng và đã đónggóp rất nhiều cơ sở lý luận cho gây trồng thành công nhiều loài cây, cũng nhưquản lý bền vững nhiều loại rừng tự nhiên
Tuy nhiên, những nghiên cứu cho Ươi vẫn còn nhiều hạn chế, đặc biệtcho 2 tỉnh Quảng Nam và Quảng Ngãi Vì vậy, nhằm có cơ sở khoa học chogây trồng và phát triển thành công loài Ươi tại 2 tỉnh này thì việc bổ sung cơ
sở khoa học về một số đặc điểm lâm học của cây Ươi là rất cần thiết
Trang 33Chương 2 MỤC TIÊU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.2 Đối tượng và giới hạn nghiên cứu
2.2.1 Đối tượng nghiên cứu
Là loài cây Ươi có phân bố trong các trạng thái rừng tự nhiên ở hai tỉnh Quảng Nam và Quảng Ngãi
2.2.2 Giới hạn nghiên cứu
- Về nội dung: Luận văn chỉ nghiên cứu các đặc điểm phân bố,
sinh
thái và đặc điểm lâm học của loài cây Ươi
- Về địa điểm: Chỉ nghiên cứu trong 3 trạng thái rừng tự nhiên giàu,
trung bình và nghèo tại hai tỉnh Quảng Nam và Quảng Ngãi
2.3 Nội dung nghiên cứu
2.3.1 Nghiên cứu đặc điểm phân bố, sinh thái của loài cây Ươi
- Đặc điểm phân bố (trạng thái rừng, độ cao so với mực nước biển)
- Đặc điểm khí hậu nơi Ươi phân bố
- Đặc điểm đất nơi Ươi phân bố
2.3.2 Đặc điểm tầng cây cao lâm phần có Ươi phân bố
Trang 35 Tổ thành loài.
Kiểu phân bố cây rừng trong lâm phần.
2.3.3 Đặc điểm tầng tái sinh của lâm phần có Ươi phân bố
Tổ thành loài tầng cây tái sinh.
Phân cấp chiều cao cây tái sinh.
Kiểu phân bố tầng cây tái sinh.
2.3.4 Đề xuất các biện pháp kỹ thuật lâm sinh
Trung Bộ
2.4 Phương pháp nghiên cứu
Trên cơ sở tổng hợp các thông tin từ các nghiên cứu đã có về cây Ươikết hợp điều tra, khảo sát sơ bộ, kết hợp phỏng vấn cán bộ và người dân đểthu thập thông tin
2.4.1 Phương pháp thu thập số liệu hiện trường
Áp dụng phương pháp điều tra trên ô tiêu chuẩn điển hình, tạm thời đểđiều tra một số đặc điểm lâm học của cây Ươi Tại mỗi tỉnh điều tra, khảo sátlựa chọn các lâm phần có Ươi phân bố đại diện cho 3 trạng thái rừng (giàu,trung bình, nghèo) phân loại theo thông tư 34/2009/TT-BNNPTNT Tại mỗitrạng thái rừng, thiết lập 3 ô tiêu chuẩn điển hình (ô sơ cấp), diện tích ô tiêuchuẩn là 2.500m2 (50 x 50m) Trong mỗi ô sơ cấp tiến hành lập 5 ô dạng bản(4 ô góc và 1 ô ở tâm của ô sơ cấp), mỗi ô dạng bản có diện tích 25m2 (5 x5m) Tổng số ô tiêu chuẩn lập tại 1 tỉnh là 3 trạng thái rừng x 3 ôtc/trạng thái
= 9 ôtc Tổng số ô tiêu chuẩn cần lập là 9 ôtc/tỉnh x 2 tỉnh = 18 ôtc
Thu thập số liệu trong các ô như sau:
- Thu thập số liệu trong ô sơ cấp 2500 m 2 : Trong mỗi ô tiêu chuẩn, thu
thập các số liệu về trạng thái rừng, địa hình, độ cao so với mực nước biểnbằng GPS, độ dốc bằng thước đo độ dốc
Trang 36Trong mỗi ô tiêu chuẩn, thu thập số liệu của tất cả các cây gỗ lớn củatầng cây cao (cây có đường kính ngang ngực từ 6cm trở lên), bao gồm các chỉtiêu: loài cây, đường kính ngang ngực (D1.3), chiều cao vút ngọn (Hvn) và độtàn che tầng cây cao bằng các thước đo chuyên dụng.
kích thước rộng x dài x sâu = 0,8m x 1,2m x 1,0m để xác định độ dày tầng đất và
mô tả các đặc điểm đất, đồng thời trong mỗi phẫu diện lấy 2 mẫu đất ở 2 tầng0cm - 20cm và 30cm - 50cm để phân tích các tính chất lý và hóa học của đất tạiViện Nghiên cứu Sinh thái và Môi trường rừng - Viện Khoa học Lâm nghiệp ViệtNam, gồm các chỉ tiêu: dung trọng theo TCVN 6860: 2001, hàm
lượng mùn theo TCVN 8941 : 2011; đạm tổng số theo TCVN 5255: 2009,
P2O5 dễ tiêu theo TCVN 8942 : 2011, K2O dễ tiêu theo TCVN 8662: 2011,
pHKCL theo TCVN 5979: 2007, thành phần cơ giới theo TCVN 8567: 2010
- Thu thập số liệu trong ô dạng bản 25m 2 : Trong mỗi ô dạng bản, thu
thập số liệu của tầng cây tái sinh (các cây có đường kính ngang ngực nhỏ hơn6cm) thông qua các chỉ tiêu: loài cây, đường kính, chiều cao vút ngọn, nguồngốc cây tái sinh, chất lượng cây tái sinh Chất lượng tái sinh được đánh giá 3cấp gồm: tốt, trung bình, xấu làm cơ sở đánh giá, xác định những cây tái sinhtriển vọng
Ngoài ra ở mỗi tỉnh, tại các khu vực có cây Ươi phân bố tiến hành thuthập các yếu tố khí hậu (lượng mưa, nhiệt độ, độ ẩm không khí) bằng cách kếthừa số liệu từ các trạm quan trắc gần nhất để xác định đặc điểm điều kiện khíhậu của loài Ươi
2.4.2 Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp
Số liệu thứ cấp được thu thập từ các báo cáo khoa học, bài báo khoahọc tại các cơ sở dữ liệu trong thư viện, trên Internet và từ đồng nghiệp đãthực hiện nghiên cứu loài cây này
2.4.3 Phương pháp xử lý số liệu
Sử dụng các phương pháp phân tích thống kê toán học trong lâm
Trang 37nghiệp để phân tích và xử lý số liệu với sự hỗ trợ của các phần mềm Excel vàSPSS Các số liệu thu thập được của nội dung nghiên cứu này được xử lý theocác phương pháp cụ thể như sau:
a Phương pháp nghiên cứu tầng cây cao.
+ Xác định thể tích cây đứng:
Thể tích cây đứng được tính theo công thức:
V=G*H*fTrong đó: G là tiết diện ngang cây đứng
H là chiều cao cây đứng
f là độ thon của cây, lấy f= 0,45
+ Cấu trúc tổ thành loài:
Tổ thành loài tầng cây cao được xác định theo phương pháp của Curtis
Mc Intosh (1959) thông qua chỉ số IV được tính theo công thức:
Trong đó: Ni%; Gi% là phần trăm số cây và phần trăm tiết diện ngang củaloài i trong các ô điều tra; Fi% là tỷ lệ phần trăm số ô điều tra có loài i xuất hiệntrên tổng số ô điều tra Những loài có IV > 5% mới thực sự có ý nghĩa về mặtsinh thái trong lâm phần Để xác định ưu hợp thực vật dựa vào Thái Văn Trừng(1978, 2000) cho dưới 10 loài (chiếm 40 - 50%) trong lâm phần
Sau khi xác định được chỉ số IV cho từng loài, xác định loài ưu thếbằng cách tính tổng giá trị IV của những loài có trị số IV > 5% từ cao xuốngthấp cho đến khi tổng giá trị đến 50% nhưng phải đảm bảo số loài này dưới
10 loài
+ Tổ thành loài tầng cây tái sinh được tính theo công thức:
Trong đó Fi% và Ni% là phần trăm số ô và số cây của loài i trong các ô điều tra
Trang 38+ Cấu trúc N/D 1.3 và N/H:
Sử dụng các phân bố Weibull, phân bố khoảng cách, phân bố mũ (hàm
Kiểm định giả thuyết về luật phân bố theo tiêu chuẩn phù hợp
+ Kiểu phân bố cây rừng:
Sử dụng phương pháp dựa vào khoảng cách cây rừng (khoảng cách từcây được chọn ngẫu nhiên đến cây gần nhất) của Clark và Evans để nghiêncứu mạng hình phân bố của cây rừng và được tính theo công thức sau:
b Phương pháp nghiên cứu tầng cây tái sinh
Phẩm chất cây tái sinh phân làm 3 cấp: Cây tốt (A): là cây sinh trưởngtốt, thân thẳng, tán lá phát triển đều, không sâu bệnh; Cây trung bình (B): là
Trang 40Cây triển vọng là cây thuộc loài mục đích, sinh trưởng tốt, chiều caovượt trên lớp cây bụi, thảm tươi xung quanh, và có phẩm chất trên trung bình.
+ Mật độ tái sinh được tính theo công thức:
Trong đó: ni: là số cây trong ÔDB
+ Xác định tổ thành loài cây tái sinh
Tổ thành loài cây tái sinh được đánh giá thông qua trị số IV và theo loàicây
+ Phân bố số cây tái sinh theo chiều cao
Chiều cao được chia theo 3 cấp: Cấp I (H < 0,5m); Cấp II (0,5 - 1,5m);Cấp III (1,5 - 2,0m) Số cây từng cấp chiều cao được tính như sau:
Trong đó: ni là số cây từng cấp trong ÔDB
+ Chất lượng cây tái sinh và nguồn gốc tái sinh
Số cây tái sinh ở từng cấp chất lượng và nguồn gốc được tính theo côngthức
Trong đó: ni là số cây của từng chấp lượng (A hoặc B hoặc C) hay hạt hoặc chồi trong ÔDB
+ Nghiên cứu tái sinh có triển vọng
Là những cây tái sinh sinh trưởng phát triển tốt, cây có giá trị về kinh
tế, sinh thái, chiều cao ≥ 1m
c Phương pháp phân loại, đánh giá các tính chất của đất
- Tiêu chí đánh giá một số nhân tố hóa học đất: