1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng theo thủ tục rút gọn tại việt nam

108 10 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Giải Quyết Tranh Chấp Hợp Đồng Tín Dụng Theo Thủ Tục Rút Gọn Tại Việt Nam
Tác giả Nguyễn Thành Nam, Bùi Thị Phương
Người hướng dẫn PGS.TS. Phan Hữu Thư
Trường học Đại học Quốc gia Hà Nội
Chuyên ngành Luật học
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2020
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 108
Dung lượng 880,85 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

1.1 Khái niệm, cơ sở xây dựng chế định và đặc điểm của thủ tục rút gọn theo pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam 1.5 Một số vấn đề lý luận về tranh chấp hợp đồng tín dụng và giải quyết tra

Trang 1

đại học quốc gia Hà nội

khoa luật

  

bùi thị ph-ơng lan

pháp luật về quyền tác giả

trong quá trình hội nhập quốc tế ở Việt Nam

GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG

THEO THỦ TỤC RÚT GỌN TẠI VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

RÚT GỌN TẠI VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI - 2020

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

  

NGUYỄN THÀNH NAM

GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG

THEO THỦ TỤC RÚT GỌN TẠI VIỆT NAM

Chuyên ngành: Luật Dân sự và Tố tụng dân sự

Mã số: 8380101.04

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS PHAN HỮU THƯ

HÀ NỘI - 2020

Trang 3

1.1 Khái niệm, cơ sở xây dựng chế định và đặc điểm của thủ

tục rút gọn theo pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam

1.5 Một số vấn đề lý luận về tranh chấp hợp đồng tín dụng và giải

quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng theo thủ tục rút gọn

33

Chương 2: Quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 về thủ tục

giải quyết vụ án dân sự theo thủ tục rút gọn

2.3 Thủ tục xem xét lại bản án, quyết định theo thủ tục rút

gọn đã có hiệu lực pháp luật theo thủ tục giám đốc

60

Trang 4

thẩm, tái thẩm

2.4 Quy định của pháp luật hiện hành về giải quyết tranh chấp hợp

đồng tín dụng theo thủ tục rút gọn

60

2.5 Thực trạng và đánh giá về tình hình giải quyết vụ án dân sự, tranh

chấp hợp đồng tín dụng tại Toà án hiện nay và những yếu tố cơ

bản ảnh hưởng tới chất lượng bản án

74

Chương 3: Thực tiễn áp dụng quy định về giải quyết vụ án dân sự theo

thủ tục rút gọn tại Tòa án, một số vấn đề qua hiện trạng xử lý nợ của

các tổ chức tín dụng bằng hình thức khởi kiện tại Tòa án và kiến nghị

hoàn thiện quy định về giải quyết vụ án dân sự theo thủ tục rút gọn

Trang 5

CÁC TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN

03/2018/NQ-HĐTP

- Nghị quyết số 03/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội dồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết tranh chấp về

xử lý nợ xấu, tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu tại Tòa án nhân dân

UBTVQH - Ủy ban thường vụ Quốc hội

TAND - Tòa án nhân dân

VKSND - Viện kiểm sát nhân dân

UBND - Ủy ban nhân dân

HĐTD - Hợp đồng tín dụng

TCTD - Tổ chức tín dụng

VAMC - Công ty TNHH MTV Quản lý tài sản của các tổ chức tín

dụng Việt Nam TTRG - Thủ tục rút gọn

KDTM - Kinh doanh thương mại

HNGĐ - Hôn nhân gia đình

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu

Pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam luôn đặt ra những quy định về trình

tự, thủ tục tố tụng chặt chẽ nhằm thực hiện mục tiêu xét xử khách quan, công bằng, bảo đảm được quyền, lợi ích hợp pháp của các bên liên quan Tuy nhiên, nhiều khi, những quy định chặt chẽ này vô hình chung đã hình thành nên những thiết chế tố tụng phức tạp, khó tuân thủ và gây tốn kém Thực tiễn giải quyết nhiều vụ án dân sự, trong đó có những tranh chấp liên quan HĐTD, xử

lý tài sản bảo đảm của khoản vay tín dụng,… tuy đơn giản, chứng cứ rõ ràng nhưng thời gian giải quyết lại kéo dài một cách không cần thiết trong khi Tòa

án có thể giải quyết nhanh hơn nếu không phải thực hiện đầy đủ các thủ tục hiện hành nhưng vẫn bảo đảm được các mục tiêu xét xử Thực tiễn này đặt ra yêu cầu cần phải có một thủ tục đơn giản hơn, thuận lợi, ít tốn kém hơn cho những vụ án đơn giản, có chứng cứ rõ ràng

Trên thế giới, t y thuộc lựa chọn của m i quốc gia mà thủ tục rút gọn có thể là một hoặc bao gồm các cơ chế như cơ chế giải quyết khiếu kiện nh , cơ chế hối thúc trả nợ và cơ chế giải quyết đối với séc và hối phiếu Kinh nghiệm nhiều quốc gia như M , Nhật Bản, Nga, Trung Quốc, Canada, Philippines,…) trong giải quyết các vụ án dân sự cho thấy, những thủ tục tố tụng này là một trong những công cụ hữu ích của người dân cũng như Tòa án trong việc bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các cá nhân, tổ chức một cách nhanh gọn, hiệu quả

Sau hai lần trình xây dựng dự thảo các quy định về TTRG trong tố tụng dân sự năm 2004 và 2011 không thành công, BLTTDS năm 2015 được Quốc hội khóa XIII thông qua, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2016, có quy định riêng tại Phần thứ tư về giải quyết vụ án dân sự theo TTRG Đồng thời, ngày 21/6/2017, tại kỳ họp thứ 3, Quốc hội khoá XIV đã thông qua Nghị quyết số 42/2017/QH14 về thí điểm xử lý nợ xấu của các TCTD; theo đó tại Điều 8

Trang 7

Nghị quyết này quy định rõ “Tòa án áp dụng TTRG để giải quyết tranh chấp

về nghĩa vụ giao tài sản bảo đảm hoặc tranh chấp về quyền xử lý tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu của TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, tổ chức mua bán, xử lý nợ xấu” khi đáp ứng đầy đủ một số điều kiện nhất định và việc giải quyết những tranh chấp này được thực hiện theo TTRG quy định tại BLTTDS

Việc xử lý nợ xấu gắn với cơ cấu lại các TCTD là vấn đề nhức nhối của

xã hội, gây ảnh hưởng đến sự phát triển của kinh tế đất nước nên được xác định là một trong những nhiệm vụ trọng tâm tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XII và Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa XII Tại các kỳ họp Quốc hội gần đây, vấn đề xử lý nợ xấu được đặt ra cấp bách, đòi h i sự quan tâm vào cuộc của toàn bộ hệ thống chính trị Do vậy,

có thể nói những quy định mới của BLTTDS năm 2015, Nghị quyết số 42/2017/QH14 là tín hiệu đáng mừng cho việc nâng cao chất lượng giải quyết tranh chấp HĐTD nói chung và giải quyết nợ xấu nói riêng Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng những quy định này như thế nào? Tính ph hợp và khả thi của những quy định về giải quyết vụ án dân sự theo TTRG đối với tranh chấp

HĐTD vẫn là điều gây nhiều nghi ngại Vì vậy, tôi chọn đề tài “Giải quyết

tranh chấp hợp đồng tín dụng theo thủ tục rút gọn tại Việt Nam” để thực hiện

Luận văn thạc s chuyên ngành Luật dân sự và tố tụng dân sự

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Hiện nay, TTRG giải quyết vụ án dân sự không phải là vấn đề mới ở Việt Nam, tuy nhiên những nghiên cứu về vấn đề này cũng chưa có nhiều Qua nghiên cứu sơ bộ, có một số tác giả nghiên cứu về vấn đề này như: TS Trần

nh Tuấn “Vấn đề xây dựng thủ tục TTDS rút gọn theo yêu cầu cải cách tự pháp và hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay, thực trạng và giải pháp”- Đề tài cấp

Bộ năm 2014; Ths.Trương Hòa Bình “Vấn đề áp dụng thủ tục rút gọn trong xét

xử và thành lập Tòa giản lược trong hệ thống Tòa án nhân dân”, Tạp chí TAND kỳ II- tháng 2/2014; “Nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế về áp dụng

Trang 8

TTRG trong giải quyết một số loại vụ việc dân sự cụ thể và đề xuất mô hình khả thi cho Tòa án Việt Nam”- Báo cáo của Dự án “Tăng cường tiếp cận công

lý và bảo vệ quyền tại Việt Nam” - Chương trình phát triển Liên hợp quốc - 2015; “Đánh giá chức năng của các phương thức giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại ở Việt Nam hiện nay”, Báo cáo nghiên cứu của Văn phòng Luật sư LE DCO - 2007;

Có thể thấy những nghiên cứu trên đây đều ở thời điểm trước khi

BLTTDS năm 2015 được Quốc hội ban hành Do vậy, đề tài “Giải quyết tranh

chấp hợp đồng tín dụng theo thủ tục rút gọn tại Việt Nam” không tr ng phạm

vi nghiên cứu với bất cứ nghiên cứu nào

3 Mục tiêu nghiên cứu

3.1 Mục tiêu tổng quát

Trên cơ sở phân tích, đánh giá các quy định của BLTTDS năm 2015 về giải quyết vụ án dân sự theo TTRG, tình hình áp dụng các quy định này tại các Tòa án trong giải quyết vụ án dân sự, đặc biệt là đối với các vụ án liên quan tranh chấp HĐTD, hiện trạng xử lý nợ bằng hình thức khởi tiện tại Tòa án của các TCTD; từ đó đề xuất, kiến nghị nhằm góp phần hoàn thiện quy định pháp luật về giải quyết vụ án dân sự theo TTRG, nâng cao hiệu quả giải quyết tranh chấp HĐTD, xử lý nợ xấu của các TCTD

3.2 Mục tiêu cụ thể

Với mục tiêu hướng đến là góp phần hoàn thiện quy định pháp luật về giải quyết vụ án dân sự theo TTRG, nâng cao hiệu quả giải quyết tranh chấp HĐTD, luận văn giải quyết những mục tiêu cụ thể sau:

- Nghiên cứu một số vấn đề lý luận về TTRG giải quyết vụ

án dân sự

- Nghiên cứu các quy định của pháp luật hiện hành về giải quyết vụ án dân sự theo TTRG, so sánh với quy định của một số nước trên thế giới nhằm rút ra kinh nghiệm đối với Việt Nam

- Tìm hiểu thực tiễn áp dụng quy định pháp luật về giải quyết

Trang 9

vụ án dân sự theo TTRG qua hoạt động xét xử của Tòa án nói chung

và qua hoạt động xử lý nợ bằng hình thức khởi kiện tại Tòa án của các TCTD

Qua đó, luận văn kiến nghị một số giải pháp nhằm hoàn thiện quy định pháp luật về giải quyết vụ án dân sự theo TTRG nhằm nâng cao hiệu quả giải quyết tranh chấp HĐTD, xử lý nợ xấu của các TCTD

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng

Luận văn tập trung nghiên cứu các vấn đề lý luận về TTRG giải quyết các vụ án dân sự; nghiên cứu các quy định về giải quyết vụ án dân sự theo TTRG dưới góc độ là một chế định của BLTTDS và thực tiễn áp dụng các quy định đó tại Tòa án, các TCTD; kinh nghiệm của một số nước trên thế giới quy định về TTRG giải quyết vụ án dân sự

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Luận văn có phạm vi nghiên cứu gồm:

- Những vấn đề lý luận về TTRG giải quyết các vụ án dân sự

- Quy định của pháp luật Việt Nam về giải quyết vụ án dân sự theo TTRG Trong đó nghiên cứu quá trình hình thành và phát triển quy định về TTRG ở Việt Nam, tập trung chủ yếu quy định của BLTTDS năm 2015 và một

số văn bản luật có liên quan

- Kinh nghiệm của một số nước trên thế giới có quy định về TTRG giải quyết vụ án dân sự

- Thực tiễn áp dụng quy định pháp luật về giải quyết vụ án dân sự theo TTRG qua hoạt động xét xử của Tòa án nói chung và qua hoạt động xử lý nợ bằng hình thức khởi kiện tại các TCTD

5 Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình nghiên cứu, tác giả luận văn sử dụng phối hợp nhiều phương pháp khác nhau như:

- Phương pháp phân tích, tổng hợp được sử dụng khi phân tích các vấn

Trang 10

đề liên quan đến chế định giải quyết vụ án dân sự theo TTRG và khái quát những nội dung cơ bản được nghiên cứu trong luận văn

- Phương pháp lịch sử được sử dụng khi nghiên cứu, tìm hiểu về TTRG giải quyết các vụ việc qua các thời kì ở Việt Nam

- Phương pháp so sánh được thực hiện nhằm tìm hiểu quy định của pháp luật hiện hành với hệ thống luật trước đây của Việt Nam cũng như pháp luật của một số nước khác quy định về giải quyết vụ án dân sự theo TTRG

- Phương pháp thống kê được thực hiện trong quá trình nghiên cứu thực tiễn áp dụng quy định pháp luật về giải quyết vụ án dân sự theo TTRG; thực tiễn xử lý nợ tại một số TCTD bằng hình thức khởi kiện tại Tòa án

6 Tính mới và những đóng góp của đề tài

6.1 Tính mới của đề tài

Luận văn nghiên cứu quy định về giải quyết vụ án dân sự theo TTRG dưới góc độ là một chế định của pháp luật tố tụng dân sự Theo đó, đây là thủ tục lần đầu tiên được quy định như một chế định mới tại BLTTDS năm 2015 nhằm giải quyết nhanh chóng, hiệu quả và tiết kiệm đối với một số loại vụ án dân sự đơn giản, chứng cứ rõ ràng, đáp ứng những yêu cầu nhất định

Luận văn tìm hiểu và khái quát thực tiễn áp dụng các quy định của BLTTDS và một số văn bản luật có liên quan về việc giải quyết vụ án dân sự theo TTRG tại Tòa án và qua thực tiễn hoạt động xử lý nợ bằng hình thức khởi kiện tại Tòa án của các TCTD

6.2 Những đóng góp của đề tài

Từ việc nghiên cứu các quy định của pháp luật và thực tiễn áp dụng nêu trên, luận văn làm rõ những hạn chế, vướng mắc của quy định pháp luật về giải quyết vụ án dân sự theo TTRG và đưa ra một số kiến nghị dưới cả góc độ lý luận và thực tiễn nhằm hoàn thiện các quy định này, nâng cao hiệu quả giải quyết tranh chấp HĐTD, xử lý nợ xấu của các TCTD

7 Dự kiến kết quả nghiên cứu của đề tài

Với đề tài “Giải quyết tranh chấp HĐTD theo TTRG tại Việt Nam”,

Trang 11

luận văn dự kiến đạt được một số kết quả sau:

- Phân tích một số vấn đề lý luận về TTRG giải quyết các vụ án dân sự: đưa ra khái niệm, đặc điểm, mục đích, ý nghĩa của TTRG giải quyết các vụ việc dân sự

- Nghiên cứu kinh nghiệm của một số nước trên thế giới có quy định về TTRG

- Phân tích quy định về giải quyết vụ án dân sự theo TTRG theo quy định của BLTTDS năm 2015

- Nghiên cứu thực tiễn áp dụng các quy định về giải quyết vụ án dân sự theo TTRG thông qua hoạt động xét xử của Tòa án và hiện trạng xử lý nợ của các TCTD; từ đó có những so sánh, đánh giá và đề xuất góp phần hoàn thiện quy định về giải quyết vụ án dân sự theo TTRG; qua đó nâng cao hiệu quả giải quyết các tranh chấp HĐTD

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục Tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm ba chương như sau:

Chương 1: Một số vấn đề lý luận về TTRG giải quyết các vụ án dân sự Chương 2: Quy định của BLTTDS năm 2015 về thủ tục giải quyết vụ

án dân sự theo TTRG

Chương 3: Thực tiễn áp dụng quy định về giải quyết vụ án dân sự theo

TTRG tại Tòa án, một số vấn đề qua hiện trạng xử lý nợ của các TCTD bằng hình thức khởi kiện tại Tòa án và kiến nghị hoàn thiện quy định về giải quyết

vụ án dân sự theo TTRG

Trang 12

Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỦ TỤC RÚT GỌN

GIẢI QUYẾT CÁC VỤ ÁN DÂN SỰ

1.1 Khái niệm, cơ sở xây dựng chế định và đặc điểm của thủ tục rút gọn theo pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam

Trong mối quan hệ giữa xét xử theo thủ tục tố tụng thông thường và thủ tục xét xử theo TTRG thì thủ tục tố tụng dân sự thông thường là cơ sở cho việc

áp dụng giải quyết vụ án theo TTRG và TTRG là sự lược hoá một số bước của thủ tục tố tụng thông thường Tuy nhiên, thủ tục tố tụng dân sự rút gọn không phải là thủ tục phụ thuộc vào thủ tục tố tụng thông thường mà TTRG là một thủ tục tố tụng độc lập tương đối so với thủ tục tố tụng thông thường Tính độc lập của thủ tục tố tụng rút gọn thể hiện trong trường hợp nếu các điều kiện xét

xử theo thủ tục tố tụng rút gọn không còn đáp ứng thì vụ việc vẫn có thể được giải quyết theo thủ tục tố tụng thông thường

Từ những phân tích trên, tác giả cho rằng thủ tục tố tụng dân sự rút gọn

là một quy trình tố tụng riêng biệt được Tòa án áp dụng để giải quyết các tranh chấp dân sự, kinh doanh, thương mại, lao động có nội dung đơn giản, rõ ràng,

Trang 13

có giá ngạch thấp hoặc các bên đương sự thoả thuận lựa chọn thủ tục này Theo đó, trong một thời hạn ngắn ngắn, Thẩm phán độc lập tiến hành xem xét

và ra phán quyết về vụ án tranh chấp mà không nhất thiết phải tuân theo tuần

tự các bước như trong thủ tục tố tụng thông thường

1.1.2 Cơ sở xây dựng chế định thủ tục rút gọn trong pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam

Chế định TTRG trong BLTTDS năm 2015 ra đời xuất phát từ nhu cầu nội tại của các điều kiện kinh tế – xã hội

Thứ nhất, việc xây dựng TTRG xuất phát từ nhu cầu đảm bảo tính hiệu

quả của hệ thống tư pháp

Hoạt động của hệ thống tư pháp, cũng giống như hoạt động của bất kỳ một tổ chức nào trong xã hội, đều cần có tính hiệu quả Tính hiệu quả của pháp luật nói chung và hoạt động của hệ thống tư pháp nói riêng đã là đối tượng nghiên cứu của triết lý kinh tế luật từ những năm 60 của thế kỷ trước [12, tr15]

Theo trường phái này, hiệu quả của hoạt động xét xử không chỉ được căn cứ vào khả năng giải quyết tốt các tranh chấp mà còn thể hiện ở hiệu quả của các quy phạm pháp luật [13, tr89] Xuất phát từ quan điểm việc phân tích

về trình tự, thủ tục pháp lý trong tố tụng cũng giống như việc nhà kinh doanh tính toán về hiệu quả hoạt động kinh doanh của công ty mình [12, tr20], triết lý kinh tế luật cho rằng mục đích của hệ thống tố tụng nhìn từ góc độ kinh tế học

là nhằm giảm thiểu rủi ro xảy ra các sơ suất trong quá trình xét xử và cả chi phí

để vận hành hệ thống đó nữa [23, tr517] Do đó, việc xác định quy trình tố tụng cần phải cân nhắc đến tính hài hòa giữa chi phí b ra để vận hành bộ máy

tố tụng với những lợi ích được bảo vệ nhờ sự hoạt động của bộ máy tố tụng này

Căn cứ vào lý thuyết này có thể thấy nếu một lượng nguồn lực xã hội với nghĩa là các khoản tài chính, nhân lực, thời gian … được sử dụng vào một mục đích đem lại kết quả có giá trị là mà c ng với lượng nguồn lực đó nếu

Trang 14

sử dụng vào mục đích khác đem lại giá trị là + lớn hơn thì như vậy là nguồn lực này đã không được sử dụng một cách hiệu quả nhất, còn nếu trong trường hợp có giá trị nh hơn lượng nguồn lực đã b ra thì đấy là sự lãng phí nguồn lực xã hội Trong việc xây dựng TTRG, sự so sánh này là giữa một bên

là những lợi ích không lớn cần phải bảo vệ và một bên là những hao tổn, chi phí của nhà nước và đương sự nếu việc giải quyết vụ án phải trải qua nhiều giai đoạn, nhiều cấp xét xử [14, tr37-42, tr38]

TTRG được xây dựng để giải quyết các vụ án có tình tiết đơn giản, rõ ràng hoặc có giá trị tranh chấp thấp giúp tiết kiệm chi phí tố tụng Thủ tục tố tụng thông thường đảm bảo ở mức độ cao khả năng tìm kiếm và bảo vệ công lý đối với các vụ án dân sự được áp dụng Tuy nhiên, việc áp dụng thủ tục thông thường đối với các vụ án đơn giản, rõ ràng, hoặc có giá trị tranh chấp thấp là một sự lãng phí về thời gian và tiền do phải trải qua nhiều hoạt động tố tụng không cần thiết hoặc thời gian tố tụng kéo dài Việc áp dụng TTRG trong các trường hợp này đảm bảo được tính ph hợp giữa nhu cầu giải quyết vụ án và phương thức giải quyết vụ án, từ đó đảm bảo được hiệu quả của hoạt động tố tụng

Thứ hai, việc xây dựng TTRG xuất phát từ nhu cầu của quá trình xây

dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa

Phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là một phần tất yếu trong công cuộc xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa

ở Việt Nam hiện nay Phát triển về kinh tế đòi h i những thay đổi tương ứng trong các thiết chế xã hội để ph hợp với nó Sự tăng trưởng kinh tế, gia tăng các quan hệ KDTM đồng nghĩa với khả năng xảy ra các vụ án dân sự nói chung, tranh chấp KDTM nói riêng, và pháp luật tố tụng dân sự, với vai trò là một cơ chế giải quyết các vụ án dân sự theo nghĩa rộng, cần phải có những thay đổi nhất định

Thực tiễn xét xử trong những năm vừa qua cho thấy, c ng với sự phát triển của nền kinh tế từ những năm sau đổi mới, các tranh chấp về dân sự,

Trang 15

KDTM diễn ra ngày càng nhiều về số lượng và phức tạp về nội dung Các vụ

án dân sự mà T ND các cấp thụ lý đã tăng từ 223.228 vụ năm 2005 lên đến 395.415 vụ năm 2013 trong đó số lượng các vụ án T ND cấp sơ thẩm thụ lý

và giải quyết là rất lớn, thường chiếm trên 90% số lượng án giải quyết của toàn

hệ thống, c ng với đó là số lượng án còn tồn đọng của Tòa án các cấp cũng còn nhiều [16, tr22]

Trong nền kinh tế thị trường, các yếu tố liên quan đến đầu vào của quá trình sản xuất, kinh doanh như thời gian, vốn, sức lao động…luôn luôn trong quá trình vận động để tạo ra giá trị thặng dư Do đó, sự tự do lưu thông của các yếu tố này đóng một vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy sự phát triển của yếu tố kinh tế trong một xã hội, vai trò này càng lớn hơn khi nền kinh tế đang trên đà phát triển Trong các vụ án dân sự, các yếu tố này có thuộc tính đang tranh chấp, đang bị áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời đảm bảo thi hành án… nên chúng mất đi tính tự do lưu thông và hệ quả là cản trở sự phát triển của nền kinh tế Thời gian giải quyết tranh chấp càng dài, chủ thể có quyền, lợi ích hợp pháp đối với các yếu tố đó càng bị thiệt hại bởi không khai thác được tính kinh tế của chúng Yếu tố thời gian trong giải quyết tranh chấp không chỉ ảnh hưởng riêng đến các bên trong quan hệ KDTM mà còn ảnh hưởng đến cả các bên trong quan hệ pháp luật dân sự theo nghĩa rộng Ví dụ không chỉ các doanh nghiệp cần vốn cho hoạt động kinh doanh mà ngay cả cá nhân có quyền

sở hữu trí tuệ, có quyền sử dụng đất hoặc các tài sản khác cũng có thể đưa tài sản đó vào hoạt động kinh doanh tạo ra giá trị thặng dư

Như vậy, thời gian giải quyết tranh chấp ngắn là một trong những yêu cầu quan trọng của quá trình phát triển kinh tế thị trường đặt ra đối với pháp luật tố tụng dân sự Chỉ khi có cơ chế giải quyết tranh chấp linh hoạt, mềm dẻo, nhanh gọn thì mới có thể tạo được niềm tin cho các doanh nghiệp, doanh nhân an tâm đầu tư, phát triển sản xuất [15] Việc xây dựng TTRG trong tố tụng dân sự, vì thế có ý nghĩa lớn trong việc giảm thời gian giải quyết tranh chấp, thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế

Trang 16

Xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa là xây dựng một nhà nước trong đó quyền con người, quyền công dân được đề cao và bảo vệ Một trong số những nội dung của quyền công dân là quyền tiếp cận công lý và được bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình Bằng việc áp dụng TTRG đối với vụ

án có tình tiết đơn giản, chứng cứ rõ ràng hoặc giá trị tranh chấp thấp, pháp luật cho phép các bên được sử dụng các quy trình tố tụng nhanh gọn mà vẫn đảm bảo mục đích của tố tụng Tiết kiệm thời gian và chi phí cũng giúp các bên đỡ e ngại khi sử dụng cơ chế giải quyết tranh chấp hợp pháp là Tòa án thay

vì sử dụng các phương pháp tiêu cực như bắt cóc, tống tiền, đòi nợ thuê… [16, tr28] Thủ tục nhanh chóng, đơn giản và ít tốn kém cũng làm giảm sự bất bình đẳng giữa các bên có tiềm lực tài chính khác biệt, nhất là trong các vụ án liên quan đến quyền của người tiêu d ng

Thứ ba, việc xây dựng TTRG xuất phát từ tính đa dạng của các tranh

chấp trong thực tiễn đời sống xã hội

Xu hướng chung của pháp luật tố tụng dân sự là quy định một cách chặt chẽ các bước tiến hành tố tụng để đảm bảo bất kỳ một vụ án dân sự nào khi được giải quyết bằng quy trình đó sẽ có khả năng cao nhất đạt được mục đích của tố tụng dân sự là bảo vệ công lý, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên đương sự Tuy nhiên, thực tiễn các vụ án dân sự trong xã hội mang tính đa dạng, có những tranh chấp phức tạp, nhiều quan hệ pháp luật dân sự chồng chéo, nhiều chủ thể trong tranh chấp nhưng cũng có những tranh chấp đơn giản, dễ dàng xác định các quan hệ pháp luật dân sự; có những vụ tranh chấp nhiều nghìn tỷ đồng nhưng cũng có những tranh chấp chỉ vài trăm ngàn đồng,

có những tranh chấp mà các chứng cứ khó thu thập, cần phải giám định, định giá nhưng có những vụ án mà các bên đều thống nhất về giá trị tranh chấp, chứng cứ rõ ràng, đầy đủ…Việc áp dụng chung các vụ án dân sự với c ng một thủ tục tố tụng, c ng thời gian giải quyết tranh chấp sẽ là không hợp lý bởi nhu cầu giải quyết đối với từng loại vụ án là khác nhau

Thực tiễn giải quyết các vụ án dân sự cho thấy có nhiều loại vụ việc có

Trang 17

nhu cầu giải quyết bằng một thủ tục đơn giản hơn so với thủ tục tố tụng thông thường, gồm những vụ kiện có nội dung đơn giản, chứng cứ rõ ràng, các sự kiện đã được xác định, không cần phải thu thập thêm chứng cứ hoặc có giá trị tranh chấp thấp Các loại việc này bao gồm: những vụ kiện mà các bên không

có tranh chấp về nghĩa vụ phải thực hiện nhưng bị đơn không chịu thực hiện nghĩa vụ của mình; Những tranh chấp có chứng cứ đầy đủ, rõ ràng, các sự kiện

đã được xác định, việc giải quyết tranh chấp không cần xác minh, thu thập

thêm chứng cứ; Những vụ kiện có giá trị tranh chấp thấp [16, tr30]

1.1.3 Đặc điểm và ý nghĩa của thủ tục rút gọn

Một số đặc điểm của TTRG:

 TTRG chỉ áp dụng giải quyết những tranh chấp có chứng cứ rõ ràng, nội dung tranh chấp đơn giản, tài sản tranh chấp có giá trị không lớn…

 TTRG được giản lược một số thủ tục tố

tụng so với thủ tục TTDS thông thường

 Thời gian giải quyết vụ án theo thủ tục TTDS sẽ được rút ngắn hơn so với thời gian giải quyết theo thủ tục tố tụng thông thường

 TTRG chỉ do một Thẩm phán tiến hành giải quyết

 Áp dụng TTRG không phải tuân thủ tất các nguyên tắc cơ bản được quy định trong Luật TTDS

 Giải quyết vụ án theo TTRG sẽ giảm thiểu chi

phí cho Nhà nước và đương sự

Ý nghĩa to lớn của thủ tục tố tụng dân sự rút gọn nằm ngay trong chính tên gọi của thủ tục này với mục đích tạo điều kiện thuận lợi cho người dân có thể tiếp cận công lý một cách nhanh chóng Việc xây dựng thủ tục tố tụng dân sự rút gọn có ý nghĩa không chỉ đối với các đương sự, Tòa án mà nó

Trang 18

còn có ý nghĩa xã hội rộng lớn và sâu sắc

Thứ nhất, thủ tục tố tụng dân sự rút gọn góp phần đáp ứng yêu cầu cải

cách tư pháp, hội nhập kinh tế quốc tế và là sự hiện thực hoá chiến lược cải

cách tư pháp của Đảng và Nhà nước ta

Trong xu thế hội nhập nền kinh tế quốc tế hiện nay đòi h i các thủ tục

tố tụng nói chung và thủ tục tố tụng tư pháp dân sự nói riêng phải đáp ứng được yêu cầu về sự mềm dẻo, linh hoạt, nhanh chóng, thuận tiện để giải quyết kịp thời các tranh chấp phát sinh Việc cải cách thủ tục tố tụng tư pháp, trong

đó có thủ tục tố tụng dân sự theo hướng trên sẽ góp phần thúc đẩy các giao lưu kinh tế, thương mại, dân sự…phát triển mạnh mẽ Pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam hiện hành chưa còn chưa thực sự mềm dẻo, linh hoạt, thời hạn giải quyết tranh chấp còn kéo dài, phải trải qua nhiều khâu, nhiều bước nên chưa thực sự đáp ứng yêu cầu giải quyết tranh chấp trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế Do vậy, việc xây dựng thủ tục tố tụng dân sự rút gọn với trình tự giải quyết đơn giản đặc biệt là thời hạn giải quyết ngắn…sẽ đáp ứng được nhu cầu hội nhập kinh tế quốc tế và hiện thực hoá chiến lược cải cách tư pháp đến năm

2020 mà Đảng và Nhà nước đã đề ra

Thứ hai, thủ tục tố tụng dân sự rút gọn sẽ giảm đáng kể các chi phí tố

tụng cho đương sự và Tòa án trong quá trình giải quyết vụ án Thông thường pháp luật các nước có quy định về thủ tục tố tụng dân sự rút gọn đều quy định

án phí mà đương sự phải chịu là thấp hơn so với thủ tục tố tụng thông thường Bên cạnh đó, do các vụ án đơn giản, xét xử nhanh nên các chi phí đi lại, thuê luật sư không phát sinh Tòa án cũng không phải tiến hành tất cả các trình tự, thủ tục để đưa vụ án ra xét xử mà gần như chỉ căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ

do các bên đương sự cung cấp Vì vậy, các chi phí phát sinh như định giá,

thẩm định tại ch , thu thập tài liệu, chứng cứ cũng không phát sinh

Thứ ba, trong thủ tục tố tụng dân sự rút gọn, thời gian để tiến hành tố

tụng được rút gắn đi rất nhiều lần so với thủ tục tố tụng dân sự thông thường

Do vậy, quyền lợi hợp pháp của đương sự sẽ được bảo vệ một cách nhanh

Trang 19

chóng, kịp thời

Xét về thực tế thì do các bước về thủ tục được giản lược nên Tòa án

sẽ giảm được tối đa các công việc không cần thiết, số lần đi lại để triệu tập đương sự, người làm chứng, thu thập chứng cứ cũng theo đó mà giảm đáng kể, thời hạn giải quyết vụ án sẽ không bị kéo dài một cách không cần thiết

Thứ tư, thủ tục tố tụng dân sự rút gọn đáp ứng yêu cầu về bảo đảm

quyền tiếp cận công lý của công dân, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho Tòa

án có thể nhanh chóng giải quyết vụ án Đối với công dân thì thủ tục tố tụng dân sự rút gọn sẽ tạo điều kiện thuận lợi để họ tiến hành khởi kiện và tham gia

tố tụng tại Tòa án để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình Trong các vụ án

có nội dung tranh chấp đơn giản, chứng cứ rõ ràng…thì cả nguyên đơn và bị đơn không phải trải qua tất cả các thủ tục tố tụng như trong thủ tục thông thường, mà chỉ tiến hành một số thủ tục luật định cần thiết cho việc giải quyết

vụ án

Thủ tục tố tụng dân sự rút gọn là phương tiện để Thẩm phán có thể

chủ động và linh hoạt trong việc bảo vệ quyền lợi hợp pháp của đương sự vì họ không phải thực hiện tất cả các trình tự, thủ tục như thủ tục tố tụng dân sự thông thường Ngoài ra, với đặc điểm của thủ tục tố tụng dân sự rút gọn là thời gian giải quyết nhanh chóng, trình tự, thủ tục tiến hành tố tụng đơn giản nên thủ tục này sẽ là một phương tiện được người dân tin cậy trong việc sử dụng để nhanh chóng bảo vệ quyền lợi của mình Từ đó hạn chế được các hiện tượng tiêu cực hiện nay như khiếu kiện kéo dài hoặc người dân thiếu tin tưởng vào tính hiệu quả của hệ thống Tòa án nên đã tự mình hành xử bằng cách bắt nợ, đòi nợ thuê dẫn đến gây mất trật tự xã hội và có thể phát sinh thành các tội

phạm hình sự

Thứ năm, thủ tục tố tụng dân sự rút gọn góp phần giảm áp lực công

việc cho cán bộ ngành Tòa án, đặc biệt là đối với Thẩm phán khi mà số lượng các vụ án tranh chấp về dân sự, KDTM, LĐ, HNGĐ ngày một gia tăng Trong điều kiện không thể tăng biên chế Thẩm phán tương ứng với sự gia tăng số

Trang 20

lượng công việc và ngân sách Nhà nước còn hạn hẹp thì việc xây dựng thủ tục

tố tụng dân sự rút gọn với một trình tự, thủ tục đơn giản, thời gian giải quyết ngắn sẽ giúp cho các Thẩm phán nâng cao hiệu quả trong công tác xét xử, chủ động giải quyết được số các vụ án có nội dung đơn giản, chứng cứ rõ ràng, giá ngạch thấp Do vậy, Thẩm phán sẽ có thời gian tập trung nghiên cứu, giải quyết các vụ án có tính chất phức tạp đòi h i một trình tự, thủ tục tố tụng chặt

- Thể chế hóa nhiệm vụ mà Đảng và nhà nước

đã đặt ra, đó là phải đẩy mạnh công cuộc cải cách tư pháp, trong đó phải kể đến công cuộc cải cách thủ tục TTDS Nhờ cải cách thủ tục TTDS sẽ góp phần đẩy nhanh công cuộc xây dựng nhà nước ta trở thành nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân

- Tạo điều kiện thuận lợi cho nhân dân trong việc giải quyết các vụ án dân sự một cách nhanh chóng, kịp thời

- Giảm gánh nặng cho ngành Tòa án trong việc giải quyết các vụ án dân sự Nhất là hiện nay khi lượng án cần Tòa án giải quyết tăng nhanh về số lượng, vì vậy việc giải quyết theo TTRG sẽ giúp Tòa án giải quyết vụ án có tình tiết đơn giản, chứng cứ rõ ràng được nhanh chóng, đơn giản Từ đó sẽ giảm bớt gánh nặng về số lượng án cần giải quyết và sẽ hạn chế tình trạng án tồn đọng để quá hạn luật định

- Việc giải quyết một số vụ án theo thủ tục này

Trang 21

cũng giúp tiết kiệm chi phí, công sức cho nhà nước và nhân dân

- TTRG phải bảo đảm được những mục đích cơ bản của TTDS là phải đảm bảo được quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, đem lại công bằng cho xã hội, giải quyết đúng pháp luật

1.2.2 Yêu cầu của việc giải quyết vụ án dân sự theo thủ tục tố tụng rút gọn

Quy định về thủ tục tố tụng TTDS rút gọn trong việc giải quyết các vụ

án dân sự cần phải đáp ứng được các yêu cầu sau:

- Phải đáp ứng yêu cầu về chiến lược cải cách tư pháp

và hội nhập kinh tế quốc tế

- Phải đảm bảo tính nhanh chóng, kịp thời, tiết kiệm được chi phí cho nhân dân và nhà nước

- Phải đảm bảo tính khách quan, công bằng, đảm bảo được quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự và đảm bảo đúng quy định pháp luật

- Phải đảm bảo tính linh hoạt, mềm dẻo của thủ tục TTDS và hiệu quả khi áp dụng trong thực tế

- Việc xây dựng TTRG phải đáp ứng yêu cầu về tính chủ động và đề cao trách nhiệm cá nhân của Thẩm phán

1.3 Lịch sử hình thành và phát triển của thủ tục rút gọn tại Việt Nam

Trong lịch sử lập pháp Việt Nam thì cơ chế xét xử một lần, xét xử một Thẩm phán đã từng tồn tại Đây là tiền đề thực tiễn quan trọng cho việc xây dựng TTRG Thực tiễn tố tụng tại Tòa án cũng cho thấy trong số các vụ án mà ngành Tòa án thụ lý giải quyết hàng năm có không ít những vụ án có nội dung đơn giản, chứng cứ rõ ràng, bị đơn thừa nhận yêu cầu hoặc không phản đối yêu cầu của nguyên đơn, vụ án tranh chấp có giá trị tài sản không lớn Tuy nhiên,

Trang 22

do thiếu vắng TTRG trong pháp luật nên các Tòa án vẫn phải tiến hành giải quyết theo thủ tục thông thường gây mất thời gian, tổn thất về tiền bạc, công sức của cơ quan tiến hành tố tụng và của các đương sự

* Thời kỳ 1945 -1959

Cách mạng tháng tám thành công mở ra một kỷ nguyên mới trong lịch

sư dân tộc Việt Nam, lập lên nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà một nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam Á Ngay sau ngày độc lập, để ổn định tình hình kinh tế chính trị, củng cố chính quyền và đáp ứng những đòi h i mới của đời sống dân sự, Đảng và Bác Hồ đã ban hành hàng loạt các văn bản pháp luật mới Trong đó, các văn bản về xây dựng hệ thống tư pháp mới và thủ tục

tố tụng thì đáng chú ý là Sắc lệnh số 13/SL ngày 24/01/1946 về “Tổ chức các Tòa án và ngạch Thẩm phán”; Sắc lệnh 51/SL ngày 17/04/1946 về “Ấn định thẩm quyền các Tòa án và sự phân công giữa các nhân viên trong Tòa án”; Sắc lệnh số 112/SL ngày 28/6/1946 bổ khuyết sắc lệnh 51; Sắc Lệnh 185/SL ngày 26/5/1948 “Ấn định thẩm quyền các Tòa án sơ cấp và đệ nhị cấp”; Sắc lệnh số 88/SL ngày 02/8/1949 “Về quyền ban tư pháp xã”; Sắc lệnh 85/SL ngày 22/6/1950 “Về cải cách bộ máy tư pháp và luật tố tụng”

Tại Sắc lệnh số 51 ngày 17/4/1946 thẩm quyền Tòa án các cấp căn cứ theo giá ngạch được quy định một cách chi tiết Tại Điều thứ 6 Sắc lệnh này quy định về dân sự và thương sự Tòa án sơ cấp có thẩm quyền xét xử:

Trang 23

sự Tòa án đệ nhị cấp có quyền xét xử:

A Chung thẩm

1 Những án của toà sơ cấp bị kháng cáo

2 Những việc kiện về bất động sản mà giá ngạch theo thời giá hôm khởi

tố

3 Những việc kiện về động sản mà giá ngạch trên 450 đồng nhưng dưới

750 đồng

B Sơ thẩm:

1 Những việc kiện về bất động sản mà giá ngạch theo thời giá hôm khởi

tố hay theo văn tự trên 150 đồng;

2 Những việc kiện về động sản mà giá ngạch trên 750 đồng;

3 Những việc kiện không thể định trước được giá ngạch;

4 Những việc kiện không cứ giá ngạch là bao nhiêu mà phải có án nghị

sơ cấp và Tòa án đệ nhị cấp áp dụng cho các vụ án mà đối tượng tranh chấp là những tài sản có giá trị nh định theo giá ngạch)

Cơ chế xét xử một lần tiếp tục được quy định tại Nghị định số 32/NĐ ngày 06/4/1952 của Bộ Tư Pháp “Các Tòa án cấp huyện có thẩm quyền chung thẩm các việc kiện dân sự về động sản có giá ngạch không quá 60 kg gạo và các Tòa án nhân dân cấp tỉnh xử chung thẩm các việc kiện về bất động sản mà giá ngạch không quá 60 kg gạo…” Tại Thông tư số 4013/TTC ngày

Trang 24

09/5/1959 của Bộ Tư Pháp và Thông tư liên bộ Tư Pháp – Tòa án nhân dân tối cao số 93/TC ngày 11/11/1959 cũng quy định các Tòa án cấp huyện có “quyền xét xử chung thẩm các việc kiện dân sự mà giá ngạch không quá 60 đồng không phân biệt động sản hay bất động sản”

* Thời kỳ 1960 -1989

– Giai đoạn 1960 – 1980

Sau khi ban hành Hiến pháp năm 1959, ngày 17/4/1960 Quốc hội nước Viêt Nam Dân Chủ Cộng Hoà đã thông qua luật Tổ chức Tòa án nhân dân, việc ban hành Luật tổ chức Tòa án nhân dân đã đánh dấu một bước ngoặt lớn trong ngành tư pháp nói chung và trong pháp luật tố tụng dân sự nói riêng

Theo quy định của Hiến Pháp năm 1959 và Luật tổ chức Tòa án nhân dân đầu năm 1960 quy định: “Tòa án nhân dân thực hành chế độ hai cấp xét xử…”, thủ tục xét xử chung thẩm trong tố tụng dân sự đã được bãi b Tuy nhiên, vẫn còn quy định một ngoại lệ tại Điều 12 Luật tổ chức Tòa án nhân dân

“Khi sơ thẩm, Tòa án nhân dân gồm một Thẩm phán và hai Hội thẩm nhân dân; trường hợp xử những vụ án nh , giản đơn và không quan trọng thì Tòa án nhân dân có thể xét xử không có Hội thẩm nhân dân”

Bên cạnh đó, trong giai đoạn này còn quy định Tòa án xét xử bút lục ở trình tự phúc thẩm bên cạnh đó trong giai đoạn này còn quy định Tòa án xét xử theo bút lục ở trình tự phúc thẩm "Xét xử bút lục là Hội đồng xét xử căn cứ những tài liệu có trong hồ sơ vụ án, mà những tài liệu này đã được Tòa án cấp

sơ thẩm đánh giá đầy đủ nên phiên toà sơ thẩm không cần triệu tập các đương

sự, chỉ cần có sự tham gia của đại diện Viện kiểm sát cùng cấp" Việc xét xử bút lục ở giai đoạn phúc thẩm đối với vụ án dân sự được hướng dẫn tại Thông

tư 132/NCPL ngày 28/8/1972 khi đáp ứng các điều kiện nội dung vụ án rõ ràng, chứng cứ đầy đủ, khả năng hoà giải không còn, bản án sơ thẩm đã xét xử đúng pháp luật, hướng xét xử của Toà phúc thẩm cũng là y án sơ thẩm Như vậy xét xử theo bút lục ở giai đoạn phúc thẩm thời kỳ này đã chứa đựng những yếu tố, nhân tố của TTRG

Trang 25

– Giai đoạn 1981 – 1989

Ngày 25/4/1976, sau khi giải phóng hoàn toàn Miền Nam, nhân dân ta

đã bầu ra Quốc hội của nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam Đến ngày 18/12/1980, Quốc hội đã thông qua bản Hiến pháp mới Trên cơ sở Hiến pháp năm 1980, Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 1981, luật sửa đổi và bổ sung Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 1988 được ban hành

Theo các văn bản tố tụng từ năm 1980 đến trước khi ban hành Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự 1989 thì việc xét xử vẫn được thực hiện theo hai cấp là sơ thẩm và phúc thẩm, đồng thời trong các văn bản pháp luật cơ chế xét xử sơ thẩm đồng thời chung thẩm vẫn được quy định Tại Điều 21 Luật

tổ chức Tòa án nhân dân năm 1981 và Điều 27 Luật sửa đổi, bổ sung Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 1988, thẩm quyền sơ thẩm đồng thời chung thẩm thuộc về Tòa án nhân dân Tối cao

* Thời kỳ 1989 đến nay

- Giai đoạn 1989 đến 2004

Từ sau Đại hội đảng toàn quốc năm 1986, đất nước bước vảo thời kỳ đổi mới toàn diện theo hướng đa phương hoá, đa dạng hoá thực hiện phát triển nền kinh tế nhiều thành phần định hướng xã hội chủ nghĩa Ngày 29/11/1989 Hội đồng nhà nước đã thông qua Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự có hiệu lực thi hành ngày 01/01/1990 Đây là văn bản pháp luật có hiệu lực pháp

lý cao nhất từ trước đến nay, tạo ra một hành lang những chuẩn mực nhất định điều chỉnh các quan hệ tố tụng dân sự, đánh dấu một bước tiến mới trong quá trình phát triển của pháp luật tố tụng dân sự Tại Điều 66 của pháp lệnh quy định: Hội đồng xét xử phúc thẩm không phải mở phiên toà trong các trường hợp sau:

1 Xét kháng cáo quá hạn

2 Xét kháng cáo, kháng nghị về án phí

3 Xét kháng cáo, kháng nghị những quyết định của Tòa án

Tại Nghị quyết số 03-NQ/HNTW ngày 18/6/1997 Hội nghị lần thứ 3

Trang 26

Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá VIII, Đảng ta đã chỉ rõ “nghiên cứu áp dụng TTRG để xét xử kịp thời một số vụ án đơn giản, rõ ràng” Thực hiện mục tiêu đó, tại Dự thảo BLTTDS năm 2004 các nhà nghiên cứu lập pháp đã xây dựng TTRG tại chương XV gồm 07 Điều (từ Điều 234 đến 243) Cho tới dự thảo VIII thì phạm vi áp dụng thủ tục tố tụng rút gọn bị thu hẹp còn 03 Điều (từ Điều 267 đến 269) tại chương XV với tên gọi thủ tục thanh toán nợ Tuy nhiên cho tới dự thảo X và XI thì TTRG không còn tồn tại nữa

- Giai đoạn 2004 đến 2015

BLTTDS đã được Quốc Hội thông qua ngày 15/6/2004 Đây là một thành tựu quan trọng để giải quyết các tranh chấp phát sinh Qua nghiên cứu cho thấy BLTTDS đã có một bước đột phá là đã xây dựng được thủ tục giải quyết việc dân sự trong Bộ luật này Theo đó, việc dân sự sẽ sẽ do một Thẩm phán hoặc hội đồng gồm 03 Thẩm phán với một thời hạn giải quyết ngắn…và phán quyết của Tòa án vẫn có thể bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm…tuy nhiên, thì thủ tục giải quyết việc dân sự không phải là một TTRG theo đúng nghĩa của nó

Ngày 02/6/2005, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 49-NQ/TW về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 trong đó có nội dung: “Xây dựng cơ chế xét xử theo TTRG đối với những vụ án có đủ một số điều kiện nhất định”

Vấn đề trên không được xây dựng trong luật chung (luật tố tụng) mà lại được quy định ở luật chuyên ngành Khoản 2 Điều 41 Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu d ng năm 2010 quy định, vụ án dân sự về bảo vệ quyền lợi người tiêu d ng được giải quyết theo thủ tục đơn giản quy định trong pháp luật về tố tụng dân sự khi có đủ các điều kiện sau đây:

“a) Cá nhân là người tiêu dùng khởi kiện; tổ chức, cá nhân trực tiếp cung cấp hàng hóa, dịch vụ cho người tiêu dùng bị khởi kiện;

b) Vụ án đơn giản, chứng cứ rõ ràng;

c) Giá trị giao dịch dưới 100 triệu đồng”

Và BLTTDS năm 2004, được sửa đổi, bổ sung năm 2011 vẫn chưa “cho

Trang 27

phép” Tòa án được xét xử theo thủ tục đặc biệt này

Như vậy, những tiền đề về cơ chế xét xử một lần, thẩm quyền độc lập của Thẩm phán trong pháp luật và quá trình xây dựng TTRG ở Việt Nam đã cho chúng ta có một cái nhìn thấu đáo hơn về bản chất của loại hình TTRG này

Như vậy, có thể nói rằng các quy định về cơ chế xét xử một Thẩm phán

và xét xử một lần trong lịch sử pháp luật tố tụng dân sự là cơ sở thực tiễn của việc xây dựng TTRG

1.4 Thủ tục tố tụng dân sự rút gọn theo pháp luật của một số nước trên thế giới

Trên thế giới, bên cạnh thủ tục tố tụng thông thường, nhiều nước đã xây dựng thủ tục tố tụng rút gọn summary procedure) để áp dụng xử lý những

vi phạm pháp luật nh , giải quyết những tranh chấp, khiếu kiện có giá trị thấp, những vụ việc đơn giản, chứng cứ rõ ràng nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của Tòa án, khắc phục nhanh chóng những vấn đề nảy sinh trong xã hội, tiết kiệm thời gian, vật chất cho Tòa án và các đương sự, không làm trầm trọng thêm những vụ việc, có thể giải quyết nhanh, theo trình tự đơn giản, góp phần

ổn định xã hội

1.4.1 Thủ tục tố tụng rút gọn trong pháp luật tố tụng dân sự Pháp

Hệ thống Tòa án tư pháp của Pháp hiện nay được tổ chức và hoạt

động theo tinh thần của Hiến pháp năm 1958 và Luật về tổ chức Tòa án tư pháp Theo đó, thẩm quyền giải quyết các vụ án đơn giản, những tranh chấp

nh được giao cho Tòa án sơ thẩm thẩm quyền hẹp Cơ cấu tổ chức của hệ thống Tòa án Pháp hiện có 476 Tòa án sơ thẩm thẩm quyền hẹp bên cạnh 185

Tòa án sơ thẩm thẩm quyền chung

Tòa án sơ thẩm thẩm quyền hẹp chuyên xét xử các vụ án dân sự nh ,

có giá trị tranh chấp không vượt quá 10.000 EUR (các vụ án tranh chấp về hợp đồng thuê nhà ở, giải quyết yêu cầu giám hộ, kê biên đối với tiền lương, thưởng …) Tòa án sơ thẩm thẩm quyền hẹp xét xử vụ án bằng một Thẩm phán

Trang 28

duy nhất và các bên tham gia tố tụng không nhất thiết phải có luật sư

Tại Tòa sơ thẩm thẩm quyền hẹp có thủ tục xét xử rút gọn để áp dụng

giải quyết đối với các vụ án có giá trị tranh chấp không vượt quá 4.000 EUR tương đương 115 triệu đồng Việt Nam) Theo thủ tục này, người tham gia giải quyết các vụ án không phải là Thẩm phán chuyên trách mà là các Thẩm phán được tuyển chọn từ những người có kinh nghiệm hoạt động trong lĩnh vực pháp luật, làm việc tại Tòa án sơ thẩm thẩm quyền hẹp Những Thẩm phán này không hưởng lương từ ngân sách nhà nước, được bổ nhiệm với nhiệm kỳ 7

năm và không được tái nhiệm

Trong cơ cấu tổ chức của Tòa án sơ thẩm thẩm quyền hẹp có Tòa vi

cảnh (Tribunal de Police) có thẩm quyền xét xử các tội vi cảnh, những vi phạm hình sự nh Việc xét xử loại tội này của Tòa vi cảnh do 1 Thẩm phán tiến

hành

1.4.2 Thủ tục ra lệnh thanh toán nợ theo pháp luật tố tụng dân sự Nga

Trong pháp luật tố tụng dân sự Nga chỉ quy định một thủ tục chung là

thủ tục ra lệnh (ban hành quyết định) Theo Điều 121 BLTTDS Nga thì lệnh của Tòa án – quyết định của Tòa án do một Thẩm phán ban hành dựa trên yêu cầu đòi nợ hoặc đòi lại tài sản khi có đủ căn cứ theo quy định của pháp luật

Nga Điều 121 BLTTDS Nga quy định Tòa án cấp lệnh, nếu:

- Yêu cầu căn cứ vào giao dịch đã được công chứng;

- Yêu cầu căn cứ vào giao dịch được thực hiện dưới hình thức văn bản viết không cần công chứng, chứng thực;

- Yêu cầu đòi tiền cấp dưỡng cho trẻ chưa thành niên không liên quan đến việc xác định cha, mẹ hoặc không liên quan đến việc phải triệu tập thêm người khác;

- Yêu cầu công dân nộp khoản thuế bị thất thu hoặc nộp những khoản tiền bắt buộc khác;

- Yêu cầu đòi khoản tiền lương đã được chấm công

Trang 29

nhưng chưa được trả người lao động

- Yêu cầu của các cơ quan công an, cơ quan thuế vụ,

cơ quan thừa phát lại đòi hoàn trả chi phí cho việc tìm kiếm bị đơn, người có nghĩa vụ và tài sản của người đó, hoặc chi phí cho việc tìm kiếm trẻ em bị người có nghĩa vụ đem đi mất, hoặc chi phí liên quan đến việc bảo quản tài sản của người có nghĩa vụ bị thu giữ và bảo quản tài sản của người có nghĩa vụ khi bị buộc chuyển đi nơi ở khác

Về thủ tục ra lệnh thanh toán, theo quy định tại Điều 126 BLTTDS Nga thì lệnh thanh toán được ban hành trong thời hạn 05 ngày kể từ ngày thụ

lý đơn yêu cầu mà không cần phải mở phiên toà xét xử và không phải triệu tập các bên để nghe lời giải thích của họ Sau khi ra lệnh, Thẩm phán gửi bản sao lệnh của Tòa án cho người có nghĩa vụ thi hành Người có nghĩa vụ có quyền phản đối trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận bản sao Nếu người có nghĩa

vụ phản đối trong thời hạn luật định, Thẩm phán huỷ b lệnh của Tòa án Trong trường hợp hết thời hạn luật định mà người có nghĩa vụ không phản đối, Tòa án chuyển cho người yêu cầu bản thứ hai lệnh của Tòa án để đưa ra thi hành Điều 128, 129, 130 BLTTDS Nga)

1.4.3 Thủ tục rút gọn trong pháp luật tố tụng dân sự Nhật Bản

Thẩm quyền giải quyết các vụ việc theo TTRG ở Nhật Bản được giao cho Tòa án giản lược thực hiện Hiện tại, Nhật Bản có 438 Tòa án giản lược được thành lập ở các thành phố, thị trấn Tòa giản lược có thẩm quyền xét xử các vụ án dân sự có giá trị tranh chấp dưới 1.400.000 Yên tương đương 300 triệu đồng Việt Nam) và các vụ án hình sự nh , có mức hình phạt là phạt tiền hoặc các hình phạt không nghiêm trọng Theo nguyên tắc chung, Tòa án giản lược không có thẩm quyền quyết định các hình phạt tù không lao động hoặc các hình phạt tù nghiêm khắc hơn Khi xác định hình phạt đối với bị cáo trong

vụ án có thể vượt quá khung hình phạt cho phép thì Tòa án giản lược chuyển

vụ án cho Tòa án sơ thẩm giải quyết

Trang 30

Tòa án giản lược ở các thành phố lớn, nơi có các Tòa sơ thẩm thường

có một số Thẩm phán; ở những v ng ít dân cư thì chỉ có 1 Thẩm phán

Thẩm phán của Tòa án giản lược phải là người đã qua 2 năm làm Phụ thẩm, Công tố hoặc Luật sư Tuy nhiên, người không được đào tạo về luật nhưng có năng lực cũng có thể được bổ nhiệm làm Thẩm phán Tòa án giản lược

Theo quy định của Luật Tòa án Nhật Bản, thì tại Tòa án giản lược, các vụ án đều do 1 Thẩm phán xét xử; tính chất đơn giản trong tố tụng giản lược được phản ánh trong các quy định của pháp luật tố tụng như: thủ tục khởi kiện bằng miệng, thủ tục triệu tập được đơn giản hóa, biên bản xét xử đơn giản

và bản án ngắn gọn hơn các bản án của Tòa án thông thường Chức năng hành chính tại Tòa án giản lược do chính Thẩm phán thực hiện Việc bổ nhiệm, miễn nhiệm các công chức của Tòa án giản lược thuộc thẩm quyền của Tòa án

sơ thẩm

1.4.4 Thủ tục rút gọn trong pháp luật tố tụng dân sự Cộng hoà

nhân dân Trung Hoa

Hệ thống Tòa án Trung Quốc được tổ chức theo 4 cấp là: TAND tối cao, TAND cấp cao, TAND trung cấp và TAND sơ cấp Hiện tại, Trung Quốc

có hơn 10.000 TAND sơ cấp – Cấp Tòa án thấp nhất trong hệ thống Tòa án, có thẩm quyền xét xử hầu hết các vụ án theo thủ tục sơ thẩm (trừ một số ít vụ án quan trọng thuộc thẩm quyền xét xử sơ thẩm của Tòa án cấp trên) Tại TAND

sơ cấp, TTRG được áp dụng đối với một số vụ án cụ thể trong cả lĩnh vực hình

sự và dân sự

Theo quy định tại Điều 141 của BLTTDS Trung Quốc, thì việc xác định vụ án được xét xử theo TTRG căn cứ vào ba tiêu chí như sau:

(1) Tranh chấp giữa các đương sự có sự thật rõ ràng mà hai bên đương

sự cơ bản nhất trí, chứng cứ đưa ra rõ ràng Tòa án không cần phải tiến hành công việc điều tra, thu thập chứng cứ mà vẫn có thể làm rõ được sự thật, đúng sai của vụ án;

Trang 31

(2) Quan hệ pháp luật về tranh chấp giữa các bên đã rõ về việc bên nào được hưởng quyền lợi, bên nào phải gánh vác nghĩa vụ Đồng thời quan hệ pháp luật về việc giải quyết tranh chấp đó cũng đã được quy định tương đối rõ ràng;

(3) Tranh chấp mà hai bên không có bất đồng lớn về đúng sai, trách nhiệm của các bên trong vụ án và các khoản chi phí tố tụng

Điểm đặc biệt của TTRG trong tố tụng dân sự của Trung Quốc là việc khởi kiện có thể thực hiện bằng miệng Hai bên đương sự đồng thời đến Tòa án

để đề nghị giải quyết tranh chấp Tùy từng trường hợp, TAND có thể xét xử ngay hoặc có thể ấn định một ngày khác để xét xử Tòa án có thể thông báo bằng miệng hoặc bằng văn bản cho đương sự về nội dung khởi kiện mà không cần phải tiến hành các thủ tục thông báo chính thức như đối với thủ tục thông thường Tòa án có thể sử dụng phương thức đơn giản để truyền gọi đương sự, nhân chứng Việc xét xử theo TTRG do một Thẩm phán tiến hành, không nhất thiết phải tuân thủ lần lượt các trình tự, thủ tục mà có thể linh hoạt Thời hạn

để Tòa án giải quyết vụ án theo TTRG phải kết thúc trong thời hạn 3 tháng kể

1.5.1 Khái niệm tranh chấp về Hợp đồng tín dụng

Vì tranh chấp HĐTD cũng là một loại tranh chấp hợp đồng nói chung,

do đó có đầy đủ những đặc điểm vốn có của một tranh chấp hợp đồng Tuy nhiên, với bản chất đặc th của HĐTD, tranh chấp HĐTD mang một số đặc trưng riêng biệt để có thể phân biệt với các loại tranh chấp hợp đồng khác

Giá trị của tranh chấp HĐTD thường có giá trị lớn hoặc thậm chí là rất lớn: Khi ký kết HĐTD thì thường là do bên đi vay có nhu cầu về vốn mà không thể tự mình xoay xở được Nhu cầu đó thường là để bổ sung vốn kinh

Trang 32

doanh đối với tổ chức hoặc vay để phát triển kinh tế đối với cá nhân, hộ gia đình Do đó, số tiền này không phải là nh và dễ dàng vay được từ các tổ chức,

cá nhân ngoài xã hội mà không phải là ngân hàng

Về phía bên cho vay là ngân hàng, bên cạnh vai trò là chủ thể cung ứng vốn cho nền kinh tế thì TCTD còn đóng vai trò là người đi vay của các chủ thể khác để cho vay lại Để đạt được lợi nhuận cao thì các TCTD thường kí kết các HĐTD có giá trị lớn dựa trên định giá tài sản đảm bảo tại thời điểm cho vay

Do bên vay vốn d ng khoản vay này phần lớn để đầu tư cho hoạt động sản xuất kinh doanh nên nếu bên vay không tuân thủ các cam kết trong hợp đồng, không trả nợ cho các TCTD sẽ làm ảnh hưởng xấu đến hoạt động của TCTD

đó Thực tế không hiếm các trường hợp các TCTD lâm vào tình trạng mất khả năng chi trả do “nợ xấu” Một khi khách hàng vay không thể thanh toán được

nợ, tranh chấp xảy ra thì TCTD sẽ là chủ thể bị thiệt hại lớn vì nguồn vốn bị ứ đọng, phải thực hiện các biện pháp khắc phục, mục đích lợi nhuận ban đầu không còn hoặc bị gián đoạn Đặc biệt, nếu tranh chấp HĐTD phải khởi kiện tại Tòa án thì càng gây khó khăn cho TCTD khi muốn thu hồi vốn Bởi khi đã

bị khởi kiện tại Tòa án thì thường là người đi vay không còn có khả năng trả

nợ cho TCTD Mặt khác, khi tranh chấp HĐTD xảy ra thì TCTD sẽ mất lòng tin với khách hàng vay vốn, các HĐTD tiếp theo sẽ khó mà thực hiện, kể cả khi bên đi vay chứng minh lại được khả năng tài chính của mình

Bên cạnh đó, tranh chấp HĐTD được giải quyết dựa trên nguyên tắc tự

do th a thuận trong khuôn khổ pháp luật của các bên tham gia tranh chấp HĐTD về bản chất là hợp đồng dân sự mà quan hệ dân sự là quan hệ mang tính th a thuận, tự định đoạt giữa các bên Do đó, kể cả đối với việc giải quyết tranh chấp phát sinh từ HĐTD thì các bên cũng có quyền th a thuận để đạt được hiệu quả tối ưu nhất trong trường hợp có tranh chấp xảy ra Việc tôn trọng quyền định đoạt này có ý nghĩa vô c ng quan trọng vì quan hệ dân sự giữa các bên mang tính bình đẳng, không phải là mối quan hệ mệnh lệnh - phục t ng như các quan hệ hành chính nhà nước khác Khi các bên tham gia

Trang 33

tranh chấp có thể th a thuận được với nhau thì việc giải quyết tranh chấp sẽ diễn ra nhanh chóng, thuận lợi hơn, đồng thời giảm thiểu được thiệt hại về thời gian, tiền bạc, công sức của các bên Về phía các cơ quan tài phán, thi hành án thì việc th a thuận này cũng có ý nghĩa trong việc giảm nhẹ khối lượng, áp lực công việc trong điều kiện các tranh chấp ngày càng xảy ra nhiều và phức tạp như hiện nay

Đặc biệt, vấn đề th a thuận về phương thức giải quyết tranh chấp đối với các TCTD là ngân hàng nước ngoài, ngân hàng nước ngoài có vai trò quan trọng hơn bao giờ hết Bởi các chủ thể này khác với các TCTD trong nước, chịu sự điều chỉnh của cả pháp luật nước ngoài lẫn pháp luật Việt Nam và sự khác nhau trong quy định của pháp luật giữa Việt Nam và nước khác là điều không thể tránh kh i Vì vậy, việc cho phép, tôn trọng quyền tự th a thuận của các bên khi có tranh chấp xảy ra sẽ giảm thiểu tối đa những xung đột pháp luật

có thể xảy ra trong quá trình giải quyết các tranh chấp Tuy nhiên, nguyên tắc đối với các th a thuận này là phải ph hợp với các quy định của pháp luật Việt Nam

Ngoài ra, tranh chấp HĐTD luôn có sự tham gia của một bên là TCTD

và phần lớn các tranh chấp HĐTD thì nguyên đơn là TCTD cho vay, bị đơn là bên đi vay Với đặc th của hoạt động tín dụng là sự cung ứng nguồn vốn đến những tổ chức, cá nhân có nhu cầu về vốn trên cơ sở huy động của các tổ chức,

cá nhân có thừa nguồn vốn trong xã hội nên TCTD luôn đóng vai trò trung gian trong mối quan hệ này Sự tham gia của TCTD là một dấu hiệu đặc trưng nhằm phân biệt giữa tranh chấp HĐTD và tranh chấp hợp đồng vay tài sản thông thường giữa các tổ chức, cá nhân khác mà không phải là TCTD

Đồng thời, về mặt lý thuyết, khi tham gia ký kết HĐTD, các TCTD và khách hàng có địa vị ngang bằng nhau tham gia th a thuận Nhưng với tư cách

là chủ thể có nguồn vốn dồi dào, việc áp đặt các điều kiện cho vay đối với khách hàng là điều không hiếm xảy ra Hơn nữa, khi tham gia kí kết hợp đồng thì hợp đồng thường do bên cho vay là các TCTD soạn thảo với đội ngũ cán bộ

Trang 34

có trình độ chuyên môn về mặt pháp lý nhất định Trong khi đó, chủ thể đi vay

là khách hàng thường là các tổ chức, cá nhân, trình độ chuyên môn về mặt pháp lý của họ còn thấp và nhiều khi không được chú trọng đúng mức Và như vậy là hợp đồng được kí kết với các điều khoản chặt chẽ nhằm bảo đảm cho quyền lợi của TCTD khi bên vay không trả nợ hay trả không đúng nghĩa vụ

Do đó, khi tranh chấp xảy ra thì TCTD luôn nắm đằng chuôi với các điều khoản được ghi nhận một cách chặt chẽ, rõ ràng trong hợp đồng được sự đồng thuận của cả hai bên Vì vậy, nếu có tranh chấp xảy ra thì là do bên đi vay vi phạm, chứ ít khi TCTD lại vi phạm chính những điều khoản do chính mình soạn thảo

Mặt khác, trong mối quan hệ HĐTD, các nghĩa vụ chính của bên đi vay thường phát sinh sau thời điểm giải ngân Trong khi đó, tại thời điểm hoàn tất việc giải ngân cho khách hàng thì TCTD đã hoàn thành các nghĩa vụ của mình Các nghĩa vụ khác của bên cho vay như bảo mật thông tin, lưu trữ hồ sơ tín dụng, nghĩa vụ thông báo, bảo quản tài sản bảo đảm, giải chấp tài sản đảm bảo là ít quan trọng và là nghĩa vụ phát sinh từ quyền của bên vay Vì lý do

đó nên nếu có tranh chấp xảy ra thì thường là do bên vay vi phạm nghĩa vụ của mình, rất hiếm gặp trường hợp bên đi vay khởi kiện TCTD

Song, đa phần các tranh chấp liên quan đến HĐTD chính là các tranh chấp liên quan đến việc thực hiện nghĩa vụ hoàn trả vốn, lãi của bên vay cho TCTD, về mức lãi suất vay, về vấn đề bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trong HĐTD Có rất nhiều loại tranh chấp phát sinh từ HĐTD như: Tranh chấp về chủ thể xác lập, thực hiện HĐTD, tranh chấp liên quan đến bảo lãnh vay vốn, tranh chấp liên quan đến mục đích sử dụng vốn vay Tuy nhiên, tranh chấp xảy ra nhiều nhất là tranh chấp liên quan đến nghĩa vụ hoàn trả vốn và lãi, về mức lãi suất vay, về vấn đề bảo đảm Sở dĩ như vậy bởi vì, những nghĩa vụ này đóng vai trò nòng cốt trong quá trình thực hiện HĐTD của các bên và việc thực hiện này có tác động trực tiếp đến quyền lợi của TCTD Các tranh chấp khác cũng có tác động đến các TCTD nhưng không phải là cơ bản nên ít xảy ra

Trang 35

hơn so với tranh chấp về nghĩa vụ hoàn trả vốn và lãi hay tranh chấp về lãi suất, về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ

Hơn nữa, tranh chấp HĐTD thường là tiền đề làm phát sinh và gắn liền với một quan hệ hợp đồng khác: Hợp đồng bảo đảm tiền vay thông qua hình thức cầm cố, thế chấp hoặc bảo lãnh của bên thứ ba Các TCTD khi tham gia vào HĐTD đều có mục đích lợi nhuận từ việc cho vay đó vì bản chất của TCTD là doanh nghiệp kinh doanh tiền tệ Để giảm thiểu rủi ro trong trường hợp bên vay không trả được nợ, thông thường TCTD chỉ đồng ý cho bên đi vay được vay vốn khi họ có cầm cố, thế chấp bằng tài sản hoặc có bảo lãnh của bên thứ ba Các biện pháp bảo đảm này đóng vai trò là phương pháp dự phòng của TCTD khi rủi ro xảy ra Khi đó, để đảm bảo cho nghĩa vụ được đảm bảo trong HĐTD thì các bên kí kết hợp đồng bảo đảm cho khoản vay T y từng trường hợp, đó có thể là hợp đồng cầm cố, hợp đồng thế chấp hay là dưới hình thức chứng thư bảo lãnh của bên thứ ba Những điều khoản về quyền và nghĩa

vụ trong các hợp đồng bảo đảm cho nghĩa vụ vay vốn là để bảo đảm cho việc vay vốn, xuất phát từ HĐTD đã được kí kết và mục đích cuối c ng là bảo đảm cho việc trả nợ của bên đi vay

Thêm vào đó, tranh chấp HĐTD còn phát sinh từ sự xung đột về lợi ích giữa các bên tham gia tranh chấp Vì tranh chấp HĐTD cũng là một loại tranh chấp hợp đồng nên phải xuất phát từ xung đột lợi ích của các bên trong hợp đồng Tuy nhiên, đối với tranh chấp phát sinh từ HĐTD thì chỉ có chính các bên hay người đại diện hợp pháp của họ mới có quyền khởi kiện để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bên đi vay hay TCTD Không có trường hợp nào mà tranh chấp HĐTD phát sinh do tổ chức, cá nhân khác khởi kiện để bảo

vệ quyền lợi cho các bên tham gia HĐTD

Từ những phân tích trên, có thể nhận thấy: Tranh chấp HĐTD là những

mâu thuẫn phát sinh từ quyền và nghĩa vụ trong HĐTD giữa bên cho vay (tổ chức tín dụng) và bên vay (khách hàng) Đó là những tranh chấp về lãi suất, nợ

gốc, nợ lãi, việc giải ngân, xử lý tài sản đảm bảo…

Trang 36

1.5.2 Đặc điểm tranh chấp Hợp đồng tín dụng

ột bên chủ thể của tranh chấp HĐTD luôn là ngân hàng, có thể là nguyên đơn hoặc bị đơn khi tranh chấp này được Tòa án thụ lý giải quyết Đối tượng của tranh chấp thường là vốn tiền tệ cụ thể

đó là những tranh chấp về:

+ Hành vi vi phạm nghĩa vụ của một hoặc các bên trong hợp đồng Hành

vi vi phạm nghĩa vụ này, có thể là hành vi của bên cho vay các ngân hàng và các định chế tài chính khác) khi HĐTD có hiệu lực, việc giải ngân khoản tín dụng mà hai bên đã thoả thuận là nghĩa vụ của bên cho vay Tuy nhiên, trên thực tế có nhiều trường hợp sau khi ký kết HĐTD với khách hàng bên cho vay

đã không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ giải ngân Điều này, làm ảnh hưởng tới quyền và lợi ích hợp pháp của bên vay như bên vay không tiến hành kế hoạch kinh doanh như dự kiến, không có vốn đầu tư vào dự án đầu tư, đấu thầu đã được đăng ký Hậu quả là bên cho vay bị tổn thất rất lớn về hiệu quả kinh tế cũng như uy tín, danh dự, thậm chí thương hiệu của bên vay

+ Việc vi phạm nghĩa vụ trả lãi và thậm chí cả gốc và lãi Trên thực tế,

có trường hợp hai bên không thoả thuận rõ ràng về lãi suất đối với cả thời hạn vay hoặc ban đầu do cần tiền để thực hiện kế hoạch của mình nên khách hàng chấp nhận mức lãi suất đó nhưng sau một thời gian thực hiện hợp đồng phía khách hàng nhận thấy lãi suất đó cao quá nên không đồng ý Tuy nhiên, đa phần là dạng tranh chấp về vi phạm nghĩa vụ trả nợ của khách hàng khi đáo hạn

+ Dạng tranh chấp cũng khá phổ biến của HĐTD đó là tranh chấp về việc thực hiện biện pháp bảo đảm đối với HĐTD có bảo đảm bằng tài sản Các TCTD coi bảo đảm tín dụng là nguồn thu nợ thứ hai khi nguồn thu nợ thứ nhất các lưu chuyển tiền tệ) không thể thanh toán được nợ Các nguồn thu nợ thứ nhất này thể hiện dưới hình thức lưu chuyển tiền tệ của bên vay Trong hoạt động kinh doanh có rất nhiều lý do dẫn đến nguồn thu nợ thứ nhất không thực

Trang 37

hiện được, nếu không có nguồn bổ sung chắc chắn các TCTD sẽ rơi vào tình trạng rủi ro tín dụng

+ Dạng tranh chấp nữa của HĐTD là tranh chấp về chủ thể xác lập, thực hiện hợp đồng Tranh chấp này ngày càng đa dạng và phức tạp nhất là trong những trường hợp có yếu tố nước ngoài Điều này gây không ít khó khăn cho

cơ quan giải quyết tranh chấp Liên quan tới những TCTD 100% vốn nước ngoài

+ Dạng tranh chấp chiếm một tỷ lệ khá lớn trong HĐTD là dạng tranh chấp về định giá, xử lý tài sản bảo đảm đối với những HĐTD có bảo đảm bằng tài sản Đối với những hợp đồng cho vay tiêu d ng, việc xác định tài sản bảo đảm thuộc sở hữu của vợ chồng hay tài sản riêng của từng người có ý nghĩa quan trọng đối với hoạt động xử lý tài sản này Có nhiều trường hợp các nhân viên ngân hàng thẩm định không k , kết quả thẩm định không chính xác dẫn đến chấp nhận những tài sản bảo đảm không đúng quy định của pháp luật về giao dịch bảo đảm Đối với những hợp đồng cho vay kinh doanh, liên quan tới xác định tài sản bảo đảm có thuộc quyền sở hữu hợp pháp của bên khách hàng hay không, tổ chức đó có đủ tư cách pháp lý theo quy định của pháp luật để tiến hành ký kết hợp đồng không? Trên thực tế, khi HĐTD được ký kết thì phía ngân hàng mới biết bên khách hàng ký không đúng thẩm quyền

+ Tranh chấp phát sinh từ HĐTD còn là những tranh chấp về luật áp dụng và cơ quan giải quyết tranh chấp trường hợp một trong hai bên là bên nước ngoài mà khi ký kết hợp đồng các bên đã không thoả thuận lựa chọn cơ quan giải quyết tranh chấp cũng như luật áp dụng

Tranh chấp phát sinh ngày càng nhiều, diễn biến cũng đa dạng và có tính chất phức tạp Do đó, việc tìm hiểu những đặc điểm, nguyên nhân dẫn đến tranh chấp là hết sức cần thiết Từ đó, có những biện pháp, đường lối, chính sách nhằm khắc phục tình trạng tranh chấp để tiến tới giảm đáng kể số lượng tranh chấp

Trang 38

- Chứng cứ trong vụ án tranh chấp HĐTD được Tòa án thụ lý giải quyết mà các bên đưa ra là HĐTD ở dạng văn bản mà hai bên đã giao kết

- Cơ quan giải quyết tranh chấp HĐTD là TAND hoặc trọng tài thương mại nếu các bên có th a thuận

- Đa phần hoạt động thi hành án để đảm bảo việc thu hồi nợ của các tổ chức tín dụng là thông qua xử lý tài sản đảm bảo

1.5.3 Nguyên nhân tranh chấp Hợp đồng tín dụng

Nguyên nhân gây ra tranh chấp HĐTD rất đa dạng, có thể xem xét theo nhiều tiêu thức khác nhau Một trong những cách tiếp cận thông dụng là phân tích nguyên nhân gây ra từ phía bên cho vay, bên vay và những quy định của pháp luật

 Nguyên nhân từ phía bên cho vay

Thông thường phía ngân hàng vi phạm nghĩa vụ giải ngân cho khách hàng như trong hợp đồng Các TCTD không tuân thủ chế độ tín dụng và điều kiện cho vay Đôi khi ngân hàng cho vay mà không tiến hành quy trình thẩm định theo nguyên tắc 6cs, điều mà các định chế tài chính quốc tế luôn cảnh báo là: 6cs tính cách người vay character), năng lực trả nợ capacity), dòng tiền mặt cash follow), tài sản thế chấp collaral), các điều kiện môi trường conditions), sự kiểm soát control), mà ngân hàng lại dựa vào nhận định của các nhân viên của mình Trên thực tế, khi tiến hành thẩm định bên cho vay không thể kiểm tra được bên vay có thông qua một TCTD đen nào hay không

Ở Việt Nam, ngân hàng chưa có chính sách hợp lý và quy trình cho vay hiệu quả, cơ chế phân tích và quản lý rủi ro còn hạn chế

Việc đánh giá biện pháp bảo đảm tiền vay còn hạn chế, chưa phân tích, đánh giá các điều kiện về biện pháp bảo đảm tiền vay TCTD đánh giá về biện pháp bảo đảm tiền vay còn dựa vào tài liệu do bên vay xuất trình mà chưa có

sự kiểm tra thực tiễn Trình độ thẩm định của nhân viên ngân hàng còn chưa

Trang 39

cao, nên có những sai xót và thiếu chặc chẽ - kết quả thẩm định chưa đạt yêu cầu

Mối quan hệ giữa ngân hàng và khách hàng còn hạn chế - trong thực tế bên ngân hàng không nắm rõ ràng các thông tin chính xác về khách hàng, không biết chính xác là khách hàng vay vốn và có sử dụng vốn vay đúng mục đích trong hợp đồng hay không

Một số nhân viên ngân hàng còn thiếu phẩm chất đạo đức cũng như thiếu năng lực nên trong việc cho vay có đảm bảo nghĩa vụ trả nợ bằng tài sản thế chấp mà bên vay vẫn được giữ cả giấy tờ gốc chứng minh tài sản thế chấp của mình Điều này dẫn đến có thể bên vay lại đem bán tài sản đã thế chấp ở ngân hàng cho người thứ ba Lúc này ngân hàng và người thứ ba có sự tranh chấp về quyền tài sản – tài sản đã được thế chấp bằng danh nghĩa ở ngân hàng

Thông qua phân tích trên ta nhận thấy, ngân hàng cần tuân thủ nghiêm túc quy trình, điều kiện cho vay, các quy định của pháp luật liên quan, cần nâng cao hơn nữa đội ngũ nhân viên ngân hàng, xây dựng và nâng cao hệ thống thông tin tín dụng, có biện pháp để kiểm tra, giám sát hữu hiệu các hoạt động của bên vay theo những cam kết trong hợp đồng

 Nguyên nhân từ phía bên vay

Những nguyên nhân dẫn đến tranh chấp HĐTD do người vay như:

Bên vay không đảm bảo nghĩa vụ hoặc thực hiện không đầy đủ những nghĩa vụ của mình Thông thường do hai nguyên nhân: nguyên nhân khách quan và chủ quan

Nguyên nhân khách quan: là những nguyên nhân tác động ngoài ý chí, tầm kiểm soát của khách hàng như: do sự thay đổi của chính sách quản lý kinh

tế, do thiên tai, hoả hoạn, điều chỉnh quy hoạch, do thị trường biến động, quan

hệ cung cầu hàng hoá thay đổi … làm cho hoạt động của bên vay không thực hiện như kế hoạch đề ra

Nguyên nhân chủ quan: Cá nhân vay vốn không nắm được thông tin cần thiết về kế hoạch đầu tư, sản xuất khi vay vốn – dẫn đến tình trạng vay vốn về

Trang 40

đầu tư không có hiệu quả Có thể là do vốn tự có tham gia sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp không đáp ứng nhu cầu, năng lực điều hành còn hạn chế, thiếu thông tin thị trường và thông tin về các đối tác, bạn hàng làm ảnh hưởng tới quá trình sản xuất, công nghệ chưa được cải thiện nên sản phẩm tạo ra chưa

có tính cạnh tranh cao, hiệu quả kinh doanh kém, hậu quả là doanh nghiệp thua

l lâm vào tình trạng phá sản Cũng có trường hợp do bên vay cố tình đưa ra những thông tin sai sự thật ngay từ khi vay vốn nên khi về đầu tư hay sử dụng vào mục đích của mình không có hiệu quả

Nguyên nhân nữa là do bên vay còn thiếu hiểu biết về pháp luật, trình độ hiểu biết của bên vay còn hạn chế về những kiến thức pháp luật liên quan Có trường hợp bên vay ký hợp đồng trong khi bản thân không hiểu rõ về pháp luật, nên khả năng xảy ra những bất lợi cho mình là rất lớn

 Nguyên nhân do quy định của pháp luật

Xã hội luôn thay đổi theo nhiều chiều hướng khác nhau, các mối quan hệ

xã hội cũng đổi mới không ngừng kéo theo các giao dịch trong xã hội cũng có thêm nhiều yếu tố phức tạp và đa dạng hơn Trái lại, trên thực tế pháp luật nước ta chưa đáp ứng được nhu cầu của xã hội, chậm đổi mới dẫn tới hiện tượng pháp luật “chạy theo” sự thay đổi của xã hội, chứ pháp luật chưa thể dự kiến và điều chỉnh được các mối quan hệ xã hội sắp diễn ra Một điều đáng lưu

ý là sự hiểu biết về pháp luật của các bên trong hợp đồng còn chưa rõ ràng, mâu thuẫn với nhau về lợi ích giữa các bên dẫn đến nảy sinh tranh chấp Pháp luật nước ta quy định bên cho vay bắt buộc phải đưa ra các căn cứ pháp lý hay những lý do chính đáng nếu muốn từ chối khách hàng, vấn đề này chưa có văn bản hướng dẫn cụ thể Nên bên cho vay cho rằng cho vay là quyền của mình còn bên đi vay thì có quan điểm ngược lại, điều đó dễ dẫn đến mâu thuẫn

Những HĐTD theo mẫu do ngân hàng đưa ra đa phần là rất chặt chẽ cả

về hình thức và nội dung Thông thường những hợp đồng theo mẫu này gắn liền với lợi ích của ngân hàng

Ngày đăng: 29/06/2021, 17:12

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
13. Mai Hồng Quỳ 1999), “Thực tiễn tranh chấp kinh tế với việc hoàn thiện pháp luật kinh doanh”, Đề tài nghiên cứu khoa học và công nghệ cấp Bộ, thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực tiễn tranh chấp kinh tế với việc hoàn thiện pháp luật kinh doanh”
14. Nguyễn Thị Thu Thủy 2011), “Khả năng áp dụng TTRG trong tố tụng dân sự ở Việt Nam”, Nhà nước và Pháp luật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khả năng áp dụng TTRG trong tố tụng dân sự ở Việt Nam”
15. Đào Văn Hội 2004), Hoàn thiện pháp luật giải quyết tranh chấp kinh tế ở nước ta hiện nay, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoàn thiện pháp luật giải quyết tranh chấp kinh tế ở nước ta hiện nay
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
16. Dự án “Tăng cường tiếp cận công lý và bảo vệ quyền tại Việt Nam” 2015), Tài liệu hội thảo Góp ý Dự thảo báo cáo “Nghiên cứu và đề xuất cơ chế, mô hình giải quyết tranh chấp dân sự theo TTRG tại Tòa án Việt Nam”, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tăng cường tiếp cận công lý và bảo vệ quyền tại Việt Nam” 2015), "Tài liệu hội thảo Góp ý Dự thảo báo cáo “Nghiên cứu và đề xuất cơ chế, mô hình giải quyết tranh chấp dân sự theo TTRG tại Tòa án Việt Nam”
17. Công trình nghiên cứu khoa học cấp bộ về “Vấn đề xây dựng thủ tục TTDS rút gọn theo yêu cầu cải cách tự pháp và hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay, thực trạng và giải pháp” do Tiến sĩ Trần nh Tuấn, Trưởng Bộ môn tố tụng dân sự Đại học luật Hà Nội làm chủ nhiệm đề tài nghiên cứu, năm 2014 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Vấn đề xây dựng thủ tục TTDS rút gọn theo yêu cầu cải cách tự pháp và hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay, thực trạng và giải pháp”
18. Trần nh Tuấn 2015), Tham luận hội thảo Góp ý dự thảo báo cáo “Nghiên cứu và đề xuất cơ chế, mô hình giải quyết tranh chấp dân sự theo TTRG tại Tòa án Việt Nam”, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tham luận hội thảo Góp ý dự thảo báo cáo “Nghiên cứu và đề xuất cơ chế, mô hình giải quyết tranh chấp dân sự theo TTRG tại Tòa án Việt Nam”
19. Bài viết “Vấn đề áp dụng thủ tục rút gọn trong xét xử và thành lập Tòa giản lược trong hệ thống Tòa án nhân dân” của Ths.Trương Hòa Bình – Bí thư trung ương Đảng, Chánh án T NDTC Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Vấn đề áp dụng thủ tục rút gọn trong xét xử và thành lập Tòa giản lược trong hệ thống Tòa án nhân dân”
20. Bài viết “Hệ thống và thủ tục xét xử tại Tòa án đã đến lúc không thể trì hoãn nhu cầu cần có Tòa Đơn giản Thủ tục đơn giản” của TS. Vũ Thị Minh Hồng, Phó Trưởng ban Dân chủ pháp luật, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Hệ thống và thủ tục xét xử tại Tòa án đã đến lúc không thể trì hoãn nhu cầu cần có Tòa Đơn giản Thủ tục đơn giản”
23. Richard .A. Posner (2003), Economic Analysis of Law, Aspen Publishers, p.517 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Economic Analysis of Law
Tác giả: Richard .A. Posner
Năm: 2003
24. Charles E. Clark and Charles U. Samenow 1929), “The Summary Judgment”, Yale Law Journal. 38, p. 423-471 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The Summary Judgment”
6. Luật Bảo vệ người tiêu d ng năm 2010 7. Luật Đất đai năm 20138. Luật Nhà ở năm 2014 Khác
10. Nghị quyết số 42/2017/QH14 của Quốc hội về thí điểm xử lý nợ xấu của các TCTD Khác
11. Nghị quyết số 03/2018/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết tranh chấp về xử lý nợ xấu, tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu tại TAND Khác
22. BLTTDS Liên bang Nga quy định việc ban hành lệnh của Tòa án thuộc thẩm quyền của Thẩm phán hòa giải xét xử ở cấp sơ thẩm.II. Tài liệu tiếng nước ngoài Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w