1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn thạc sĩ phân tích các nhân tố tác động đến hoạt động huy động tiền gửi tại ngân hàng thương mại cổ phần

117 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 117
Dung lượng 1,25 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • BÌA

  • LỜI CAM ĐOAN

  • MỤC LỤC

  • DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

  • DANH MỤC BẢNG BIỂU

  • DANH MỤC HÌNH VẼ, SƠ ĐỒ

  • LỜI MỞ ĐẦU

    • 1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu

    • 2. Mục tiêu nghiên cứu

    • 3. Đối tượng nghiên cứu

    • 4. Phạm vi nghiên cứu

    • 5. Phương pháp nghiên cứu

    • 6. Ý nghĩa thực tiễn của đề tài

    • 7. Kết cấu của đề tài

  • CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN HOẠT ĐỘNG HUY ĐỘNG TIỀN GỬI TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

    • 1.1. Hoạt động huy động tiền gửi tại ngân hàng thương mại

      • 1.1.1. Khái niệm về hoạt động huy động tiền gửi

      • 1.1.2. Các nguyên tắc trong hoạt động huy động tiền gửi

      • 1.1.3. Phân loại các loại hình tiền gửi

        • 1.1.3.1. Tiền gửi phi giao dịch

        • 1.1.3.2. Tiền gửi giao dịch

      • 1.1.4. Vai trò của hoạt động huy động tiền gửi

        • 1.1.4.1. Đối với nền kinh tế

        • 1.1.4.2. Đối với ngân hàng

        • 1.1.4.3. Đối với khách hàng

    • 1.2. Các nhân tố tác động đến hoạt động huy động tiền gửi tại ngân hàng thương mại

      • 1.2.1. Nhân tố bên ngoài

        • 1.2.1.1. Tình hình chính trị - xã hội

        • 1.2.1.2. Chính sách quản lý và môi trường pháp lý

        • 1.2.1.3. Dân số và trình độ dân trí

        • 1.2.1.4. Trình độ phát triển của kinh tế, lạm phát, lãi suất thị trường

        • 1.2.1.5. Tâm lý, thói quen của khách hàng

      • 1.2.2. Nhân tố bên trong

        • 1.2.2.1. Hiệu quả hoạt động

        • 1.2.2.2. Thương hiệu của ngân hàng

        • 1.2.2.3. Cơ sở hạ tầng và hệ thống chi nhánh

        • 1.2.2.4. Số lượng và chất lượng nhân viên

        • 1.2.2.5. Sản phẩm tiền gửi

    • 1.3. Sự cần thiết phân tích các nhân tố tác động đến hoạt động huy động tiền gửi tại ngân hàng thương mại

    • 1.4. Các nghiên cứu trên thế giới về các nhân tố tác động đến hoạt động huy động tiền gửi tại ngân hàng thương mại

      • 1.4.1. Nghiên cứu của Bruce C. Cohen và George G. Kaufman

      • 1.4.2. Nghiên cứu của Herald Finger và Heiko Hesse

      • 1.4.3. Nghiên cứu của Wubitu

      • 1.4.4. Một số nghiên cứu trong nước

    • 1.5. Bài học kinh nghiệm trên thế giới nâng cao hoạt động huy động tiền gửi

      • 1.5.1. Kinh nghiệm của Nhật Bản

      • 1.5.2. Kinh nghiệm của Ngân hàng Autralia (ANZ Bank)

    • Kết luận chương 1

  • CHƯƠNG 2: PHÂN TÍCH CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN HOẠT ĐỘNG HUY ĐỘNG TIỀN GỬI TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN CÔNG THƯƠNG VIỆT NAM - KHU VỰC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

    • 2.1. Giới thiệu các chi nhánh Ngân hàng Thương mại cổ phần Công Thương Việt Nam - Khu vực TP.HCM

      • 2.1.1. Quá trình hình thành và phát triển

      • 2.1.2. Lĩnh vực hoạt động kinh doanh

      • 2.1.3. Kết quả hoạt động kinh doanh

    • 2.2. Thực trạng hoạt động huy động tiền gửi tại các chi nhánh Ngân hàng thương mại cổ phần Công Thương Việt Nam - Khu vực TP.HCM

      • 2.2.1. Tổ chức hoạt động huy động tiền gửi

      • 2.2.2. Các loại sản phẩm tiền gửi

      • 2.2.3. Thực trạng hoạt động huy động tiền gửi tại các chi nhánh Ngân hàng Thương mại cổ phần Công Thương Việt Nam - Khu vực TP.HCM

        • 2.2.3.1. Tình hình hoạt động huy động tiền gửi

        • 2.2.3.2. Phân tích cơ cấu tiền gửi

        • 2.2.3.3. Lãi suất huy động tiền gửi

        • 2.2.3.4. Dịch vụ hỗ trợ hoạt động huy động tiền gửi

        • 2.2.3.5. Đánh giá hoạt động huy động tiền gửi tại các chi nhánh Ngân hàng Thương mại cổ phần Công Thương Việt Nam - Khu vực TP.HCM

    • 2.3. Các nhân tố tác động đến hoạt động huy động tiền gửi tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Công Thương Việt Nam - Khu vực TP.HCM

      • 2.3.1. Nhân tố bên ngoài

        • 2.3.1.1. Môi trường chính trị - xã hội

        • 2.3.1.2. Chính sách quản lý hoạt động huy động tiền gửi

        • 2.3.1.3. Dân cư và trình độ dân trí

        • 2.3.1.4. Tình hình kinh tế

        • 2.3.1.5. Tâm lý, thói quen của khách hàng

      • 2.3.2. Nhân tố bên trong

        • 2.3.2.1. Hiệu quả kinh doanh

        • 2.3.2.2. Thương hiệu ngân hàng

        • 2.3.2.3. Nhân viên ngân hàng

        • 2.3.2.4. Sản phẩm tiền gửi

        • 2.3.2.5. Mạng lưới điểm giao dịch và cơ sở hạ tầng

    • 2.4. Phân tích các nhân tố tác động đến hoạt động huy động tiền gửi tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Công Thương Việt Nam - Khu vực TP.HCM

      • 2.4.1. Phương pháp nghiên cứu

      • 2.4.2. Thiết kế nghiên cứu

      • 2.4.3. Xây dựng bảng câu hỏi khảo sát

      • 2.4.4. Mô tả mẫu khảo sát

      • 2.4.5. Kết quả nghiên cứu

        • 2.4.5.1. Đánh giá thang đo bằng hệ số tin cậy Cronbach’s Alpha

        • 2.4.5.2. Phân tích khám phá EFA cho từng nhân tố

        • 2.4.5.3. Phân tích tương quan tuyến tính các nhân tố

        • 2.4.5.4. Kết quả phương trình hồi quy tuyến tính

    • 2.5. Đánh giá sự tác động của các nhân tố đến hoạt động huy động tiền gửi tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Công Thương Việt Nam - Khu vực TP.HCM

    • Kết luận chương 2

  • CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP GIA TĂNG CÁC NHÂN TỐ TÍCH CỰC NHẰM NÂNG CAO HOẠT ĐỘNG HUY DỘNG TIỀN GỬI TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN CÔNG THƯƠNG VIỆT NAM - KHU VỰC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

    • 3.1. Định hướng hoạt động huy động tiền gửi tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Công Thương Việt Nam - Khu vực TP.HCM đến 2015

    • 3.2. Giải pháp gia tăng các nhân tố tích cực nhằm nâng cao hoạt động huy động tiền gửi tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Công Thương Việt Nam - Khu vực TP.HCM

      • 3.2.1. Nâng cao thương hiệu, uy tín

      • 3.2.2. Mở rộng mạng lưới và nâng cao chất lượng cơ sở hạ tầng

      • 3.2.3. Tác động đến tâm lý, thói quen của khách hàng

      • 3.2.4. Nâng cao chất lượng phục vụ của nhân viên

      • 3.2.5. Đa dạng hóa và cải thiện chất lượng sản phẩm tiền gửi

    • 3.3. Giải pháp hỗ trợ

      • 3.3.1. Đối với Ngân hàng Thương mại cổ phần Công Thương Việt Nam

      • 3.3.2. Đối với Ngân hàng Nhà nước

      • 3.3.3. Đối với chính phủ

    • Kết luận chương 3

  • KẾT LUẬN

  • TÀI LIỆU THAM KHẢO

  • Phụ lục 1Hệ thống chi nhánh, PGD của Vietinbank - Khu vực TP.HCM

  • Phụ lục 2Các sản phẩm tiền gửi cải tiến trên sản phẩm truyền thống tại Vietinbank

  • Phụ lục 3Bảng câu hỏi khảo sát

  • Phụ lục 4Kết quả thống kê mô tả mẫu nghiên cứu

  • Phụ lục 5Kết quả đánh giá thang đo bằng hệ số tin cậy Cronbach’s Alpha

  • Phụ lục 6Kết quả phân tích các nhân tố tác động đến hoạt động huy động tiền gửi

  • Phụ lục 7Phân tích tương quan giữa các nhân tố tác động đến hoạt động huy động tiền gửi

  • Phụ lục 8Kết quả phân tích hồi quy xây dựng mô hình định lượng

Nội dung

TỔNG QUAN VỀ CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN HOẠT ĐỘNG HUY ĐỘNG TIỀN GỬI TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

Hoạt động huy động tiền gửi tại ngân hàng thương mại

1.1.1 Khái niệm về hoạt động huy động tiền gửi

Vốn của ngân hàng thương mại (NHTM) là giá trị tiền tệ do ngân hàng tạo lập hoặc huy động, dùng để đầu tư, cho vay và thực hiện các dịch vụ kinh doanh khác Vốn này không chỉ chi phối toàn bộ hoạt động của NHTM mà còn quyết định sự tồn tại và phát triển của ngân hàng Nguồn vốn của NHTM bao gồm vốn chủ sở hữu, vốn bổ sung trong quá trình hoạt động, các quỹ, và nguồn vay nợ có thể chuyển đổi thành vốn cổ phần Ngoài ra, vốn nợ gồm tiền gửi, các nghiệp vụ huy động tiền gửi, tiền vay và các khoản nợ khác như tiền ủy thác, tiền trong thanh toán, cùng các khoản nợ chưa thanh toán như thuế và lương chưa trả.

Tiền gửi là một trong những nguồn vốn quan trọng nhất của ngân hàng thương mại (NHTM), chiếm tỷ trọng lớn trong tổng nguồn vốn của các ngân hàng này.

Tiền gửi, theo định nghĩa năm 2005, là tài sản đặc biệt trên bảng cân đối kế toán của ngân hàng, giúp phân biệt ngân hàng với các doanh nghiệp khác Đối với khách hàng, tiền gửi là khoản tiền mà doanh nghiệp và cá nhân gửi vào ngân hàng thương mại (NHTM) để thực hiện thanh toán không dùng tiền mặt hoặc tích lũy cho nhu cầu tương lai Từ góc độ ngân hàng, tiền gửi là số tiền mà ngân hàng nhận từ khách hàng, có thể có lãi hoặc không, kèm theo quyền sử dụng cho hoạt động kinh doanh Ngân hàng có nghĩa vụ cung cấp dịch vụ cho người gửi trong giới hạn số tiền nhận được, bao gồm các lệnh trả tiền như séc, chuyển khoản, và các hình thức khác Theo từ điển tài chính trực tuyến Investopedia, tiền gửi có thể ở dạng không kỳ hạn, có kỳ hạn, hoặc tiết kiệm, và chủ tài khoản có quyền rút tiền theo quy định đã thỏa thuận Tiền gửi có thể hưởng lãi hoặc không và phải được hoàn trả cho người gửi.

Các khái niệm về tiền gửi gắn liền với tài khoản ngân hàng của khách hàng Người gửi tiền có thể chọn loại hình tiền gửi phù hợp với mục đích và được hưởng lãi suất từ khoản tiền gửi Khách hàng cũng phải cho phép ngân hàng sử dụng số tiền gửi cho mục đích kinh doanh, với cam kết hoàn trả vào ngày đáo hạn đối với tiền gửi có kỳ hạn hoặc theo yêu cầu đối với tiền gửi không kỳ hạn.

Hoạt động huy động tiền gửi của ngân hàng thương mại (NHTM) bao gồm việc nhận tiền từ cá nhân và doanh nghiệp qua nhiều hình thức như tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm, và phát hành chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu, tín phiếu Tất cả các hình thức này đều tuân theo nguyên tắc hoàn trả đầy đủ tiền gốc và lãi (nếu có) cho người gửi theo thỏa thuận.

1.1.2 Các nguyên tắc trong hoạt động huy động tiền gửi

Trong hoạt động huy động tiền gửi, NHTM phải chấp hành các nguyên tắc sau:

Để đảm bảo khả năng chi trả và tuân thủ quy định pháp luật, các tổ chức tài chính cần tìm kiếm nguồn tiền gửi một cách hợp lý, không huy động quá nhiều so với vốn tự có Đồng thời, lãi suất huy động phải phù hợp với cơ chế quản lý lãi suất của Ngân hàng Nhà nước.

– Đảm bảo được hai yêu cầu chi phí thấp và quy mô đa dạng của nguồn tiền gửi huy động từ khách hàng;

– Đáp ứng một cách kịp thời nhu cầu thanh khoản của ngân hàng, hạn chế đến mức tối đa sự sụt giảm đột ngột về nguồn tiền gửi;

– Sử dụng các công cụ và sản phẩm tiền gửi đa dạng để hạn chế rủi ro và phù hợp với đặc điểm hoạt động của NHTM

1.1.3 Phân loại các loại hình tiền gửi

Ngân hàng thương mại (NHTM) phân loại tiền gửi dựa trên nhiều tiêu chí, bao gồm đối tượng huy động như cá nhân, doanh nghiệp và tổ chức tín dụng, thời gian huy động như ngắn hạn, trung hạn và dài hạn, cũng như loại tiền huy động như nội tệ, ngoại tệ và vàng Tuy nhiên, NHTM chủ yếu tập trung vào việc phân loại tiền gửi theo bản chất hoạt động huy động để đáp ứng nhu cầu của khách hàng một cách hiệu quả nhất.

1.1.3.1 Tiền gửi phi giao dịch

Tiền gửi phi giao dịch là loại hình gửi tiền mà việc giao dịch trên tài khoản bị cấm hoặc hạn chế Để thực hiện giao dịch, người gửi cần phải được sự chấp thuận từ tổ chức tín dụng hoặc ngân hàng.

 Tiền gửi có kỳ hạn

Tiền gửi có kỳ hạn là hình thức gửi tiền tại ngân hàng với thỏa thuận về thời gian rút tiền giữa khách hàng và ngân hàng, cho phép khách hàng chỉ rút tiền khi đến hạn thỏa thuận Việc rút tiền trước hạn có thể bị phạt và không vượt quá số lãi suất được hưởng Loại tiền gửi này không giao dịch, chiếm tỷ trọng lớn trong tổng tiền gửi của ngân hàng thương mại, với lãi suất cao hơn và chi phí quản lý thấp Tiền gửi có kỳ hạn có tính ổn định cao và tồn tại dưới các hình thức như chứng chỉ tiền gửi, chứng thư tiết kiệm, trái phiếu tiết kiệm và tài khoản hưu trí cá nhân.

Tiền gửi tiết kiệm là hình thức gửi tiền nhằm thu hút vốn từ cá nhân có nhu cầu dành dụm cho mục tiêu tài chính trong tương lai Nó cũng đóng vai trò quan trọng trong việc huy động vốn của ngân hàng thương mại Hiện nay, tiền gửi tiết kiệm chủ yếu được chia thành hai loại: tiền gửi có kỳ hạn và tiền gửi không có kỳ hạn.

Tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn là sản phẩm dành cho khách hàng muốn kiếm lời từ khoản tiền của mình Khách hàng không được rút tiền trước thời hạn, nếu vi phạm sẽ bị phạt Với tính ổn định cao, ngân hàng cam kết trả lãi suất hấp dẫn cho khách hàng.

Tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn là sản phẩm dành cho cá nhân hoặc tổ chức có tiền nhàn rỗi muốn gửi ngân hàng để đảm bảo an toàn và sinh lợi mà không có kế hoạch sử dụng cụ thể trong tương lai Khách hàng có thể rút tiền bất cứ lúc nào, điều này khiến ngân hàng khó lên kế hoạch sử dụng vốn để cấp tín dụng, dẫn đến lãi suất thường thấp cho loại hình gửi tiền này.

Tiền gửi tiết kiệm thường tồn tại dưới các hình thức sau:

Tiết kiệm lập sổ, bao gồm sổ tiết kiệm và thẻ tiết kiệm, là hình thức gửi tiền được cấp cho khách hàng dưới dạng chứng từ giấy Khách hàng chỉ có thể rút tiền khi xuất trình chứng từ này.

Tiết kiệm thông báo, hay còn gọi là tiết kiệm điện tử, cho phép khách hàng xác nhận thông tin giao dịch qua các thiết bị điện tử viễn thông Khách hàng có thể nhận các bản thống kê định kỳ hoặc theo yêu cầu, hiển thị số tiền gửi, lệnh rút tiền, lãi suất và số dư tài khoản.

Tiền gửi giao dịch cho phép người gửi rút, chuyển tiền và thực hiện các giao dịch mà không bị giới hạn Ngân hàng cần duy trì tỷ lệ dự trữ nhất định để đảm bảo khả năng thanh toán cho mọi yêu cầu liên quan đến khoản tiền gửi này.

 Tiền gửi giao dịch không hưởng lãi

Các nhân tố tác động đến hoạt động huy động tiền gửi tại ngân hàng thương mại

1.2.1.1 Tình hình chính trị - xã hội

Thay đổi trong điều kiện môi trường, đặc biệt là các vấn đề chính trị và xã hội - văn hóa, có thể ảnh hưởng lớn đến sự tồn tại của tổ chức và doanh nghiệp, bao gồm cả ngân hàng Sự ổn định của chính phủ, chính sách thuế, quy định thương mại quốc tế và phúc lợi xã hội là những yếu tố quan trọng trong môi trường chính trị Các thách thức như mối lo ngại chính trị, cạnh tranh, cải cách xã hội, tiến bộ công nghệ và toàn cầu hóa ảnh hưởng lớn đến sự phát triển của ngành ngân hàng Tình hình chính trị ổn định thúc đẩy phát triển kinh tế, thu hút vốn đầu tư nước ngoài, tăng thu nhập quốc dân và khuyến khích tiết kiệm, từ đó thúc đẩy hoạt động tài chính ngân hàng Ngược lại, tình hình chính trị bất ổn sẽ kìm hãm phát triển kinh tế, giảm thu nhập và tỷ lệ tiết kiệm, gây khó khăn cho hoạt động huy động vốn của các ngân hàng thương mại.

1.2.1.2 Chính sách quản lý và môi trường pháp lý

Ngành ngân hàng dễ bị tổn thương trước khủng hoảng kinh tế, do đó phải tuân thủ nhiều quy định để đảm bảo an toàn tài chính và bảo vệ người dân Việc giảm nhẹ các quy định có thể khuyến khích ngân hàng thương mại tham gia vào các hình thức huy động tiền gửi rủi ro hơn để đạt lợi nhuận cao, nhưng cũng gia tăng rủi ro khó đo lường Ở các nước phát triển, người tiêu dùng có nhiều lựa chọn và thị trường tự điều chỉnh, trong khi ở các nước đang phát triển, thị trường chưa hoàn thiện và người tiêu dùng phụ thuộc vào sự can thiệp của nhà nước để bảo vệ quyền lợi.

Hoạt động của ngân hàng thương mại (NHTM) được quản lý chặt chẽ bởi ngân hàng trung ương (NHTW) và chịu ảnh hưởng lớn từ môi trường pháp lý Một sự thay đổi nhỏ trong dự trữ bắt buộc có thể tác động mạnh đến vốn và chiến lược cấp tín dụng của NHTM Vì NHTM liên quan đến nhiều lĩnh vực trong nền kinh tế, các luật như Luật Dân sự, Luật Thương mại, và Luật Tổ chức tín dụng đều ảnh hưởng đến hoạt động của họ Hơn nữa, chính sách nhà nước như chính sách tiền tệ, lãi suất, và tín dụng cũng tác động đến hoạt động huy động tiền gửi của NHTM thông qua các công cụ như lãi suất, tỷ lệ dự trữ bắt buộc và quy định hành chính.

1.2.1.3 Dân số và trình độ dân trí

Mahendra (2005) nhấn mạnh rằng số lượng tài khoản tiền gửi là yếu tố quan trọng, giúp giảm xác suất chủ tài khoản rút tiền mặt và tạo lợi thế cho ngân hàng trong việc gia tăng quy mô huy động tiền gửi Số lượng tài khoản tiền gửi phụ thuộc vào số người sở hữu tài khoản, tức là dân số có tiền gửi trong quốc gia Do đó, quy mô dân cư và chất lượng đời sống của người dân ảnh hưởng trực tiếp đến cấu trúc sản phẩm dịch vụ của ngân hàng, đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng và điều chỉnh hoạt động huy động vốn.

Khi nền kinh tế phát triển, trình độ dân trí của cư dân và doanh nghiệp được nâng cao, dẫn đến việc khách hàng hiểu biết hơn về dịch vụ ngân hàng Sự am hiểu này giúp ngân hàng thương mại (NHTM) tiết kiệm chi phí phục vụ và hoạt động, đồng thời mở rộng danh mục sản phẩm dịch vụ Nhờ đó, NHTM có thể dễ dàng tiếp cận, giải thích và tiếp thị các sản phẩm huy động tiền gửi đến khách hàng.

Khu vực thành thị với trình độ dân trí cao và dân số đông đúc là thị trường tiềm năng cho các ngân hàng thương mại (NHTM) thu hút vốn Ngược lại, những khu vực xa xôi và có trình độ dân trí thấp thường gặp khó khăn trong việc tiếp cận dịch vụ ngân hàng và có ít nguồn tiền nhàn rỗi.

1.2.1.4 Trình độ phát triển của kinh tế, lạm phát, lãi suất thị trường

Ngân hàng thương mại (NHTM) là một định chế trung gian tài chính chịu ảnh hưởng mạnh mẽ từ các yếu tố kinh tế Sự phát triển của nền kinh tế không chỉ quyết định trình độ phát triển của NHTM mà còn thúc đẩy sự đổi mới và mở rộng hoạt động huy động tiền gửi Khi nền kinh tế phát triển, nhu cầu về dịch vụ ngân hàng và tiết kiệm vốn nhàn rỗi gia tăng, tạo điều kiện cho NHTM mở rộng dịch vụ Sự tăng trưởng kinh tế ổn định và gia tăng thu nhập bình quân đầu người ảnh hưởng đến nhu cầu sử dụng dịch vụ NHTM, bao gồm cả tiền gửi, dẫn đến sự phát triển thêm nhiều sản phẩm dịch vụ Theo nghiên cứu của King và Levine (1993) cùng Jim (2008), sự thay đổi GDP thực tế bình quân đầu người phản ánh sự cải thiện chất lượng cuộc sống Khi cá nhân và doanh nghiệp có xu hướng tích lũy nhiều tiền hơn, lượng tiền gửi tại NHTM cũng sẽ tăng lên, thể hiện mối quan hệ cùng chiều giữa thu nhập và tiền gửi.

Edmister và Merriken (1989) đã chỉ ra rằng lãi suất có ảnh hưởng lớn đến hành vi của người gửi tiền, từ đó hình thành các khối tiền gửi Lãi suất thị trường không chỉ tác động đến số lượng tiền gửi của khách hàng mà còn ảnh hưởng đến dư nợ tín dụng và khả năng trả nợ Khi lãi suất quá cao, số tiền gửi tăng lên nhưng dư nợ tín dụng lại khó tăng trưởng, khiến khách hàng vay phải gánh chịu chi phí lãi suất cao, điều này ảnh hưởng đến khả năng hoàn trả nợ và làm gia tăng rủi ro cho các ngân hàng thương mại.

Lạm phát cao làm mất giá đồng tiền, thay đổi hành vi tiêu dùng và ảnh hưởng đến hoạt động của ngân hàng thương mại Nghiên cứu của Williams và Defris (1981) chỉ ra rằng lạm phát cùng với tỷ lệ thất nghiệp gia tăng sự nhạy cảm của người tiêu dùng, ảnh hưởng đến chi tiêu và tiết kiệm Khi đồng tiền mất giá, người dân có xu hướng dự trữ tài sản bảo toàn giá trị, càng làm tăng áp lực lạm phát và rủi ro tỷ giá cho ngân hàng Hơn nữa, lãi suất thực, được tính bằng lãi suất danh nghĩa trừ đi lạm phát, là yếu tố quyết định đến lượng tiền gửi và kỳ hạn gửi của khách hàng.

Theo nghiên cứu của Deutsche (2012), sự hấp dẫn của việc gửi tiền ngân hàng trong bối cảnh lạm phát gia tăng phụ thuộc vào lãi suất thị trường Khi chênh lệch giữa lãi suất huy động và lạm phát cao, khối lượng tiền gửi sẽ tăng lên Ngược lại, nếu chênh lệch này thấp, việc gửi tiền trở nên kém hấp dẫn và khối tiền gửi ngân hàng chỉ duy trì ở mức tối thiểu cần thiết.

1.2.1.5 Tâm lý, thói quen của khách hàng

Nghiên cứu hành vi tiêu dùng giúp hiểu rõ quá trình quyết định mua hoặc không mua hàng hóa, đặc biệt là trong việc chọn lựa sản phẩm dịch vụ tiền gửi tại ngân hàng thương mại Theo Bennett (1989), hành vi tiêu dùng là sự tương tác giữa các yếu tố ảnh hưởng, nhận thức, hành vi và môi trường, từ đó tác động đến cuộc sống cá nhân Hành vi tiêu dùng của khách hàng đối với sản phẩm tiền gửi thường được giải thích bởi nhiều nhân tố khác nhau.

Thói quen thanh toán khi mua hàng hóa ảnh hưởng trực tiếp đến nguồn vốn huy động của ngân hàng Tại nhiều nước phát triển, việc thanh toán không dùng tiền mặt trở nên phổ biến, với hầu hết cá nhân đều có tài khoản ngân hàng, giúp hoạt động huy động tiền gửi trở nên dễ dàng hơn Ngược lại, ở một số quốc gia, thói quen thanh toán bằng tiền mặt gây khó khăn cho ngân hàng trong việc huy động vốn.

Thói quen tiết kiệm và tiêu dùng ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng gửi tiền vào ngân hàng Nếu người dân tiêu dùng hết thu nhập, họ sẽ không có tiền để tiết kiệm Ở những khu vực mà người dân có thói quen gửi tiết kiệm ngân hàng, ngân hàng dễ dàng huy động vốn hơn so với những nơi mà người dân thường cất trữ tiền mặt, vàng hoặc ngoại tệ.

Thái độ của khách hàng đối với các hoạt động truyền thông và tác động từ người quen có ảnh hưởng lớn đến quyết định gửi tiền, đặc biệt trong thị trường cạnh tranh với nhiều sản phẩm tương đồng Hoạt động truyền thông giúp các ngân hàng thương mại quảng bá hình ảnh, giới thiệu dịch vụ, sản phẩm huy động vốn, chất lượng dịch vụ và các chương trình khuyến mại, từ đó giúp khách hàng hiểu rõ hơn về ngân hàng và lựa chọn sản phẩm dịch vụ phù hợp Ngoài ra, khách hàng thường tham khảo ý kiến từ người thân trước khi đưa ra quyết định, vì vậy yếu tố này được đưa vào mô hình để kiểm định ảnh hưởng của nó đến quyết định của khách hàng.

Mức độ trung thành của khách hàng ảnh hưởng đáng kể đến hoạt động huy động tiền gửi Trong thị trường sản phẩm tiền gửi ngân hàng có ít sự khác biệt, khách hàng trung thành thấp dễ dàng chuyển sang ngân hàng đối thủ nếu có ưu đãi hoặc tiện lợi hơn Ngược lại, những khách hàng trung thành cao ít có xu hướng từ bỏ ngân hàng hiện tại để tìm kiếm lợi ích ngắn hạn.

Sự cần thiết phân tích các nhân tố tác động đến hoạt động huy động tiền gửi tại ngân hàng thương mại

gửi tại ngân hàng thương mại

Mọi hoạt động kinh doanh đều bị ảnh hưởng bởi môi trường xung quanh, bao gồm cả yếu tố bên trong và bên ngoài Hoạt động huy động tiền gửi, một trong những nhiệm vụ quan trọng nhất của ngân hàng thương mại (NHTM), cũng không nằm ngoài quy luật này Trong cơ chế thị trường, để tồn tại và phát triển, các NHTM cần liên tục đưa ra các biện pháp thu hút nguồn tiền gửi lớn Do đó, phân tích các nhân tố tác động đến hoạt động huy động tiền gửi tại NHTM là điều cần thiết.

Sự thay đổi nhu cầu của khách hàng đòi hỏi các ngân hàng thương mại (NHTM) điều chỉnh chiến lược huy động tiền gửi để đáp ứng tốt nhất nhu cầu hiện tại và tương lai Để thành công, NHTM cần dự đoán và thích ứng với sự thay đổi này thông qua việc phát triển sản phẩm và dịch vụ hỗ trợ Bên cạnh đó, sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật cũng đóng vai trò quan trọng, giúp NHTM ứng dụng công nghệ mới vào hoạt động kinh doanh, từ đó phát triển các sản phẩm dịch vụ mới và tạo điều kiện cho sự đổi mới trong huy động tiền gửi.

Sự gia tăng cạnh tranh trong lĩnh vực huy động tiền gửi tại các ngân hàng thương mại (NHTM) đang diễn ra mạnh mẽ, với số lượng NHTM tham gia thị trường ngày càng nhiều Điều này buộc mỗi NHTM phải chú trọng vào việc phát triển các hoạt động huy động tiền gửi một cách hiệu quả để tạo sự khác biệt và nâng cao khả năng cạnh tranh so với các ngân hàng khác.

Ngân hàng thương mại (NHTM) phải đối mặt với hạn chế về khả năng tài chính do quỹ tài chính có giới hạn, không thể phân bổ toàn bộ nguồn lực cho việc phát triển các sản phẩm tiền gửi kém hiệu quả Điều này ảnh hưởng đến tất cả các yếu tố có khả năng tác động đến hoạt động huy động tiền gửi.

Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động huy động tiền gửi là rất quan trọng, giúp giải quyết những khó khăn trong quá trình huy động vốn Những phân tích này cung cấp cái nhìn sâu sắc về thị trường và nhu cầu của khách hàng, từ đó tối ưu hóa chiến lược huy động vốn hiệu quả hơn.

Xác định chính xác các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động huy động tiền gửi là rất quan trọng để hiểu rõ thực trạng của ngân hàng thương mại Điều này giúp xây dựng chính sách đầu tư hiệu quả, tập trung vào lợi thế cạnh tranh, tránh lãng phí vốn và nguồn nhân lực Nhờ đó, năng suất, chất lượng và hiệu quả trong huy động tiền gửi sẽ được cải thiện, đảm bảo sự phát triển bền vững và đóng góp tích cực vào hoạt động kinh doanh của ngân hàng.

Xác định chính xác các nhân tố tác động là yếu tố quan trọng giúp ngân hàng thương mại (NHTM) định lượng quy mô tiền gửi và đánh giá mức độ ổn định trong hoạt động huy động tiền gửi.

Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng và áp dụng kết quả phân tích để tìm ra giải pháp tăng cường các nhân tố tích cực là rất quan trọng nhằm nâng cao khả năng huy động tiền gửi.

Việc nhận định và định lượng chính xác các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động huy động tiền gửi tại ngân hàng thương mại (NHTM) là rất quan trọng Điều này giúp NHTM đánh giá nguyên nhân thay đổi của các khoản tiền gửi, từ đó có biện pháp can thiệp kịp thời nhằm ngăn chặn sự suy giảm, duy trì ổn định và thúc đẩy gia tăng lượng tiền gửi hiện tại.

Các nghiên cứu trên thế giới về các nhân tố tác động đến hoạt động huy động tiền gửi tại ngân hàng thương mại

1.4.1 Nghiên cứu của Bruce C Cohen và George G Kaufman

Bruce và George (1965) đã thu thập dữ liệu từ năm 1951-1961 tại 48 tiểu bang của Mỹ, với mỗi tiểu bang có 100 quan sát, tổng cộng là 480 mẫu Các yếu tố phụ thuộc bao gồm tổng số tiền gửi của các ngân hàng thương mại, tiền gửi thanh toán và tiền gửi tiết kiệm Các yếu tố độc lập trong mô hình gồm số lượng chi nhánh, thu nhập của khách hàng, lãi suất ngân hàng và sự phát triển của thị trường tài chính Nhóm tác giả đã thực hiện phân tích hồi quy để xác định mối quan hệ giữa các yếu tố độc lập và phụ thuộc, từ đó đưa ra các kết luận quan trọng.

Tăng trưởng huy động tiền gửi liên kết chặt chẽ với sự gia tăng số lượng chi nhánh ngân hàng, khi các chi nhánh mới thu hút tiền gửi từ cá nhân và doanh nghiệp trong khu vực Nếu không có chi nhánh, lượng tiền gửi có thể chuyển ra ngoài khu vực hoặc thoát khỏi hệ thống ngân hàng Ngoài ra, các tiểu bang cho phép mở rộng số lượng chi nhánh ngân hàng nhanh chóng có tốc độ tăng trưởng huy động tiền gửi cao hơn so với những tiểu bang áp dụng chính sách hạn chế, từ đó thúc đẩy sự gia tăng số lượng ngân hàng và chi nhánh.

Lợi nhuận cao từ gửi tiền sẽ thu hút nhiều khoản tiền gửi vào ngân hàng, dẫn đến sự phát triển nhanh chóng ở những tiểu bang có mức lợi nhuận cao hơn cho khách hàng Ngược lại, những tiểu bang có lợi nhuận thấp hơn sẽ không thu hút được số lượng tiền gửi tương ứng.

Thu nhập của khách hàng gửi tiền có tác động tích cực đến việc huy động tiền gửi tại ngân hàng Khi thu nhập tăng, lượng tiền gửi tại ngân hàng cũng gia tăng, nhờ vào việc xã hội có khả năng tiết kiệm, tích lũy và đầu tư nhiều hơn.

1.4.2 Nghiên cứu của Herald Finger và Heiko Hesse

Herald Finger và Heiko Hesse (2009) đã tiến hành phân tích cầu tiền gửi tại các ngân hàng thương mại ở Lebanon, sử dụng dữ liệu theo quý từ năm 1993 đến 2008 tại 50 ngân hàng Trong nghiên cứu, các tác giả phân loại các yếu tố thành hai nhóm chính: nhân tố vĩ mô và vi mô Đối với nhân tố vĩ mô, họ nhận định rằng các yếu tố nội địa như hoạt động kinh tế, giá cả và chênh lệch lãi suất giữa đồng bảng Lebanon và USD có vai trò quan trọng trong việc giải thích cầu tiền gửi, bên cạnh các yếu tố ngoại vi như điều kiện kinh tế tại vùng Vịnh và tài sản sẵn có từ các quỹ trong khu vực Về nhân tố vi mô, nghiên cứu chỉ ra rằng các yếu tố cụ thể của ngân hàng như mức độ rủi ro (z-score), thanh khoản, khả năng tiếp cận vay, lãi suất và lợi nhuận có ảnh hưởng đáng kể đến sự tăng trưởng huy động tiền gửi của các ngân hàng thương mại.

Tác giả đã tiến hành phỏng vấn các nhà quản lý và nhân viên của ngân hàng thương mại tại Ethiopia, đồng thời thực hiện phân tích định lượng dựa trên dữ liệu từ năm 2000 đến nay.

Năm 2011, nghiên cứu đã được thực hiện để phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động huy động tiền gửi ngân hàng Qua phương pháp phỏng vấn bảng câu hỏi, tác giả đã tổng hợp thông tin từ các nhà quản lý trong ngành, cung cấp cái nhìn sâu sắc về các yếu tố quyết định trong việc thu hút tiền gửi.

Chất lượng dịch vụ và thái độ phục vụ của ngân hàng đóng vai trò quan trọng trong việc thu hút người gửi tiền Hệ thống chi nhánh mở rộng cùng với nỗ lực quảng cáo và tăng cường nhận thức xã hội về hoạt động ngân hàng cũng như các chương trình khuyến mại, phát hành phiếu giảm giá là những chiến lược hiệu quả mà ngân hàng áp dụng để thu hút khách hàng.

Khối lượng tiền gửi tại ngân hàng thương mại (NHTM) chịu ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố quan trọng Đầu tiên, môi trường kinh tế có vai trò quyết định, ảnh hưởng đến sự ổn định và phát triển của hệ thống ngân hàng Thứ hai, khối lượng giao dịch kinh tế trong nước tác động trực tiếp đến nhu cầu gửi tiền Niềm tin vào hệ thống NHTM cũng là một yếu tố then chốt, quyết định sự sẵn lòng của người dân trong việc gửi tiền Cuối cùng, thói quen giao dịch ngân hàng của người dân cũng góp phần quan trọng vào khối lượng tiền gửi.

Sự thay đổi khối lượng tiền gửi tại ngân hàng thương mại (NHTM) chịu ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố, bao gồm sự tiện nghi của điểm giao dịch, giao thông và nhận thức xã hội về việc gửi tiền Tác giả đã áp dụng kỹ thuật hồi quy đa biến để phân tích mối quan hệ giữa quy mô tiền gửi và các yếu tố như lãi suất huy động, tỷ lệ lạm phát và số lượng chi nhánh NHTM Kết quả cho thấy, số lượng chi nhánh có tác động tích cực và đáng kể đến tổng số tiền gửi tại NHTM ở Ethiopia, trong khi tỷ lệ lạm phát và lãi suất huy động có tác động tích cực nhưng không đáng kể.

1.4.4 Một số nghiên cứu trong nước

Nghiên cứu của Lưu Thị Quỳnh Nga (2011) về hiệu quả huy động nguồn vốn tiền gửi tại Ngân hàng TMCP Xuất Nhập Khẩu Việt Nam đã chỉ ra rằng có nhiều nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động này Các nhân tố chủ quan bao gồm lãi suất, chất lượng dịch vụ, tiện ích và sự đa dạng của sản phẩm, thời gian giao dịch, chính sách khách hàng, uy tín và năng lực tài chính của ngân hàng, cùng với cơ sở vật chất và đội ngũ nhân sự Bên cạnh đó, các yếu tố khách quan như năng lực tài chính, thu nhập và thói quen sử dụng tiền mặt của người dân, tính cạnh tranh trong hệ thống ngân hàng, cũng như chính sách tiền tệ của ngân hàng trung ương cũng đóng vai trò quan trọng.

Luận văn của Nguyễn Văn Huy (2014) tại ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Chi nhánh Đăk Lăk đã bổ sung các nhân tố chủ quan như mục tiêu, chiến lược huy động tiền gửi, chính sách khách hàng và marketing Đồng thời, luận văn cũng mở rộng các nhân tố khách quan bằng cách thêm vào các yếu tố kinh tế xã hội và pháp lý.

Các nghiên cứu tại Việt Nam chủ yếu tập trung vào tác động của các nhân tố chủ quan và khách quan trong lĩnh vực ngân hàng Việc lựa chọn các nhân tố ảnh hưởng thường dựa vào cơ sở nghiên cứu quốc tế và tình hình thu thập thông tin của tác giả Đáng chú ý, nhiều nghiên cứu phân tích các nhân tố chủ quan như sản phẩm, uy tín ngân hàng, cơ sở vật chất, mạng lưới giao dịch và đội ngũ nhân viên Bên cạnh đó, các nhân tố khách quan như chính sách nhà nước, thói quen khách hàng, và các yếu tố kinh tế xã hội, pháp lý cũng được xem xét.

Bài học kinh nghiệm trên thế giới nâng cao hoạt động huy động tiền gửi

Sự phát triển của công nghệ thông tin và hạ tầng viễn thông hiện đại đã thúc đẩy hệ thống ngân hàng di động tại Nhật Bản, mang lại lợi nhuận đáng kể cho ngân hàng nhờ vào tiện ích về thời gian và chi phí cho khách hàng Các ngân hàng Việt Nam đã học hỏi kinh nghiệm từ Nhật Bản để xây dựng hệ thống internet banking và mobile banking Tuy nhiên, để phát triển thành công các sản phẩm tiền gửi qua kênh phân phối hiện đại, ngân hàng cần đầu tư lớn và nhận được hỗ trợ từ hạ tầng kỹ thuật và công nghệ thông tin của quốc gia.

Mô hình hệ thống chuyển mạch tập trung đã thành công rực rỡ tại Nhật Bản, giúp liên kết các giao dịch thanh toán, thẻ và chuyển tiền giữa các thành viên, mang lại tiện ích vượt trội về thời gian và chi phí cho khách hàng Điều này khuyến khích khách hàng duy trì số dư tài khoản thay vì sử dụng tiền mặt cho các giao dịch hàng ngày Tại Việt Nam, Banknetvn và Paynet được thành lập với sự góp vốn của nhiều ngân hàng nhằm xây dựng hệ thống chuyển mạch tài chính quốc gia, kết nối hệ thống thanh toán thẻ và xử lý bù trừ thanh toán thẻ giữa các ngân hàng.

Dựa trên kinh nghiệm từ tập đoàn Ngân hàng Sumitomo Mitsui (SMBC) của Nhật Bản, các ngân hàng thương mại Việt Nam cần không ngừng mở rộng thị phần bằng cách khai thác các lĩnh vực tiềm năng chưa được phát triển Việc phát triển các dịch vụ tài chính ngân hàng bán lẻ sẽ giúp gia tăng số lượng khách hàng và tài khoản, từ đó tăng cường nguồn vốn huy động bên cạnh mục tiêu kinh doanh chính.

1.5.2 Kinh nghiệm của Ngân hàng Autralia (ANZ Bank)

Giai đoạn 2001-2004 là thời kỳ khó khăn cho ngành ngân hàng toàn cầu, khi suy giảm kinh tế, áp lực cạnh tranh và giá cả không ổn định đã ảnh hưởng tiêu cực đến hoạt động kinh doanh Sự giảm lãi suất trên toàn thế giới để kiểm soát suy thoái kinh tế đã tác động lớn đến khả năng huy động vốn của ANZ Bank và hệ thống ngân hàng Để đối phó, ANZ Bank đã đa dạng hóa hình thức huy động vốn và phát triển nhiều tiện ích cho khách hàng gửi tiền Ngân hàng này cũng không ngừng nghiên cứu và đưa ra các sản phẩm dịch vụ mới, góp phần củng cố vị thế vững chắc hiện tại Bài học từ ANZ Bank cho thấy rằng ngân hàng nào có chiến lược đúng đắn và biết tận dụng cơ hội sẽ đứng vững và phát triển Để gia tăng thị phần huy động tiền gửi, các ngân hàng cần nhận diện hạn chế và lợi thế cạnh tranh, cải thiện và đổi mới liên tục, đồng thời dự đoán nhu cầu thị trường để phát triển sản phẩm đáp ứng yêu cầu ngày càng cao Sự linh hoạt và khả năng thích nghi với biến động thị trường là điều cần thiết cho sự tồn tại và phát triển của các ngân hàng.

Chương 1 đã trình bày những vấn đề tổng quan về hoạt động huy động tiền gửi tại NHTM và trình bày kết quả nghiên cứu về các nhân tố tác động đến hoạt động huy động tiền gửi tại NHTM Trên cơ sở đó tạo tiền đề phục vụ đánh giá, phân tích hoạt động huy động tiền gửi và phân tích, định lượng các nhân tố tác động đến hoạt động huy động tiền gửi tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Công Thương Việt Nam - Khu vực TP.HCM tại chương 2.

PHÂN TÍCH CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN HOẠT ĐỘNG

Giới thiệu các chi nhánh Ngân hàng Thương mại cổ phần Công Thương Việt Nam - Khu vực TP.HCM

2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển

Ngân hàng Thương mại cổ phần Công Thương Việt Nam, được thành lập vào năm 1988 sau khi tách ra từ Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, là một trong những ngân hàng thương mại lớn và đóng vai trò quan trọng trong ngành ngân hàng Việt Nam.

Ngày 22/04/1999, Ngân hàng Thương mại cổ phần Công Thương Việt Nam đã thành lập Văn phòng Đại diện tại TP.HCM theo quyết định số 46/QĐ-HĐQT-NHCT1 của Chủ tịch Hội đồng quản trị Vietinbank, nhằm mở rộng dịch vụ và phục vụ khách hàng tại khu vực miền Nam.

Hệ thống mạng lưới Ngân hàng Thương mại cổ phần Công Thương Việt Nam

- Khu vực TP.HCM trải rộng gần như toàn bộ các quận huyện TP.HCM bao gồm 21 chi nhánh và 92 PGD trực thuộc quản lý (Phụ lục 1)

2.1.2 Lĩnh vực hoạt động kinh doanh

Ngân hàng Thương mại cổ phần Công Thương Việt Nam - Khu vực TP.HCM hoạt động chủ yếu tại các lĩnh vực sau:

Huy động vốn ngắn, trung và dài hạn thông qua các hình thức như tiền gửi tiết kiệm, tiền gửi thanh toán và chứng chỉ tiền gửi Đồng thời, tiếp nhận vốn ủy thác đầu tư và nhận vốn từ các tổ chức tín dụng trong và ngoài nước cũng là những phương thức quan trọng.

Chúng tôi cung cấp dịch vụ cho vay ngắn, trung và dài hạn, chiết khấu thương phiếu, công trái cùng các giấy tờ có giá Ngoài ra, chúng tôi đầu tư vào chứng khoán và các doanh nghiệp, đồng thời thực hiện bảo lãnh để hỗ trợ khách hàng tối ưu hóa nguồn vốn.

– Phát hành và thanh toán thẻ tín dụng, thẻ ghi nợ

– Dịch vụ thanh toán giữa các khách hàng trong nước; thanh toán quốc tế;

Các hoạt động liên quan bao gồm khai thác bảo hiểm, tư vấn đầu tư tài chính, cho thuê tài chính, kinh doanh chứng khoán, cũng như quản lý và khai thác tài sản nợ.

2.1.3 Kết quả hoạt động kinh doanh

Bảng 2.1: Kết quả hoạt động kinh doanh của Vietinbank - Khu vực TP.HCM giai đoạn 2010-2014 Đơn vị tính: tỷ đồng

(Nguồn: Báo cáo nội bộ của Vietinbank năm 2010 – 2014)

Tình hình kinh doanh của Vietinbank tại TP.HCM giai đoạn 2010 - 2014 cho thấy sự tăng trưởng ổn định và hiệu quả Các chỉ tiêu như tổng tài sản, vốn huy động và dư nợ tín dụng đều ghi nhận mức tăng trưởng tích cực.

Hoạt động huy động vốn tại Vietinbank - Khu vực TP.HCM đã ghi nhận sự tăng trưởng nhanh chóng qua các năm, từ hơn 61 ngàn tỷ đồng năm 2010 lên 104 ngàn tỷ đồng năm 2014, với tốc độ tăng trưởng hàng năm vượt 2 con số Cụ thể, năm 2011 tăng 20.66%, năm 2012 tăng 12.52%, năm 2013 đạt mức tăng trưởng 24.57% so với năm trước, và năm 2014 tăng 13.30% so với năm 2013 Nguyên nhân chủ yếu đến từ các giải pháp huy động vốn hiệu quả, đặc biệt là trong việc huy động tiền gửi và điều chỉnh cơ cấu nguồn vốn tích cực, nhằm duy trì sự ổn định trong tốc độ tăng trưởng nguồn vốn theo kế hoạch hàng năm.

Hoạt động tín dụng tại Vietinbank - Khu vực TP.HCM đang phát triển với mục tiêu ổn định và an toàn, đồng thời kiểm soát chất lượng nợ Mặc dù quy mô và dư nợ tín dụng tăng qua các năm, tốc độ tăng trưởng lại không ổn định và có xu hướng chậm lại Năm 2011 đánh dấu sự bùng nổ trong tăng trưởng tín dụng với mức tăng vượt 24 ngàn tỷ đồng, tương đương với tỷ lệ 28.87%.

Từ năm 2012 đến 2013, tốc độ tăng trưởng tín dụng của Vietinbank - Khu vực TP.HCM chỉ đạt 5.62% và 3.08% Tuy nhiên, năm 2014, nhờ kiểm soát hiệu quả tình trạng nợ xấu, Vietinbank đã thúc đẩy chính sách tín dụng, đạt tốc độ tăng trưởng 15.60% Tỷ lệ nợ xấu của ngân hàng này thấp hơn so với các khu vực khác và toàn hệ thống, với tỷ lệ nợ xấu năm 2010 chỉ 0.05%, tăng lên 1.32% vào năm 2012 và giảm xuống 0.89% vào năm 2014 Mặc dù tỷ lệ nợ xấu đã cải thiện, giá trị dư nợ xấu vẫn còn cao, do đó ngân hàng cần tập trung vào việc thu hồi nợ và bán nợ xấu cho VAMC, đặc biệt tại các chi nhánh có tỷ lệ nợ xấu cao.

Khách hàng tại TP.HCM ngày càng tăng cường sử dụng dịch vụ ngân hàng, dẫn đến Vietinbank khu vực này đã nâng cao hiệu quả hoạt động dịch vụ Nguồn thu từ phí dịch vụ đã có sự tăng trưởng đáng kể, từ 223 tỷ đồng năm 2010 lên 598 tỷ đồng vào cuối năm 2014, tức là tăng 2.6 lần Trong đó, phí dịch vụ thanh toán chiếm 51% tổng thu phí dịch vụ với 300.4 tỷ đồng, và ngân quỹ cùng bảo lãnh đạt 98 tỷ đồng, chiếm 16.5% tổng thu phí dịch vụ.

Lợi nhuận trước thuế của Vietinbank tại TP.HCM đã trải qua sự tăng trưởng không ổn định Năm 2011, lợi nhuận trước thuế tăng 81% so với năm 2010 nhờ vào hoạt động huy động tiền gửi và tín dụng Tuy nhiên, vào năm 2013 và 2014, do suy thoái kinh tế và cạnh tranh gay gắt giữa các ngân hàng thương mại, Vietinbank đã phải tăng trích lập dự phòng rủi ro nợ xấu, dẫn đến lợi nhuận trước thuế giảm 5.86% vào năm 2013 và 7.7% vào năm 2014 Dù gặp khó khăn, Vietinbank tại TP.HCM vẫn duy trì lợi nhuận dương và mức giảm không đáng kể so với năm trước, cho thấy kết quả kinh doanh khả quan hơn so với các ngân hàng thương mại khác trong khu vực.

Vietinbank - Khu vực TP.HCM không chỉ tập trung vào mục tiêu tăng trưởng quy mô và sinh lợi hàng năm, mà còn chú trọng đến việc quản trị rủi ro và kiểm soát nội bộ để giảm thiểu các rủi ro phát sinh trong hoạt động Hằng năm, ngân hàng thực hiện rà soát và kiểm tra mức độ tuân thủ quy định cũng như kiểm soát rủi ro theo tiêu chuẩn Là một trong những đơn vị tiên phong, Vietinbank đã thành công trong việc chuyển đổi mô hình tín dụng quản lý rủi ro từ chiều ngang sang chiều dọc, giúp tập trung hóa công tác thẩm định và hạn chế rủi ro Ngân hàng cũng chú trọng nâng cao phân tích và cảnh báo rủi ro sớm để định hướng tín dụng một cách phù hợp, nhằm giảm thiểu rủi ro từ các yếu tố bất lợi bên ngoài.

Thực trạng hoạt động huy động tiền gửi tại các chi nhánh Ngân hàng thương mại cổ phần Công Thương Việt Nam - Khu vực TP.HCM

2.2.1 Tổ chức hoạt động huy động tiền gửi

Tổ chức hoạt động huy động tiền gửi tại Vietinbank – Khu vực TP.HCM được thực hiện theo trình tự như sau:

Xây dựng kế hoạch nguồn vốn, bao gồm cả nguồn vốn từ hoạt động huy động tiền gửi, cần dựa trên cơ cấu và quy mô tài sản của ngân hàng, đồng thời phù hợp với khả năng quản lý Quá trình này được thực hiện cả trong dài hạn và ngắn hạn, với việc định kỳ xem xét và điều chỉnh để đảm bảo tính hiệu quả.

Xây dựng một bộ máy điều hành hiệu quả cho nguồn vốn là cần thiết, bao gồm việc phân tích và đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch huy động tiền gửi Đồng thời, cần theo dõi lãi suất thực hiện và tính toán chênh lệch giữa lãi suất đầu ra và đầu vào để đảm bảo sự ổn định và phát triển bền vững.

Quản lý rủi ro thanh khoản và rủi ro lãi suất là rất quan trọng trong hoạt động huy động tiền gửi Để tối ưu hóa quy trình này, cần sử dụng công cụ giá mua bán vốn nội bộ (FTP) Bắt đầu từ ngày 02 tháng 4 năm, việc áp dụng chiến lược này sẽ giúp cải thiện hiệu quả trong việc quản lý tài chính và nâng cao khả năng cạnh tranh trên thị trường.

Năm 2011, Ngân hàng đã triển khai hệ thống định giá điều chuyển vốn nội bộ FTP theo tiêu chuẩn quốc tế, chi tiết hóa giao dịch mua bán vốn Đến năm 2013, Ngân hàng hoàn thành giai đoạn 2 của hệ thống FTP, nâng cao quản lý nguồn vốn và lãi suất, đồng thời hoàn tất dự án xây dựng hệ thống ALM giai đoạn 2 để quản lý tài sản nợ - có, cung cấp dữ liệu chuẩn hóa và công cụ đo lường cho quản lý rủi ro thanh khoản và lãi suất Trụ sở chính có thể điều chỉnh giá mua bán vốn tùy theo định hướng hoạt động và diễn biến thị trường, nhằm hỗ trợ các đơn vị kinh doanh xác định lãi suất huy động cho từng giao dịch Các chi nhánh cũng chủ động xác định lãi suất huy động tiền gửi theo từng kỳ hạn và đối tượng cụ thể, nhưng phải tuân thủ quy định về trần lãi suất của NHNN và Vietinbank trong từng thời kỳ.

Sản phẩm huy động tiền gửi tại Vietinbank được tiếp thị chủ yếu qua giao dịch viên, nhân viên ngân quỹ và nhân viên phòng bán lẻ Ngân hàng cũng khuyến khích nhân viên ở các phòng khác như hành chính – tổ chức và tổng hợp tham gia tiếp thị sản phẩm thông qua các chương trình thi đua hàng quý, tuy nhiên, kết quả đạt được vẫn chưa đáng kể.

Quy trình giao dịch tại Vietinbank được thống nhất trên toàn hệ thống nhằm giảm thiểu rủi ro trong việc mở tài khoản tiền gửi có kỳ hạn và tiền tiết kiệm Ban giám đốc chi nhánh và trưởng PGD được phân quyền ký trên sổ tiền gửi, trong khi kiểm soát viên không được phân quyền thực hiện Điều này dẫn đến thời gian huy động và chi trả tiền gửi cho khách hàng kéo dài, làm cho quy trình trở nên phức tạp hơn so với các ngân hàng thương mại khác tại TP.HCM.

2.2.2 Các loại sản phẩm tiền gửi Đa dạng hóa sản phẩm và phát triển sản phẩm mới để đáp ứng nhu cầu ngày càng đa dạng của khách hàng đã trở thành yêu cầu cấp thiết Các sản phẩm tiền gửi của Vietinbank - Khu vực TP.HCM thực hiện triển khai theo chính sách, sản phẩm do Trụ sở chính thiết kế, quản lý Tuy nhiên, Vietinbank – Khu vực TP.HCM chỉ tập trung phát triển ở lĩnh vực dịch vụ kèm theo hơn là phát triển mới sản phẩm huy động tiền gửi Do đó, các sản phẩm tiền gửi tại Vietinbank – Khu vực TP.HCM còn khá đơn điệu, chưa có sự khác biệt lớn so với sản phẩm của các NHTM khác tại TP.HCM Ngoài các sản phẩm tiền gửi đã được xây dựng theo tiêu chuẩn truyền thống như trên thế giới, Vietinbank cũng thiết kế và đưa vào sử dụng một số sản phẩm tiền gửi có cải tiến so với sản phẩm truyền thống

Các sản phẩm tiền gửi truyền thống tại Vietinbank – Khu vực TP.HCM bao gồm:

Khách hàng cá nhân có thể lựa chọn nhiều loại tiền gửi, bao gồm tiền gửi thanh toán, tiền gửi không kỳ hạn và tiền gửi có kỳ hạn Tiền gửi không kỳ hạn gồm tiết kiệm không kỳ hạn thông thường và tiết kiệm không kỳ hạn lãi suất bậc thang theo số dư Tiền gửi có kỳ hạn bao gồm tiết kiệm có kỳ hạn thông thường, tiết kiệm có kỳ hạn lãi suất bậc thang theo số dư, và các sản phẩm tiết kiệm linh hoạt, tích lũy đa năng Đặc biệt, có các loại tiền gửi như tiền gửi kết hợp, tiền gửi ưu đãi tỷ giá và tài khoản du học Đức Tuy nhiên, theo Quyết định số 2173/QĐ-NHNN có hiệu lực từ 29/10/2014, lãi suất tiết kiệm không kỳ hạn và có kỳ hạn dưới 1 tháng được quy định trần là 1%/năm Do lãi suất có xu hướng giảm liên tục, ngân hàng đã yêu cầu tạm ngưng sản phẩm tiền gửi không kỳ hạn lãi suất bậc thang.

Khách hàng doanh nghiệp có thể sử dụng các sản phẩm tiền gửi đa dạng, bao gồm tiền gửi thanh toán và tiền gửi có kỳ hạn Các loại tiền gửi có kỳ hạn này bao gồm tiền gửi đầu tư đa năng, tiền gửi kết hợp và tiền gửi đầu tư linh hoạt (Phụ lục 2).

Vietinbank đã phát triển các sản phẩm tiền gửi phù hợp với nhu cầu đa dạng của khách hàng, bao gồm bảo hiểm, đầu tư ngắn hạn và đảm bảo tỷ giá Các sản phẩm đặc thù như tiết kiệm tích lũy cho con cái, tài khoản du học Đức và tiền gửi ưu đãi tỷ giá đáp ứng nhu cầu của người Việt Nam ở nước ngoài Đặc biệt, với sự gia tăng rủi ro nợ do biến động tỷ giá tại TP.HCM, sản phẩm bảo hiểm tỷ giá đã trở thành giải pháp thiết thực cho khách hàng Ngoài ra, các sản phẩm tiền gửi đầu tư đa năng, kết hợp và linh hoạt cũng hỗ trợ doanh nghiệp trong việc quản lý vốn nhàn rỗi hiệu quả.

Mặc dù các sản phẩm tiền gửi mang lại nhiều lợi ích, nhưng vẫn còn nhiều hạn chế như kỳ hạn sản phẩm bị giới hạn, đối tượng sử dụng không đa dạng, và yêu cầu mức tiền gửi tối thiểu Ngoài ra, loại tiền gửi hiện tại chỉ áp dụng cho VNĐ, USD và EUR, chưa mở rộng sang các loại tiền tệ khác Lãi suất huy động giảm theo quy định của NHNN đã làm cho một số sản phẩm không đạt hiệu quả như mong đợi, đặc biệt là những sản phẩm có lãi suất cao Do đó, nhiều sản phẩm chỉ được thiết kế mà thiếu hiệu quả tiếp thị, dẫn đến việc không được khách hàng đón nhận như kỳ vọng.

2.2.3 Thực trạng hoạt động huy động tiền gửi tại các chi nhánh Ngân hàng Thương mại cổ phần Công Thương Việt Nam - Khu vực TP.HCM

2.2.3.1 Tình hình hoạt động huy động tiền gửi

Bảng 2.2: Huy động tiền gửi tại Vietinbank - Khu vực TP.HCM giai đoạn 2010-2014 Đơn vị tính: tỷ đồng

Huy động tiền gửi 61,775 74,539 83,872 104,481 118,770 Tổng huy động tiền gửi/Dư nợ tín dụng 75.36% 70.56% 75.17% 90.84% 67.00%

Tổng huy động tiền gửi Khu vực/toàn hệ thống 30.01% 28.9% 29.1% 28.7% 28.00%

Lãi suất huy động tiền gửi bình quân 12.44% 14.00% 7.90% 7.00% 6.00%

(Nguồn: Phòng vốn Vietinbank - Khu vực phía Nam)

Huy động tiền gửi tại Vietinbank khu vực TP.HCM đã tăng trưởng liên tục qua các năm, từ 61 ngàn tỷ đồng vào năm 2010 lên 118 ngàn tỷ đồng trong năm gần nhất.

2014, đặc biệt gia tăng mạnh nhất vào năm 2013 và năm 2014 với mức tăng trưởng đến 19.61% và 13.68%

Tại TP.HCM, quy mô huy động tiền gửi của khách hàng chiếm khoảng 30% tổng huy động của toàn hệ thống, với tốc độ tăng trưởng hàng năm luôn trên 10% Hoạt động huy động vốn tại Vietinbank khu vực này đáp ứng hơn 70% nhu cầu tín dụng, đặc biệt trong năm 2014, con số này đạt 67% Sự gia tăng huy động tiền gửi trong năm 2014 thấp hơn so với nhu cầu cho vay, trong khi lãi suất cho vay lại có nhiều ưu đãi, dẫn đến nhu cầu tín dụng tăng mạnh.

Khu vực TP.HCM là một trong những trọng điểm của Vietinbank, với tổng huy động tiền gửi chiếm khoảng 30% tổng huy động của ngân hàng Mặc dù tỷ trọng này có giảm do sự gia tăng huy động tại các khu vực mới, nhưng giá trị tuyệt đối vẫn đạt chỉ tiêu kế hoạch Lãi suất huy động tiền gửi bình quân tại Vietinbank - Khu vực TP.HCM ổn định và thấp hơn từ 0.2% đến 0.5% so với các ngân hàng khác Sau đỉnh điểm lãi suất huy động vào đầu năm 2011, lãi suất này có xu hướng giảm trong những năm tiếp theo.

Lãi suất huy động của Vietinbank tại TP.HCM cao hơn mức trung bình toàn hệ thống nhưng vẫn thuộc nhóm ngân hàng có lãi suất thấp trong khu vực Điều này được lý giải bởi TP.HCM là thành phố lớn với dân số đông, kinh tế phát triển và thu nhập cao, tạo điều kiện thuận lợi cho huy động vốn Hệ thống chi nhánh của Vietinbank tại đây cũng rất rộng lớn, với 21 chi nhánh và 92 PGD, chỉ đứng sau Hà Nội, giúp khách hàng dễ dàng tiếp cận và thực hiện giao dịch gửi tiền.

2.2.3.2 Phân tích cơ cấu tiền gửi

 Cơ cấu tiền gửi theo đối tượng

Bảng 2.3: Cơ cấu tiền gửi theo đối tuợng tại Vietinbank - Khu vực TP.HCM giai đoạn 2010 - 2014 Đơn vị tính: tỷ đồng

Năm Đối tượng 2010 2011 2012 2013 Tỷ trọng 2014 Tỷ trọng

Tổ chức (không bao gồm TCTD) 29,921 35,673 38,655 47,812 45.76% 54,022 44.46% Tổng cộng 61,775 74,539 83,872 104,481 100.00% 121,497 100.00%

(Nguồn: Phòng vốn Vietinbank - Khu vực phía Nam)

Các nhân tố tác động đến hoạt động huy động tiền gửi tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Công Thương Việt Nam - Khu vực TP.HCM

2.3.1.1 Môi trường chính trị - xã hội

Việt Nam, với môi trường kinh tế chính trị ổn định, là điểm đến hấp dẫn cho các nhà đầu tư nước ngoài Thành phố Hồ Chí Minh nổi bật với an ninh trật tự ổn định và môi trường cạnh tranh lành mạnh, tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp hoạt động Sự yên tâm của người dân khi gửi tiền vào ngân hàng không chỉ củng cố niềm tin vào hoạt động kinh doanh mà còn giúp ngân hàng phát triển mạnh mẽ trong cho vay, thu hồi nợ và huy động vốn.

Các chi nhánh của Vietinbank tại TP.HCM đều nằm ở vị trí trung tâm các quận, huyện, tạo lợi thế lớn cho việc quảng bá thương hiệu và thu hút khách hàng Điều này cũng giúp Vietinbank nắm bắt thông tin từ khách hàng nhanh chóng và điều chỉnh chính sách kịp thời.

2.3.1.2 Chính sách quản lý hoạt động huy động tiền gửi

Từ ngày 04/11/2010, NHNN đã áp dụng lãi suất thoả thuận để đáp ứng nhu cầu thị trường, tuy nhiên, tình trạng khan hiếm vốn của các NHTM diễn ra, dẫn đến lạm phát và cuộc chạy đua lãi suất từ 2010 đến 2012 Đến năm 2013, NHNN yêu cầu các NHTM tuân thủ lãi suất trần cho các kỳ hạn tiền gửi ngắn hạn dưới 6 tháng nhằm hỗ trợ doanh nghiệp và cá nhân vay vốn với lãi suất cao Hành động này đã khiến NHTM mất khách hàng do họ chuyển sang đầu tư vào các kênh hiệu quả hơn như bất động sản và chứng khoán Một số ngân hàng nhỏ tại TP.HCM thường xuyên vượt trần lãi suất huy động, đặc biệt vào cuối tháng, quý và năm, gây khó khăn cho Vietinbank trong việc huy động vốn, đặc biệt là với kỳ hạn dưới 6 tháng Đồng thời, Đề án thanh toán không dùng tiền mặt và Chỉ thị 20/2007/CT-TTg đã thúc đẩy việc trả lương qua tài khoản ngân hàng cho cán bộ công chức, từ đó tạo cơ hội gia tăng nguồn vốn giá rẻ cho NHTM Từ ngày 01/01/2008, việc chi trả lương qua tài khoản đã được triển khai, và đến năm 2011, gần 100% cán bộ công chức tại TP.HCM đã nhận lương qua tài khoản ngân hàng, tạo ra sự cạnh tranh giữa các ngân hàng để thu hút khách hàng này.

Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam được thành lập vào năm 2000 và chính thức có hiệu lực từ 01/01/2013 với hạn mức chi trả 50 triệu đồng cho mỗi người gửi tại một tổ chức tham gia Các ngân hàng thương mại, bao gồm Vietinbank tại TP.HCM, tuân thủ nghiêm ngặt quy định này, tạo ra hành lang an toàn nhằm nâng cao niềm tin của người gửi tiền Tuy nhiên, hạn mức hiện tại vẫn được đánh giá là quá thấp, chưa đáp ứng đủ nhu cầu của xã hội.

2.3.1.3 Dân cư và trình độ dân trí

Hiện nay, TP.HCM có 19 quận nội thành và 5 huyện ngoại thành với tổng dân số khoảng 8 triệu người, trong đó khu vực thành thị chiếm 82,5% Tỷ lệ tăng dân số cơ học đạt 15,42% và tỷ lệ tăng dân số tự nhiên là 10,04% Mật độ dân cư tại TP.HCM cao hơn so với các tỉnh khác, với nhiều khu chế xuất và công nghiệp Đặc biệt, phần lớn dân cư trí thức tại đây có tài khoản ngân hàng, nhiều người sở hữu nhiều tài khoản và thường xuyên giao dịch Điều này khiến TP.HCM trở thành một trong những thị trường ngân hàng lớn nhất cả nước, cung cấp nguồn vốn nhàn rỗi cho nền kinh tế thông qua tiết kiệm, đầu tư bất động sản và chứng khoán Vietinbank tại TP.HCM có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển các dịch vụ ngân hàng và huy động vốn.

Trong giai đoạn đầu của việc mở cửa và cải cách hệ thống ngân hàng, người dân TP.HCM chưa quen và thiếu niềm tin vào ngân hàng, dẫn đến thói quen cất giữ tiền và vàng tại nhà Tuy nhiên, hiện nay, trình độ tri thức của cư dân đã có sự tiến bộ rõ rệt, với nhiều hiểu biết về các sản phẩm dịch vụ ngân hàng, bao gồm cả hoạt động huy động tiền gửi Điều này đã hỗ trợ ngân hàng trong việc tiếp thị và giới thiệu các sản phẩm tiền gửi đến công chúng Người dân TP.HCM giờ đây không chỉ cất trữ tiền mặt tại nhà mà còn tìm hiểu thông tin về các sản phẩm tiền gửi ngân hàng, nhằm đảm bảo an toàn và sinh lợi cho khoản tiền tích lũy của mình.

TP.HCM, trung tâm kinh tế tài chính của Việt Nam, đã phát triển nhanh chóng với tốc độ tăng trưởng GDP bình quân hàng năm đạt 10% và thu nhập bình quân đầu người cao nhất cả nước Tính đến cuối năm 2014, thành phố có 41 khu chế xuất, khu công nghiệp và công viên phần mềm, thu hút hàng trăm tỷ USD vốn đầu tư trong và ngoài nước, đóng góp đáng kể vào ngân sách nhà nước.

Cơ cấu kinh tế TP.HCM bao gồm khu vực nhà nước chiếm 33,3%, khu vực ngoài quốc doanh chiếm 44,6%, và phần còn lại là khu vực có vốn đầu tư nước ngoài Trong các ngành kinh tế, dịch vụ chiếm tỷ trọng cao nhất với 51,1%, tiếp theo là công nghiệp và xây dựng với 47,7%, trong khi nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản chỉ chiếm 1,2% Tổng sản phẩm trong nước (GDP) của TP.HCM năm 2013 tăng 9,3% so với năm trước, vượt mức tăng 9,2% của năm 2012 Đặc biệt, năm 2014, tốc độ tăng trưởng kinh tế TP.HCM trong quý sau đạt 852.523 tỷ đồng, tương đương mức tăng trưởng 9,6%, cao hơn cả mức tăng trưởng của năm 2013.

Theo số liệu thống kê từ năm 2012 đến 2014, TP.HCM ghi nhận tốc độ phát triển GDP tăng trưởng ổn định cùng với thu nhập bình quân đầu người cao Điều này tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động huy động vốn và phát triển tín dụng ngân hàng, đặc biệt là mối quan hệ huy động tiền gửi giữa cá nhân, doanh nghiệp và các ngân hàng thương mại, trong đó có Vietinbank tại khu vực TP.HCM.

Theo thống kê, TP.HCM có tốc độ phát triển GDP cao và thu nhập bình quân đầu người dẫn đầu cả nước, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động huy động vốn và tín dụng ngân hàng Các ngân hàng thương mại tại TP.HCM đóng vai trò quan trọng trong việc kết nối các khoản tiền nhàn rỗi trong nền kinh tế, đặc biệt là từ các doanh nghiệp sản xuất.

Lãi suất huy động, lãi suất cho vay, lãi suất liên ngân hàng và lãi suất trái phiếu chính phủ đã đạt đỉnh vào tháng 09/2011 và đang có xu hướng giảm dần cho đến năm 2014 Dự báo rằng xu hướng giảm này có thể tiếp tục diễn ra trong năm tới.

Vào năm 2015, nền kinh tế Việt Nam chịu tác động từ suy thoái, với tăng trưởng GDP thấp trong giai đoạn 2012-2013 Để hỗ trợ doanh nghiệp, chính phủ đã hạ thấp trần lãi suất huy động, giúp các ngân hàng thương mại giảm lãi suất cho vay mà không làm gia tăng lạm phát Sự giảm lãi suất này đã dẫn đến lợi nhuận từ gửi tiền ngân hàng giảm, trong khi thị trường chứng khoán Việt Nam hồi phục mạnh mẽ, thu hút nhiều nhà đầu tư quay trở lại nhờ tính thanh khoản cao hơn so với các kênh đầu tư khác.

2.3.1.5 Tâm lý, thói quen của khách hàng

Tâm lý và thói quen tiêu dùng của khách hàng có ảnh hưởng lớn đến việc huy động vốn của ngân hàng Trong khi các nước phát triển ưa chuộng thanh toán không dùng tiền mặt, thì ở các nước đang phát triển, bao gồm Việt Nam, người dân vẫn giữ thói quen sử dụng tiền mặt Theo thống kê của Ngân hàng Nhà nước, tỷ lệ sử dụng tiền mặt trên tổng phương tiện thanh toán tại Việt Nam đã giảm từ 20,3% vào năm 2004 xuống 14% vào năm 2010, và khoảng 12% vào năm 2013.

Đến năm 2013, hơn 65% đơn vị đã thực hiện chi trả lương qua tài khoản, cho thấy sự chuyển mình từ phương thức thanh toán truyền thống sang ngân hàng hiện đại Tỷ lệ thanh toán bằng tiền mặt đang giảm dần, và dự kiến trong 10 năm tới, TP.HCM cùng các thành phố lớn như Hà Nội, Đà Nẵng sẽ có 70% dân số có nhu cầu sử dụng dịch vụ ngân hàng hiện đại Điều này mở ra nhiều cơ hội cho Vietinbank tại khu vực TP.HCM trong việc tiếp cận và thu hút nguồn vốn từ khách hàng.

Khi nền kinh tế phát triển và công nghệ tiên tiến, thói quen sử dụng dịch vụ ngân hàng điện tử qua internet banking và mobile banking đã mở rộng ra ngoài việc truy vấn tài khoản và chuyển tiền, bao gồm cả gửi tiền trực tuyến Theo khảo sát ngân hàng bán lẻ toàn cầu 2014 của Ernst & Young, người Việt Nam đang ngày càng phụ thuộc vào mạng lưới ATM và sử dụng internet banking nhiều hơn, dẫn đến gia tăng tần suất và số lượng giao dịch Việc phát triển hình thức thanh toán không dùng tiền mặt trở nên quan trọng trong việc huy động vốn cho ngân hàng VietinBank đã triển khai Internet Banking từ năm 2005 và không ngừng cải tiến dịch vụ để mang lại tiện ích cho khách hàng Năm 2013, VietinBank vinh dự nhận giải thưởng cho sản phẩm ngân hàng điện tử tại diễn đàn Ngân hàng Đông Nam Á, tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát triển sản phẩm và thu hút khách hàng, đặc biệt trong hoạt động huy động vốn.

Phân tích các nhân tố tác động đến hoạt động huy động tiền gửi tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Công Thương Việt Nam - Khu vực TP.HCM

Các nghiên cứu thực nghiệm từ Mỹ, Lebanon và Ethiopia có thể áp dụng cho Việt Nam do thời gian nghiên cứu tương đồng và sự tương thích về thị trường tài chính - ngân hàng đang phát triển Nền kinh tế, chính trị, pháp luật và xã hội của Việt Nam cũng có nhiều điểm tương đồng với các quốc gia này Luận văn tổng hợp lý thuyết và tham khảo ý kiến từ các giám đốc và trưởng phòng giao dịch tại Vietinbank - TP.HCM, sử dụng mô hình hồi quy đa biến dựa trên nghiên cứu của Wubitu để xác định các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động huy động tiền gửi.

Nhân tố vĩ mô bao gồm môi trường chính trị - xã hội, chính sách quản lý, môi trường pháp lý, dân số, trình độ tri thức, và tình hình phát triển kinh tế, lạm phát, cùng với lãi suất thị trường.

Nhân tố khách hàng bao gồm thói quen sử dụng tiền mặt, thói quen tiết kiệm, thái độ đối với hoạt động truyền thông, ảnh hưởng từ người quen và mức độ trung thành.

– Nhân tố bên trong ngân hàng là hiệu quả hoạt động kinh doanh, thương hiệu, nhân viên, sản phẩm, cơ sở vật chất và hệ thống chi nhánh;

Mô hình đề nghị ban đầu:

TG (hoạt động huy động tiền gửi) = β 0 + β 1 * (nhân tố vĩ mô) + β 2 * (nhân tố khách hàng) + β3 * (nhóm nhân tố ngân hàng) + ε

Do nhóm nhân tố ngân hàng có các nhân tố khác biệt lớn nên tiếp tục phân nhóm nhân tố Mô hình nghiên cứu được điều chỉnh:

Mô hình TG về hoạt động huy động tiền gửi được xác định bởi các yếu tố như nhân tố vĩ mô, nhân tố khách hàng, hiệu quả hoạt động kinh doanh, thương hiệu, nhân viên, sản phẩm, cùng với cơ sở vật chất và hệ thống chi nhánh Trong đó, các tham số β đại diện cho mức độ ảnh hưởng của từng yếu tố, và ε là sai số ngẫu nhiên trong quá trình phân tích.

Sơ đồ 2.3: Mô hình nghiên cứu đề nghị

Hoạt động huy động tiền gửi

Nhân tố hiệu quả hoạt động kinh doanh

Nhân tố cơ sở vật chất và hệ thống nhánh chi

Các giả thuyết được đặt ra:

H1: Nhân tố vĩ mô có ảnh hưởng đến hoạt động huy động tiền gửi tại Vietinbank

H2: Nhân tố khách hàng có ảnh hưởng đến hoạt động huy động tiền gửi tại Vietinbank - Khu vực TP.HCM

H3: Nhân tố hiệu quả hoạt động kinh doanh có ảnh hưởng đến hoạt động huy động tiền gửi tại Vietinbank - Khu vực TP.HCM

H4: Nhân tố thương hiệu có ảnh hưởng đến hoạt động huy động tiền gửi tại Vietinbank - Khu vực TP.HCM

H5: Nhân tố nhân viên có ảnh hưởng đến hoạt động huy động tiền gửi tại Vietinbank - Khu vực TP.HCM

H6: Nhân tố sản phẩm có ảnh hưởng đến hoạt động huy động tiền gửi tại Vietinbank - Khu vực TP.HCM

H7: Nhân tố cơ sở vật chất và hệ thống chi nhánh có ảnh hưởng đến hoạt động huy động tiền gửi tại Vietinbank - Khu vực TP.HCM

Sơ đồ 2.4: Quy trình nghiên cứu

(Nguồn: Dựa trên quy trình nghiên cứu của Nguyễn Đình Thọ)

Cách thức thiết kế nghiên cứu như sau:

– Bước 1: Dựa vào cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu trước đây để tạo bảng câu hỏi

Bước 2: Tiến hành khảo sát ý kiến từ một số đối tượng quản lý tại các chi nhánh nhằm điều chỉnh cho phù hợp, loại bỏ những yếu tố không quan trọng và không phù hợp với tình hình thực tế tại Việt Nam.

– Bước 3: Hoàn chỉnh bảng câu hỏi và gửi đi khảo sát rộng rãi cho toàn bộ mẫu Kích thước mẫu:

– Kích thước mẫu phụ thuộc vào đối tượng nghiên cứu Mẫu nghiên cứu càng

Thang đo sát sơ bộ

Phân tích nhân tố khám phá

Phân tích hồi quy tuyến tính

Kiểm tra hệ số alpha

Kiểm tra nhân tố trích và phương sai trích

Kiểm định mô hình và lý thuyết cho thấy độ chính xác cao, tuy nhiên, nghiên cứu này chỉ tập trung vào đối tượng là cấp quản lý và cán bộ nhân viên tại Vietinbank - Khu vực TP.HCM Do thời gian nghiên cứu có hạn, mẫu dự kiến sẽ được giới hạn ở 200 người.

Việc xác định kích thước mẫu phù hợp vẫn chưa có thông tin chính thức Một số nhà nghiên cứu đề xuất tỷ lệ giữa số mẫu cần thiết và số nhân tố khảo sát Gorsuch (1983, trích bởi MacClallum, 1999) cho rằng số lượng mẫu tối thiểu nên gấp 5 lần số nhân tố khảo sát, trong khi Hoàng Trọng & Chu Nguyễn Mộng Ngọc (2008) cho rằng tỷ lệ này là 4 hoặc 5 Đối với đề tài nghiên cứu này, với 27 nhân tố, việc chọn 185 mẫu là chấp nhận được.

Mẫu phi xác suất được chọn thông qua phương pháp lấy mẫu thuận tiện, với bảng câu hỏi được gửi và khảo sát trực tiếp đến các cán bộ nhân viên tại các chi nhánh Vietinbank khu vực TP.HCM, bao gồm kế toán giao dịch, kiểm soát giao dịch, trưởng phòng khách hàng, trưởng PGD và ban giám đốc chi nhánh Mặc dù nguồn lực hạn chế, việc lấy mẫu vẫn tuân thủ các nguyên tắc cơ bản của thống kê, đảm bảo rằng mẫu khảo sát có thể đại diện cho tổng thể.

Phương pháp phân tích dữ liệu bao gồm việc làm sạch, xử lý và phân tích các dữ liệu đã thu thập với sự hỗ trợ của phần mềm SPSS 18.0.

– Xử lý, làm sạch dữ liệu trước khi chạy mô hình nghiên cứu;

– Thống kê mô tả (Discriptive Statistics): Xác định đặc điểm của mẫu nghiên cứu, bảng chi tiết, đặc điểm mẫu nghiên cứu;

– Kiểm định độ tin cậy các thang đo (Cronbach’s alpha);

– Phân tích nhân tố khám khá (EFA): xác định các yếu tố ảnh hưởng hoạt động huy động tiền gửi tại Vietinbank - Khu vực TP.HCM;

– Phân tích hồi quy: đo lường sự tác động của từng nhân tố đến hoạt động huy động tiền gửi tại Vietinbank - Khu vực TP.HCM

2.4.3 Xây dựng bảng câu hỏi khảo sát

Bảng 2.9: Các nhân tố tác động đến hoạt động huy động tiền gửi trong mô hình nghiên cứu

STT Nhóm nhân tố Nhân tố Ký hiệu

Nhân tố bên ngoài – nhân tố vĩ mô

Tình hình ổn định chính trị - xã hội QG1

2 Chính sách quản lý và môi trường pháp lý QG2

3 Dân số và trình độ dân trí QG3

4 Phát triển của kinh tế QG4

5 Lạm phát thấp và ổn định QG5

6 Lãi suất thị trường huy động vốn QG6

Nhân tố bên ngoài – nhân tố khách hàng

Thói quen sử dụng tiền mặt KH1

8 Thói quen tiết kiệm, đầu tư KH2

9 Mức độ ảnh hưởng từ truyền thông, tác động của người quen, chuyên gia

10 Mức độ trung thành của khách hàng KH4

Nhân tố bên trong – nhân tố hiệu quả kinh doanh

Quy mô Tổng tài sản TS1

12 Quy mô Vốn chủ sở hữu TS2

13 Mức sinh lời của ngân hàng TS3

14 Mức độ an toàn TS4

Nhân tố bên trong – nhân tố thương hiệu ngân hàng

Thương hiệu NH được biết đến rộng rãi TH1

16 NH hoạt động lâu năm TH2

17 Vietinbank là thương hiệu khách hàng nghĩ đến khi gửi tiền

Nhân tố bên trong – nhân tố nhân viên

Thái độ phục vụ của nhân viên NV1

19 Kiến thức, kinh nghiệm của nhân viên NV2

20 Ngoại hình của nhân viên NV3

Nhân tố bên trong – nhân tố sản phẩm

Sản phẩm tiền gửi đa dạng SP1

22 Chất lượng sản phẩm tốt SP2

23 Lãi suất huy động hấp dẫn SP3

Nhân tố bên trong – nhân tố hệ thống chi nhánh và cơ sở hạ tầng

Số lượng địa điểm giao dịch rộng lớn, thuận tiện giao dịch CSHT1

25 Chất lượng cơ sở hạ tầng tốt, đáp ứng yêu cầu CSHT2

26 Hệ thống công nghệ thông tin hiện đại CSHT3

Dựa trên phân tích các yếu tố tác động đến hoạt động huy động tiền gửi của Vietinbank tại TP.HCM, bài viết xây dựng bảng câu hỏi đánh giá các yếu tố này theo ba nhóm chính: nhóm vĩ mô, nhóm ngân hàng và nhóm khách hàng Nhóm ngân hàng được chia nhỏ thành các yếu tố như hiệu quả kinh doanh, thương hiệu, nhân viên, sản phẩm tiền gửi, hệ thống giao dịch và cơ sở hạ tầng do sự khác biệt cao giữa các yếu tố Thang đo được áp dụng là thang đo thứ bậc, với mức 1 thể hiện ảnh hưởng yếu nhất và mức 5 thể hiện ảnh hưởng mạnh nhất.

Bảng câu hỏi được thiết kế với 27 thang đo, trong đó bao gồm 01 thang đo nhân tố phụ thuộc và 26 thang đo nhân tố độc lập, nhằm đo lường các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động huy động tiền gửi tại Vietinbank khu vực TP.HCM.

2.4.4 Mô tả mẫu khảo sát

Hoạt động huy động tiền gửi tại Vietinbank - Khu vực TP.HCM bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố khác nhau Một cuộc khảo sát đã được thực hiện từ tháng 03 đến tháng 06 năm 2014, nhằm thu thập ý kiến từ nhân viên Vietinbank, bao gồm nhân viên, chuyên viên, trưởng/phó các phòng ban và giám đốc 21 chi nhánh tại khu vực này Tổng số phiếu phát ra là 200, trong đó có 185 phiếu được thu về, đạt tỷ lệ 92.5% và tất cả đều hợp lệ.

Trong một khảo sát với 185 nhân viên ngân hàng, có 50.3% nhân viên làm việc dưới 3 năm, 34.6% từ 3 đến dưới 6 năm, và 15.1% trên 6 năm Khảo sát đã thu hút cả nhân viên trẻ tại các phòng giao dịch, phòng kế toán, và phòng khách hàng, cùng với những nhân sự cấp cao như phó, trưởng phòng và ban giám đốc Đặc biệt, 61.6% đối tượng khảo sát là nhân viên, trong khi 31.9% là trưởng/phó phòng khách hàng và PGD, và 6.5% thuộc ban giám đốc chi nhánh.

93.51% mẫu khảo sát có trình độ đại học và trên đại học, trong đó 10.81% có trình độ sau đại học Nhân viên với kiến thức nền tảng vững chắc này sẽ đánh giá chính xác các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động huy động tiền gửi của Vietinbank tại khu vực TP.HCM.

Bảng 2.10: Kết quả thống kê mẫu nghiên cứu

STT Các chỉ tiêu Số lượng

II.3 Giám đốc/ Phó Giám đốc 12 6,5

2.4.5.1 Đánh giá thang đo bằng hệ số tin cậy Cronbach’s Alpha

Hệ số tin cậy Cronbach’s Alpha là một công cụ thống kê quan trọng dùng để đánh giá mức độ chặt chẽ và mối tương quan giữa các nhân tố quan sát Nó giúp loại bỏ những nhân tố không phù hợp, với tiêu chí rằng các nhân tố có hệ số tương quan tổng thể nhỏ hơn 0.3 sẽ bị loại Để được chấp nhận, hệ số Cronbach’s Alpha cần đạt từ 0.6 trở lên, đặc biệt trong trường hợp khái niệm nghiên cứu còn mới đối với người tham gia khảo sát.

A Metal – Analysis of Cronbach’s Coefficient Alpha”)

Bảng 2.11: Đánh giá thang đo hệ số tin cậy các nhân tố quan sát trong mẫu nghiên cứu Đơn vị tính: lần

Nhân tố Trung bình thang đo nếu loại nhân tố

Phương sai thang đo nếu loại nhân tố

Tương quan nhân tố tổng

Hệ số Cronbach's Alpha khi loại nhân tố

Cronbach’s Alpha nhân tố QG = 0.890

Cronbach’s Alpha nhân tố KH = 0.715

Cronbach’s Alpha nhân tố KH’ = 0.824

Cronbach’s Alpha nhân tố HQKD = 0.795

Cronbach’s Alpha nhân tố TH = 0.806

Cronbach’s Alpha nhân tố NV = 0.822

Cronbach’s Alpha nhân tố SP = 0.618

Cronbach’s Alpha nhân tố CSHT = 0.815

Đánh giá sự tác động của các nhân tố đến hoạt động huy động tiền gửi tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Công Thương Việt Nam - Khu vực TP.HCM 65 Kết luận chương 2

Nghiên cứu cho thấy các nhân tố tác động đến hoạt động huy động tiền gửi tại Vietinbank - Khu vực TP.HCM hiện nay khá phù hợp Trong đó, nhân tố "thương hiệu" có ảnh hưởng lớn nhất với hệ số 0.289, tiếp theo là "hệ thống điểm giao dịch và cơ sở hạ tầng" (0.224) và "khách hàng" (0.206) Các nhân tố khác như "vĩ mô" (0.179), "nhân viên" (0.164) và "hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng" (0.111) cũng có ảnh hưởng nhưng ở mức độ thấp hơn Đặc biệt, nhân tố "sản phẩm tiền gửi" có hệ số tương quan thấp nhất (0.067) và ý nghĩa thống kê không cao (sig = 0.194).

Hệ số hồi quy chuẩn hóa của nhân tố "thương hiệu" đạt giá trị 0.289, cao nhất trong các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động huy động tiền gửi Điều này cho thấy khách hàng thường ưu tiên lựa chọn ngân hàng có uy tín và thương hiệu lâu năm để bảo vệ tài sản của họ Vietinbank - Khu vực TP.HCM, với bề dày thương hiệu và uy tín, đáp ứng đầy đủ các yêu cầu của khách hàng khi gửi tiền.

Hệ thống điểm giao dịch và cơ sở hạ tầng đóng vai trò quan trọng trong việc huy động tiền gửi, với hệ số hồi quy chuẩn hóa đạt 0.224 Người tiêu dùng thường chọn ngân hàng gần nơi sinh sống và làm việc, vì vậy việc có nhiều chi nhánh, PGD và ATM phân bố rộng rãi tại TP.HCM, cùng với cơ sở hạ tầng hiện đại, giúp khách hàng dễ dàng tiếp cận dịch vụ Điều này tạo điều kiện thuận lợi cho Vietinbank tại khu vực TP.HCM trong việc gia tăng hoạt động huy động tiền gửi tại các khu dân cư, khu công nghiệp và khu chế xuất lân cận.

Nhân tố "khách hàng" có hệ số hồi quy chuẩn hóa 0.206, cho thấy ảnh hưởng lớn đến hoạt động huy động tiền gửi tại Vietinbank - TP.HCM Trong khi thói quen sử dụng tiền mặt không tác động, các yếu tố như thói quen tiết kiệm – đầu tư, ảnh hưởng từ truyền thông và người quen, cùng mức độ trung thành đều có tác động tích cực Khách hàng có thói quen tiết kiệm – đầu tư tại Vietinbank duy trì tỷ lệ tiền gửi ổn định và tăng trưởng qua các năm Sau các chiến dịch truyền thông và khuyến mại, lượng khách hàng gửi tiền tăng đáng kể Khách hàng lâu năm thường trung thành với Vietinbank, chỉ rời bỏ khi có lợi ích từ lãi suất hoặc khuyến mại của đối thủ.

Hệ số hồi quy chuẩn hóa của nhân tố vĩ mô là 0.179, cho thấy sự ảnh hưởng đáng kể đến hoạt động huy động tiền gửi của ngân hàng Hoạt động này là một trong những nghiệp vụ cơ bản để tạo lợi nhuận, vì vậy, sự hiệu quả và ổn định của ngân hàng tại Việt Nam, đặc biệt là Vietinbank, chịu tác động mạnh mẽ từ các yếu tố vĩ mô như tình hình chính trị.

Các yếu tố vĩ mô như xã hội, chính sách quản lý, môi trường pháp lý, dân số và trình độ trí thức, cũng như lạm phát và lãi suất thị trường, đóng vai trò quan trọng trong việc tạo điều kiện cho Vietinbank hoạt động hiệu quả Những yếu tố thuận lợi này không chỉ hỗ trợ cho các lĩnh vực kinh doanh của ngân hàng mà còn thúc đẩy hoạt động huy động tiền gửi.

Nhân viên ngân hàng đóng vai trò quan trọng trong việc huy động tiền gửi, với hệ số hồi quy là 0.164 Họ đại diện cho hình ảnh của ngân hàng và có ảnh hưởng trực tiếp đến sự hài lòng của khách hàng Để khách hàng cảm thấy thoải mái, nhân viên cần có thái độ làm việc tích cực, kiến thức chuyên môn vững vàng và ngoại hình ưa nhìn Tuy nhiên, thái độ làm việc của nhân viên hiện tại chưa được đánh giá cao, dẫn đến tác động hạn chế đến hoạt động huy động tiền gửi.

Hiệu quả hoạt động kinh doanh đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy hoạt động tiền gửi tại Vietinbank – Khu vực TP.HCM với hệ số 0.111 Sự hiệu quả này không chỉ giúp khách hàng yên tâm lựa chọn sản phẩm tiền gửi mà còn cho phép Vietinbank chủ động điều chỉnh chiến lược huy động tiền gửi, đảm bảo tăng trưởng phù hợp với nhu cầu sử dụng vốn và chi phí tối ưu nhất.

Sản phẩm tiền gửi của Vietinbank tại TP.HCM có hệ số hồi quy chuẩn hóa thấp nhất là 0.067, cho thấy độ tin cậy tương đối thấp Điều này phản ánh sự thiếu đa dạng và sự khác biệt trong sản phẩm, cùng với thời gian chờ đợi cung cấp dịch vụ chậm và lãi suất không hấp dẫn so với các đối thủ cạnh tranh trên thị trường.

Trong chương 2, bài viết phân tích hoạt động huy động tiền gửi tại Vietinbank - Khu vực TP.HCM, tập trung vào các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động này Nghiên cứu sử dụng mô hình hồi quy tuyến tính bội với 07 nhân tố chính gồm: nhân tố vĩ mô, nhân tố khách hàng, hiệu quả hoạt động kinh doanh, thương hiệu, nhân viên, sản phẩm tiền gửi và hệ thống giao dịch Kết quả cho thấy thương hiệu là nhân tố có tác động mạnh nhất đến hoạt động huy động tiền gửi Dựa trên những phân tích này, bài viết đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả huy động tiền gửi tại Vietinbank.

GIẢI PHÁP GIA TĂNG CÁC NHÂN TỐ TÍCH CỰC NHẰM NÂNG CAO HOẠT ĐỘNG HUY DỘNG TIỀN GỬI TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN CÔNG THƯƠNG VIỆT NAM - KHU VỰC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Ngày đăng: 29/06/2021, 18:30

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Anh Tuấn, 2014. Lãi suất giảm đã đẩy chứng khoán tăng như thế nào? Bizlive.vn. [online]. Nguồn: <http://bizlive.vn/chung-khoan/chart-lai-suat-giam-da-day-chung-khoan-tang-nhu-the-nao-454075.html&gt Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bizlive.vn
4. Hoàng Trọng và Chu Nguyễn Mộng Ngọc, 2008. Phân tích dữ liệu nghiên cứu với SPSS (tập 1 và 2). Nhà Xuất Bản Hồng Đức Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân tích dữ liệu nghiên cứu với SPSS
Nhà XB: Nhà Xuất Bản Hồng Đức
6. Lưu Thị Quỳnh Nga, 2011. Luận văn “Nâng cao hiệu quả huy động nguồn vốn tiền gửi tại Ngân hàng TMCP Xuất Nhập Khẩu Việt Nam”. Đại học Kinh tế TP.CM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nâng cao hiệu quả huy động nguồn vốn tiền gửi tại Ngân hàng TMCP Xuất Nhập Khẩu Việt Nam”
11. Ngân hàng thương mại cổ phần Công Thương Việt Nam. Báo cáo thường niên Vietinbank năm 2010, 2011, 2012, 2013, 2014 Nguồn:<http://www.vietinbank.vn/web/home/vn/bao-cao-thuong-nien/&gt Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo thường niên Vietinbank năm 2010, 2011, 2012, 2013, 2014
12. Nguyễn Đình Thọ, 2011. Phương pháp nghiên cứu khoa học trong kinh doanh, Nhà xuất bản lao động xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp nghiên cứu khoa học trong kinh doanh
Nhà XB: Nhà xuất bản lao động xã hội
13. Nguyễn Văn Huy, 2014. Luận văn “Huy động tiền gửi tại Ngân hàng TMCP Đầu Tư và Phát Triển Việt Nam – Chi nhánh Đăk Lăk”. Đại học Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Huy động tiền gửi tại Ngân hàng TMCP Đầu Tư và Phát Triển Việt Nam – Chi nhánh Đăk Lăk”
14. Quốc hội, 2012. Luật số 47/2010/QH12 của Quốc hội : Luật Tổ chức tín dụng 15. Quốc hội, 2013. Luật số 06/2012/QH13 của Quốc hội: Luật bảo hiểm tiền gửi 16. Sử Đình Thành và PGS.TS Vũ Thị Minh Hằng, 2008. Nhập môn Tài Chính Tiền tệ, Nhà xuất bản Lao động Xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật số 47/2010/QH12 của Quốc hội : Luật Tổ chức tín dụng" 15. Quốc hội, 2013. "Luật số 06/2012/QH13 của Quốc hội: Luật bảo hiểm tiền gửi" 16. Sử Đình Thành và PGS.TS Vũ Thị Minh Hằng, 2008. "Nhập môn Tài Chính Tiền tệ
Nhà XB: Nhà xuất bản Lao động Xã hội
18. Trầm Thị Xuân Hương và Th.S Hoàng Thị Minh Ngọc, 2012. Nghiệp vụ Ngân hàng thương mại, Nhà xuất bản Lao động Xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiệp vụ Ngân hàng thương mại
Nhà XB: Nhà xuất bản Lao động Xã hội
19. Trần Huy Hoàng, 2011. Quản trị ngân hàng thương mại. Nhà xuất bản Lao động xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản trị ngân hàng thương mại
Nhà XB: Nhà xuất bản Lao động xã hội
20. VPBank Securities, 2014. Phân tích ngành ngân hàng. [online] Nguồn: <http://www.vpbs.com.vn/Reports/2443/bao-cao-cap-nhat-nganh-ngan-hang.aspx>Tài liệu tiếng Anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân tích ngành ngân hàng
1. Al-Ghamdi S., Sohail M., & Al-Khaldi A, 2007. Measuring consumer satisfaction with consumer protection agencies: some insights from Saudi Arabia.Journal of Consumer Marketing, 24(2), p71-79 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Journal of Consumer Marketing
2. Ansoff, I and Mc Donnell, E, 1990. Implanting Strategic Management. 2 nd edition,Prentice-Hall, London Sách, tạp chí
Tiêu đề: Implanting Strategic Management
3. Asher, A., 1998. Going global: a new paradigm for consumer protection. The Journal of Consumer Affairs, 32(2), p183-203 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The Journal of Consumer Affairs
5. Bruce C. Cohen and George G. Kaufman, 1965. Factors Determining Bank Deposit rowth by State: An Empirical Analysis. American finance association, Blackwell ublishing, The Journal of Finance, Vol. 20, No. 1 (Mar., 1965), pp.59-7 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The Journal of Finance
6. Deutsche Bank, 2012. Poised for a comeback: Bank deposits. Why banks should bank on savings accounts after all. P.7-9 [online]. Available at:<https://fundsus.deutscheawm.com/EN/docs/research/Poised-for-a-comeback-Bank-deposits.pdf&gt Sách, tạp chí
Tiêu đề: Poised for a comeback: Bank deposits. Why banks should bank on savings accounts after all
7. Devinaga Rasiah, 2010. Theoretical Framework of Profitability as Applied to Commercial Bank in Malaysia. European Journal of Economics, Finance and Administrative Sciences, Multimedia University, Faculty of Business and Law, Melaka, Malaysia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Faculty of Business and Law
9. Erna Rachmawati & Ekki Syamsulhakim, 2004. Factors Affecting Mudaraba Deposits in Indonesia. Working Paper in Economics and Development Studies adjadjaran University, Indonesia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Working Paper in Economics and Development Studies adjadjaran University
13. Jim Stanford, 2008. A “How-To” Guide: Finding and Interpreting GDP Statistics, Canadian Centre for Policy Alternatives Sách, tạp chí
Tiêu đề: How-To” Guide: Finding and Interpreting GDP Statistics
14. Johnson, G, Scholes, K and Whittington, R, 2005. Exploring corporate Strategy Text and Cases. 7th Edition, Prentice Hall, London Sách, tạp chí
Tiêu đề: Exploring corporate Strategy Text and Cases
7. Ngân hàng thương mại cổ phần Công Thương Việt Nam, 2014. Hệ thống mạng lưới chí nhánh và PGD tại TP.HCM. [online]. Nguồn: <http://www.vietinbank.vn/web/home/vn/lien-he/mang-luoi-chi-nhanh/&gt Link

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w