1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Luận văn thạc sĩ đánh giá thử nghiệm bộ tiêu chuẩn quản lý rừng bền vững quốc gia theo tiêu chuẩn FSC quốc tế tại công ty lâm nghiệp và dịch vụ hương sơn, hà tĩnh​

85 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đánh giá thử nghiệm Bộ tiêu chuẩn Quản lý rừng bền vững Quốc gia theo tiêu chuẩn FSC quốc tế tại Công ty Lâm nghiệp và Dịch vụ Hương Sơn, tĩnh Hà Tĩnh
Tác giả Vũ Thị Trang
Người hướng dẫn PGS.TS. Bùi Thế Đồi
Trường học Trường Đại học Lâm nghiệp Việt Nam
Chuyên ngành Cao học Lâm sinh
Thể loại luận văn
Năm xuất bản 2017
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 85
Dung lượng 1,09 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • Chương 1: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU (12)
    • 1.1. Hệ thống các Bộ tiêu chuẩn quản lý rừng bền vững và chứng chỉ rừng trên thế ... giới (12)
    • 1.2. Quản lý rừng bền vững và chứng chỉ rừng ở Việt Nam (22)
    • 1.3. Quá trình hình thành Bộ tiêu chuẩn quản lý rừng bền vững quốc gia theo tiêu .... chuẩn FSC (26)
      • 1.3.1. Quá trình hình thành nhóm phát triển Bộ tiêu chuẩn (0)
      • 1.3.2. Các yêu cầu của quy trình cho sự phát triển và duy trì Bộ Tiêu chuẩn Quản lý rừng bền vững Quốc gia (29)
      • 1.3.3. Tiến trình thực hiện và kết quả thực hiện quá trình phát triển Bộ tiêu chuẩn (31)
    • 1.4. Thảo luận (34)
  • Chương I: MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU (38)
    • 2.1. Mục tiêu nghiên cứu (38)
      • 2.1.1. Mục tiêu tổng quát (38)
      • 2.1.2. Mục tiêu cụ thể (38)
    • 2.2. Giới hạn nghiên cứu (38)
      • 2.2.1. Đối tƣợng nghiên cứu (0)
      • 2.2.2. Phạm vi nghiên cứu (38)
    • 2.3. Nội dung nghiên cứu (38)
    • 2.4. Phương pháp nghiên cứu (39)
      • 2.4.1. Quan điểm (39)
      • 2.4.2. Phương pháp nghiên cứu cụ thể (39)
        • 2.4.2.1. Phương pháp kế thừa (39)
        • 2.4.2.2. Phương pháp điều tra, đánh giá (40)
    • Chương 3: ĐẶC ĐIỂM CƠ BẢN KHU VỰC NGHIÊN CỨU (43)
      • 3.1. Đặc điểm khu vực nghiên cứu (43)
        • 3.1.1. Vị trí địa lý (43)
        • 3.1.2. Địa hình (44)
        • 3.1.3. Khí hậu (45)
        • 3.1.4. Thủy văn (45)
        • 3.1.5. Đặc điểm thổ nhƣỡng (46)
      • 3.2. Đặc điểm kinh tế xã hội (47)
    • Chương 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU (49)
      • 4.1. Đánh giá hiện trạng tài nguyên rừng của Công ty Lâm nghiệp (49)
        • 4.1.1. Hiện trạng tài nguyên rừng (49)
        • 4.1.2. Cơ sở khoa học đảm bảo kinh doanh rừng bền vững (53)
      • 4.2. Đánh giá sự phù hợp của Bộ tiêu chuẩn QLRBV Quốc gia tại Công ty .............. LN&DV Hương Sơn (8)
      • 4.3. Đánh giá thử nghiệm Bộ tiêu chuẩn QLRBV Quốc gia (59)
        • 4.3.1. Đánh giá thử nghiệm các chỉ số thuộc nguyên tắc 7, 8, 10 thuộc nhóm kinh ... tế (60)
        • 4.3.2 Đánh giá thử nghiệm các chỉ số thuộc nguyên tắc 1, 2, 3, 4 thuộc nhóm xã ....... hội (63)
        • 4.3.3 Đánh giá thử nghiệm các chỉ số thuộc nguyên tắc 5, 6, 9 thuộc nhóm môi ......... trường (0)

Nội dung

TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

Hệ thống các Bộ tiêu chuẩn quản lý rừng bền vững và chứng chỉ rừng trên thế giới

Để quản lý rừng bền vững, năm 1992, Tổ chức Gỗ Nhiệt Đới Quốc Tế (ITTO) đã đề ra các tiêu chí cho quản lý rừng nhiệt đới Sau đó, vấn đề này đã thu hút sự quan tâm toàn cầu, dẫn đến việc thành lập nhiều tổ chức quốc tế và quốc gia nhằm khuyến khích quản lý rừng bền vững và cấp chứng chỉ rừng Một số tổ chức tiêu biểu bao gồm Hội Tiêu Chuẩn Canada (CSA, 1993), Hội Đồng Quản Trị Rừng (FSC, 1994), Sáng Kiến Lâm Nghiệp Bền Vững (SFI, 1994), Chương Trình Công Nhận Chứng Chỉ Rừng (PEFC, 1999), Tổ Chức Nhãn Sinh Thái Indonesia (LEI, 1998), Hội Đồng Chứng Chỉ Gỗ Malaysia (MTCS, 1998) và Chứng Chỉ Rừng Chi Lê (CertforChile).

1999, quốc gia), và Chương trình phê duyệt các quy trình chứng chỉ rừng (PEFC,

1999, Châu Âu) (Nguyễn Thị Thu Phương, 2016) [11].

Tại hội nghị Helsinki năm 1993, 38 nước châu Âu đã xác định 6 tiêu chuẩn và 28 chỉ tiêu cho quản lý rừng bền vững ở khu vực Địa Trung Hải, rừng Ôn đới và Bắc Âu Trong khi đó, đại hội Montreal đã có sự đồng thuận từ 12 nước thành viên về việc thiết lập 7 tiêu chuẩn và 67 chỉ tiêu cho quản lý rừng Bắc Mỹ Ở châu Phi, 27 nước đã thống nhất 7 tiêu chuẩn và 47 chỉ tiêu quản lý rừng bền vững tại cuộc họp UNEP/FAO ở Nairobi, Kenya vào năm 1995 Ngoài ra, tại cuộc họp FAO/CCAD, các chuyên gia từ 7 nước CCAD đã xác định 8 tiêu chuẩn và 52 chỉ tiêu ở cấp quốc gia, cùng với 4 tiêu chuẩn và 40 chỉ tiêu ở cấp vùng cho quản lý rừng bền vững.

Tiêu chí và chỉ số là công cụ quan trọng cho việc đánh giá và quản lý rừng bền vững Chúng xác định các yếu tố cần thiết và quy trình đánh giá quản lý rừng Mỗi quốc gia phát triển các tiêu chí riêng cho quản lý rừng bền vững, trong khi các đơn vị quản lý cũng xây dựng tiêu chuẩn địa phương Trung tâm Nghiên cứu Lâm nghiệp Quốc tế và các nhà nghiên cứu tại Đại học British Columbia đã phát triển công cụ hỗ trợ cộng đồng trong việc thiết lập các tiêu chuẩn và chỉ số địa phương Ngoài ra, các tiêu chí và chỉ số còn là nền tảng cho các chương trình cấp chứng chỉ rừng của bên thứ ba, như tiêu chuẩn quản lý rừng bền vững của Canada.

Năm 1999, các chủ rừng ở Châu Âu đã thành lập Chương trình chứng nhận chứng chỉ rừng Châu Âu (PEFC), một tổ chức phi chính phủ nhằm công nhận và chứng thực cho các chứng chỉ quốc gia thành viên PEFC hiện là hệ thống chứng chỉ rừng lớn nhất thế giới với 43 quốc gia thành viên và hợp tác cùng các tổ chức quốc tế Tổ chức này áp dụng cách tiếp cận từ dưới lên, phù hợp với nhiều đối tượng như công ty lâm nghiệp, doanh nghiệp chế biến và các hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng thông qua chứng chỉ theo nhóm Tính đến tháng 3/2017, PEFC đã chứng nhận hơn 300 triệu ha rừng với trên 750.000 chủ rừng và hơn 18.800 công ty được chứng nhận chuỗi hành trình sản phẩm Diện tích rừng được cấp chứng chỉ theo PEFC đã tăng nhanh chóng từ 0 ha năm 1999 lên 301,6 triệu ha hiện nay, với Canada, Hoa Kỳ và Australia là những nước dẫn đầu về diện tích chứng nhận Ở Châu Á, Nhật Bản, Trung Quốc, Malaysia, và Indonesia cũng đã áp dụng hệ thống chứng chỉ PEFC, cùng với một số nước đang phát triển như Hàn Quốc, Thái Lan và Lào.

Hình 1.1 Diện tích rừng cấp chứng chỉ rừng PEFC theo các năm

Nguồn: https://www.pefc.org/

Diện tích rừng đạt Chứng chỉ rừng PEFC tại Bắc Mỹ chiếm 54%, trong khi Châu Âu chiếm 31% và Châu Á chỉ chiếm 4% (xem chi tiết tại hình 1.2).

Để trở thành thành viên chính thức của Chương trình chứng nhận chứng chỉ rừng Châu Âu (PEFC), các quốc gia cần đáp ứng hai điều kiện chính: thứ nhất, phải có tổ chức bộ máy về chứng chỉ rừng quốc gia do cơ quan có thẩm quyền thành lập, gọi là National Governing Body (NGB), có thể là tổ chức nhà nước, tư nhân hoặc dân sự Thứ hai, cần có Bộ tiêu chuẩn quốc gia về quản lý rừng bền vững (QLRBV) và các quy trình đánh giá cấp chứng chỉ rừng phù hợp với nguyên tắc của PEFC NGB sẽ quản lý các hoạt động liên quan đến chứng chỉ rừng và phải là thành viên của PEFC để yêu cầu chứng thực cho hệ thống CCR quốc gia NGB có thể là tổ chức phi lợi nhuận, hiệp hội, viện nghiên cứu hoặc cơ quan chính phủ, và có thể ủy quyền cho bên thứ ba tiến hành đánh giá cấp chứng chỉ PEFC chỉ thu phí thành viên và phí đánh giá chứng chỉ, trong khi gỗ có chứng chỉ PEFC được công nhận rộng rãi trên toàn cầu, bao gồm các quốc gia như Bỉ, Anh, Đan Mạch, và nhiều nước khác.

Tháng 10 năm 1993, cuộc họp sáng lập FSC với 130 thành viên đến từ 26 quốc gia diễn ra tại Toronto (Canada) đã bầu ra Hội đồng Quản trị FSC đầu tiên Tiếp đó vào năm 1994 các thành viên sáng lập phê duyệt các nguyên tắc và tiêu chí FSC cùng quy định về hệ thống tổ chức FSC hoạt động dựa trên hội đồng chứng chỉ và các thành viên (là các tổ chức, cá nhân tự nguyện tham gia) Từ đó tới nay FSC đã trải qua quá trình phát triển mạnh mẽ với hệ thống chứng chỉ quản lý rừng bền vững có uy tín trên thế giới FSC là tổ chức uy tín nhất và chứng chỉ FSC đƣợc mọi thị trường chấp nhận, kể cả Bắc Mỹ, và Tây Âu (Phan Đăng An, 2012) [1] FSC cấp chứng chỉ QLRBV cho các đối tƣợng là rừng ôn đới, nhiệt đới, rừng tự nhiên, rừng trồng và đang mở rộng ra rừng sản xuất lâm sản ngoài gỗ Tổ chức này có trụ sở chính đặt tại thành phố Bonn (Đức) và có cấu trúc quản trị duy nhất dựa trên các nguyên tắc sự tham gia, dân chủ và công bằng FSC có đại diện tại hơn 82 quốc gia [31] Thành viên FSC được chia thành nhóm xã hội, nhóm môi trường và nhóm kinh tế, mỗi nhóm lại được chia ra thành nhóm Bắc (các nước công nghiệp) và nhóm Nam (các nước đang phát triển) Bất kỳ ai hỗ trợ cải thiện quản lý rừng trên thế giới đều có thể trở thành thành viên của FSC Hội đồng quản trị rừng quốc tế (FSC) đề xuất 10 nguyên tắc và 56 tiêu chí quản lý rừng Uỷ ban phát triển bền vững (CSD) cũng đề nghị các chỉ thị rừng bền vững Tổ chức các tiêu chuẩn quốc tế (ISO) và hội tiêu chuẩn Canada (CSA) đã đƣa ra hệ thống quản lý ngành lâm nghiệp - tiêu chuẩn ISO

FSC đã xây dựng tiêu chuẩn QLRBV và ủy quyền cho 15 tổ chức quốc tế thực hiện đánh giá và cấp chứng chỉ CCR Quy trình đánh giá và cấp chứng chỉ này hoàn toàn tuân theo quy định của FSC, trong khi các quốc gia gần như không có vai trò trong quá trình này.

Theo nghiên cứu của Christopher Upton và Stephen Bass (1996), các tiêu chuẩn quản lý rừng quốc tế thường đạt yêu cầu cao Trong số đó, tiêu chuẩn của FSC được đánh giá là thực tiễn và có khả năng ứng dụng rộng rãi nhất.

Mặc dù đã có 82 quốc gia nhận chứng chỉ Quản lý Rừng Bền vững (QLRBV) cho 1.479 khu rừng, với tổng diện tích lên tới 195.094.757 ha, tình hình quản lý rừng bền vững trên toàn cầu vẫn chưa có nhiều cải thiện, và nhiều khu rừng vẫn đang đối mặt với nguy cơ tàn phá nghiêm trọng.

Năm 2010, hơn 125 triệu ha rừng từ hơn 80 quốc gia đã được chứng nhận theo tiêu chuẩn FSC, với gần 16.000 chứng chỉ CoC Canada dẫn đầu thế giới với hơn 23 triệu ha rừng có chứng chỉ, theo sau là Nga với hơn 21 triệu ha Giá trị ước tính của sản phẩm dán nhãn FSC đạt trên 20 tỷ USD vào năm 2008, trong đó diện tích rừng được FSC cấp chứng chỉ chủ yếu tập trung tại Châu Âu (47%) và Bắc Mỹ (35%).

Nam Mỹ (11%), trong đó Châu Á, Châu Phi và Châu Đại Dương tổng chỉ được 7%.

Trong tương lai, Châu Á, Châu Phi và Châu Đại Dương sẽ trở thành khu vực chính để FSC thực hiện đánh giá cấp CCR Tính đến tháng 3/2017, đã có 195.094.757 ha rừng đạt chứng chỉ FSC tại hơn 82 quốc gia trên toàn cầu, trong đó có diện tích rừng được cấp chứng chỉ FSC tại khu vực Châu Á.

Diện tích đạt chứng chỉ trong khu vực lên tới 8.299.189 ha, với sự tham gia của 14 quốc gia và tổng cộng 235 chứng chỉ được cấp Indonesia dẫn đầu với 2.751.122 ha, theo sau là Thổ Nhĩ Kỳ.

2.350.078 ha, Trung Quốc 894.869 ha, Malaysia 676.150 ha, Ấn Độ 505.630 ha, Việt

Nam 228.927 ha, các nước khác trong khu vực 1.787.282 ha (chi tiết tại bảng 1.1)

Bảng 1.1: Diện tích rừng đạt chứng chỉ FSC khu vực Châu Á đến tháng

Việt Nam hiện chỉ có 2.76% rừng được cấp chứng chỉ, một tỷ lệ còn thấp so với yêu cầu bảo vệ môi trường Mặc dù không phải là quốc gia có tỷ lệ chứng chỉ rừng thấp nhất trong khu vực Châu Á Thái Bình Dương, nhưng việc thúc đẩy cấp chứng chỉ rừng là rất cần thiết, đặc biệt khi khu vực này có tỷ lệ thấp nhất đạt 4.25%.

%so với diện tích đã đƣợc cấp chứng chỉ FSC trên toàn cầu Điều này cho thấy Việt

Việt Nam cần khẩn trương thúc đẩy quản lý rừng bền vững để bắt kịp các quốc gia trong khu vực và toàn cầu Tổ chức FSC, được xem là tổ chức cấp chứng chỉ đầu tiên trên thế giới, cũng chú trọng đến việc cấp chứng chỉ rừng cho các nhóm chủ rừng, với 354 chứng chỉ nhóm cho 126.468 thành viên.

Quản lý rừng bền vững và chứng chỉ rừng ở Việt Nam

Khái niệm “bền vững” đƣợc thế giới bắt đầu sử dụng từ những năm đầu thế kỷ

Khái niệm "Điều chế rừng" được áp dụng ở Việt Nam vào cuối thế kỷ 20 nhằm quản lý và kinh doanh lâm nghiệp bền vững, đảm bảo lượng gỗ khai thác không vượt quá khả năng tái sinh của rừng Phương án điều chế rừng đầu tiên được triển khai tại lâm trường Mã Đà (Đồng Nai) với sự hỗ trợ của chuyên gia quốc tế thông qua Dự án VIE/82/002 của UNDP/FAO, tập trung vào việc xây dựng mẫu phương án tiêu chuẩn, hướng dẫn lập kế hoạch điều chế và đề xuất cho lâm trường Mã Đà.

Từ năm 1993 đến nay, nhờ nỗ lực của nhà nước và nhân dân, hơn 2 triệu ha rừng đã được phục hồi thông qua các chương trình lớn như 327 và 661 Tuy nhiên, việc phục hồi này cần đi đôi với quản lý bền vững, nếu không, rừng sẽ tiếp tục bị mất đi, ảnh hưởng đến chất lượng rừng và các chức năng bảo vệ môi trường cũng như xoá đói giảm nghèo Chiến lược lâm nghiệp quốc gia giai đoạn 2006-2020 đã được xây dựng, trong đó chương trình quản lý rừng bền vững (QLRBV) là ưu tiên hàng đầu Để thực hiện QLRBV, cần tạo ra các điều kiện cần thiết về rừng, pháp luật, xã hội và thị trường, đồng thời xác định rõ lâm phận ổn định trên thực địa và bản đồ.

Các chương trình trồng rừng chỉ có ý nghĩa khi diện tích rừng hiện có được quản lý và bảo vệ tốt Vào tháng 2/1998, một hội thảo quốc gia về chương trình Quản lý Rừng Bền Vững (QLRBV) đã được tổ chức tại TP HCM với sự phối hợp của Bộ NN&PTNT, tổ chức FSC quốc tế, WWF Đông Dương và đại sứ quán Hà Lan Tại hội thảo, Tổ công tác quốc gia về QLRBV và CCR (NWG) đã được thành lập, với nhiệm vụ soạn thảo bộ tiêu chuẩn QLRBV cho Việt Nam dựa trên các khái niệm của ITTO, hiệp ước Helsinki và các nguyên tắc của FSC quốc tế Bộ tiêu chuẩn này bao gồm 10 tiêu chuẩn, 56 tiêu chí và các chỉ số cho mỗi tiêu chí Theo Nguyễn Ngọc Lung (2008), chứng chỉ rừng là kết quả cuối cùng của Quản lý rừng bền vững; nếu không đạt tiêu chuẩn bền vững, sẽ không có chứng chỉ rừng.

Dự án REFAS, được tài trợ bởi Đại sứ quán Hà Lan, FSC quốc tế, quỹ FORD và chương trình lâm nghiệp GIZ, đã khởi động phong trào Quản lý Rừng Bền vững (QLRBV) và thực hiện một số công việc cần thiết ban đầu.

Tổ công tác đã chủ động xây dựng bộ tiêu chuẩn Quản lý Rừng Bền Vững (QLRBV) cho Việt Nam, dựa trên 10 nguyên tắc của FSC, hoàn tất vào năm 2007, đồng thời phối hợp với ASEAN để dự thảo bộ tiêu chuẩn QLRBV theo 7 tiêu chí của ITTO.

Tổ chức các hoạt động tuyên truyền và giới thiệu cho cán bộ lâm nghiệp từ cấp quản lý Trung ương đến các cơ sở địa phương thông qua hội thảo quốc gia, hội thảo vùng và các phương tiện truyền thông Đồng thời, tiến hành khảo sát và tập huấn cho mọi loại chủ rừng như lâm trường, ban quản lý, công ty và trang trại Hiện nay, khái niệm chứng chỉ rừng và quản lý rừng bền vững (QLRBV) đã trở nên quen thuộc trong quản lý, đào tạo và sản xuất lâm nghiệp, đặc biệt khi nó là một trong ba chương trình phát triển trọng điểm của chiến lược lâm nghiệp quốc gia.

Xây dựng mạng lưới chủ rừng tự nguyện nhằm nâng cao năng lực quản lý rừng bền vững, với sự phân công giữa tổ công tác quốc gia và các tổ chức như WWF và TFT Các mô hình tiêu biểu trong mạng lưới hiện nay bao gồm các công ty lâm nghiệp Long Đại (Quảng Bình), Hương Sơn (Hà Tĩnh), Công ty Lâm nghiệp Hoà Bình, cùng với các lâm trường Con Cuông (Nghệ An), Hà Nừng và Sơ Pai (Gia Lai), và Xí nghiệp trồng rừng tư nhân Đỗ Thập (Yên Bái) Hiện tại, các tổ chức hỗ trợ như WWF, TFT và GIZ đang thực hiện các thử nghiệm quan trọng, bên cạnh sự tham gia của nhiều doanh nghiệp chế biến gỗ nổi tiếng.

(Trường Thành, IKEA, Hải Vương) muốn trồng rừng bền vững để chủ động tự túc một phần nguyên liệu gỗ có chứng chỉ [18].

Từ tháng 6/2006, Viện QLRBV và CCR (SFMI) được thành lập nhằm tăng cường năng lực quản lý rừng bền vững tại Việt Nam và kết nối với FSC Việt Nam tích cực tham gia các hội nghị và hội thảo quốc tế về QLRBV, đặc biệt là trong khuôn khổ ASEAN Tính đến năm 2006, Việt Nam có 10.000 ha rừng trồng đạt tiêu chuẩn QLRBV và được cấp chứng chỉ FSC Đến năm 2008, SFMI đã thực hiện đánh giá độc lập về quản lý rừng trồng theo mô hình chứng chỉ FSC.

Tại huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái, các hộ trồng rừng đã hợp tác thành lập Chi hội trồng rừng Yên Bái và xin cấp Chứng nhận Quyền sử dụng rừng (CCR) Kết quả đánh giá cho thấy, các hộ trồng rừng trong Chi hội đã đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn Quản lý rừng bền vững (QLRBV) của Việt Nam.

Từ năm 2008 đến 2010, Viện Quản lý rừng bền vững và CCR đã hỗ trợ Tổng Công ty Giấy Bãi Bằng Việt Nam trong việc đánh giá quản lý rừng bền vững (QLRBV) cho 11 công ty lâm nghiệp nhằm đạt được chứng chỉ FSC theo nhóm Đến năm 2011, FSC đã ủy quyền cho Smart Wood tiến hành đánh giá rừng và chuỗi hành trình sản phẩm (FM/CoC) cho hai công ty lâm nghiệp: CTLN Đoan Hùng và Xuân Đài Hai công ty này đã đáp ứng cơ bản 10 nguyên tắc QLRBV và 09 yêu cầu quản lý chuỗi hành trình sản phẩm, và dự kiến sẽ được FSC cấp chứng chỉ rừng trong thời gian tới.

Năm 2010, Việt Nam ghi nhận sự kiện quan trọng khi một nhóm hộ trồng rừng quy mô nhỏ lần đầu tiên được Hội đồng Quản lý rừng (FSC) cấp chứng nhận quản lý rừng đạt tiêu chuẩn quốc tế Chứng nhận này không chỉ đảm bảo tính bền vững về môi trường mà còn mang lại lợi ích xã hội và kinh tế cho cộng đồng.

Nhóm trồng rừng gồm 118 hộ tại năm thôn ở hai huyện Gio Linh và Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị, đã được cấp chứng chỉ cho 317 ha rừng Keo Hoạt động này là một phần của dự án “Quản lý rừng và kinh doanh lâm sản bền vững” của WWF, nhằm kết nối thị trường giữa rừng Việt Nam và các công ty quốc tế thông qua chứng chỉ FSC Dự án không chỉ mang lại lợi ích kinh tế mà còn giúp các hộ dân nâng cao kỹ năng quản lý rừng Đặc biệt, bảo tồn đa dạng sinh học được chú trọng, khuyến khích trồng cây bản địa để giảm thiểu tác động xấu đến môi trường và tăng cường khả năng chống chịu với sâu bệnh.

Theo văn bản số 455/TTg-NN ngày 20/4/2005 của Thủ tướng Chính phủ, việc thí điểm xây dựng mô hình Công ty Lâm nghiệp nhằm quản lý rừng bền vững đã được triển khai, với 10 Phương án được phê duyệt và thực hiện.

-Công ty Lâm nghiệp Đại Thành, Thị trấn Đắk Mil, tỉnh Đắk Nông (thực hiện năm 2008);

-Công ty Lâm nghiệp Long Đại (Chi nhánh Lâm trường Trường Sơn), tỉnh Quảng Bình (thực hiện năm 2009);

-Công ty Lâm nghiệp Krông Bông, tỉnh Đắk Lắk (thực hiện năm 2009);

-Công ty Lâm nghiệp M’Đrăk, tỉnh Đắk Lắk (thực hiện năm 2009);

-Công ty Lâm nghiệp Đắk Tô, tỉnh Kon Tum (thực hiện năm 2009);

-Công ty Lâm nghiệp Ninh Sơn tỉnh Ninh Thuận (thực hiện năm 2009).

-Công ty Lâm nghiệp và Dịch vụ Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh (thực hiện năm 2011);

-Công ty Lâm nghiệp Đắk N’Tao, tỉnh Đắk Nông (thực hiện năm 2011);

Công ty Lâm nghiệp Sơ Pai và Hà Nừng tỉnh Gia Lai đã thực hiện mô hình Quản lý Rừng Bền Vững (QLRBV) từ năm 2011 Đến nay, 4 trong số 10 mô hình QLRBV đã đạt chứng chỉ, với tổng diện tích đạt chứng nhận quản lý rừng bền vững FSC toàn phần lên tới 84.535,8 ha Cụ thể, Công ty Lâm nghiệp Đắk Tô đạt 15.755,4 ha vào năm 2014; Chi nhánh Lâm trường Trường Sơn đạt 31.483,2 ha vào năm 2015; và Công ty Lâm nghiệp Đại Thành đạt 17.551,6 ha.

2015) và Công ty Lâm nghiệp Hương Sơn (19.745,6 ha).

Tính đến đầu năm 2017, Việt Nam có khoảng 224 nghìn ha rừng được cấp chứng chỉ FSC, trong đó rừng tự nhiên chiếm 86.156 ha và rừng trồng 138.317 ha, tương đương 2,05% diện tích rừng sản xuất Điều này tạo ra thách thức cho các doanh nghiệp xuất khẩu gỗ và người trồng rừng, nhưng cũng mang lại cơ hội lớn khi gỗ có chứng chỉ bán được cao hơn 20-30% so với gỗ không có chứng chỉ Để thực hiện chuyển đổi quản lý rừng, Tổng cục Lâm nghiệp đã ban hành nhiều chính sách và kế hoạch hành động giai đoạn 2015-2020, bao gồm Thông tư số 38/2014/TT-BNNPTNT và Quyết định số 2810/QĐ-BNN-TCLN Hiện nay, Tổng cục Lâm nghiệp đang thành lập Ban chỉ đạo quản lý rừng bền vững và chứng chỉ rừng, hướng tới việc thành lập Văn phòng Chứng chỉ rừng Quốc gia và phát triển song song hai bộ tiêu chuẩn.

QLRBV Quốc gia theo cả FSC và FEFC.

Quá trình hình thành Bộ tiêu chuẩn quản lý rừng bền vững quốc gia theo tiêu chuẩn FSC

1.3.1 Quá trình hình thành Bộ tiêu chuẩn QLRBV Quốc gia

Bộ tiêu chuẩn QLRBV Quốc gia được xây dựng dựa trên nguyên tắc tham gia công khai và minh bạch của các bên liên quan Quy trình xây dựng và công bố bộ tiêu chuẩn này tuân thủ quy định của Chương trình chứng nhận hệ thống chứng chỉ rừng FSC, nhằm đảm bảo sự chấp nhận rộng rãi trên thị trường trong nước và quốc tế.

Bộ tiêu chuẩn đƣợc hình thành qua 2 giai đoạn chính nhƣ sau:

* Giai đoạn 1: Xây dựng bộ Nguyên tắc QLRBV của Việt Nam (1998-2014)

Vào tháng 2 năm 1998, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã tổ chức hội thảo quốc gia về Quản lý rừng bền vững (QLRBV) tại TP Hồ Chí Minh, với sự hỗ trợ từ tổ chức FSC quốc tế, WWF Đông Dương và đại sứ quán Hà Lan Tại hội thảo, Tổ công tác quốc gia về QLRBV và CCR (gọi tắt là NWG) đã được thành lập với 10 thành viên nhằm thực hiện quá trình này.

+Năm 2004, NWG đƣa ra dự thảo lần thứ 8 với 10 tiêu chuẩn, 56 tiêu chí và

143 chỉ số (chỉ ở dạng dự thảo, chƣa đƣợc công bố).

Đến năm 2006, NWG đã mở rộng thành 43 thành viên và trở thành tổ chức NGO theo quy chế thành viên FSC, mang tên SFMI, trực thuộc Hội Khoa học Kỹ thuật Lâm nghiệp Việt Nam Tổ công tác này đã xây dựng bộ tiêu chuẩn quốc gia về Quản lý Rừng Bền Vững (Tiêu chuẩn FSC Việt Nam), tuân thủ các nguyên tắc do FSC hướng dẫn và phê duyệt, phù hợp với chính sách quản lý rừng của Việt Nam.

Vào năm 2007, bản dự thảo 9c được NWG hoàn thiện dựa trên Bộ tiêu chuẩn quốc tế của FSC, với sự góp ý từ nhiều nhà quản lý và doanh nghiệp lâm nghiệp trong và ngoài nước Mục tiêu là đảm bảo các tiêu chuẩn quốc tế đồng thời phù hợp với điều kiện thực tế tại Việt Nam Bộ tiêu chuẩn này mang tên Bộ tiêu chuẩn quốc gia về QLRBV, tuy nhiên vẫn chưa được công bố trong bất kỳ văn bản chính thức nào của cơ quan quản lý nhà nước hoặc tổ chức chứng chỉ rừng.

Năm 2013 - 2014, Tổng cục Lâm nghiệp đã phối hợp với quỹ TFF để thực hiện dự án “Xây dựng chính sách Quản lý rừng bền vững và thúc đẩy Chứng chỉ rừng tại Việt Nam” Dự án được hỗ trợ tư vấn bởi Viện SFMI và Trường Đại học Lâm nghiệp, đã xây dựng bộ Nguyên tắc Quản lý rừng bền vững Việt Nam dựa trên sự kết hợp giữa bộ tiêu chuẩn phiên bản 9c và việc hài hòa hóa 5 bộ tiêu chuẩn tạm thời của 5 tổ chức Quốc tế được FSC ủy quyền, bao gồm SGS (Thụy Sỹ).

Smartwood/Rainforest Alliance (Hoa Kỳ), GFA (CHLB Đức), Woodmark (Anh) và Control Union Certification (Nam Phi) là các tổ chức chứng nhận quan trọng trong lĩnh vực quản lý rừng bền vững Bộ nguyên tắc này được ban hành theo Thông tư số 38/2014/TT-BNNPTNT ngày 3/11/2014 của Bộ NN&PTNT, bao gồm 10 nguyên tắc, 51 tiêu chí và 151 chỉ số hướng dẫn về phương án quản lý rừng bền vững (QLRBV).

Bộ tiêu chuẩn QLRBV Việt Nam được quy định trong Thông tư số 38/2014/TT-BNNPTNT, kết hợp hài hòa với 5 bộ tiêu chuẩn tạm thời từ tổ chức Quốc tế do FSC ủy quyền.

Bộ tiêu chuẩn này chưa được FSC quốc tế công nhận, chỉ đáp ứng các yêu cầu quản lý nhà nước mà chưa đạt tiêu chuẩn hội nhập, do đó chưa được thị trường toàn cầu công nhận.

*Giai đoạn 2: Xây dựng, phát triển và hài hòa hóa Bộ tiêu chuẩn QLRBV Quốc gia theo tiêu chuẩn FSC quốc tế phiên bản V5.0

Năm 2013, Tổng cục Lâm nghiệp thành lập Nhóm phát triển Bộ tiêu chuẩn quản lý rừng bền vững quốc gia (SDG Việt Nam) với 12 thành viên từ các bên liên quan Từ ngày 3-6/4/2013, Việt Nam cử 3 thành viên tham dự Hội thảo về xây dựng Bộ nguyên tắc QLRBV vùng (IGIs) tại Malaysia, đánh dấu sự khởi đầu cho việc triển khai Bộ tiêu chuẩn QLRBV quốc gia.

Bộ tiêu chuẩn QLRBV Quốc gia theo tiêu chuẩn FSC được xây dựng dựa trên Bộ tiêu chuẩn V5.0 của FSC nhằm xác định các nguyên tắc và tiêu chí cần điều chỉnh cho phù hợp với điều kiện Việt Nam và tiêu chuẩn QLRBV quốc tế Nghiên cứu này sẽ tiếp cận từ các bộ tiêu chuẩn đã lựa chọn, với các tiêu chí và chỉ số đề xuất xuất phát từ thực trạng quản lý rừng và cấp Chứng chỉ rừng ở Việt Nam Qua thực tiễn cấp chứng chỉ rừng trong những năm qua, các điểm mạnh, thuận lợi, hiệu quả cũng như khó khăn, bất cập trong chính sách quản lý rừng bền vững đã được nhận diện Dựa trên mục tiêu quản lý rừng bền vững hướng tới cấp Chứng chỉ rừng, bộ tiêu chuẩn QLRBV Quốc gia sẽ đưa ra các đề xuất cụ thể về nguyên tắc, tiêu chí và chỉ số cho Bộ tiêu chuẩn FSC Việt Nam.

Chúng ta xây dựng kế hoạch phát triển bộ tiêu chuẩn dựa trên nguyên tắc chấp nhận, không chấp nhận và chỉnh sửa các chỉ số nhằm hoàn thiện những thiếu sót và đảm bảo tính phù hợp với Việt Nam.

1.3.2 Các yêu cầu của quy trình cho sự phát triển và duy trì Bộ Tiêu chuẩn Quản lý rừng bền vững Quốc gia

Bộ tiêu chuẩn thể hiện tính đại diện và cân bằng lợi ích của các bên liên quan trong quy trình phát triển Bộ Tiêu chuẩn Quản lý rừng bền vững Quốc gia chỉ được công nhận nếu đáp ứng đầy đủ các tiêu chí này.

-Đƣợc đăng ký với FSC;

- Đƣợc xây dựng phù hợp với các yêu cầu quy định trong tài liệu bản đề xuất;

Bài viết này đáp ứng đầy đủ các yêu cầu về cấu trúc và nội dung của tài liệu FSC, cụ thể là “Bộ Tiêu chuẩn Quản lý rừng bền vững Quốc gia” (FSC-STD-60-002 V1-0) và Bộ chỉ số Quốc tế.

* Các bước thực hiện phát triển Bộ tiêu chuẩn QLRBV Quốc gia

1) Đề xuất phát triển Bộ Tiêu chuẩn Quản lý rừng bền vững Đề xuất đƣợc thực hiện theo mẫu FSC-TPT-60-007 (V2-2) EN;

2)Thông báo chính thức về bộ tiêu chuẩn mới đang đƣợc phát triển trên mạng lưới của FSC.

3)Thành lập Nhóm Phát triển Bộ Tiêu chuẩn, xây dựng điều khoản tham chiếu và Kế hoạch phát triển Bộ tiêu chuẩn.

4)Chuẩn bị bản dự thảo và tham vấn.

Hình 1.3 Quy trình phát triển Bộ tiêu chuẩn và tham vấn cộng đồng

5)Dự thảo Bộ tiêu chuẩn trình nộp để ra quyết định:

- Bản dự thảo tiền phê duyệt;

-Tóm tắt biên bản họp của SDG (1 - 2 trang).

6) Xem xét và sửa đổi Bộ Tiêu chuẩn QLRBV Quốc gia

- Văn phòng FSC khu vực châu Á Thái Bình Dương, phòng chính sách và tiêu chuẩn đánh giá bộ tiêu chuẩn.

-Bao gồm hỗ trợ kỹ thuật và quản lý hành chính và xây dựng báo cáo đánh giá.

-Ban Chính sách và Tiêu chuẩn FSC đánh giá bộ tiêu chuẩn.

-Bao gồm việc ra quyết định khi phê duyệt, chấp thuận với những sửa đổi nhỏ hoặc bác bỏ dự thảo bộ tiêu chuẩn.

- Khiếu nại liên quan đến nội dung của bộ tiêu chuẩn đã đƣợc phê duyệt đƣợc trả lời bằng cách giải thích:

+Tại sao không bao gồm các quan điểm cụ thể,

+Quan điểm này có thể được sửa đổi như thế nào trong tương lai.

-Nhóm SDG sẽ trả lời những khiếu nại liên quan đến các vấn đề về thủ tục trình duyệt.

Nếu người khiếu nại không hài lòng với giải thích của nhóm SDG, khiếu nại sẽ được giải quyết qua Quy trình Giải quyết tranh chấp của FSC Sau khi Bộ Tiêu chuẩn QLRBV Quốc gia hoàn thành và được FSC công nhận, nó sẽ trở thành bộ tiêu chuẩn đánh giá duy nhất tại Việt Nam Lưu giữ thông tin là một phần quan trọng trong quy trình này.

-Văn bản đề nghị phát triển bộ tiêu chuẩn và tên và vị trí của các thành viên

-Biên bản cuộc họp SDG;

Bản sao dự thảo bộ tiêu chuẩn lưu hành đã được phát hành để thu thập ý kiến, cùng với bản sao tất cả các ý kiến nhận xét về dự thảo bộ tiêu chuẩn tham vấn.

-Tóm tắt các ý kiến nhận đƣợc đối với từng bản dự thảo tham vấn + phản hồi chung cho những ý kiến đó;

-Báo cáo SDG và ý kiến nhận đƣợc trong quá trình tham vấn cộng đồng;

-Mô tả lộ trình từ thủ tục quy định và hành động đƣợc thực hiện đối với lộ trình này;

-Quyết định của FSC về các yêu cầu của bộ tiêu chuẩn v.v

1.3.3 Tiến trình thực hiện và kết quả thực hiện quá trình phát triển Bộ tiêu chuẩn QLRBV Quốc gia

Hiện tại nhóm phát triển Bộ tiêu chuẩn SDG đã thực hiện xong đến bước thứ

11 trong tiến trình phát triển Bộ tiêu chuẩn Hiện đang triển khai bước công việc 12-

Bảng 1.3 Tiến trình thực hiện và kết quả quá trình phát triển Bộ tiêu chuẩn

Xây dựng kế hoạch phát

1 triển bộ tiêu chuẩn quản lý rừng Quốc gia theo FSC

2Thiết lập và tập huấn cho nhóm SDG

V5.0 (IGIs) và thuê tƣ vấn

3 biên soạn bản 01 Bộ tiêu chuẩn

Biên soạn bản số 1 Bộ tiêu chuẩn FSC

4 Thông qua các cuộc của nhóm SDG để thống nhất

Tổ chức hội thảo tham vấn

5 rộng rãi 02 hội thảo Tháng

Rà soát và tổng hợp ý kiến, biên soạn bản 02 Bộ tiêu chuẩn, chuẩn bị đƣa ra xin ý kiến thống nhất

Thảo luận với đơn vị đánh giá để thống nhất việc thử nghiệm bộ tiêu chuẩn

7 nhất bản 02 Bộ tiêu chuẩn.

Lập kế hoạch thử nghiệm thực địa

8 tại Công ty LN Hương Sơn và Nhòm hộ tại Quảng Trị

10 gồm 01 hội thảo do GIZ tài trợ

Biên soạn bản cuối và các

11 báo cáo cần thiêt để trình.

Bản cuối Bộ tiêu chuẩn

Theo dõi tiến trình và giải

14 trình với FSC phê duyệt bởi

Giới thiệu SDG và các tài liệu hướng dẫn

Thảo luận

Quản lý rừng bền vững và phát triển nguồn tài nguyên rừng là mục tiêu quan trọng trong Chiến lược Phát triển Lâm nghiệp Quốc gia đến năm 2020 Tuy nhiên, hiện tại, diện tích rừng được cấp chứng chỉ quản lý bền vững vẫn còn hạn chế.

Mục tiêu 1,8 triệu ha rừng bền vững đang gặp khó khăn, với chỉ 02 triệu ha đạt được, điều này đặt ra thách thức lớn trong việc hoàn thành mục tiêu Một số nguyên nhân chính bao gồm việc xây dựng phương án quản lý rừng bền vững tại Việt Nam chưa được quốc tế công nhận Các hoạt động liên quan đến quản lý rừng bền vững và chứng chỉ rừng hiện chỉ dừng lại ở mức thí điểm, thường phụ thuộc vào sự hỗ trợ từ các dự án tài trợ của tổ chức nước ngoài.

Việt Nam hiện chưa có hệ thống tổ chức chứng chỉ rừng hoàn chỉnh, thiếu cơ quan quản lý tiêu chuẩn và tổ chức đánh giá trong nước Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn đang triển khai khắc phục bất cập này, dự kiến đến năm 2018 sẽ thành lập văn phòng quản lý chứng chỉ rừng.

Nguồn nhân lực trong lĩnh vực Quản lý Rừng Bền vững (QLRBV) hiện đang thiếu hụt, đặc biệt là đội ngũ cán bộ và chuyên gia trong nước, cũng như kiểm toán viên đạt chuẩn quốc tế Việc này gây khó khăn cho việc phát triển và duy trì chứng chỉ rừng, ảnh hưởng đến chất lượng quản lý rừng bền vững.

Chi phí đánh giá để cấp chứng chỉ cho rừng thường cao, và không phải tất cả các chủ rừng có đủ nguồn lực để thực hiện Mức chi phí này biến đổi tùy thuộc vào tình trạng rừng, diện tích và các yếu tố địa hình khác.

Để có chứng chỉ rừng, chủ rừng cần có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hợp pháp, tức là sổ đỏ Tuy nhiên, hầu hết các chủ rừng là tổ chức vẫn chưa được cấp giấy chứng nhận này, chủ yếu do mâu thuẫn về danh giới với người dân địa phương Thêm vào đó, diện tích đất giao cho các hộ dân thường nhỏ lẻ, gây khó khăn trong việc khuyến khích họ hình thành nhóm hộ chứng chỉ rừng nếu không có chuỗi liên kết trong lâm nghiệp.

Các vấn đề tồn tại và hạn chế trong việc triển khai quản lý rừng bền vững và cấp chứng chỉ rừng tại Việt Nam cần được khắc phục một cách đồng bộ và hệ thống trong thời gian tới Một số vấn đề cấp bách cần thực hiện ngay bao gồm việc cải thiện quy trình và nâng cao nhận thức cộng đồng về quản lý rừng.

Để nâng cao hiệu quả quản lý rừng bền vững, cần hoàn thiện cơ chế và chính sách, xây dựng hệ thống cấp chứng chỉ rừng, đồng thời phát triển Bộ tiêu chuẩn Việt Nam về quản lý rừng bền vững cho hệ thống chứng chỉ rừng quốc gia Việc đào tạo nguồn nhân lực và nâng cao nhận thức cho các bên liên quan cũng là yếu tố quan trọng trong quá trình này.

Bộ tiêu chuẩn QLRBV Quốc gia được ban hành nhằm đạt được sự công nhận từ FSC Do đó, việc xác định các nguyên tắc, tiêu chí và chỉ số còn thiếu hoặc chưa phù hợp là cần thiết để điều chỉnh, nhằm hài hòa với bộ tiêu chuẩn FSC quốc tế.

Quản lý rừng bền vững ở Việt Nam vẫn còn nhiều thách thức và khoảng trống, đặc biệt trong việc xây dựng Bộ tiêu chuẩn QLRBV Quốc gia Điều này trở nên cấp thiết khi ngành gỗ chế biến xuất khẩu của Việt Nam đang hội nhập sâu rộng vào thị trường quốc tế Gỗ có chứng chỉ sẽ đáp ứng yêu cầu pháp lý cho sản phẩm xuất khẩu sang Mỹ và Châu Âu, theo các quy định như Luật Lacey và FLEGT Bộ tiêu chuẩn QLRBV Quốc gia theo FSC trong tương lai sẽ đóng vai trò quan trọng trong việc thay đổi chính sách và mở rộng diện tích rừng được cấp chứng chỉ.

MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Mục tiêu nghiên cứu

Xây dựng Bộ tiêu chuẩn QLRBV Quốc gia hài hòa với Bộ tiêu chuẩn QLRBV của FSC nhằm thúc đẩy cấp chứng chỉ rừng tại Việt Nam Điều này không chỉ đáp ứng yêu cầu của thị trường trong nước và quốc tế mà còn nâng cao giá trị gia tăng cho ngành Lâm nghiệp.

2.1.2 Mục tiêu cụ thể Đánh giá thử nghiệm Bộ tiêu chuẩn QLRVB Quốc gia nhằm xác định các chỉ số chƣa phù hợp của bộ tiêu chuẩn góp phần hài hòa hóa giữa Bộ tiêu chuẩn QLRVBQuốc gia với bộ tiêu chuẩn QLRBV FSC quốc tế.

Giới hạn nghiên cứu

2.2.1 Đối tượng nghiên cứu Đối tƣợng Bộ tiêu chuẩn QLRBV Quốc gia đƣợc áp dụng cho rừng tự nhiên đang thực hiện quản lý rừng bền vững ở Việt Nam.

2.2.2 Phạm vi nghiên cứu Đề tài tập trung đánh giá thử nghiệm tại Công ty Lâm nghiệp và dịch vụHương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh.

Nội dung nghiên cứu

+Đánh giá hiện trạng tài nguyên rừng của Công ty Lâm nghiệp và dịch vụ Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh.

+Đánh giá sự phù hợp của Bộ tiêu chuẩn QLRBV Quốc gia.

+Đánh giá việc thử nghiệm Bộ tiêu chuẩn QLRBV Quốc gia.

Bài viết này nhằm xác định các chỉ số chưa phù hợp và đề xuất chỉnh sửa để hài hòa Bộ tiêu chuẩn Quản lý Rừng Bền vững Quốc gia với điều kiện thực tế tại Việt Nam, đồng thời vẫn đảm bảo tuân thủ các yêu cầu của FSC.

Phương pháp nghiên cứu

Việt Nam đồng thuận với quan điểm về quản lý rừng bền vững và chứng chỉ rừng của ITTO (Tổ chức gỗ nhiệt đới quốc tế) Hiện tại, Việt Nam đã phát triển các chương trình và chính sách nhằm thúc đẩy quản lý rừng bền vững.

Bộ tiêu chuẩn QLRBV nhằm mục đích quản lý và bảo vệ tài nguyên rừng Việt Nam theo nhận thức mới, đồng thời hài hòa với Bộ tiêu chuẩn FSC phiên bản V5.0.

Bộ tiêu chuẩn QLRBV Quốc gia được phát triển từ những chỉ số quản lý rừng của FSC, với sự đóng góp ý kiến từ các chuyên gia trong và ngoài nước Mục tiêu là xây dựng bộ tiêu chuẩn vừa đảm bảo các tiêu chuẩn quốc tế của FSC, vừa phù hợp với điều kiện thực tế tại Việt Nam, dự kiến được FSC thông qua vào cuối năm 2017 Tuy nhiên, do các tiêu chuẩn này áp dụng chung cho toàn quốc và cần phù hợp với tiêu chuẩn quốc tế, nên việc áp dụng sẽ không hoàn toàn giống nhau ở mọi địa phương Cần có sự linh hoạt trong việc áp dụng các tiêu chuẩn để đáp ứng yêu cầu của FSC và thực tiễn tại Việt Nam.

2.4.2 Phương pháp nghiên cứu cụ thể

Phương pháp kế thừa tập trung vào việc tổng hợp và phân tích các tài liệu liên quan đến vấn đề nghiên cứu nhằm rút ra kết luận cho vấn đề đó Các tài liệu được sử dụng cho phân tích bao gồm những nghiên cứu trước đây và tài liệu có sẵn liên quan.

-Các tài liệu về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội.

-Tài liệu về hiện trạng tài nguyên rừng.

-Các tài liệu, báo cáo kết quả quá trình thực hiện các hoạt động quả lý rừng của Công ty LN&DV Hương Sơn.

- Các tài liệu về phương án quản lý rừng bền vững giai đoạn 2016 – 2050 của Công ty LN&DV Hương Sơn.

- Kế thừa có chọn lọc các tài liệu thứ cấp khác có liên quan.

2.4.2.2 Phương pháp điều tra, đánh giá a)Phương pháp đánh giá sự phù hợp của Bộ tiêu chuẩn QLRBV Quốc gia tại Công ty Lâm nghiệp và Dịch vụ Hương Sơn

Bộ tiêu chuẩn QLRBV Quốc gia theo tiêu chuẩn FSC phiên bản V2.0 đã được đánh giá thông qua khảo sát trực tiếp 20 cán bộ công nhân viên tại Công ty Lâm nghiệp và Dịch vụ Hương Sơn, dựa trên hệ thống 10 nguyên tắc, 70 tiêu chí và 205 chỉ số của bộ tiêu chuẩn này (chi tiết xem tại phụ lục 03).

Phương pháp điều tra chọn lọc các đối tượng đại diện liên quan đến quản lý rừng nhằm cung cấp thông tin chất lượng Hiện tại, đội ngũ cán bộ công nhân viên của công ty LN&DV Hương Sơn đang hoạt động tích cực trong lĩnh vực này.

Trong tổng số 147 người tham gia các hoạt động liên quan đến lâm nghiệp, chăn nuôi và dịch vụ khác (như làm gạch), có 75 cán bộ công nhân viên làm việc trong lĩnh vực lâm nghiệp Dựa vào 75 người này, chúng tôi tiến hành phát phiếu điều tra để thu thập thông tin.

+Lãnh đạo 3 người: chọn 1 người để phát phiếu điều tra;

+Phòng kế toán 9 người: chọn 2 người để phát phiếu điều tra;

+Phòng tổ chức hành chính 8 người: chọn 2 người để phát phiếu điều tra; +Phòng Quản lý bảo vệ rừng có 40 người: chọn 11 người để phát phiếu điều tra;

Phòng điều tra thiết kế gồm 15 thành viên, trong đó chọn 4 người để phát phiếu điều tra Phiếu điều tra sẽ giúp đánh giá các chỉ số từ rất phù hợp đến không phù hợp Bên cạnh đó, phương pháp đánh giá việc thử nghiệm Bộ tiêu chuẩn QLRBV Quốc gia cũng được áp dụng để đảm bảo tính chính xác và hiệu quả của quá trình điều tra.

Hình 2.1: Các bước đánh giá thử nghiệm Bộ tiêu chuẩn QLRBV Quốc gia Đánh giá quản lý rừng theo Bộ tiêu chuẩn

QLRBV Quốc gia i ) Đánh giá tài liệu hồ sơ trong phòng ii) Tham vấn các bên liên

Để xác định những tiêu chí chưa phù hợp, cần lưu ý ba điểm chính: thứ nhất, các chỉ số không rõ ràng; thứ hai, các chỉ số khó đánh giá và khó thực hiện; và thứ ba, các chỉ số không phù hợp với mục tiêu đề ra.

Xác định mục tiêu Đánh giá mức độ phù hợp và hài hòa hóa Bộ tiêu chuẩn

Bộ tiêu chuẩn tham chiếu

Bộ tiêu chuẩn QLRBV Quốc gia theo tiêu chuẩn FSC phiên bản V2.0

Kết luận đề xuất chỉnh sửa

Bộ tiêu chuẩn Đề xuất chỉnh sửa các chỉ số sau đánh giá thử nghiệm. Đề xuất giải pháp/minh chứng

Các bước tiến hành đánh giá cụ thể:

Bước đầu tiên trong quy trình đánh giá tài liệu là yêu cầu chủ rừng cung cấp các tài liệu và sổ sách liên quan đến quản lý rừng Những tài liệu này bao gồm bản kế hoạch sản xuất kinh doanh, bản đồ chi tiết các khu rừng, các hoạt động liên quan, văn bản hướng dẫn bảo vệ và phát triển rừng, cùng với các văn bản pháp luật khác Ngoài ra, cần thu thập tài liệu hướng dẫn kiểm tra đánh giá, hợp đồng khai thác, hợp đồng lao động, tài liệu về đào tạo và sử dụng lao động địa phương, cũng như các chứng từ nộp lệ phí, thuế và các báo cáo liên quan.

-Bước 2: Đánh giá hiện trường

Do điều kiện thời tiết, kinh phí và thời gian nên không tiến hành đánh giá hiện trường.

-Bước 3: Trao đổi phỏng vấn

Tiến hành phỏng vấn cán bộ, công nhân viên của Công ty để đánh giá khả năng thích ứng với các tiêu chí trong Bộ tiêu chuẩn Công ty sẽ cung cấp minh chứng cho từng tiêu chí, chỉ số để xác định sự phù hợp Dựa trên kết quả đánh giá, đề xuất sẽ được đưa ra nhằm hài hòa hóa các tiêu chí trong bộ tiêu chuẩn quốc gia, giúp Công ty thực hiện phương án QLRBV theo Bộ tiêu chuẩn QLRBV Quốc gia.

- Bước 4: Xác định các tiêu chí và chỉ số không phù hợp điều kiện Việt Nam đề xuất chỉnh sửa

Trong quá trình đánh giá, sẽ xác định các nguyên tắc, tiêu chí và chỉ số mà chủ rừng chưa thực hiện hoặc không thể thực hiện, tức là những tiêu chí và chỉ số không phù hợp.

Quá trình đánh giá thử nghiệm sẽ được trình bày chi tiết trong bảng 2.1, bao gồm các kết quả từ việc đánh giá thử nghiệm và khảo sát ý kiến của cán bộ công nhân viên tại công ty.

LN&DV Hương Sơn sẽ đề xuất điều chỉnh các chỉ số trong Bộ tiêu chuẩn nhằm đảm bảo Bộ tiêu chuẩn QLRBV Quốc gia phù hợp với điều kiện Việt Nam, đồng thời vẫn đáp ứng yêu cầu của FSC.

Bảng 2.1: Đ ánh giá thử nghiệm và định hướng sửa chữa, thay đổi, bổ sung chỉ số trong Bộ tiêu chuẩn QLRBV Quốc gia

2.4.2.3 Phương pháp xử lý số liệu

ĐẶC ĐIỂM CƠ BẢN KHU VỰC NGHIÊN CỨU

3.1 Đặc điểm khu vực nghiên cứu

Công ty Lâm nghiệp Hương Sơn tọa lạc tại phía tây huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh, nằm trong khu vực của 5 xã: Sơn Hồng, Sơn Tây, Sơn Kim 1, Sơn Kim 2 và Thị trấn Tây Sơn Cách Thành phố Hà Tĩnh 90 km và cảng Vũng Ánh 110 km về phía Tây, công ty cũng chỉ cách cửa khẩu Cầu Treo 18 km về phía Đông Tuyến Quốc lộ 8A, kết nối Quốc lộ 1A với nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào, đi qua khu vực công ty, tạo điều kiện thuận lợi cho việc vận chuyển lâm sản và trao đổi hàng hóa.

+Từ 18015’ đến 18037’ vĩ độ Bắc;

+Từ 104007’ đến 105020’ kinh độ Đông.

-Phía Đông có gần 80 km đường ranh giới giáp các xã Sơn Hồng, Sơn Tây, Sơn Kim 2;

-Phía Tây có hơn 60 km đường ranh giới Quốc gia giáp nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào;

-Phía Nam có gần 4 km đường ranh giới giáp Vườn Quốc gia Vũ Quang;

-Phía Bắc có khoảng 6 km đường ranh giới giáp huyện Thanh Chương tỉnh Nghệ An.

Công ty Lâm nghiệp Hương Sơn

Hình 3.1: Bản đồ hành chính Công ty LN&DV Hương Sơn

Tổng diện tích của Công ty TNHH MTV LN trước năm 2012 là 38.448,0 ha, theo Quyết định số 1630/QĐ/UB - NL2 ngày 29/6/2006 của UBND tỉnh Hà Tĩnh Tuy nhiên, vào ngày 28/10/2012, UBND tỉnh Hà Tĩnh đã ban hành Quyết định số 978/QĐ-UBND, cắt chuyển một phần diện tích của Công ty cho Ban quản lý rừng phòng hộ Sông Ngàn Phố Do đó, diện tích đất hiện tại của Công ty đã có sự thay đổi.

Vườn Quốc gia Hương Sơn quản lý và bảo vệ tổng diện tích 19.745,6 ha, bao gồm 19 tiểu khu với các loại đất như sau: đất có rừng tự nhiên chiếm 18.493,4 ha, đất có rừng trồng bán tự nhiên 235,1 ha, đất chưa có rừng quy hoạch cho lâm nghiệp 624,0 ha và các loại đất khác 393,1 ha.

Công ty LN&DV Hương Sơn tọa lạc ở vùng núi thấp và trung bình, tại đầu nguồn sông Ngàn Phố với độ cao trung bình 500m, đỉnh Bà Mụ cao nhất đạt 1.357m Địa hình có độ dốc trung bình từ 15-17 độ, với nơi dốc nhất lên đến 35 độ, bị chia cắt mạnh bởi các dãy núi và sông suối lớn, tạo thành 5 vùng địa lý rõ rệt: Sông con, Ngã Đôi.

Rào Mắc, Nước Suối và Rào Àn Khu vực Công ty quản lý bảo vệ có độ dốc trung bình khoảng từ 15-17 0 , nơi có độ dốc cao nhất khoảng 35 0

Vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa có mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10, đặc trưng bởi thời tiết nóng ẩm và lượng mưa dồi dào Ngược lại, mùa khô kéo dài từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau, với khí hậu khô hanh, lạnh và ít mưa.

Chế độ nhiệt của khu vực cho thấy nhiệt độ trung bình hàng năm trong 5 năm là 26°C, với nhiệt độ cao nhất trung bình đạt 30,6°C và nhiệt độ thấp nhất trung bình là 8,5°C Nhiệt độ tuyệt đối cao nhất ghi nhận lên đến 39-40°C, trong khi nhiệt độ tuyệt đối thấp nhất có thể xuống dưới 10°C.

-Độ ẩm: Độ ẩm bình quân năm là 85%, độ ẩm cao nhất đo đƣợc là 95%, thấp nhất là 50%.

Chế độ mưa ở khu vực này có lượng mưa bình quân đạt 1800mm mỗi năm, với mức cao nhất vào tháng 10 thường đạt 2300mm và thấp nhất vào tháng 2 chỉ khoảng 1000mm.

- Chế độ gió: Khu vực chịu tác động của 3 loại gió chính:

+Gió mùa Đông Bắc thổi từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau, mang về không khí lạnh và có mƣa phùn;

+Gió mùa Đông Nam thổi từ tháng 5 đến tháng 10;

Gió mùa Tây Nam, hay còn gọi là gió Lào, thường xuất hiện từ tháng 6 đến tháng 8, mang theo không khí khô và nóng Hiện tượng này có ảnh hưởng lớn đến công tác bảo vệ, phòng cháy và chữa cháy rừng.

Khu vực này có hệ thống sông dày đặc với chiều dài các con sông tương đối ngắn; sông Con dài nhất 49km và sông Rào Àn ngắn nhất chỉ 10km Tất cả các con sông đều đổ ra sông Ngàn Phố, tạo ra nhiều thuận lợi cho khu vực, nhưng cũng mang lại không ít khó khăn.

Sông Con, bắt nguồn từ biên giới Việt Lào và huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An, chảy theo hướng Tây Bắc-Đông Nam, có khả năng vận chuyển đa dạng các loại lâm sản.

Sông Rào Mắc dài 17 km, bắt nguồn từ biên giới Việt Lào và chảy theo hướng Đông Sông có nguồn nước dồi dào quanh năm, nhưng việc vận chuyển lâm sản bằng đường thủy gặp nhiều khó khăn, đặc biệt là trong mùa mưa cần phải đề phòng lũ lụt.

Sông Rào Qua dài 15 km, bắt nguồn từ Ngả Đôi Phần lớn chiều dài sông, khoảng 2/3, nằm ở hạ lưu và có nhiều nước, tạo điều kiện thuận lợi cho việc vận chuyển đường thủy.

Sông Nước Sốt dài 15 km, bắt nguồn từ dãy núi biên giới Việt-Lào, với nhiều thác nước và quanh năm dồi dào nước Mùa mưa cần cảnh giác với lũ quét và khó khăn trong vận chuyển đường thủy Tuy nhiên, khu vực này có suối nước nóng Sơn Kim, tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển du lịch.

Suối Rào Àn dài 10 km, bắt nguồn từ biên giới Việt - Lào, luôn có nước lớn quanh năm Tuy nhiên, phần thượng nguồn có nhiều thác ghềnh, gây khó khăn cho việc vận chuyển đường thủy.

3.1.5 Đặc điểm thổ nhưỡng Địa bàn công ty đƣợc hình thành từ các loại đá mẹ chủ yếu: Phiến thạch sét, Sa thạch hỗn hợp, Trầm tích, Cuội kết hợp Granit, quá trình phong hóa hình thành các nhóm đất sau:

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

4.1.1 Hiện trạng tài nguyên rừng a) Diện tích, trữ lƣợng các loại rừng Qua kết quả điều tra khảo sát hiện trạng rừng và đất lâm nghiệp của nhóm chuyên gia SNV diện tích các loại đất đai, trữ lƣợng rừng đƣợc thể hiện ở bảng 4.1 và hình 4.1.

Bảng 4.1: Thống kê diện tích các loại đất đai, trữ lƣợng rừng

Tổng diện tích tự nhiên

- Rừng hỗn giao gỗ, giang nứa

- rừng hỗn giao giang, nứa gỗ

1,0 Đất có rừng trồng chƣa thành rừng

2,0 Đất trống không có cây gỗ tái sinh

3,0 Đất trống có cây gỗ tái sinh

Nguồn: Công ty Lâm nghiệp Hương Sơn, 2015

Hình 4.1: Hiện trạng tài nguyên rừng Công ty LN Hương Sơn

Tổng diện tích khu vực Công ty LN & DV Hương Sơn quản lý là 19.903,69 ha, tổng trữ lƣợng 1.972.070 m 3 , Trong đó rừng sản xuất 12.229,94 ha, trữ lƣợng

Tổng diện tích đất có rừng của công ty là 18.725 ha, chiếm 94,8%

Diện tích rừng trồng là 191.2 ha, chiếm 0.96 % diện tích tự nhiên.

Tổng diện tích rừng tự nhiên chiếm 96.09% diện tích tự nhiên trong đó:

Rừng giàu: 1.174,69 ha; trữ lƣợng bình quân 241 m 3 /ha;

Rừng trung bình: 7.107,79 ha; trữ lƣợng bình quân 136,6 m 3 /ha;

Rừng nghèo: 4.614,40 ha; trữ lƣợng bình quân 84,3 m 3 /ha;

Rừng nghèo kiệt: 226,08 ha; trữ lƣợng bình quân 27 m 3 /ha;

Rừng non: 1.385,68 ha; trữ lƣợng bình quân 90,2 m 3 /ha;

Rừng hỗn giao gỗ, giang nứa: 4.616,44 ha; trữ lƣợng bình quân 186.624 m 3 gỗ và 10.854 nghìn cây tre nứa.

Chất lượng rừng tự nhiên được phân loại thành các trạng thái khác nhau, trong đó rừng giàu và trung bình có chất lượng tốt nhất, với diện tích 8.282,48 ha, chiếm 43% tổng diện tích Rừng nghèo, mặc dù có đầy đủ các tầng tán, nhưng chất lượng suy giảm, với 4.614,40 ha (24%) cây gỗ chất lượng kém Rừng non, diện tích 1.385,68 ha (7%), phục hồi tốt nhưng chủ yếu là cây tiên phong Rừng hỗn giao gỗ và giang nứa phát triển tương đối tốt với 2.636,71 ha (14%) Tuy nhiên, rừng nghèo kiệt và rừng hỗn giao giang nứa đang trong tình trạng suy thoái nghiêm trọng, với diện tích 2.205,82 ha (12%), cần biện pháp lâm sinh phù hợp để phục hồi và phát triển.

Thực vật rừng thuộc khu vực Công ty Lâm nghiệp Hương Sơn quản lý, rất đa dạng, phong phú, có khoảng 26 họ với 400 loài của 5 ngành thực vật;

-Hệ thực vật nhiệt đới Bắc Việt Nam- Nam Trung Hoa tiêu biểu là các loài thuộc họ Dầu (Dipterocarpaceae), Ba mảnh vỏ (Euphobiaceac)…

-Hệ thực vật á nhiệt đới Vân Nam- Hymalya- Quý Châu- Miến Điện với các loài đặc trƣng thuộc họ Giẻ (Fagaceae), họ Re (Lauraceae)…

- Hệ thực vật phân bố ở cả vùng nhiệt đới và á nhiệt đới nhƣ các họ Cúc (Asteraceae), họ Trinh nữ (Mimosaceae)…

Trong khu vực rừng Bắc Trung bộ, các loài cây có giá trị kinh tế nổi bật bao gồm Táu mật, Re, Giẻ, Giổi, Sến mật, Lim xanh, Nang, Vạng, Trám, Ngát, Máu chó, Chẹo tía, và Lòng mang Bên cạnh đó, còn tồn tại một số loài quý hiếm như Pơ mu, Hoàng đàn giả, Hồng tùng, và Kim giao Ngoài gỗ, các loài lâm sản khác như Giang, Nứa, và Song mây cũng có giá trị, cùng với những cây dược liệu như Hoàng đằng, Thiên nhiên kiện, và Thạch xương bồ.

Hệ động vật rừng tại Công ty quản lý rất phong phú với 87 loài thuộc 4 lớp khác nhau Đáng chú ý, trong số này có 22 loài động vật quý hiếm, đặc hữu được ghi trong sách đỏ Việt Nam cũng như sách đỏ IUCN/1996, cần được bảo vệ.

4.1.2 Cơ sở khoa học đảm bảo kinh doanh rừng bền vững a) Kinh tế

Xây dựng phương án quản lý rừng bền vững là cần thiết để thúc đẩy sự sinh trưởng và phát triển của lâm phần thông qua các giải pháp lâm sinh phù hợp cho từng lô, khoảnh và tiểu khu rừng Điều này sẽ giúp tăng trữ lượng và chất lượng rừng, nâng cao tỷ lệ sinh trưởng, nhằm mục tiêu cung cấp hơn 3.125 m³ gỗ lớn mỗi năm.

Mỗi năm, khu vực này tận dụng 520 m³ gỗ cùng với các lâm sản ngoài gỗ như Song, Mây, Tre, Nứa và cây dược liệu, không chỉ phục vụ tiêu dùng nội địa mà còn xuất khẩu, góp phần mang lại hiệu quả kinh tế cao Đồng thời, hoạt động này vẫn đảm bảo tính ổn định và tăng trưởng bền vững cho rừng.

-Diện tích trồng thâm canh rừng dự kiến cho toàn luân kỳ là 2.111,07 ha, năng suất rừng trồng bình quân dự kiến đạt từ 80 đến 110 m 3 /ha.

Cải tạo rừng tự nhiên kém chất lượng bằng các biện pháp lâm sinh là giải pháp tích cực để nâng cao độ che phủ thảm thực vật, tăng trữ lượng rừng, và cải thiện khả năng phòng hộ cũng như chất lượng đất Những biện pháp này hướng tới mục tiêu sử dụng đất bền vững.

Trong tổng diện tích 12.229,94 ha, với trữ lượng 1.110.764 m3, diện tích rừng được quy hoạch khai thác theo chu kỳ 35 năm là 5.238,4 ha, đảm bảo tính bền vững và không ảnh hưởng đến hệ sinh thái cũng như sự đa dạng sinh học Diện tích này có trữ lượng bình quân 174 m3/ha, góp phần đáp ứng nhu cầu nguyên liệu cho chế biến, xây dựng và tiêu dùng trong khu vực.

Công ty đã xây dựng kế hoạch khai thác rừng hàng năm và cho giai đoạn 2016 - 2050 dựa trên điều tra tình hình sinh trưởng và tăng trưởng của rừng.

Bảng 4.2: Kế hoạch khai thác giai đoạn 1

Nguồn: Công ty Lâm nghiệp Hương Sơn, 2015

Công ty quản lý rừng tự nhiên hiện đang chủ yếu áp dụng phương thức khoanh nuôi bảo vệ, với tổng diện tích rừng tự nhiên được bảo vệ là 18.061,2 ha và diện tích khoanh nuôi là 1.063,9 ha Tuy nhiên, các biện pháp lâm sinh như khai thác chọn rừng, cải tạo rừng và nuôi dưỡng rừng vẫn chưa được triển khai Kinh tế từ rừng mang lại chưa cao, và nguồn kinh phí cho việc bảo vệ, phát triển rừng chủ yếu phụ thuộc vào sự hỗ trợ bên ngoài.

Nhà nước và các dịch vụ hệ sinh thái hiện chưa được phát triển thành hàng hóa có giá trị thương mại, điều này ảnh hưởng đến công tác bảo vệ rừng.

Công ty sở hữu lợi thế về nguồn nhân lực dồi dào với trình độ chuyên môn cao và am hiểu pháp luật, giúp khai thác hiệu quả tiềm năng của rừng và đất rừng, từ đó thực hiện thành công các mục tiêu và nhiệm vụ đã đề ra.

Công ty quản lý đang tiến hành rà soát quỹ đất nhằm đáp ứng nhu cầu sử dụng đất cho sản xuất nông lâm nghiệp Việc này sẽ được thực hiện thông qua hình thức giao khoán rừng đến từng hộ gia đình, đảm bảo hiệu quả trong quản lý và phát triển bền vững.

Đáp ứng nhu cầu về gỗ và lâm sản cho các hộ dân sống gần rừng, đồng thời giải quyết mâu thuẫn giữa Công ty và cộng đồng địa phương.

Công ty hàng năm tạo ra 350 việc làm cho cán bộ công nhân viên và thu hút khoảng 300 lao động địa phương thông qua hợp đồng thời vụ Điều này không chỉ đóng góp vào sự phát triển kinh tế xã hội của địa phương mà còn tăng thu nhập cho người dân, thực hiện hiệu quả chính sách lâm nghiệp cộng đồng, góp phần ổn định đời sống và đảm bảo an ninh quốc phòng.

- Đào tạo công nhân và cộng đồng dân cƣ về chuyên môn quản lý bảo vệ rừng, trồng rừng, nuôi dƣỡng rừng, khai thác rừng;

Ngày đăng: 29/06/2021, 18:10

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Dương Tiến Đức, Trần Việt Hà (2013), Đánh giá một số mô hình quản lý rừng bền vững, Dự án “Xây dựng chính sách quản lý rừng bền vững và thúc đẩy cấp chứng chỉ rừng tại Việt Nam”, Tổng cục Lâm nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá một số mô hình quản lý rừng bềnvững, "Dự án “Xây dựng chính sách quản lý rừng bền vững và thúc đẩy cấp chứng chỉrừng tại Việt Nam
Tác giả: Dương Tiến Đức, Trần Việt Hà
Năm: 2013
3. Henning Peter, Ngô Trí Dũng (2016), Báo cáo kiểm toán thực địa Bộ tiêu chuẩn Quản lý rừng bền vững Quốc gia theo FSC phiên bản 2.0 tại Công ty Lâm nghiệp và Dịch vụ Hương Sơn và Nhóm hộ Quảng Trị, Dự án Forces Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo kiểm toán thực địa Bộ tiêu chuẩnQuản lý rừng bền vững Quốc gia theo FSC phiên bản 2.0 tại Công ty Lâm nghiệp vàDịch vụ Hương Sơn và Nhóm hộ Quảng Trị
Tác giả: Henning Peter, Ngô Trí Dũng
Năm: 2016
4. Nguyễn Tuấn Hƣng (2013), Nghiên cứu đánh giá mô hình quản lý rừng bền vững Công ty Lâm nghiệp Đắk Tô. Tạp chí Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn số 23/2013, trang 87-93 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu đánh giá mô hình quản lý rừng bền vữngCông ty Lâm nghiệp Đắk T
Tác giả: Nguyễn Tuấn Hƣng
Năm: 2013
5. Nguyễn Tuấn Hƣng, Trần Hữu Viên, Đỗ Anh Tuân (2013), Nghiên cứu đặc điểm tăng trưởng rừng và xác định lượng gỗ khai thác bền vững tại Công ty Lâm nghiệp Đắk Tô. Tạp chí Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn số 22/2013, trang110-116 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu đặc điểmtăng trưởng rừng và xác định lượng gỗ khai thác bền vững tại Công ty Lâm nghiệpĐắk Tô
Tác giả: Nguyễn Tuấn Hƣng, Trần Hữu Viên, Đỗ Anh Tuân
Năm: 2013
6. Đào Công Khanh, Vũ Nhâm (2013), Nghiên cứu, rà soát, so sánh các Bộ tiêu chuẩn quốc tế trong nước về Quản lý rừng bền vững làm cơ sở xây dựng Bộ tiêu chuẩn QLRBV Việt Nam. Dự án “Xây dựng chính sách Quản lý rừng vền vững và thúc đẩy cấp chứng chỉ rừng tại Việt Nam”, Tổng cục Lâm nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu, rà soát, so sánh các Bộ tiêuchuẩn quốc tế trong nước về Quản lý rừng bền vững làm cơ sở xây dựng Bộ tiêuchuẩn QLRBV Việt Nam. "Dự án “Xây dựng chính sách Quản lý rừng vền vững và thúcđẩy cấp chứng chỉ rừng tại Việt Nam
Tác giả: Đào Công Khanh, Vũ Nhâm
Năm: 2013
7. Nguyễn Ngọc Lung (2008), Quản lý rừng bền vững và chứng chỉ rừng Việt Nam, cơ hội và thách thức. Tài liệu tập huấn Tổng Công ty giấy về quản lý rừng bền vững và chứng chỉ rừng, Phú Thọ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý rừng bền vững và chứng chỉ rừng Việt Nam,cơ hội và thách thức
Tác giả: Nguyễn Ngọc Lung
Năm: 2008
8. Vũ Nhâm (2002), Hướng dẫn đánh giá rừng quản lý bền vững theo bộ tiêu chuẩn quốc gia. Báo cáo kết quả nghiên cứu đề tài Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn đánh giá rừng quản lý bền vững theo bộ tiêu chuẩn quốc gia
Tác giả: Vũ Nhâm
Năm: 2002
9. Vũ Nhâm (2005), Hướng dẫn tổ chức đánh giá rừng theo tiêu chuẩn Quản lý rừng bền vững quốc gia, Đề tài cấp bộ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn tổ chức đánh giá rừng theo tiêu chuẩn Quản lý rừng bền vững quốc gia
Tác giả: Vũ Nhâm
Năm: 2005
10. Vũ Nhâm (2007), Quản lý rừng bền vững. Tập bài giảng cho cao học Lâm nghiệp và nghiên cứu sinh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý rừng bền vững
Tác giả: Vũ Nhâm
Năm: 2007
11. Vũ Thị Thu Phương, Trần Văn Con (2015), “Nghiên cứu, đánh giá Mô hình thí điểm quốc gia về quản lý rừng bền vững của Công ty TNHH MTV lâm nghiệp và dịch vụ Hương Sơn hướng tới đạt chứng chỉ FSC toàn phần”, luận văn Thạc sỹ, trường Đại học Lâm nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu, đánh giá Mô hình thíđiểm quốc gia về quản lý rừng bền vững của Công ty TNHH MTV lâm nghiệp và dịchvụ Hương Sơn hướng tới đạt chứng chỉ FSC toàn phần”
Tác giả: Vũ Thị Thu Phương, Trần Văn Con
Năm: 2015
12. Tô Xuân Phúc, 2012. Chứng chỉ rừng bền vững, cơ hội và thách thức đối với Việt Nam. Tổ chức Forest Trends, Hoa Kỳ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chứng chỉ rừng bền vững, cơ hội và thách thức đối với ViệtNam
13. Ban quản lý rừng bền vững (2014), Báo cáo tổng kết điều tra đánh giá thực địa Bộ tiêu chuẩn quản lý rừng bền vững Việt Nam. Tổng cục Lâm nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết điều tra đánh giá thực địa Bộ tiêu chuẩn quản lý rừng bền vững Việt Nam
Tác giả: Ban quản lý rừng bền vững
Năm: 2014
14. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (2017), Phương án thành lập văn phòng chứng chỉ rừng Việt nam theo chương trình chứng nhận chứng chỉ rừng (PEFC). Tổng cục Lâm nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương án thành lập vănphòng chứng chỉ rừng Việt nam theo chương trình chứng nhận chứng chỉ rừng (PEFC)
Tác giả: Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
Năm: 2017
15. Bộ Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn (2006), Cẩm nang ngành Lâm nghiệp:Chương quản lý rừng bền vững và chứng chỉ rừng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cẩm nang ngành Lâm nghiệp
Tác giả: Bộ Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn
Năm: 2006
20. Chương trình Lâm nghiệp WWF Chương trình Việt Nam (2004), Sách hướng dẫn Chứng chỉ nhóm FSC về quản lý rừng (Ngọc Thị Mến dịch) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sách hướng dẫn Chứng chỉ nhóm FSC về quản lý rừng
Tác giả: Chương trình Lâm nghiệp WWF Chương trình Việt Nam
Năm: 2004
22. Tổng cục Lâm nghiệp (2017), Báo cáo kế hoạch thực hiện tháng 3 triển khai kế hoạch tháng 4 năm 2017 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổng cục Lâm nghiệp (2017)
Tác giả: Tổng cục Lâm nghiệp
Năm: 2017
23. Tổng cục Lâm nghiệp, Tổng kết công tác chỉ đạo điều hành năm 2015 và triển khai nhiệm vụ trọng tâm năm 2016 ngày 29 tháng 12 năm 2015, Tài liệu Hội nghị Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổng kết công tác chỉ đạo điều hành năm 2015 và triển khai nhiệm vụ trọng tâm năm 2016 ngày 29 tháng 12 năm 2015
24. Tổng cục Lâm nghiệp (2015), Hội thảo Quản lý rừng bền vững và chứng chỉ rừng ở Việt Nam, Tài liệu hội thảo Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hội thảo Quản lý rừng bền vững và chứng chỉrừng ở Việt Nam
Tác giả: Tổng cục Lâm nghiệp
Năm: 2015
26. Văn bản số 455/TTg – NN ngày 20/4/2005 của Thủ tướng Chính phủ, về việc giao Bộ Nông nghiệp và PTNT chủ trì, phối hợp với các Bộ, Ngành liên quan, xây dựng thí điểm “Mô hình Lâm trường quản lý rừng bền vững” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mô hình Lâm trường quản lý rừng bền vững
1. Phan Đăng An (2012). Hiện trạng chứng chỉ rừng thế giới. Diễn đàn gỗ Việt Nam. http://furniturevietnam.com Link

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w