Tuy nhiên việc giải quyết tranh chấp kinh tế, thương mại bằng Tòa án mặc dù về thủ tục và hoạt động đã được quy định rõ trong Bộ luật tố tụng dân sự nhưng trong thực tiễn, việc áp dụng v
Trang 1HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
TRẦN ĐỨC DŨNG
GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP KINH TẾ, THƯƠNG MẠI
TỪ THỰC TIỄN XÉT XỬ SƠ THẨM CỦA TÒA ÁN
NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT KINH TẾ
HÀ NỘI - 2021
Trang 2HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
TRẦN ĐỨC DŨNG
GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP KINH TẾ, THƯƠNG MẠI
TỪ THỰC TIỄN XÉT XỬ SƠ THẨM CỦA TÒA ÁN
NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Ngành: Luật Kinh tế
Mã số: 8.38.01.07
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS DƯƠNG QUỲNH HOA
HÀ NỘI - 2021
Trang 4MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Đặc thù của nền kinh tế Việt Nam hiện nay là nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Mặt khác khi nước ta đã gia nhập tổ chức thương mại thế giới (WTO), nhiều quan hệ kinh tế cũng mang những diện mạo sắc thái mới Tương ứng với sự đa dạng phong phú của các quan hệ này, các tranh chấp phát sinh trong lĩnh vực kinh doanh, thương mại ngày càng đa dạng, phức tạp
và với số lượng lớn [39] Ở Việt Nam nói chung cũng như ở TP Hồ Chí Minh nói riêng hầu hết các tranh chấp kinh tế, thương mại đều được lựa chọn giải quyết bằng con đường tòa án, bởi các bên tham gia hoạt động thương mại khi giao kết hợp đồng thương mại thường không biết và không nêu quy định lựa chọn trọng tài trong hợp đồng nên khi xảy ra tranh chấp không được áp dụng thủ tục này nên việc lựa chọn giải quyết tranh chấp kinh tế, thương mại theo thủ tục tòa án được coi là giải pháp hữu hiệu nhất
Hiện nay, có hai hình thức tài phán quan trọng, đó là Tòa án và Trọng tài Tòa án là cơ quan tố tụng, được thành lập và tổ chức hoạt động trên cơ sở quy định của pháp luật Trọng tài cũng là cơ quan tài phán nhưng mang tính chất của tài phán
tư, không đại diện cho quyền lực nhà nước Ở Việt Nam, các bên khi ký hợp đồng thường thỏa thuận lựa chọn hình thức giải quyết tranh chấp bằng Toà án như một giải pháp cuối cùng để bảo vệ có hiệu quả nhất các quyền và lợi ích của mình khi thất bại trong việc sử dụng cơ chế thương lượng, hoà giải [42] Tuy nhiên việc giải quyết tranh chấp kinh tế, thương mại bằng Tòa án mặc dù về thủ tục và hoạt động
đã được quy định rõ trong Bộ luật tố tụng dân sự nhưng trong thực tiễn, việc áp dụng vào giải quyết trong từng vụ án cụ thể còn nhiều bất cập và gặp khó khăn như
hệ thống pháp luật chưa hoàn thiện và đồng bộ, sự phối hợp của các cơ quan liên quan đến thủ tục giải quyết tranh chấp kinh tế, thương mại còn chậm trễ, nhận thức
về pháp luật của các đương sự tham gia trong vụ án còn hạn chế, chưa thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình…
Thành phố Hồ Chí Minh là trung tâm kinh tế lớn nhất của cả nước nên có số doanh nghiệp và công ty tương đối nhiều, trong những năm gần đây các tranh chấp
Trang 5kinh tế, thương mại đang có xu hướng gia tăng dưới nhiều hình thức khác nhau Trong thời gian vừa qua, công tác xét xử của Tòa án nhân dân TP Hồ Chí Minh cũng đã đạt được những thành quả nhất định Tuy nhiên, việc giải quyết tranh chấp kinh tế, thương mại của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh vẫn còn nhiều vướng mắc, quan điểm giải quyết giữa các Tòa án còn chưa thống nhất do pháp luật giải quyết còn nhiều quy định bất cập, chưa rõ ràng nhưng chưa có sự hướng dẫn cụ thể… Điều này đã ít nhiều làm giảm hiệu quả giải quyết tranh chấp kinh tế, thương mại của Tòa án, chưa thật sự đảm bảo việc giải quyết tranh chấp kinh tế, thương mại được công minh, nhanh chóng và chính xác; tình trạng tồn đọng án, giải quyết
án kéo dài vẫn còn đã gây không ít phiền hà, mệt mỏi cho đương sự, ảnh hưởng đến quyền và lợi ích cho các bên đương sự…Do đó, việc tiếp tục nghiên cứu các vấn đề pháp lý về giải quyết tranh chấp kinh tế, thương mại bằng Tòa án để đưa ra các giải pháp khoa học nhằm hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thực thi các quy định của pháp luật về giải quyết tranh chấp kinh tế, thương mại bằng Tòa án là vấn đề cấp thiết Xuất phát từ các yêu cầu khách quan về giải quyết tranh chấp thương mại bằng phương thức Tòa án nói chung và thực trạng giải quyết tranh chấp tại Thành
phố Hồ Chí Minh nói riêng, học viên lựa chọn đề tài “Giải quyết tranh chấp kinh
tế, thương mại từ thực tiễn xét xử sơ thẩm của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh” làm đề tài nghiên cứu cho mình
2 Tình hình nghiên cứu lên quan đến đề tài
Hiện tại, có rất nhiều công trình nghiên cứu và các công trình khoa học đã nghiên cứu về nội dung giải quyết tranh chấp kinh tế, thương mại bằng các phương thức khác nhau có thể kể đến như:
Tác giả Nguyễn Văn Trình (2019), Pháp luật về giải quyết tranh chấp kinh
doanh thương mại bằng tố tụng Tòa án - Thực tiễn tại Tòa án nhân dân TP Hồ Chí
định của pháp luật, thực trạng áp dụng tại TAND TP Hồ Chí Minh, tác giả nêu lên một số vướng mắc khi áp dụng pháp luật vào thực tiễn và đề xuất một số giải pháp
để phát huy ưu điểm, khắc phục những tồn tại của TAND TP Hồ Chí Minh trong quá trình giải quyết tranh chấp kinh tế, thương mại Qua đó, giúp cho việc giải
Trang 6quyết TC kinh tế, thương mại tại Tòa án trở nên hoàn thiện hơn, linh hoạt hơn để Tòa án luôn là sự lựa chọn của các bên để giải quyết các tranh chấp của mình khi phát sinh Tòa kinh tế TAND TP Hồ Chí Minh đảm nhận vai trò giải quyết các tranh chấp kinh tế, thương mại phát sinh trên địa bàn [43]
Tác giả Đinh Thị Trang (2013), Pháp luật về giải quyết tranh chấp kinh
doanh thương mại theo thủ tục tố tụng tòa án ở Việt Nam hiện nay, Luận văn thạc sĩ
Luật học của tác giả Đinh Thị Trang, bảo vệ tại Khoa Luật trực thuộc Đại học Quốc gia
Hà Nội Đánh giá thực trạng của pháp luật giải quyết tranh chấp kinh tế, thương mại bằng thủ tục tố tụng tại tòa án ở Việt Nam hiện nay So sánh thủ tục tố tụng tòa án với một số thủ tục tố tụng khác Tìm hiểu nguyên nhân và giải pháp hoàn thiện, nâng cao chất lượng giải quyết án kinh tế, thương mại tại tòa án Qua đó tìm hiểu, phát hiện ưu
và nhược điểm của thủ tục này để các cơ sở kinh tế, thương mại có được sự lựa chọn tốt nhất trong việc giải quyết các tranh chấp của mình, nhanh chóng khắc phục những hạn chế bất cập làm ảnh hưởng đến quá trình sản xuất kinh doanh Trên cơ sở đó đề xuất những phương hướng hoàn thiện pháp luật tố tụng hiện nay ở Việt Nam để phục
vụ tốt hơn trong quá trình hội nhập kinh tế thế giới [42]
Tác giả Nguyễn Thanh Lan (2018), Thực tiễn giải quyết các tranh chấp về
kinh doanh thương mại tại tòa án trên địa bàn tỉnh Bến Tre, Trường Đại học Kinh
tế Tp Hồ Chí Minh qua hệ thống cơ sở lý luận, các quy định của pháp luật về giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại thực áp dụng pháp luật hiện hành khi giải quyết tranh chấp tại Toà án địa phương Những qui định pháp luật điều chỉnh các quan hệ về kinh doanh thương mại và giải quyết các tranh chấp trong hoạt động thương mại của các chủ thể kinh doanh là cơ sở pháp lý quan trọng tạo điều kiện thuận lợi để tòa án giải quyết các tranh chấp giữa các đương sự khi tham gia tố tụng, tuy nhiên một số qui định vẫn còn thiếu sót hạn chế Trên cơ sở kết quả nghiên cứu luận văn đã đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện một số vấn đề về luật hình thức và một số vấn đề về luật nội dung trong hoạt động giải quyết các tranh chấp về kinh doanh thương mại, nhằm đáp ứng được những đòi hỏi mà công cuộc cải cách tư pháp và hội nhập quốc tế đã đặt ra và trên hết là quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể kinh doanh phải được giải quyết nhanh chóng, kịp thời và hiệu quả khi phát sinh tranh chấp [11]
Trang 7Tác giả Trịnh Hữu Bình (2017), Giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương
mại tại tòa án theo thủ tục rút gọn, Luận văn thạc sĩ Luật, Trường Đại học Trà
Vinh Trên cơ sở những quy định về trình tự thủ tục giải quyết các vụ án theo thủ tục rút gọn tại chương XVIII, XIX của BLTTDS năm 2015, luận văn được nghiên cứu tại Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh Tác giả phân tích những quy định mới của thủ tục rút gọn được quy định trong BLTTDS năm 2015 sau đó so sánh với thủ tục thông thường để thấy được những giá trị thiết thực của thủ tục rút gọn trong giải quyết án, điểm nổi bật là rút ngắn được thời gian giải quyết án mà vẫn đảm bảo tính khách quan của pháp luật, bên cạnh đó những hạn chế của điều luật từ giai đoạn nhận đơn khởi kiện, xác định chứng cứ, quyết định xét xử theo thủ tục rút gọn từ cấp sơ thẩm đến cấp phúc thẩm được tác giả nêu ra phân tích cụ thể, để giúp cho những người làm công tác xét xử nhận thức rõ hơn, thông suốt hơn về tính chất của một vụ kiện, từ đó xác định vụ án phải được giải quyết theo thủ tục rút gọn, qua đó
đề xuất hoàn thiện những hạn chế của pháp luật còn tồn tại, để thủ tục rút gọn được mang tính khả thi cao và là sự xác định lựa chọn hàng đầu của Thẩm phán trong hoạt động xét xử của Tòa án nhằm mang lại hiệu quả thiết thực [1]
Bên cạnh đó, tác tìm đọc: Hoàng Minh Chiến (2007), “Các phương thức giải
quyết tranh chấp thương mại”, Giáo trình Luật thương mại, Nxb Công An Nhân
Dân; Trần Đức Thắng, “Nhận diện tranh chấp thương mại”, Tạp chí Dân chủ và pháp luật; Trường Đại học Kiểm Sát Hà Nội, “Các yếu tố đảm bảo áp dụng pháp
luật trong giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại tại tòa án nhân dân”; Đặng
Thanh Hoa (2015), “Thủ tục rút gọn giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại
trong pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam”, Luận án Tiến sĩ Luật học, trường Đại
học Luật thành phố Hồ Chí Minh; Phạm Lê Mai Ly (2014), “Pháp luật hòa giải
tranh chấp kinh doanh thương mại ở Việt Nam”, Luận văn Thạc sĩ Luật học, khoa
Luật Đại học Quốc Gia Hà Nội do TS Phạm Thị Thanh Thủy hướng dẫn; “Thẩm
quyền dân sự theo loại việc của Tòa án về giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại”, Luận văn thạc sĩ Luật học của tác giả Nguyễn Thị Hiên, bảo vệ tại Khoa Luật
trực thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội, năm 2014; “Thực tiễn áp dụng pháp luật
Trang 8trong việc giải quyết các tranh chấp kinh doanh, thương mại tại Tòa án”, bài viết
của tác giả Triệu Thị Quỳnh Hoa đăng trên tạp chí Tòa án nhân dân số 19/2012…
Các công trình nghiên cứu kể trên đã nghiên cứu một số vấn đề lý luận và thực tiễn áp dụng pháp luật trong lĩnh vực tranh chấp thương mại, từ đó đánh giá được thực trạng giải quyết, tìm ra những tồn tại, hạn chế trong quá trình giải quyết tranh chấp Tuy nhiên, các công trình nêu trên chưa thực sự được áp dụng thực tiễn khoa học, khiến cho việc áp dụng luật trên thực tế trong công tác giải quyết tranh chấp thương mại bằng Tòa án còn gặp nhiều lúng túng, chưa có định hướng cụ thể Trên thực tế cũng chưa có công trình nào nghiên cứu về giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại tại Tòa án nhân dân TP Hồ Chí Minh
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu trên, đề tài xác định các nhiệm vụ cụ thể như: i) Nghiên cứu một số vấn đề lý luận về giải quyết tranh chấp kinh tế, thương mại theo con đường Tòa án như khái niệm tranh chấp và giải quyết tranh chấp kinh
tế, thương mại bằng con đường toà án
(ii) Nghiên cứu một số vấn đề lý luận về pháp luật điều chỉnh hoạt động giải quyết tranh chấp kinh tế, thương mại bằng Tòa án tại cấp sơ thẩm;
(iii) Nghiên cứu, phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật về giải quyết tranh chấp kinh tế, thương mại bằng toà án tại cấp sơ thẩm
iv) Phân tích, đánh giá thực tiễn áp dụng pháp luật về giải quyết tranh chấp kinh tế, thương mại tại Tòa án nhân dân TP Hồ Chí Minh
Trang 9v) Đưa ra phương hướng và đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả giải quyết tranh chấp kinh tế thương mại tại cấp sơ thẩm toà án ND TP HCM
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu về những vấn đề lý luận, thực trạng giải quyết tranh chấp kinh tế, thương mại bằng Tòa án theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành
về giải quyết tranh chấp kinh tế, thương mại tại Toà án nhân dân Luận văn cũng đồng thời đi sâu vào phân tích thực trạng giải quyết tranh chấp kinh tế, thương mại tại Toà án nhân dân TP Hồ Chí Minh tại các phiên xét xử sơ thẩm với những đặc thù nhất định so với các địa phương khác Qua đó thấy được những hạn chế trong quá trình giải quyết, đưa ra những giải pháp và kiến nghị hoàn thiện pháp luật cụ thể
và nâng cao chất lượng giải quyết kinh doanh, thương mại tại Tòa án nhân dân TP
Hồ Chí Minh
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Đề tài phân tích, nghiên cứu về thực tiễn giải quyết tranh chấp kinh tế, thương mại trong xét xử sơ thẩm tại Tòa án nhân dân TP Hồ Chí Minh từ năm 2016 đến năm 2020
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp luận
Đề tài được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận trên quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và chính sách, quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng, Nhà nước về pháp luật và các học thuyết khoa học pháp lý liên quan
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu, đề tài sử dụng các phương pháp sau đây: (i) Phương pháp phân tích - tổng hợp: Được sử dụng trong tất cả các chương nhằm lý giải những vấn đề thuộc về bản chất, các quan điểm liên quan đến vấn đề giải quyết tranh chấp kinh tế, thương mại theo con đường Tòa án tại Tòa án nhân dân TP Hồ Chí Minh Từ đó đánh giá được các ưu điểm, hạn chế và tìm ra nguyên nhân của những hạn chế đó nhằm xây dựng các giải pháp góp phần hoàn thiện hệ
Trang 10thống pháp luật về giải quyết tranh chấp trong lĩnh vực kinh doanh, thương mại bằng Tòa án ở nước ta hiện nay nói chung và tại TP Hồ Chí Minh nói riêng;
(ii) Phương pháp so sánh: Được sử dụng để so sánh số liệu các vụ việc được giải quyết hàng năm, số lượng vụ án thụ lý, kết quả giải quyết Từ đó rút ra những
ưu điểm và hạn chế của từng năm tại Tòa án nhân dân TP Hồ Chí Minh;
(iii) Phương pháp thống kê: Được sử dụng để thống kê các vụ án tranh chấp trong lĩnh vực kinh doanh, thương mại đã thụ lý và giải quyết tại Tòa án nhân dân
TP Hồ Chí Minh từ năm 2016 đến năm 2020
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Luận văn góp phần làm sáng tỏ cơ sở lý luận về việc giải quyết tranh chấp kinh tế, thương mại bằng con đường tòa án
Luận văn có thể dùng làm tư liệu tham khảo cho các cơ quan thực thi pháp luật, các sinh viên chuyên ngành luật học
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, phần Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, kết cấu của đề tài gồm 03 chương:
Chương 1 Những vấn đề lý luận và pháp luật về giải quyết tranh chấp kinh
tế, thương mại bằng Tòa án;
Chương 2 Thực trạng giải quyết tranh chấp kinh tế, thương mại từ thực tiễn xét xử sơ thẩm tại Tòa án nhân dân TP Hồ Chí Minh;
Chương 3 Phương hướng, giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả giải quyết tranh chấp kinh tế, thương mại tại Tòa án nhân dân cấp sơ thẩm;
Trang 11Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ GIẢI QUYẾT
TRANH CHẤP KINH TẾ, THƯƠNG MẠI BẰNG TÒA ÁN
1.1 Khái quát giải quyết tranh chấp kinh tế, thương mại bằng Tòa án
1.1.1 Khái niệm tranh chấp kinh tế, thương mại
Bất kỳ quốc gia nào trên thế giới khi phát triển nền kinh tế thị trường đều đề cao quyền tự do kinh doanh cho công dân, từ đó tạo ra động lực giúp cho thương nhân ra đời và phát triền một cách mạnh mẽ Khi các quan hệ kinh tế, thương mại ngày càng phát triển thì tranh chấp phát sinh từ hoạt động thương mại cũng ngày càng nhiều và phức tạp
Hiện nay, ở Việt Nam, cùng với sự phát triển và hội nhập kinh tế thế giới, khái niệm tranh chấp kinh tế, thương mại được sử dụng ngày càng phổ biến rộng rãi Theo từ điển Tiếng việt, thuật ngữ tranh chấp được hiểu là “sự bất đồng, mâu thuẫn về quyền và nghĩa vụ phát sinh giữa các bên có liên quan” [49]
Ở nước ta, khái niệm tranh chấp thương mại lần đầu tiên được đề cập trong Luật Thương mại 1997, cụ thể tại Điều 238 quy định “tranh chấp thương mại là tranh chấp phát sinh do việc không thực hiện hoặc thực hiện không đúng hợp đồng thương mại” Luật Thương mại số 36/2005/ QH11 (sau đây gọi chung là Luật Thương mại 2005), Luật Doanh nghiệp số 68/2014/QH13 (sau đây gọi chung là Luật Doanh nghiệp 2014) và Luật Trọng tài thương mại số 54/2010/QH12 (sau đây gọi chung là Luật Trọng tài thương mại 2010) không khái niệm thế nào là tranh chấp kinh tế, thương mại Trong Luật Thương mại 2005 chỉ đưa ra định nghĩa hoạt động thương mại “là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác” [13] Tại Điều 30 Bộ luật Tố tụng dân sự số 92/2015/QH13 (sau đây gọi chung là Bộ luật Tố tụng dân sự 2015) cũng chỉ quy định những trường hợp tranh chấp về kinh tế, thương mại thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án mà không có khái niệm cụ thể [24]
Theo tác giả Hoàng Minh Chiến: “Tranh chấp trong kinh doanh (hay tranh chấp thương mại) là những mâu thuẫn (bất đồng hay xung đột) về quyền và nghĩa vụ giữa
Trang 12các bên trong quá trình thực hiện các hoạt động kinh doanh hoặc có liên quan đến hoạt động kinh doanh” [3] Theo tác giả Nguyễn Hợp Toàn: “Tranh chấp kinh tế được hiểu
là sự bất đồng chính kiến, sự mâu thuẫn hay xung đột về quyền và lợi ích kinh tế giữa các chủ thể tham gia vào các quan hệ kinh tế ở các cấp độ khác nhau.” [38]
Mặc dù có nhiều quan niệm khác nhau về tranh chấp kinh tế, thương mại nhưng có thể hiểu một cách chung và khái quát nhất rằng: Tranh chấp kinh tế, thương mại là những vướng mắc, bất đồng, mâu thuẫn, xung đột về quyền và nghĩa
vụ giữa các bên trong quá trình thực hiện hoạt động thương mại giữa các cá nhân, tổ chức có đăng ký kinh doanh với nhau và đều có mục đích sinh lợi
1.1.2 Đặc điểm pháp lý của tranh chấp kinh tế, thương mại
Trong điều kiện kinh tế thị trường, với sự đa dạng của các loại hình kinh doanh và các phương thức kinh doanh, sự phát sinh những mâu thuẫn, bất đồng về quyền và nghĩa vụ giữa các chủ thể tham gia hoạt động trong lĩnh vực thương mại là điều khó tránh khỏi Dưới đây là một số đặc điểm pháp lý của tranh chấp kinh tế, thương mại:
Thứ nhất, tranh chấp kinh tế, thương mại xảy ra, hậu quả thiệt hại về vật chất
đối với các bên khi các bên không có sự thoả thuận thống nhất một cách giải quyết
có lợi nhất cho cả hai bên;
Thứ hai, mâu thuẫn, bất đồng giữa các bên trong quan hệ thương mại là điều
kiện cần và đủ để tranh chấp phát sinh Hoạt động thương mại của doanh nghiệp là hoạt động thiết lập một mạng lưới các hành vi thương mại, mà mục tiêu của các bên khi tham gia vào các quan hệ này là lợi nhuận Các bên tuy hợp tác, song vẫn cạnh tranh nhau để sao cho mình thu về được lợi ích nhiều nhất;
Thứ ba, Chủ thể chủ yếu của tranh chấp kinh tế, thương mại là thương nhân
Một tranh chấp được coi là tranh chấp thương mại khi có ít nhất một bên là thương nhân [36] Ngoài ra, tham gia vào các hoạt động thương mại còn có các cá nhân hoạt động thương mại một cách độc lập, thường xuyên không phải đăng ký kinh doanh (Không phải là thương nhân theo Luật thương mại) Tuy nhiên, cũng có một
số trường hợp, các cá nhân tổ chức khác cũng có thể là chủ thể của tranh chấp kinh
tế, thương mại như tranh chấp giữa công ty với thành viên công ty; tranh chấp giữa
Trang 13các thành viên công ty với nhau liên quan đến việc thành lập, hoạt động, hợp nhất, giải thể, chia, tách công ty; tranh chấp giữa các bên không phải là Thương nhân nhưng có thỏa thuận về việc giải quyết tranh chấp theo quy định của Luật Thương mại và các tranh chấp khác về kinh tế, thương mại;
Thứ tư, tranh chấp thương mại có tính chất đa dạng, phức tạp, từ tranh chấp
này có thể dẫn đến tranh chấp khác Đó là tính phức tạp và đa dạng của các quan hệ kinh tế giữa các chủ thể có lợi ích khác nhau trong nền kinh tế thị trường [11]
1.1.3 Giải quyết tranh chấp kinh tế, thương mại
Ngày nay, cùng với xu hướng hội nhập ngày càng tăng và sâu rộng vào nền kinh tế thế giới, các tranh chấp kinh doanh thương mại sẽ ngày càng gia tăng Việc lựa chọn các phương thức giải quyết giải quyết tranh chấp nói riêng hay các vấn đề liên quan đến quá trình giải quyết nói chung dựa trên một nguyên tắc đó là quyền tự định đoạt của các bên Quan hệ thương mại có thể được thiết lập bởi giữa các thương nhân với nhau hoặc là giữa thương nhân với bên không phải thương nhân Một tranh chấp được gọi là tranh chấp kinh doanh thương mại khi có ít nhất một bên tham gia là thương nhân Bên cạnh đó cũng có một số trường hợp, các cá nhân
tổ chức khác cũng có thể là chủ thể của tranh chấp thương mại như: giữa công ty – thành viên trong công ty; giữa các thành viên công ty với nhau có liên quan đến hoạt động, giải thể, chia tách,… công ty;…
Nội dung của tranh chấp thương mại là những xung đột như về quyền, về nghĩa vụ và về lợi ích của các bên trong hoạt động thương mại Các quan hệ thương mại có bản chất là các quan hệ tài sản, vì thế nội dung của tranh chấp thường liên quan trực tiếp đến lợi ích kinh tế của các bên Giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại có 4 phương thức Đó là hòa giải tranh chấp kinh doanh thương mại; thương lượng; giải quyết thông qua tố tụng tại Tòa Án; giải quyết qua trọng tài thương mại Từ những đặc điểm pháp lý của tranh chấp kinh tế, thương mại, đặt ra vấn đề cấp thiết đó là khi tranh chấp phát sinh, các bên tranh chấp phải tìm kiếm các giải pháp, cách thức để loại trừ tranh chấp và bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình một cách nhanh chóng, thuận lợi, có hiệu quả và không ảnh hưởng đến quá trình kinh doanh của mình [12]
Trang 14Giải quyết tranh chấp là việc cơ quan, tổ chức có thẩm quyền xem xét và ra quyết định xử lí các tranh chấp dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động, trên cơ sở xem xét các tài liệu, chứng cứ có trong vụ việc tranh chấp nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức
Theo từ điển tiếng Việt, “giải quyết tranh chấp là các hình thức, phương pháp nhằm giải quyết các bất đồng, mâu thuẫn về quyền và nghĩa vụ phát sinh giữa các bên có liên quan” [45]
Từ phân tích nêu trên, có thể hiểu rằng: Giải quyết tranh chấp kinh tế,
thương mại là cách thức mà các bên lựa chọn để giải quyết bất đồng xung đột quyền và lợi ích của các chủ thể trong quá trình hoạt động kinh tế, thương mại
1.1.4 Giải quyết tranh chấp kinh tế, thương mại bằng phương thức Tòa án
Giải tranh chấp kinh tế, thương mại bằng phương thức Tòa án là hình thức giải quyết tranh chấp thông qua hoạt động của cơ quan tài phán Nhà nước, nhân danh quyền lực Nhà nước để đưa ra phán quyết buộc các bên có nghĩa vụ thi hành,
kể cả bằng sức mạnh cưỡng chế [8]
Trong quá trình giải quyết các tranh chấp kinh tế, thương mại, tòa án phải tuân theo một trình tự, thủ tục nhất định mà pháp luật đã quy định, cụ thể đó là những nguyên tắc cơ bản; trình tự, thủ tục khởi kiện; trình tự, thủ tục giải quyết vụ việc tại tòa án, thi hành bản án, quyết định của tòa án; quyền và nghĩa vụ của những người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng cũng như của những cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan,… Đây chính là thủ tục tố tụng tòa án
Như vậy, tố tụng tòa án chính là trình tự, thủ tục mà pháp luật quy định để giải quyết các tranh chấp kinh tế, thương mại bằng tòa án
Thực tiễn pháp luật tố tụng của các nước cho thấy, tố tụng tòa án đều có chung một số đặc điểm cơ bản sau :
- Ở hầu hết các nước trên thế giới, thủ tục tố tụng tòa án áp dụng cho các tranh chấp kinh tế, thương mại được dựa trên nền tảng thủ tục tố tụng dân sự cùng với một số quy định đặc thù cho phù hợp với hoạt động kinh tế, thương mại, chẳng hạn như: về hội đồng xét xử, về thời gian của các trình tự tố tụng,… Do vậy, ở các quốc gia này người ta không hình thành luật tố tụng riêng cho các tranh chấp trong kinh doanh mà chỉ có luật về tố tụng dân sự
Trang 15Ví dụ: Ở Cộng hoà Liên bang Đức, Luật tố tụng đối với các vụ án dân sự và thương mại được quy định thống nhất trong Bộ luật tố tụng dân sự; ở Pháp, Anh và
Mỹ các tranh chấp trong lĩnh vực kinh doanh thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa
án đều được áp dụng theo thủ tục tố tụng dân sự [8]
- Tố tụng tòa án là thủ tục giải quyết tranh chấp kinh tế, thương mại của Tòa
án – một cơ quan Nhà nước, hoạt động xét xử của nó mang tính quyền lực Nhà nước nhằm thực hiện chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước và đóng vai trò là cơ quan bảo vệ pháp luật
- Phán quyết của tòa án được đảm bảo thi hành và thủ tục giải quyết của Tòa
án rất chặt chẽ, rất phức tạp và không thể thay đổi được Phán quyết của tòa án có thể bị kháng cáo, kháng nghị hoặc có thể được xem xét lại theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm
- Trong tố tụng tòa án, các phiên tòa xét xử thường được tổ chức công khai, bản án được công bố rộng rãi
* Ưu điểm và nhược của giải quyết tranh chấp kinh tế, thương mại bằng Tòa án
- Ưu điểm giải quyết bằng Tòa án
+ Tòa án là cơ quan xét xử của Nhà nước nên phán quyết của tòa án có tính cưỡng chế cao Trình tự, thủ tục tố tụng chặt chẽ; và đảm bảo hiệu lực thi hành của phán quyết tại Tòa Nếu các bên không chấp hành sẽ bị cưỡng chế bởi cơ quan thi hành án Các bên được bảo toàn quyền lợi và nghĩa vụ của mình bắt buộc phải thực hiện theo phán quyết của Tòa
+ Nguyên tắc xét xử công khai có tính răn đe đối với những thương nhân kinh doanh vi phạm pháp luật Đây cũng là một lợi thế; vì khi có những vụ xét xử công khai sẽ nhận ra những doanh nghiệp mang tính lừa lọc; hay vi phạm để tránh những trường hợp khác xảy ra
+ Các tòa án, đại diện cho chủ quyền quốc gia; có điều kiện tốt hơn các trọng tài viên trong việc tiến hành điều tra; có quyền cưỡng chế, triệu tập bên thứ ba đến tòa
+ Các bên không phải trả thù lao cho thẩm phán, ngoài ra chi phí hành chính rất hợp lý
Trang 16- Hạn chế giải quyết bằng Tòa án
+ Thủ tục tố tụng tại tòa án thiếu linh hoạt do đã được pháp luật quy định trước đó;
+ Phán quyết của tòa án thường bị kháng cáo Quá trình tố tụng có thể bị trì hoãn và kéo dài; có thể phải qua nhiều cấp xét xử; ảnh hưởng đến quá trình sản xuất, kinh doanh
+ Nguyên tắc xét xử công khai của tòa án tuy là nguyên tắc được xem là tiến bộ; mang tính răn đe nhưng đôi khi lại là cản trở đối với doanh nhân khi những bí mật kinh doanh bị tiết lộ; và uy tín trên thương trường bị giảm sút
Đối với các tranh chấp thương mại có yếu tố nước ngoài thì:
+ Phán quyết của tòa án thường khó đạt được sự công nhận quốc tế Phán quyết của tòa án được công nhận tại một nước khác thường thông qua hiệp định song phương hoặc theo nguyên tắc rất nghiêm ngặt
+ Mặc dù thẩm phán quốc gia có thể khách quan; họ vẫn phải buộc sử dụng ngôn ngữ và áp dụng quy tắc tố tụng của quốc gia họ và thường cùng quốc tịch với một bên
1.1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến giải quyết tranh chấp kinh tế, thương mại bằng Tòa án
Hoạt động xét xử của Tòa án nhân dân nói chung và hoạt động giải quyết các tranh chấp kinh tế, thương mại bằng Tòa án nói riêng là hoạt động áp dụng pháp luật Trong quá trình giải quyết tranh chấp thương mại bằng Tòa án, có những yếu
tố ảnh hưởng nhất định đến công tác xét xử, phán quyết của Tòa án Trong khuôn khổ của đề tài, em xin đưa ra một số yếu tố cơ bản sau:
Thứ nhất, hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật
Một trong những yếu tố quan trọng nhất tác động trực tiếp tới việc giải quyết tranh chấp kinh tế, thương mại bằng Tòa án là hệ thống pháp luật Khi áp dụng pháp luật nói chung, áp dụng pháp luật trong giải quyết tranh chấp kinh tế, thương mại nói riêng “Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật” hay nói một cách khác, khi giải quyết tranh chấp kinh tế, thương mại, Tòa án phải tuân theo và áp dụng các quy định của Hiến pháp, pháp luật Tố tụng dân sự và
Trang 17hệ thống các văn bản Luật chuyên ngành khác như: Bộ luật Dân sự 2015, Luật Thương mại 2005 (sửa đổi bổ sung 2017, 2019), Luật Quản lý ngoại thương 2017, Luật Phá sản 2014, Luật Cạnh tranh 2018, Luật Doanh nghiệp 2014, Luật Đầu tư
2014, Luật Sở hữu trí tuệ 2005 (sửa đổi bổ sung 2009, 2019), Luật Các tổ chức tín dụng 2010 (sửa đổi bổ sung 2017), hệ thống văn bản Luật Ngân hàng nhà nước Việt Nam 2010, Luật Ngân sách nhà nước 2015… nhằm đưa ra bản án, quyết định chính xác nhất, đúng pháp luật, có hiệu quả cao Đặc biệt, trong thời gian giao thoa hiệu lực giữa các văn bản Luật với nhau hiện nay thì vẫn còn nhiều vướng mắc và bất cập, ví dụ như Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 đã có hiệu lực, tuy nhiên Tòa án cần phải có các văn bản hướng dẫn để áp dụng, từ đó dẫn tới việc kéo dài thời gian giải quyết vụ án
Xã hội thì luôn luôn vận động và phát triển, còn pháp luật thì vẫn “đứng yên” Trong quá trình làm luật, các nhà làm luật không thể dự liệu được hết tất cả các tình huống có thể xảy ra, từ đó pháp luật trở nên “cũ” không theo kịp với xu hướng phát triển của kinh tế, xã hội Do vậy, khi áp dụng pháp luật để giải quyết các tranh chấp kinh tế, thương mại Tòa án sẽ gặp những trở ngại và khó khăn nhất định điển hình là Luật Thương mại sửa đổi 2019 Chính vì vậy, hệ thống pháp luật ảnh hưởng trực tiếp đến việc giải quyết tranh chấp kinh tế, thương mại theo con đường Tòa án [13]
Thứ hai, năng lực đội ngũ cán bộ công chức Tòa án
Thực tế đã chứng minh, hiệu quả hoạt động xét xử của Tòa án phụ thuộc vào nhiều điều kiện, yếu tố, những nguyên nhân chủ quan, khách quan khác nhau, trực tiếp hoặc gián tiếp Một trong những yếu tố vô cùng quan trọng ảnh hưởng trực tiếp đến việc giải quyết tranh chấp kinh tế, thương mại bằng Tòa án đó là chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức ngành Tòa án mà trước hết là trình độ chuyên môn, phẩm chất đạo đức, năng lực, tinh thần trách nhiệm của đội ngũ Thẩm phán
Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân là những người trực tiếp được giao nhiệm vụ giải quyết các tranh chấp kinh tế, thương mại, nhân danh nhà nước để ra phán quyết Do vậy, chất lượng đội ngũ cán bộ tham gia giải quyết tranh chấp cần phải có chất lượng cao, có thể kể đến một số tiêu chí sau:
Trang 18- Nắm vững các quy định của pháp luật về lĩnh vực kinh tế, thương mại, thu thập và xử lý thông tin để thực hiện có hiệu quả chức năng, quyền hạn, nhiệm vụ được giao;
- Có đạo đức nghề nghiệp tốt…
Có như vậy thì khi giải quyết tranh chấp mới đạt hiệu quả cao, thời gian ngắn, ít tốn kém Nếu Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân không có trình độ, đạo đức nghề nghiệp không cao thì khi giải quyết tranh chấp sẽ đưa ra một phán quyết kém chất lượng, từ đó dẫn đến hậu quả án bị hủy, bị sửa… làm cho thời gian kéo dài, chi phí tốn kém Đặc thù của kinh tế, thương mại là mục đích lợi nhuận, cần phải nắm bắt cơ hội làm ăn… do đó, nếu vụ án kéo dài thì các thương nhân khó lòng có thể yên tâm thực hiện các công việc kinh doanh, hoạt động thương mại của mình Vì vậy, đội ngũ Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân cũng ảnh hưởng lớn đến việc giải quyết tranh chấp kinh tế, thương mại bằng Tòa án
Thứ ba, về cơ sở vật chất và chế độ đãi ngộ
Cơ sở vật chất của Tòa án và chế độ đãi ngộ đối với cán bộ ngành Tòa án cũng có ảnh hưởng không nhỏ đến việc giải quyết tranh chấp kinh tế, thương mại bằng Tòa án Cơ sở vật chất phục vụ trực tiếp đến việc giải quyết tranh chấp trong lĩnh vực kinh tế, thương mại bao gồm: trụ sở làm việc, các phương tiện kỹ thuật phục vụ cho công tác giải quyết tranh chấp, các tài liệu tham khảo, tài kiệu tra cứu (sách, báo, văn bản luật…) có những ảnh hưởng nhất định đến việc nâng cao chất lượng xét xử của Tòa án Chế độ đãi ngộ tốt sẽ khuyến khích cán bộ hăng hái làm việc, công tâm, chống lại sự tha hóa, biến chất, bị mua chuộc, tham nhũng, nhận hối lộ… Khi chế độ đãi ngộ không chú trọng, không được hợp lý thì đội ngũ cán bộ Tòa
án sẽ có hiện tượng lơ là công việc, vòi vĩnh các đương sự… từ đó làm sai lệch hồ
sơ vụ án và có những bản án, quyết định không đúng với vụ việc tranh chấp, không đúng tinh thần của pháp luật Do vậy, cơ sở vật chất và chế độ đãi ngộ ảnh hưởng không nhỏ đến việc giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại bằng Tòa án
1.1.6 Vai trò của phương thức giải quyết tranh chấp kinh tế, thương mại bằng Tòa án
Khi có tranh chấp phát sinh trong hoạt động thương mại, các bên phải tìm cách giải quyết và tháo gỡ các bất đồng, xung đột, trong đó có phương thức giải quyết tranh chấp tại Tòa án Cùng với các vai trò chung, giải quyết quyết tranh chấp kinh tế, thương mại bằng Tòa án cũng có những vai trò nhất định
Trang 19Thứ nhất, giải quyết tranh chấp kinh tế, thương mại bằng Tòa án góp phần ổn
định môi trường kinh doanh
Hoạt động thương mại là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, trong đó các thương nhân hướng đến mục đích của cuối cùng của hoạt động này là lợi nhuận Khi có tranh chấp xảy ra giữa các bên thì sẽ có những tác động tiêu cực đến hoạt động kinh doanh của các thương nhân Thông thường, họ sẽ theo đuổi đến cùng vụ tranh chấp để bảo vệ quyền và lợi ích một cách tối đa cho mình, tuy nhiên nếu không tìm cách giải quyết kịp thời, các thương nhân sẽ bỏ bê công việc làm ăn hiện tại và cũng như các cơ hội đầu tư kinh doanh ngay trước mắt để đuổi theo một tranh chấp đang diễn ra Khi tranh chấp diễn ra quá lâu mà các bên chưa giải quyết được thì sẽ dẫn đến sự mệt mỏi, tiêu tốn tiền của và kéo dài thời gian, từ đó dẫn tới lãng phí thời gian và tiền bạc và các cơ hôi làm ăn kinh doanh [35]
Khi tranh chấp được giải quyết tại Tòa án, các bên có thể yên tâm tiếp tục thực hiện hoạt động kinh tế, thương mại của mình bởi lẽ Tòa án là cơ quan xét xử của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, nhân danh quyền lực nhà nước ra phán quyết, phán quyết của Tòa án được đảm bảo thực hiện bởi nhà nước Do đó, bản án, quyết định của Tòa án được áp dụng một cách triệt để Vì vậy, khi giải quyết tranh chấp thương mại bằng Tòa án sẽ giúp cho hoạt động kinh doanh của các thương nhân được ổn định và phát triển
Mặt khác, đặc trưng trong lĩnh vực kinh tế, thương mại là tính chất đa dạng, phong phú và phức tạp, từ tranh chấp này có thể dẫn đến tranh chấp khác Từ đó, khi giải quyết triệt để được tranh chấp này sẽ làm ngăn ngừa được các tranh chấp khác phát sinh, tránh cả một chuỗi dài nảy sinh tranh chấp dẫn đến môi trường kinh doanh bị đảo lộn không được ổn định, các hoạt động kinh tế, thương mại của các Thương nhân trong nền kinh tế cũng khó có thể phát triển một cách ổn định, ít nhiều cũng bị ảnh hưởng bởi các tranh chấp Do vậy, với hoạt động xét xử của Tòa án, Tòa án là người thứ ba đứng ra để giải quyết, tháo gỡ các bất đồng, xung đột giữa các bên, từ đó làm giảm thiểu được đáng kể các tranh chấp xảy ra và phòng ngừa được các tranh chấp khác có thể phát sinh Vì vậy, việc giải quyết tranh chấp thương mại của Tòa án có vai trò ổn định môi trường kinh doanh [38]
Trang 20Thứ hai, giải quyết tranh chấp kinh tế, thương mại bằng Tòa án có vai trò
bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bên bị xâm phạm
Khi thương nhân cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm, thì thương nhân được quyền khởi kiện ra Tòa án để yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho mình Khi giải quyết tranh chấp, Tòa án dựa vào tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và diễn biến phiên tòa để xem xét bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bên bị xâm hại Toà án sẽ ra quyết định, bản án để buộc bên xâm hại phải chịu các chế tài mà Tòa án áp dụng Nếu bên xâm hại không thực hiện những hành vi mà Tòa án yêu cầu thì có thể bị cưỡng chế thực hiện bởi cơ quan Thi hành án và các cơ quan chức năng có thẩm quyền khác Thông thường, bên xâm hại
sẽ phải hoàn trả những gì mà đã gây thiệt hại cho bên bị xâm hại, ngoài ra còn phải bồi thường và bị phạt vi phạm hợp đồng (nếu trong hợp đồng có thỏa thuận việc phạt vi phạm) Từ đó có thể thấy rằng, Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bên bị xâm hại bằng các chế tài và được đảm bảo thực hiện bằng quyền lực Nhà nước
1.2 Khái quát pháp luật điều chỉnh về giải quyết tranh chấp kinh tế, thương mại bằng Tòa án
1.2.1 Khái niệm, đặc điểm pháp luật giải quyết tranh chấp kinh tế, thương mại bằng Tòa án
1.2.1.1 Khái niệm pháp luật giải quyết tranh chấp kinh tế, thương mại bằng Tòa án
Để xem xét một cách toàn diện và đầy đủ về bản chất, vai trò, chức năng cũng như giá trị của pháp luật giải quyết tranh chấp thương mại tại Tòa án trước hết đòi hỏi phải làm sáng tỏ pháp luật giải quyết tranh chấp thương mại bằng Tòa án là gì?
Trước hết cần phải hiểu thế nào là pháp luật hay nói một cách khác pháp luật
là gì? Theo quan điểm Mác - Lênin, “pháp luật là hệ thống các quy tắc xử sự chung
do nhà nước ban hành hoặc thừa nhận nhằm điều chỉnh các mối quan hệ xã hội theo mục tiêu và định hướng cụ thể và được đảm bảo thực hiện bởi nhà nước” Như vậy,
có thể thấy đặc điểm của pháp luật là tính giai cấp, tính quy phạm phổ biến, tính bắt buộc chung, tính được đảm bảo bởi Nhà nước [38]
Trong hoạt động kinh tế, thương mại, khi có tranh chấp phát sinh, tùy thuộc vào đặc điểm, tính chất của tranh chấp, các bên sẽ lựa chọn phương thức giải quyết tranh chấp sao cho phù hợp, trong đó có phương thức giải quyết tranh chấp bằng
Trang 21Tòa án Như đã phân tích ở phần trên, giải quyết tranh chấp kinh tế, thương mại bằng Tòa án là phương thức giải quyết tranh chấp tại cơ quan xét xử nhân danh quyền lực Nhà nước, được tiến hành theo một trình tự, thủ tục chặt chẽ Bản án hoặc phán quyết của Tòa án về vụ tranh chấp nếu không có sự tự nguyện tuân thủ sẽ được đảm bảo thực hiện bằng sự cưỡng chế của Nhà nước
Trong quá trình giải quyết tranh chấp bằng Tòa án, các bên tranh chấp phải tuân thủ các quy định của pháp luật đặc biệt là các quy định về giải quyết tranh chấp kinh tế, thương mại tại Tòa án bao gồm:
- Các quy phạm pháp luật quy định về trình tự, thủ tục về giải quyết tranh chấp kinh tế, thương mại bằng Tòa án
- Các quy phạm pháp luật quy định về nguyên tắc, thẩm quyền giải quyết tranh chấp kinh tế, thương mại bằng Tòa án
- Các quy phạm pháp luật quy định về quyền và nghĩa vụ của các bên trong quá trình giải quyết tranh chấp tranh chấp kinh tế, thương mại bằng Tòa án
Từ những phân tích trên, có thể hiểu rằng: Pháp luật giải quyết tranh chấp kinh tế, thương mại bằng Tòa án là tổng thể các quy phạm pháp luật do nhà nước ban hành hoặc thừa nhận và được đảm bảo thực hiện nhằm điều chỉnh các quan hệ phát sinh trong việc giải quyết các tranh chấp kinh doanh thương mại thông qua hoạt động xét xử của Tòa án
1.2.1.2 Đặc điểm pháp luật giải quyết tranh chấp kinh tế, thương mại bằng Tòa án
Cùng với đặc điểm của pháp luật nói chung, pháp luật giải quyết tranh chấp kinh tế, thương mại tại Tòa án có những đặc điểm sau:
Thứ nhất, pháp luật giải quyết tranh chấp kinh tế, thương mại tại Tòa án do
nhà nước ban hành
Theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật 2015 (sửa đổi, bổ sung 2020) thì chỉ có những văn bản quy phạm pháp luật được ban hành theo đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Luật thì mới có giá trị pháp lý Pháp luật trong lĩnh vực kinh tế, thương mại cũng tương tự, chỉ có những văn bản nào do Nhà nước ban hành theo trình tự, thủ tục Luật định thì mới có giá trị
áp dụng, nếu không được ban hành theo Luật định thì sẽ không có giá trị pháp lý
Trang 22Các văn bản pháp luật điều chỉnh hoạt động giải quyết tranh chấp kinh tế, thương mại bằng Tòa án có thể kể đến như sau, Bộ luật tố tụng dân sự số 92/2015/QH13; Luật Thương mại số 36/2005/QH11; Luật Doanh nghiệp số 68/2014/QH13 và các văn bản Luật chuyên ngành khác
Thứ hai, pháp luật giải quyết tranh chấp kinh tế, thương mại tại Tòa án mang
tính quyền lực nhà nước
Pháp luật giải quyết tranh chấp kinh tế, thương mại bằng Tòa án mang tính quyền lực nhà nước vì pháp luật là do nhà nước ban hành và bảo đảm thực hiện, nhờ có sự bảo đảm của Nhà nước mà pháp luật mới có sức mạnh bắt buộc đối với mọi chủ thể liên quan Quá trình giải quyết tranh chấp kinh tế, thương mại tại Tòa
án là sử dụng quyền lực Nhà Nước, nhân danh Nhà nước giải quyết các tranh chấp Trong quá trình giải quyết tranh chấp trong lĩnh vực kinh tế, thương mại tại Tòa án, mọi khía cạnh, mọi tình tiết của vụ việc đều phải được xem xét cẩn trọng và dựa trên các cơ sở quy định, yêu cầu của quy phạm pháp luật đã được xác định để ra các quyết định cụ thể Pháp luật còn là cơ sở để Tòa án có thẩm quyền áp dụng pháp luật nhằm thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình [8]
Thứ ba, pháp luật giải quyết tranh chấp kinh tế, thương mại bằng Tòa án
được Nhà nước bảo đảm thực hiện
Tòa án giải quyết tranh chấp kinh tế, thương mại trên cơ sở đơn khởi kiện của một hoặc các bên tranh chấp yêu cầu Tòa án có thẩm quyền giải quyết vụ án theo Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 Tòa án là cơ quan xét xử của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Vệt Nam, thực hiện quyền tư pháp, nhân danh quyền lực nhà nước để
ra phán quyết Do vậy phán quyết của Tòa án (bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật) có giá trị bắt buộc thi hành đối với các bên bằng sức mạnh cưỡng chế của Nhà nước Sự cưỡng chế của Nhà nước được biểu hiện thông qua các chế tài từ hành chính đến hình sự và các cơ quan chuyên môn, điển hình là cơ quan Thi hành án dân sự 2008 (sửa đổi, bổ sung 2014) [14]
Khi bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật trong việc giải quyết tranh chấp thương mại “cá nhân, cơ quan, tổ chức có liên quan trong phạm vi trách nhiệm của mình chấp hành nghiêm chỉnh bản án, quyết định và phải chịu trách
Trang 23nhiệm trước pháp luật về việc thi hành án” Nhà nước luôn luôn khuyến khích các bên tự nguyện thi hành, đặc biệt, các bên có thể thỏa thuận về việc thi hành án, nếu thỏa thuận đó không vi phạm điều cấm của pháp luật và trái đạo đức xã hội Tuy nhiên, trong quá trình thi hành án, không phải lúc nào bên phải thi hành án cũng tự nguyện thi hành án một cách đầy đủ, kị thời, do vậy để đảm bảo bản án, quyết định của Tòa án được thực hiện một cách nghiêm chỉnh, đúng pháp luật thì Nhà nước đã đưa ra các biện pháp bảo đảm và cưỡng chế thi hành Theo khoản 3 Điều 66 Luật Thi hành án dân sự 2008 (sửa đổi, bổ sung 2014) các biện pháp bảo đảm thi hành án bao gồm: Phong tỏa tài sản; tạm giữ tài sản, giấy tờ; tạm dừng việc đăng ký, chuyển dịch, thay đổi hiện trạng về tài sản Đồng thời, các biện pháp cưỡng chế thi hành án
sẽ được áp dụng nếu bên phải thi hành án không thi hành hoặc thi hành không đúng bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật Các biện pháp cưỡng chế có thể kể ra như: khấu trừ tiền trong tài khoản, thu hồi, xử lý tiền, giấy tờ có giá của bên phải thi hành án; trừ vào thu nhập của bên phải thi hành án; kê biên, xử lý tài sản của người phải thi hành án, kể cả tài sản đang do người thứ ba giữ; buộc bên phải thi hành án thực hiện hoặc không thực hiện công việc nhất định…
Như vậy, với độ ngũ cán bộ, công chức Thi hành án dân sự và các biện pháp bảo đảm, các chế tài thì bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật trong việc giải quyết tranh chấp kinh tế, thương mại được đảm bảo thực hiện bằng sự cưỡng chế của Nhà nước
Thứ tư, pháp luật giải quyết tranh chấp kinh tế, thương mại bằng con đường
Tòa án luôn luôn khuyến khích hòa giải và tôn trọng sự thỏa thuận của các bên
Một trong những nguyên tắc cơ bản và vô cùng quan trọng trong lĩnh vực kinh tế, thương mại là nguyên tắc tự do, tự nguyện thỏa thuận trong hoạt động kinh tế, thương mại Các bên có quyền tự do thỏa thuận không trái với các quy định của pháp luật, thuần phong mỹ tục và đạo đức xã hội để xác lập các quyền
và nghĩa vụ của các bên trong hoạt động thương mại, Nhà nước tôn trọng và bảo
hộ các quyền đó; trong hoạt động kinh tế, thương mại, các bên hoàn toàn tự nguyện, không bên nào được thực hiện hành vi áp đặt, cưỡng ép, đe dọa, ngăn cản bên nào Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 cũng quy định nguyên tắc hòa giải trong tố tụng dân sự, theo đó, Tòa án có trách nhiệm tiến hành hòa giải và tạo điều kiện thuận lợi để các đương sự thỏa thuận với nhau về việc giải quyết tranh chấp theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015
Trang 24Xuất phát từ các nguyên tắc trên, trong quá trình giải quyết tranh chấp kinh
tế, thương mại, Tòa án tiến hành hòa giải nhằm giúp đỡ các đương sự thỏa thuận với nhau về việc giải quyết tranh chấp Hoạt động hòa giải được tiến hành trước khi xét xử sơ thẩm vụ án tranh chấp kinh tế, thương mại Nếu các bên tranh chấp thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết những mâu thuẫn, bất đồng, xung đột thì Tòa án ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của các bên, trừ những vụ án không được hòa giải và không hòa giải được
Trong quá trình giải quyết vụ án, các bên tranh chấp có thể tự thỏa thuận, hòa giải với nhau về việc giải quyết tranh chấp đang xảy ra Khi các bên đã tự hòa giải được, các bên yêu cầu Tòa án công nhận sự thỏa thuận của mình Trong hời hạn
07 ngày, kể từ ngày lập biên bản hòa giải thành mà không có đương sự nào thay đổi
ý kiến về sự thỏa thuận đó thì Thẩm phán ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của các bên Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các bên có hiệu lực pháp luật ngay sau khi ban hành
Như vậy, pháp luật giải quyết tranh chấp kinh tế, thương mại bằng Tòa án luôn luôn tôn trọng sự thỏa thuận của các bên bởi lẽ “việc dân sự cốt ở hai bên”
1.2.2 Nội dung của pháp luật giải quyết tranh chấp kinh tế, thương mại bằng Tòa án
1.2.2.1 Thẩm quyền giải quyết tranh chấp kinh tế, thương mại của Tòa án
Trong hoạt động kinh doanh, tranh chấp xẩy ra là ngoài sự mong muốn của các chủ thể khi tham gia các giao dịch, hợp đồng Song, cần nhận thức rằng tranh chấp trong kinh doanh là vấn đề tự nhiên và tất yếu của bất kỳ nền kinh tế nào trên thế giới Khi xẩy ra tranh chấp, khi các bên không đạt được phương thức hòa giải thì buộc phải qua con đường tranh tụng tại Tòa án hoặc trọng tài để giải quyết các tranh chấp
Theo tác giả Lê Hoài Nam thì “thẩm quyền là quyền được thực hiện những hành vi pháp lý mà pháp luật giao cho một tổ chức hoặc một nhân viên nhà nước
Như vậy, dưới những góc độ khác nhau thì khái niệm “thẩm quyền” được giải thích có đôi chút khác nhau Tuy nhiên, có thể chung quy lại, “thẩm quyền
là thuật ngữ dùng để chỉ phạm vi, giới hạn chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của
cá nhân hoặc cơ quan nhà nước trong việc thực thi quyền lực nhà nước được pháp luật quy định”
Thẩm quyền gắn liền với quyền và nhiệm vụ mà pháp luật quy định cho cơ quan nhà nước, người nắm giữ những chức vụ lãnh đạo, quản lí trong các cơ quan
Trang 25đó để thực hiện chức năng và nhiệm vụ của họ Thẩm quyền của mỗi cơ quan và cá nhân được phân định theo lĩnh vực, ngành, khu vực hành chính, cấp hành chính Trong mỗi ngành, thẩm quyền được phân định theo chức năng, nhiệm vụ của ngành như thẩm quyền của Toà án nhân dân là xét xử Tuy nhiên, một loại việc có thể thuộc thẩm quyền của một hoặc nhiều cơ quan, cá nhân trong các ngành, cấp khác nhau
Trong pháp luật hiện hành của Việt Nam, thuật ngữ “thẩm quyền” thường được sử dụng trong các cụm từ như: “thẩm quyền xét xử”, “thẩm quyền điều tra”
“cơ quan có thẩm quyền”, “người có thẩm quyền”, “cấp có thẩm quyền”, “thẩm quyền của Toà án nhân dân”, “thẩm quyền của Viện kiểm sát nhân dân”, thẩm quyền của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân” Thẩm quyền xét xử của Toà án
Thẩm quyền là quyền chính thức được xem xét để kết luận và định đoạt, quyết định một vấn đề Trong khoa học pháp lý: Thẩm quyền là một khái niệm quan trọng, trung tâm Thẩm quyền được hiểu là tổng hợp các quyền và nghĩa vụ hành động, quyết định của các cơ quan, tổ chức thuộc hệ thống bộ máy Nhà nước do pháp luật quy định
Thẩm quyền của Tòa án là toàn bộ những quyền do pháp luật quy định, theo
đó Tòa án được tiến hành xem xét, giải quyết những vụ việc cụ thể theo quy định
tế, thương mại bằng Tòa án “là quyền của tòa án trong việc xem xét giải quyết các
vụ án về tranh chấp kinh tế, thương mại theo quy định của pháp luật và quyền ra bản án, quyết định khi giải quyết vụ việc đó”
1.2.2.2 Thời hiệu khởi kiện và thời hạn giải quyết vụ án tranh chấp kinh tế, thương mại bằng Tòa án
* Thời hiệu khởi kiện vụ án tranh chấp kinh tế, thương mại
Khoản 1 Điều 149 Bộ luật dân sự 2015, thời hiệu là thời hạn do luật quy định
mà khi kết thúc thời hạn đó thì phát sinh hậu quả pháp lý đối với chủ thể theo điều kiện do luật quy định
Trong quan hệ kinh tế, thương mại chủ thể tham gia quan hệ này được hường các quyền và phải thực hiện các nghĩa vụ dân sự Sự ổn định các quan hệ kinh tế,
Trang 26thương mại là một trong những mục đích điều chỉnh của pháp luật dân sự Mặt khác, đối tượng của giao lưu kinh tế, thương mại chủ yếu là tài sản để phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng, sản xuất, kinh doanh, cho nên tài sản luôn có sự biến đổi về hình thức và tính năng, tác dụng Do vậy cùng với sự thay đổi về thời gian thì tài sản có thể không còn tồn tại Khi có hành vi vi phạm đến quyền tài sản của mình, người khởi kiện phải chứng minh nguồn gốc tài sản, loại tài sản, hình thức của tài sản… Tuy nhiên, với thời gian càng lâu thì việc chứng minh càng gặp khó khăn và nhiều trường hợp không thể chứng minh được Do vậy pháp luật quy định một thời hạn nhất đinh cho sự phát sinh, tồn tại hay chấm dứt quyền nghĩa vụ dân sự, thời hạn này được gọi là thời hiệu
Thời hiệu đóng một vai trò quan trọng trong việc ổn định các quan hệ kinh
tế, thương mại Nếu không quy định thời hiệu, mỗi chủ thể tham gia vào quan hệ kinh tế, thương mại luôn bị đe dọa bởi tranh chấp có thể xảy ra, làm ảnh hưởng đến quyền lợi và đời sống của họ Hơn nữa các căn cứ phát sinh quan hệ kinh tế, thương mại do thời gian làm cho quá trình chứng minh phức tạp Khi giải quyết các tranh chấp kinh tế, thương mại, Toà án cần phải tiến hành điều tra thu thập chứng cứ để xác định sự thật khách quan nên nếu thời gian đã qua đi quá lâu, quá trình thu thập chứng cứ khó bảo đảm chính xác
Như vậy, thời hiệu khởi kiện vụ án tranh chấp kinh tế, thương mại là thời hạn do luật quy định mà khi kết thúc thời hạn đó thì phát sinh hậu quả pháp lý đối với chủ thể theo điều kiện do luật quy định
* Thời hạn giải quyết tranh chấp kinh tế, thương mại bằng Tòa án
Thời gian theo khái niệm chung nhất dưới góc độ triết học là một khái niệm thể hiện trình tự biến đổi cùa thế giới bằng vật chất Thời gian luôn mang tính khách quan, không có bắt đầu và kết thúc, trôi dần đều theo một chiều duy nhất và không phụ thuộc vào ý chí chủ quan của con người
Thời hạn là một khoảng thời gian có điểm đầu và điểm cuối xác định Thời hạn vừa mang tính khách quan của thời gian nói chung đồng thời mang tính chủ quan của người định ra điểm đầu và điểm cuối
Trong giao lưu dân sự, thời hạn có vai trò quan trọng trong việc xác lập quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm của chủ thể tham gia Thời hạn với tư cách là một sự kiện pháp lý đặc biệt làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ của các chủ thể trong những trường hơp do pháp luât quy định hoặc các bên thoả thuận
Trang 27Cách thức tính thời hạn chính là những cách thức, phương pháp để tính thời hạn trong khoảng thời gian xác định điểm bắt đầu và điểm kết thúc Nguyên tắc để tính thời hạn thường được ghi nhận theo nguyên tắc tuân theo quy định của luật hoặc theo thoả thuận các bên Cách tính thời hạn được áp dụng theo thỏa thuận của các chủ thể trong quan hệ Luật ghi nhận sự thỏa thuận của các bên chủ thể trong quan hệ dân sự, trong đó bao gồm cả thời hạn Những loại thời hạn phổ biến mà các chủ thể có quyền thoả thuận như thời hạn thực hiện hợp đồng, thời hạn thực hiện nghĩa vụ, thậm chí thời hạn thực hiện trách nhiệm bồi thường thiệt hại Tuy nhiên, đối với các trường hợp luật quy định bắt buộc cách tính thời hạn mà không cho phép thỏa thuận thì các bên cần tuân theo Điển hình như các thời hạn thực hiện các thủ tục mà luật định như thời hạn thực hiện thủ tục hành chính, thời hạn thực hiện việc đăng ký khai sinh
Thời hạn tố tụng là một khoảng thời gian được xác định từ thời điểm này đến thời điểm khác để người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng hoặc cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan thực hiện hành vi tố tụng do pháp luật quy định Thời hạn tố tụng có thể được xác định bằng giờ, ngày, tuần, tháng, năm hoặc bằng một sự kiện có thể xảy ra Sau khi thụ lý vụ án tranh chấp kinh tế, thương mại, trong thời hạn 03 ngày làm việc, Thẩm phán phải thông báo bằng văn bản cho nguyên đơn, bị đơn, cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến việc giải quyết
vụ án, cho Viện kiểm sát cùng cấp về việc Tòa án đã thụ lý vụ án
1.2.2.3 Trình tự, thủ tục giải quyết tranh chấp kinh tế, thương mại bằng Tòa án
Pháp luật quy định về những nguyên tắc cơ bản trong tố tụng dân sự; trình
tự, thủ tục khởi kiện để Tòa án nhân dân giải quyết các vụ án về tranh chấp dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động (gọi chung là vụ án dân sự)
và trình tự, thủ tục yêu cầu để Tòa án giải quyết các việc về yêu cầu dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động (gọi chung là việc dân sự); trình
tự, thủ tục giải quyết vụ án dân sự, việc dân sự (gọi chung là vụ việc dân sự) tại Tòa án; thủ tục công nhận và cho thi hành tại Việt Nam bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài, phán quyết của Trọng tài nước ngoài; thi hành án dân sự; nhiệm
vụ, quyền hạn và trách nhiệm của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố
Trang 28tụng; quyền và nghĩa vụ của người tham gia tố tụng, của cá nhân, của cơ quan nhà nước, đơn vị vũ trang nhân dân, tổ chức kinh tế, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị -
xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp (gọi chung là cơ quan, tổ chức) có liên quan nhằm bảo đảm cho việc giải quyết vụ việc dân sự được nhanh chóng, chính xác, công minh và đúng pháp luật
Trình tự, thủ tục giải quyết tranh chấp kinh tế, thương mại bằng Tòa án thông qua các bước:
Chuẩn bị khởi kiện Khi lựa chọn phương thức giải quyết tranh chấp là Tòa
án, bên yêu cầu cần chuẩn bị cho việc khởi kiện với các công việc sau:
+ Soạn đơn khởi kiện
Đơn khởi kiện phải có các nội dung: ngày, tháng, năm làm đơn khởi kiện; Tên Tòa án nhận đơn khởi kiện; Tên, nơi cư trú, làm việc của người khởi kiên là cá nhân hoặc trụ sở của người khởi kiện là cơ quan, tổ chức; số điện thoại, fax và địa chỉ thư điện tử (nếu có); tên, nơi cư trú, làm việc của người có quyền và lợi ích được bảo vệ; tên, nơi cư trú, làm việc của người bị kiện là cá nhân hoặc trụ sở của người bị kiện là cơ quan, tổ chức; số điện thoại, fax và địa chỉ thư điện tử (nếu có); tên, nơi cư trú, làm việc của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan; Quyền, lợi ích hợ pháp của người khởi kiện bị xâm phạm, những vấn đề cụ thể yêu cầu Tòa án giải quyết đối với người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; họ, tên, địa chỉ của người làm chứng (nếu có); danh mục tài liệu, chứng cứ kèm theo đơn khởi kiện Trên thực tế, các Tòa án đều đưa ra mẫu đơn khởi kiện và yêu cầu người khởi kiện phải thực hiện theo mẫu
+ Xác định tòa án có thẩm quyền giải quyết tranh chấp
Trước hết phải xác định thẩm quyền theo loại việc, đây là tranh chấp về kinh doanh, thương mại bởi là tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh doanh, thương mại giữa cá nhân, tổ chức có đăng ký kinh doanh với nhau và đều có mục đích lợi nhuận Theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, các tranh chấp kinh doanh, thương mại thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa dân sự Tòa án nhân dân cấp huyện nơi bị đơn cư trú, làm việc, có trụ sở Trường hợp vụ án có đương sự hoặc tài sản ở nước ngoài hoặc cần phải ủy thác tư pháp thuộc thẩm quyền của Tòa án cấp tỉnh
Trang 29+ Chuẩn bị các tài liệu, chứng cứ chứng minh cho yêu cầu là có căn cứ và hợp pháp
Nguyên tắc giải quyết tranh chấp dân sự là nghĩa vụ chứng minh luôn thuộc
về người có yêu cầu Khi khởi kiện, người có yêu cầu phải chứng minh về sự tồn tại của quan hệ pháp luật kinh doanh thương mại, mẫu thuẫn về quyền lợi giữa các bên không thể tự giải quyết Trong quá trình giải quyết vụ án, người có yêu cầu phải luôn đưa ra được các chứng cứ, tài liệu chứng minh quyền lợi hợp pháp của họ bị xâm phạm bởi hành vi vi phạm của 1 hoặc các bên còn lại Trong giải quyết tranh chấp dân sự, nếu bên nào không cung cấp được chứng cứ bảo vệ quyền lợi cho mình thì bên đó phải chịu hậu quả pháp lý Tòa án chỉ tham gia vào quá trình thu thập, cung cấp chứng cứ khi các bên không thể tự thu thập được và có đơn yêu cầu
+ Thu thập chứng cứ bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp
Chứng cứ phải đảm bảo: khách quan, liên quan và hợp pháp Chứng cứ phải được thu thập từ những nguồn sau: tài liệu đọc được, nghe được, nhìn được, dữ liệu điện tử; vật chứng; lời khai của đương sự; lời khai của người làm chứng; kết luận giám định; biên bản ghi kết quả thẩm định tại chỗ; kết quả định giá tài sản, thẩm định giá tài sản; văn bản ghi nhận sự kiện, hành vi pháp lý do người có chức năng lập; văn bản công chứng, chứng thực; các nguồn khác mà pháp luật quy định
+ Nộp đơn khởi kiện
Người khởi kiện gửi đơn khởi kiện và các tài liệu, chứng cứ kèm theo đến Tòa án có thẩm quyền theo 1 trong các phương thức sau: Nộp trực tiếp tại Tòa án; Gửi đến Tòa án theo đường dịch vụ bưu chính; Gửi trực tuyến bằng hình thức điện
tử qua Cổng thông tin điện tử của Tòa án (nếu có)
Quy trình giải quyết tranh chấp tại Tòa án
Nộp đơn khởi kiện tại Tòa án có thẩm quyền
Trong thời hạn 8 ngày làm việc kể từ ngày nhận được đơn khởi kiện, Tòa án phải ra một trong các quyết định sau: Yêu cầu sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện; Chuyển đơn khởi kiện cho Tòa án có thẩm quyền; Trả lại đơn khởi kiện; Tiến hành thủ tục thụ lý vụ án
Trang 30Trường hợp tiến hành thụ lý vụ án, tòa án ra thông báo người khởi kiện đồng thời thông báo nộp tạm ứng án phí Người khởi kiện nộp tạm ứng án phí trong thời gian 07 ngày kể từ ngày nhận được thông báo của Tòa án về việc nộp tạm ứng án phí Kể từ ngày người khởi kiện nộp biên lai nộp tạm ứng án phí cho Tòa án, Tòa án vào sổ thụ lý Thông báo về việc thụ lý vụ án đến Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp,
bị đơn, nguyên đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Thời hạn chuẩn bị xét
xử đối với vụ án kinh doanh thương mại kéo dài từ 4 đến 6 tháng
Hòa giải tại Tòa án Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, Tòa án có trách nhiệm
tổ chức hòa giải giữa các bên trong tranh chấp Trường hợp hòa giải thành, Tòa án lập Biên bản công nhận sự thỏa thuận giữa các bên Trường hợp hòa giải không thành hoặc không hòa giải được, Tòa án lập Biên bản hòa giải không thành/không hòa giải được, đồng thời ra Quyết định đưa vụ án ra xét xử
Phiên Tòa sơ thẩm phải được mở trong thời gian 30 ngày kể từ ngày có Quyết định đưa vụ án ra xét xử Phiên tòa sơ thẩm có thể bị tạm hoãn, thời gian hoãn tối đa không quá 30 ngày
1.2.3 Vai trò của pháp luật giải quyết tranh chấp kinh tế, thương mại bằng Tòa án
Vai trò của pháp luật trong việc giải quyết các tranh chấp kinh tế, thương mại bằng Tòa án là hết sức to lớn
Thứ nhất, pháp luật giải quyết tranh chấp kinh tế, thương mại quy định rõ
thẩm quyền, trình tự, thủ tục giải quyết của Tòa án
Theo các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin thì mỗi cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoạt động trong một lĩnh vực nhất định Phạm vi hoạt động
và quyền năng pháp lý của các cơ quan nhà nước do pháp luật quy định Trong
cơ quan tư pháp thì Tòa án là cơ quan thực hiện quyền tư pháp chủ yếu, Tòa án thực hiện quyền của mình trong các vụ án xét xử theo quy định của Pháp luật để bảo vệ pháp luật, bảo vệ sự công bằng cho xã hội, trong đó có lĩnh vực giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương Pháp luật tố tụng quy định trực tiếp và khá rõ ràng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục giải quyết vụ án dân sự nói chung và trong lĩnh vực thương mại nói riêng Theo đó, thẩm quyền của Tòa án trong lĩnh vực kinh tế, thương mại được tiếp cận dưới bốn góc độ đó là thẩm quyền theo vụ việc, thẩm quyền theo lãnh thổ, thẩm quyền theo cấp và thẩm quyền theo sự lựa chọn của nguyên đơn
Trang 31Với cách tiếp cận này, Tòa án sẽ căn cứ vào đây để có thể xác định được rằng vụ tranh chấp kinh tế, thương mại đó có thuộc thẩm quyền xét xử của mình hay không Khi đã xác định được thẩm quyền giải quyết và thụ lý vụ án, Tòa án sẽ giải quyết tranh chấp trong lĩnh vực kinh tế, thương mại theo một trình tự, thủ tục được quy định trong pháp luật tố tụng dân sự Như vậy, pháp luật quy định thẩm quyền, trình tự, thủ tục của Tòa án một cách cụ thể, hợp lý, khoa học giúp tránh được sự chồng chéo trong việc giải quyết tranh chấp kinh tế, thương mại với các cơ quan giải quyết tranh chấp khác, góp phần tạo điều kiện cần thiết cho Tòa án giải quyết tranh chấp giữa các thương nhân một cách nhanh chóng và đúng đắn, nâng cao được hiệu quả của việc giải quyết tranh chấp kinh tế, thương mại bằng Tòa án Bên cạnh đó, pháp luật quy định thẩm quyền, trình tự thủ tục tố tụng một cách rõ ràng còn tạo thuận lợi cho các thương nhân tham gia tố tụng nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ
Thứ hai, pháp luật giải quyết tranh chấp kinh tế, thương mại có vai trò đảm
bảo tối đa các quyền của các bên khi tham gia tranh chấp cũng như quy định các nghĩa vụ của các bên cần phải thực hiện
Việc pháp luật quy định cụ thể quyền và nghĩa vụ trong quá trình giải quyết tranh chấp kinh tế, thương mại nhằm bảo đảm cho các thương nhân bảo vệ được quyền, lợi ích hợp pháp của mình trước Tòa án, đảm bảo việc giải quyết tranh chấp một cách nhanh chóng và chính xác Tòa án có trách nhiệm tạo điều kiện để các đương sự thực hiện được các quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự Các quyền, nghĩa vụ tố tụng dân sự của các thương nhân được thể hiện trong các lĩnh vực như sử dụng các biện pháp pháp lý để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp trước Tòa án, quyết định quyền và lợi ích của mình trong tố tụng dân sự, thi hành bản án, quyết định của Tòa án… Để đảm bảo cho các đương sự thực hiện đúng được các quyền và nghĩa vụ của mình, pháp luật quy định các biện pháp đảm bảo bằng sự cưỡng chế của nhà nước
Thứ ba, pháp luật giải quyết tranh chấp kinh tế, thương mại bằng Tòa án đảm
bảo cho việc giải quyết tranh chấp được nhanh chóng, kịp thời, công khai, nghiêm minh, và đúng pháp luật
Trang 32Với quy định thời hạn chuẩn bị xét xử của vụ án trong lĩnh vực kinh tế, thương mại tối đa là 03 tháng kể từ ngày thụ lý vụ án như đã phân tích ở trên, giúp cho Tòa án giải quyết tranh chấp một cách hanh chóng, kịp thời Đặc điểm của lĩnh vực kinh tế, thương mại là tính nhạy bén, mục đích là lợi nhuận, vì vậy nếu thời hạn
tố tụng kéo dài quá lâu sẽ dẫn tới trì trệ kinh doanh của các thương nhân, tốn kém thời gian, tiền bạc…đặc biệt là làm mất đi nhiều cơ hội làm ăn kinh doanh, từ đó lợi nhuận bị giảm sút Do đó pháp Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 quy định thời hạn chuẩn bị xét xử của vụ án tranh chấp kinh tế, thương mại tối đa là 03 tháng kể từ ngày thụ lý vụ án [24] Khác với tố tụng trọng tài, tố tụng dân sự là xét xử công khai, trừ một số trường hợp luật định, tạo điều kiện cho mọi người giám sát được hoạt động xét xử, đảm bảo cho việc xét xử giải quyết vụ án dân sự của Tòa án được minh bạch, đúng pháp luật
Do đó, pháp luật giải quyết tranh chấp kinh tế, thương mại có vai trò đảm bảo cho việc giải quyết tranh chấp nhanh chóng, kịp thời, nghiêm minh và đúng pháp luật
Thứ tư, pháp luật giải quyết tranh chấp kinh tế, thương mại bằng tòa án có
vai trò giúp cho Tòa án phổ biến, giáo dục pháp luật đạt hiệu quả cao
Tranh chấp kinh tế, thương mại xảy ra do nhiều nguyên nhân, một trong những nguyên nhân đó là các thương nhân chưa hiểu biết hoặc không hiểu rõ, tường tận các quy định của pháp luật trong lĩnh vực kinh tế, thương mại Cũng có những nguyên nhân xuất phát từ những cách hiểu khác nhau về hợp đồng hay thiếu thiện chí thực hiện hợp đồng của một bên mà dẫn đến các mâu thuẫn, bất đồng xảy ra
Với nguyên tắc xét xử công khai và đảm bảo hiệu lực của bản án, quyết định của Tòa án từ đó Tòa án có thể vận dụng vào đó để tuyên truyền, phổ biến pháp luật Trong quá trình xét xử vụ án kinh tế, thương mại, tất cả mọi người có thể được tham dự phiên tòa, trừ một số trường hợp không được tham dự theo luật định (người dưới 16 tuổi, xét xử kín…), từ đó họ vừa giám sát phiên tòa vừa có thể lĩnh hội được những kiến thức pháp luật về lĩnh vực kinh tế, thương mại Khi bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật thì được đảm bảo thi hành án bởi sức mạnh cưỡng chế của nhà nước Với các trường hợp tranh chấp do thiếu thiện chí trong quá
Trang 33trình thực hiện hợp đồng thì Tòa án sẽ áp dụng các chế tài để buộc thực hiện đúng những gì mà các bên đã thỏa thuận miễn là không vi phạm điều cấm của Luật và trái đạo đức xã hội nhằm giáo dục ý thức tôn trọng pháp luật của bên xâm hại Từ
đó có tác dụng giáo dục, răn đe và làm gương cho các trường hợp khác
áp dụng Việc giải quyết tranh chấp kinh tế, thương mại bằng Tòa án tuy có nhiều hạn chế nhưng cũng không thể phủ nhận được những ưu điểm của nó Từ đó, phương thức giải quyết tranh chấp kinh tế, thương mại bằng Toà án ngày càng được nhiều đương sự lựa chọn Quá trình giải quyết tranh chấp kinh tế, thương mại M một mặt Tòa án phải áp dụng các quy phạm pháp luật nội dung như quy định của LTM, Luật đất đai v.v mặt khác Tòa án cũng phải áp dụng các quy phạm pháp luật
tố tụng dân sự về thẩm quyền, trình tự, thủ tục giải quyết tranh chấp v.v Cơ sở của việc pháp luật quy định giải quyết tranh chấp kinh tế, thương mại bằng Tòa án xuất phát từ những yêu cầu của việc giải quyết tranh chấp kinh tế, thương mại, từ những
ý nghĩa của phương thức giải quyết tranh chấp này, từ tính chất của các tranh chấp kinh tế, thương mại, từ chức năng, nhiệm vụ của Tòa án và thực tiễn giải quyết tranh chấp kinh tế, thương mại của Tòa án và trọng tài ở nước ta trong những năm qua và sự phát triển của pháp luật, các quy định của pháp luật tố tụng dân sự về giải quyết tranh chấp kinh tế, thương mại bằng Tòa án cũng ngày càng phát triển và hoàn thiện Nhờ đó, việc giải quyết tranh chấp kinh tế, thương mại bằng Tòa án
ngày càng có hiệu quả hơn
Trang 34Chương 2 THỰC TRẠNG GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP KINH TẾ, THƯƠNG MẠI TỪ
THỰC TIỄN XÉT XỬ SƠ THẨM TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 2.1 Thực trạng pháp luật về giải quyết tranh chấp kinh tế, thương mại bằng tòa án
2.1.1 Nguyên tắc giải quyết tranh chấp kinh tế, thương mại bằng Tòa án
Trong quá trình giải quyết tranh chấp kinh tế, thương mại, Tòa án phải tuân thủ các nguyên tắc chung về pháp luật, về tố tụng được quy định trong Hiến pháp, Luật Tổ chức tòa án nhân dân, Bộ luật Tố tụng dân sự như: tuân thủ pháp luật trong
tố tụng dân sự; Thẩm phán, Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật; Tòa
án xét xử tập thể và quyết định theo đa số; Tòa án xét xử công khai; bình đẳng về quyền và nghĩa vụ giữa các bên; bảo đảm chế độ xét xử sơ thẩm, phúc thẩm Bên cạnh đó việc giải quyết tranh chấp trong lĩnh vực kinh tế, thương mại còn có những nguyên tắc đặc trưng sau:
Thứ nhất, Quyền quyết định và tự định đoạt của các đương sự
Đây là nguyên tắc cơ bản của pháp luật tố tụng trong lĩnh vực kinh tế, thương mại, nguyên tắc này xuất phát từ nguyên tắc tự do, tự nguyện thỏa thuận trong hoạt động kinh tế, thương mại Tòa án chỉ được giải quyết tranh chấp nếu được yêu cầu
Đây là một quyền quan trọng và là một nguyên tắc cơ bản của việc giải quyết tranh chấp kinh tế, thương mại tại Tòa án Sẽ không có quy trình tố tụng dân sự nào nếu như đương sự không tự mình quyết định việc khởi kiện, yêu cầu Tòa án có thẩm quyền giải quyết tranh chấp Các đương sự có nhiều lựa chọn để quyết định dùng phương thức nào (thương lượng, hòa giải, Trọng tài, Tòa án) nhằm bảo vệ được quyền và lợi ích hợp pháp của mình một cách tốt nhất nếu các bên xảy ra tranh chấp lựa chọn việc giải quyết tranh chấp thương mại tại Tòa án thì khi đã quyết định khởi kiện, đương sự có toàn quyền quyết định phạm vi khởi kiện Do đó, Tòa án chỉ giải quyết tranh chấp khi có đơn khởi kiện và chỉ giải quyết tranh chấp trong phạm vi đơn khởi kiện đó
Trang 35Trong quá trình giải quyết tranh chấp thương mại, các bên tranh chấp có quyền chấm dứt, thay đổi yêu cầu của mình hoặc thỏa thuận với nhau một cách tự nguyện, không vi phạm điều cấm của Luật và trái đạo đức xã hội Các bên tranh chấp có quyền dừng vụ kiện, rút yêu cầu, thay đổi yêu cầu, bổ sung yêu cầu, hòa giải với nhau bất cứ lúc nào, nếu như họ hoàn toàn tự nguyện, không bị cưỡng ép,
đe dọa… Tòa án có nhiệm vụ hướng dẫn và tạo điều kiện để bảo đảm cho các bên xảy ra tranh chấp thực hiện quyền quyết định và tự định đoạt của mình
Như vậy có thể thấy, quyền khởi kiện, yêu cầu Tòa án giải quyết vụ việc hay không là quan trọng nhất, bởi lẽ nó làm ảnh hưởng đến uy tín, bí mật kinh doanh, quan hệ với đối tác… do đó, khi phát sinh tranh chấp, việc đưa ra Toà án để giải quyết phải được các bên cân nhắc kỹ lưỡng, thận trọng Vì đây là biện pháp cuối cùng khi các bên xảy ra tranh chấp không tìm được cách giải quyết nào tốt hơn
Thứ hai, nguyên tắc cung cấp chứng cứ và chứng minh trong tố tụng dân sự
Như vậy có thể thấy, nội dung xuyên suốt của nguyên tắc này là cung cấp chứng cứ vừa là quyền vừa là nghĩa vụ của các bên Mục tiêu của nguyên tắc này là các bên tranh chấp chứng minh được yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp Trên cơ sở
đó, Tòa án tuyên một bản án hoặc đưa ra quyết định đúng pháp luật, phù hợp với thực tế khách quan, phù hợp với những chứng cứ đã được thu thập, giao nộp và dùng để chứng minh trong quá trình tố tụng [8]
Thứ ba, nguyên tắc Tòa án chỉ thụ lý đơn khởi kiện khi các bên đã tiến hành
hòa giải ở cấp cơ sở
Nguyên tắc hòa giải gắn liền với nguyên tắc tự định đoạt của các đương sự Khi thương nhân tham gia vào các quan hệ kinh tế là dựa trên nguyên tắc bình đẳng,
tự nguyện Do đó khi phát sinh tranh chấp, các bên phải chủ động tiến hành thương lượng, hòa giải với nhau để tìm cách tháo gỡ, giải quyết các vướng mắc, bất đồng Trừ các trường hợp thuộc điểm a, c, d khoản 1 Điều 3 Luật Hòa giải cơ sở 2013 thì không được hòa giải đó là: mâu thuẫn, tranh chấp xâm phạm đến lợi ích Nhà nước, lợi ích công cộng; vi phạm pháp luật mà theo quy định phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc bị xử lý vi phạm hành chính; mâu thuẫn, tranh chấp khác không được hòa giải ở cơ sở theo quy định của pháp luật [18] Chỉ khi nào có văn bản chứng minh việc hòa giải ở cơ sở không thành hoặc không tiến hành hòa giải được vì sự thiếu thiện chí của một hoặc các bên thì lúc đó Tòa án mới thụ lý đơn khởi kiện
Trang 36Hòa giải là việc các bên tự thương lượng giải quyết tranh chấp với nhau mà không cần có phán quyết của Trọng tài thương mại hay Tòa án Nguyên tắc này xuyên suốt trong quá trình giải quyết vụ án kinh tế, thương mại Khi các đương sự
đã yêu cầu Tòa án can thiệp hoặc trong quá trình xét xử, Tòa án cũng luôn tìm các biện pháp để các bên có thể hòa giải với nhau nhằm giải quyết một cách nhanh chóng, dứt điểm vụ án Tránh gây sự căng thẳng, lãng phí thời gian, tiền bạc, đặc biệt là uy tín của các bên
Thứ tư, Nguyên tắc hòa giải, đối thoại tại Tòa án (Điều 3 Luật hòa giải, đối
thoại tại Tòa án 2020)
Ngày 16/6/2020, Quốc hội khóa XIV thông qua Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án số 58/2020/QH14 (có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2021) Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án quy định: Nguyên tắc, chính sách của Nhà nước về hòa giải, đối thoại tại Tòa án; quyền, nghĩa vụ của Hòa giải viên tại Tòa án, các bên tham gia hòa giải, đối thoại tại Tòa án; trách nhiệm của Tòa án đối với hoạt động hòa giải, đối thoại; trình tự, thủ tục hòa giải, đối thoại, công nhận kết quả hòa giải thành, đối thoại thành tại Tòa án Quy định đối tượng thực hiện hòa giải, đối thoại tại Tòa án Khoản 2 Điều 1 Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án quy định: “Hòa giải, đối thoại theo quy định của Luật này được thực hiện trước khi Tòa án thụ lý đơn khởi kiện vụ án về tranh chấp dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động; đơn yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn; đơn khởi kiện vụ án hành chính thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính” [27]
Hòa giải tại Tòa án là hoạt động hòa giải do Hòa giải viên tiến hành trước khi Tòa án thụ lý vụ việc dân sự nhằm hỗ trợ các bên thỏa thuận giải quyết vụ việc dân sự theo quy định (khoản 2 Điều 2 Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án) Hòa giải, đối thoại tại Tòa án là một thủ tục tiền tố tụng, không phải là thủ tục bắt buộc, người khởi kiện, người yêu cầu, người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền đồng ý hoặc không đồng ý giải quyết vụ việc dân sự, khiếu kiện hành chính bằng cơ chế hòa giải, đối thoại tại Tòa án, nếu đồng ý thì thực hiện việc hòa giải, đối thoại theo quy định của Luật Hòa giải đối thoại, không đồng ý thì giải
Trang 37quyết theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính Theo Điều 3 Nguyên tắc hòa giải, đối thoại tại Tòa án quy định như sau: “(i) Các bên tham gia hòa giải, đối thoại (sau đây gọi là các bên) phải tự nguyện hòa giải, đối thoại; (ii) Tôn trọng sự tự nguyện thỏa thuận, thống nhất của các bên, không được
ép buộc các bên thỏa thuận, thống nhất trái với ý chí của họ; (iii) Bảo đảm bình đẳng về quyền và nghĩa vụ giữa các bên; (iv) Nội dung thỏa thuận hòa giải, thống nhất đối thoại không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội, không nhằm trốn tránh nghĩa vụ với Nhà nước hoặc cơ quan, tổ chức, cá nhân khác, không xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân khác; (v) Các thông tin liên quan đến vụ việc hòa giải, đối thoại phải được giữ bí mật theo quy định tại Điều 4 của Luật này; (vi) Phương thức hòa giải, đối thoại được tiến hành linh hoạt, phù hợp với tình hình thực tế, đặc điểm của mỗi loại vụ việc; (vii) Hòa giải viên tiến hành hòa giải, đối thoại độc lập và tuân theo pháp luật; (viii) Tiếng nói
và chữ viết dùng trong hòa giải, đối thoại là tiếng Việt Người tham gia hòa giải, đối thoại có quyền dùng tiếng nói, chữ viết của dân tộc mình; trường hợp này họ có thể
tự bố trí hoặc đề nghị Hòa giải viên bố trí phiên dịch cho mình.Người tham gia hòa giải, đối thoại là người khuyết tật nghe, nói hoặc khuyết tật nhìn có quyền dùng ngôn ngữ, ký hiệu, chữ dành riêng cho người khuyết tật; trường hợp này phải có người biết ngôn ngữ, ký hiệu, chữ dành riêng cho người khuyết tật để dịch lại và họ cũng được coi là người phiên dịch; (ix) Bảo đảm bình đẳng giới, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của trẻ em trong hòa giải, đối thoại [27]
Thứ năm, Nguyên tắc xét xử công khai
Tòa án nhân dân xét xử công khai [17], đây là một nguyên tắc Hiến định Nguyên tắc này phát huy được tính dân chủ trong tố tụng dân sự, tạo điều kiện cho mọi người giám sát được hoạt động xét xử, đảm bảo cho việc xét xử vụ án kinh tế, thương mại được minh bạch, đúng pháp luật Ngăn chặn những hành vi vi phạm pháp luật trong quá trình xét xử, đồng thời đề cao trách nhiệm của người làm công tác xét xử Ngoài ra, xét xử công khai còn tăng cường được hiệu quả giáo dục pháp luật của công tác xét xử Tại phiên tòa, các tài liệu chứng cứ chứng minh của vụ án đều phải được đọc, xem xét công khai Nếu người tham gia tố tụng vắng mặt tại
Trang 38phiên tòa mà phiên tòa vẫn được tiến hành thì Hội đồng xét xử công bố tài liệu, chứng cứ của vụ án Trong trường hợp cần giữ bí mật nhà nước, bí mật nghề nghiệp, bí mật kinh doanh, bí mật cá nhân thì Hội đồng xét xử không công bố tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án theo yêu cầu chính đáng của đương sự Đây là một nguyên tắc thể hiện tính linh hoạt, mềm dẻo của tố tụng dân sự để phù hợp với nhu cầu, tâm lý của các đương sự Tuy nhiên, việc thực hiện xét xử kín của Tòa án chỉ là những trường hợp đặc biệt việc xét xử kín hay không do Tòa án quyết định Trong trường hợp Tòa án xét xử kín những người không có nghĩa vụ tham gia phiên Tòa thì không được tham dự phiên tòa ngay từ đầu, nhưng cũng có thể họ được tham dự phần thủ tục bắt đầu phiên tòa và chỉ không được tham gia phần tranh tụng
vì nếu có sự tham gia của những người này thì sẽ không bảo đảm việc giữa bí mật nghề nghiệp, bí mật kinh doanh Tuy nhiên, dù là xét xử kín thì khi tuyên án, Tòa án vẫn phải tuyên án công khai
Như vậy, trong nền kinh tế thị trường, mục đích cuối cùng của các Thương nhân là lợi nhuận, do đó bí mật nghề nghiệp, bí mật kinh doanh là yếu tố đóng vai trò quan trọng trong trong chiến lược cạnh tranh và phát triển của mình Nhiều khi giá trị tranh chấp không thể so sánh được với giá trị của bí mật kinh doanh, hệ quả tất yếu là nhiều thương nhân không thể bảo vệ được quyền và lợi của mình thông qua hoạt động xét xử của Tòa án và họ sẽ tìm đến phương thức giải quyết tranh chấp khác ưu việt hơn Từ đó, sẽ làm ảnh hưởng trực tiếp đến chính sách quản lý kinh tế của Nhà nước bằng pháp luật
2.1.2 Thực trạng những quy định về thẩm quyền giải quyết tranh chấp kinh tế, thương mại của Tòa án
* Về thẩm quyền giải quyết tranh chấp kinh tế, thương mại của Tòa án theo loại việc
Thẩm quyền giải quyết tranh chấp kinh tế, thương mại của Tòa án theo loại việc là thẩm quyền của Tòa án trong việc giải quyết các tranh chấp kinh tế, thương mại theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự Thẩm quyền giải quyết tranh chấp kinh tế, thương mại của Tòa án theo loại việc của Tòa án xác định những tranh chấp nào thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án, tranh chấp nào thuộc thẩm quyền giải
Trang 39quyết của cơ quan nhà nước khác Một tranh chấp thuộc thẩm quyền của Tòa án thì tranh chấp đó do Tòa án nào giải quyết Thẩm quyền giải quyết tranh chấp kinh tế, thương mại của Tòa án theo loại việc được xác định căn cứ vào các yếu tố như tính chất riêng biệt của các quan hệ pháp luật thương mại; thành phần chủ thể của quan
hệ pháp luật thương mại; mục đích của các chủ thể khi tham gia quan hệ pháp luật thương mại v.v
Quy định này nhằm tạo điều kiện để Tòa án thực hiện nhiệm vụ bảo vệ công
lý, bảo vệ quyền con người, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân theo quy định của Hiến pháp năm 2013 [17] Do đó, để tạo cơ chế và điều kiện thuận lợi cho người dân tiếp cận công lý; đồng thời, để phù hợp với nguyên tắc “Tòa án không được từ chối giải quyết vụ việc dân sự vì lý do chưa có điều luật để áp dụng” Bộ luật này cũng bổ sung, quy định đầy đủ, những loại tranh chấp và việc dân sự thuộc thẩm quyền của Tòa án bảo đảm phù hợp với luật nội dung đã quy định, như: Luật Hôn nhân và gia đình, Luật Đất đai, Bộ luật Lao động Cụ thể như: các quan hệ tranh chấp hợp đồng tín dụng, hợp đồng mua bán hàng hóa, hợp đồng gia công, hợp đồng hợp tác kinh doanh, quyền sở hữu trí tuệ, tranh chấp giữa công ty với thành viên của công ty, tranh chấp đòi cổ tức được quy định trong LTM, LDN [13] [19]…
Theo quy định tại Điều 30 BLTTDS năm 2015 thì những tranh chấp kinh tế, thương mại sau đây thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án: (1) tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh tế, thương mại giữa cá nhân, tổ chức có đăng ký kinh doanh với nhau và đều có mục đích lợi nhuận; (2) tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ giữa cá nhân, tổ chức với nhau và đều có mục đích lợi nhuận; (3) tranh chấp giữa người chưa phải là thành viên công ty nhưng có giao dịch về chuyển nhượng phần vốn góp với công ty, thành viên công ty; (4) tranh chấp giữa công ty với các thành viên của công ty; tranh chấp giữa công ty với người quản lý trong công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc thành viên Hội đồng quản trị, giám đốc, tổng giám đốc trong công ty cổ phần, giữa các thành viên của công ty với nhau liên quan đến việc thành lập, hoạt động, giải thể, sáp nhập, hợp nhất, chia, tách, bàn giao tài sản của công ty, chuyển đổi hình thức tổ chức của công ty; (5) các tranh
Trang 40chấp khác về kinh doanh, thương mại, trừ trường hợp thuộc thẩm quyền giải quyết của cơ quan, tổ chức khác theo quy định của pháp luật” [24]
Theo quy định trên, có 4 loại quan hệ tranh chấp kinh tế, thương mại thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án và so với BLTTDS năm 2004 thì BLTTDS năm
2015 đã quy định bổ sung thêm tranh chấp giữa người với người chưa phải là thanh viên công ty nhưng có giao dịch về chuyển nhượng góp vốn với công ty, thành viên công ty thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án Có thể thấy, quy định này phù hợp với thực tế phát sinh những tranh chấp loại này, người chưa phải thành viên công ty nhưng khi thực hiện giao dịch liên quan tới vốn góp với công ty, thành viên công ty thì mục đích của họ là trở thành thành viên công ty Trong quá trình thực hiện hợp đồng chuyển nhượng phần vốn góp, phát sinh tranh chấp, họ vẫn chưa được coilà thành viên công ty, việcquy định thẩm quyền giải quyết của Tòa án sẽ giúp các bên
có thêm cơ sở để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình Khoản 4 Điều 30 BLTTDS năm 2015 quy định về tranh chấp giữa công ty với thành viên của công ty; tranh chấp giữa công ty với người quản lý trong công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc thành viên Hội đồng quản trị, Giám đốc, Tổng giám đốc trong công ty cổ phần Quy định này phù hợp với LDN năm 2014 về quyền khởi kiên của thành viên công ty trách nhiệm hữu hạn, cổ đông công ty cổ phần đối với người quản lý theo quy định tại Điều 161 LDN năm 2014
* Về thẩm quyền giải quyết tranh chấp kinh tế, thương mại của Tòa án các cấp
Thẩm quyền giải quyết tranh chấp kinh tế, thương mại của Tòa án các cấp là thẩm quyền giải quyết tranh chấp kinh tế, thương mại của từng cấp của Tòa án Thông thường thẩm quyền của Tòa án các cấp được phân chia căn cứ vào giá trị tranh chấp, tính chất của sự việc và khả năng, điều kiện của từng cấp Tòa án Theo pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam, thẩm quyền của Tòa án các cấp được quy định căn cứ vào các tiêu chí: (1) tính chất phức tạp của vụ việc; (2) điều kiện, khả năng giải quyết các tranh chấp của từng cấp Tòa án [24]
Thẩm quyền của Tòa án các cấp phân định thẩm quyền sơ thẩm giữa các cấp Tòa án với nhau Pháp luật tố tụng dân sự quy định về thẩm quyền xét xử sơ thẩm của Tòa án các cấp đối với tranh chấp kinh tế, thương mại xuất phát từ những đặc thù của hệ thống Tòa án của Việt Nam Hệ thống Tòa án của Việt