1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn thạc sĩ hoàn thiện quản lý chi ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh cà mau giai đoạn 2015 2020

97 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 97
Dung lượng 1,04 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • BÌA

  • MỤC LỤC

  • DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

  • DANH MỤC BẢNG

  • DANH MỤC BIỂU ĐỒ

  • CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ NGHIÊN CỨU

    • 1.1. Lý do chọn đề tài

    • 1.2. Câu hỏi nghiên cứu - Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

    • 1.3. Mục tiêu nghiên cứu

    • 1.4. Phương pháp nghiên cứu

    • 1.5. Kết cấu đề tài:

  • Chương 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC

    • 2.1. Khái niệm, đặc điểm về chi NSNN và quản lý chi NSNN

      • 2.1.1 Chi NSNN

      • 2.1.2 Quản lý chi NSNN

    • 2.2 Nội dung chi ngân sách nhà nước

      • 2.2.1 Chi thường xuyên

        • 2.2.1.1 Chi quản lý nhà nước (quản lý hành chính)

        • 2.2.1.2 Chi An ninh quốc phòng

        • 2.2.1.3 Chi sự nghiệp

          • 2.2.1.3.1 Chi sự nghiệp kinh tế

          • 2.2.1.3.2 Chi sự nghiệp nghiên cứu khoa học và công nghệ

          • 2.2.1.3.3 Chi sự nghiệp giáo dục, đào tạo

          • 2.2.1.3.4 Chi sự nghiệp y tế

          • 2.2.1.3.5 Chi sự nghiệp văn hóa, nghệ thuật, thể thao

      • 2.2.2 Chi đầu tư phát triển

        • 2.2.2.1 Chi đầu tư xây dựng cơ bản

        • 2.2.2.2 Chi đầu tư và hỗ trợ vốn cho doanh nghiệp nhà nước

        • 2.2.2.3 Chi góp vốn cổ phần, vốn liên doanh vào các doanh nghiệp thuộc các lĩnh vực cần thiết có sự tham gia của nhà nước

        • 2.2.2.4 Chi cho các quỹ hỗ trợ đầu tư quốc gia và các quỹ hỗ trợ phát triển

        • 2.2.2.5 Chi dự trữ nhà nước

      • 2.2.3 Chi trả nợ tiền chính phủ vay

    • 2.3. Nội dung quản lý chi ngân sách nhà nước

      • 2.3.1. Kiểm soát chi NSNN

      • 2.3.2 Lập dự toán chi ngân sách nhà nước

      • 2.3.3 Chấp hành dự toán chi ngân sách nhà nước

      • 2.3.4 Quyết toán chi NSNN

    • Kết luận chương 2:

  • Chương 3: KINH NGHIỆM QUẢN LÝ CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC CỦA MỘT SỐ QUỐC GIA TRÊN THẾ GIỚI VÀ MỘT SỐ TỈNH, THÀNH TRONG NƯỚC

    • 3.1 Kinh nghiệm quản lý chi ngân sách nhà nước của một số quốc gia trên thế giới

      • 3.1.1 Các nước thuộc tổ chức OECD

      • 3.1.2 Các nước đang phát triển

    • 3.2. Kinh nghiệm quản lý chi ngân sách nhà nước của một số tỉnh, thành trong nước

      • 3.2.1 Kinh nghiệm của thành phố Đà Nẵng

      • 3.2.2 Kinh nghiệm của thành phố Hồ Chí Minh

      • 3.2.3 Kinh nghiệm của một số tỉnh Đồng bằng Sông Cửu Long

    • 3.3 Một số bài học kinh nghiệm đối với Cà Mau

    • Kết Luận Chương 3

  • Chương 4: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH CÀ MAU

    • 4.1. Đặc điểm, tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Cà Mau

      • 4.1.1. Đặc điểm hành chính, dân cư

      • 4.1.2. Tình hình kinh tế - xã hội

    • 4.2. Thực trạng quản lý chi ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh Cà Mau từ năm 2010 – 2014

      • 4.2.1. Khung pháp lý

      • 4.2.2. Nguyên tắc quản lý chi NSNN

      • 4.2.3. Thực trạng quản lý chi ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh Cà Mau từ năm 2010 - 2014

        • 4.2.3.1 Thực trạng quản lý chi thường xuyên tại Cà Mau

        • 4.2.3.2 Thực trạng quản lý chi đầu tư phát triển tại Cà Mau

      • 4.2.4. Nội dung quản lý chi NSNN

        • 4.2.4.1. Tổ chức kiểm soát chi NSNN

        • 4.2.4.2. Tổ chức quản lý lập dự toán chi ngân sách

        • 4.2.4.3 Tổ chức quản lý việc chấp hành chi ngân sách

        • 4.2.4.4. Tổ chức công tác quyết toán chi ngân sách

    • 4.3. Đánh giá công tác quản lý chi ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh Cà Mau giai đoạn 2010 – 2014

      • 4.3.1. Thành tựu

        • 4.3.1.1. Kiểm soát chi NSNN

        • 4.3.1.2 Lập dự toán chi NSNN ở địa phương

        • 4.3.1.3 Chấp hành dự toán chi NSNN ở địa phương

        • 4.3.1.4 Quyết toán chi NSNN ở địa phương

      • 4.3.2. Những hạn chế và nguyên nhân

        • 4.3.2.1. Kiểm soát chi NSNN

        • 4.3.2.2. Lập dự toán chi NSNN ở địa phương

        • 4.3.2.3. Chấp hành dự toán chi NSNN ở địa phương

        • 4.3.2.4. Quyết toán dự toán chi NSNN ở địa phương

    • Kết Luận Chương 4

  • Chương 5: GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN QUẢN LÝ CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH CÀ MAU GIAI ĐOẠN 2015 – 2020

    • 5.1 Mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Cà Mau đến năm 2020

      • 5.1.1. Mục tiêu tổng quát

      • 5.1.2. Mục tiêu cụ thể

    • 5.2 Một số giải pháp chủ yếu nhằm hoàn thiện quản lý chi ngân sách nhà nước ở địa phương giai đoạn 2015 - 2020

      • 5.2.1 Cần tiếp cận cơ bản về quản lý ngân sách theo đầu ra

      • 5.2.2. Thiết kế lại hệ thống ngân sách nhà nước không có tính lồng ghép với nhau

      • 5.2.3. Phân định và hạch toán các khoản thu NSNN từ phí, lệ phí, thu xổ số kiến thiết và tiền sử dụng đất

      • 5.2.4. Về các khoản thu phân chia cho các cấp ngân sách

      • 5.2.5. Phân định rõ quyền hạn của HĐND và UBND

    • 5.3. Những giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện quản lý chi ngân sách nhà nước ở Cà Mau giai đoạn 2015 – 2020

      • 5.3.1. Xây dựng hợp lý cơ cấu chi thường xuyên và chi đầu tư phát triển

      • 5.3.2. Hoàn chỉnh quy trình lập dự toán ngân sách

      • 5.3.3. Hoàn thiện tổ chức quản lý quá trình chấp hành chi ngân sách

      • 5.3.4. Hoàn thiện công tác tổ chức quyết toán NSNN ở địa phương

      • 5.3.5. Hoàn thiện công tác thanh tra, kiểm tra trong quản lý chi ngân sách địa phương

    • Kết Luận Chương 5

  • KẾT LUẬN

  • TÀI LIỆU THAM KHẢO

Nội dung

TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI

Lý do chọn đề tài

Cà Mau, một trong bốn tỉnh thuộc vùng kinh tế trọng điểm đồng bằng Sông Cửu Long, sở hữu vị trí địa lý thuận lợi và tài nguyên thiên nhiên phong phú Với đặc thù sinh thái đa dạng và khí hậu lý tưởng, Cà Mau có nhiều lợi thế để phát triển các ngành kinh tế như thủy sản, nông lâm nghiệp, công nghiệp chế biến xuất khẩu, dịch vụ, du lịch và khai thác khí đốt Bờ biển dài 254 km, diện tích ngư trường 80.000 km² và 300.000 ha diện tích nuôi trồng trên đất liền, Cà Mau được xem là một trong những địa phương có tiềm năng thủy sản lớn nhất Việt Nam.

Trong những năm gần đây, kinh tế Cà Mau đã có sự tăng trưởng và phát triển toàn diện Đầu tư vào các công trình phúc lợi xã hội và đảm bảo an sinh xã hội là nhu cầu thiết yếu của tỉnh Tuy nhiên, nguồn vốn chủ yếu cho các mục tiêu này vẫn đến từ ngân sách nhà nước, nhưng việc quản lý chi tiêu ngân sách tại Cà Mau chưa hiệu quả Các cấp uỷ ban nhân dân thường bị động trong việc chấp hành ngân sách địa phương, do ngân sách tỉnh không đủ để chi tiêu và phải phụ thuộc vào trợ cấp từ trung ương Việc trợ cấp này lại phụ thuộc vào nguồn thu và cân đối chung của ngân sách trung ương.

Ngân sách địa phương thường gặp khó khăn vào đầu năm khi thu ít, chi nhiều, và việc thu chi không được cập nhật kịp thời Sự thiếu phối hợp giữa các cơ quan như Tài chính, Thuế, Kho bạc và Ngân hàng dẫn đến tình trạng điều hành ngân sách bị động và căng thẳng Tại Cà Mau, việc khai thác nguồn thu chưa được tích cực thực hiện, chưa phát huy được tiềm năng và thế mạnh địa phương, đồng thời chưa đầu tư vào sản xuất để tạo ra nguồn thu bền vững.

Dựa trên những bất cập đã nêu, bài viết này nhấn mạnh tầm quan trọng của công tác quản lý chi ngân sách nhà nước tại tỉnh Cà Mau trong giai đoạn 2015 – 2020 Mục tiêu nghiên cứu là nhận diện những thế mạnh cần phát huy và đề xuất các kiến nghị nhằm hoàn thiện công tác quản lý chi ngân sách nhà nước tại địa phương.

Câu hỏi nghiên cứu - Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Tác giả muốn làm rõ vấn đề:

Quản lý chi ngân sách nhà nước hiện nay còn nhiều điểm chưa hợp lý, ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng nguồn lực Tại tỉnh Cà Mau, tình hình thực hiện quản lý chi ngân sách thời gian qua cũng đã bộc lộ một số tiêu cực, cần được xem xét và khắc phục để nâng cao tính minh bạch và trách nhiệm trong quản lý tài chính công.

Trong giai đoạn 2015 – 2020, Cà Mau cần triển khai các giải pháp hiệu quả nhằm cải thiện công tác quản lý chi ngân sách nhà nước Việc tăng cường minh bạch trong sử dụng ngân sách, nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ quản lý tài chính, và áp dụng công nghệ thông tin vào quy trình quản lý sẽ góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng ngân sách Đồng thời, cần có cơ chế giám sát chặt chẽ và đánh giá định kỳ để đảm bảo các khoản chi tiêu được thực hiện đúng mục đích và hiệu quả.

Nghiên cứu tập trung vào việc ban hành và thực hiện các quy định pháp luật liên quan đến chi ngân sách nhà nước, đặc biệt là của Trung ương và chính quyền địa phương tỉnh Cà Mau, nhằm quản lý và sử dụng hiệu quả ngân sách nhà nước.

Nghiên cứu này tập trung vào tỉnh Cà Mau, đồng thời liên hệ với tình hình chi ngân sách nhà nước của các tỉnh, thành phố trên toàn quốc.

+ Thời gian: Đề tài sử dụng số liệu chi ngân sách tỉnh Cà Mau giai đoạn 2010 –

Mục tiêu nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu và phân tích chủ yếu về quản lý chi ngân sách nhà nước tại tỉnh Cà Mau trong thời gian gần đây, nhằm đánh giá hiệu quả và tìm ra các giải pháp cải thiện quy trình quản lý tài chính công.

Nâng cao hiệu quả quản lý chi ngân sách nhà nước (NSNN) tại tỉnh Cà Mau trong giai đoạn 2015 – 2020, đặc biệt khi thực hiện luật NSNN mới, là một yếu tố quan trọng trong việc thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ 15 của tỉnh Điều này góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội theo hướng toàn diện và bền vững.

- Đánh giá tác động tích cực và tiêu cực của chi NSNN đối với KT-XH tỉnh Cà Mau

- Đề xuất các giải pháp, kiến nghị để thực hiện quản lý chi NSNN có hiệu quả hơn

Bài viết này sẽ hỗ trợ lãnh đạo tỉnh Cà Mau trong việc cải thiện quản lý chi ngân sách nhà nước, từ đó góp phần tích cực vào sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh.

Phương pháp nghiên cứu

Đề tài áp dụng phương pháp định tính và thống kê, kết hợp với phân tích và tổng hợp, đồng thời tham khảo ý kiến và báo cáo của các chuyên gia trong ngành nhằm giải quyết các vấn đề liên quan.

Kết cấu đề tài

- Chương 1: Tổng quan về nghiên cứu

- Chương 2: Cơ sở lý luận về quản lý chi ngân sách nhà nước

- Chương 3: Kinh nghiệm quản lý chi ngân sách nhà nước của một số quốc gia trên thế giới và một số tỉnh, thành trong nước

- Chương 4: Thực trạng quản lý và sử dụng chi ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh Cà Mau

- Chương 5: Giải pháp nhằm hoàn thiện quản lý chi ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh Cà Mau giai đoạn 2015 – 2020.

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC

Nội dung chi ngân sách nhà nước

Chi ngân sách là một công cụ quan trọng trong chính sách tài chính quốc gia, ảnh hưởng lớn đến sự phát triển kinh tế Nó bao gồm các khoản chi cho đầu tư phát triển, chi tiêu thường xuyên và thanh toán nợ gốc từ các khoản vay của chính phủ.

Các khoản chi cho tiêu dùng xã hội liên quan đến chức năng quản lý xã hội của nhà nước được chia thành hai phần Phần đầu tiên nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển văn hóa xã hội của cư dân, có mối liên hệ trực tiếp đến thu nhập và nâng cao mức sống Phần thứ hai phục vụ cho nhu cầu quản lý kinh tế - xã hội chung của nhà nước.

Các khoản chi tiêu thường xuyên của nhà nước thể hiện sự chú trọng đến yếu tố con người trong phát triển kinh tế, đồng thời đảm bảo các chức năng văn hóa, giáo dục, quản lý và an ninh quốc phòng.

Chi tiêu dùng thường xuyên bao gồm các khoản chi sau đây:

2.2.1.1 Chi quản lý nhà nước (quản lý hành chính)

Chi quản lý nhà nước là khoản chi thiết yếu để đảm bảo hoạt động hiệu quả của hệ thống cơ quan quản lý từ trung ương đến địa phương, bao gồm cả hoạt động của Đảng Cộng sản Việt Nam và các tổ chức chính trị xã hội Nội dung của khoản chi này phản ánh các chức năng và nhiệm vụ quan trọng của nhà nước trong việc duy trì trật tự và phát triển xã hội.

- Chi lương và phụ cấp lương

- Chi về văn phòng phí

- Các khoản chi khác về quản trị nội bộ

Chi phí tiền lương và phụ cấp lương là khoản chi quan trọng nhất, chiếm hơn 50% trong tổng chi quản lý nhà nước, trong khi đó việc đầu tư cho duy tu bảo dưỡng cơ sở vật chất và trang thiết bị chưa được chú trọng, dẫn đến tình trạng xuống cấp nghiêm trọng, ảnh hưởng đến hoạt động của đơn vị Mặc dù vậy, mức lương của cán bộ công chức vẫn chưa tương xứng với mức sống trung bình của xã hội, gây ra tiêu cực và giảm hiệu suất công tác Do đó, cần thiết phải cải cách chế độ tiền lương thông qua việc cải cách bộ máy hành chính Để tinh giản bộ máy nhà nước, giảm chi phí và nâng cao hiệu quả trong quản lý, cần thực hiện đồng bộ các biện pháp.

- Hoàn thiện bộ máy quản lý nhà nước cho phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của nhà nước trong cơ chế thị trường

Nâng cao chất lượng cán bộ quản lý thông qua việc tiêu chuẩn hóa cán bộ, công chức, viên chức nhằm bố trí nhân sự phù hợp với khả năng công tác và yêu cầu quản lý của bộ máy hành chính.

- Ứng dụng khoa học kỹ thuật vào công tác quản lý hành chính

2.2.1.2 Chi An ninh quốc phòng

An ninh và quốc phòng là những lĩnh vực thiết yếu trong tiêu dùng xã hội, đảm bảo sự tồn tại của nhà nước Để duy trì các hoạt động này, cần thiết phải cấp phát tài chính từ ngân sách nhà nước, với khoản chi được phân thành hai bộ phận.

- Khoản chi cho an ninh nhằm bảo vệ chế độ xã hội, an ninh của dân cư trong nước

- Khoản chi cho quốc phòng để phòng thủ và bảo vệ nhà nước chống sự xâm lược, tấn công và đe dọa từ nước ngoài

Xét về nội dung, chi an ninh quốc phòng bao gồm:

- Chi về tiền lương và phụ cấp lương cho toàn quân và lực lượng công an nhân dân

- Chi về đào tạo huấn luyện cho bộ máy quốc phòng, an ninh và chi nghiên cứu khoa học trong lĩnh vực quốc phòng, an ninh

- Chi mua sắm trang thiết bị, vũ khí và các phương tiện quân sự cho toàn quân và lực lượng công an

- Chi đầu tư xây dựng các công trình kỹ thuật phục vụ cho mục đích quốc phòng và an ninh

Chi tiêu cho an ninh quốc phòng cần phải phù hợp với tình hình thực tế của đất nước trong từng giai đoạn Hàng năm, nhà nước phải dành một phần ngân sách đáng kể để duy trì và củng cố lực lượng an ninh quốc phòng Nếu chi phí này quá cao, sẽ ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế, trong khi nếu quá thấp, sẽ đe dọa sự tồn tại của nhà nước và trật tự an toàn xã hội Do đó, việc bố trí ngân sách cho an ninh quốc phòng cần đảm bảo các chi phí cần thiết cho phòng thủ và an ninh, đồng thời phải tiết kiệm và hiệu quả trong chi tiêu để ổn định kinh tế xã hội.

Chi sự nghiệp bao gồm các khoản chi cho dịch vụ và hoạt động xã hội nhằm phát triển kinh tế xã hội và nâng cao dân trí Các khoản chi này bao gồm chi cho kinh tế, nghiên cứu khoa học, giáo dục, y tế, văn hóa nghệ thuật, thể thao và các hoạt động xã hội Chúng là yếu tố quan trọng trong việc đảm bảo tái sản xuất kết hợp với lao động chất lượng cao Sự phát triển sản xuất và khoa học công nghệ yêu cầu người lao động có trình độ văn hóa và chuyên môn nhất định, do đó, sự tham gia của nhà nước trong cấp phát tài chính có ý nghĩa kinh tế và xã hội Về mặt kinh tế, các khoản chi này thúc đẩy tái sản xuất mở rộng và tạo ra thu nhập quốc dân, nâng cao trình độ văn hóa, kỹ thuật và sức khỏe của người lao động, từ đó tăng năng suất lao động Về mặt xã hội, chúng cải thiện mức sống và thu nhập thực tế của người dân, giảm chênh lệch về trình độ dân trí và thu nhập trong xã hội thông qua các hoạt động phúc lợi và dịch vụ công ích.

2.2.1.3.1 Chi sự nghiệp kinh tế

Các đơn vị sự nghiệp kinh tế hoạt động nhằm đáp ứng yêu cầu sản xuất, kinh doanh và quản lý kinh tế xã hội, đồng thời hỗ trợ sự phát triển của các ngành kinh tế Mục tiêu chính của những đơn vị này không phải là lợi nhuận, mà là phục vụ cộng đồng, do đó, chúng được cấp phát ngân sách như các đơn vị dự toán Chi phí cho các sự nghiệp kinh tế liên quan đến nhiều lĩnh vực, bao gồm địa chính, giao thông, nông nghiệp, thủy lợi, ngư nghiệp, lâm nghiệp, thị chính và một số hoạt động sự nghiệp khác.

Về nội dung chi sự nghiệp kinh tế bao gồm các khoản chi cơ bản sau đây:

- Chi về lương và phụ cấp lương cho viên chức đơn vị sự nghiệp

- Chi mua nguyên vật liệu dùng cho nghiên cứu sản xuất thử nghiệm

- Chi mua sắm, sửa chữa phương tiện, dụng cụ dùng trong hoạt động sự nghiệp và một số các khoản chi khác

2.2.1.3.2 Chi sự nghiệp nghiên cứu khoa học và công nghệ

Để đáp ứng nhu cầu cấp thiết trong việc tiếp cận nhanh chóng với nền khoa học và công nghệ tiên tiến toàn cầu, khoa học và công nghệ cần trở thành động lực chính thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội Nội dung của khoản chi này bao gồm những yếu tố quan trọng nhằm nâng cao hiệu quả và ứng dụng của khoa học công nghệ trong thực tiễn.

Mạng lưới các cơ quan nghiên cứu và phát triển công nghệ bao gồm các viện, phân viện và trung tâm nghiên cứu khoa học và công nghệ, đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy đổi mới sáng tạo và phát triển công nghệ tại Việt Nam.

- Chi về lương và phụ cấp lương cho cán bộ khoa học

Hiện nay, có bốn chương trình khoa học và công nghệ cấp nhà nước bao gồm chương trình công nghệ thông tin, chương trình công nghệ sinh học, chương trình vật liệu mới và chương trình tự động hóa Những chương trình này nhằm thúc đẩy nghiên cứu và phát triển trong các lĩnh vực quan trọng, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh và đổi mới sáng tạo trong nền kinh tế.

- Chi đầu tư xây dựng cơ bản cho những công trình nghiên cứu, thực nghiệm về khoa học, công nghệ

- Các khoản chi khác về khoa học, công nghệ

Chi sự nghiệp giáo dục và đào tạo đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao dân trí và trình độ chuyên môn kỹ thuật của người dân, từ đó góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Nội dung của khoản chi này bao gồm các hoạt động nhằm cải thiện chất lượng giáo dục và đào tạo trong xã hội.

- Chi về giáo dục phổ thông: hệ mẫu giáo, hệ tiểu học, hệ trung học, và hệ bổ túc văn hóa

- Chi về đào tạo sau đại học, đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp, đào tạo nghề và các hình thức đào tạo bồi dưỡng khác

Chương trình quốc gia về giáo dục và đào tạo tập trung vào việc phổ cập giáo dục tiểu học, ngăn chặn tình trạng xuống cấp của các trường học và tăng cường giáo dục tại các vùng miền núi.

- Các khoản chi sự nghiệp giáo dục và đào tạo khác

Nội dung quản lý chi ngân sách nhà nước

Tất cả các khoản chi NSNN phải được kiểm tra, kiểm soát trong quá trình chi trả, thanh toán thông qua KBNN

- Nguyên tắc chi trả, thanh toán các khoản chi của NSNN:

Dựa trên dự toán chi ngân sách nhà nước năm và quý đã được phê duyệt, cơ quan tài chính sẽ cấp phát kinh phí theo nguyên tắc trực tiếp cho các đơn vị sử dụng ngân sách Việc thanh toán sẽ được thực hiện trực tiếp từ Kho bạc Nhà nước cho người hưởng lương, nhà cung cấp hàng hóa, dịch vụ và các nhà thầu.

Trong thời gian tới, do chưa đủ điều kiện để thực hiện đầy đủ nguyên tắc chi trả và thanh toán trực tiếp, một số khoản chi ngân sách nhà nước sẽ được thực hiện qua các hình thức khác nhau.

+ Chi trả, thanh toán bằng hình thức lệnh chi tiền

Dựa trên dự toán ngân sách nhà nước được giao và yêu cầu thực hiện nhiệm vụ chi, cơ quan tài chính sẽ xem xét và kiểm tra từng yêu cầu chi Nếu các yêu cầu này đáp ứng đủ điều kiện thanh toán theo quy định tại Điều 51 của Nghị định số 60/2003/NĐ-CP, cơ quan tài chính sẽ ra lệnh chi trả cho tổ chức hoặc cá nhân được hưởng ngân sách.

KBNN thực hiện xuất quỹ ngân sách, chuyển tiền vào tài khoản hoặc cấp tiền mặt cho tổ chức, cá nhân được hưởng ngân sách

+ Thanh toán vốn đầu tư xây dựng cơ bản:

Việc chuyển vốn cho Kho bạc Nhà nước (KBNN) nhằm chi cho đầu tư xây dựng cơ bản, cùng với quy trình tạm ứng, thanh toán và quyết toán vốn đầu tư, phải tuân thủ các quy định của pháp luật hiện hành về đầu tư xây dựng cơ bản.

+ Thanh toán, chi trả bằng ngoại tệ Đối với các nhiệm vụ chi của ngân sách phải chi trả bằng ngoại tệ, Bộ trưởng

Bộ Tài chính có quy định riêng

Chi phí ngân sách nhà nước (NSNN) bằng hiện vật và ngày công lao động được thực hiện dựa trên biên bản bàn giao và giá trị thị trường đã được phê duyệt Cơ quan tài chính sẽ quy đổi giá trị hiện vật ra đồng Việt Nam để lập lệnh thu ngân sách và gửi lệnh chi ngân sách cho Kho bạc Nhà nước (KBNN) nhằm hạch toán thu, chi NSNN Đối với chi phí bằng ngày công lao động, cơ quan tài chính cũng căn cứ vào giá ngày công đã được phê duyệt để thực hiện tương tự.

+ Chi bằng kinh phí uỷ quyền:

Khi cơ quan quản lý nhà nước cấp trên ủy quyền cho cấp dưới thực hiện nhiệm vụ, cần chuyển kinh phí từ ngân sách cấp trên cho cấp dưới để thực hiện nhiệm vụ đó Sau khi nhận kinh phí ủy quyền, UBND cấp dưới có trách nhiệm phân bổ và giao dự toán cho từng đơn vị, đảm bảo đúng mục tiêu chi ủy quyền và tuân thủ các chính sách, chế độ, định mức, tiêu chuẩn chi ngân sách.

Quy trình cấp phát kinh phí uỷ quyền bằng hạn mức thực hiện như sau:

Căn cứ vào dự toán hàng năm về kinh phí uỷ quyền và yêu cầu thực hiện nhiệm vụ chi, cơ quan tài chính cấp trên sẽ lập lệnh chi để chuyển nguồn kinh phí uỷ quyền cho cơ quan tài chính cấp nhận uỷ quyền.

Cơ quan tài chính cấp dưới mở tài khoản tại KBNN để nhận kinh phí uỷ quyền của cơ quan tài chính cấp trên

Dựa trên dự toán năm được giao về kinh phí uỷ quyền, số kinh phí đã chuyển từ cơ quan tài chính cấp trên và tiến độ thực hiện nhiệm vụ chi, KBNN sẽ thực hiện thanh toán cho các đơn vị sử dụng kinh phí uỷ quyền theo quy định tại Điểm 6 phần IV của Thông tư 59/2003/TT-BTC Đối với uỷ quyền về kinh phí thường xuyên, thanh toán sẽ được thực hiện theo quy trình cấp phát vốn đầu tư xây dựng cơ bản nếu là uỷ quyền về vốn đầu tư xây dựng cơ bản Trong trường hợp các khoản uỷ quyền có lượng vốn nhỏ và nội dung chi rõ ràng, cơ quan tài chính nhận uỷ quyền có thể sử dụng uỷ nhiệm chi để chi trực tiếp cho đơn vị sử dụng kinh phí uỷ quyền.

Trong quá trình chi trả kinh phí ủy quyền, cơ quan tài chính và Kho bạc Nhà nước (KBNN) cần đảm bảo cung cấp kinh phí kịp thời và đầy đủ, đồng thời thực hiện kiểm soát chi theo đúng quy định quản lý chi ngân sách nhà nước.

Cơ quan tài chính được uỷ quyền cần báo cáo định kỳ hàng quý về việc nhận và sử dụng kinh phí uỷ quyền, đồng thời thực hiện quyết toán năm theo mẫu quy định Cuối năm, nếu kinh phí uỷ quyền chưa được sử dụng hết, cần chuyển trả lại cho cơ quan uỷ quyền.

+ Chi ứng trước dự toán

Các trường hợp được chi ứng trước dự toán ngân sách năm sau bao gồm các dự án và công trình quốc gia nhóm A đã đủ điều kiện thực hiện theo quy định, nhằm đẩy nhanh tiến độ Ngoài ra, còn có những nhiệm vụ cấp bách cần thực hiện theo quy định của Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ, nhưng chưa được bố trí trong dự toán và nguồn dự phòng không đáp ứng đủ.

Căn cứ vào quyết định của cơ quan có thẩm quyền, các đơn vị sử dụng ngân sách sẽ được cơ quan tài chính và KBNN thực hiện chi ứng trước theo quy trình quy định Đối với chi ứng trước về kinh phí thường xuyên, quy trình sẽ được áp dụng khác với chi ứng trước liên quan đến đầu tư xây dựng cơ bản.

Việc chi ứng trước dự toán được áp dụng cho các lĩnh vực cụ thể như xây dựng cơ bản, giáo dục - đào tạo và quản lý hành chính Tuy nhiên, tổng mức ứng cho từng lĩnh vực của mỗi cơ quan, đơn vị không được vượt quá 20% dự toán đã giao hoặc số kiểm tra dự toán chi ngân sách năm sau đã thông báo Trong trường hợp chi ứng trước sau khi có số kiểm tra dự toán năm sau, tổng mức ứng trước cũng không được vượt quá 20% số kiểm tra theo từng lĩnh vực.

Bộ trưởng Bộ Tài chính chịu trách nhiệm thu hồi vốn ứng trước của ngân sách trung ương; UBND chịu trách nhiệm thu hồi ứng trước của NSĐP

- Mở tài khoản để nhận kinh phí NSNN cấp:

Các đơn vị dự toán ngân sách và tổ chức nhận hỗ trợ từ NSNN phải mở tài khoản tại KBNN theo hướng dẫn của Bộ Tài chính và chịu sự kiểm tra của cơ quan tài chính trong quá trình thanh toán Nghiêm cấm việc rút dự toán ngân sách chuyển vào tài khoản tiền gửi, ngoại trừ các trường hợp pháp luật cho phép Nếu được phép mở tài khoản tại ngân hàng thương mại nhà nước để tập trung một số khoản thu, các đơn vị phải quản lý và sử dụng theo đúng quy định pháp luật.

KBNN Trung ương quy định cụ thể việc mở tài khoản cho các đơn vị

2.3.2 Lập dự toán chi ngân sách nhà nước

- Yêu cầu của dự toán chi NSNN

Lập dự toán chi NSNN phải đảm bảo những yêu cầu chủ yếu sau:

+ Dự toán NSNN phải được xây dựng trên cơ sở kế hoạch phát triển KT-XH và có nội dung tích cực trở lại với KT-XH

+ Dự toán NSNN phải góp phần phục vụ và thúc đẩy sản xuất phát triển

- Căn cứ lập dự toán chi NSNN:

Lập dự toán chi NSNN dựa trên những căn cứ chủ yếu sau:

+ Nhiệm vụ phát triển KT-XH và bảo đảm quốc phòng, an ninh; những nhiệm vụ cụ thể của các Bộ, ngành, địa phương

+ Chế độ, tiêu chuẩn, định mức chi NSNN hiện hành

+ Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ về việc xây dựng kế hoạch phát triển KT-

XH đang tiến hành dự toán ngân sách cho năm tới, theo hướng dẫn của Bộ Tài chính về lập kế hoạch ngân sách Các văn bản hướng dẫn từ các Bộ cũng sẽ được áp dụng để đảm bảo quy trình lập dự toán ngân sách diễn ra hiệu quả và đúng quy định.

+ Số kiểm tra về dự toán ngân sách do cơ quan có thẩm quyền thông báo + Số kiểm tra về dự toán ngân sách các năm trước

- Trình tự xây dựng dự toán chi NSNN:

Lập dự toán chi NSNN được tiến hành theo trình tự sau:

Kinh nghiệm quản lý chi NSNN của một số quốc gia trên thế giới

SỐ TỈNH, THÀNH TRONG NƯỚC

3.1 Kinh nghiệm quản lý chi ngân sách nhà nước của một số quốc gia trên thế giới

3.1.1 Các nước thuộc tổ chức OECD

Hầu hết các nước OECD đã thực hiện đổi mới quản lý ngân sách với những nội dung cơ bản như:

- Chuyển lập ngân sách ngắn hạn sang lập ngân sách trung hạn

- Thiết lập chế độ kiệm soát chi tiêu công nhằm định hướng sự phân bổ các nguồn lực theo những chiến lược ưu tiên

Theo đó, đã tập trung vào đổi mới các vấn đề then chốt sau:

- Cải thiện công việc thực hiện của các đơn vị công quyền

Các nước OECD đã nhận thức rằng kế hoạch hóa từ trên xuống trong hệ thống ngân sách truyền thống dẫn đến việc phân phối và sử dụng nguồn lực tài chính không hiệu quả Do đó, họ đã chuyển sang phương thức lập ngân sách theo đầu ra, nhằm tăng cường quyền tự chủ cho các bộ chuyên ngành trong quản lý ngân sách và yêu cầu người quản lý phải chịu trách nhiệm về các mục tiêu hoạt động trong giới hạn nguồn lực Cơ chế này đã thay đổi đáng kể quản lý chi tiêu công, giảm vai trò của bộ tài chính và trao quyền cho các cơ quan nhà nước Cấu trúc ngân sách được gắn kết với nhiệm vụ và hoạt động của cơ quan thông qua khuôn khổ chi tiêu trung hạn, với các kế hoạch chi tiêu được đánh giá theo mục đích kiểm soát chiến lược và tính phù hợp của chính sách Các nước OECD cũng áp dụng cả kiểm toán tuân thủ và kiểm toán hoạt động, đồng thời cải tiến hệ thống kế toán từ tiền mặt sang kế toán dồn tích và kế toán kép.

- Cải thiện việc lập kế hoạch chi tiêu và nguồn lực

Lập ngân sách theo khoản mục truyền thống thường tách rời quyết định chi tiêu khỏi nguồn lực tổng thể, dẫn đến việc bộ tài chính trở thành người duy nhất chịu trách nhiệm kiểm soát chi tiêu Điều này khiến các đơn vị kỳ vọng vào việc cung cấp thêm nguồn lực để đáp ứng nhu cầu chi tiêu, nhưng lại thiếu giới hạn về nguồn lực tổng thể Hệ quả là, các đơn vị nhà nước thường đặt ra mục tiêu vượt quá khả năng tài chính, gây xói mòn niềm tin vào quy trình lập kế hoạch ngân sách Để khắc phục vấn đề này, các nước OECD đã áp dụng công cụ lập kế hoạch chi tiêu và nguồn lực trung hạn nhằm cải thiện quy trình lập ngân sách hàng năm.

- Tăng cường sự quản lý

Các nước OECD coi hệ thống quản lý chi tiêu công là công cụ quản lý quan trọng Đánh giá quản lý chi tiêu công hiệu quả dựa trên tính minh bạch trong quyết định và thực hiện chính sách, cùng với trách nhiệm của người quản lý về hậu quả của chính sách Tính minh bạch được xem xét từ nhiều khía cạnh khác nhau.

Chính phủ và các tổ chức quản lý tài chính cần xác định rõ ràng vai trò và trách nhiệm của mình, đồng thời các vấn đề này nên được phản ánh trong khuôn khổ quản lý và luật pháp Việc công khai thông tin về hoạt động tài chính của chính phủ là rất quan trọng để tăng cường tính minh bạch và trách nhiệm.

+ Những thủ tục về điều hành và kiểm soát ngân sách rõ ràng;hệ thống báo cáo ngân sách tổng hợp phải kịp thời

+ Các cơ quan kiểm toán độc lập cung cấp báo cáo về kế toán chi tiêu công đáng tin cậy

3.1.2 Các nước đang phát triển Đồng thời với sự đổi mới chính sách quản lý ngân sách của các nước OECD, các nước dang phát triển cũng dần đã tiếp cận những phương thức quản lý ngân sách theo kết quả đầu ra

Kinh nghiệm quản lý chi NSNN của một số tỉnh, thành trong nước

Việc chuẩn bị PIP là một bước quan trọng trong quá trình cải cách chính sách chi tiêu công dựa trên kết quả đầu ra Các quốc gia có kinh nghiệm cho thấy cần kết hợp giữa cách tiếp cận từ trên xuống và từ dưới lên để đảm bảo hiệu quả của PIP.

Malaysia, một quốc gia đang phát triển ở Đông Nam Á, đã áp dụng lập ngân sách theo đầu ra từ giữa thập kỷ 80 nhằm nâng cao hiệu quả cung cấp hàng hóa công Cải cách ngân sách của Malaysia dựa trên mô hình của Singapore, tập trung vào tính chắc chắn tài chính và trách nhiệm tài chính theo định hướng kết quả Quy trình ngân sách của Malaysia bao gồm hai phần: kiểm tra công việc thực hiện gắn liền với ngân sách cơ bản và các công việc thực hiện ảnh hưởng đến chi tiêu do thay đổi chính sách mới.

3.2 Kinh nghiệm quản lý chi ngân sách nhà nước của một số tỉnh, thành trong nước

3.2.1 Kinh nghiệm của thành phố Đà Nẵng

Đà Nẵng đã đạt được nhiều thành công nổi bật trong quản lý chi ngân sách nhà nước, thể hiện qua các khía cạnh như quy hoạch và thực hiện quản lý theo quy hoạch, cải thiện kết cấu hạ tầng, huy động nguồn thu ngân sách để đầu tư phát triển thông qua các chính sách hiệu quả, thu hút nhân tài làm việc tại thành phố, và áp dụng hình thức thi tuyển trong việc tuyển dụng công chức, viên chức vào các cơ quan nhà nước và đơn vị sự nghiệp.

3.2.2 Kinh nghiệm của thành phố Hồ Chí Minh

TP Hồ Chí Minh luôn hoàn thành và vượt kế hoạch nhiệm vụ ngân sách hàng năm do trung ương giao, sẵn sàng chia sẻ kinh nghiệm trong quản lý và điều hành ngân sách Thành phố đang áp dụng ba phương thức huy động vốn cho đầu tư hạ tầng.

Đầu tư cho các công trình hạ tầng chủ yếu được thực hiện từ vốn ngân sách, với cách tiếp cận khác nhau tùy thuộc vào quy mô dự án Đối với các công trình lớn, thành phố thường vay vốn từ các tổ chức quốc tế như Ngân hàng Thế giới (WB) cho kênh Lò gốm Tân Hóa hay ADB và ngân hàng tái thiết Đức cho các tuyến metro số 1 và số 2, và ngân sách sẽ thanh toán sau Trong khi đó, các công trình có quy mô vừa có thể được đầu tư trực tiếp từ ngân sách hoặc cho phép doanh nghiệp đầu tư trước, sau đó ngân sách sẽ hoàn trả.

Thứ hai là, nhà nước và người dân cùng đầu tư (những công trình nhỏ)

Thứ ba là, doanh nghiệp bỏ tiền ra đầu tư, sau đó cho họ kinh doanh thu tiền để thu hồi vốn đầu tư

Vấn đề quy hoạch và quản lý quy hoạch tại thành phố Hồ Chí Minh đang được chú trọng, nhưng theo đánh giá của các chuyên gia, việc thực hiện vẫn chưa đạt hiệu quả Những điểm yếu trong công tác quy hoạch hiện nay bao gồm: thứ nhất, quy hoạch thiếu tính khả thi do tầm nhìn và năng lực hạn chế của các nhà quy hoạch; thứ hai, việc quản lý thực hiện theo quy hoạch chưa được hiệu quả.

3.2.3 Kinh nghiệm của một số tỉnh Đồng bằng Sông Cửu Long Ở đây chỉ đề cập đến một số tỉnh ở Đồng bằng Sông Cửu Long có điều kiện KT – XH tương tự như Cà Mau: Đồng Tháp, Hậu Giang, An Giang,… Nhìn chung công tác quản lý NSNN của các tỉnh gần giống nhau là đều dựa vào Luật NSNN như thực hiện quá trình NSNN: lập, chấp hành và quyết toán ngân sách đều đảm bảo tính tích cực trong quản lý NSNN ở địa phương Bên cạnh đó, do đặc thù riêng của điều kiện KT – XH của mỗi địa phương cũng có khác nhau nên cũng có phần khác nhau trong việc khai thác nguồn thu để đảm bảo nhu cầu chi của địa phương Quản lý chi ngân sách ở các tỉnh này khá chặt chẽ, khoa học, tiết kiệm, hiệu quả; các khoản chi đều có sự kiểm soát nghiêm ngặt của cơ quan Tài chính và Kho bạc Nhà nước địa phương Thực hiện khoán thu - chi đối với một số ngành và đơn vị thụ hưởng NSNN, đồng thời tăng cường tính tự chủ trong việc quản lý chi ngân sách của đơn vị thụ hưởng NSNN nhằm đảm bảo tiết kiệm, hiệu quả trong sử dụng kinh phí NSNN Bên cạnh đó, việc kiểm tra, thanh tra tài chính đối với các đơn vị thụ hưởng NSNN được tăng cường giám sát bởi nhân dân trong quá trình quản lý thu - chi NSNN,… đã mang lại những thành công và hiệu quả trong quản lý chi NSNN ở các tỉnh này.

Một số bài học kinh nghiệm đối với Cà Mau

- Quy hoạch phải đi trước một bước, phải đảm bảo chất lượng và có tính khả thi cao

- Phối hợp giữa đầu tư của nhà nước và đầu tư tư nhân trong việc cung cấp kết cấu hạ tầng

- Minh bạch hóa tài sản, thu nhập

- Áp dụng thi tuyển công chức, viên chức và thu hút có chọn lọc vào các vị trí quản lý nhà nước

- Tư duy và tầm nhìn của lãnh đạo có vị trí đặc biệt quan trọng trong sự thành công hay thất bại của quản lý chi NSNN

- Các khoản chi phải chịu sự kiểm soát chặt chẽ của cơ quan tài chính và Kho bạc Nhà nước địa phương

Thực hiện khoán chi cho một số ngành và đơn vị thụ hưởng ngân sách nhà nước (NSNN) nhằm tăng cường tính tự chủ trong quản lý chi tiêu, từ đó đảm bảo tiết kiệm và hiệu quả trong việc sử dụng kinh phí NSNN.

Quá trình kiểm tra và thanh tra tài chính đối với các đơn vị thụ hưởng ngân sách nhà nước (NSNN) đang được tăng cường giám sát bởi người dân, nhằm nâng cao hiệu quả quản lý chi tiêu NSNN.

Nội dung nghiên cứu từ các quốc gia trên thế giới và những kinh nghiệm thu được sẽ được sử dụng để phân tích thực trạng và đánh giá hiệu quả quản lý chi ngân sách nhà nước (NSNN) tại tỉnh Cà Mau trong chương 4 Đồng thời, chương 5 sẽ đề xuất các giải pháp cơ bản nhằm nâng cao hiệu quả quản lý chi NSNN của tỉnh Cà Mau.

Chương 4: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC

Đặc điểm, tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Cà Mau

4.1.1 Đặc điểm hành chính, dân cư

Tính đến ngày 31 tháng 12 năm 2011, tỉnh Cà Mau bao gồm 9 đơn vị hành chính cấp huyện, gồm 1 thành phố và 8 huyện Trong số đó, tỉnh có 9 thị trấn, 10 phường và 82 xã.

Nguồn: Website tỉnh Cà Mau

Năm 2011, dân số toàn tỉnh Cà Mau đạt gần 1.214.900 người, mật độ dân số đạt

Tính đến ngày 1 tháng, dân số Việt Nam đạt 229 người/km², với 261.800 người sống tại thành phố và 953.100 người ở nông thôn Dân số nam là 610.500 người, trong khi dân số nữ là 604.400 người Tỷ lệ tăng tự nhiên dân số theo địa phương ghi nhận tăng 9,2%, theo thống kê của Tổng cục Thống kê Việt Nam.

Tính đến năm 2009, tỉnh Cà Mau có sự hiện diện của 19 dân tộc và người nước ngoài, trong đó dân tộc Kinh chiếm số đông với 1.167.765 người Ngoài ra, có 29.845 người Khmer, 8.911 người Hoa, cùng với các dân tộc khác như Tày, Thái, Chăm, Mường, tạo nên sự đa dạng văn hóa của khu vực.

Tính đến ngày 1 tháng 4 năm 2009, tỉnh Cà Mau có 12 tôn giáo khác nhau, với số lượng tín đồ đáng chú ý Trong đó, Công giáo chiếm ưu thế với 22.893 người, tiếp theo là Phật giáo với 20.817 người, và đạo Cao Đài có 42.730 người Các tôn giáo khác như Tin lành có 1.634 người, Tịnh độ cư sĩ Phật hội Việt Nam có 1.114 người, Phật Giáo Hòa Hảo có 591 người, Hồi giáo có 109 người, Đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa có 32 người, và Minh Sư Đạo cũng có số lượng tín đồ nhất định.

16 người, Bửu sơn kỳ hương có 3 người, còn lại là đạo Bahá'í có 2 người

4.1.2 Tình hình kinh tế - xã hội

Cà Mau là tỉnh ven biển nằm ở cực nam Việt Nam, thuộc khu vực Đồng bằng sông Cửu Long Đây là một vùng đất trẻ, vừa được khai phá trong thời gian gần đây.

Cà Mau đã trải qua 300 năm phát triển, tuy có nhiều tiềm năng và thế mạnh, nhưng khi mới được chia tách, nền kinh tế - xã hội của tỉnh còn ở mức rất thấp Kinh tế chủ yếu dựa vào nông nghiệp với cơ cấu nông nghiệp truyền thống.

Trong giai đoạn từ 1997 đến 2011, cơ cấu kinh tế của khu vực đã có sự chuyển biến mạnh mẽ, với nông nghiệp giảm từ 63,40% xuống còn 38,18%, trong khi công nghiệp tăng từ 16,96% lên 37,22% và dịch vụ từ 19,64% lên 24,61% Mặc dù thu nhập bình quân đầu người đã tăng gấp 3,78 lần, đạt 1.220 USD vào năm 2011, nhưng đời sống người dân vẫn gặp nhiều khó khăn, với tỷ lệ hộ nghèo chiếm 27,9% Hệ thống hạ tầng kinh tế còn yếu kém, chỉ có 15% lao động được đào tạo nghề, và tỷ lệ hộ sử dụng điện chỉ đạt 16% Trung bình mỗi 100 dân chỉ có 4,5 máy điện thoại, cho thấy sự cần thiết phải cải thiện điều kiện sống và phát triển kinh tế bền vững hơn trong tương lai.

Năm 2011, tỉnh ghi nhận diện tích gieo trồng lúa đạt 128 ngàn hécta, chiếm 82,7% tổng diện tích cây trồng, với sản lượng ước đạt 532.000 tấn Hoạt động chăn nuôi gia súc và gia cầm phát triển chậm, chủ yếu là quy mô nhỏ lẻ, chưa đáp ứng đủ nhu cầu tiêu dùng của người dân Tổng đàn heo ước đạt 221,2 ngàn con, trong khi đàn gia cầm giảm xuống còn 1.521,2 ngàn con Nguyên nhân giảm đàn gia cầm một phần do chuyển dịch đất trồng lúa sang nuôi tôm, cộng thêm tình trạng thiếu thức ăn và nguồn nước nhiễm mặn đã cản trở sự phát triển của chăn nuôi.

Năm 2011, tỉnh có diện tích rừng tập trung đạt 102.973 ha và diện tích mặt nước nuôi trồng thủy sản khoảng 296.300 ha Sản lượng thủy sản nuôi trồng ước đạt 248,4 ngàn tấn, tăng gần 4,4 lần so với năm 1997, với mức tăng bình quân 12,8% mỗi năm Giá trị sản xuất bình quân trên 1 ha mặt nước nuôi trồng thủy sản năm 2011 đạt 47,2 triệu đồng/ha, tăng 4,8 lần so với trước đó.

Từ năm 1997, diện tích nuôi tôm tại tỉnh chiếm 90% tổng diện tích nuôi trồng thủy sản, với mức tăng trưởng bình quân 13,4% mỗi năm Mặc dù sản lượng thủy sản đánh bắt tăng chậm hơn so với nuôi trồng, nhưng cơ cấu sản xuất đã chuyển dịch theo hướng tăng sản lượng khai thác xa bờ, đồng thời giảm khai thác gần bờ, điều này có nguy cơ làm cạn kiệt nguồn lợi thủy sản và ô nhiễm môi trường nước ven biển Vào năm 2011, sản lượng thủy hải sản khai thác đạt 155 ngàn tấn, với mức tăng trung bình hàng năm là 4,3% Tổng giá trị sản xuất công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp trên địa bàn tỉnh năm 2011 đạt 17.500 tỷ đồng, gấp 10,5 lần so với năm trước.

1997 và gấp 6,1 lần năm 2000, tăng bình quân hằng năm trên 18%

Trong 6 tháng đầu năm 2013, tỉnh Cà Mau đã đạt được nhiều kết quả tích cực, với tổng sản phẩm (GDP) tăng 7,7% so với cùng kỳ năm trước Tổng vốn đầu tư toàn xã hội tăng 18%, giá trị sản xuất công nghiệp tăng 5%, và tổng mức bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tăng 13,7% Tỷ lệ giải quyết việc làm tăng 19,9%, cùng với sự gia tăng số lượng doanh nghiệp thành lập mới và vốn đầu tư thu hút Hoạt động thương mại và dịch vụ tiếp tục phát triển, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) được kiềm chế với mức tăng 1,88% so với tháng 12/2012, tạo ra một thị trường ổn định Lãi suất cũng được điều chỉnh giảm, giúp tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh.

Năm 2014, kinh tế tỉnh ghi nhận sự tăng trưởng ổn định với GDP tăng 8,5%, đạt chỉ tiêu đề ra Khu vực nông, lâm, ngư nghiệp tăng 6,9%, công nghiệp và xây dựng tăng 8,7%, trong khi dịch vụ đạt mức tăng 10,4% Cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch tích cực với tỷ trọng khu vực nông, lâm, ngư nghiệp chiếm 36,5%, công nghiệp và xây dựng 36,5%, và dịch vụ 27%.

Thực trạng quản lý chi ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh Cà Mau từ năm 2010 – 2014

Việc quản lý chi NSNN tại tỉnh Cà Mau thời gian qua được thực hiện dựa vào các văn bản pháp lý sau:

- Luật Ngân sách Nhà nước số 01/2002/QH11 ngày 16/12/2002 của Quốc Hội Nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam

- Nghị định số 60/2003/NĐ-CP ngày 06/06/2003 của Chính phủ - Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành luật Ngân sách Nhà nước

Nghị định số 73/2003/NĐ-CP, ban hành ngày 23/06/2003, quy định về việc xem xét quyết định dự toán và phân bổ ngân sách địa phương, đồng thời phê chuẩn quyết toán ngân sách địa phương.

- Thông tư số 59/2003/TT-BTC ngày23/6/2003 - Hướng dẫn thực hiện Nghị định số 60 của Chính phủ

- Thông tư số 60/2003/TT-BTC - Quy định về quản lý Ngân sách xã và các hoạt động khác của xã phường thị trấn

- Thông tư số 79/2003/TT-BTC ngày 13/8/2003 – Hướng dẫn quản lý, cấp phát, thanh toán các khoản chi NSNN qua Kho Bạc Nhà nước

- Thông tư 114/2003/TT-BTC ngày 28/11/2003 – Hướng dẫn công tác lập dự toán, quản lý, cấp phát, thanh toán quyết toán nguồn vốn NSNN

Thông tư 05/2005/TT-BTC ban hành ngày 6 tháng 1 năm 2005 hướng dẫn việc thực hiện quy chế công khai tài chính cho các cấp ngân sách nhà nước (NSNN) và quy định về chế độ báo cáo tình hình thực hiện công khai tài chính.

4.2.2 Nguyên tắc quản lý chi NSNN

Trong mọi thời đại, chi ngân sách nhà nước (NSNN) cần tuân thủ các quy tắc nhất định, đặc biệt là trong bối cảnh nền kinh tế thị trường với tính đa dạng và phong phú Những yêu cầu này trở nên bắt buộc để đảm bảo hiệu quả trong quản lý tài chính.

Tính thống nhất trong kế hoạch tài chính và ngân sách được thể hiện qua sự phê chuẩn của các cơ quan dân cử như Quốc hội và HĐND địa phương Cơ chế này đảm bảo rằng các chính sách công và mục tiêu của Nhà nước phản ánh lợi ích chung của cộng đồng, đồng thời cho thấy kế hoạch tài chính và ngân sách có tính tập trung cao.

Tính kỷ luật tài chính tổng thể yêu cầu mọi khoản thu - chi của Nhà nước phải được phản ánh đầy đủ vào ngân sách nhà nước (NSNN) và có ràng buộc cứng về ngân sách Việc hấp thụ nguồn lực của khu vực công cần giới hạn ở mức cần thiết để thực hiện các chính sách của chính phủ Chi NSNN phải được tính toán trong khả năng huy động nguồn lực từ nền kinh tế và các nguồn khác, không chỉ trong một năm mà còn trong trung hạn (3-5 năm), kết hợp với dự báo rủi ro Các nhà quản lý cần dự tính rủi ro về thu và biến động chi để có chính sách ứng phó phù hợp Hàng năm, việc đánh giá và xây dựng ngân sách cần rà soát kế hoạch trung hạn, điều chỉnh theo thực tiễn và cập nhật biến động nguồn lực, đảm bảo có kế hoạch trung hạn để xác định ngân quỹ trong 3-5 năm, đáp ứng yêu cầu chi NSNN và thể hiện tính bền vững.

Tất cả các khoản chi ngân sách nhà nước phải được kiểm tra và kiểm soát theo chế độ, tiêu chuẩn, định mức của Nhà nước Việc chi trả và thanh toán phải tuân thủ dự toán ngân sách được giao, đảm bảo đúng quy định của cấp có thẩm quyền Ngoài ra, các khoản chi phải được phê duyệt bởi thủ trưởng đơn vị sử dụng ngân sách hoặc người được ủy quyền quyết định.

Tính minh bạch và công khai trong quy trình lập, tổ chức thực hiện, quyết toán, báo cáo và kiểm toán ngân sách nhà nước là rất quan trọng, vì nguồn kinh phí chủ yếu từ thuế và phí của dân Kế hoạch tài chính ngân sách cần được xây dựng trên cơ sở thông tin đầy đủ để đảm bảo hiệu quả trong thảo luận và phê chuẩn Khi được phê duyệt, kế hoạch này truyền tải mục tiêu và quan điểm của chính phủ, đồng thời là cơ sở để cơ quan hành pháp giám sát thực hiện Các quyết định ban hành cần có căn cứ rõ ràng về chi phí và lợi ích, giúp nâng cao trách nhiệm của các bên liên quan và đảm bảo ngân sách được sử dụng hiệu quả, từ đó phát hiện và điều chỉnh thông tin ngân sách sát thực tiễn.

Thứ năm, việc đảm bảo cân đối và ổn định tài chính, ngân sách là rất quan trọng Kế hoạch tài chính và ngân sách cần phải tuân thủ nguyên tắc này để thực hiện hiệu quả chức năng của nhà nước, duy trì trật tự xã hội và khắc phục những vấn đề trong nền kinh tế thị trường.

Chi ngân sách nhà nước (NSNN) cần gắn liền với chính sách kinh tế và mục tiêu phát triển kinh tế trung và dài hạn Nguồn thu ngân sách chủ yếu từ hoạt động kinh tế, vì vậy cần phải liên kết chặt chẽ với chính sách kinh tế vĩ mô Trong nền kinh tế thị trường, trách nhiệm của Nhà nước là giải quyết các vấn đề xã hội như giáo dục, y tế, xóa đói giảm nghèo, và bảo vệ môi trường NSNN là công cụ quan trọng để Nhà nước thực hiện trách nhiệm xã hội này Việc kết hợp chi ngân sách với chính sách kinh tế hàng năm và mục tiêu phát triển dài hạn sẽ tạo sự nhất quán, đảm bảo tính khả thi cao và dự báo ngân sách chính xác hơn.

Chi ngân sách nhà nước (NSNN) cần đảm bảo sự cân đối hài hòa giữa các ngành, trung ương và địa phương, đồng thời kết hợp giải quyết các ưu tiên chiến lược trong từng giai đoạn Việc xây dựng ngân sách phải thúc đẩy phát triển cân đối và toàn diện, tạo ra sự tương tác hỗ trợ giữa các ngành và địa phương Cần giao quyền tự chủ cho địa phương để khai thác tiềm năng, gắn trách nhiệm với quyền lợi địa phương Tập trung vào những ưu tiên chiến lược là cần thiết, bởi nhu cầu hàng hóa và dịch vụ công trong nền kinh tế thị trường rất đa dạng Với nguồn lực tài chính hạn chế, việc xác định thứ tự ưu tiên là quan trọng để giải quyết các vấn đề thiết yếu của đất nước, tạo động lực phát triển Nguyên tắc này giúp NSNN trở thành công cụ hiệu quả trong việc điều hành ngân sách, đảm bảo cân đối vững chắc và chủ động trước biến động nguồn thu Việc điều hành chi ngân sách cần tập trung vào các ưu tiên bắt buộc, trong khi các ưu tiên khác được giải quyết tùy theo khả năng cân đối tại từng thời điểm.

4.2.3 Thực trạng quản lý chi ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh Cà Mau từ năm 2010 - 2014

Thu - chi ngân sách không chỉ là chỉ tiêu duy nhất thể hiện sức mạnh của nền kinh tế, mà còn phản ánh bức tranh tổng thể về tình hình tài chính và khả năng phát triển của đất nước.

Chính sách tài chính và XH đã có tác động mạnh mẽ đến nền kinh tế tỉnh Cà Mau, với tổng thu ngân sách hàng năm tăng dần từ 6.198.619 triệu đồng năm 2010 lên 9.308.669 triệu đồng năm 2014, tương đương mức tăng 50% Tuy nhiên, thu ngân sách năm 2014 lại giảm so với năm 2013, đạt 10.747.036 triệu đồng, do thực hiện chính sách thuế mới và giảm giá khí trong khu vực khí - điện - đạm Cà Mau, cùng với việc không ghi thu viện phí 230.000 triệu đồng nhằm hỗ trợ nền kinh tế tỉnh Sự tăng trưởng ngân sách giai đoạn 2010 – 2014 được thể hiện rõ trong số liệu thống kê.

Bảng 4.2: Quyết toán thu ngân sách trên địa bàn tỉnh Cà Mau ĐVT: triệu đồng

Chỉ tiêu Năm 2010 Năm 2011 Năm 2012 Năm 2013 Năm 2014 2014/20

Tổng thu NSNN trên địa bàn

1/- Thu từ doanh nghiệp NNTW 929,640 1,310,043 1,969,683 1,862,075.1 1,250,424.70 35% 2/- Thu từ doanh nghiệp NNĐP 92,325 71,096 121,880 98,465.8 115,778.05 25% 3/- Thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài 16,869 14,212 8,203 5,122.5

14,235.71 -16% 4/- Thu từ khu vực CTN - ngoài quốc doanh 704,393 990,073 1,033,012 1,159,256.2

609,034.98 -14% 5/- Thuế sử dụng đất nông nghiệp 9,448 9,626 10,893 13,359.4 15,537.91 64% 6/- Thuế thu nhập cá nhân 80,601 129,489 147,286 143,773.7 161,566.76 100%

9/- Thu phí, lệ phí 36,263 41,264 37,108 40,806.1 55,545.16 53% 10/- Các khoản thu về nhà, đất 121,744 71,304 83,061 166,198.3 145,435.79 19% 11/- Thu sự nghiệp (không kể thu tại xã) - - - - - - 12/- Thu tại xã 11,593 18,065 20,827 23,968.8 23,041.30 99% 13/- Thu khác Ngân sách 83,520 142,308 111,170 110,992.7 127,953.63 53%

II/- THU VỀ DẦU KHÍ - - - - - - III/-THUẾ XNK,TTĐB,GTGT

1/- Thuế xuất khẩu - - - - - - 2/- Thuế nhập khẩu 693 2,988 11,210 7,155.5 13,227.66 1809% 3/- Thuế tiêu thụ đặc biệt hàng nhập khẩu 50 - - -

4/- Thuế giá trị gia tăng hàng nhập khẩu 153,213 568,838 59,763 59,691 43,698.03 -71%

IV/- THU VIỆN TRỢ - - - 621.4 - - V/- THU TỪ QUỸ DỰ TRỮ

TÀI CHÍNH - - - 47,000 - - VI/- THU KẾT DƯ NGÂN

192,737.88 -33% VII/- THU CHUYỂN NGUỒN 549,274 692,594 807,010 765,595.1 782,144.40 42% VIII/- THU HUY ĐỘNG ĐẦU

B/- CÁC KHOẢN THU ĐƯỢC ĐỂ LẠI ĐƠN VỊ CHI QUẢN LÝ

2/- Viện phí 166,233 288,293 106,827 - - -100% 3/- Các khoản huy động, đóng góp xây dựng CSHT 36,563 31,598 93,167 96,854.4

4/- Thu từ xổ số kiến thiết 230,661 300,560 360,081 470,000.0 521,372.29 126%

C/- THU BỔ SUNG TỪ NGÂN

1/- Bổ sung cân đối 1,135,706 1,577,646 1,711,449 2,245,653.6 2,556,100.77 125% 2/- Bổ sung có mục tiêu 1,321,218 1,345,829 2,335,899 2,229,298.3 2,301,216.85 74%

D/- THU TỪ NGÂN SÁCH CẤP

Nguồn số liệu: Sở Tài chính Cà Mau

Biểu đồ 2.1: Tổng thu NSNN trên địa bàn tỉnh Cà Mau giai đoạn 2010 - 2014

Bảng 4.3: Tốc độ tăng trưởng và tỷ lệ động viên GDP vào NSĐP (%)

Nguồn số liệu: Sở Tài chính Cà Mau

Tốc độ tăng trưởng kinh tế của tỉnh Cà Mau đã giảm trong các năm 2011, 2012 và 2013 so với năm 2010, chủ yếu do tác động của cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu và tình hình lạm phát gia tăng Đến năm 2014, tốc độ tăng trưởng kinh tế đã phục hồi, đạt 8,5%, hoàn thành nghị quyết đã đề ra trước đó của tỉnh.

2014 cũng còn thấp chỉ đạt 9,55% chưa tương đồng với tốc độ phát triển kinh tế của tỉnh Cà Mau

Tổng chi ngân sách địa phương tỉnh Cà Mau giai đoạn 2010 - 2014 tăng qua từng năm, tuy nhiên với tốc độ chậm Cụ thể, năm 2012 tăng 33,76% so với năm 2011, năm 2013 tăng 12,35% so với năm 2012, và năm 2014 tăng 4,77% so với năm 2013 Điều này cho thấy tỉnh gặp khó khăn trong việc thu ngân sách, dẫn đến việc chi tiêu cần phải tiết kiệm Tỉnh đã thực hiện các chính sách thắt chặt chi tiêu và cắt giảm những khoản chi không cần thiết trong chi thường xuyên và chi đầu tư phát triển.

1 - Theo Nghị quyết của tỉnh 12 12.5 11 9 8.5 Tốc độ tăng trưởng kinh tế 12.42 8.55 7.93 7.96 8.5

2- Thực hiện tỷ lệ động viên

Bảng 4.4: Tổng chi NSNN tỉnh Cà Mau giai đoạn 2010 – 2014 ĐVT: triệu đồng

I- Chi đầu tư phát triển

1,424,148 921,997.33 II- Trả nợ vay đầu tư XD

4,285,473.5 4,534,167.25 IV- Chi bổ sung quỹ dự trữ tài chính

VII- Dự phòng ngân sách

- VIII- Chi nộp ngân sách cấp trên

8,428.8 3,115.29 IX- Chi các CTMT cân đối

548,145 560,122.73 B- Các khoản chi bằng nguồn thu để lại đơn vị chi quản lý qua NSNN

C- Chi bổ sung cho ngân sách cấp dưới

Nguồn số liệu: Sở Tài chính Cà Mau

Biểu đồ 2.2: Tổng chi NSNN tỉnh Cà Mau giai đoạn 2010 - 2014

Lãnh đạo tỉnh Cà Mau đang nỗ lực áp dụng các biện pháp quản lý nhằm nâng cao hiệu quả chi ngân sách, trong bối cảnh tình hình thu - chi ngân sách hiện tại Bài viết này sẽ phân tích và đánh giá thực trạng chi ngân sách thông qua phương thức quản lý của tỉnh.

4.2.3.1 Thực trạng quản lý chi thường xuyên tại Cà Mau

Đánh giá công tác quản lý chi ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh Cà Mau giai đoạn 20210 – 2014

Quá trình lập, chấp hành và quyết toán ngân sách nhà nước (NSNN) tại Việt Nam được quy định chi tiết trong nhiều văn bản pháp luật, bao gồm Luật ngân sách nhà nước số 01/2002/QH11 và các nghị định hướng dẫn thi hành Những quy định này bao gồm quyền tự chủ và trách nhiệm của các đơn vị sự nghiệp công lập, cũng như chế độ tự chủ trong việc sử dụng biên chế và kinh phí của các cơ quan nhà nước Hệ thống pháp luật hiện hành cho thấy sự phát triển trong công tác quản lý chi NSNN, đặc biệt tại tỉnh Cà Mau, nơi có thể rút ra nhiều nhận xét và đánh giá quan trọng về hiệu quả quản lý ngân sách.

Trong thời gian qua, công tác quản lý chi ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh

Cà Mau có thể ghi nhận những thành tựu cơ bản sau:

Tỉnh đã đầu tư mạnh mẽ vào quy hoạch và các dự án xây dựng hạ tầng, khai thác triệt để lợi thế địa phương, dẫn đến sự đổi mới rõ rệt ở nông thôn và nâng cao đời sống người dân Mạng lưới dịch vụ thương mại nông thôn được hình thành, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu sản xuất và cải thiện đời sống nông dân Chương trình xây dựng nông thôn mới được đẩy mạnh, với trung bình mỗi xã đạt 8,7/19 tiêu chí, tăng 5,18 tiêu chí so với thời điểm xuất phát Đặc biệt, 10 xã đã được công nhận đạt chuẩn nông thôn mới, bao gồm Trần Hợi, Trí Lực, Trí Phải, Hàng Vịnh, Hàm Rồng, Tân Hải, Tân Dân và Tắc Vân, Lý Văn Lâm, Tân Thành.

Tỉnh đã chỉ đạo các cấp, từ thành phố đến huyện, xã, phường, thị trấn, tập trung vào công tác thu ngân sách và quản lý chi tiêu hiệu quả Các biện pháp được thực hiện bao gồm tiết kiệm chi phí, cơ cấu lại các khoản chi để đáp ứng nhu cầu đầu tư phát triển, đặc biệt cho các chương trình kinh tế trọng điểm và vùng đặc biệt khó khăn Một số dự án cụ thể như chương trình điện khí hóa nông thôn với tỷ lệ hộ dân sử dụng điện đạt 96,5%, giảm giá khí cho khu khí - điện - đạm Cà Mau, phát triển khu kinh tế Năm Căn, và nâng cấp đô thị vùng ĐBSCL, đặc biệt là tiểu dự án thành phố Cà Mau, đã được triển khai theo kế hoạch.

Tỉnh Cà Mau đã tích cực thúc đẩy tiến độ thi công các công trình xây dựng cơ bản và mô hình nông nghiệp, bao gồm các tuyến đường ô tô đến trung tâm xã, công trình thủy lợi, lưới điện, bệnh viện, trường học đạt chuẩn quốc gia, và các thiết chế văn hóa – thể thao Đặc biệt, các công trình chào mừng Đại hội Đảng bộ tỉnh Cà Mau lần thứ XV như đường Phan Ngọc Hiển nối dài, cầu Bầu Chấu, và trường THPT Quách Phẩm đã góp phần quan trọng vào việc cải thiện kết cấu hạ tầng, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và nâng cao đời sống người dân.

KBNN Cà Mau đã thực hiện kiểm soát chi NSNN hiệu quả bằng cách ngăn chặn và từ chối thanh toán nhiều khoản chi không đúng chế độ, tiêu chuẩn và định mức quy định Điều này không chỉ giúp quản lý chi NSNN ở tỉnh trở nên nề nếp hơn mà còn góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và đảm bảo an sinh xã hội.

4.3.1.2 Lập dự toán chi NSNN ở địa phương

Cơ quan tài chính tỉnh Cà Mau đã tuân thủ đầy đủ quy trình lập dự toán theo luật định, góp phần tăng tính chủ động của chính quyền địa phương Việc phân cấp ngân sách nhà nước đã giúp các địa phương xác định và phân bổ nguồn lực một cách linh hoạt hơn, giảm thiểu sự phụ thuộc vào ngân sách cấp trên nhờ vào việc quy định rõ nguồn thu, nhiệm vụ chi và tỷ lệ phần trăm phân chia ngân sách.

4.3.1.3 Chấp hành dự toán chi NSNN ở địa phương

- Về phân bổ và giao dự toán:

Dựa trên dự toán được Thủ tướng Chính phủ giao, các cơ quan nhà nước ở trung ương và địa phương đã phân bổ và giao dự toán cho các đơn vị trực thuộc trước ngày 31/12 năm trước, theo quy định của Luật NSNN Luật này đã chuyển đổi từ cấp phát ngân sách theo hạn mức sang cấp phát theo dự toán, đồng thời từ giao dự toán chi tiết theo từng mục sang giao dự toán theo nhóm mục Điều này đã tạo điều kiện cho chính quyền tỉnh Cà Mau cải cách thủ tục hành chính trong việc chấp hành ngân sách, tiết kiệm thời gian và công sức cho các đơn vị chủ quản Các đơn vị chi tiêu cũng được phân bổ dự toán sớm, giúp họ chủ động chi tiêu ngay từ đầu năm ngân sách Hơn nữa, điều này đơn giản hóa thủ tục hành chính cho KBNN Cà Mau và các đơn vị dự toán trong quá trình kiểm soát chi ngân sách địa phương, đồng thời vẫn đảm bảo kiểm soát chặt chẽ các khoản chi tiêu theo quy định.

Luật NSNN cùng các văn bản hướng dẫn đã tạo điều kiện cho các đơn vị tỉnh Cà Mau chủ động trong việc điều chỉnh dự toán và tạm cấp kinh phí Điều này giúp đảm bảo bố trí kinh phí phù hợp với nhu cầu thực tế và tiến độ thực hiện nhiệm vụ chính trị Bên cạnh đó, các đơn vị cũng được đảm bảo đủ kinh phí hoạt động từ đầu năm, đặc biệt cho các nhu cầu chi an sinh xã hội và các chi phí cấp bách khác trước khi có phân bổ chính thức từ cơ quan có thẩm quyền.

Việc tăng cường quyền hạn cho chính quyền địa phương trong quyết định ngân sách yêu cầu tỉnh Cà Mau nâng cao tính minh bạch và trách nhiệm giải trình trong quản lý ngân sách Điều này sẽ cải thiện tính công khai trong quản lý ngân sách nhà nước ở địa phương, đồng thời giảm thiểu tình trạng “xin – cho” trong phân bổ dự toán ngân sách.

Chi ứng trước dự toán NSNN đã giúp tỉnh Cà Mau chủ động nguồn lực cho các nhiệm vụ chi cấp bách, đặc biệt trong lĩnh vực an ninh, quốc phòng, khắc phục thiên tai và đầu tư các công trình quan trọng Điều này không chỉ thúc đẩy nhanh tiến độ các dự án xây dựng cơ bản mà còn nâng cao hiệu quả sử dụng ngân sách nhà nước, góp phần phát triển kinh tế - xã hội tại các địa phương trong tỉnh.

Trong những năm gần đây, đặc biệt là năm 2009 và 2012, nền kinh tế gặp khó khăn do suy giảm và giảm phát Việc sử dụng nguồn vốn ứng trước từ ngân sách nhà nước, đặc biệt trong lĩnh vực đầu tư xây dựng cơ bản, đã đóng vai trò quan trọng trong việc dẫn dắt và thúc đẩy các nguồn vốn đầu tư khác trong xã hội Điều này không chỉ góp phần kích cầu, giải quyết hàng tồn kho mà còn giúp tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp, đưa nền kinh tế tỉnh Cà Mau thoát khỏi suy giảm, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội và đảm bảo ổn định an sinh xã hội.

Trong quá trình tổ chức điều hành ngân sách nhà nước (NSNN), một số dự án đầu tư xây dựng cơ bản tại tỉnh Cà Mau đã được bố trí vốn nhưng chậm giải ngân, dẫn đến tình trạng vốn "tạm thời nhàn rỗi" Do đó, việc ứng trước dự toán NSNN cho các công trình khác từ nguồn vốn này cần được đẩy nhanh, nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng ngân sách.

Ngân sách tỉnh Cà Mau đã giải quyết hiệu quả việc chuyển nguồn từ năm trước sang năm sau, giúp các đơn vị quản lý và điều hành dễ dàng hơn, đồng thời giảm tình trạng "chạy chi" vào cuối năm, góp phần giảm căng thẳng về tồn quỹ NSNN và thanh khoản của KBNN Thông tin, kế toán và báo cáo tài chính của tỉnh đã được hoàn thiện, phản ánh đầy đủ các hoạt động thu, chi NSNN, cung cấp kịp thời thông tin cho chính quyền địa phương nhằm quản lý ngân sách hiệu quả Điều này cũng hỗ trợ cải cách hành chính trong lĩnh vực tài chính – ngân sách, đơn giản hóa quy trình và tăng cường trách nhiệm cho các đơn vị.

4.3.1.4 Quyết toán chi NSNN ở địa phương

Tỉnh Cà Mau đã thực hiện quyết toán chi ngân sách nhà nước địa phương theo đúng quy trình luật định, bao gồm hồ sơ trình báo cáo quyết toán với các biểu mẫu, thuyết minh và xác nhận của kho bạc Tỉnh đã thẩm tra quyết toán chi ngân sách địa phương, đảm bảo các khoản chi phù hợp với dự toán và nguồn kinh phí Đồng thời, việc kiểm tra cân đối thu - chi ngân sách địa phương cũng được chú trọng, đặc biệt là các khoản chi cho giáo dục, môi trường và chương trình mục tiêu quốc gia.

4.3.2 Những hạn chế và nguyên nhân

Hệ thống ngân sách hiện tại có sự lồng ghép giữa ngân sách trung ương và ngân sách địa phương, dẫn đến tình trạng trùng lặp và chồng chéo về thẩm quyền giữa các cấp ngân sách Điều này hạn chế tính độc lập của từng cấp ngân sách, làm cho quy trình lập và tổng hợp dự toán trở nên phức tạp và kéo dài Việc quyết toán ở mỗi cấp phụ thuộc vào cấp dưới, khiến cho quyết định dự toán ở cấp dưới mang tính hình thức và lệ thuộc vào quyết định của cấp trên.

Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Cà Mau đến năm 2020

Để hoàn thiện quản lý chi ngân sách nhà nước tại tỉnh Cà Mau giai đoạn 2015 – 2020, cần tập trung vào các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội Những mục tiêu này bao gồm việc nâng cao chất lượng cuộc sống người dân, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế bền vững, và cải thiện hạ tầng cơ sở Đồng thời, cần chú trọng đến việc tối ưu hóa nguồn lực tài chính, đảm bảo tính minh bạch và hiệu quả trong việc sử dụng ngân sách Việc thực hiện các giải pháp này sẽ góp phần vào sự phát triển toàn diện của tỉnh Cà Mau trong tương lai.

Cà Mau cam kết thúc đẩy tăng trưởng kinh tế bền vững, nâng cao hiệu quả phát triển và cải thiện hạ tầng, với mục tiêu đến năm 2020 trở thành tỉnh phát triển mạnh về kinh tế biển, góp phần vào sự phát triển nhanh chóng của đồng bằng sông Cửu Long Đồng thời, tỉnh sẽ nâng cao đời sống vật chất và văn hóa cho người dân, duy trì ổn định chính trị và an ninh xã hội, khẳng định vị trí chiến lược về quốc phòng của khu vực.

Khai thác và phát huy tối đa các nguồn lực là chìa khóa để Cà Mau phát triển kinh tế nhanh, bền vững và cạnh tranh Tỉnh cần duy trì tốc độ tăng trưởng cao hơn mức trung bình của đồng bằng sông Cửu Long, nhằm bù đắp cho xuất phát điểm thấp và rút ngắn khoảng cách phát triển Mục tiêu là đạt mức thu nhập bình quân đầu người tương đương với cả nước, đồng thời tăng nhanh kim ngạch xuất khẩu Tỉnh cũng cần tăng cường tỷ lệ động viên tài chính hợp lý, phấn đấu để sau năm 2015 có khả năng tự cân đối chi ngân sách.

Để đạt được sự phát triển bền vững, cần tiếp tục chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng gia tăng tỷ trọng ngành công nghiệp và dịch vụ, đồng thời duy trì sự ổn định trong phát triển nông nghiệp Mục tiêu đến năm 2015 là hình thành cơ cấu kinh tế bao gồm Công nghiệp - Dịch vụ - Nông nghiệp, và tiếp tục thực hiện quá trình chuyển dịch trong giai đoạn tiếp theo.

Bảng 5.1: Dự báo cơ cấu kinh tế tỉnh Cà Mau chuyển dịch đến năm 2020

Chỉ tiêu Năm 2005 Năm 2010 Năm 2015 Năm 2020

Nguồn: Sở Tài chính Cà Mau

Để phát triển bền vững, tỉnh cần đồng bộ giải quyết các vấn đề xã hội và môi trường, giảm tỷ lệ hộ nghèo và thất nghiệp Đồng thời, cần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và xử lý hiệu quả những vấn đề môi trường cấp bách.

Đảm bảo quốc phòng, an ninh và trật tự xã hội là nhiệm vụ quan trọng, nhằm giảm thiểu tệ nạn xã hội và tai nạn giao thông Đồng thời, cần thực hiện hiệu quả chương trình đấu tranh phòng chống tham nhũng và lãng phí.

Một số giải pháp chủ yếu nhằm hoàn thiện quản lý chi ngân sách nhà nước ở địa phương giai đoạn 2015 – 2020

5.2.1 Cần tiếp cận cơ bản về quản lý ngân sách theo đầu ra

Trước áp lực phát triển kinh tế trong bối cảnh hội nhập, nhu cầu nâng cao chất lượng hàng hóa công ngày càng tăng Thực trạng pháp luật và thực tiễn thi hành pháp luật về lập, chấp hành và quyết toán ngân sách nhà nước (NSNN) hiện nay yêu cầu Nhà nước cần đổi mới quản lý NSNN một cách chiến lược, tập trung vào việc xây dựng và thực hiện phương thức quản lý ngân sách theo đầu ra.

Quản lý ngân sách theo đầu ra là hoạt động phân bổ và đánh giá nguồn lực tài chính dựa trên thông tin đầu ra, nhằm đạt được các mục tiêu chiến lược phát triển của Chính phủ Chiến lược này bao gồm việc thiết lập mục tiêu, lựa chọn chỉ số và kết quả, giám sát thực hiện, cũng như phân tích và báo cáo kết quả so với mục tiêu đề ra, nhằm cải thiện hiệu quả quản lý và đo lường công việc của các cơ quan nhà nước.

Phương thức quản lý ngân sách theo đầu ra yêu cầu ngân sách phải có tính chất “mở”, công khai và minh bạch, với toàn bộ nguồn lực tài chính của Nhà nước được tổng hợp vào dự toán ngân sách Ngân sách được lập theo thời gian trung hạn, dựa trên nhu cầu và mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội Đồng thời, ngân sách hợp nhất giữa chi thường xuyên và chi đầu tư một cách chặt chẽ, dựa trên cơ sở nguồn lực không thay đổi trong trung hạn, đòi hỏi cam kết chặt chẽ Phân bổ ngân sách phải dựa theo thứ tự ưu tiên chiến lược, đồng thời thực hiện phi tập trung hóa trong quản lý ngân sách, trao quyền chủ động cho người quản lý trong việc chi tiêu.

Quản lý ngân sách theo đầu ra yêu cầu đánh giá mọi nguồn lực, ước tính chi phí thực tế và tập trung nguồn lực cho các mục tiêu chiến lược Phân bổ nguồn lực cần minh bạch và phù hợp với các ưu tiên chiến lược Mục tiêu của quản lý ngân sách theo đầu ra là khắc phục các phương pháp lập ngân sách không hiệu quả, đảm bảo sự tách biệt giữa ngân sách thường xuyên và ngân sách đầu tư Kế hoạch ngân sách trung hạn hỗ trợ cho quy trình lập ngân sách hàng năm, không thể thay thế nhưng tạo nền tảng cho chính sách tài chính Đối với Việt Nam, chuyển từ quản lý ngân sách theo khoản mục sang theo kết quả đầu ra cần xây dựng các khuôn khổ chủ yếu rõ ràng.

Một là, thay đổi quy trình chiến lược soạn lập ngân sách để thiết lập mối quan hệ giữa kết quả, đầu ra và đầu vào

Thay đổi quy trình soạn lập ngân sách theo chiến lược trung hạn cần gắn kết giữa việc thiết lập mục tiêu ưu tiên và ngân sách, đồng thời liên kết chi đầu tư với chi thường xuyên Cần xem xét các nguồn lực trong quá trình lập ngân sách, kết hợp giữa soạn thảo ngân sách với kiểm tra và báo cáo thực hiện Hơn nữa, việc đo lường công việc thực hiện phải liên quan đến các kết quả đầu ra, và hệ thống kế toán cần cung cấp thông tin quản lý hiệu quả cho hệ thống đo lường thực hiện.

Ba là, thiết lập hệ thống thông tin cho phương thức quản lý ngân sách theo kết quả đầu ra sẽ củng cố mối quan hệ giữa quản lý của cơ quan nhà nước và chính sách của Chính phủ Hệ thống này yêu cầu các cơ quan nhà nước chuẩn bị dữ liệu cần thiết để minh họa mối liên hệ giữa các đầu ra mà họ cung cấp và tác động của chúng đến các mục tiêu mong muốn của Chính phủ Đồng thời, nó cũng làm nổi bật mối quan hệ giữa các đầu ra và nguồn lực cần thiết để tạo ra những đầu ra đó.

Thay đổi hệ thống báo cáo là rất cần thiết, trong đó các báo cáo cần truyền đạt rõ ràng các nội dung chính như mục tiêu chiến lược, kết quả thực hiện, và mối quan hệ tác động giữa các yếu tố đầu vào và đầu ra.

Cải cách hệ thống luật pháp và đơn giản hóa thủ tục hành chính là cần thiết để nâng cao trách nhiệm của người quản lý Thực hiện pháp chế hồi tố và xử phạt nghiêm minh các vi phạm trong quản lý chi tiêu công sẽ góp phần tăng cường tính minh bạch và hiệu quả trong quản lý tài chính.

5.2.2 Thiết kế lại hệ thống ngân sách nhà nước không có tính lồng ghép với nhau

Theo kinh nghiệm quốc tế, nhiều quốc gia như Đức, Mỹ, Canada, Trung Quốc và Thái Lan áp dụng mô hình ngân sách không lồng ghép, trong đó mỗi cấp ngân sách do Quốc hội và HĐND quyết định, giúp rõ ràng hóa nhiệm vụ và quyền hạn, đồng thời đơn giản hóa quy trình lập, chấp hành và quyết toán ngân sách Mô hình này tăng cường tính công khai và minh bạch; tuy nhiên, Việt Nam hiện chưa thể áp dụng do sự không thống nhất trong phân cấp kinh tế - xã hội giữa các cấp chính quyền địa phương, đặc biệt khi một số quận, huyện, phường không tổ chức HĐND theo Nghị quyết Trung ương 5 khóa X Điều này tạo ra sự phức tạp trong việc thiết kế nguồn thu và nhiệm vụ chi cho từng cấp ngân sách địa phương, và việc loại bỏ hoàn toàn cơ chế này sẽ vi phạm Hiến pháp Do đó, cần có một bước chuyển tiếp phù hợp.

Hệ thống ngân sách nhà nước (NSNN) hiện tại sẽ được giữ nguyên với một số điều chỉnh phù hợp với thực tế, trong đó Quốc hội chỉ quyết định tổng thu, chi, số bội chi và những định hướng cơ bản mà không đi vào chi tiết cụ thể Quốc hội sẽ chỉ quyết định tổng chi NSNN, bao gồm cả chi ngân sách trung ương (NSTƯ) và ngân sách địa phương (NSĐP), mà không xác định cụ thể cho các lĩnh vực như giáo dục, khoa học công nghệ Sự thay đổi này sẽ tạo ra quyền chủ động hơn cho các địa phương trong việc phân bổ ngân sách, nhưng có thể dẫn đến việc phân bổ cho các lĩnh vực như giáo dục và khoa học công nghệ không đạt tỷ lệ mong muốn Để nâng cao tính khả thi và hiệu quả của luật, cần làm rõ những vấn đề mà Quốc hội quyết định trong NSNN.

5.2.3 Phân định và hạch toán các khoản thu NSNN từ phí, lệ phí, thu xổ số kiến thiết và tiền sử dụng đất

Cần phân định rõ các khoản thu phí, lệ phí theo mục tiêu và đặc điểm của từng loại, cũng như theo từng cơ quan, đơn vị để xác định khoản nào nộp NSNN và khoản nào để lại cho đơn vị Cụ thể, phí, lệ phí do cơ quan hành chính Nhà nước thu sẽ nộp toàn bộ vào NSNN, trong khi chi phí thực hiện nhiệm vụ thu sẽ được ngân sách đảm bảo theo quy định Đối với các đơn vị sự nghiệp công lập, phí, lệ phí được coi là nguồn thu của đơn vị và được giao cho đơn vị quản lý, sử dụng theo quy định pháp luật, không hạch toán vào NSNN Mặc dù giống như doanh nghiệp công, các đơn vị vẫn nhận được một phần hỗ trợ từ ngân sách để quản lý Kiểm soát thu sẽ dựa vào chính sách và quyết định thu, không quy định con số thu cụ thể.

Khoản thu xổ số kiến thiết và tiền sử dụng đất đều là nguồn thu ngân sách cần được phản ánh đầy đủ vào ngân sách nhà nước (NSNN) Giải pháp cho vấn đề này là đưa cả hai khoản thu vào cân đối NSNN, đồng thời quy định rằng nguồn thu từ xổ số kiến thiết và tiền sử dụng đất không được sử dụng để tính tỷ lệ điều tiết giữa ngân sách trung ương (NSTƯ) và ngân sách địa phương (NSĐP) cũng như số bổ sung cân đối từ NSTƯ và NSĐP Việc thực hiện phương án này sẽ đảm bảo nguyên tắc tập trung đầy đủ các khoản thu vào NSNN và đồng thời thực hiện mục tiêu sử dụng các khoản thu theo quyết định của cấp có thẩm quyền.

5.2.4 Về các khoản thu phân chia cho các cấp ngân sách

Chỉ nên quy định về các khoản thu phải phân cấp cho xã, trong khi tỷ lệ phần trăm phân chia cho ngân sách xã do HĐND cấp tỉnh quyết định dựa trên tình hình thực tế địa phương Đối với thuế tiêu thụ đặc biệt từ hàng hóa, dịch vụ trong nước và thuế giá trị gia tăng từ sản xuất trong nước, cần thực hiện phân chia nguồn thu thuế giá trị gia tăng cho các cấp ngân sách, với phần phân chia cho địa phương chủ yếu dựa vào tiêu chí dân số.

Cần quy định tỷ lệ % cụ thể cho việc phân chia tổng thu thuế tiêu thụ đặc biệt và thuế giá trị gia tăng hàng sản xuất trong nước giữa NSTƯ và ngân sách địa phương Việc phân chia này nên dựa trên các tiêu chí như dân số và sức mua (thu nhập bình quân đầu người) để đảm bảo công bằng Thực hiện phương án này sẽ giúp phân bổ nguồn lực từ hai khoản thuế gián thu một cách đồng đều trên toàn quốc, đồng thời giảm thiểu sự chênh lệch ngày càng lớn giữa các địa phương có doanh nghiệp lớn và những nơi khác.

5.2.5 Phân định rõ quyền hạn của HĐND và UBND Để thực hiện đúng nguyên tắc HĐND là cơ quan quyền lực Nhà nước ở địa phương, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân…; UBND là cơ quan chấp hành của HĐND; Tạo điều kiện thuận lợi cho cơ quan hành chính Nhà nước ở địa phương điều hành ngân sách linh hoạt vì lợi ích chung… cần quy định cụ thể UBND được quyền điều chỉnh dự toán ngân sách trong trường hợp không làm mất cân đối dự toán HĐND đã quyết định Trường hợp biến động, làm thay đổi dự toán HĐND đã quyết định nên giao cho UBND cấp trên trực tiếp thống nhất với Thường trực HĐND cùng cấp trước khi quyết định và báo cáo với HĐND tại kỳ họp gần nhất Như vậy, sẽ tạo ra sự thống nhất trong hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về dự toán NSĐP, đồng thời HĐND có cơ sở để tổ chức giám sát việc sử dụng NSNN theo quy định.

Ngày đăng: 29/06/2021, 18:31

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Sở Tài chính (2015), Quyết toán ngân sách (2010-2014), Cà Mau Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết toán ngân sách (2010-2014)
Tác giả: Sở Tài chính
Nhà XB: Cà Mau
Năm: 2015
4. Bộ Tài chính (2003), Thông tư số 60/2003/TT-BTC ngày 23/6/2003 - Quy định về quản lý Ngân sách xã và các hoạt động khác của xã, phường, thị trấn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 60/2003/TT-BTC ngày 23/6/2003 - Quy định về quản lý Ngân sách xã và các hoạt động khác của xã, phường, thị trấn
Tác giả: Bộ Tài chính
Năm: 2003
10. Quốc hội (2002), Luật Ngân sách Nhà nước số 01/2002/QH11 ngày 16/12/2002 của Quốc Hội Nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Ngân sách Nhà nước số 01/2002/QH11
Tác giả: Quốc hội
Nhà XB: Quốc Hội Nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam
Năm: 2002
11. Dương Thị Bình Minh (2005), Giáo trình Tài chính công, Nhà xuất bản Tài chính Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Tài chính công
Tác giả: Dương Thị Bình Minh
Nhà XB: Nhà xuất bản Tài chính
Năm: 2005
13. Ngân hàng thế giới (2014), Sửa đổi Luật Ngân sách của Việt Nam năm 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sửa đổi Luật Ngân sách của Việt Nam năm 2002
Tác giả: Ngân hàng thế giới
Năm: 2014
14. Nguyễn Thành Long (2005), Phương hướng hoàn thiện quản lý chi ngân sách nhà nước ở thành phố Cần Thơ, Luận văn Thạc sỹ Kinh tế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương hướng hoàn thiện quản lý chi ngân sách nhà nước ở thành phố Cần Thơ
Tác giả: Nguyễn Thành Long
Năm: 2005
15. Nguyễn Thái Hà (2007), Quản lý chi ngân sách nhà nước Việt Nam trong hội nhập kinh tế toàn cầu, Luận văn Thạc sỹ Kinh tế.Các website tham khảo Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý chi ngân sách nhà nước Việt Nam trong hội nhập kinh tế toàn cầu
Tác giả: Nguyễn Thái Hà
Nhà XB: Luận văn Thạc sỹ Kinh tế
Năm: 2007
1. Báo cáo đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Cà Mau các năm (2010 - 2014), phương hướng phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Cà Mau năm 2011 - 2015 Khác
3. Bộ Tài chính (2003), Thông tư số 59/2003/TT-BTC ngày 23/6/2003 - Hướng dẫn thực hiện Nghị định số 60 của Chính phủ Khác
5. Bộ Tài chính (2003), Thông tư số 79/2003/TT-BTC ngày 13/8/2003 – Hướng dẫn quản lý, cấp phát, thanh toán các khoản chi NSNN qua Kho Bạc Nhà nước Khác
6. Bộ Tài chính (2003), Thông tư 114/2003/TT-BTC ngày 28/11/2003 – Hướng dẫn công tác lập dự toán, quản lý, cấp phát, thanh toán quyết toán nguồn vốn NSNN Khác
7. Bộ Tài chính (2005), Thông tư 05/2005/TT-BTC ngày 6/1/2005 – Hướng dẫn thực hiện quy chế công khai tài chính đối với các cấp NSNN và chế độ báo cáo tình hình thực hiện công khai tài chính Khác
8. Chính phủ (2003), Nghị định số 60/2003/NĐ-CP ngày 06/06/2003 của Chính phủ - Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành luật Ngân sách Nhà nước Khác
9. Chính phủ (2003), Nghị định số 73/2003/NĐ-CP ngày 23/06/2003 của Chính phủ - Ban hành quy chế xem xét quyết định dự toán và phân bổ Ngân sách địa phương phê chuẩn quyết toán Ngân sách địa phương Khác
12. Sử Đình Thành (2009), Giáo trình Lý thuyết Tài chính công, Nhà xuất bản Đại học quốc gia TPHCM Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w