Nghiên cứu được thực hiện nhằm mục tiêu xác định nhu cầu phân bón NPK cho cây cam Sành được trồng với mật độ dày ở Trà Ôn – Vĩnh Long. Thí nghiệm một nhân tố được bố trí theo thể thức khối hoàn toàn ngẫu nhiên gồm 4 nghiệm thức (+NPK, -N, -P, -K) với 3 lần lặp lại, mỗi lặp lại là 3 cây. Mời các bạn tham khảo!
Trang 1NHU CẦU PHÂN BÓN N, P, K CHO CÂY CAM SÀNH
Huỳnh Kim Định1, Nguyễn Thanh Tùng2,
Lê Văn Dang3, Ngô Ngọc Hưng3
TÓM TẮT
Nghiên cứu được thực hiện nhằm mục tiêu xác định nhu cầu phân bón NPK cho cây cam Sành được trồng với mật độ dày ở Trà Ôn – Vĩnh Long Thí nghiệm một nhân tố được bố trí theo thể thức khối hoàn toàn ngẫu nhiên gồm 4 nghiệm thức (+NPK, -N, -P, -K) với 3 lần lặp lại, mỗi lặp lại là 3 cây Nghiên cứu được thực hiện từ tháng 2/2019 đến tháng 12/2019 trên vườn trồng cam Sành có độ tuổi 4 năm (đã thu hoạch được 2 năm) với mật độ 5.000 cây/ha Kết quả nghiên cứu cho thấy, cam Sành trồng ở Trà Ôn – Vĩnh Long chỉ đạt năng suất cao nhất khi được bón đầy đủ từng loại dưỡng chất gồm N, P và K Đáp ứng năng suất của cây cam Sành đối với các nghiệm thức phân bón theo thứ tự là: NPK>NP=NK>PK Hiệu quả thu hồi (%) của phân N, P và K trên cây cam Sành theo thứ tự là: 45-10-40 Công thức phân bón đề xuất cho cây cam Sành được trồng với mật độ dày trong nghiên cứu là: 311 N - 540 P2O5 - 348 K2O (kg/ha)
Từ khóa: Cam Sành, hiệu quả thu hồi, mật độ dày, phân bón NPK,năng suất
1 MỞ ĐẦU 6
Cam Sành là một trong số các cây trồng chủ lực
ở tỉnh Vĩnh Long, được trồng với diện tích rất lớn tập
trung chủ yếu ở các huyện: Tam Bình, Vũng Liêm và
Trà Ôn Do giá trị kinh tế cao nên người dân địa
phương đang chuyển đổi ồ ạt từ đất trồng lúa sang
chuyên canh trồng cây cam Sành
(vinhlongonline.com.vn) Theo Chi cục Trồng trọt và
Bảo vệ thực vật Vĩnh Long, mỗi năm ước tính có gần
1.000 ha cam Sành được trồng mới trên nền đất lúa ở
Trà Ôn Diện tích cam Sành của huyện được trồng
nhiều nhất ở xã Thới Hòa, kế đến là xã Hựu Thành
và xã Vĩnh Xuân (http://ccttbvtv.vinhlong.gov.vn/)
Chuyển đổi cây trồng trên nền đất lúa kém hiệu quả
để tăng hiệu quả kinh tế là việc làm đúng và phù hợp
với xu hướng phát triển nông nghiệp của tỉnh Tuy
nhiên, do có rất ít các nghiên cứu về công thức phân
bón chuyên biệt cho cây cam Sành, nên hiện tại các
cơ quan chuyên môn của địa phương chưa khuyến
cáo cụ thể lượng phân bón cho cây cam Sành, người
dân chủ yếu bón phân cho cây dựa vào kinh nghiệm
của bản thân nên có thể dẫn đến hiệu quả kinh tế
không cao, do bón nhiều hơn so với nhu cầu của cây
(Đặng Kiều Nhân, 2014) Thuật ngữ: bón phân cho
1
Sở Nông nghiệp và PTNT tỉnh Vĩnh Long
2
Học viên cao học ngành Biến đổi khí hậu, Trường Đại học
Cần Thơ
3
Trường Đại học Cần Thơ
cây trồng dựa vào khả năng cung cấp dinh dưỡng từ đất và nhu cầu của cây đã được phát triển và ứng dụng trên nhiều loại cây trồng ở nhiều nơi trên thế giới (Das et al., 2009; Kumar et al., 2016; Ezui et al., 2016) Phương pháp này hướng đến việc giúp nông dân điều chỉnh phân bón để bù đắp sự thiếu hụt chất dinh dưỡng giữa nhu cầu chất dinh dưỡng cần để đạt năng suất cao và chất dinh dưỡng được cung cấp từ đất (phụ phẩm trồng trọt và nước tưới) Theo Srivastava (2012) để xác định lượng phân bón cho cây có múi cần dựa vào hiệu quả thu hồi của phân bón Hiệu quả thu hồi của phân bón được tính toán nhờ vào ứng dụng kỹ thuật lô khuyết, nhằm xác định được lượng dinh dưỡng cây trồng lấy đi từ đất (lô không bón dinh dưỡng) và từ phân bón (lô có bón dinh dưỡng) Nghiên cứu được thực hiện nhằm mục tiêu xác định nhu cầu phân bón N, P, K cho cây cam Sành được trồng với mật độ dày ở Trà Ôn – Vĩnh Long
2 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Vật liệu
Thí nghiệm lô khuyết được thực hiện trên vườn trồng cam Sành có độ tuổi 4 năm (đã thu hoạch được
2 năm) với mật độ 5.000 cây/ha, từ tháng 2/2019 đến tháng 12/2019 tại ấp Tường Nghĩa, xã Thới Hòa, huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long
Loại phân bón được sử dụng trong thí nghiệm: urê (46% N), supe lân (16% P2O5) và kali clorua (60%
K2O)
Trang 22.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Bố trí thí nghiệm
Thí nghiệm một nhân tố gồm 4 nghiệm thức
được bố trí theo thể thức khối hoàn toàn ngẫu nhiên
với 3 lần lặp lại, mỗi lặp lại gồm 3 cây Các nghiệm thức thí nghiệm được trình bày trong bảng 1
Bảng 1 Nghiệm thức của thí nghiệm STT Nghiệm thức Mô tả
1 NPK Lô bón đầy đủ (+NPK): phân đạm, lân và kali được bón theo lượng khuyến cáo
để đảm bảo rằng những dinh dưỡng này không làm giới hạn năng suất
2 NP
Lô khuyết kali (-K): không bón phân kali, nhưng phân đạm và lân vẫn được bón đủ để đảm bảo rằng những dinh dưỡng đa lượng ngoài kali không làm giới hạn năng suất
3 NK
Lô khuyết lân (-P): không bón phân lân, nhưng phân đạm và kali vẫn được bón đủ để đảm bảo rằng những dinh dưỡng đa lượng ngoài lân không làm giới hạn năng suất
4 PK
Lô khuyết đạm (-N): không bón phân đạm, nhưng phân lân và kali vẫn được bón đủ để đảm bảo rằng những dinh dưỡng đa lượng ngoài đạm không làm giới hạn năng suất
2.2.2 Liều lượng phân bón và thời gian bón phân
cho cây cam Sành
Bảng 2 Thời gian bón phân cho cây cam Sành
(Võ Hữu Thoại, 2018)
N P2O5 K2O Giai đoạn bón
% Sau khi thu hoạch 20 33,3 0
Trước khi ra hoa 15 34,6 30
1 tháng sau khi đậu quả 20 10,7 15
2,5 tháng sau khi đậu quả 25 10,7 15
4 tháng sau khi đậu quả 20 10,7 20
2 tháng trước khi thu hoạch 0 0 20
Tổng cộng 100 100 100
2.2.3 Phương pháp thu mẫu và phân tích đất
Theo kết quả nghiên cứu hợp tác giữa JICA (Cơ
quan Hợp tác quốc tế Nhật Bản) và SOFRI (Viện
Nghiên cứu Cây ăn quả miền Nam) năm 2014, công
thức phân bón được khuyến cáo sử dụng cho cây
cam Sành ở ĐBSCL là: 173 N – 224 P2O5 - 123 K2O (kg/ha) Thời gian bón phân cho cây cam Sành được trình bày trong bảng 2
Mẫu đất ban đầu của thí nghiệm được thu ở độ sâu 0 – 20 cm và 20 – 50 cm để xác định một số tính chất hóa học ban đầu của đất Mẫu đất được thu vào giai đoạn sau khi đã thu hoạch trái của vụ trước và đang chuẩn bị xử lý ra hoa ở vụ tiếp theo Trên vườn thí nghiệm, lấy 5 điểm theo đường chéo góc, trộn đất cẩn thận theo cùng độ sâu để lấy một mẫu đại diện khoảng 500 gram cho vào túi nhựa, ghi ký hiệu mẫu Phơi khô mẫu trong không khí rồi nghiền qua rây 0,5
và 2 mm
Một số chỉ tiêu phân tích trong đất: pHH2O, EC, chất hữu cơ, CEC, cation trao đổi trong đất (Ca, Na,
Mg, K) và sa cấu Phương pháp phân tích đất dựa trên tài liệu của Faithfull (2002), được mô tả trong bảng 3
Bảng 3 Chỉ tiêu và phương pháp phân tích đất STT Chỉ tiêu Đơn vị Phương pháp
1 pHH2O Trích bằng nước cất, tỉ lệ 1: 2,5 (đất/nước), đo bằng pH kế
2 EC mS/cm Trích bằng nước cất, tỉ lệ 1: 2,5 (đất/nước), đo bằng EC kế
3 Chất hữu cơ %C Phương pháp Walkley-Black
4 Ca, Na, Mg,
K trao đổi meq/100 g Trích bằng BaCl2 0,1 M, đo trên máy hấp thu nguyên tử
5 CEC meq/100 g Trích bằng BaCl2 0,1 M, chuẩn độ bằng dung dịch EDTA 0,01
M
6 Sa cấu % Phương pháp ống hút Robinson
Trang 32.2.4 Phương pháp thu mẫu và phân tích hàm
lượng N, P, K có trong trái
Thu mẫu trái: Tổng số cây trong thí nghiệm là 36
cây Thu 3 trái cam Sành có độ đồng đều về kích
thước và đường kính trên mỗi nghiệm thức Mẫu trái
sau khi thu được tách thành 2 phần: (1) phần vỏ bao
gồm vỏ trái và vỏ múi; (2) phần thịt múi Phần vỏ được đem sấy ở nhiệt độ 700C trong 72 giờ, phần thịt múi được đông khô trong 72 giờ bằng máy đông khô Phương pháp xác định hàm lượng N, P, K có trong trái cam Sành được trình bày trong bảng 4
Bảng 4 Phương pháp xác định N, P, K có trong trái cam Sành STT Dưỡng chất Công phá mẫu Phương pháp xác định*
1 N Chưng cất Kjeldhal
2 P So màu trên quang phổ
3 K
6 g salixilic axít + 18 ml nước khử khoáng + 100 ml H2SO4 96%, H2O2 được
sử dụng để oxy hóa Đo trên máy hấp thu nguyên tử
Ghi chú: Theo phương pháp của Walsh và Beaton (1973)
2.2.5 Thu thập năng suất cam Sành
Thu thập tổng khối lượng trái trên mỗi nghiệm
thức (do cây được xử lý ra hoa đồng loạt nên khi thu
hoạch chỉ thu 02 đợt trên năm), sau đó quy về năng
suất tấn/ha
2.2.6 Xác định lượng phân N, P và K cần bón
cho cây cam Sành
Căn cứ phương pháp xác định phân bón N, P, K
cho cây có múi của Srivastava (2012), công thức tính
lượng phân N, P hoặc K được dựa vào hiệu quả thu
hồi của phân bón và lượng N, P hoặc K cần để tạo ra
1 tấn quả Để tính lượng phân bón N cần bón cho cây
cam Sành ta dựa vào các công thức sau:
+ Công thức xác định hiệu quả thu hồi phân N
REN = (U+N – U-N)/FN (*)
Trong đó: REN là hiệu quả thu hồi của phân N;
U+N: là tổng lượng N hấp thu trong trái ở lô có bón
phân N (năng suất x hàm lượng N có trong trái); U-N:
là tổng lượng N hấp thu trong trái ở lô không bón
phân N (năng suất x hàm lượng N có trong trái) FN: lượng phân N đã bón ở lô thí nghiệm có bón phân N + Công thức xác định phân N:
FN = (UNT– U0N)/REN
FN là công thức phân N cần bón để đạt được năng suất mong muốn UNT là tổng lượng dưỡng chất
N hấp thu của năng suất mục tiêu; U0N là tổng lượng dưỡng chất N hấp thu ở lô không bón N; REN là hiệu quả thu hồi của phân N được xác định từ công thức (*)
Phân P và K được tính tương tự
2.2.7 Xử lý và đánh giá số liệu
Phần mềm Microsoft Excel được sử dụng để tổng hợp, tính toán số liệu vẽ đồ thị Phần mềm SPSS được sử dụng để so sánh sự khác biệt giữa các giá trị trung bình thông qua kiểm định Duncan
3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 3.1 Đặc tính đất ban đầu của vùng nghiên cứu
Bảng 5 Một số tính chất hóa lý học đất ban đầu của vùng nghiên cứu
Cation trao đổi trong đất (meq/100g)
Cấp hạt (%)
Độ
sâu
(cm)
pHH2O
(1:2,5)
EC (mS/cm)
Chất hữu cơ (%)
CEC (meq/100g)
Ca2+ Na+ K+ Mg+ Sét Thịt Cát 0-20 4,97 0,79 2,90 21,1 4,98 0,35 0,51 4,15 44,6 51,8 3,60
20-50 5,21 0,68 3,12 20,3 5,36 0,44 0,63 4,33 53,6 44,5 1,90
Giá trị pHH2O trong đất ở độ sâu 0-20 cm là 4,97
và độ sâu 20-50 cm là 5,21 Nhìn chung, giá trị pHH2O
ở tầng mặt thấp hơn so với tầng dưới Giá trị EC
trong đất tại điểm thí nghiệm nhỏ hơn 1,0 mS/cm,
khoảng giá trị này không ảnh hưởng đến sự sinh
trưởng và phát triển của cây cam Sành Chất hữu cơ
trong đất ở cả hai độ sâu khảo sát dao động từ 2,90 –
3,12%, theo thang đánh giá về hàm lượng chất hữu cơ
trong đất của Metson (1961) thì hàm lượng chất hữu
cơ trong đất nghiên cứu ở mức nghèo Giá trị CEC trong đất thí nghiệm dao động từ 20,3 – 21,1 meq/100 g (Bảng 5) Theo thang đánh giá của Landon (1984), CEC của đất vườn canh tác cam Sành
ở mức trung bình Các cation trao đổi (Na+, K+, Ca2+,
Mg2+) của đất nằm trong khoảng biến động của nhóm đất phù sa ở ĐBSCL theo kết quả nghiên cứu
Trang 4của Ngô Ngọc Hưng (2009) Dựa vào tam giác sa cấu
USDA, đất thí nghiệm được xác định thuộc nhóm đất
sét pha thịt (silty clay)
3.2 Xác định công thức phân bón N, P, K cho
cây cam Sành Trà Ôn
3.2.1 Hàm lượng N, P, K có trong trái cam Sành
Trà Ôn
Kết quả phân tích hàm lượng N, P, K có trong
trái cam Sành được trình bày trong bảng 6 Dựa vào
độ lệch chuẩn có thể thấy hàm lượng N, P và K
không có sự khác biệt lớn giữa các nghiệm thức bón
phân Cụ thể, hàm lượng N trung bình trong trái cam
Sành chiếm khoảng 0,20% và hàm lượng K chiếm
khoảng 0,29% Trong khi đó, hàm lượng P trong trái
cam Sành chiếm tỷ lệ rất thấp, chỉ khoảng 0,10%
Bảng 6 Hàm lượng dưỡng chất có trong trái cam
Sành Hàm lượng dưỡng chất có trong
trái cam (%)
Nghiệm
thức
N P2O5 K2O NPK 0,20±0,05 0,10±0,03 0,29±0,04
PK 0,20±0,05 0,09±0,02 0,28±0,05
NK 0,19±0,07 0,10±0,02 0,29±0,04
NP 0,20±0,04 0,11±0,04 0,30±0,05
Ghi chú: Các số theo sau dấu ± thể hiện cho độ
lệch chuẩn (Standard Deviation)
Hàm lượng N-P-K có trong trái cam Sành theo
thứ tự là: 0,20 - 0,10 - 0,29% (Bảng 7) Sau khi thu
hoạch trái, trên mỗi tấn trái cam Sành sẽ lấy đi lượng
dưỡng chất NPK từ đất và phân bón là: 2,0 – 1,0 – 2,9
kg, theo thứ tự Theo kết quả nghiên cứu của Đường
Hồng Dật (2002), để sản xuất 1 tấn trái, cây cam
Canh trồng ở Bắc bộ cần lấy đi 1,7 kg N – 0,22 kg P
và 2,6 kg K
Bảng 7 Nhu cầu NPK để sản xuất ra 1 tấn trái (kg)
Nguyên tố
Hàm lượng trung bình (%)
Nhu cầu lượng N, P,
K để tạo ra 1 tấn trái
(kg)
N 0,20 2,00
P 0,10 1,00
K 0,29 2,90
3.2.2 Năng suất trái cam Sành ở các nghiệm
thức thí nghiệm
Hình 1 cho thấy, năng suất trái giữa các nghiệm
thức có sự khác biệt ý nghĩa thống kê ở mức ý nghĩa
5% Nghiệm thức bón phân NPK đưa đến năng suất
cao khác biệt so với các nghiệm thức còn lại Ở nghiệm thức NK và NP cho năng suất cao hơn so với nghiệm thức PK, nhưng thấp hơn có ý nghĩa thống
kê so với nghiệm thức NPK Không bón N cho năng suất thấp nhất so với bón khuyết các dưỡng chất khác Đáp ứng năng suất của cam Sành với phân N,
P, K theo thứ tự: N>P=K Có thể thấy rằng, phân N,
P, K đóng vai trò quan trọng để gia tăng năng suất cây cam Sành Khả năng cung cấp dinh dưỡng từ đất
sẽ không đủ để cây cam Sành có thể đạt năng suất tối hảo Do đó, cần phải bón bổ sung thêm phân N,
P, K cho cây cam Sành trồng với mật độ dày ở Vĩnh Long nhằm đạt năng suất tốt nhất và kéo dài thời gian thu hoạch của cây Kết quả nghiên cứu của Ngô Ngọc Hưng và ctv (2020) trên cây bưởi Năm Roi cho thấy, bón phân N, P, K đã làm gia tăng đường kính trái, khối lượng trái, từ đó đưa đến gia tăng năng suất trái
Hình 1 Năng suất trái cam Sành (tấn/ha)
3.2.3 Xác định hiệu quả thu hồi phân bón N, P, K
Kết quả được trình bày trong bảng 8 cho thấy, hiệu quả thu hồi của phân bón N, P, K trên cây cam Sành theo thứ tự là 45-10-40% Theo kết quả nghiên cứu trên cây có múi trồng ở Ấn Độ của Srivastava (2013), hiệu quả thu hồi của phân N, P, K là: 40-10-50% So với kết quả nghiên cứu này, hiệu quả thu hồi phân N của cây cam Sành cao hơn khoảng 5%, nhưng hiệu quả thu hồi phân K lại thấp hơn khoảng 10% Đối với hiệu quả thu hồi của phân P thì chưa có sự khác biệt giữa hai nghiên cứu Hiệu quả thu hồi của phân bón P thấp nhất trong ba nguyên tố N, P, K và
có thể được giải thích là do giá trị pH trong đất thí nghiệm khá thấp (<5,0), P sẽ dễ dàng bị cố định bởi nguyên tố sắt và nhôm trong đất thành các hợp chất khó tan dẫn đến cây trồng khó hấp thu được (Sanders et al., 2012)
Trang 5Bảng 8 Hiệu quả thu hồi phân bón N, P, K Nguyên
tố
aTổng lượng hấp thu
dinh dưỡng ở lô có bón
phân (kg/ha)
bTổnghấp thu dinh dưỡng ở lô không bón phân (kg/ha)
cLượng phân đã bón vào (kg/ha)
dHiệu quả thu hồi của phân bón (%)
Ghi chú: d=(a-b)/c
3.2.4 Xác định nhu cầu phân N, P, K của cây
cam Sành Trà Ôn
Kết quả nghiên cứu được trình bày trong bảng 9
cho thấy, công thức phân bón N, P, K được xác định
cho cây cam Sành Trà Ôn trồng mật độ dày là: 311 N
- 540 P2O5 – 348 K2O (kg/ha) Để xác định được công
thức phân bón N, P, K của cây cam Sành cần phải có
số liệu về năng suất mục tiêu của vùng Theo kết quả
điều tra về năng suất cam Sành ở Trà Ôn, nhóm năng
suất chiếm tỷ lệ cao nhất của vùng là 120 tấn/ha
(Ngô Ngọc Hưng và ctv., 2020) Dựa vào năng suất
thu thập từ các nghiệm thức bón khuyết N, P và K;
cùng với nhu cầu dinh dưỡng để tạo ra 01 tấn trái và
hiệu quả thu hồi của phân bón N, P, K Công thức phân bón cho cây cam Sành đã được xác định (Bảng 9)
So với các khuyến cáo về phân bón N, P, K cho cây cam Sành, công thức phân bón được xác định trong nghiên cứu này cao hơn nhiều so với các nghiên cứu trước đây Lý do mật độ trồng cam Sành hiện nay cao hơn rất nhiều so với trước đây Hiện nay mật độ trồng cam Sành ở Vĩnh Long cao gấp 3 lần so với mô hình canh tác truyền thống, khoảng 3.000 cây/ha (Nguyễn Ngọc Thanh và ctv., 2018) Vì vậy, nhu cầu phân bón N, P, K cho cây cam Sành sẽ có sự thay đổi rất lớn
Bảng 9 Nhu cầu phân NPK của cây cam Sành Trà Ôn Năng suất trái cam
Sành (tấn/ha)
Tổng hấp thu (kg/ha) Nguyên tố
Nhu cầu NPK
để tạo ra 1 tấn trái (kg) aUNT bU0N
cRE (%)
dCông thức phân bón (kg/ha)
N 50 2,00 240 100 45 311
P2O5 66 1,00 120 66 10 540
K2O
120
72 2,90 348 209 40 348
Ghi chú: d=(a-b)/c
4 KẾT LUẬN
Năng suất trái của cam Sành trồng ở Trà Ôn –
Vĩnh Long chỉ đạt cao nhất khi được bón đầy đủ từng
loại dưỡng chất N, P và K Đáp ứng năng suất của cây
cam Sành đối với nghiệm thức phân bón được ghi
nhận theo thứ tự là NPK>NP=NK>PK Hiệu quả thu
hồi (%) của phân N, P và K trên cây cam Sành theo
thứ tự là: 45-10-40 Công thức phân bón được đề xuất
cho cây cam Sành trồng với mật độ dày trong nghiên
cứu là: 311 N - 540 P2O5 – 348 K2O (kg/ha)
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật Vĩnh
Long Trà Ôn diện tích trồng cam sành tăng nhanh
qua từng vụ lúa
http://ccttbvtv.vinhlong.gov.vn/Info.aspx?id=15
10202016925762
2 Das D K., Maiti D., Phathak H (2009) Site
specific nutrient management in rice in Eastern India
using a modeling approach Nutrient Cycling in Agroecosystems, 83(3): 85-94
3 Đặng Kiều Nhân (2014) Báo cáo kết quả dự
án JICA-SOFRI: “Tăng cường hệ thống khuyến nông
để áp dụng tiến bộ kỹ thuật trồng cây có múi cho nông dân nghèo ở đồng bằng sông Cửu Long 51 trang
4 Đường Hồng Dật (2002) Cẩm nang phân bón Nhà xuất bản Nông nghiệp Hà Nội, 164 trang
5 Ezui K S., Franke A C., Mando A., Ahiabor B
D K., Tetteh F M., Sogbedji J., Janssen B H., Giller
K E (2016) Fertiliser requirements for balanced nutrition of cassava across eight locations in West Africa Field Crops Research, 185: 69–78
6 Faithfull N T (2002) Methods in agricultural chemical analysis: A practical handbook CABI, Wallingford pp 266
Trang 67 Kumar P., Byju G., Singh B P., Minhas J S.,
Dua V K (2016) Application of QUEFTS model for
site-specific nutrient management of NPK in sweet
potato (Ipomea batatas L.) Communications in Soil
Science and Plant Analysis, 47:13-14, 1599-1611
8 Landon J R (1984) Booker Tropical Soil
Manual Booker Agriculture International Ltd.,
London, and Longman, Burnt Mill, U.K 450 pp
9 Metson A J (1961) Methods of chemical
analysis of soil survey samples Govt Printers,
Wellington, New Zealand 207 pages
10 Ngô Ngọc Hưng (2009) Tính chất tự nhiên
và những tiến trình làm thay đổi độ phì nhiêu đất
ĐBSCL Nhà xuất bản Nông nghiệp, 471 trang
11 Ngô Ngọc Hưng, Đào Hoài Ân, Lê Văn Dang,
Lê Phước Toàn và Lê Ngọc Quỳnh (2020) Ảnh
hưởng của bón phân N, P, K đến năng suất trái bưởi
Năm Roi ở Châu Thành – Hậu Giang Tạp chí Khoa
học Đất, số chuyên đề: “Hội thảo Khoa học Đất và
Quản lý đất đai: Thoái hóa đất và giải pháp cải thiện
tài nguyên đất đai dưới tác động của hạn mặn đến
phát triển nông nghiệp ĐBSCL” (Số 61 Trang
36-41)
12 Ngô Ngọc Hưng, Lê Văn Dang, Lê Phước
Toàn (2020) Báo cáo kết quả đánh giá thực trạng về
điều kiện thổ nhưỡng, kỹ thuật canh tác, đáp ứng của
phân bón trên sinh trưởng và nhu cầu hấp thu dưỡng
chất của cây cam Sành ở Trà Ôn – Vĩnh Long, thuộc
dự án: “Phát triển sản xuất, nâng cao chất lượng, cam
Sành theo chuỗi giá trị với hiệu quả kinh tế cao giai đoạn 2017 – 2020”.50 trang
13 Nguyễn Ngọc Thanh, Tất Anh Thư, Võ Thị Vân Anh, Nguyễn Văn Lợi và Võ Thị Gương (2018) Đánh giá hiện trạng canh tác vườn trồng cam Sành tại huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long Tạp chí Khoa học Công nghệ Nông nghiệp Việt Nam, số 4(89):
38-44
14 Sanders J L., Murphy L S., Noble A., Melgar
R J., and Perkins J (2012) Improving Phosphorus use Efficiency with Polymer Technology Procedia Engineering 46: 178 – 184
15 Srivastava A K (2012) Intergated nutrient management in citrus In: Srivastava A (eds) Advances in Citrus Nutrition Springer, Dordrecht https://doi.org/10.1007/978-94-007-4171-3_25
16 Srivastava A K (2013) Site specific nutrient management in citrus Scientific Journal of Agricultural 2(2): 53-67
17 Vĩnh Long online ngày 9/8/2016 Trồng cam Sành trên đất lúa: Lợi trước mắt, hại lâu dài
http://www.baovinhlong.com.vn/kinh-te/nong-nghiep/201608/
18 Võ Hữu Thoại (2018) Đề xuất quy trình bón phân và xây dựng công thức phân N, P, K cho cây xoài, nhãn, thanh long và cây có múi Tài liệu hội thảo: Nghiên cứu về dinh dưỡng và xây dựng công thức phân bón N, P, K thích hợp cho cây trồng chính
ở Việt Nam
THE N, P, K FERTILIZER REQUIREMENTS OF KING MADARIN (Citrus nobilis)
CULTIVATED ON HIGH PLANT DENSITY IN VINH LONG PROVINCE
Huynh Kim Dinh, Nguyen Thanh Tung,
Le Van Dang, Ngo Ngoc Hung Summary
This study aimed to determine N, P, K fertilizer requirement for king madarin cultivated on high plant density in Tra On district – Vinh Long province The experiment was established in a randomized complete block design, four treatments (+NPK, -N, -P, -K) with three replications, each replication including three plants The study has been conducted from february to december 2019 Variety of King madarin trees with the age of 4 years and had given fruit for two years The plant density was 5,000 trees per ha The results show that fruit yield of King Mandarin was highest with full N, P, K application Yield response of King madarin with N, P, K fertilizers was NPK>NP=NK>PK, respectively The recovery efficiency (%) of N, P, and
K on King madarin were 45-10-40, respectively Fertilizer recommendation rate for the King madarin cultivated high plant density in this study was 311 N - 540 P2O5 - 348 K2O (kg ha-1
)
Keywords: High plant densisty, King madarin, recovery efficiency, N, P, K fertilizer,fruit yield
Người phản biện: TS Bùi Huy Hiền
Ngày nhận bài: 9/10/2020
Ngày thông qua phản biện: 11/11/2020
Ngày duyệt đăng: 18/11/2020