1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Luận văn thạc sĩ đánh giá nhận thức và cơ hội tham gia giáo dục bảo tồn của người dân sống tại khu bảo tồn loài và sinh cảnh vọoc mũi hếch khau ca hà giang​

73 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 73
Dung lượng 1,64 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Xuất phát từ những quan điểm trên đây, đề tài tiến hành đánh giá nhận thức và thái độ của người dân với vấn đề bảo tồn tại địa phương, xác định những hoạtđộng ảnh hưởng đến tài nguyên/mô

Trang 1

NGUYỄN THỊ NHÀI

“ĐÁNH GIÁ NHẬN THỨC VÀ CƠ HỘI THAM GIA GIÁO DỤC BẢO TỒN CỦA NGƯỜI DÂN SỐNG TẠI KHU BẢO TỒN LOÀI VÀ SINH CẢNH

VOỌC MŨI HẾCH KHAU CA – HÀ GIANG”

LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP

HÀ NỘI – 2010

Trang 2

NGUYỄN THỊ NHÀI

“ĐÁNH GIÁ NHẬN THỨC VÀ CƠ HỘI THAM GIA GIÁO DỤC BẢO TỒN CỦA NGƯỜI DÂN SỐNG TẠI KHU BẢO TỒN LOÀI VÀ SINH CẢNH VOOC MŨI HẾCH KHAU CA – HÀ GIANG”

Chuyên ngành: Quản lý bảo vệ rừng và môi trường

Mã số: 60.62.68

LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP Người hướng dẫn khoa học: TS.ĐỒNG THANH HẢI

HÀ NỘI – 2010

Trang 3

MỞ ĐẦU

Trong những năm gần đây, vai trò của giáo dục môi trường ngày càng đượcnhấn mạnh, đặc biệt trong phát triển bền vững Nó được nhiều nước trên thế giớithừa nhận và nhiều tài liệu quan trọng đề cập đến (Chiến lược bảo tồn thế giới, Báocáo của hội đồng Thế giới về môi trường và Phát triển, Chương trình nghị sự 21).Theo đó, giáo dục môi trường cung cấp cho người dân nhận thức, quan điểm về giátrị, thái độ, kỹ năng cùng những hành vi cần thiết để phát triển bền vững, bảo tồn tàinguyên nhiên nhiên và đa dạng sinh học

Trong chiến lược bảo tồn đồng vật hoang dã nói chung và bảo tồn các loàiđộng vật quý hiếm nói riêng, giáo dục bảo tồn nhằm làm gia tăng kiến thức và sựtham gia sẽ giúp bảo tồn loài và sinh cảnh của chúng (Engels và Jacobson, 2007)

Voọc Mũi hếch (Rhinopithecus avunculus Dollman, 1912), là một trong 25 loài linh trưởng nguy cấp nhất trên thế giới [Mittermeier và cộng sự, 2007] Kết quả

điều tra cho thấy Voọc mũi hếch có số lượng quần thể lớn nhất ở khu vực Khau Ca,tỉnh Hà Giang với số lượng khoảng 90 cá thể, tạo cho Khau Ca trở thành một trongnhững khu có giá trị bảo tồn cao và thu hút được nhiều sự quan tâm của các tổ chứcbảo tồn trong và ngoài nước [Dong Thanh Hai, 2007] Nhiều hoạt động bảo tồn đãđược thiết lập tại Khu vực Khau Ca như thành lập Khu bảo tồn loài và sinh cảnhVoọc Mũi hếch, các tổ đội tuần rừng và nghiên cứu lâu dài về sinh thái và tập tínhcủa loài, tuy nhiên bảo tồn loài về lâu dài vẫn là một thách thức với các nhà bảotồn nếu thiếu sự tham gia của người dân địa phương

Khu bảo tồn loài và sinh cảnh Voọc mũi hếch được bao quanh bởi 3 xã:Tùng Bá, Yên Định và Minh Sơn Theo số liệu thống kê tình hình dân sinh kinh tếnăm 2004, có tới 34.9% số hộ trong ba xã nói trên nằm trong diện nghèo đói Thunhập từ lâm nghiệp ước tính chiếm tỉ lệ 28% so với thu nhập từ nông nghiệp[Nguyễn Hùng Mạnh và Phạm Hoàng Linh, 2005] Các hoạt động có tác động xấutới tài nguyên rừng vẫn diễn ra trong khu bảo tồn, người dân vẫn còn khai thác gỗlàm nhà, chăn thả gia súc, khai thác lâm sản ngoài gỗ, đặt bẫy trong rừng, Những

Trang 4

hoạt động trên có tác động không nhỏ tới sinh cảnh sống của loài Voọc mũi hếch vàảnh hưởng lớn tới việc phục hồi quần thể loài trong tương lai [Nguyễn Hùng Mạnh

và Phạm Hoàng Linh, 2005]

Chính vì vậy, để bảo tồn lâu dài quần thể voọc mũi hếch nơi đây ngoài việctăng cường thực thi pháp luật, khuyến khích nghiên cứu cần nâng cao nhận thức chongười dân và khuyến khích họ tham vào các hoạt động bảo tồn Cho tới thời điểmhiện tại, một số chương trình giáo dục bảo tồn đã được thực hiện ở đây bởi tổ chứcBảo tồn động thực vật hoang dã FFI, tuy nhiên các chương trình này mới được thựchiện ở qui mô nhỏ: xã Tùng Bá và đối tượng là học sinh trường tiểu học Trong khi

đó các đối tượng tham gia vào các hoạt động gây tác động xấu đến khu bảo tồn nóitrên thuộc nhiều lứa tuổi khác nhau và trải rộng trên cả 3 xã giáp ranh với khu bảotồn

Như vậy, việc đánh giá nhu cầu bảo tồn của người dân thuộc các xã nói trênlàm cơ sở cho việc thiết kế và tiến hành các chương trình giáo dục bảo tồn là nhucầu cấp thiết đối với sự thành công của công tác bảo tồn Voọc mũi hếch tại Khau Ca

trong thời gian dài Vì những lý do nêu trên, tôi tiến hành đề tài: “Đánh giá

nhận thức và cơ hội tham gia giáo dục bảo tồn của người dân sống tại Khu bảo tồn loài và sinh cảnh Voọc mũi hếch Khau Ca – Hà Giang” Mục tiêu của đề tài là

đánh giá nhận thức của người dân của 3 xã giáp ranh với khu bảo tồn và các cơ hộitham gia của người dân vào các hoạt động bảo tồn tại Khu bảo tồn loài và sinh cảnhKhau Ca

Trang 5

Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1 Các khái niệm

Khái niệm GDMT chính thức được sử dụng lần đầu tiên vào năm 1972 tạiHội nghị toàn cầu lần thứ nhất về Môi trường Nhân văn được tổ chức ở Stockholm(Thụy Điển) (Matarasso, 2004) Từ đó cho đến nay có rất nhiều định nghĩa và kháiniệm liên quan đến cụm từ này, dưới đây là một số định nghĩa được sử dụng rộngrãi

- Giáo dục môi trường

- “GDMT là quá trình nhận ra các giá trị và làm rõ khái niệm để xây dựngnhững kỹ năng và thái độ cần thiết, giúp hiểu biết và đánh giá đúng mối tương quangiữa con người với nền văn hóa và môi trường vật lý xung quanh, GDMT cũng tạo

cơ hội cho việc thực hành để ra quyết định và tự hình thành quy tắc ứng xử trướcnhững vấn đề liên quan đến chất lượng môi trường” (IUCN, 1970)

- “GDMT là một quá trình phát triển những tình huống dạy/học hiệu quảgiúp người dạy và học tham gia giải quyết những vấn đề môi trường liên quan, đồng thờitìm ra một lối sống có trách nhiệm và được thông tin đầy đủ” (Wigley, 2000)

Mặc dù có nhiều định nghĩa khác nhau về GDMT, tất cả đều có một số đặcđiểm cơ bản sau:

+ GDMT là một quá trình diễn ra trong một khoảng thời gian, ở nhiều địa điểmkhác nhau, thông qua những kinh nghiệm khác nhau và bằng những phương thứckhác nhau

+ GDMT nhằm thay đổi hành vi

+ Môi trường học tập là chính môi trường và những vấn đề có trong thực tế

+ GDMT liên quan đến việc giải quyết vấn đề và ra quyết định về cách sống

+ Trong GDMT, việc học phải tập trung vào người học và lấy hành động làm cơ sở

- Cộng đồng

Trang 6

Cộng đồng nói chung thường được hiểu là những nhóm người, được tập hợpdưới nhiều hình thức khác nhau như theo lứa tuổi, theo nghề nghiệp, theo huyếtthống, theo khu vực địa lý, theo hệ thống quyền lực, theo tổ chức đoàn thể, theo sởthích,… (Matarasso, 2004) Tuy nhiên, cộng đồng trong đề tài này được xem xétnhư một đơn vị cấp địa phương của một tổ chức xã hội bao gồm các cá nhân, giađình, thể chế và các cấu trúc khác đóng góp cho cuộc sống hàng ngày của xã hội,của một nhóm người trong một khu vực địa lý xác định, có thể được biến đổi bởiquá trình vận động lịch sử (Matarasso, 2004).

Cho đến nay, còn nhiều ý kiến về sự khác nhau giữa GDBT và giáo dục môitrường (GDMT) Nhiều người cho rằng, GDBT và GDMT là 2 khái niệm tươngđồng với nhau, có thể thay khái niệm GDBT bằng GDMT và ngược lại Trongkhuôn khổ đề tài, khái niệm GDBT được dùng để chỉ các hoạt động GDMT có sựtham gia của cộng đồng dân địa phương nhằm thay đổi hành vi, hướng tới mục tiêu

bảo tồn (Matarasso và cộng sự, 2004) Tuy vậy, một chương trình GDBT không chỉ

dừng lại ở các hoạt động giáo dục như tập huấn nâng cao kỹ năng mà còn có thể làcác chương trình truyền thông nhằm cung cấp thông tin, nâng cao nhận thức,…hoặc các chương trình vận động chính sách nhằm xóa bỏ những trở ngại về mặtchính sách đối với việc thực hiện các hành vi bảo tồn (cả hành vi tích cực hiện tại vàcác hành vi bảo tồn mới)

Một chương trình GDBT cần làm rõ đâu là các hành vi gây ra các vấn đề bảotồn/môi trường Nguyên nhân của các hành vi đó là gì? Do thiếu nhận thức, kiếnthức, kỹ năng, không có thái độ đúng đắn, thiếu lựa chọn hay bị cản trở bởi các yếu

tố kinh tế, tài chính?

Xuất phát từ những quan điểm trên đây, đề tài tiến hành đánh giá nhận thức

và thái độ của người dân với vấn đề bảo tồn tại địa phương, xác định những hoạtđộng ảnh hưởng đến tài nguyên/môi trường của người dân, tìm ra những nguyênnhân của những hành động đó, từ đó tìm hiểu những khó khăn và thuận lợi củangười dân khi tham gia công tác bảo tồn dựa vào cộng đồng bên cạnh những cơ hộitiếp cận, làm cơ sở xây dựng những chương trình giáo dục bảo tồn sau này Những

Trang 7

nội dung này của đề tài sẽ xuyên suốt quá trình tổng quan vấn đề nghiên cứu vàphương pháp nghiên cứu của đề tài.

1.2 Tổng quan vấn đề nghiên cứu

1.2.1 Đánh giá nhận thức và thái độ của cộng đồng

Vào giữa các năm từ 1990 đến 1992, chương trình đánh giá nhận thức về sinhhọc bảo tồn và thái độ đối với tự nhiên theo giới tính được thực hiện đối với 51người Nghiên cứu đã sử dụng 45 câu hỏi tình huống và sử dụng thang chia thái độcủa Kellerrt (1976, 1980, 1991), kết quả cho mỗi câu hỏi được xử lý bằng phươngpháp hồi quy bậc thang với độ tin cậy cao (R>0.7) Kết quả cho thấy, có sự khácbiệt trong nhận thức theo giới tính ở các bài kiểm tra đầu và cuối khóa học Cụ thể,

nữ có nhận thức ban đầu tốt hơn về các vấn đề với tự nhiên, tuy nhiên nam có thayđổi nhận thức nhanh hơn nữ Vào cuối khóa học, khoảng cách về nhận thức theogiới tính cũng được thu hẹp Tuy nhiên, khóa học chưa chỉ ra được sự I khác biệt vềtuổi tác giữa hai giới trong nhận thức về sinh học và bảo tồn, điều này mở ra hướngcho nghiên cứu cho các đề tài tiếp theo (Caro, Pelkey và Grigione; 1994)

Mức độ nhận thức theo giới tính của những người tham gia trong cộng đồng

về loài Sư tử vàng ở Tamarin, Braxin cũng được so sánh Báo cáo của Engels vàJacobson (2001) đã một lần nữa khẳng định nam giới có nhận thức cao hơn nữ giới

về loài động vật quý hiếm này trong cả 2 nghiên cứu vào năm 1986 và 2001 vớicùng cộng đồng người Theo các tác giả, có kết luận này là do nam giới có nhiều cơhội tiếp cận với các nguồn thông tin về sinh học và bảo tồn nói chung và về loài Sư

tử nói riêng hơn nữ giới

Khác với kết quả nghiên cứu của Caro và cộng sự, Engels và Jacobson, Padua(1994) chỉ ra trong nghiên cứu của mình rằng không có sự khác biệt trong nhận thứcbảo tồn giữa 2 giới tính nam và nữ Kết quả được đưa ra sau khi tác giả sử dụng mộtloạt các tiêu chuẩn thống kê qua 3 bài kiểm tra nằm trong một chương trình giáodục môi trường ở Brazil Đề tài sẽ kiểm chứng các kết quả này thông qua nghiêncứu của mình cùng với những giải thích về sự khác nhau của các nhân tố ảnhhưởng

Trang 8

Không chỉ đánh giá nhận thức theo giới tính, đánh giá nhận thức theo dân tộchay nhóm cộng đồng thiểu số được thực hiện bởi Onon, Altantsetseg và Bayarkhuuvào năm 2006 Các hộ gia đình thuộc 6 cộng đồng cư trú ở gần khu vực loài Báotuyết sinh sống được phỏng vấn và điền vào bảng câu hỏi về thái độ và hành vi liênquan đến loài Khảo sát đã sử dụng tổng hợp các phương pháp khác nhau như phỏngvấn, đưa ra những câu hỏi trực tiếp, phân tích mô tả và phân tích so sánh Kết quảcho thấy, không chỉ có sự khác biệt trong việc cạnh tranh về sinh cảnh sống mà cònkhác nhau về mức độ sử dụng các sản phẩm từ loài động vật này giữa các cộngđồng người Kết quả này có ý nghĩa quan trọng khi thiết kế các chương trình giáodục bảo tồn và nâng cao nhận thức phù hợp đối với từng cộng đồng dân cư.

Một nghiên cứu nữa đã được tiến hành nhằm đánh giá sự khác nhau về nhậnthức với sinh học và bảo tồn giữa 10 cộng đồng người sống gần vườn quốc gia ởphía Đông châu Phi Đối tượng tham gia là người dân, học sinh và điều phối viênchương trình bằng các cuộc khảo sát và phỏng vấn Kết quả nghiên cứu chỉ ra có sựkhác biệt về nhận thức giữa các nhóm đối tượng tham gia, tuy nhiên không có con

số định lượng cụ thể mà ở mức độ tổng quát Nghiên cứu chú trọng vào việc đánhgiá những thành công và thách thức với chương trình giáo dục bảo tồn tại khu vựcnày và nhấn mạnh các nhân tố hoàn cảnh trong quá trình tham gia bảo tồn của cộngđồng (Johnson-Pynn và Johnson, 2005)

Sự khác nhau về nhận thức, thái độ và mức độ tiêu thụ các sản phẩm Rùa biểngiữa các làng được so sánh trong báo cáo của Rajakaruna, R.S và cộng sự vào năm

2009 600 người dân thuộc 6 làng ven biển Sri Lanka (nơi gần vùng cư trú và đẻtrứng của Rùa biển) được phỏng vấn bằng bảng câu hỏi Tác giả sử dụng phần mềmStata 8.2 để phân tích các câu hỏi thông qua mô hình hồi quy logistic, nhằm so sánh

3 biến tập hợp là kiến thức, thái độ và mức độ tiêu thụ các sản phẩm giữa các làng.Kết quả phân tích chỉ ra rằng, kiến thức và thái độ trong bảo tồn Rùa biển của ngườidân các làng có rùa đến đẻ trứng cao hơn hẳn so với của người dân làng không córùa đến đẻ trứng Bên cạnh đó, nghiên cứu cũng chỉ ra rằng, mức độ tiêu thụ các sảnphẩm từ rùa biển ở các làng này cũng ít hơn so với các làng không có rùa đến đẻ

Trang 9

trứng Các số liệu về giới tính, nghề nghiệp, tuổi, trình độ học vấn, thời gian cư ngụ,thu nhập và số thành viên trong gia đình cũng được thu thập, tuy nhiên không đượcđem ra so sánh trong nghiên cứu mà chỉ dùng để giải thích kết quả về sự khác nhautrong nhận thức, thái độ và mức độ tiêu thụ của người dân các làng.

Bên cạnh đánh giá nhận thức theo giới tính theo dân tộc và theo khu vực sinhsống, Engels và Jacobson (1999) đã có chương trình đánh giá nhận thức của cộngđồng theo điều kiện sống của người dân sống quanh sinh cảnh của loài Sư tử vàng ởTamarin, Braxin 666 đối tượng được tham gia trả lời biểu câu hỏi phỏng vấn thuộccác vùng sống khác nhau quanh khu bảo tồn Poco das Antas ở Rio de Janeiro (xácđịnh trong vòng bán kính 60km từ trung tâm của dự án) Kết quả nghiên cứu chothấy, những người sống ở những thị trấn lớn có hiểu biết và nhận thức cao hơnnhững người sống ở những vùng nông thôn hay thị trấn nhỏ Các tác giả cho rằng,những người sống ở những thị trấn lớn có thu nhập cao hơn và có nhiều cơ hội tiếpcận với các phương tiện thông tin đại chúng hơn những người sống ở những nơikém phát triển Tuy nhiên, không có con số chính xác về mức độ phát triển trongđiều kiện sống như thu nhập, hay các chỉ số phát triển,… và các nghiên cứu tiếptheo nên có thêm những thông tin này

Nghề nghiệp của những người tham gia cũng ảnh hưởng không nhỏ đến nhậnthức của người dân trong các vấn đề về sinh học và bảo tồn Các cán bộ của Trungtâm nghiên cứu Tài nguyên và Môi trường đã đánh giá nhận thức của cộng đồngdân cư sống quanh khu vực Khau Ca (2001) với các nội dung như: nhận thức vềviệc thành lập khu bảo tồn, nhận thức và thái độ với việc bảo vệ rừng và nhận thứcliên quan tới loài Voọc mũi hếch của cộng đồng dân địa phương Các câu hỏi đượcnêu ra về các vấn đề này và hỏi với người dân theo từng nhóm nghề nghiệp, sau đóđánh giá nhận thức và thái độ thông qua tỷ lệ phần trăm Kết quả cho thấy, chỉ có số

ít người được biết về khu bảo tồn và việc thành lập, những người này chủ yếu là cán

bộ, giáo viên trong làng, xã, là những người thường xuyên tham gia các cuộc họp ởcác cấp chính quyền Thêm vào đó, kết quả về nhận thức đối với Voọc mũi hếchcho thấy loài voọc này chỉ có ý nghĩa đối với các nhà bảo tồn, còn đối với người

Trang 10

dân làm nông nghiệp ở đây nó chẳng hề có giá trị gì khi mà họ chưa được giáo dục

về tầm quan trọng của loài động vật quý hiếm này Từ kết quả nghiên cứu cho thấy,nhận thức và thái độ của người nông dân vẫn còn rất thấp đối với các vấn đề bảo tồntrong khu vực, tuy nhiên báo cáo cũng chưa nêu ra những lý do khiến nhận thức củangười dân ở mức độ thấp trong khi họ sống rất gần với khu vực được bảo vệ Nhữngchương trình nghiên cứu tiếp theo nên chú trọng vào đối tượng là nông dân vànhững người ít có cơ hội tiếp cận với kiến thức bảo tồn Hơn nữa, báo cáo này đượcthực hiện từ 2001 nên chưa chắc đã còn đúng trong thời điểm hiện tại, chính vì thếcần có một nghiên cứu tiếp theo đánh giá nhận thức của người dân trong thời gianhiện tại

Nghiên cứu của Padua (1994) cũng chỉ ra có sự khác biệt về nhận thức theotrình độ học vấn Chương trình giáo dục môi trường diễn ra với 144 học sinh từ lớp

5 đến lớp 8, và sau khi phân tích các tiêu chuẩn thống kê, kết quả chỉ ra rằng, nhữnghọc sinh lớp 8 có điểm số cao nhất trong các bài kiểm tra Tác giả giải thích rằng,học sinh lớp 8 trưởng thành hơn, có kiến thức nhiều hơn do đó có thể dễ dàng hiểu

và trả lời các câu hỏi trong bài kiểm tra hơn

1.2.2 Các hoạt động gây ảnh hưởng tốt đến tài nguyên thiên nhiên và nguyên nhân

Theo khảo sát mới đây, Lacombe (2009) đã cho rằng, các hoạt động liên quanđến sinh kế của người dân nhưng không làm ảnh hưởng đến tài nguyên trong khuvực được bảo vệ là những hoạt động gây ảnh hưởng tốt Cụ thể như việc trồng câykeo, mỡ,…trong vườn rừng để phục vụ nhu cầu gỗ làm nhà và củi đốt cho các thế

hệ tương lai, giúp sử dụng bền vững nguồn tài nguyên thiên nhiên và tránh tác độngbất lợi đến khu vực được bảo vệ của người dân sống quanh khu vực Khau Ca Cũngtheo tác giả, người dân quanh khu vực Khau Ca đã bắt đầu trồng cỏ và sử dụng kiếnthức bản địa để tích trữ thức ăn cho gia súc khi khu chăn thả trở lên khan hiếm Tácgiả đưa ra những hoạt động tác động tốt đến tài nguyên thiên nhiên tuy nhiên vẫnkhông có một tiêu chí cụ thể nào để đánh giá các hoạt động này

Trang 11

Theo quan điểm của tổ chức Thiên nhiên và Con người (PanNature), các hoạtđộng gây ảnh hưởng tốt đến tài nguyên môi trường là nhằm giữ gìn vệ sinh môitrường trong sạch và giảm thiểu ô nhiễm Cụ thể, các hoạt động đó là: vận động các

hộ gia đình làm nhà vệ sinh hợp lý, đào hố rác và khơi thông cống rãnh, vệ sinhđường thôn bản, vệ sinh bể nước công cộng, vận động vệ sinh ăn uống trong giađình, ủ phân hữu cơ vi sinh cho từng hộ gia đình Theo PanNature, các hoạt độngnày cần được duy trì lâu dài và thường xuyên nhằm bảo vệ các thành phần của môitrường Cũng vì lý do này, người dân quanh khu vực Khau Ca đã được tham gia tậphuấn các hoạt động này nhằm bảo vệ môi trường xung quanh Chương trình truyềnthông của PanNature đã thu được những kết quả khả quan, tuy nhiên không có báocáo nào thực hiện sau khi chương trình kết thúc để biết rằng người dân còn duy trìnhững hoạt động như trên hay không

1.2.3 Các hoạt động gây ảnh hưởng xấu đến tài nguyên thiên nhiên và nguyên nhân

Đánh giá các hoạt động của cộng đồng đối với tài nguyên thiên nhiên là mộtviệc làm không dễ khi không hề có tiêu chuẩn để đánh giá chúng Vào năm 2006,các tác giả Onon, Altantsetseg và Bayarkhuu đã cho rằng, các hoạt động gây ảnhhưởng xấu đến sự sinh trưởng và phát triển của loài Báo tuyết tại Mông Cổ baogồm: cạnh tranh về môi trường sống giữa các mùa, đặc biệt vào mùa xuân và mùahè; các hoạt động săn bắn trái phép loài động vật này; hoạt động sử dụng và tiêu thụcác sản phẩm lông, da và các bộ phận khác của cơ thể Báo tuyết Tuy nhiên, theonghiên cứu, vẫn còn nhiều hoạt động khác của người dân gây ảnh hưởng xấu đếnquần thể báo tuyết trong khu vực và cần được làm rõ ở những nghiên cứu tiếp theo.Hiện hay, canh tác nương rẫy vẫn được coi là hành động gây suy thoái tàinguyên thiên nhiên, cụ thể là tài nguyên đất và rừng Tuy nhiên, Nguyễn Văn Dũng

và các cộng sự (2007) đã có báo cáo cho rằng canh tác nương rẫy không phải lànguyên nhân chính hay phải chịu trách nhiệm chính cho việc mất rừng và suy thoáiđất, bản thân canh tác nương rẫy có những tác động môi trường phức tạp và đadạng Không những thế, các tác giả còn khẳng định rằng, hoạt động canh tác nương

Trang 12

rẫy có một số tác động là tích cực và làm giàu có thêm đa dạng sinh học Tuy nhiên,báo cáo nên có những dẫn chứng cụ thể nhằm chứng minh khía cạnh tốt của hoạtđộng canh tác nương rẫy.

Khi nói đến các hoạt động ảnh hưởng xấu đến tài nguyên môi trường, khôngthể không kể đến hoạt động khai thác gỗ trái phép Hoạt động này vẫn diễn ra khámạnh mẽ ở khu vực xã Tùng Bá, Vị Xuyên, Hà Giang (Báo cáo của Trung tâmNghiên cứu Tài nguyên và Môi trường, 2001) Việc khai thác lúc đầu tập trung vàonhững loại gỗ tốt và có giá trị kinh tế cao như lát, Pơ mu, nghiến,…Sau đó, khinhững loài gỗ này trở nên khan hiếm, người dân địa phương tiếp tục khai thác gỗtạp với số lượng lớn, giai đoạn diễn ra hoạt động khai thác gỗ mạnh vào những năm

1990 Theo báo cáo, sở dĩ có việc khai thác trái phép mạnh mẽ như thế là do cácnguyên nhân sau: lợi nhuận quá cao, lực lượng kiểm lâm quá mỏng và có một số bấtcập trong việc giao đất, giao rừng của Chính phủ,…Các hoạt động gây ảnh hưởngxấu đến tài nguyên ở Tùng Bá không chỉ có hoạt động khai thác gỗ trái phép, tuynhiên không thấy nêu ra trong báo cáo

1.2.4 Các cơ hội tham gia bảo tồn của cộng đồng

Người dân tham gia bảo tồn được tạo cơ hội tiếp cận với các phương phápgiáo dục bảo tồn mang tính quốc tế kết hợp với các yếu tố địa phương Điều này tạođiều kiện cho người dân tiếp cận với các vấn đề môi trường ở địa phương một cáchthuận lợi, và thúc đẩy người dân tham gia các chương trình giáo dục bảo tồn mộtcách tích cực Báo cáo của Richard và Barbara (2001) cũng chỉ ra rằng, việc tạo chongười dân cơ hội tiếp cận với kinh nghiệm bảo tồn trên thế giới sẽ đảm bảo chươngtrình thành công hơn là việc Chính phủ và các công ty áp đặt các kế hoạch bảo tồn

mà không có sự tham gia của người dân Kết quả cũng chỉ ra rằng, tất cả các chươngtrình giáo dục bảo tồn nên lấy cộng đồng làm trung tâm cùng với những vấn đềngôn ngữ, văn hóa, lịch sử, … tại địa phương làm nền tảng cho việc thiết kế cácchương trình

Việc người dân tiếp cận các kiến thức bảo tồn thông qua các phương tiệnthông tin đại chúng như sách báo, ti vi,… cũng là một cách hữu ích giúp người dân

Trang 13

chủ động tiếp cận với công tác bảo tồn Báo cáo của Engels và Jacobson (2007) đãchỉ ra rằng, năm 2001 người dân tiếp cận với nhiều nguồn thông tin, cụ thể, cácnguồn thông tin đó là: thông tin đại chúng, các tài liệu giáo dục, các hoạt động và từnhững người xung quanh hơn năm 1986 với cùng số người được hỏi Tuy nhiên,cách tiếp cận và hiệu quả tiếp cận có sự khác nhau giữa 2 giới và giữa 2 cộng đồngdân cư sống ở thị trấn lớn và các làng nhỏ Điều này tạo ra hướng tiếp theo cho cácnhà nghiên cứu khi tập trung các hoạt động giáo dục môi trường, các tài liệu và cácchương trình truyền thông đại chúng để làm tăng sự tập trung vào nữ giới, làm chokiến thức môi trường của họ ngày càng tăng lên, đồng thời những chương trình tiếptheo nên tạo nhiều cơ hội tiếp cận hơn cho những người dân sống ở những thị trấnnhỏ, nghèo nàn hơn.

Một trong những cơ hội tiếp cận tốt nhất để cộng đồng tích cực tham gia vàocông tác bảo tồn đó là để họ tự tiếp cận với các nguồn thông tin, từ đó tiếp nhận và

bổ sung vào tài liệu những thông tin họ cho là cần thiết Brewer (2002) đã cho rằng,

sự tham gia nên được khuyến khích và trông đợi để thêm vào những câu hỏi, lựachọn những thông tin có giá trị và giới thiệu những kết quả của họ cho những ngườikhác kể cả các nhà khoa học, bên cạnh đó việc cộng tác với giáo viên và các chuyêngia giúp họ trau dồi rất nhiều về kiến thức chuyên môn trong quá trình dự án diễn ra

và ngay cả trong những hoạt động sau khi dự án kết thúc Đây là phương pháp tiếpcận rất chủ động và hiệu quả của cộng đồng trong việc tham gia các hoạt động bảotồn

Một nghiên cứu đã chứng minh rằng, cơ hội tiếp cận của cộng đồng với giáodục bảo tồn không chỉ đến từ chính quyền địa phương hay các nhà bảo tồn mà cònđến từ những học sinh là con cái của họ được học về giáo dục bảo tồn trong trườnghọc Nghiên cứu này của Vaughan, Gack, Solorazano và Ray, (2005) đã được tiếnhành về sự học tập, trao đổi của các thế hệ trong cộng đồng, cụ thể bao gồm các họcsinh, bố mẹ của chúng và các thành viên trong cộng đồng Giả thuyết được các nhàkhoa học đặt ra rằng: các học sinh được học và nhớ được các yếu tố cơ bản về bảotồn trong môi trường trường học và truyền đạt lại với bố mẹ của chúng Kết quả chỉ

Trang 14

ra rằng bố mẹ học từ những đứa con và cả 2 nhóm này thường xuyên trao đổi thôngtin với nhau và gợi ý rằng các chương trình giáo dục môi trường được thiết kế vàtiến hành cho trẻ em có thể cho phép bố mẹ và các thành viên cộng đồng học và nhớđược các thông tin (Vaughan, Gack, Solorazano và Ray, 2005).

Một vấn đề không thể không nhắc đến khi nói về cơ hội tiếp cận của cộngđồng với giáo dục bảo tồn đó là những thách thức và cơ hội của cộng đồng trongviệc tham gia các hoạt động bảo tồn Decker, Raik, Carpenter, Organ và Schusler(2005) đã có bài viết thảo luận về những thách thức và cơ hội trong quản lý độngvật hoang dã ở địa phương, mức độ quan tâm của cộng đồng trong sự hợp tác vớiquản lý động vật hoang dã Kết quả làm nổi bật vai trò của các nhà quản lý, các cơquan chức năng trong việc tạo điều kiện cho cộng đồng tham gia các vấn đề bảo tồnthông qua việc cung cấp thông tin và các tiến trình cần thiết để sự tham gia có hiệuquả hơn Đây cũng là mức độ cần thiết của sự hợp tác: cộng đồng - cơ quan quản lýđộng vật hoang dã Cơ hội này cho các nhà bảo tồn động vật hoang dã đảm bảo làmhài hoà lợi ích lâu dài của cộng đồng và lợi ích của việc quản lý động vật hoang dã.Các nhà quản lý động vật hoang dã cần được chỉ dẫn khi đưa ra các quyết định vớiviệc quản lý động vật hoang dã trên cơ sở cộng đồng

Những khó khăn và thách thức của các chương trình giáo dục bảo tồn ảnhhưởng rất nhiều đến cơ hội tiếp cận của người dân và sự thành công của các chươngtrình này Norris và Jacobson (1998) tổng kết trong báo cáo đánh giá sự thành công

và thất bại của 56 chương trình giáo dục bảo tồn Sau khi sử dụng một loạt các mụctiêu về phân tích ngôn ngữ, phân loại và khảo sát hệ thống, các nhân tố được cho là

có thể ảnh hưởng đến sự thành công của chương trình là: vùng địa lý nơi mà chươngtrình diễn ra, nguồn tài trợ chương trình, thời gian chương trình bắt đầu đến khi kếtthúc, các loại ấn phẩm diễn đạt kết quả và các phương pháp đánh giá Tuổi thọ củachương trình chính là một yếu tố ảnh hưởng mạnh mẽ tới sự thành công của chươngtrình, và gợi ý rằng đây là một yếu tố cần thiết khi đánh giá sự thành công và giá trịcủa chương trình giáo dục bảo tồn Những thuộc tính của chương trình như địađiểm, người đỡ đầu, dạng ấn phẩm để xuất bản kết quả đã không liên quan

Trang 15

tới sự thành công của chương trình Những thách thức khiến các chương trìnhkhông thành công như mong đợi là do chúng ít có tác động hoặc không có kỹ thuậttrong việc thay đổi mục tiêu bảo tồn, hầu hết các báo cáo đều không có thông tin vềbiện pháp kỹ thuật đánh giá trước, trong và sau chương trình.

Việc nâng cao các cơ hội giáo dục bảo tồn ở các khu bảo tồn thiên nhiên ởvùng nhiệt đới, cụ thể là ở Belize được Rome và Romero (1998) nghiên cứu Đốitượng giáo dục của chương trình là các sinh viên và các khách thăm quan của khubảo tồn Những vị khách đến thăm quan khu bảo tồn và có cơ hội được tiếp cận vớicác hình thức giáo dục bảo tồn từ những nhà giáo dục bảo tồn trẻ và không chuyênnghiệp Kết quả chỉ ra rằng, những người tham gia rất thích thú với hướng tiếp cậnmới này hiệu quả nhận thức bảo tồn tăng lên rõ rệt Các khu bảo tồn khác có thể cânnhắc các chương trình đơn giản để nâng cao chất lượng các chương trình giáo dụcbảo tồn Nghiên cứu này mở ra một hướng đi mới cho công tác giáo dục bảo tồn tạicác khu bảo tồn, với những đối tượng khác nhau nhưng vẫn đạt những hiệu quả nhấtđịnh

Trong nhiều trường hợp, cách tiếp cận của các nhà khoa học, các nhà giáo dụcbảo tồn vẫn là những yếu tố quyết định đến sự thành công của chương trình.Jacobson (1991) đã có báo cáo về việc đánh giá mô hình phát triển, phương tiện vàkết quả của các chương trình giáo dục bảo tồn ở Costa Rica và Belize Theo bà, mộttrong những yếu tố giúp các nhà bảo tồn có hướng tiếp cận đúng đắn với cộng đồngđịa phương trong các chương trình giáo dục bảo tồn đó là xây dựng và phân tích cácbáo cáo đánh giá chương trình Kết quả cho rằng, việc phân tích báo cáo như một tàiliệu tổng hợp giúp các nhà bảo tồn đưa ra những chương trình thích hợp nhất vớingười tham gia và cung cấp kinh nghiệm giúp các chương trình thành công

Trang 16

Chương 2 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, DÂN SINH KINH TẾ XÃ HỘI

CỦA KHU VỰC NGHIÊN CỨU

2.1. Điều kiện tự nhiên, dân sinh kinh tế xã hội khu vực nghiên cứu

2.1.1 Lý do lựa chọn khu vực nghiên cứu

Đề tài lựa chọn khu vực nghiên cứu bao gồm: 2 xã thuộc huyện Bắc Mê là YênĐịnh và Minh Sơn và 1 xã thuộc huyện Vỵ Xuyên là Tùng Bá, vì những lý do sauđây:

- Trong số các khu vực xuất hiện Voọc mũi hếch, khu vực Khau Ca được cho là có

số lượng quần thể loài lớn nhất

- Người dân quanh KBT vẫn còn những tác động xấu đến khu vực được bảo vệ như khai thác gỗ và các lâm sản phụ, thậm chí săn bắn trong Khu bảo tồn

- Khoảng cách từ nơi sinh sống của người dân đến KBT là khá gần

- Chưa có một chương trình giáo dục bảo tồn nào giành cho người dân 3 xã nói trên

về Voọc mũi hếch và Khu bảo tồn Khau Ca

- Khu bảo tồn loài và sinh cảnh Voọc mũi hếch Khau Ca mới được thành lập cách đây không lâu, không nhiều người biết về sự thành lập này

- Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ góp phần thiết kế những chương trình giáo dục bảo tồn phù hợp và cần thiết với tất cả người dân sống tại KBT

2.1.2 Điều kiện tự nhiên, dân sinh, kinh tế xã hội của khu vực nghiên cứu

3 xã thuộc khu vực nghiên cứu của đề tài liền kề nhau và bao trùm khu bảo tồnKhau Ca và được gọi chung là khu vực Khau Ca Vì vậy đề tài lấy điều kiện tựnhiên và dân sinh kinh tế xã hội của khu vực Khau Ca là các điều kiện của khu vựcnghiên cứu

2.1.2.1 Điều kiện tự nhiên

• Vị trí địa lý

Khau Ca là khu vực núi đá, với diện tích 2024 ha, trong đó diện tích vùng lõikhoảng 1000 ha, cách thị xã Hà Giang khoảng 15 - 20 km về phía Đông và cách Hà

Trang 17

Nội 300km về phía Bắc Khu vực Khau Ca nằm trọn trong địa giới hành chính của 3xã: Yên Định và Minh Sơn (huyện Bắc Mê) và Tùng Bá (huyện Vỵ Xuyên) của tỉnh

Hà Giang Trong đó:Phía Bắc thuộc xã Tùng Bá Phía

Nam thuộc xã Yên ĐịnhPhía Đông thuộc xã Minh SơnPhía Tây thuộc xã Tùng Bá và Yên Định

Hình 2.1: Sơ đồ KBT Khau Ca

• Địa hình

Theo tài liệu địa chất, khu vực Khau Ca là khu vực núi đá vôi điển hình Địahình của khu vực bị chia cắt mạnh với nhiều thung lũng sâu và hẹp Đỉnh núi caonhất của khu vực là Đỉnh Cột mốc, cao 1339.9m so với mực nước biển Độ caogiảm dần theo hướng Tây – Tây Bắc và Đông Bắc, thấp nhất 466m so với mực nướcbiển (trung tâm xã Tùng Bá) Độ dốc trung bình là 30o

Phía Bắc được bao bọc bởi vách đá dựng đứng đóng vai trò như bìa rừng vàhàng rào di chuyển của các loài không biết bay Ngoại trừ vách đá này, còn lại địahình thấp hơn và ít hiểm trở hơn, đất đai ổn định và màu mỡ là nơi làm nông nghiệptập trung của cộng đồng địa phương

Trang 18

• Địa chất và thổ nhưỡng

Khu vực Khau Ca nằm trong vùng có kiến tạo địa chất thuộc kỷ Đệ Tam,dưới tác động của nhiệt độ, nước, sinh vật và áp suất cùng với sự vận động của vỏTrái đất, các sản phẩm phong hóa chia thành 2 dạng đá trầm tích sau:

- Trầm tích hóa học: Đá phylit – phân bố rải rác, diện tích nhỏ

- Trầm tích cơ học: Đá sa thạch – chiếm tỷ lệ lớn về diện tích >85%, đất hình thành

từ đá sa thạch giàu dinh dưỡng, tơi xốp và thoát nước

Rừng Khau Ca nằm trên núi đá vôi giữa các thôn bản và đất nông nghiệpngắt quãng bởi các mô đất và núi Xã Tùng Bá (kéo dài từ phía Bắc) có hàng loạthang động và núi đá vôi Hang động chứa nhiều loài động vật ưa tối, thực vật bậcthấp và trầm tích cần được bảo tồn và thu hút sự quan tâm của nhiều nhà sinh vậthọc

Giá trị sau cùng (theo chính quyền là cần phải điều tra kĩ hơn) là giá trị vềvăn hoá của các hang động ở đây Các hang động đang bị tác động của người dânđịa phương, do vậy cần phải có các chương trình giáo dục về giá trị của hang độngđối với cộng đồng địa phương

• Khí hậu và thủy văn

Khu bảo tồn nằm trong vùng cận nhiệt đới phía Bắc Việt Nam Đặc điểm củavùng này là khí hậu nhiệt đới gió mùa Mùa hè có gió Nam và Đông Nam, kéo dài

từ tháng 4 đến tháng 9 Mùa đông có gió mùa Đông Bắc thường kéo dài từ tháng 10đến tháng 3 năm sau Tổng lượng mưa trung bình vào khoảng 2300mm/năm Hầuhết lượng mưa tập trung vào tháng 6, tháng 7 và tháng 8, và thường xảy ra lũ lụt

Nhiệt độ trung bình năm là khoảng 23,3 C Tháng 10 và 12 có độ ẩm trungbình thấp nhất (35,5%), tháng 2 và 3 có độ ẩm trung bình cao nhất (87 đến 100%).Mùa khô (lượng mưa <100mm/tháng) kéo dài từ tháng 10 đến tháng 3, mùa mưa từtháng 4 đến tháng 9 (lượng mưa ≥100 mm/tháng) (Covert và cộng sự, 2008) Nhiệt

độ trung bình năm là 19.8oC Mùa lạnh từ tháng 10 đến tháng 4 Vào các tháng 12,Giêng và Hai, nhiệt độ trung bình 15 C Nhiệt độ đo được thấp nhất của vùng là - 3

C vào tháng Giêng Mùa nóng từ tháng 5 đến tháng 9, nhiệt độ trung bình 24,2 C

Trang 19

Khu vực là vùng rừng trên núi đá vôi biệt lập, không có các sông suối nướcchảy thường xuyên do diện tích rừng nhỏ và địa hình đá vôi nhấp nhô hiểm trở Khurừng thuộc đầu nguồn sông Lô chảy vào sông Gâm gần thị xã Tuyên Quang từ đóchảy vào sông Hồng tại thành phố Việt Trì.

2.1.2.2 Điều kiện kinh tế xã hội

* Tổng quát

Phần này tổng hợp các thông tin về điều kiện kinh tế - xã hội và tình hình sửdụng tài nguyên bên trong và tiếp giáp khu bảo tồn dựa trên những đánh giá về sửdụng tài nguyên năm 2006 (Nguyễn Hùng Mạnh và Phạm Hoàng Linh, 2006) và kếtquả lập bản đồ sử dụng đất có sự tham gia của người dân tháng 4 – 2008 (TrầnPhùng, 2008)

Báo cáo đánh giá sử dụng tài nguyên được thực hiện tại 16 thôn bản thuộc 3

xã xung quanh khu bảo tồn dự kiến với tổng số 1.791 hộ gia đình và 9.667 nhânkhẩu Người Tày với 7.503 nhân khẩu chiếm đa số, tiếp sau là người Dao 1.470nhân khẩu và người Mông 640 nhân khẩu Tổng diện tích đất nông nghiệp 784 ha

và diện tích rừng 833 ha

* Thu nhập tiền mặt

Theo đánh giá sử dụng tài nguyên, không có thôn bản nào có thu nhập nôngnghiệp trên 200.000VND/người/tháng – mức để xếp hạng người nghèo (Theo Quyếtđịnh số 170/2005/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 8 tháng 7 năm 2005 vềviệc ban hành chuẩn nghèo áp dụng cho giai đoạn 2006-2010), nhưng chỉ có 34,9%

hộ được coi là nghèo Do người dân địa phương lấy nguồn thu nhập từ nông nghiệp

và tài nguyên rừng nên một số gia đình nghèo cho rằng phần lớn thu nhập của họ là

từ rừng

Theo số liệu tính toán dựa vào câu hỏi ở 16 hộ gia đình, thu nhập trung bìnhcủa các hộ khá giả là 14,8 triệu đồng/năm, hộ trung bình là 8,7 triệu đồng/năm, và

hộ nghèo khoảng 3 triệu đồng/năm Khai thác rừng mang lại nguồn thu nhập đáng

kể cho những hộ nghèo cho dù gỗ thường được lấy từ ngoài vùng lõi của rừng Khau

Ca Xét trên lĩnh vực tổng thu nhập tiền mặt, khoản thu nhập từ chăn nuôi gia súc và

Trang 20

dịch vụ đóng vai trò quan trọng nhất đối với các hộ khá giả Các hộ khá giả làm chủnhững trang trại (tương đối) lớn nhất ở đây Do đó, khả năng chăn nuôi gia súc phụthuộc (một phần) vào lượng cỏ khô từ trồng trọt và làm cho khu vực này càng giàu

có hơn và năng suất nông nghiệp ngày càng cao hơn Hơn nữa, một số gia đình khágiả cũng kinh doanh các cửa hàng nhỏ trong thôn và chưng cất rượu để bán trongvùng và bán cho Thị xã Hà Giang (Trang Chí Trung và cộng sự, 2006)

Nhìn chung, sự phân bố thu nhập tiền mặt của các hộ gia đình cho thấy ngườidân ở đây có phần phụ thuộc vào tài nguyên thiên nhiên ở các mức độ khác nhau

Có khả năng thu nhập thực tế từ việc đốn gỗ và khai thác lâm sản phi gỗ cao hơnthu nhập tính toán trong báo cáo này do các sai sót khi lấy các hộ điển hình Tuynhiên, rõ ràng các hộ nghèo (hơn) và trung bình dành hầu hết thời gian để khai tháclâm sản Điều này cũng cho thấy những thanh niên và những người đàn ông thườngvào rừng đốn gỗ sẽ không đủ thời gian để chăm sóc vụ mùa của mình Do đó, năngsuất vụ mùa sẽ rất thấp (Trang Chí Trung và cộng sự, 2006) Điều này sẽ dẫn đếnviệc thiếu hụt lương thực và nhu cầu tiếp tục tìm kiếm tài nguyên rừng để bán đi lấytiền/lương thực

• Sản xuất nông nghiệp: Người dân địa phương thu nhập chủ yếu từ các hoạt độngtrồng trọt, bao gồm lúa, ngô và các loại hoa màu khác, và chăn nuôi trâu, bò, lợn, gia cầm

và các loại vật nuôi khác

Hoạt động sản xuất nông nghiệp trong khu vực còn gặp nhiều khó khăn vàphụ thuộc vào các điều kiện tự nhiên: địa hình đồi núi dốc, thời tiết khí hậu khắcnghiệt Kỹ thuật canh tác của dân địa phương còn thấp Bên cạnh đó, công tácphòng chống dịch bệnh và dịch hại ở vật nuôi, cây trồng còn nhiều hạn chế Chỉtrong năm 2005, 16 thôn trên đã thiệt hại trên 1 tỷ đồng do dịch bệnh ở gia súc, giacầm, sạt lở đất gây mất diện tích đất trồng lúa (Nguyễn Hùng Mạnh và Phạm HoàngLinh, 2006)

• Sản xuất lâm nghiệp:

Sản xuất lâm nghiệp trong khu vực còn chưa được chú ý Công tác giao đất,giao rừng đã được triển khai nhưng hiệu quả còn chưa rõ ràng, hiện chỉ có 832,6 ha

Trang 21

đất lâm nghiệp đã được giao khoán cho các hộ gia đình, trung bình 2,8 ha/hộ gia đình, nhưng phân bố không đồng đều tại các thôn bản (Nguyễn Hùng Mạnh và Phạm Hoàng Linh, 2006) Thu nhập từ nghề rừng của người dân chỉ bằng 12% so với tổng thu nhập từ nông nghiệp Hầu như thu nhập từ rừng là không bền vững, bao gồm cả khai thác gỗ bán, khai thác gỗ củi và lâm sản ngoài gỗ khác • Cơ sở hạ tầng

Tất cả các thôn bản đều có đường dân sinh đến được trung tâm thôn Một sốthôn bản có hệ thống đường liên thôn đã được bê tông hóa, tạo điều kiện thuận lợicho việc đi lại trong khu vực (như tại các thôn bản của xã Tùng Bá) Tuy nhiên, tại

2 thôn Khuẩy Lòa và Phia Đeng của xã Minh Sơn, do nằm ở khu vực có địa hìnhcao và dốc nên đường giao thông đến 2 bản này còn hết sức khó khăn Tất cả 3 xãđều có chợ, tuy nhiên đều họp theo phiên, từ 7 – 10 ngày/phiên tùy theo xã

Tất cả các thôn, bản đều có điện, tuy nhiên không phải đều là điện lưới quốcgia Một số thôn tự tạo ra nguồn điện từ năng lượng của các dòng nước chảy trongthôn hoặc từ máy phát điện (thôn Phia Đeng của xã Minh Sơn)

Thông tin, liên lạc của khu vực còn rất hạn chế Tại mỗi xã, chỉ có 1 trạmbưu điện – văn hóa xã, đây là trung tâm liên lạc thông tin và văn hóa chính của dân

cư trong vùng

Mỗi xã đều có 1 trạm y tế đặt tại khu vực trung tâm xã Cơ sở hạ tầng (nhà,trạm), trang thiết bị và thuốc men đã được đầu tư nhiều nhưng vẫn còn thiếu thốn sovới nhu cầu khám chữa bệnh của người dân địa phương

Các xã đều có trường trung học cơ sở và tiểu học, ở mỗi thôn cũng có các lớptiểu học và mầm non Đại đa số dân địa phương đã được xóa mù chữ, trẻ em được

đi học đầy đủ Tuy nhiên, tại một số thôn của cả 3 xã, một bộ phận không nhỏ sốngười lớn không nói được tiếng Kinh

Trang 22

Chương 3 ĐỐI TƯỢNG, MỤC TIÊU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Người dân từ 18 tuổi trở lên, sống tại các thôn gần hoặc giáp ranh với Khubảo tồn Loài & Sinh cảnh Voọc mũi hếch Khau Ca, thuộc 3 xã Minh Sơn, Yên Định(huyện Bắc Mê) và Tùng Bá (huyện Vỵ Xuyên)

Từ 26/12/2009 – 15/01/2010 Điều tra thực địa lần 1

Từ 28/02/2010 – 13/03/2010 Điều tra thực địa lần 2

Từ 15/03/2010 – 30/09/2010 Xử lý số liệu, viết và hoàn thiện luận

văn

Đề tài tiến hành trong thời gian từ tháng 12/2009 đến tháng 9/2010

3.3 Mục tiêu nghiên cứu

Đánh giá nhận thức của người dân tại 3 xã giáp ranh với khu bảo tồn và cơhội tiếp cận của người dân địa phương với các chương trình giáo dục bảo tồn, gópphần bảo tồn loài Voọc Mũi hếch ở Khau Ca nói riêng và ở Việt Nam nói chung

Trang 23

3.4 Nội dung nghiên cứu

3.4.1 Đánh giá nhận thức và thái độ của người dân đối với các vấn đề bảo tồn tài nguyên thiên nhiên trong khu vực nghiên cứu

3.4.2 Các hoạt động gây ảnh hưởng tốt đến tài nguyên môi trường trong khu vực

3.5.1.1 Phỏng vấn bán cấu trúc

Đề tài đã tiến hành 25 cuộc phỏng vấn bán cấu trúc với các đối tượng làngười dân và chính quyền địa phương (cấp thôn, bản và một số ít là cấp xã) nhằmthu thập những thông tin về tài nguyên thiên nhiên xung quanh khu vực họ sinhsống, xác định nhận thức với các vấn đề bảo tồn tại địa phương và công tác thực thipháp luật Tuy nhiên, những kết quả thu được từ phỏng vấn bán cấu trúc chỉ được

sử dụng để hỗ trợ những kết quả của phỏng vấn cấu trúc, công cụ chính được tác giả

sử dụng trong nghiên cứu này

Đối tượng phỏng vấn là người dân địa phương và được lựa chọn sao cho

có sự khác nhau về lứa tuổi, thu nhập hàng năm, địa vị xã hội và giới tính

Trang 24

Các câu hỏi phỏng vấn được đề tài thiết kế với tiêu chí đơn giản và dễhiểu Ngoài ra, để khai thác tối đa những thông tin từ người dân, đề tài chuẩn bịthành một bộ câu hỏi để giải quyết từng nội dung cụ thể (chi tiết nội dung của bộcâu hỏi được trình bày tại phụ lục 04) Một số các nội dung chính trong phỏng vấnbán cấu trúc như sau:

1 Hiểu biết của người dân về Khu bảo tồn như ranh giới KBT, khoảng cách từ nơisinh sống tới ranh giới KBT, năm thành lập KBT, tầm quan trọng của việc thành lậpKBT và tình trạng loài Voọc mũi hếch trong KBT

2 Tìm hiểu ảnh hưởng của các hoạt động sinh kế của người dân địa phương đến đadạng sinh học trong KBT Các hoạt động được xem xét bao gồm: hoạt động chănthả gia súc trong gia đình thường diễn ra ở đâu, có đủ thức ăn cho chúng trongtương lai hay không và nếu không thì giải pháp cho vấn đề này của người dân là gì,hoạt động lấy củi phục vụ nhu cầu hàng ngày diễn ra ở đâu và như thế nào …

3 Xác định những khó khăn của người dân địa phương trong các hoạt động sinh kế bên trên cũng như tìm hiểu nguyện vọng của họ trong việc cải thiện sinh kế

Phỏng vấn được tiến hành tại nhà dân Thời gian mỗi cuộc phỏng vấn kéo dàikhoảng 1 giờ Số lượng người cho một cuộc phỏng vấn khoảng 3 – 5 người Nhữngthông tin trong các cuộc phỏng vấn được ghi lại một cách chi tiết bằng tay vào sổngoại nghiệp ngay trong thời gian phỏng vấn và được bổ sung sau khi cuộc phỏngvấn kết thúc

3.5.2.2 Phỏng vấn cấu trúc

Để đánh giá nhận thức, thái độ của người dân xung quanh KBT, đề tài đãtiến hành phỏng vấn 90 người dân bằng phiếu câu hỏi phỏng vấn cấu trúc Kết quảcủa các cuộc phỏng vẫn này được sử dụng cho việc phân tích chính và đưa ra cáckết luận của đề tài

Đối tượng phỏng vấn trong phương pháp này rộng hơn so với phương phápphỏng vấn bán cấu trúc Những người được lựa chọn phỏng vấn bao gồm người dânthuộc 3 xã với đủ các ngành nghề như nông dân, cán bộ hành chính, nhân viên công

ty và tiểu thương và những đối tượng khác Trong các đối tượng tham gia phỏng

Trang 25

vấn, nông dân chiếm tỷ trọng lớn nhất bởi vì đây là những người có thu nhập thấp

và cuộc sống của họ phụ thuộc rất nhiều vào tài nguyên thiên nhiên ở khu vựcnghiên cứu Cũng giống như với phương pháp phỏng vấn bán cấu trúc, đối tượngphỏng vấn ở đây được lựa chọn sao cho có sự khác nhau về lứa tuổi, thu nhập hàngnăm, địa vị xã hội và giới tính

- Cấu trúc bộ câu hỏi phỏng vấn: Để thiết kế bộ câu hỏi phù hợp, theo cấu trúc củacâu hỏi và cấu trúc câu trả lời cho mỗi câu hỏi, tôi đã xây dựng bộ câu hỏi theo 2dạng: câu hỏi đóng và câu hỏi đóng – mở Bộ câu hỏi được tham khảo từ phiếu câuhỏi phỏng vấn điều tra nhận thức và thái độ của Tổ chức WWF (Phụ lục 5)

+ Câu hỏi đóng (Close question)

Là những câu hỏi đã có sẵn các phương án trả lời, người được hỏi sẽ lựachọn và đánh dấu vào các phương án thích hợp Dựa trên nguyên tắc này, đề tài đãthiết kế 16 câu hỏi đóng, trong đó, có 4 câu hỏi với đáp án có 2 lựa chọn là “có”hoặc “không” và 14 câu hỏi còn lại có từ 3 đến 9 lựa chọn Mục đích của những câuhỏi này trong đề tài là để khai thác những thông tin về nhận thức và thái độ củangười dân trong khu vực nghiên cứu

+ Câu hỏi đóng – mở (Open-ended question)

Là những câu hỏi không có sẵn các phương án trả lời, trong đó người được hỏi tự đưa ra các phương án trả lời với họ Với dạng câu hỏi này, đề tài thiết kế 8 câu hỏi (chi tiết câu hỏi được trình bày trong Phụ lục 05) Mục đích của việc sử dụng các câu hỏi này là nhằm thu thập và khai thác những thông tin của người dân

về các mối quan tâm, lo lắng cũng như nguyện vọng của họ đối với các vấn đề liên quan đến sử dụng tài nguyên thiên nhiên trong khu vực - Nội dung bảng câu hỏi:

Bảng câu hỏi được chia làm 4 phần:

Phần I: Tìm hiểu kiến thức và nhận thức của người dân về bảo vệ môi trường

và tài nguyên thiên nhiên, khu bảo tồn thiên nhiên (năm thành lập, ranh giới,khoảng cách từ nhà tới ranh giới khu bảo tồn, những người bảo vệ rừng,…); mongmuốn của người dân với công tác bảo tồn trong tương lai

Trang 26

Phần II: Tìm hiểu về vấn đề quản lý và sử dụng vườn rừng, yếu tố quan trọnggiảm thiểu các tác động tới tài nguyên thiên nhiên và khu bảo tồn.

Phần III: Đánh giá tác động của người dân địa phương đối với tài nguyên thiênnhiên, cái được và cái mất đối với người dân từ khi Khu bảo tồn được thành lập.Phần IV: Những thông tin về đối tượng phỏng vấn (độ tuổi, thu nhập, trình độhọc vấn, giới tính, dân tộc, số năm cư trú tại địa phương, nghề nghiệp,…)

Bộ câu hỏi phỏng vấn được đưa ra trong phụ lục 06 Trước khi tiến hànhphỏng vấn đại trà, bảng câu hỏi đã được phỏng vấn thử nghiệm với một số ngườidân ở địa bàn xã Tùng Bá

* Phương pháp phỏng vấn

Phỏng vấn được tiến hành ngẫu nhiên đối với từng đối tượng thuộc 3 xã MinhSơn, Yên Định và Tùng Bá Tổng số cuộc phỏng vấn thực hiện là 90 cuộc Địa điểmphỏng vấn là linh hoạt, có thể tại nhà dân, trên đồng ruộng nơi người dân dang sảnxuất, nơi người dân đang làm việc Lý do cho việc lựa chọn địa điểm phỏng vấn này

là để tiết kiệm thời gian và nguồn lực cho nghiên cứu khi mà địa bàn nghiên cứurộng

Các đối tượng được lựa chọn phỏng vấn là những người có khả năng nói tiếngQuốc ngữ (tiếng Việt) Đây có thể là một trong những hạn chế của phương phápnghiên cứu vì thông tin thu nhận không đại diện cho tất cả các đối tượng là ngườidân địa phương Tuy nhiên, đây là một trong những khó khăn khi tiến hành phỏngvấn tại các nơi vùng sâu vùng xa nói chung và khu vực Khau Ca nói riêng, nơi màthành phần dân tộc thiểu số chiếm chủ yếu, trình độ học vấn thấp và đại đa số ngườidân không nói hoặc hiểu được tiếng Quốc ngữ

Khi tiến hành phỏng vấn, tác giả đọc câu hỏi và câu trả lời sẵn có đối với dạngcâu hỏi đóng (Close question) cho đối tượng phỏng vấn Nếu họ đồng ý lựa chọnnào, tác giả sẽ đánh dấu lựa chọn đó trong phiếu câu hỏi Đối với câu hỏi dạngđóng-mở (Open-ended question), tác giả cũng làm tương tự các bước như trên Câutrả lời của người được phỏng vấn được tác giả ghi lại vào phiếu phỏng vấn Các

Trang 27

phiếu câu hỏi sau khi phỏng vấn được đánh số và ghi tên người phỏng vấn, việc nàythuận tiện cho việc kiểm tra thông tin và phân tích kết quả sau đó.

* Cách chấm điểm: Các câu hỏi về nhận thức, thái độ của người dân với các vấn đềmôi trường, Khu bảo tồn và Voọc mũi hếch được tác giả cho điểm tùy theo loại câuhỏi Với dạng câu hỏi Đóng, đã có đáp án sẵn phù hợp nhất với người được hỏi, 1điểm cho mỗi câu trả lời đúng và 0 điểm cho mỗi câu trả lời sai hoặc không biết đáp

án Với dạng câu hỏi Đóng – Mở, tác giả chia mức độ nhận thức ra làm 4 cấp đó là:rất hiểu biết, hiểu biết, ít hiểu biết và không biết tương ứng với số điểm lần lượt là

3, 2, 1 và 0 (chi tiết tại Phụ lục) Mức độ về thái độ với tài nguyên được chia làm 2cấp trong đó cấp 1 điểm cho người có thái độ rất tích cực và 0 điểm cho ngườikhông quan tâm đến vấn đề Mỗi phiếu sau đó sẽ được cộng tổng số điểm, phiếunào được ≥50% số điểm tối đa khi đó người trả lời được cho là có hiểu biết khá đầy

đủ và nhận thức tốt về các vấn đề được nêu ra (Nguyễn Ngọc Thắng, 2007;

Rajakaruna et al., 2009) Toàn bộ các câu hỏi trong phiếu phỏng vấn và thang cho

điểm được với mỗi câu hỏi được đính kèm trong phần phụ lục

3.5.2.3 Phương pháp đánh giá các hoạt động gây ảnh hưởng đến tài nguyên môi trường và nguyên nhân

Sau khi có được kết quả về nhận thức và thái độ của người dân với tàinguyên, đề tài đã phân loại các hoạt động này ra làm 2 loại chính: các hoạt động ảnhhưởng tốt và các hoạt động ảnh hưởng xấu đến đa dạng sinh học

Theo đó, những hoạt động ảnh hưởng tốt đến nguồn tài nguyên của ngườidân là những hoạt động không làm ảnh hưởng đến tính bền vững của đa dạng sinhhọc, không làm tổn hại đến các nguồn tài nguyên xung quanh như không gây ra ônhiễm, suy thoái và cạn kiệt tài nguyên Ngược lại, những hoạt động gây ảnh hưởngnhư khai thác quá mức các nguồn tài nguyên, khai thác bất hợp pháp không đúngquy định hay làm ô nhiễm môi trường là những hoạt động xấu đến tài nguyên thiênnhiên

Trang 28

Sau khi tìm hiểu các hoạt động thông qua việc phỏng vấn người dân và khai

thác các tài liệu sẵn có, đề tài tổng hợp và phân tích về mức độ tác động của các

hoạt động này với tài nguyên xung quanh khu vực nghiên cứu

Việc tìm hiểu nguyên nhân của các hoạt động và cách duy trì các hoạt động

tốt cũng như việc hạn chế các hoạt động xấu là cần thiết trong việc phân tích của đề

tài Các hoạt động được phân tích dựa vào bảng sau:

Bảng 3.1: Đánh giá các hoạt động ảnh hưởng tới tài nguyên và khu bảo tồn

Số thứ tự Tên hoạt động Tần suất Tác động đến KBTTN, Đánh giá hoạt

(lần/tháng)

Sau khi phân tích các hoạt động, tham khảo ý kiến của các cơ quan chức

năng, các tổ đội tuần rừng và các chuyên gia, đề tài tiến hành phân loại các hoạt

động theo mức độ tốt và xấu đối với tài nguyên, phân tích các nguyên nhân của các

hoạt động đó để có cái nhìn cụ thể về các hoạt động, phục vụ cho quá trình phân

tích và đưa ra kết luận về nhu cầu giáo dục bảo tồn của người dân trong tương lai

3.5.2.4 Phương pháp đánh giá các cơ hội tham gia giáo dục bảo tồn của cộng

đồng

Đề tài tổng hợp và phân tích các tài liệu sẵn có và thu thập thêm thông tin

cho việc phân tích cơ hội tham gia GDBT của cộng đồng Trên cơ sở các hoạt động,

cơ hội và thách thức cho người dân tham gia cũng được phân tích So sánh các cơ

hội và thách thức, từ đó đề tài đưa ra kết luận người dân có thực sự có cơ hội nâng

cao nhận thức và các lợi ích khác từ các hoạt động đó hay không

3.5.3 Phương pháp phân tích số liệu

Sau khi hoàn thành việc phỏng vấn trên hiện trường, việc tiến hành phân tích

số liệu được thực hiện Các bảng câu hỏi được tổng hợp cho từng địa điểm nghiên

cứu, từng vấn đề nghiên cứu và cho từng nhóm đối tượng tham gia phỏng vấn Hơn

nữa, trong từng nhóm đối tượng, các phần thông tin của bảng câu hỏi được tổng hợp

Trang 29

riêng rẽ Ngoài các kết quả được ghi trong phiếu phỏng vấn, sau mỗi ngày phỏngvấn và ngày cuối cùng sau khi kết thúc phỏng vấn, đề tài cũng dành thời gian thảoluận trao đổi những vấn đề nổi bật trong quá trình phỏng vấn, tất cả các thông tinthảo luận này đã được ghi chép lại.

Các thông tin được tổng hợp mang tính định tính và định lượng Các kết quảnghiên cứu được so sánh, được kiểm tra với những thông tin đã thu thập trước đó để

có những nhận xét cũng như những kết luận và đề xuất cụ thể cho các hoạt động saunày của các chương trình giáo dục bảo tồn

Đề tài xử lý số liệu thu thập được bằng phần mềm Excel và SPSS 13.0 nhằmđưa ra những phương trình, so sánh định lượng về sự khác biệt về nhận thức, kiếnthức giữa các nhóm đối tượng khác nhau về độ tuổi, trình độ học vấn, dân tộc, thunhập,… và đặc biệt là khác nhau về địa giới hành chính giữa 3 xã

Trang 30

Chương 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

4.1 Nhận thức và thái độ của người dân đối với các vấn đề tài nguyên thiên nhiên

Kết quả về tình hình nhận thức của người dân 3 xã sau khi phân loại theo cácmức độ khác nhau được đưa ra Tuy nhiên, nhận thức về các vấn đề có sự khácnhau, cụ thể, nhận thức của người dân về tài nguyên thiên nhiên và môi trường vàcác vấn đề về KBT Khau Ca và Voọc mũi hếch hoàn toàn có sự khác biệt Số liệuđược thể hiện trong bảng 4.1:

Bảng 4.1: Nhận thức của người dân về các vấn đề

Nhận thức

Vấn đề

Nhìn vào bảng 4.1 cho thấy, nhận thức của người dân đối với các vấn đề đềtài đưa ra vẫn còn thấp Trong số 90 người được phỏng vấn, chỉ có 38 người(42.22%) có nhận thức tốt và thái độ bảo tồn tích cực với các vấn đề này Trong khi

đó, 25 người (27.78%) nhận thức ở mức trung bình và còn lại 27 người (30%) nhậnthức ở mức kém Tuy nhiên, việc hiểu biết trong từng vấn đề cũng không giốngnhau Khi được hỏi về những vấn đề môi trường đang tồn tại tại địa phương, hầu hết

số người được hỏi đều trả lời được hạn hán, lũ lụt, xói mòn đất và cháy rừng lànhững vấn đề đáng quan tâm và lo ngại hiện nay (48 người (53.33%) có mức nhậnthức tốt, 35 người (38.89%) có mức nhận thức trung bình và 7 người (7.78%) cómức nhận thức kém)

Người dân có thể nhận biết khá rõ ràng về những vấn đề môi trường là dokhu vực sinh sống thường xuyên có lũ lụt và xói mòn khá thường xuyên Việc hạn

Trang 31

hán không thường xuyên Tuy nhiên, vào thời gian tác giả thu thập số liệu, hiệntượng này đang diễn ra mạnh mẽ và phổ biến ở khu vực nghiên cứu Hầu hết diệntích canh tác lúa nước ở Yên Định và Tùng Bá đang trong tình trạng hạn hán, khôngcanh tác đúng thời vụ do thiếu nước Chính điều này khiến người dân lo lắng vàphần nào ý thức được vấn đề do hạn hán gây ra Ảnh dưới đây do tác giả chụp phảnánh tình trạng hạn hán vào tháng 3 năm 2010 tại xã Yên Định.

Hình 4.1: Hạn hán trên đồng ruộng xã Yên Định, tháng 03 năm 2010

Một số người có nhận thức sâu xa hơn về các vấn đề môi trường như họ cóthể nêu thêm rằng, ở địa phương đang tồn tại việc suy giảm diện tích rừng thậm chí

cả săn bắn trái phép 49 người trả lời rằng họ có thể làm gì đó để ngăn ngừa các vấn

đề này xảy ra như tuyên truyền cho những người xung quanh không phá rừng, một

số giáo viên có thể dạy bảo học sinh của mình về vai trò của rừng với đời sống vàmong muốn có thể thông qua đó tác động đến bố mẹ của chúng Số còn lại phần lớntrả lời rằng họ không biết làm gì tuy nhiên nếu được chỉ dẫn hoặc yêu cầu từ Chínhphủ, họ có thể đóng góp công sức và tham gia các hoạt động được tổ chức

Trang 32

Trong khi đó, hầu hết số người được hỏi đều có nhận thức rất kém về KBTKhau Ca cũng như các vấn đề liên quan đến Voọc mũi hếch (chỉ có 13 người(14.44%) có nhận thức tốt, 35 người (38.89%) có nhận thức trung bình và phần lớn

số người còn lại (42 người – 46.67%) có nhận thức kém)

Trong số 90 người được hỏi, gần 100% số người không biết về năm thànhlập của KBT Khau Ca, họ thường chỉ nhớ được năm 2002 khi thành lập đội tuầnrừng, thường xuyên đi tuần tra chứ không hề biết về quyết định cũng như năm thànhlập của KBT Điều này có thể giải thích là do việc thành lập KBT chỉ mới vào tháng

10 năm 2009, và từ đó đến nay không có một chương trình hay thông báo nào vớingười dân về việc thành lập này

Việc hiểu biết về loài Voọc mũi hếch cũng còn rất hạn chế, họ thường chưanhìn thấy loài vật này và một số người biết nó là loài động vật quý hiếm của địaphương Số lượng quần thể hay tầm quan trọng thực sự của loài động vật này lànhững vấn đề hoàn toàn nằm ngoài tầm hiểu biết của người dân quanh khu vực

Những kết quả trên đây góp phần làm sáng tỏ nhận thức của người dân trongkhu vực và những chương trình giáo dục bảo tồn sắp tới nên hướng vào việc traudồi những hiểu biết về KBT cũng như Voọc mũi hếch cho người dân

Tuy nhiên, để làm rõ thêm kết luận của đề tài, tôi phân loại các đối tượngphỏng vấn theo các vấn đề khác nhau, cụ thể như sau:

Theo khu vực sinh sống

Đề tài đã phỏng vấn được 90 người tương ứng với 90 phiếu phỏng vấn trên

cả 3 xã: Minh Sơn, Yên Định và Tùng Bá (mỗi xã đều thu được 30 phiếu phỏngvấn) Điểm số tối đa của phiếu phỏng vấn là 22 điểm, những người có số điểm

≥50% điểm số tối đa (≥11 điểm) sẽ được coi là có nhận thức khá tốt và thái độ tíchcực về các vấn đề môi trường và bảo tồn tài nguyên nói chung và Khu bảo tồn nóiriêng Tổng số điểm mỗi xã và số người đạt số điểm cao được tổng hợp trong bảng4.2

Trang 33

Bảng 4.2: Tổng số điểm và số người có nhận thức, thái độ tốt

Nhìn vào bảng 4.2 cho thấy, xã Yên Định có tổng số điểm cao nhất, tương

ứng với mức độ nhận thức và thái độ đối với bảo tồn cao nhất (308 điểm) với số

người đạt trên 11 điểm cũng cao nhất trong 3 xã (16 người) Xã Minh Sơn có tổng

số điểm thấp nhất (271 điểm), tuy nhiên số người đạt trên 11 điểm (12 người) lại

cao hơn xã Tùng Bá (10 người) Điều này có thể dẫn đến kết luận rằng, trình độ

nhận thức và thái độ của người dân ở Minh Sơn là không đồng đều nhất trong 3 xã

Biểu đồ 4.2 thể hiện rõ nét hơn kết quả thu được

n ≥ 11

100

50

0

Hình 4.2: Biểu đồ tổng số điểm và số người đạt điểm cao của mỗi xã

Những so sánh trên đây chỉ mang tính chất định tính, để biết được nhận thức

và thái độ của người dân 3 xã về các vấn đề môi trường và tài nguyên thiên nhiên có

thực sự khác nhau hay không, đề tài tiến hành kiểm tra bằng tiêu chuẩn One-way

Trang 34

ANOVA trong phần mềm SPSS 13.0 Đề tài đặt giả thiết rằng không có sự khácnhau về mức độ nhận thức theo khu vực sống, và tiến hành kiểm định giả thiết vớicác điều kiện cần thiết.

Với giá trị P-value = 0.384 (> 0.05) đã chấp nhận hoàn toàn giả thiết mà đềtài đưa ra, như vậy kết quả thật đáng ngạc nhiên khi cho rằng không có sự khácnhau đặc biệt về mức độ nhận thức và thái độ của người dân đối với các vấn đề theokhu vực sống Người dân 3 xã: Minh Sơn, Yên Định và Tùng Bá có cùng mức độhiểu biết về các vấn đề này với mức độ tin cậy của tiêu chuẩn thống kê là 95% Kếtquả phân tích thống kê nằm trong phụ biểu

Điều này trái ngược với nhận định ban đầu của tác giả khi cho rằng nhậnthức của người dân Tùng Bá tốt hơn người dân ở Yên Định và nhận thức của ngườidân Yên Định tốt hơn Minh Sơn Đây hoàn toàn là nhận thức chủ quan dựa vàokhoảng cách của trung tâm các xã tới Thị xã Hà Giang và vẫn chưa có một nghiêncứu cụ thể nào Đề tài góp phần làm sáng tỏ nhận định này bằng các đánh giá địnhlượng cụ thể đưa đến kết luận rõ ràng và gây ngạc nhiên

Thêm vào đó, kết quả chương trình đánh giá nhận thức bảo tồn loài Voọcmũi hếch của Cruchley (2003) đối với người dân Tùng Bá và Minh Sơn cho rằngngười dân Tùng Bá có nhận thức về Voọc mũi hếch, khu bảo tồn và các hoạt độngbảo tồn tốt hơn hẳn so với người dân Minh Sơn Tuy nhiên kết quả này hoàn toànmang tính định tính khi đánh giá thông qua các cuộc phỏng vấn bán định hướng

Sở dĩ có sự khác biệt này là do có thể từ trước đến giờ chưa có một chươngtrình giáo dục bảo tồn hay nâng cao nhận thức về tài nguyên thiên nhiên và Khu bảotồn với người dân trên khu vực cả 3 xã Vì vậy mức độ nhận thức như nhau củangười dân cư trú trên 3 xã như nhau là hoàn toàn dễ hiểu Hơn nữa, khoảng cách từtrung tâm các xã đến Thị xã Hà Giang hoàn toàn không có ý nghĩa ở đây khi đề tàichọn những thôn bản xa xôi, hẻo lánh và gần Khu bảo tồn Loài và Sinh cảnh nhất ở

2 xã Minh Sơn và Tùng Bá để tiến hành phỏng vấn Chỉ có 3 thôn của xã Yên Địnhnằm gần Trung tâm xã và hầu hết các thôn thuộc xã này đều nằm trên trục đườngquốc lộ, tuy nhiên những thôn này đều nằm cách xa ranh giới của khu bảo tồn so

Trang 35

với các thôn của 2 xã còn lại, có lẽ vì thế nên mặc dù gần Trung tâm xã nhưng lạicách xa ranh giới khu bảo tồn nên người dân ít hiểu biết về khu bảo tồn hơn.

Cũng nghiên cứu về nhận thức và thái độ của người dân với các vấn đề bảotồn, Rajakaruna (2009) chỉ ra rằng có sự khác biệt trong nhận thức và thái độ củangười dân thuộc 6 làng ven biển đối với loài các loài Rùa biển ở Sri Lanka Tuynhiên, kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng, sự khác biệt về nhận thức theo khu vực sinhsống là do mức độ tiếp xúc và chịu ảnh hưởng với các vấn đề ở các khu vực khácnhau Cụ thể, nhận thức của người dân ở làng không có rùa đến đẻ trứng thấp hơn

so với người dân ở các làng có rùa đến đẻ trứng và mức độ khác biệt tỷ lệ thuận với

số lượng con cái đến đẻ trứng ở mỗi làng

Giải thích cho sự khác nhau về nhận thức và thái độ của người dân theo khuvực sống về cùng một vấn đề, đề tài cho rằng có thể do sự khác biệt lớn về vấn đềđược hỏi, sinh thái và tập tính của 2 loài động vật hoàn toàn khác nhau đó là Voọcmũi hếch và các loài Rùa biển Hơn nữa sự cách xa về địa lý giữa các làng ở SriLanka cũng là một yếu tố quan trọng dẫn đến sự khác nhau trong nhận thức và tháiđộ

Theo giới tính

Bên cạnh yếu tố khu vực sinh sống, giới tính cũng ảnh hưởng không nhỏ tới

sự khác biệt trong nhận thức và thái độ của người dân, từ đó cũng ảnh hưởng tớihiệu quả của các chương trình giáo dục bảo tồn Trong số 90 phiếu phỏng vấn thuđược, đề tài tổng hợp theo giới tính, trong đó 60 là nam và 30 là nữ

Kết quả ban đầu khi cho điểm về nhận thức và thái độ của 2 đối tượng nam

và nữ cho thấy, nam có nhận thức cao hơn hẳn nữ về các vấn đề được hỏi Kết quảtrong bảng 4.3

Trang 36

Bảng 4.3: Điểm số nhận thức và thái độ theo giới tính

Nhìn vào bảng 4.3 cho thấy, nam có nhận thức cao hơn nữ trong các vấn đề

mà đề tài đưa ra Có tới 45% số nam có nhận thức tốt trong khi nữ chỉ có 36.67%

đạt mức độ đánh giá này Tuy nhiên, nhận thức có thực sự khác nhau theo giới tính

hay không, đề tài tiến hành kiểm tra bằng tiêu chuẩn thống kê

Tiêu chuẩn T của Student cho 2 mẫu độc lập được kiểm tra trong trường hợp

này Đề tài đưa ra giả thiết rằng nhận thức và thái độ giữa 2 giới tính không khác

nhau Sau khi kiểm định bằng tiêu chuẩn T – student áp dụng trong trường hợp

phương sai 2 tổng thể bằng nhau (α = 0.579 > 0,05), thu được giá trị p = 0.047 <

0,05 nên đề tài bác bỏ giả thiết đặt ra và chấp nhận giả thiết ngược lại Như vậy,

nhận thức và thái độ của người dân 3 xã có sự khác biệt theo giới tính Phụ lục 3.2

sẽ thể hiện rõ kết quả kiểm định giả thiết thống kê

Kết quả cũng chỉ ra rằng, nhận thức và thái độ trung bình về các vấn đề với

tài nguyên thiên nhiên và môi trường của nam cao hơn hẳn so với nữ (Mean nam =

10.05 và Mean nữ = 8.40) Kết quả này hoàn toàn phù hợp với điều tra đánh giá ban

đầu cũng như ý kiến nhận xét của các nhà bảo tồn đã làm việc tại khu vực

Theo đánh giá của tác giả dựa trên quan sát trực tiếp trong quá trình thực

hiện đề tài, những nguyên nhân dẫn đến kết quả này có thể là do: (1) người dân

được phỏng vấn chủ yếu thuộc dân tộc Dao và Tày, thời gian ban ngày phụ nữ

thường phải đi làm các công việc như làm nương, kiếm củi, kiếm rau ăn,… trong

khi đó, nam giới thường ở nhà trông con nhỏ hoặc tụ tập nói chuyện và uống rượu

Chính điều này có thể dẫn đến việc nam giới được tiếp xúc nhiều hơn cán bộ, với

những người khác trong thôn và trong câu chuyện của họ sẽ có lúc nhắc tới các vấn

đề có liên quan đến môi trường, khu bảo tồn,…(2) bên cạnh đó, cũng vì lý do phụ

Ngày đăng: 29/06/2021, 18:18

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w