Đáng kể nhất theo quan điểm của tác giả, đó là Luật Cạnh tranh năm 2018đã quy định thành lập Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia với vai trò là cơ quan đơnnhất tham mưu giúp Bộ trưởng Bộ Công thư
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
Trang 2VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
Trang 4MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Năm 1988, Việt Nam chính thức tham gia APEC - Diễn đàn hợp tác kinh
tế châu Á – Thái Bình Dương Đây là một dấu mốc quan trọng, mở ra mộtthời kỳ đổi mới, cải cách, tái cơ cấu kinh tế và chuyển đổi mô hình tăngtrưởng Chỉ ít năm sau đó, Việt Nam chính thức gia nhập Tổ chức Thương mạithế giới (WTO) vào đầu năm 2007 Mười năm sau, sự kiện APEC 2017 đượcViệt Nam tổ chức thành công như một lời khẳng định về vai trò, vị thế mớicủa nước ta trong cộng đồng quốc tế Cùng với bối cảnh của cuộc cách mạngcông nghiệp lần thứ tư, mà ở đó những thay đổi, tiến bộ ảnh hưởng sâu rộng
từ chính trị đến kinh tế, văn hóa, xã hội, và mới đây nhất là việc Hiệp địnhĐối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) có hiệu lực tạiViệt Nam, Hiệp định thương mại tự do Việt Nam – EU (EVFTA) cũng từngbước hoàn thiện, đó là những cơ hội không thể tuyệt vời hơn để nước ta thúcđẩy sự phát triển kinh tế nhanh chóng, mở cửa thị trường, các hoạt động liênquan đến xuất nhập khẩu, sở hữu trí tuệ, kỹ thuật thương mại, tạo dựng môitrường cạnh tranh, đầu tư - kinh doanh thông thoáng và lành mạnh
Xuyên suốt trong quá trình đó, việc Việt Nam hội nhập vào nền kinh tếthế giới đã trở thành một trong những động lực quan trọng để phát triển kinh
tế - xã hội, từ đó đạt được nhiều kết quả khá tích cực, toàn diện trên các lĩnhvực Tuy nhiên, tốc độ hội nhập kinh tế quốc tế và sự phát triển kinh tế - xãhội nhanh chóng trong những năm vừa qua đã khiến môi trường kinh doanh
và môi trường pháp lý trong nước có nhiều khác biệt so với thời điểm LuậtCạnh tranh mới được ban hành lần đầu tiên ở Việt Nam, đặt ra những khókhăn, thách thức mới cho quá trình thực thi pháp luật cạnh tranh
Luật Cạnh tranh là văn bản quy phạm pháp luật còn non trẻ, với nguồnthông tin và các tài liệu tham khảo trong lĩnh vực này tại Việt Nam còn khan
Trang 5hiếm Cũng trong thời gian đó đã có rất nhiều văn bản quy phạm pháp luậtđược ban hành, bổ sung hoặc sửa đổi Do các đặc thù riêng, thông lệ kinhdoanh riêng của một số ngành, lĩnh vực như tài chính, ngân hàng, bảo hiểm,viễn thông… các cơ quan chức năng đã quy định thêm nhiều nội dung điềuchỉnh hoạt động cạnh tranh của các doanh nghiệp trong ngành Ngoài ra, Bộluật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi bổ sung năm 2017) hiện đã bổ sung quy địnhtại Điều 217 về Tội vi phạm quy định về cạnh tranh Những điều này dẫn đếnmột số nội dung của Luật Cạnh tranh cũ không còn phù hợp.
Theo quy định của Luật Cạnh tranh 2004, có hai cơ quan cạnh tranh độclập với nhau bao gồm Cơ quan quản lý cạnh tranh và Hội đồng cạnh tranh.Tuy nhiên trong thời gian qua, mô hình hai cơ quan nói trên đã bộc lộ nhiềubất cập, không đáp ứng được nhu cầu thực tiễn: Kéo dài quá trình giải quyết
vụ việc cạnh tranh, nguồn lực bị phân tán khiến việc giải quyết vụ việc cạnhtranh chưa được tập trung, kết quả giải quyết vụ việc luôn đi sau diễn biến củathị trường và chưa thể hiện vai trò can thiệp kịp thời của Nhà nước để khắcphục những khiếm khuyết của thị trường Bên cạnh đó, việc duy trì cơ chếkiêm nhiệm trong hoạt động của thành viên Hội đồng cạnh tranh dẫn đến sự
thiếu tập trung trong quá trình giải quyết vụ việc cạnh tranh [25]
Vì vậy, để tránh chồng chéo, mâu thuẫn và đảm bảo sự hài hòa giữa mụctiêu phát triển ngành và mục tiêu tạo lập, duy trì và thúc đẩy môi trường cạnhtranh hiệu quả, cũng như đảm bảo tính đồng bộ, thống nhất của hệ thống phápluật đòi hỏi cần có các điều chỉnh tương ứng trong pháp luật cạnh tranh Tại
kỳ họp thứ 5 ngày 12 tháng 6 năm 2018, Luật Cạnh tranh được Quốc hội khóaXIV thông qua và chính thức có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm
2019, thay thế cho Luật Cạnh tranh năm 2004 sau hơn 14 năm thi hành LuậtCạnh tranh năm 2018 tiếp tục kế thừa, phát triển, bổ sung những điểm tiến bộ
so với Luật cũ
Trang 6Đáng kể nhất theo quan điểm của tác giả, đó là Luật Cạnh tranh năm 2018
đã quy định thành lập Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia với vai trò là cơ quan đơnnhất tham mưu giúp Bộ trưởng Bộ Công thương thực hiện chức năng quản lýnhà nước về cạnh tranh và trực tiếp thực hiện việc điều tra, xử lý các hành vi
vi phạm pháp luật về cạnh tranh trên cơ sở hợp nhất, tổ chức lại Cục Cạnhtranh và Bảo vệ người tiêu dùng và Hội đồng cạnh tranh (gồm Văn phòng Hội
đồng cạnh tranh) [25] Cơ quan cạnh tranh quốc gia được quy định tại Luật
Cạnh tranh năm 2018 với sự đổi mới về cả tên gọi, vai trò, vị trí và quy mô sovới mô hình trước đây quy định trong Luật Cạnh tranh năm 2004 Tuy nhiên,
vì còn quá mới mẻ, Cơ quan này vẫn chưa đi vào hoạt động và được hướng
dẫn cụ thể cách thức vận hành Tác giả chọn Đề tài: “Tổ chức và hoạt động của Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia theo Luật Cạnh tranh 2018” làm đề tài
luận văn thạc sĩ Luật học, với mong muốn làm rõ thêm về mặt lý luận cũngnhư đánh giá về việc thực thi pháp luật của tổ chức này để từ đó đưa ra cáckiến nghị, giải pháp phù hợp nhằm phát huy hiệu quả vai trò của cơ quan cạnhtranh tại Việt Nam
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Những nghiên cứu về cơ quan cạnh tranh tại Việt Nam chưa thật sự sôinổi như nhiều lĩnh vực nghiên cứu truyền thống khác, một phần vì sự mới mẻcũng như kinh nghiệm thực tiễn ít ỏi trong lĩnh vực Tố tụng cạnh tranh Mặtkhác trên phương diện quốc tế, vì pháp luật cạnh tranh là một lĩnh vực mangtính đặc thù, vì vậy mô hình Tố tụng cạnh tranh phụ thuộc vào cách thức tổchức bộ máy quyền lực nhà nước của mỗi quốc gia, vì vậy các công trìnhnghiên cứu này chỉ có giá trị tham khảo, chọn lọc các điểm phù hợp, tiến bộnhằm áp dụng tại Việt Nam
Trang 7Nghiên cứu về địa vị pháp lý, thực trạng tổ chức và hoạt động của hệthống cơ quan cạnh tranh ở Việt Nam hiện nay có các công trình tiêu biểunhư:
“Mô hình Cơ quan quản lý cạnh tranh của Việt Nam”, năm 2004 củaDương Đăng Huệ, Nguyễn Hữu Huyên, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 1năm 2004;
“Giáo trình Luật Cạnh tranh”, năm 2010 của Lê Danh Vĩnh, Hoàng Xuân Bắc
và Nguyễn Ngọc Sơn, ĐH Kinh tế - Luật, ĐH Quốc gia TP Hồ Chí Minh; “Cơquan Quản lý cạnh tranh ở Việt Nam – Những bất cập và phương hướng hoàn
thiện”, năm 2011 của Trương Hồng Quang, Tạp chí Nghiên cứuLập pháp số 6, 3/2011;
“Giáo trình pháp luật về cạnh tranh và giải quyết tranh chấp thương mại(tái bản lần 1, có sửa đổi bổ sung)” năm 2020 của trường Đại học Luật thànhphố Hồ Chí Minh;
“Bàn về tính độc lập của Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia theo Luật Cạnhtranh năm 2018”, năm 2020 của Bùi Xuân Hải, Tạp chí khoa học pháp lý ViệtNam số 5/2020 (Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh)
Từ những kết quả nghiên cứu đã đạt được của các công trình tiêu biểu nêutrên, luận văn sẽ tiếp tục được kế thừa, phát triển, làm rõ hơn nữa những vấn
đề về lý luận, bản chất của Cơ quan quản lý cạnh tranh tại Việt Nam theo LuậtCạnh tranh năm 2018
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Trang 8hành; Từ đó đề xuất các kiến nghị về định hướng sửa đổi, bổ sung các quyđịnh trong Luật Cạnh tranh Việt Nam hiện hành về nhiệm vụ, quyền hạn và cơcấu tổ chức của Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia, trên cơ sở tiếp thu những tiến
bộ của thế giới cũng như sự phù hợp với bối cảnh kinh tế, xã hội của ViệtNam
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nêu trên, đề tài có nhiệm vụ giải quyết các vấn đềsau:
- Nghiên cứu, làm sáng tỏ những vấn đề lý luận của Cơ quan cạnh tranh quốc gia;
- Phân tích, đánh giá thực trạng hoạt động về nhiệm vụ, quyền hạn và cơcấu tổ chức của Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia ở Việt Nam hiện nay;
- Nghiên cứu so sánh các quy định pháp luật về cơ quan cạnh tranh ở ViệtNam hiện nay với quy định pháp luật của các quốc gia có bề dày kinh nghiệm
và truyền thống về xây dựng, thực thi chính sách, pháp luật cạnh tranh trên thếgiới, để từ đó rút ra những bài học kinh nghiệm cho việc hoàn thiện pháp luật
về bộ máy cơ quan cạnh tranh ở Việt Nam;
- Đề xuất phương hướng và các giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện bộ máy
Cơ quan cạnh tranh quốc gia
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Hiện nay ở Việt Nam, chỉ có Luật Cạnh tranh năm 2018 quy định về Ủy banCạnh tranh Quốc gia Đối tượng nghiên cứu của đề tài là pháp luật về tổ chức vàhoạt động của Cơ quan cạnh tranh tại Việt Nam, bao gồm các vấn đề về nhiệm
vụ, quyền hạn và cơ cấu, những vấn đề liên quan đến Cơ quan cạnh tranh
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Trang 9Phạm vi nội dung: Luận văn nghiên cứu về tổ chức và hoạt động của Ủy
ban Cạnh tranh Quốc gia, cụ thể là về vị trí và chức năng, nhiệm vụ và quyềnhạn, cơ cấu tổ chức, nguyên tắc hoạt động của cơ quan này trên cơ sở đánhgiá từ các quy định hiện hành được quy định trong Luật Cạnh tranh 2018 vàphân tích các yếu tố tác động đến quá trình triển khai thực hiện hoạt động của
cơ quan này
Phạm vi không gian: Việt Nam, một số quốc gia phát triển và đang phát triển
trong khu vực ASEAN; Một số quốc gia có kinh nghiệm ban hành và thực thipháp luật cạnh tranh, đại diện cho các khu vực khác nhau trên thế giới
Phạm vi thời gian: Các quy định pháp lý mới nhất về cạnh tranh được các
quốc gia tiêu biểu trên thế giới hiện đang thi hành
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Để làm sáng tỏ các vấn đề nghiên cứu của đề tài đối với từng nội dung của luận văn, đề tài được sử dụng các phương pháp nghiên cứu phổ biến như:Phương pháp phân tích, tổng hợp; Phương pháp so sánh; Phương pháp hệ thống hóa Cụ thể như sau:
- Phương pháp phân tích, thống kê, tổng hợp: Tổng hợp một cách có chọnlọc những quy định của Pháp luật về cơ quan thực thi pháp luật về cạnh tranh;Trên cơ sở kiến thức được tổng hợp, phương pháp phân tích được sử dụngnhằm làm sáng tỏ vấn đề lý luận về cơ cấu tổ chức, hoạt động của cơ quan đó
- Phương pháp so sánh: Được sử dụng để so sánh, đối chiếu các quy địnhcủa Pháp luật trong nước và nước ngoài có liên quan Phương pháp so sánhđược sử dụng nhằm mục đích tạo ra sự liên kết về mặt lý luận, rút ra bài học kinh nghiệm, từ đó đề xuất cho Việt Nam
- Phương pháp hệ thống hóa được sử dụng xuyên suốt toàn bộ đề tài nhằmtrình bày các vấn đề, nội dung theo một trình tự, bố cục hợp lý, chặt chẽ, gắnkết, phát triển những nội dung mới của đề tài
Trang 106. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Về mặt khoa học, luận văn là công trình nghiên cứu khá toàn diện về TổChức Và Hoạt Động Của Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia theo Luật Cạnh tranhnăm 2018, góp phần giúp các nhà lập pháp, cơ quan nhà nước có thẩm quyền,các nhà nghiên cứu trong xây dựng và hoàn thiện bộ máy Ủy ban Cạnh tranhQuốc gia
Về mặt thực tiễn, kết quả nghiên cứu của luận v ă n góp phần nâng caohiệu quả thực thi pháp luật của Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia, đồng thời có thể
sử dụng làm tài liệu tham khảo, nghiên cứu cho các nhà lập pháp và tổ chứctrong công tác xây dựng pháp luật về cạnh tranh
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Danh mục viết tắt, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn được chia thành các chương như sau: Chương 1: Những vấn đề lý luận về Cơ quan cạnh tranh quốc gia
Chương 2: Quy định về tổ chức và hoạt động của Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia theo Luật Cạnh tranh 2018
Chương 3: Kiến nghị thi hành pháp luật về tổ chức và hoạt động của Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia
Trang 11Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ
CƠ QUAN CẠNH TRANH QUỐC GIA
1.1 Khái niệm và đặc điểm của Cơ quan cạnh tranh quốc gia
Ngày nay, chúng ta dễ dàng bắt gặp thuật ngữ "Cạnh tranh" trong rất nhiềulĩnh vực như kinh tế, thương mại, luật, chính trị, quân sự, sinh thái, thể thao.Tuy nhiên cho đến nay, các nhà khoa học dường như chưa thể thoả mãn vớibất cứ khái niệm nào về cạnh tranh Bởi lẽ với tư cách là một hiện tượng xãhội riêng có của nền kinh tế thị trường, cạnh tranh xuất hiện ở mọi lĩnh vực,mọi công đoạn của quá trình kinh doanh và gắn liền với bất cứ chủ thể nàođang hoạt động trên thị trường Do đó, cạnh tranh được nhìn nhận ở nhiều góc
độ khác nhau tùy thuộc vào ý định và hướng tiếp cận của các nhà khoa học
[34, tr 10]
Theo nhà kinh tế học Michael Porter của Mỹ: “Cạnh tranh (kinh tế) làgiành lấy thị phần Bản chất của cạnh tranh là tìm kiếm lợi nhuận, là khoản lợi
nhuận cao hơn mức lợi nhuận trung bình mà doanh nghiệp đang có” [1]
Theo cách hiểu phổ thông thể hiện trong Từ điển ngôn ngữ tiếng Anh,
“competition” (cạnh tranh) là “một sự kiện hoặc một cuộc đua, theo đó cácđối thủ ganh đua để giành phần hơn hay ưu thế tuyệt đối về phía mình” Theo
Từ điển tiếng Việt, “cạnh tranh” là “cố gắng giành phần hơn, phần thắng vềmình giữa những người, những tổ chức hoạt động nhằm những lợi ích như
nhau” [24]
Với tư cách là động lực nội tại trong mỗi một chủ thể kinh doanh, cạnhtranh được cuốn Black’Law Dictionary diễn tả là “sự nỗ lực hoặc hành vi củahai hay nhiều thương nhân nhằm tranh giành những lợi ích giống nhau từ chủthể thứ ba” Với tư cách là hiện tượng xã hội, theo cuốn Từ điển Kinh doanhcủa Anh xuất bản năm 1992, cạnh tranh được định nghĩa là “sự ganh đua, sự
Trang 12kình địch giữa các nhà kinh doanh nhằm tranh giành cùng một loại tài nguyên
hoặc cùng một loại khách hàng về phía mình” [34, tr 11]
Ở góc độ thương mại, cạnh tranh là một trận chiến giữa các doanh nghiệp
và các ngành kinh doanh nhằm chiếm được sự chấp nhận và lòng trung thànhcủa khách hàng Hệ thống doanh nghiệp tự do đảm bảo cho các ngành có thể
tự mình đưa ra các quyết định về mặt hàng cần sản xuất, phương thức sản
xuất, và tự định giá cho sản phẩm hay dịch vụ [1]
Chúng ta thường bắt gặp sự cạnh tranh giữa những doanh nghiệp, nhà sảnxuất, phân phối với nhau, họ có thể là những đối thủ trong cùng một ngànhhay giữa những ngành khác cùng cạnh tranh với nhau Cạnh tranh cũng có thểxảy ra giữa người sản xuất với người tiêu dùng khi người sản xuất muốn bánhàng hóa, dịch vụ với giá cao, người tiêu dùng lại muốn mua được với giá
thấp [1]
Kết quả của quá trình cạnh tranh là sự cải thiện về bình quân hóa tỷ suấtlợi nhuận giữa các ngành khác nhau, dẫn đến hệ quả là giá cả có thể giảm đi.Mặt khác, kết quả của sự cạnh tranh trong nội bộ ngành sẽ kéo chất lượng sảnphẩm, dịch vụ tăng lên, tỷ lệ thuận với yêu cầu phát triển nâng cao kỹ thuật,nghiệp vụ
Cùng với sự phát triển của thị trường và nhận thức của con người về môitrường tồn tại của mình, trong đó có môi trường của đời sống kinh tế, phápluật cạnh tranh ngày càng được hoàn thiện và trở thành chế định pháp luật cơbản của pháp luật kinh tế, góp phần làm cho thị trường vận hành ổn định vàhiệu quả
Nhìn chung trên thế giới, Luật Cạnh tranh được áp dụng đối với mọi hoạtđộng từ sản xuất, phân phối đến tiêu thụ hàng hoá, dịch vụ Luật Cạnh tranhđiều chỉnh bất kỳ chu trình nào của quá trình kinh doanh nhằm bảo vệ thị
trường, bảo vệ các doanh nghiệp và bảo vệ người tiêu dùng [23] Từ lịch sử
Trang 13xây dựng và phát triển pháp luật cạnh tranh trên thế giới đã cho thấy một thực
tế là, cơ quan quản lý cạnh tranh có vai trò quyết định trong việc bảo đảmthực thi Luật Cạnh tranh
Theo quan điểm của tác giả Có thể hiểu “Cơ quan cạnh tranh quốc gia là
cơ quan thực thi và kiểm soát việc thực thi quyền lực nhà nước, có chức năng điều tiết, đảm bảo thực hiện chức năng thay mặt nhà nước điều hành xã hội trong lĩnh vực cạnh tranh trên phạm vi lãnh thổ”.
Hay nói cách khác, Cơ quan cạnh tranh quốc gia là công cụ của Chính phủtrong việc quản lý nhà nước về cạnh tranh, nhưng đồng thời cơ quan này cũng
có quyền tiến hành các hoạt động điều tra, ra các quyết định phán xử đúng –sai và áp dụng các chế tài với quy trình ra quyết định gần tương tự như tố
tụng của tòa án [19, tr 1]
Trên thế giới, việc quản lý và thực thi pháp luật cạnh tranh có thể đượcgiao cho một cơ quan chuyên trách, nhưng cũng có thể do nhiều cơ quan khác
nhau thực hiện [18, tr 309] Mỗi quốc gia tùy điều kiện kinh tế - xã hội cụ thể
của mình mà có cách xây dựng mô hình cơ quan quản lý cạnh tranh khácnhau, song mục đích thành lập ra nó thì chỉ có một, đó là góp phần thực thi
Luật Cạnh tranh một cách có hiệu quả nhất [21, tr 1] Cho dù tổ chức theo mô
hình nào, nhìn chung, cơ quan cạnh tranh được thiết lập trong pháp luật cạnh
tranh của các quốc gia thường có những đặc điểm cơ bản sau đây: [18, tr.
312]
Thứ nhất, chức năng quan trọng nhất của cơ quan cạnh tranh ở các
nước là đảm bảo thực thi pháp luật cạnh tranh, bảo vệ cạnh tranh lành mạnh,
bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, chống các hành vi hạn chế cạnh tranh, cảntrở cạnh tranh Đây là chức năng và nhiệm vụ cơ bản, quan trọng và đặc trưngnhất của cơ quan quản lý cạnh tranh
Trang 14Thứ hai, tổ chức và hoạt động của cơ quan cạnh tranh thường trên
nguyên tắc độc lập để đảm bảo tính công bằng, khách quan trong hoạt động.Các nước đều có các thiết chế pháp lý để đảm bảo rằng hoạt động của cơ quannày sẽ không bị lệ thuộc và chi phối bởi bất kỳ cơ quan hay tổ chức nào khác.Tính độc lập của cơ quan cạnh tranh cũng được thể hiện qua địa vị pháp lýcủa nó và thẩm quyền bổ nhiệm, cách chức thành viên của cơ quan này Vềnguyên tắc, thành viên của cơ quan quản lý cạnh tranh cần phải liêm chính, cótrình độ và làm việc độc lập, khách quan Tất cả những yêu cầu trên được đặt
ra để đảm bảo rằng cơ quan cạnh tranh có thể thực thi các chức năng, quyềnhạn của mình một cách độc lập, không bị ảnh hưởng bởi các cá nhân hay cơquan không có thẩm quyền
Thứ ba, với chức năng tổ chức thực thi pháp luật cạnh tranh và bảo vệ
cạnh tranh, cơ quan cạnh tranh thường có chức năng tiếp nhận các khiếu nại, tốcáo và tiến hành điều tra các vụ việc có dấu hiệu vi phạm pháp luật cạnh tranh và
ra các quyết định xử lý đối với các hành vi vi phạm đó Như vậy, cơ quan cạnhtranh thường tiến hành tất cả các hành động cần thiết từ khi tiếp nhận thông tin,khiếu nại cho đến khi cho ra quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh
1.2 Nhu cầu thành lập Cơ quan cạnh tranh quốc gia
Cạnh tranh có vai trò quan trọng trong nền sản xuất hàng hóa nói riêng vàtrong lĩnh vực kinh tế nói chung, là động lực thúc đẩy sản xuất tiến bộ, gópphần vào sự phát triển kinh tế Mục tiêu của cạnh tranh là thu hút khách hàng
về phía mình, chính vì vậy nó buộc các nhà sản xuất, cung ứng hàng hóa, dịch
vụ phải có chiến lược đúng đắn và lâu dài, nhằm tạo ra sản phẩm, dịch vụ vớichất lượng cao nhất và giá thành phù hợp nhất Sự cạnh tranh buộc người sảnxuất phải năng động, nhạy bén, nắm bắt tốt hơn nhu cầu của người tiêu dùng,tích cực nâng cao tay nghề, thường xuyên cải tiến kỹ thuật, áp dụng nhữngtiến bộ, các nghiên cứu thành công mới nhất vào trong sản xuất, hoàn thiện
Trang 15cách thức tổ chức trong sản xuất, trong quản lý sản xuất để nâng cao năngsuất, chất lượng và hiệu quả kinh tế Dù bất kỳ ngành nghề hay lĩnh vực nàonếu thiếu đi sự cạnh tranh thì thường không có đột phá, kém phát triển.
Cạnh tranh mang lại nhiều lợi ích cho doanh nghiệp và nền kinh tế, đặcbiệt là cho người tiêu dùng Người sản xuất phải tìm mọi cách để làm ra sảnphẩm có chất lượng hơn, đẹp hơn, có chi phí sản xuất rẻ hơn, có tỷ lệ tri thứckhoa học, công nghệ trong đó cao hơn để đáp ứng, thỏa mãn được nhu cầu
và xu hướng của thị trường tiêu dùng [1] Sự cạnh tranh giữa các doanh
nghiệp càng lớn thì sản phẩm hay dịch vụ cung cấp cho khách hàng sẽ càng
có chất lượng tốt hơn Nói cách khác, cạnh tranh sẽ đem đến cho khách hànggiá trị tối ưu đối với những đồng tiền mà họ bỏ ra cho sản phẩm, dịch vụ đó.Thế nhưng bên cạnh những mặt tích cực, cạnh tranh cũng đem lại những
hệ quả tiêu cực không mong muốn về mặt xã hội Nó làm thay đổi cấu trúc xãhội trên phương diện sở hữu của cải, phân hóa mạnh mẽ giàu nghèo, có nhữngtác động tiêu cực khi cạnh tranh không lành mạnh, dùng các thủ đoạn vi phạmpháp luật hay bất chấp pháp luật Những tác động tiêu cực thể hiện ở cạnhtranh không lành mạnh như những hành động vi phạm đạo đức hay vi phạmpháp luật (buôn lậu, trốn thuế, tung tin phá hoại, ) hoặc những hành vi cạnh
tranh làm phân hóa giàu nghèo, tổn hại môi trường sinh thái [1]
Vì lý do trên nên cạnh tranh kinh tế bao giờ cũng phải được điều chỉnh bởicác định chế xã hội, sự can thiệp của nhà nước Từ đó, các cơ quan quản lýcạnh tranh của các quốc gia ra đời và liên tục đổi mới để phù hợp với thựctiễn xã hội, đảm bảo thích ứng với môi trường kinh doanh Ngoài ra, việc cậpnhật, đổi mới tiến bộ của Cơ quan cạnh tranh quốc gia còn giúp pháp luậtcạnh tranh nước này đáp ứng các yêu cầu trong xu thế hội nhập quốc tế Dùvới mô hình nào, tên gọi ra sao, tất cả đều có chung một mục đích là giúp chocác thực thể kinh tế có cơ hội tiếp cận, bình đẳng cạnh tranh, bảo vệ người
Trang 16tiêu dùng thông qua việc khuyến khích hạ giá và cải thiện chất lượng sảnphẩm Đây được xem như một hệ quả của cạnh tranh tự do và lành mạnh trênthị trường, và trách nhiệm của Cơ quan cạnh tranh quốc gia là duy trì và bảo
vệ hoạt động cạnh tranh công bằng đó [31, tr 23]
1.3 Địa vị pháp lý của Cơ quan cạnh tranh quốc gia
Pháp luật cạnh tranh của các nước khi đề cập đến cơ quan cạnh tranh đềukhông sử dụng các thuật ngữ “Lập pháp”, “Hành pháp” hay “Tư pháp” để chỉbản chất pháp lý của các cơ quan này Các thuật ngữ này thường chỉ xuất hiệntrong các học thuyết về quyền lực Nhà nước gắn liền với tổ chức bộ máy nhànước, ví dụ như học thuyết tam quyền phân lập của Montesquier Theo họcthuyết này, quyền lực Nhà nước được phân thành ba quyền năng: Quyền lậppháp (ban hành pháp luật); Quyền hành pháp (tổ chức thi hành pháp luật) vàquyền tư pháp (xét xử các tranh chấp) Trong một bộ máy nhà nước, tùy theochức năng và quyền hạn nói trên mà các cơ quan công quyền được chia thành
3 loại tương ứng là cơ quan lập pháp; Cơ quan hành pháp và cơ quan tư pháp.Chính vì vậy, việc xem xét bản chất pháp lý của các cơ quan này cũngchính là nghiên cứu vị trí, chức năng và quyền hạn của các cơ quan cạnh tranhrồi từ đó rút ra được cơ quan này có quyền năng của loại hình cơ quan nào
[16]
Tính đến tháng 04/2017, theo số liệu từ trang thông tin điện tử Mạng lưới
cạnh tranh thế giới (ICN), [4, tr 8] có thể thấy các cơ quan cạnh tranh đa phần
là sự kết hợp giữa “Hành chính” và “Tư pháp”, thay vì cách tiếp cận truyềnthống về phương pháp tổ chức bộ máy nhà nước được chia thành “Lập pháp”,
“Hành pháp” và “Tư pháp” Sự kết hợp này đảm bảo cho cơ quan cạnh tranhthực hiện đầy đủ các chức năng, nhiệm vụ của mình Tuy nhiên, các quốc giatrên thế giới đang có xu hướng rằng cơ quan cạnh tranh ngày càng độc lập và
ít chịu sự kiểm soát của các Bộ/ngành
Trang 17Có thể thấy rằng trong khuôn khổ pháp lý và thể chế, cần đảm bảo sự cânbằng giữa “tính độc lập” của cơ quan cạnh tranh và “khả năng thực thi mụctiêu chính sách công của Chính phủ” Hay nói cách khác đó là đảm bảo tínhđộc lập và tính chịu trách nhiệm của cơ quan cạnh tranh, các quyết định của
cơ quan cạnh tranh cần được quy định có thể được xem xét, rà soát lại thôngqua thủ tục pháp lý Tính độc lập của cơ quan cạnh tranh cần đảm bảo rằngcác yếu tố chính trị hay các lợi ích nhóm không tác động đến hoạt động, quyết
định, phán quyết trong thực thi pháp luật cạnh tranh [4, tr 4]
Qua tìm hiểu mô hình cơ quan quản lý cạnh tranh của một số nước có nềnkinh tế thị trường tiêu biểu trên thế giới, có thể rút ra một số nhận xét như
sau: [21, tr 6]
Thứ nhất, cơ quan quản lý cạnh tranh có vai trò quyết định trong việc
bảo đảm thực thi Luật cạnh tranh Chính sự hiệu quả trong hoạt động, sự côngbằng, công khai, minh bạch của cơ quan này sẽ đảm bảo cho Luật Cạnh tranhđược thực thi nghiêm chỉnh
Thứ hai, nhìn chung, cơ quan quản lý cạnh tranh của các nước đều
mang tính "lưỡng tính", tức nó vừa là cơ quan hành chính, lại, là cơ quan tưpháp Sự kết hợp hai đặc tính "Hành chính", "Tư pháp" là yếu tố đảm bảo cho
cơ quan này thực hiện các chức năng nhiệm vụ của mình
Thứ ba, dù được tổ chức theo mô hình cụ thể như thế nào thì nguyên
tắc quan trọng hàng đầu đối với cơ quan này là bảo đảm tính độc lập cho nó.Khác với phương pháp tổ chức bộ máy nhà nước truyền thống được chia theolập pháp, hành pháp và tư pháp, nguyên tắc đảm bảo tính độc lập này đã gợi
mở ra một tư duy mới, một cách tiếp cận mới về mô hình tổ chức và hoạtđộng của Cơ quan cạnh tranh quốc gia Cơ quan hành chính độc lập, cụm từnày không chỉ thể hiện tính chất "lưỡng tính" như vừa đề cập tới ở trên, mà nógợi ra một vấn đề lớn hơn, đó là tổ chức, hoạt động của thiết chế điều tiết kinh
Trang 18tế này phải được thiết kế làm sao để bảo đảm không để bị can thiệp hoặc bịchi phối từ các cơ quan khác (lập pháp, hành pháp, tư pháp) Độc lập chính làyếu tố hàng đầu để đảm bảo công bằng trong việc xử lý các vụ việc cạnhtranh, điều mà các bên đương sự luôn chờ đợi ở cơ quan này.
1.4 Kinh nghiệm quốc tế về tổ chức và hoạt động của Cơ quan cạnh tranh quốc gia
Theo một báo cáo nghiên cứu thực hiện thống kê số liệu và thông tin của
150 cơ quan cạnh tranh trên toàn thế giới, 1/3 số cơ quan cạnh tranh trên thếgiới (cụ thể là 47 cơ quan, chiếm 31%) thuộc Chính phủ, gồm các nước như
Ấn Độ, Ăc-hen-ti-na, Đài Loan, Đức, Hàn Quốc, Liên Bang Nga, Úc, zuê-la,v.v Gần một nửa số cơ quan cạnh tranh (cụ thể là 63 cơ quan, tươngđương với 42% tổng số) trên thế giới là các cơ quan thuộc các Bộ/ngành, nhưCục các ten Liên Bang Đức thuộc Bộ Kinh tế và Năng lượng Liên Bang Đức,
Vê-nê-Ủy ban Cạnh tranh Hy Lạp thuộc Bộ Kinh tế, Cạnh tranh và Vận tải biển, BanCạnh tranh và bảo vệ người tiêu dùng Lào thuộc Bộ Công thương, Ủy ban
Cạnh tranh Nam Phi thuộc Bộ Công thương, v.v [4, tr 8]
Chỉ có số rất ít cơ quan cạnh tranh (7 cơ quan, chiếm tỷ lệ 5%) thuộc Quốchội gồm một số nước Bul-ga-ria, Cro-tia, Hung-ra-ry, Albania, Kosovo Cònlại 22% (33 cơ quan) số cơ quan cạnh tranh được tổ chức theo mô hình khác
và là cơ quan độc lập như Ủy ban Quốc gia về bảo vệ cạnh tranh Armenia, Ủyban Nhà nước về cạnh tranh và bảo vệ người tiêu dùng, Tòa Cạnh tranh Ca-na-đa, Tòa án bảo vệ cạnh tranh tự do Chi-lê, Ủy ban Cạnh tranh cộng đồng
Caribê, Ủy ban thúc đẩy cạnh tranh Costa Rica [4, tr 8]
Qua số liệu trên, có thể thấy các cơ quan cạnh tranh đa phần là cơ quancạnh tranh vừa là cơ quan hành chính, chịu trách nhiệm thực thi các chínhsách, pháp luật theo chỉ đạo của Chính phủ, vừa là cơ quan hoạt động mangtính tài phán khi có quyền ra quyết định điều tra, xử phạt và đưa ra các biện
Trang 19pháp chế tài đối với các bên có hành vi vi phạm pháp luật Với chức nănghành chính bán tư pháp, để đảm bảo tính công bằng trong việc xử lý các vụviệc, đảm bảo công bằng trong tố tụng cạnh tranh, vì mục tiêu bảo vệ trật tựcông cộng, cạnh tranh lành mạnh trên thị trường, yếu tố quan trọng nhất đó làđảm bảo tính độc lập cho cơ quan cạnh tranh Tính độc lập được thể hiện ởviệc cơ quan cạnh tranh không chịu chi phối hay can thiệp bởi các cơ quankhác (lập pháp, hành pháp, tư pháp) và sử dụng những quyền hạn được quyđịnh theo Luật để yêu cầu sự phối hợp, hỗ trợ của các cơ quan có liên quan.
[4, tr 3]
Mô hình quản lý cạnh tranh của Nhật Bản là một ví dụ dễ hình dung nhất
về cơ quan hành chính bán tư pháp Theo Luật về chống độc quyền của NhậtBản năm 1947, cơ quan quản lý cạnh tranh ở Nhật Bản là Ủy ban thương mạicông bằng Nhật Bản (Japan Fair Trade Commission-JFTC) Tính chất hànhchính thể hiện ở chỗ, nó là một bộ phận của Bộ Quản lý công, Nội vụ, Bưu
chính và Viễn thông [21, tr 3] Chức năng hành chính bao gồm: (i) Ban hành
các văn bản hướng dẫn thi hành Luật chống độc quyền; (ii) Thực hiện phốihợp với các ngành khác trong việc soạn thảo luật và chính sách ngành; (iii)Hợp tác quốc tế về cạnh tranh và chống độc quyền Về thẩm quyền tư pháp,khi xử lý vụ việc vi phạm Luật chống độc quyền, Ủy ban có thể thi hành Luật
đối với vụ việc hoàn toàn dựa vào các điều khoản và cách hiểu như tòa án [4,
tr 3]
Tuy nhiên, theo nghiên cứu của Diễn đàn Thương mại và Phát triển LiênHiệp quốc (UNCTAD) (2011) đối với 112 quốc gia trên thế giới, hơn nửa sốquốc gia có cơ quan cạnh tranh độc lập, và không trực thuộc các Bộ/ngành.Trong đó, 20 quốc gia đang phát triển và có nền kinh tế chuyển đổi cũng có cơquan cạnh tranh độc lập Đó là xu hướng chuyển đổi mô hình cơ quan cạnh
tranh ngày càng độc lập và ít chịu sự kiểm soát của các Bộ/ngành [4, tr 8]
Trang 20Các quốc gia như Ý, Hung-ga-ry đã thành lập cơ quan cạnh tranh của mìnhtrực thuộc Quốc hội, độc lập với tư pháp và Chính phủ Các nước như Đức,Hoa Kỳ, Liên bang Nga, Nhật Bản, Úc, Mê-xi-cô,v.v có cơ quan cạnh tranhtrực tiếp trực thuộc Chính phủ Một số nước lại tổ chức cơ quan cạnh tranhnhư một Bộ hay ngang Bộ hoạt độc độc lập Các nước như Ca-na-đa, Pháp,
Bỉ, Trung Quốc,… dù đặt trong một Bộ, ngành nào đó nhưng vẫn duy trì mộtchế độ độc lập rất cao trong hoạt động và chỉ bị phụ thuộc về mặt hành chính
[4, tr 3] Ngoài ra, việc pháp luật cạnh tranh các nước bổ nhiệm nhân sự, quy
định rõ ràng ngân sách hoạt động của cơ quan và chế độ đãi ngộ cho các thànhviên cũng góp phần hiệu quả cho tính độc lập của các cơ quan cạnh tranh này.Dựa trên kết quả nghiên cứu về tính độc lập của các cơ quan cạnh tranh,các cơ quan cạnh tranh thuộc Chính phủ hoạt động hiệu quả hơn, giúp đảmbảo và thúc đẩy việc tập trung chuyên môn, tính công chính, minh bạch vàkhả năng chịu trách nhiệm giải trình của cơ quan này Tự chủ về quá trìnhtuyển chọn, bổ nhiệm cũng như đào tạo nhân sự, tự chủ về mặt ngân sách hoạtđộng đảm bảo cho cơ quan cạnh tranh có thực quyền cao hơn Đây là kinhnghiệm từ nhiều quốc gia có cơ quan cạnh tranh hoạt động rất hiệu quả nhưHoa Kỳ, Vương quốc Anh, Ca-na-đa, Úc,v.v nơi mà cơ quan quản lý cạnh
tranh đều có vị trí độc lập và quyền tự chủ [4, tr 8]
Ngoài ra, nhằm đảm bảo tính chất quan trọng và tính độc lập của cơ quancạnh tranh trong quá trình hoạt động của cơ quan cạnh tranh các nước thuộcChính phủ thì người đứng đầu cơ quan cạnh tranh và các thành viên Hội đồngcạnh tranh đều do Thủ tướng hoặc Tổng thống ra quyết định bổ nhiệm hoặcmiễn nhiệm Cho dù các cơ quan cạnh tranh thuộc Bộ/ngành, nhưng ngườiđứng đầu chịu trách nhiệm của cơ quan cạnh tranh vẫn do Chính phủ ra quyết
Trang 21định bổ nhiệm, nhằm đảm bảo tính độc lập cho cơ quan cạnh tranh trong quátrình thực thi luật.
Trong các quốc gia kể trên, hầu hết các nước đều có 01 cơ quan cạnh tranhduy nhất nhằm đảm bảo thống nhất trong quá trình thực thi chính sách vàpháp luật cạnh tranh quốc gia Trong đó, hầu hết các quốc gia đều hướng tớixây dựng mô hình cơ quan cạnh tranh độc lập trong cả về tổ chức và hoạtđộng Bên cạnh đó, để đảm bảo độc lập trong tổ chức và hoạt động thì môhình hiệu quả hiện nay là cơ quan cạnh tranh phải là một cơ quan ngang Bộ,
thuộc Quốc hội hoặc Chính phủ [4, tr 8]
Tính đến năm 2017, có 04 quốc gia có từ 02 cơ quan cạnh tranh trở lên,tuy nhiên, chức năng, nhiệm vụ được phân chia theo lĩnh vực, nhóm hành vichứ không phân chia theo giai đoạn tố tụng gồm Trung Quốc, Bờ biển Ngà,Tunisia và Hoa Kỳ Có 04 quốc gia có Tòa án cạnh tranh riêng trong hệ thống
tư pháp gồm Ca-na-đa, Chi-lê, Nam Phi và Ấn Độ Chỉ duy nhất có Việt Namtrong số hơn 130 quốc gia có mô hình hai cơ quan cạnh tranh có vai trò vàthực thi các khâu và giai đoạn khác nhau trong quá trình tố tụng cạnh tranh.Theo đó, điểm yếu của việc tách biệt hai cơ quan cạnh tranh trong quá trìnhđiều tra và xử lý vụ việc cạnh tranh phát sinh nhiều bất cập Như đã đề cập ởtrên, do mối quan hệ mật thiết giữa chính sách cạnh tranh và chính sách bảo
vệ người tiêu dùng, một số cơ quan cạnh tranh các nước đồng thời là cơ quanthực thi pháp luật và chính sách bảo vệ người tiêu dùng, Việt Nam cũng là
một trong số các quốc gia đó [4, tr 9]
Nhiệm vụ chính của cơ quan cạnh tranh đó là đảm bảo thực thi hiệu quảpháp luật cạnh tranh Qua nghiên cứu mô hình cạnh tranh của một số nước, cóthể đúc rút ra một số chức năng, nhiệm vụ chính của cơ quan cạnh tranh gồm:
[4, tr 7]
Trang 22(i) Điều tra, xử lý các hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh trên thị trường;
(ii) Điều tra, xử lý các hành vi chống độc quyền, lạm dụng vị trí thống lĩnh trên thị trường;
(iii) Kiểm soát quá trình sáp nhập, hợp nhất doanh nghiệp trên thị trường;
(iv) Điều tra, xử lý các hành vi cạnh tranh không lành mạnh trên thị trường; và
(v) Thực hiện các hoạt động khác nhằm đảm bảo môi trường cạnh tranh
lành mạnh.
Xét trên khía cạnh quy trình xử lý vụ việc cạnh tranh, các cơ quan cạnh
tranh trên thế giới có thể được phân ra theo 03 mô hình sau: [4, tr 11] (i) Mô
hình cơ quan cạnh tranh chia nhánh; (ii) Mô hình cơ quan cạnh tranh hai cấp xét xử; (iii) Mô hình cơ quan cạnh tranh thống nhất Hầu hết các quốc gia xây
dựng mô hình cơ quan cạnh tranh có tính chất kết hợp giữa các mô hình cấutrúc nêu trên, phù hợp với quy định pháp luật, bối cảnh kinh tế - xã hội –chính trị và luật pháp quốc gia Tuy nhiên, mô hình cơ quan cạnh tranh thốngnhất sẽ đem lại tính tập trung, quyền lực phán xét cao nhất cho cơ quan cạnhtranh
Pháp luật cạnh tranh của các quốc gia nghiên cứu nói trên đều quy định rấtchặt chẽ về những yêu cầu phải công bố công khai các hoạt động của cơ quancạnh tranh Ngoài ra, các bên liên quan có quyền yêu cầu các cơ quan cạnhtranh cho phép tiếp cận thông tin liên quan tới vụ việc Trên thực tế, các cơquan cạnh tranh cũng luôn đề cao tiêu chí minh bạch trong các hoạt động cụthể của mình, từ việc công khai các chính sách, pháp luật cũng như các quytrình xử lý công việc… cho đến nội dung các quyết định cụ thể trên cácwebsite của mình Tuy nhiên, cơ quan cạnh tranh phải có trách nhiệm bảo mật
Trang 23các thông tin thu thập được trong quá trình điều tra liên qua đến bí mật kinhdoanh của các doanh nghiệp là đối tương bị điều tra Bởi minh bạch tronghoạt động của các cơ quan nhà nước là một đòi hỏi hết sức quan trọng Đốivới cơ quan có chức năng và nhiệm vụ thực thi pháp luật cạnh tranh, thì việcminh bạch hóa càng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng hơn, giúp nâng cao thêm
uy tín của chính các cơ quan này trong vai trò là cơ quan duy trì trật tự cạnh
tranh rõ ràng, lành mạnh, đảm bảo sự thông suốt [4, tr 4]
Trang 24Tiểu kết chương 1
Cạnh tranh đóng một vai trò quan trọng, là động lực thúc đẩy cho sự pháttriển của xã hội nói chung và của nền kinh tế nói riêng Lịch sử phát triển của
xã hội đã cho thấy, pháp luật cạnh tranh của các nước ra đời đều bắt nguồn từ
nhu cầu của nền kinh tế [31, tr 22] Cùng với quá trình phát triển, pháp luật
cạnh tranh là một bộ phận không thể thiếu của hệ thống pháp luật trong nềnkinh tế thị trường, và phải tổ chức thực thi có hiệu quả pháp luật cạnh tranhnhằm bảo vệ thị trường cạnh tranh và chống các hành vi hạn chế cạnh tranh,cạnh tranh không lành mạnh Nhiệm vụ thực thi pháp luật cạnh tranh đượcgiao cho các Cơ quan cạnh tranh quốc gia, một thiết chế quan trọng và kháđặc thù trong cấu trúc tổ chức của bộ máy nhà nước
Tính đặc thù của các Cơ quan cạnh tranh quốc gia có thể thấy qua bản chấtpháp lý của nó Khác với các cơ quan nhà nước trong hệ thống lập pháp, hànhpháp hay tư pháp, Cơ quan cạnh tranh quốc gia là một cơ quan “lưỡng tính”,
cơ quan hành chính “bán tư pháp” Nói cách khác, Cơ quan cạnh tranh quốcgia là công cụ của Chính phủ trong việc quản lý nhà nước về cạnh tranh,nhưng đồng thời cơ quan này cũng có quyền tiến hành các hoạt động điều tra,
ra các quyết định phán xử đúng – sai và áp dụng các chế tài với quy trình ra
quyết định gần tương tự như tố tụng của tòa án [19, tr 1]
Qua tìm hiểu mô hình cơ quan quản lý cạnh tranh của một số nước có nềnkinh tế thị trường tiêu biểu trên thế giới, có thể nhận thấy dù được tổ chứctheo mô hình cụ thể như thế nào thì nguyên tắc quan trọng hàng đầu đối với
cơ quan này là bảo đảm tính độc lập cho nó Để tạo lập sự độc lập về mặt tổchức và tài chính, một số nước có cơ quan cạnh tranh trực tiếp trực thuộcChính phủ Một số cơ quan cạnh tranh khác lại được tổ chức như một Bộ hayngang Bộ, độc lập với các Bộ ngành khác Một số trường hợp khác mặc dùđặt trong một Bộ ngành nào đó nhưng lại duy trì một chế độ độc lập rất cao
Trang 25trong hoạt động và các cơ quan này chỉ bị phụ thuộc về mặt hành chính Đó lànhững tham khảo có giá trị cao trong công tác xây dựng bộ máy cơ quan cạnhtranh của mỗi quốc gia.
Trang 26Chương 2 QUY ĐỊNH VỀ TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA ỦY BAN CẠNH TRANH QUỐC GIA THEO LUẬT CẠNH TRANH 2018
2.1 Những bất cập trong tổ chức và hoạt động của Cơ quan cạnh tranh quốc gia theo Luật Cạnh tranh 2004
Luật Cạnh tranh 2004 đã lựa chọn mô hình cơ quan cạnh tranh gồm có hai
cơ quan độc lập: (i) Cơ quan quản lý cạnh tranh thuộc Bộ Công thương (banđầu là Cục Quản lý cạnh tranh rồi sau đó là Cục Cạnh tranh và Bảo vệ ngườitiêu dùng) và (ii) Hội đồng cạnh tranh Cơ quan quản lý cạnh tranh thuộc BộCông thương có thẩm quyền kiểm soát quá trình tập trung kinh tế, thụ lý hồ sơ
đề nghị hưởng miễn trừ; Điều tra các vụ việc cạnh tranh liên quan đến hành vihạn chế cạnh tranh, hành vi cạnh tranh không lành mạnh; Xử lý, xử phạt hành
vi cạnh tranh không lành mạnh Trong khi đó, Hội đồng cạnh tranh là cơ quan
do Chính phủ thành lập, là cơ quan thực thi quyền lực nhà nước độc lập, có
chức năng xử lý các hành vi hạn chế cạnh tranh [19, tr 4]
Cục Cạnh tranh và Bảo vệ người tiêu dùng trong suốt nhiều năm hoạt động
đã thực hiện tốt nhiệm vụ phân cấp quản lý nhà nước, góp phần phân định rõchức năng, nhiệm vụ và quyền hạn, trách nhiệm trong Lĩnh vực bảo vệ quyềnlợi người tiêu dùng và Lĩnh vực kinh doanh theo phương thức đa cấp đối vớitừng cấp, từng cơ quan Tuy nhiên, sau hơn 10 năm thực thi pháp luật cạnhtranh, dựa trên thực tiễn hoạt động và học hỏi kinh nghiệm các nước, mô hình
cơ quan cạnh tranh hiện nay đã thể hiện một số bất cập như: [4, tr 18]
Thứ nhất, về mặt luật pháp, chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của cơ
quan quản lý cạnh tranh được quy định độc lập, tuy nhiên, chính cơ cấu trựcthuộc Bộ Công thương đã khiến cho cơ quan cạnh trên thực tế khó độc lập đểthực hiện chức năng một cách hiệu quả
Trang 27Thứ hai, cơ quan quản lý cạnh tranh trực thuộc Bộ sẽ không đảm bảo
được tính tự chủ trong việc quản lý ngân sách hoạt động, tuyển chọn, bổnhiệm cũng như đào tạo nhân sự bảo đảm cho cơ quan quản lý cạnh tranh cóthực quyền cao hơn, đáp ứng đòi hỏi ngày càng cao của hội nhập kinh tế quốc
tế, khi mà số vụ kiện về các hành vi vi phạm pháp luật cạnh tranh tăng lênmột cách đáng kể
Thứ ba, một lý do khác khá quan trọng chúng ta không thể bỏ qua khi
cân nhắc có nên đặt cơ quan quản lý cạnh tranh tại Bộ Công thương haykhông là tầm quan trọng đặc biệt và tính đa ngành cao của Luật Cạnh tranh.Thậm chí, trên thực tế, Luật Cạnh tranh thường xuyên được đề cập tới nhưmột luật khung, hoặc nguyên tắc cơ bản phục vụ xây dựng các quy địnhchuyên ngành trong nền kinh tế thị trường hiện đại Sự phối hợp nhịp nhàng,chặt chẽ với các cơ quan chuyên ngành, do đó, là một nhân tố cốt yếu quyếtđịnh sự thành công, tính hiệu quả của Luật nhằm đảm bảo và thúc đẩy môitrường cạnh tranh lành mạnh và công bằng trong toàn bộ nền kinh tế
Trong khi đó, Hội đồng cạnh tranh hoạt động với những chức năng, nhiệm
vụ được giao, đã nỗ lực trong công tác thực thi pháp luật cạnh tranh, tuy nhiênvẫn chưa thực sự đạt hiệu quả cao do còn nhiều bất cập trong quy định về địa
vị pháp lý của Hội đồng cạnh tranh
Cụ thể, Luật Cạnh tranh và các quy định pháp luật liên quan vẫn chưa xácđịnh rõ địa vị pháp lý, mối quan hệ công tác của Hội đồng cạnh tranh trong hệthống bộ máy nhà nước Tình trạng này đã ảnh hưởng không nhỏ đến hoạtđộng của Hội đồng cạnh tranh, và gây nhiều khó khăn cho Hội đồng cạnhtranh trong việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ được giao, đặc biệt trong
các hoạt động đòi hỏi sự hợp tác từ phía các cơ quan nhà nước khác [4, tr.
17]
Trang 28Mặc dù tại Nghị định 07/2015/NĐ-CP, quy định chức năng, nhiệm vụ,quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Hội đồng cạnh tranh, địa vị pháp lý của Hộiđồng cạnh tranh có được làm rõ hơn so với Nghị định 05/2006/NĐ-CP Đâycũng là cơ sở để xác định một cách rõ ràng hơn bản chất, hiệu lực pháp lý củacác Quyết định do Hội đồng cạnh tranh ban hành, quyền khởi kiện Quyết địnhcủa Hội đồng cạnh tranh, thẩm quyền xem xét lại hoặc thụ lý đơn khởi kiệnđối với Quyết định của Hội đồng cạnh tranh Tuy nhiên để giải quyết tận gốcvấn đề, cần nghiên cứu và điều chỉnh các quy định có liên quan tới mô hình
cơ quan cạnh tranh được quy định tại Luật Cạnh tranh hiện hành
Với mô hình của cơ quan cạnh tranh hiện nay, Cục QLCT đảm nhận vai tròđiều tra, thu thập, tìm kiếm các chứng cứ có liên quan đến vụ việc hạn chếcạnh tranh Việc còn lại xét xử, xử lý, đưa ra các quyết định, giải quyết khiếunại có liên quan đến vụ việc cạnh tranh thì do Hội đồng cạnh tranh đảm nhận.Hội đồng cạnh tranh bao gồm 11 thành viên đại diện của Bộ Công thương, Bộ
Tư Pháp, Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch đầu tư, Bộ Giao thông vận tải, Bộ Xâydựng… do Thủ tướng bổ nhiệm theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Công thương.Khi mà các doanh nghiệp bị điều tra và xử lý lại là doanh nghiệp Nhà nướctrực thuộc các Bộ và ngành mà thành viên của Hội đồng cạnh tranh đại diện,thì việc đưa ra quyết định xử lý vụ việc rất khó được coi là công bằng vàkhách quan Hơn nữa, thành viên của Hội đồng cạnh tranh không tham giađiều tra vụ việc ngay từ thời điểm ban đầu, nên việc ra quyết định xử lý sẽkhông được thấu đáo và chặt chẽ, thậm chí làm kéo dài thêm thời gian xử lý
vụ việc [4, tr 20]
Một khó khăn nữa đối với từng Thành viên Hội đồng cạnh tranh là phảilàm việc theo chế độ kiêm nhiệm Đây là một nhiệm vụ và cũng là một tháchthức không nhỏ đối với cả tập thể Hội đồng cạnh tranh trong quá trình thựcthi pháp luật cạnh tranh
Trang 29Báo cáo Tổng kết 12 năm thi hành Luật Cạnh tranh của Bộ Công thươngchỉ ra rằng: “Thực tiễn 12 năm thi hành Luật Cạnh tranh cho thấy mô hình vàđịa vị pháp lý của cơ quan cạnh tranh như hiện nay chưa đảm bảo tính độclập, không đảm bảo hiệu quả, hiệu lực trong hoạt động, gây lãng phí nguồn
lực và không phù hợp với thông lệ quốc tế” Dẫn tới những bất cập sau: [6, tr.
26]
Thứ nhất, về mô hình cơ quan cạnh tranh
Mô hình hai cơ quan cạnh tranh cùng với các quy định chưa hợp lý về
tố tụng cạnh tranh dẫn đến kéo dài quá trình giải quyết vụ việc cạnh tranh,nguồn lực bị phân tán khiến việc giải quyết vụ việc cạnh tranh chưa được tậptrung, kết quả giải quyết vụ việc luôn đi sau diễn biến của thị trường và chưathể hiện vai trò can thiệp kịp thời của Nhà nước để khắc phục những khiếmkhuyết của thị trường
Với mô hình hiện tại, sau khi kết thúc điều tra, Cục Quản lý cạnh tranhchuyển báo cáo điều tra, kết luận điều tra và toàn bộ hồ sơ vụ việc cạnh tranhliên quan đến hành vi hạn chế cạnh tranh cho Hội đồng cạnh tranh Sau đó, vụviệc cạnh tranh sẽ được xử lý lần lượt qua bốn cấp, bao gồm: (1) Hội đồng xử
lý vụ việc cạnh tranh; (2) Hội đồng cạnh tranh; (3) Toà án sơ thẩm (Toà ánnhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có thẩm quyền); (4) Toà ánphúc thẩm trong trường hợp bên khiếu nại, bên bị điều tra không nhất trí vớiquyết định giải quyết của các cơ quan này Mô hình hai cơ quan thực thi vớibốn cấp xử lý đã gây kéo dài quá trình giải quyết vụ việc cạnh tranh Đồngthời, do sự phân tán nguồn lực khiến cho việc giải quyết vụ việc cạnh tranh
chưa được tập trung, kết quả giải quyết không đáp ứng được yêu cầu [2, tr 5]
Theo thống kê sơ bộ của Bộ Công thương, trong số hơn 100 cơ quancạnh tranh hiện nay trên thế giới, chỉ có duy nhất tại Việt Nam là tồn tại mô
Trang 30hình hai cơ quan cạnh tranh trong đó gồm một cơ quan điều tra và một cơquan xử lý vi phạm Mô hình này gần như tương tự mô hình của Pháp trướcđây Tuy nhiên, Pháp cũng đã chuyển đổi mô hình hai cơ quan thành mô hìnhmột cơ quan duy nhất chịu trách nhiệm quản lý cạnh tranh, điều tra và ra phán
quyết về các hành vi vi phạm [6, tr 27]
Thứ hai, về địa vị pháp lý của các cơ quan cạnh tranh
Cơ quan quản lý cạnh tranh là đơn vị trực thuộc Bộ Công thương cóchức năng tham mưu, giúp Bộ trưởng Bộ Công thương thực hiện quản lý nhànước về cả lĩnh vực cạnh tranh và các lĩnh vực khác Mặc dù, tại thời điểmban hành Luật Cạnh tranh, việc quy định Cơ quan quản lý cạnh tranh trựcthuộc Bộ Công thương được dựa trên lý do chưa có kinh nghiệm về lĩnh vựccạnh tranh, vừa làm, vừa rút kinh nghiệm và nhằm mục tiêu sớm triển khaithực thi Luật Cạnh tranh trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế Tuy nhiên,xét từ bản chất và yêu cầu đối với mọi cơ quan cạnh tranh trên thế giới, cũngnhư bối cảnh hiện nay cho thấy, lập luận thành lập Cơ quan quản lý cạnh tranhtrước đây không còn phù hợp và có tính thuyết phục
Bản chất pháp lý của mọi cơ quan cạnh tranh luôn là một cơ quan
“lưỡng tính”, tức là vừa là cơ quan hành chính, đồng thời, cũng hoạt động nhưmột cơ quan tư pháp Cơ quan quản lý cạnh tranh có dáng dấp của cơ quanhành chính vì chịu trách nhiệm hoạt động việc thực thi các chính sách, phápluật về cạnh tranh Song hoạt động của nó lại mang tính tài phán tư pháp vì nó
có quyền ra các quyết định để phán xử đúng sai và áp dụng các biện pháp chếtài đối với các bên có hành vi vi phạm pháp luật Chính từ bản chất pháp lýnhư trên, nguyên tắc quan trọng hàng đầu đối với cơ quan cạnh tranh phải làđảm bảo tính độc lập trong tổ chức và hoạt động, không chịu sự can thiệphoặc chi phối từ bất kỳ cơ quan nào khác, nhằm đảm bảo cho cơ quan cạnhtranh có thể thực hiện chức năng điều tra, xử lý một cách công minh vì mục
Trang 31tiêu bảo vệ cạnh tranh trên thị trường Luật Cạnh tranh quy định về vị trí của
Cơ quan cạnh tranh và giao cho từng nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể được thựchiện Các cơ quan cạnh tranh sẽ hoạt động theo những tiêu chuẩn mà Luật nàyquy định Vị trí độc lập của cơ quan cạnh tranh giúp đảm bảo và thúc đẩy việctập trung chuyên môn, tính công chính, minh bạch và khả năng chịu tráchnhiệm và giải trình của cơ quan này
Tuy nhiên, địa vị pháp lý của cơ quan cạnh tranh theo quy định củaLCT 2004 chưa thực sự đảm bảo tính độc lập Địa vị pháp lý của Cơ quanquản lý cạnh tranh là một đơn vị thuộc Bộ, từ đặc thù của tổ chức bộ máyhành pháp Việt Nam, cơ quan này vẫn chịu sự chỉ đạo, chi phối trong tổ chức,hoạt động từ cơ quan chủ quản; Đồng thời, chưa đảm bảo vị thế trong điều tra,
xử lý các hành vi cản trở cạnh tranh của các cơ quan quản lý nhà nước khác.Địa vị pháp lý nêu trên cũng chưa đảm bảo vị thế, tiếng nói của Cơ quan quản
lý cạnh tranh trong khi thực hiện chức năng tham vấn chính sách cạnh tranh nguyên nhân dẫn tới sự mâu thuẫn, chồng chéo và thậm chí cả những lỗ hổnghay khoảng cách pháp lý giữa pháp luật cạnh tranh và pháp luật chuyênngành Với địa vị pháp lý hiện nay chưa đảm bảo vị thế cho Cục QLCT trongviệc điều tra, xử lý vụ việc cạnh tranh, đồng thời gây quan ngại đối với cộngđồng doanh nghiệp và xã hội về tính độc lập, khách quan của cơ quan này do
-Bộ Công thương là chủ quản của nhiều doanh nghiệp, tập đoàn lớn của Nhànước Địa vị pháp lý trực thuộc Bộ Công thương cũng chưa đảm bảo vị thếcho Cơ quan quản lý cạnh tranh trong điều tra các hành vi của cơ quan quản
lý nhà nước Ngoài ra, địa vị pháp lý hiện nay cũng không đảm bảo cho Cơquan quản lý cạnh tranh hoạt động đánh giá và tham vấn chính sách cạnh
tranh cho các Bộ, ngành [2, tr 5]
Đối với HĐCT, địa vị pháp lý của cơ quan này trong bộ máy nhà nướccũng chưa được làm rõ, Văn phòng HĐCT là cơ quan “thường trực, tham
Trang 32mưu” nhưng lại thuộc cơ cấu tổ chức của Bộ Công thương nên cũng khôngđảm bảo được tính độc lập Các thành viên HĐCT là đại diện của các Bộ,ngành, làm việc theo chế độ kiêm nhiệm nên cũng dẫn đến mâu thuẫn, xungđột lợi ích, không đảm bảo tính độc lập, khách quan trong khi ra quyết định
xử lý, đặc biệt trong các vụ việc liên quan đến ngành, lĩnh vực có đại diện của
Bộ chủ quản là thành viên HĐCT
Thứ ba, về việc duy trì cơ chế kiêm nhiệm
Trong hoạt động của các thành viên HĐCT đã dẫn đến sự thiếu tậptrung trong quá trình giải quyết vụ việc cạnh tranh Hầu hết thành viên Hộiđồng cạnh tranh đều là các lãnh đạo, cán bộ đương nhiệm của các Bộ, ngànhkhác nhau, được bổ nhiệm kiêm giữ các chức danh pháp lý tại Hội đồng cạnhtranh Do vậy, trong quá trình công tác, các thành viên Hội đồng cạnh tranhbuộc phải cân đối, đảm bảo hiệu quả công tác ở cả cơ quan đương nhiệm và ở
cả Hội đồng cạnh tranh Với tính chất phức tạp của vụ việc hạn chế cạnhtranh, cơ chế hoạt động kiêm nhiệm của Hội đồng cạnh tranh là chưa hợp lý,dẫn đến thiếu tập trung, thiếu kịp thời trong giải quyết vụ việc cạnh tranh
Thực tiễn thi hành Luật Cạnh tranh năm 2004 và quá trình khảo cứu,đúc kết kinh nghiệm của các quốc gia trên thế giới trong quá trình dự thảoLuật Cạnh tranh (sửa đổi) cũng đã cho thấy những hạn chế, bất cập của môhình cơ quan cạnh tranh hiện tại Rút kinh nghiệm từ những hạn chế, bất cập
đó đồng thời áp dụng bài học kinh nghiệm của các cơ quan cạnh tranh trên thếgiới, căn cứ theo Nghị quyết số 39-NQ/TW ngày 17 tháng 4 năm 2015 của BộChính trị về tinh giản biên chế và cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức, viênchức và Quyết định số 2218/QĐ-TTg ngày 10 tháng 12 năm 2015 của Thủtướng Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 39-NQ/TW, Bộ Công thương xin đềxuất Chính phủ thành lập một cơ quan duy nhất thực thi pháp luật cạnh tranh,thực hiện cả nhiệm vụ điều tra và xử lý đối với các vụ việc cạnh tranh
Trang 33trên cơ sở tổ chức lại, nhập Cục Quản lý cạnh tranh và Hội đồng cạnh tranh.Đây không phải là thành lập một cơ quan hoàn toàn mới Điều này hoàn toàn
phù hợp với giải pháp “hợp nhất các tổng cục, cục, vụ” [4, tr 28]
Luật Cạnh tranh năm 2018 có nhiều nội dung liên quan đến điều chỉnhhành vi bị cấm, hoạt động cạnh tranh không lành mạnh, tập trung kinh tế Do
đó, Quốc hội cho rằng, cần phải có mô hình cơ quan đủ năng lực, trình độ và
tầm để thực thi Luật này [35] Cơ quan cạnh tranh quốc gia sẽ có chức năng
quản lý nhà nước về cạnh tranh; Giám sát các hoạt động cạnh tranh trên thịtrường; Tiến hành điều tra, xử lý các hành vi vi phạm pháp luật về cạnh tranh;Kiểm soát tập trung kinh tế và thực hiện các nhiệm vụ khác theo quy định củaLuật Cạnh tranh Cũng chính vì thế mô hình cơ quan quản lí cạnh tranh đã
được đổi mới theo Luật Cạnh tranh năm 2018 [4, tr 29]
2.2 Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia theo pháp luật hiện hành
2.2.1 Vị trí và chức năng của Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia
Theo Luật Cạnh tranh năm 2018, Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia trực thuộc
Bộ Công thương, được thành lập để tham mưu giúp Bộ trưởng Bộ Côngthương thực hiện chức năng quản lí nhà nước về cạnh tranh cũng như tiếnhành tố tụng cạnh tranh, kiểm soát tập trung kinh tế, quyết định việc miễn trừđối với thỏa thuận hạn chế cạnh tranh bị cấm và giải quyết khiếu nại quyết
định xử lí vụ việc cạnh tranh [32] Theo cách quy định của LCT 2004 thì có
thể hiểu rằng mô hình cơ quan cạnh tranh ở Việt Nam gồm hai cơ quan độclập Nhưng theo LCT 2018 thì ở Việt Nam chỉ có một cơ quan cạnh tranh duynhất là UBCTQG Như vậy, các nhà làm luật đã thay đổi cấu trúc cơ quancạnh tranh và thay đổi cách gọi tên của cơ quan cạnh tranh so với trước đây
Đó là kết quả của quá trình nghiên cứu, khảo sát thực tiễn về hệ thống phápluật và thiết chế thực thi pháp luật cạnh tranh của nhiều quốc gia trên thế giới,đặc biệt là những quốc gia có bề dày về lịch sử, nhiều kinh nghiệm trong việc
Trang 34ban hành và thực thi pháp luật cạnh tranh, được vận dụng vào khung cảnh,điều kiện thực tiễn của Việt Nam.
Tên gọi Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia thể hiện được tầm vóc và vị trí của
cơ quan thực thi pháp luật về cạnh tranh trong hệ thống các cơ quan nhà nướcvới tư cách là cơ quan thuộc Bộ, giúp cho Bộ trưởng Bộ Công thương vàChính phủ thực hiện chức năng quản lý nhà nước về cạnh tranh Qua đó, têngọi mới này cũng thể hiện được chức năng, nhiệm vụ là cơ quan thực thi phápluật về cạnh tranh thông qua việc xem xét, xử lý các hành vi vi phạm phápluật cạnh tranh
Ủy ban Thường vụ Quốc hội nhận định, việc quy định nước ta chỉ có một
cơ quan cạnh tranh là UBCTQG là “rất cần thiết, là phương án phù hợp nhấttrong bối cảnh hiện nay”; “giúp thu gọn đầu mối các cơ quan thực thi phápluật cạnh tranh, không làm phát sinh đầu mối cơ quan thuộc Chính phủ hoặcQuốc hội, phù hợp với tinh thần giảm đầu mối cơ quan, tổ chức, đổi mới, sắpxếp lại bộ máy tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả theo chủ trương chungcủa Đảng và Nhà nước nhưng vẫn bảo đảm độc lập khách quan trong xử lý vụ
việc cạnh tranh” [18, tr 315]
Theo quy định tại Khoản 1 Điều 46 Luật Cạnh tranh năm 2018, Ủy banCạnh tranh Quốc gia là cơ quan thuộc Bộ Công thương - cơ quan đầu mốigiúp Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về cạnh tranh, tương tự như LuậtCạnh tranh năm 2004 Với vị trí, chức năng và nhiệm vụ của UBCTQG nhưquy định tại LCT 2018 thì UBCTQG có thể hiểu đang có vị trí pháp lý nhưmột tổng cục hoặc ủy ban thuộc Bộ, chẳng hạn như Tổng cục quản lý Thịtrường thuộc Bộ Công thương hay Ủy ban Chứng khoán Nhà nước thuộc BộTài chính chứ không phải là cơ quan thuộc Quốc hội, hay Chính phủ Nhưvậy, cơ quan cạnh tranh của Việt Nam có vị trí pháp lý là cơ quan thuộc Bộ,một vị trí pháp lý khiêm tốn Song như đã trình bày thì đây cũng là mô hình
Trang 35cơ quan cạnh tranh có vị trí pháp lý được nhiều quốc gia lựa chọn nhất hiệnnay Tuy nhiên, mặc dù Luật Cạnh tranh năm 2018 đã có hiệu lực, nhưng việcQuốc hội chấp nhận đặt UBCTQG là cơ quan thuộc Bộ Công thương vẫn còngây sự lo ngại nhất định về tính độc lập, khách quan và năng lực của Cơ quancạnh tranh Việt Nam.
Trên cơ sở mối quan hệ giữa chính sách cạnh tranh và bảo vệ người tiêudùng; Thực hiện Nghị quyết số 18-NQ/TW ngày 25 tháng 10 năm 2017 củaBan Chấp hành Trung ương về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của
hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả; Nghị quyết số56/2017/QH14 của Quốc hội về việc tiếp tục cải cách tổ chức bộ máy hànhchính nhà nước tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả; Kế thừa, đảm bảo việcđiều hành quản lý trong cả 03 lĩnh vực về cạnh tranh, bảo vệ người tiêu dùng
và bán hàng đa cấp, Bộ Công thương chủ trương giao Ủy ban Cạnh tranhQuốc gia cùng một lúc thực thi cả 03 chức năng quản lý về cạnh tranh, bảo vệngười tiêu dùng và bán hàng đa cấp, như vậy Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia sẽtiếp tục kế thừa những nhiệm vụ của Cục Cạnh tranh và Bảo vệ người tiêudùng và các quy định của pháp luật về quản lý hoạt động kinh doanh theophương thức đa cấp Đây là những lĩnh vực phức tạp, có phạm vi rộng lớn
trên cả nước [6, tr 7]
Cũng theo quy định tại Điều 46 thì Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia bao gồm
cả bộ máy giúp việc là Cơ quan điều tra vụ việc cạnh tranh và các đơn vị chứcnăng khác Bên cạnh đó, Khoản 1 Điều 50 Luật Cạnh tranh năm 2018 quy
định “Cơ quan điều tra vụ việc cạnh tranh thuộc Ủy ban Cạnh tranh Quốc
gia, có chức năng điều tra các hành vi vi phạm quy định tại Luật này”; Khoản
2 Điều 50 Luật Cạnh tranh năm 2018 quy định Cơ quan điều tra vụ việc cạnh
tranh có nhiệm vụ “thu thập, tiếp nhận thông tin nhằm phát hiện hành vi có
dấu hiệu vi phạm pháp luật về cạnh tranh”, đây là nhiệm vụ thực