Kho bạc Nhà nước (KBNN) với03 trụ cột chính của hoạt động KBNN là công tác Kho quỹ, công tác Kế toán vàcông tác Kiểm soát chi. Cùng với xu thế phát triển, chủ trương của Đảng, Nhànước giảm chi tiền mặt trong nền kinh tế, công tác Kho quỹ đã giảm dần cả khốilượng và nhân lực. Thực hiện quyết định 262015QĐTTg, bộ phận Kho quỹ tạiKBNN tỉnh, huyện đã sáp nhập vào bộ phận Kế toán, chỉ còn người làm côngtác Kho quỹ không còn bộ phận riêng biệt. Đối với công tác kiểm soát chi, trướcnăm 2010, công tác kiểm soát chi Ngân sách Nhà nước (NSNN) tại KBNN cấptỉnh được thực hiện ở 3 Phòng: Phòng Thanh toán vốn đầu tư thực hiện kiểmsoát chi vốn đầu tư, Phòng Kế hoạchTổng hợp kiểm soát chi vốn sự nghiệpkinh tế, Chương trình mục tiêu Quốc gia; Phòng Kế toán kiểm soát chi thườngxuyên. Từ khi thực hiện Quyết định 1082009QĐTTg, công tác kiểm soát chiNSNN tại KBNN tỉnh được thực hiện tại Phòng Kế toán Nhà nước và PhòngKiểm soát chi theo nội dung chi NSNN là chi thường xuyên và chi đầu tư.
Trang 1KBNN THÁI NGUYÊN TẬP TRUNG NGUỒN LỰC CHUẨN BỊ
TRIỂN KHAI ĐỀ ÁN HỢP NHẤT ĐẦU MỐI KIỂM SOÁT CHI
Ths Hà Quốc Thái
Từ khi thành lập đến nay, các hoạt động nghiệp vụ chủ yếu đã ăn sâu vào trong suy nghĩ của những người làm công tác Kho bạc Nhà nước (KBNN) với
03 trụ cột chính của hoạt động KBNN là công tác Kho quỹ, công tác Kế toán và công tác Kiểm soát chi Cùng với xu thế phát triển, chủ trương của Đảng, Nhà nước giảm chi tiền mặt trong nền kinh tế, công tác Kho quỹ đã giảm dần cả khối lượng và nhân lực Thực hiện quyết định 26/2015/QĐ-TTg, bộ phận Kho quỹ tại KBNN tỉnh, huyện đã sáp nhập vào bộ phận Kế toán, chỉ còn người làm công tác Kho quỹ không còn bộ phận riêng biệt Đối với công tác kiểm soát chi, trước năm 2010, công tác kiểm soát chi Ngân sách Nhà nước (NSNN) tại KBNN cấp tỉnh được thực hiện ở 3 Phòng: Phòng Thanh toán vốn đầu tư thực hiện kiểm soát chi vốn đầu tư, Phòng Kế hoạch-Tổng hợp kiểm soát chi vốn sự nghiệp kinh tế, Chương trình mục tiêu Quốc gia; Phòng Kế toán kiểm soát chi thường xuyên Từ khi thực hiện Quyết định 108/2009/QĐ-TTg, công tác kiểm soát chi NSNN tại KBNN tỉnh được thực hiện tại Phòng Kế toán Nhà nước và Phòng Kiểm soát chi theo nội dung chi NSNN là chi thường xuyên và chi đầu tư
Cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, cơ cấu tổ chức của KBNN cũng được thay đổi, theo xu thế thu gọn đầu mối và thực hiện hoạt động KBNN theo chức năng Việc hợp nhất đầu mối kiểm soát chi đã được nghiên cứu từ rất sớm và trong Chiến lược phát triển KBNN đến năm 2020 được phê duyệt tại Quyết định số 138/2007/QĐ-TTg ngày 21/8/2007 của Thủ tướng Chính phủ đã chỉ rõ : “Thống nhất quy trình và đầu mối kiểm soát các khoản chi của NSNN, bao gồm các khoản chi từ nguồn vốn trong nước, nguồn vốn nước ngoài, các khoản chi NSNN phát sinh ở trong và ngoài nước” Cùng với đó, tại Điều 30 của Luật Kế toán số 85/2013/QH13 có hiệu lực từ 01/01/2017 đã giao nhiệm vụ : “ Bộ Tài chính chịu trách nhiệm lập báo cáo tài chính nhà nước trên phạm vi toàn quốc, trình Chính phủ để báo cáo Quốc hội; chỉ đạo Kho bạc Nhà nước chủ trì, phối hợp với cơ quan tài chính lập báo cáo tài chính thuộc phạm vi địa phương, trình Ủy ban nhân dân cấp tỉnh để báo cáo Hội đồng nhân dân cùng cấp” Nhiệm vụ lập báo cáo tài chính nhà nước là một nhiệm vụ nặng nề, phức tạp, tại cấp tỉnh sẽ do Phòng Kế toán Nhà nước trực tiếp tham mưu thực hiện, nếu vẫn thực hiện công tác kiểm soát chi thường xuyên như hiện tại thì khối lượng công việc của Phòng Kế toán Nhà nước là rất lớn, đa dạng, khó chuyên sâu và rất khó có thể hoàn thành tốt nhiệm vụ được
Trong thực tế, việc thực hiện công tác kiểm soát chi tại KBNN tỉnh, huyện cũng còn nhiều điểm bất cập, khi mà nhiệm vụ kiểm soát chi NSNN và giao dịch với các đơn vị chi NSNN được thực hiện tại 02 Phòng, 02 bộ phận, đặc biệt trong công tác kiểm soát mẫu dấu, chữ ký, công tác đối chiếu tiền gửi,
Trang 2dự toán chi thường xuyên do Phòng, bộ phận Kiểm soát chi thực hiện Cùng một nội dung chi sửa chữa nhà cửa trong dự toán thường xuyên, nhưng nếu tổng mức đầu tư từ 1 tỷ đồng trở lên thì do Phòng, bộ phận Kiểm soát chi kiểm soát, còn dưới 1 tỷ đồng lại do Phòng, bộ phận Kế toán kiểm soát, gây nhiều khó khăn cho đơn vị giao dịch và cả công chức Kho bạc trong quá trình thực hiện
Như vậy, có thể thấy rằng, hợp nhất đầu mối kiểm soát chi trong hệ thống KBNN là một yêu cầu bức thiết hiện nay, hình thành nên những Phòng chuyên môn chuyên sâu theo từng lĩnh vực chuyên biệt, đáp ứng tốt các yêu cầu, nhiệm
vụ của KBNN cấp tỉnh, huyện được giao
Thực hiện chỉ đạo của KBNN về việc nghiên cứu, tham gia ý kiến và chuẩn bị thực hiện Đề án thống nhất đầu mối kiểm soát chi, tại KBNN Thái Nguyên, Đảng ủy, Ban Lãnh đạo đã xây dựng kế hoạch, chuẩn bị nhân lực cho việc triển khai hợp nhất đầu mối kiểm soát chi tại đơn vị Từ khi thành lập hệ thống KBNN đến nay, đây là lần thay đổi cơ cấu tổ chức có ảnh hưởng toàn diện đến hoạt động của KBNN cơ sở, ảnh hưởng đến tâm tư, công việc của 2/3 công chức KBNN tỉnh, huyện, cả công chức lãnh đạo và công chức chuyên môn nghiệp vụ Xác định đây là nhiệm vụ trọng tâm của đơn vị năm 2017, Ban Lãnh đạo KBNN Thái Nguyên đã có những định hướng cụ thể, có công văn chỉ đạo các KBNN huyện, các Phòng Kế toán Nhà nước, Kiểm soát chi thực hiện thống
kê rõ việc phân công nhiệm vụ chi tiết, cụ thể đến từng công chức, đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ trong những năm gần đây, nêu rõ những ưu điểm, nhược điểm,… để làm căn cứ khi Ban Lãnh đạo KBNN Thái Nguyên xem xét điều động, luân chuyển khi hợp nhất đầu mối kiểm soát chi
Công tác tuyên truyền cũng đặc biệt được coi trọng, để từng công chức hiểu rõ, nắm được chủ trương, định hướng, lộ trình thực hiện hợp nhất đầu mối kiểm soát chi của KBNN, thống nhất trong ý chí và hành động Từ đó, từng công chức xác định rõ hơn trách nhiệm, vai trò, vị trí của cá nhân trong hoạt động của đơn vị, có trách nhiệm tham gia ý kiến đóng góp trong quá trình triển khai hợp nhất đầu mối kiểm soát chi tại phòng mình, đơn vị mình Với truyền thống đoàn kết, thống nhất, tin tưởng rằng việc triển khai thống nhất đầu mối kiểm soát chi tại KBNN Thái Nguyên sẽ thành công, theo đúng chỉ đạo của KBNN
Tuy vậy, khi nghiên cứu Đề án thống nhất đầu mối kiểm soát chi, trong quá trình chuẩn bị triển khai tại KBNN cơ sở, xin mạnh dạn đề xuất một số ý kiến để các đồng nghiệp cùng trao đổi:
* Về quy trình luân chuyển chứng từ: Theo Đề án thống nhất đầu mối kiểm soát chi, các chứng từ có kiểm soát chi đều thực hiện quy trình như nhau, đối với chứng từ chi thường xuyên sẽ nhiều bước hơn so với hiện tại
Đề xuất với các loại chứng từ chi thường xuyên, dưới 20 triệu đồng, không có hồ sơ kiểm soát chi, chỉ có bảng kê chứng từ thanh toán (tiền điện thoại, tiền điện, tiền nước, văn phòng phẩm, công tác phí không khoán,…), có thể giảm bớt bước qua Lãnh đạo Phòng Kiểm soát chi kiểm soát, giao cho Kế
Trang 3toán trưởng chịu trách trách nhiệm thực hiện kiểm soát các chứng từ này Đối với các chứng từ loại này chủ yếu kiểm soát mẫu dấu, chữ ký, số dư dự toán, số tiền bằng số, bằng chữ, mẫu chứng từ… trách nhiệm chủ yếu là của Công chức kiểm soát chi
Các bước luân chuyển chứng từ gồm: Công chức kiểm soát chi nhận chứng từ, phân loại và kiểm soát theo quy định, nhập yêu cầu trên TABMIS chuyển Kế toán viên kiểm tra theo quy định trình Kế toán trưởng phê duyệt trên chứng từ và TABMIS trình Lãnh đạo KBNN duyệt Kế toán viên áp thanh toán và chuyển tiền cho đơn vị, người thụ hưởng Như vậy vẫn đảm bảo thống nhất đầu mối kiểm soát chi và giảm được các bước thực hiện, đảm bảo thời gian kiểm soát chi tại KBNN các cấp
* Về cơ cấu tổ chức: Khi thực hiện Đề án, thì toàn bộ công tác kiểm soát chi hiện do phòng Kế toán Nhà nước đang thực hiện sẽ chuyển sang Phòng Kiểm soát chi thực hiện, cùng với đó là nhân sự cũng chuyển sang Như vậy, khối lượng công việc tại Phòng Kiểm soát chi tăng lên rất lớn Mỗi công chức kiểm soát chi khi thực hiện kiểm soát, thanh toán 01 chứng từ chi đầu tư, CTMT… ngoài việc kiểm soát hồ sơ, chứng từ theo quy định, sẽ phải nhập 02 lần trên Chương trình DTKB-LAN; nhập yêu cầu thanh toán trên TABMIS; nhập số liệu vào chương trình THBC, chương trình ANQP (công chức nhập 05 lần trên nhập trên 04 chương trình khác nhau; Lãnh đạo Phòng Kiểm soát chi ký kiểm soát 04 lần trên 03 chương trình-trừ TABMIS)
Đề xuất: với KBNN cấp tỉnh tuỳ quy mô hoạt động có thể thành lập nhiều hơn 01 Phòng Kiểm soát chi để giảm bớt áp lực công việc cho Lãnh đạo Phòng,
có thời gian nghiên cứu, hướng dẫn các KBNN trực thuộc
* Về công tác cán bộ: Khi bỏ cấp Tổ tại KBNN cấp huyện, công chức kiểm soát chi làm việc theo chế độ chuyên viên, Lãnh đạo KBNN cấp huyện trực tiếp ký duyệt trên chứng từ và các chương trình ứng dụng, như Lãnh đạo Phòng Kiểm soát chi, không còn chức danh Tổ trưởng Tổng hợp-Hành chính Như vậy, khối lượng công việc của Lãnh đạo KBNN cấp huyện sẽ tăng lên rất nhiều
Đề xuất: Tuỳ quy mô hoạt động của KBNN cấp huyện (theo tiêu chí số lượng địa bàn hành chính cấp xã, doanh số hoạt động chi NSNN, số biên chế được giao,…) đề xuất bổ sung cấp phó KBNN huyện để đáp ứng được yêu cầu công việc khi thực hiện thống nhất đầu mối Kiểm soát chi (hiện số lượng cấp phó KBNN cấp huyện đang được quy định tại công văn 1738/KBNN-TCCB ngày 16/7/2015 của KBNN về việc triển khai thực hiện các quyết định về chứng năng, nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức của KBNN tỉnh, huyện) Đồng thời, giữ nguyên chức danh, phụ cấp tổ trưởng của Kế toán trưởng và người uỷ quyền Kế toán trưởng tại KBNN cấp huyện./