Nghiên cứu thực trạng pháp luật về cho thuê môi trường rừng để phát triển dược liệu - hướng hoàn thiện pháp luật về hợp đồng cho thuê môi trường rừng là cần thiết nhằm phân tích, đánh giá thực trạng của pháp luật hiện hành về hợp đồng cho thuê môi trường rừng, từ đó đề xuất hướng hoàn thiện pháp luật.
Trang 1THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ CHO THUÊ MÔI TRƯỜNG RỪNG ĐỂ PHÁT TRIỂN DƯỢC LIỆU - HƯỚNG HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG CHO THUÊ
MÔI TRƯỜNG RỪNG
Lê Thị Luyến1
TÓM TẮT
Việt Nam có nguồn cây dược liệu tự nhiên đa dạng và phong phú phát triển trong môi trường rừng Cho thuê môi trường rừng để phát triển dược liệu là hoạt động đang được quan tâm hiện nay tại các khu rừng của Việt Nam Một số địa phương có rừng đã xây dựng mô hình nuôi trồng, phát triển dược liệu trong môi trường rừng Tuy nhiên, những chính sách pháp luật hiện hành quy định về sử dụng môi trường rừng để nuôi trồng, phát triển nguồn dược liệu còn chưa đầy đủ, chưa quy định rõ hình thức cho thuê môi trường rừng để sản xuất nông lâm kết hợp là một loại dịch vụ môi trường rừng quy định tại Điều 61, Luật Lâm nghiệp, 2017 Bài viết này đề cập đến thực trạng phát triển dược liệu trong môi trường rừng, từ đó đề xuất hướng hoàn thiện pháp luật về hợp đồng cho thuê môi trường rừng để phát triển dược liệu tại các địa phương có rừng
Từ khóa: Dược liệu, cho thuê môi trường rừng, hợp đồng, pháp luật
1 ĐẶT VẤN ĐỀ6
Việt Nam có nguồn cây dược liệu tự nhiên đa
dạng và phong phú phát triển trong môi trường rừng;
theo thống kê, hiện nay có khoảng 5.000 loài cây cho
công dụng làm thuốc; trong đó có nhiều loài dược
liệu quý về công dụng chữa bệnh và kinh tế, được
phân bố rộng khắp trên cả nước, tập trung nhiều
nhất ở các quần thể rừng tự nhiên vùng núi cao như:
Sâm Ngọc Linh (Panax vietnamensis), Tam thất
(Panax notoginseng), Bảy lá một hoa (Paris spp.),
Lan kim tuyến (Anoectochilus roxburghii), Đảng
sâm (Codonopsis javanica), Cẩu tích (Cibotium
barometz), Sa nhân (Amomum spp.),… Theo báo
cáo, nhu cầu sử dụng dược liệu trong nước ước tính
từ 60.000 - 80.000 tấn/năm; trong đó, sản lượng nuôi
trồng, khai thác trong nước đạt khoảng 30%, lượng
còn lại chủ yếu được nhập khẩu Do vậy, cần phải có
biện pháp phát triển nguồn dược liệu trong nước để
giảm tính phụ thuộc nhập khẩu, đồng thời tạo việc
làm cho người lao động miền núi, từng bước góp
phần xóa đói, giảm nghèo
Hiện cả nước có 14.609.220 ha đất có rừng; trong
đó có 2.152.460 ha rừng đặc dụng giao cho các Ban
quản lý rừng đặc dụng quản lý, 3.016.541 ha rừng
phòng hộ giao cho các Ban quản lý rừng phòng hộ
1
Vụ Pháp luật Dân sự - Kinh tế, Bộ Tư pháp
quản lý và 1.763.961 ha rừng giao cho các tổ chức kinh tế quản lý [2] Nhiều địa phương đã và đang đề xuất cho các tổ chức thuê môi trường rừng để nuôi trồng, phát triển cây dược liệu, như các tỉnh: Kon Tum, Quảng Nam, Nghệ An, Hà Giang, Vĩnh Phúc, Lai Châu,
Tại các Điều 53, 56, 60, 75, 76 và 78, Luật Lâm nghiệp năm 2017 [12] và Điều 14, 23 và 32, Nghị định số 156/2018/NĐ - CP ngày 16/11/2018 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều thi hành Luật Lâm nghiệp (sau đây gọi tắt là Nghị định số 156/2018/NĐ - CP) ra đời đã tạo hành lang pháp lý quan trọng để phát triển dược liệu trong môi trường rừng [8] Với những quy định mới trong Luật Lâm nghiệp năm 2017 [12] và Nghị định số 156/2018/NĐ-CP [8] nên nhiều vấn đề đặt ra liên quan đến cho thuê môi trường rừng để phát triển dược liệu, sản xuất nông lâm kết hợp trong các khu rừng đặc dụng; hình thức cho thuê môi trường rừng
để sản xuất nông lâm kết hợp Do đó, nghiên cứu thực trạng pháp luật về cho thuê môi trường rừng để phát triển dược liệu - hướng hoàn thiện pháp luật về hợp đồng cho thuê môi trường rừng là cần thiết nhằm phân tích, đánh giá thực trạng của pháp luật hiện hành về hợp đồng cho thuê môi trường rừng, từ
đó đề xuất hướng hoàn thiện pháp luật
Trang 22 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Thời gian nghiên cứu
Nghiên cứu được thực hiện từ tháng 01 năm
2010 đến nay tại các địa phương trên cả nước về thực
trạng phát triển dược liệu và các quy định của pháp
luật của Bộ Luật Dân sự năm 2015 [11] về chế định
hợp đồng và Luật Lâm nghiệp năm 2017 [12] và các
Nghị định hướng dẫn các Luật này
2.2 Nội dung nghiên cứu
- Cơ sở pháp lý hợp đồng cho thuê môi trường
rừng tại Việt Nam hiện nay;
- Thực trạng phát triển dược liệu trong môi
trường rừng hiện nay tại một số địa phương;
- Các mô hình trồng dược liệu trong môi trường
rừng;
- Đề xuất một số giải pháp để hoàn thiện pháp
luật về hợp đồng cho thuê môi trường rừng
2.3 Phương pháp nghiên cứu
2.3.1 Phương pháp thu thập số liệu, tài liệu
- Thu thập số liệu, tài liệu thứ cấp
+ Báo cáo của Hội nghị phát triển dược liệu và
sản phẩm thuốc Quốc gia tại Bình Dương năm 2010;
+ Báo cáo Phát triển dược liệu ở Việt Nam (năm
2017);
+ Tại Thông báo số 220/TB-VPCP ngày
12/5/2017 của Văn phòng Chính phủ về kết luận của
Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc tại Hội nghị toàn quốc
về Phát triển dược liệu ở Việt Nam, Thủ tướng
Nguyễn Xuân Phúc đã chỉ đạo Ủy ban nhân dân các
tỉnh, thành phố, trước hết là các tỉnh, thành phố
trọng điểm xây dựng kế hoạch để triển khai kịp thời
các đề án, dự án trong quy hoạch phát triển dược
liệu; bố trí diện tích phù hợp để trồng dược liệu, nhất
là những dược liệu có thế mạnh của địa phương;
đồng ý cho tỉnh Lào Cai làm thí điểm một số cơ chế
phát triển dược liệu, y dược cổ truyền; Bộ Y tế chỉ
đạo cụ thể [21]
+ Tại Thông báo số 369/TB-VPCP ngày
24/9/2018 của Văn phòng Chính phủ về kết luận của
Thủ tướng tại Hội nghị đầu tư, phát triển sâm Ngọc
Linh và các dược liệu khác tại tỉnh Kon Tum, Thủ
tướng Nguyễn Xuân Phúc đồng ý tỉnh Kon Tum thí
điểm giao rừng, cho thuê rừng đặc dụng để phát
triển sâm Ngọc Linh và các dược liệu khác Việc giao
rừng, cho thuê rừng phải đảm bảo nguyên tắc không
làm ảnh hưởng đến mục tiêu bảo tồn và phát triển rừng, không làm ảnh hưởng đến cấu trúc và diễn thế
tự nhiên của rừng, không phá vỡ cảnh quan môi trường, không chặt phá rừng; không làm xâm hại tài nguyên rừng và săn bắt động vật hoang dã; thực hiện đúng các quy định của pháp luật hiện hành về quản
lý, bảo vệ rừng đặc dụng [22]
+ Số liệu thống kê hàng năm của các địa phương
có mô hình trồng các loài cây thuốc để tạo nguồn nguyên liệu cho sản xuất như: tỉnh Kon Tum và Quảng Nam đã đầu tư phát triển sâm Ngọc Linh; tỉnh Thanh Hóa; các nghiên cứu của Viện Dược liệu về tiềm năng và hiện trạng nguồn tài nguyên dược liệu + Những báo cáo của Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn các tỉnh: Hà Giang, Lai Châu, Quảng Nam, Kon Tum [14], [15], [16], [17]
- Phương pháp thu thập số liệu, thông tin sơ cấp
Sử dụng phương pháp phỏng vấn sâu, khảo sát
mô hình điển hình trên thực tế, phương pháp chuyên gia để thu thập thông tin
Đối tượng phỏng vấn: cán bộ quản lý tại các Sở Nông nghiệp và PTNT các tỉnh thí điểm hoạt động cho thuê môi trường rừng, đơn vị thuê môi trường rừng, các tổ chức có liên quan để thu thập thông tin
về quan điểm và đánh giá của người được hỏi về thực trạng hoạt động cho thuê môi trường rừng
2.3.2 Phương pháp phân tích và xử lý số liệu
Phương pháp thống kê mô tả được sử dụng trong quá trình nghiên cứu đề tài nhằm mô tả thực trạng phát triển dược liệu trong môi trường rừng hiện nay Ngoài ra, để làm rõ những khoảng trống pháp luật về hợp đồng cho thuê môi trường rừng, đã
sử dụng phương pháp liệt kê, so sánh các quy định của pháp luật hiện nay về cho thuê môi trường rừng nói chung và hợp đồng cho thuê môi trường rừng nói riêng, từ đó nêu bật lên sự cần thiết nghiên cứu về thực trạng pháp luật về cho thuê môi trường rừng để phát triển dược liệu - hướng hoàn thiện pháp luật về hợp đồng cho thuê môi trường rừng
3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 3.1 Cơ sở pháp lý hợp đồng cho thuê môi trường rừng tại Việt Nam hiện nay
3.1.1 Quy định liên quan đến cho thuê MTR trong Luật Lâm nghiệp và Nghị định số 156/2019/NĐ - CP
Trang 3Thuê môi trường rừng được hiểu theo quy định
tại khoản 22, Điều 2, Luật Lâm nghiệp, 2017 [12] là
việc tổ chức, cá nhân thỏa thuận với chủ rừng để
được sử dụng môi trường rừng trong một thời gian
nhất định thông qua hợp đồng cho thuê môi trường
rừng theo quy định của pháp luật
Dịch vụ môi trường rừng theo quy định tại
khoản 23, Điều 2, Luật Lâm nghiệp, 2017 [12] là hoạt
động cung ứng các giá trị sử dụng của môi trường
rừng
Môi trường rừng được hiểu theo quy định tại
khoản 8, Điều 3, Nghị định số 156/2019/NĐ - CP là
“bộ phận của hệ sinh thái rừng, bao gồm đất, nước,
không khí, âm thanh, ánh sáng và các yếu tố vật chất
khác tạo nên cảnh quan rừng” [8]
Nuôi trồng, phát triển dược liệu trong môi
trường rừng là sử dụng các yếu tố về đất, nước,
không khí, ánh sáng do hệ sinh thái rừng tạo thành
và nó là một loại dịch vụ môi trường rừng
Căn cứ nguồn gốc hình thành, rừng được phân
thành hai loại: rừng tự nhiên, rừng trồng và được
hiểu theo khoản 6, khoản 7, Điều 2, Luật Lâm
nghiệp, 2017 [12] Theo quy định tại Điều 5 Luật
Lâm nghiệp, rừng được phân thành 03 loại: Rừng đặc
dụng, rừng phòng hộ và rừng sản xuất [12] Như vậy,
có các đối tượng môi trường rừng là: Rừng đặc dụng,
rừng phòng hộ, rừng sản xuất là rừng tự nhiên và
rừng trồng
Đối với rừng phòng hộ, rừng sản xuất: Theo quy
định tại các Điều 47 và 48 Luật Lâm nghiệp, 2017
[12] thì chủ rừng được phép thực hiện trồng rừng
theo phương pháp trồng hỗn giao với các loài cây đa
tác dụng, cây lâm sản ngoài gỗ Tại Điều 57 và 60
Luật Lâm nghiệp, 2017 [12] quy định: chủ rừng được
trồng xen cây nông nghiệp, cây lâm sản ngoài gỗ
dưới tán rừng theo hình thức sản xuất lâm, nông, ngư
nghiệp kết hợp mà không làm suy giảm chức năng
phòng hộ, chất lượng rừng
Đối với rừng đặc dụng: Theo quy định tại Điều
46 về phát triển rừng đặc dụng, Luật Lâm nghiệp,
2017 [12] quy định: trong phân khu phục hồi sinh
thái và dịch vụ - hành chính của vườn quốc gia, khu
dự trữ thiên nhiên, khu bảo tồn loài và sinh cảnh chỉ
được áp dụng biện pháp kết hợp tái sinh tự nhiên với
làm giàu rừng, trồng loài cây bản địa để phục hồi cấu
trúc rừng tự nhiên
Về cho thuê rừng, theo quy định tại khoản 4, Điều 14, Luật Lâm nghiệp [12]: Chủ rừng không được cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân khác thuê diện tích rừng tự nhiên, rừng trồng do Nhà nước đầu
tư
Cho thuê môi trường rừng, trong thời gian qua thực hiện tại một số tỉnh nước ta chủ yếu để kinh doanh du lịch sinh thái tại khu rừng đặc dụng Việc cho thuê môi trường rừng để kinh doanh du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng, giải trí được quy định tại khoản 6, Điều 14, Nghị định 156/2018/NĐ-CP Theo
đó, chủ rừng được phép cho các tổ chức, cá nhân thuê môi trường rừng đặc dụng để kinh doanh dịch
vụ du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng, giải trí; trước khi ký hợp đồng cho thuê môi trường rừng, chủ rừng phải điều tra thống kê tài nguyên rừng trên diện tích cho thuê để làm căn cứ cho thuê và giám sát, đánh giá việc thực hiện hợp đồng [8]
Luật Lâm nghiệp và Nghị định 156/2018/NĐ-CP chưa định nghĩa về hợp đồng cho thuê môi trường rừng Tuy nhiên, theo Điều 472, Bộ Luật Dân sự năm
2015 định nghĩa “Hợp đồng thuê tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên cho thuê giao tài sản cho bên thuê để sử dụng trong một thời hạn, bên thuê phải trả tiền thuê ” [11] Căn cứ vào các quy định của Bộ Luật Dân sự năm 2015 về hợp đồng, có thể hiểu hợp đồng cho thuê môi trường rừng như sau: “Hợp đồng cho thuê môi trường rừng là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó, bên cho thuê cho bên thuê sử dụng môi trường rừng để kinh doanh, phát triển cây dược liệu trong một thời hạn, bên thuê phải trả tiền thuê”
Đặc điểm của hợp đồng cho thuê môi trường rừng là hợp đồng song vụ và luôn có đền bù Kể từ thời điểm hợp đồng thuê có hiệu lực, các bên trong hợp đồng thuê đều có quyền và nghĩa vụ đối với nhau Mục đích của bên thuê môi trường rừng là được sử dụng môi trường rừng của bên cho thuê một thời hạn nhất định Ngược lại, bên cho thuê hướng tới việc thu được một khoản tiền khi cho người khác
sử dụng môi trường rừng của mình Vì vậy, khi hợp đồng thuê được xác lập thì mỗi bên đều chuyển giao cho nhau những lợi ích, trong đó, bên cho thuê chuyển giao cho bên thuê quyền khai thác công dụng của môi trường rừng, bên thuê chuyển giao cho bên cho thuê một khoản tiền (tiền thuê môi trường rừng)
Trang 4Khác với hợp đồng thuê tài sản thông thường,
các bên trong hợp đồng cho thuê môi trường rừng
đều hướng đến mục tiêu bảo tồn hệ sinh thái rừng
gắn liền với việc khai thác tiềm năng dịch vụ môi
trường của rừng một cách hợp lý để thực hiện hoạt
động kinh doanh, trong đó có cả hoạt động phát triển
cây dược liệu dưới tán rừng
Cơ sở pháp lý tính giá cho thuê môi trường rừng
để nuôi trồng và phát triển dược liệu Để thực hiện
cho thuê môi trường rừng để nuôi trồng và phát triển
dược liệu, khó khăn lớn nhất vẫn là xác định giá cho
thuê Theo quy định tại Thông tư số
32/2018/TT-BNNPTNT ngày 16/11/2018 của Bộ Nông nghiệp và
PTNT quy định phương pháp định giá rừng; khung
giá rừng [1] Nguyên tắc định giá rừng theo quy định
tại khoản 2, Điều 90 của Luật Lâm nghiệp, được quy
định như sau: phù hợp với giá trị lâm sản và giá trị
dịch vụ môi trường rừng đang giao dịch trên thị
trường tại thời điểm định giá; phù hợp với từng loại
rừng gắn với quy định về quyền sử dụng rừng, khả
năng sinh lợi và thu nhập từ rừng và bảo đảm công
khai, minh bạch, khách quan và khoa học [12]
Về thời hạn thuê môi trường rừng để nuôi trồng
và phát triển dược liệu: tối thiểu phải bằng môt chu
kỳ sản xuất của loài cây dươc liệu (5 năm) Bởi vì,
theo quy hoạch tổng thể phát triển dược liệu đến
năm 2020 và định hướng đến năm 2030 được Thủ
tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số
1976/QĐ-TTg ngày 30/10/2013, mỗi vùng sinh thái
khác nhau phù hợp với phát triển loài cây dược liệu
có chu kỳ sản xuất khác nhau; hầu hết các loài chu
kỳ từ 2 - 3 năm, đối với sâm Ngọc Linh phải ít nhất 4 -
7 năm mới cho thu hoạch [18]
3.1.2 Các chính sách liên quan
a) Chính sách về đất đai
Luật Đất đai năm 2013 [13] quy định:
- Đối với rừng sản xuất được quy định tại khoản
3, Điều 135 như sau: “Tổ chức kinh tế, người Việt
Nam định cư ở nước ngoài, doanh nghiệp có vốn đầu
tư nước ngoài sử dụng đất rừng sản xuất được kết
hợp kinh doanh cảnh quan, du lịch sinh thái - môi
trường dưới tán rừng” [13];
- Đối với rừng phòng hộ được quy định tại khoản 4,
Điều 136 như sau: “Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết
định cho tổ chức kinh tế thuê đất rừng phòng hộ thuộc
khu vực được kết hợp với kinh doanh cảnh quan, du
lịch sinh thái - môi trường dưới tán rừng” [13];
- Đối với rừng đặc dụng được quy định tại khoản 5, Điều 137 như sau: “Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định cho tổ chức kinh tế thuê đất rừng đặc dụng thuộc khu vực được kết hợp với kinh doanh cảnh quan, du lịch sinh thái - môi trường dưới tán rừng” [13]
b) Chính sách về vốn
Trong thời gian qua, Chính phủ đã có nhiều chính sách ưu tiên, khuyến khích sản xuất nông nghiệp nói chung và dược liệu nói riêng, như: Nghị định số 57/2018/ NĐ-CP của Chính phủ về chính sách khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn [7]; Nghị định 02/2010/NĐ-CP của Chính phủ về khuyến nông [4]; Nghị định số 65/2017/NĐ-CP ngày 19/5/2017 của Chính phủ quy định Chính sách đặc thù về giống, công nghệ trong phát triển nuôi trồng, khai thác dược liệu [5]; Nghị định số 02/2017/NĐ-CP của Chính phủ về cơ chế, chính sách hỗ trợ giống cây trồng, vật nuôi, thủy sản
để khôi phục sản xuất vùng bị thiệt hại do thiên tai, dịch bệnh [6]
c Quy định về quản lý các loài dược liệu là thực vật rừng nguy cấp, quý, hiếm và các loài nằm trong Phụ lục I, II của CITES
Các dược liệu nguy cấp, quý hiếm phải tuân thủ theo quy định quản lý của Nghị định
06/2019/NĐ-CP ngày 22/01/2019 của Chính phủ [9], cụ thể: Nuôi trồng vì mục đích thương mại, thực hiện theo các quy định tại khoản 2, Điều 15, Nghị định 06/2019/NĐ-CP của Chính phủ [9], cụ thể: Đảm bảo nguồn giống hợp pháp; cơ sở nuôi trồng phải phù hợp với đặc tính sinh thái học của loài; có phương án nuôi trồng theo mẫu số 5 và mẫu số 7 ban hành kèm theo Phụ lục của Nghị định 06/2019/NĐ-CP của Chính phủ [9];
Trong quá trình nuôi trồng phải lập sổ theo dõi theo mẫu số 16 và 17 ban hành kèm theo phụ lục của Nghị định 06/2019/NĐ-CP của Chính phủ [9]; định
kỳ báo cáo và chịu kiểm tra giám sát của Chi cục Kiểm lâm tỉnh sở tại
d Về quy hoạch tổng thể phát triển dược liệu đến năm 2020 và định hướng đến năm 2030: Ngày 30/10/2013, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1976/QĐ - TTg phê duyệt quy hoạch tổng thể phát triển dược liệu đến năm 2020 và định hướng đến năm 2030 [18], trong đó quy định rõ quy hoạch các vùng trồng cây dược liệu, bao gồm: Vùng núi cao có khí hậu Á nhiệt đới; vùng núi trung bình
Trang 5có khí hậu Á nhiệt đới; vùng trung du miền núi Bắc
bộ; vùng đồng bằng sông Hồng; vùng Bắc Trung bộ;
vùng Nam Trung bộ; vùng Tây Nguyên; vùng Tây
Nam bộ và vùng Đông Nam bộ
3.2 Thực trạng phát triển dược liệu trong môi
trường rừng
Việt Nam có nguồn cây dược liệu tự nhiên đa
dạng và phong phú phát triển trong môi trường rừng
Tính đến ngày 31/12/2019, hiện cả nước có
14.609.220 ha đất có rừng, trong đó có 10.292.434 ha
rừng tự nhiên và 4.316.786 ha rừng trồng [3] Nhiều
địa phương đã và đang đề xuất cho các tổ chức thuê
môi trường rừng để nuôi trồng, phát triển cây dược
liệu, như các tỉnh: Kon Tum, Quảng Nam, Nghệ An,
Hà Giang, Vĩnh Phúc, Lai Châu,
Bảng 1 Diện tích trồng cây dược liệu trong tổng thể
tại một số địa phương
Tên tỉnh
Diện tích trồng cây dược liệu trên địa bàn tỉnh (ha)
Diện tích có rừng (ha)
Tỷ lệ diện tích trồng cây dược liệu so với tổng thể diện tích có rừng (%) Quảng
Nam
Quảng
Bình
Nguồn: Bộ Nông nghiệp và PTNT (2020) [3]
Bảng 1 cho thấy, diện tích trồng cây dược liệu ở
Quảng Bình chiếm tỷ lệ rất nhỏ (0,1%) so với tổng
diện tích có rừng, tiếp đến là Lai Châu (0,13%),
Quảng Nam (0,2%) và cao nhất là ở Hà Giang (2,88%)
Tổng diện tích trồng dược liệu trên địa bàn tỉnh
Quảng Nam là 7.453,80 ha (sâm Ngọc Linh là 461
ha); trong đó thuê môi trường rừng là: 1.303,23 ha;
người dân và doanh nghiệp tự trồng là: 6.150 ha
Hiện có 5 tổ chức, doanh nghiệp và 26 nhóm hộ đã
hoàn thiện hồ sơ thuê môi trường rừng với tổng diện
tích là 543,31 ha; trong đó, doanh nghiệp là 147,06 ha
và nhóm hộ là 396,25 ha, đang hoàn thiện hồ sơ cho
7 tổ chức, doanh nghiệp và 13 nhóm hộ thuê môi
trường rừng với diện tích là 759,92 ha [16]
Tỉnh Lai Châu đã phát triển trồng dưới tán rừng
tự nhiên, các loài: Sa nhân 1.218,73 ha, Thảo quả 5.630 ha Hiện tại tỉnh đã phê duyệt đề án phát triển một số cây dược liệu giai đoạn 2020 - 2025 tầm nhìn đến 2030 với dự kiến diện tích khoảng 600 ha [15] Tỉnh Kon Tum đã cho 2 đơn vị thuê 4.796,44 ha rừng (chưa cho thuê môi trường rừng); quyết định về chủ trương đầu tư cho 01 doanh nghiệp thuê 2.534,09 ha; kêu gọi 4 dự án đầu tư để trồng sâm Ngọc Linh
và dược liệu khác với diện tích là: 8.978,3 ha Tổng diện tích rừng cho thuê để phát triển dược liệu theo
kế hoạch là 16.308,83 ha, chủ yếu là rừng phòng hộ [17]
Tỉnh Hà Giang, hàng năm thu hoạch trong rừng
tự nhiên các loại dược liệu: Thổ phục linh 98 tấn/năm, Câu đằng 7,5 tấn/năm, Giảo cổ lam 155 tấn/năm, diện tích trồng khoảng 11.708 ha Hiện tại, đang xây dựng đề án bảo tồn và phát triển dược liệu tại các khu rừng đặc dụng giai đoạn 2018 - 2025 để báo cáo Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định với tổng diện tích theo đề án là 56.008 ha (dự kiến), trong đó đề nghị thí điểm cho thuê môi trường rừng
để phát triển dược liệu trong giai đoạn 2018-2019 là
500 ha [14]
Một số tỉnh đã chủ động xây dựng và phê duyệt
đề án phát triển cây dược liệu của địa phương với mục tiêu phát huy tiềm năng, lợi thế về điều kiện tự nhiên, gắn với bảo tồn, khai thác, sử dụng bền vững nguồn tài nguyên cây dược liệu từ tự nhiên và gây trồng; các loài dược liệu do người dân, doanh nghiệp trồng, khai thác dưới tán rừng trên diện tích được giao, khoán với sản lượng khoảng 20.000 tấn mỗi năm, trên diện tích khoảng 22.200 ha, như: tỉnh Vĩnh Phúc có báo cáo Thủ tướng Chính phủ xin chủ trương thí điểm thuê môi trường rừng rừng đặc dụng
để trồng, bảo tồn, khai thác bền vững các loài dược liệu, quý, hiếm tại Vườn Quốc gia Tam Đảo với diện tích khoảng 200 ha; tỉnh Yên Bái đã trồng, khai thác, chế biến các loại dược liệu, bao gồm: Thiên niên kiện
300 tấn/năm; Bách bộ 1.000 tấn/năm, Kim tiền thảo
420 tấn/năm, Sa nhân 9 tấn/năm, Hà Thủ ô đỏ 8,0
ha, Giảo cổ lam 6,0 ha, Cà gai leo 3 ha, Quế 51,9 ha ; tỉnh Điện Biên đã trồng được 337,8 ha Sa nhân dưới tán rừng; tỉnh Thanh Hóa đã phát triển một số mô hình trồng cây dược liệu dưới tán rừng với tổng diện tích là 138,8 ha, gồm: Sa nhân 28,9 ha, Mã tiền 2 ha, Thổ phục linh 5,4 ha, Bách bộ 2,4 ha, Chè vằng 0,5
ha, Giảo cổ lam 0,7 ha, Hà thủ ô đỏ 3,2 ha, Ba kích
Trang 61,2 ha, Đảng sâm 0,8 ha; tỉnh Hà Tĩnh chủ yếu khai
thác trong tự nhiên và gây trồng trong hộ gia đình
một số các loài như: Lá khôi 1 triệu cây, Sa nhân 500
ha, Nhân trần 1 triệu cây, Hoàng đằng, Kim tiền
thảo, Thục địa, Trà hoa trắng, Kim ngân, khoảng
1.600 ha; tỉnh Gia Lai trồng được 1.030 ha các loại
cây dược liệu, gồm: trồng dưới tán rừng 366,6 ha,
trồng trên đất trống 663,4 ha Tổng diện tích Thảo
quả được người dân phát triển đã lên tới 36.500 ha
Theo đánh giá của Viện Dược liệu về tiềm năng
và hiện trạng nguồn tài nguyên dược liệu cho thấy,
đến nay đã xây dựng được một số mô hình về: Khôi
phục cây sâm Ngọc Linh ở Quảng Nam và Kon Tum;
phát triển và hướng dẫn khai thác bền vững loài Ngũ
vị tử mọc hoang ở Kon Tum; phát triển loài Sa nhân
tại Quảng Nam và Thái Nguyên; phát triển cây Chè
đắng tạo ra các mặt hàng xuất khẩu sang Nhật Bản;
nghiên cứu sử dụng cây Mắc mật, phát triển cây Hồi; xây dựng vùng trồng Đương quy, Ba kích, Thảo quả, Bạch truật, Diệp hạ châu đắng tại Cao Bằng ; một
số tỉnh đã bước đầu đã có những hoạt động để tổ chức quản lý, bảo vệ và phát triển cây dược liệu dưới tán rừng
Hiện nay, việc trồng cây dược liệu trên địa bàn các tỉnh mang tính tự phát, không theo quy hoạch,
kế hoạch, việc cho thuê môi trường rừng để trồng dược liệu cũng không thống nhất giữa các địa phương Có một số địa phương chủ động cho tổ chức, doanh nghiệp và hộ gia đình thuê môi trường rừng hoặc cho thuê rừng để phát triển dược liệu
3.3 Các mô hình trồng dược liệu trong môi trường rừng
Bảng 2 Các mô hình cho thuê môi trường rừng trồng dược liệu ở một số địa phương của Việt Nam
Tỉnh
Diện tích
cho thuê
môi
trường
rừng (ha)
Địa điểm cho thuê
Loại rừng cho thuê
Đơn vị cho thuê
Đơn vị thuê Thời gian thuê Giá thuê
Hà Giang 56.008,6
Tại 5 khu bảo tồn thiên nhiên và vườn quốc gia
Rừng đặc dụng
Ủy ban nhân dân cấp tỉnh
Các Ban quản lý rừng đặc dụng Tây Côn Lĩnh;
Phong Quang, Bát Đại Sơn, Bắc Mê, Chí Sán
và Vườn Quốc gia Du Già – Cao nguyên đá Đồng Văn
8 năm (2018-2025)
Không quy định
rõ
Rừng phòng
hộ, rừng sản xuất và rừng ngoài quy hoạch
Rừng phòng hộ, rừng sản xuất và rừng ngoài quy hoạch
Ủy ban nhân dân tỉnh
Tổ chức kinh tế, hộ gia đình, cá nhân và cộng đồng dân cư thôn
Không quy định rõ
600.000 đồng/ha /năm
Quảng
Ở những địa bàn quy hoạch trồng cây dược liệu, lâm sản ngoài
gỗ, kinh doanh du lịch sinh thái trên địa bàn tỉnh Quảng Nam
Rừng đặc dụng
Ủy ban nhân dân tỉnh
10 doanh nghiệp, 02 tổ chức nhà nước đầu tư thuê, hộ gia đình, cá nhân trên địa bàn huyện Nam Trà Mi
Tối đa 25 năm (trồng cây dược liệu và lâm sản ngoài gỗ)
- Tối đa 40 năm (thuê môi trường rừng
để trồng sâm Ngọc Linh)
400.000 đồng/ha /năm
Nguồn: Uỷ ban Nhân dân tỉnh Quảng Nam, Kon Tum (2018) [19], [20]
Hiện nay, một số địa phương như các tỉnh: Kon
Tum, Quảng Nam, Lào Cai, Lai Châu,… đã xây dựng
một số mô hình nuôi trồng, phát triển dược liệu trong môi trường rừng, như: Trồng sâm Ngọc Linh của
Trang 7Công ty Cổ phần Sâm Ngọc Linh Kon Tum và Công
ty TNHH một thành viên Đắk Tô, tỉnh Kon Tum;
trồng Lan kim tuyến, Giảo cổ lam, chè dây, Ngân hoa
lá xẻ của Công ty TNHH một thành viên Thái Hòa,
tỉnh Kon Tum; trồng Thảo quả của người dân địa
phương tại các tỉnh Lào Cai, Lai Châu, Hà Giang; mô
hình trồng sâm trên giá thể là khay nhựa, hoặc rọ tre
xếp gần nhau thành luống (băng) dưới tán rừng tại
một số địa điểm thuộc huyện Sa Pa, tỉnh Lào Cai của
Trung tâm Sâm Quốc gia thuộc Bộ Khoa học và
Công nghệ; mô hình trồng sâm Ngọc Linh của người
dân ở thôn Lạc Bông, xã Ngọc Lây, huyện Tu Mơ
Rông, các thôn ở xã Mường Hoong, Ngọc Linh,
huyện Đăk Glei, tỉnh Kon Tum
Các mô hình cho thuê môi trường rừng ở mỗi địa
phương quy định khác nhau về diện tích thuê, địa
điểm cho thuê, loại rừng, giá thuê, người đi thuê
(Bảng 2)
3.4 Những vấn đề đặt ra cần phải giải quyết đối
với hợp đồng cho thuê môi trường rừng để phát triển
dược liệu
Chính sách cho thuê môi trường rừng dần được
hoàn thiện Hiện nay, đã được quy định tại Luật Lâm
nghiệp, 2017 [12] và Nghị định số 156/2018/NĐ-CP
[8] Tuy nhiên, Luật này không quy định chi tiết và
không giao Chính phủ quy định chi tiết phạm vi của
thuê môi trường rừng, trừ trường hợp cho thuê môi
trường rừng để kinh doanh du lịch sinh thái, nghỉ
dưỡng, giải trí trong rừng đặc dụng, phòng hộ và sản
xuất theo quy định tại các Điều 53, 56 và 60, Luật
Lâm nghiệp, 2017 [12] và tại các Điều 14, 23 và 32,
Nghị định số 156/2018/NĐ-CP [8] Đồng thời, tại
các điểm d, khoản 1, Điều 75; điểm b, khoản 1, Điều
76 và điểm d, khoản 1, Điều 78, Luật Lâm nghiệp
năm 2017 [12]
Bên cạnh đó, việc cho thuê môi trường rừng để
phát triển dược liệu trên thực tế gặp một số khó khăn
như: (i) Nếu thực hiện việc giao rừng, cho thuê rừng
đặc dụng để phát triển dược liệu sẽ có ảnh hưởng
một phần đến cấu trúc, diễn thế tự nhiên của rừng và
cảnh quan tự nhiên của rừng, ảnh hưởng đến đời
sống tự nhiên của các loài động, thực vật hoang dã,
do đó rất khó thực hiện đúng các quy định của pháp
luật hiện hành về quản lý, bảo vệ rừng đặc dụng; (ii)
Chưa có cơ chế và giải pháp đảm bảo đầu ra cho
dược liệu, việc thu mua dược liệu còn ở phạm vi nhỏ
lẻ, tiềm ẩn nguy cơ khủng hoảng đầu ra cho cây
dược liệu; (iii) Nhận thức của một bộ phận người dân
về trồng dược liệu dưới tán rừng chưa thật sự sâu rộng, chỉ mới dừng lại ở việc thu hút sự quan tâm về thu nhập cao từ việc trồng sâm Ngọc Linh; các loài dược liệu khác như Đảng sâm, Đương quy, Giảo cổ lam, Lan kim tuyến… chưa thật sự thu hút bà con đồng hành trồng dược liệu dưới tán rừng; một số hộ dân chưa mạnh dạn và tâm huyết đăng ký thuê môi trường rừng để trồng dược liệu, mặt dù đã có chính sách hỗ trợ giống dược liệu và hỗ trợ vay vốn từ ngân hàng chính sách với mức lãi suất thấp để thực hiện việc trồng dược liệu dưới tán rừng, miễn tiền thuê môi trường rừng
3.5 Đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về hợp đồng cho thuê môi trường rừng để trồng cây dược liệu
Từ những phân tích nêu trên, để đảm bảo phù hợp với quy định của Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 [10], các Luật, Bộ Luật
có liên quan; thống nhất, đồng bộ với các văn bản quy phạm pháp luật, phát huy tiềm năng về nuôi, trồng dược liệu góp phần phát triển kinh tế - xã hội, đồng thời bảo vệ, phát triển rừng bền vững tài nguyên rừng, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ cần ban hành chính sách pháp luật về cho thuê dịch vụ môi trường rừng
để nuôi, trồng dược liệu dưới hình thức hợp đồng cho thuê môi trường rừng Trong bối cảnh hiện nay, pháp luật về lâm nghiệp hiện hành chỉ mới cho phép tổ chức, cá nhân thuê môi trường rừng để kinh doanh dịch vụ du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng, giải trí mà chưa
có các quy định cụ thể về việc chủ rừng được cho thuê môi trường rừng để nuôi, trồng dược liệu, các Bộ, ngành, địa phương cần chủ động xây dựng đề án thí điểm cho thuê môi trường rừng để nuôi, trồng dược liệu, tạo cơ sở pháp lý vững chắc để Chính phủ ban hành chính sách về cho thuê môi trường rừng để nuôi, trồng dược liệu dưới hình thức hợp đồng cho thuê môi trường rừng trong thời gian tới
Để đảm bảo tính hợp pháp và khả thi của hợp đồng cho thuê môi trường rừng, dưới đây là một số
đề xuất về các nội dung cơ bản của hợp đồng cho thuê môi trường rừng nhằm hoàn thiện pháp luật về lâm nghiệp như:
Thứ nhất, về nguyên tắc cho thuê: Việc cho thuê môi trường rừng để trồng cây dược liệu không làm thay đổi quyền sở hữu của Nhà nước về rừng, tài nguyên thiên nhiên trên mặt đất và dưới lòng đất; không xâm hại tài nguyên thiên nhiên trên và dưới đất rừng trong diện tích được thuê
Trang 8Việc trồng cây dược liệu dưới tán rừng phải dựa
theo các điều kiện tự nhiên, hài hòa với cảnh quan
môi trường thiên nhiên, theo đúng quy định về tỷ lệ
diện tích quy định trong rừng đặc dụng, rừng phòng
hộ, rừng sản xuất và phù hợp với quy hoạch đã được
phê duyệt Không gây ảnh hưởng tiêu cực đến bảo
tồn các hệ sinh thái tự nhiên, đa dạng sinh học, cảnh
quan, môi trường, đời sống tự nhiên của các loài
động, thực vật hoang dã cũng như bản sắc văn hóa
của cộng đồng dân cư ở địa phương
Việc sử dụng diện tích đất trong khu vực thuê
môi trường để trồng cây dược liệu phải đúng theo
quy định của pháp luật về quản lý, bảo vệ và phát
triển rừng; quy định pháp luật về đất đai và các văn
bản pháp luật hiện hành có liên quan Các trường
hợp vi phạm phải được xử lý nghiêm theo quy định
pháp luật
Việc trồng cây dược liệu dưới tán rừng phải đảm
bảo tính che phủ của thảm thực vật dưới tán rừng
nhằm hạn chế xói mòn, đảm bảo tính năng phòng hộ
của rừng; căn cứ đặc điểm sinh vật học, hướng dẫn
kỹ thuật trồng đối với từng loài cây cụ thể để xác
định diện tích đất sử dụng phù hợp đối với từng
vùng, miền
Thứ hai, về loại rừng cho thuê, áp dụng ở những
địa bàn quy hoạch trồng cây dược liệu trên địa bàn
tỉnh Đối với những khu vực chưa có trong quy hoạch
trồng cây dược liệu, các địa phương cần có văn bản
báo cáo Ủy ban nhân dân cấp tỉnh để xem xét trình
Thường trực Hội đồng nhân dân cấp tỉnh thống nhất
bằng văn bản trước khi triển khai thực hiện, đồng
thời tổng hợp báo cáo Hội đồng nhân dân tỉnh bổ
sung vào quy hoạch
Thứ ba, về vị trí thuê: việc xác định vị trí thuê
cần quy định rõ trong hợp đồng cho thuê môi trường
rừng để nuôi trồng và phát triển dược liệu Tuy
nhiên, hiện trạng rừng tại mỗi địa phương là khác
nhau, vì vậy, tại mỗi địa phương có diện tích rừng cần
cho thuê, chủ rừng xây dựng và công khai phương án
cung ứng dịch vụ môi trường rừng để trồng cây dược
liệu trong lâm phận được giao quản lý trình Sở Nông
nghiệp và PTNT thẩm định và tham mưu Ủy ban
nhân dân cấp tỉnh phê duyệt làm cơ sở cho thuê môi
trường rừng Đối với những diện tích rừng chưa giao
do Ủy ban nhân dân cấp xã quản lý thì Hạt Kiểm lâm
huyện, liên huyện xây dựng và công khai phương án
cung ứng dịch vụ môi trường rừng để trồng cây dược
liệu, lâm sản ngoài gỗ và kinh doanh du lịch sinh thái
trình Sở Nông nghiệp và PTNT thẩm định và tham mưu Ủy ban nhân dân cấp tỉnh phê duyệt làm cơ sở cho thuê môi trường rừng
Thứ tư, về đối tượng được thuê: Tổ chức kinh tế,
hộ gia đình, cá nhân và cộng đồng dân cư thôn có nhu cầu thuê rừng để quản lý bảo vệ, sử dụng và phát triển rừng bền vững có kết hợp với trồng cây dược liệu dưới tán rừng
Thứ năm, về hạn mức cho thuê: Căn cứ vào quỹ đất, quỹ rừng hiện có, năng lực tài chính và các điều kiện cần thiết khác theo quy định, các địa phương có rừng quy định cụ thể hạn mức diện tích cho thuê môi trường rừng đối với từng cá nhân, hộ, nhóm hộ, cộng đồng, các tổ chức có nhu cầu được thuê
Thứ sáu, về thời hạn cho thuê: từ 25 năm đến 50 năm (tùy theo đặc điểm sinh trưởng và phát triển của từng loài cây dược liệu) Sau khi hết thời hạn thuê môi trường rừng, trường hợp cá nhân, hộ, nhóm hộ, cộng đồng, các tổ chức có nhu cầu tiếp tục thuê; đồng thời trong quá trình sử dụng rừng đã chấp hành đúng các quy định pháp luật về bảo vệ, phát triển rừng, sử dụng phù hợp với quy hoạch thì được xem xét ưu tiên để tiếp tục kéo dài thời gian cho thuê, thời gian gia hạn tối đa bằng thời hạn cho thuê của hợp đồng đã ký
Thứ bảy, về mức giá cho thuê: căn cứ vào khoản
2, Điều 90, Luật Lâm nghiệp và Thông tư số 32/2018/TT-BNNPTNT ngày 16/11/2018 của Bộ Nông nghiệp và PTNT quy định phương pháp định giá rừng; khung giá rừng Trong trường hợp có từ 02
tổ chức, cá nhân trở lên cùng đề nghị được thuê môi trường rừng tại một địa điểm thì giá cho thuê môi trường rừng được quyết định thông qua đấu giá Thứ tám, về hình thức thu tiền và cách thức sử dụng tiền thu được từ cho thuê môi trường rừng: Tiền thuê môi trường rừng thu hằng năm và được nộp 100% vào ngân sách tỉnh Việc chi tiêu khoản tiền này theo quy định của Luật Ngân sách Nhà nước năm 2015
Thứ chín, các chính sách hỗ trợ của địa phương (nếu có)
4 KẾT LUẬN Nước ta với 16,24 triệu ha đất quy hoạch cho mục đích lâm nghiệp, trong đó có gần 14 triệu ha rừng phân bố ở nhiều vùng sinh thái khác nhau; có nhiều tiềm năng để nuôi, trồng dược liệu nhằm tạo ra các sản phẩm có chất lượng cao, có sức cạnh tranh
Trang 9trên thị trường trong nước, khu vực và thế giới, góp
phần quan trọng trong sự nghiệp chăm sóc, bảo vệ
sức khỏe nhân dân, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã
hội, giảm nghèo, giữ vững quốc phòng an ninh, ổn
định chính trị trên địa bàn nông thôn, miền núi
Vì vậy, cần nghiên cứu, xây dựng cơ chế, chính
sách phù hợp để khai thác, sử dụng môi trường rừng
một cách hiệu quả, bền vững nhằm nuôi, trồng và
phát triển dược liệu phục vụ cho mục tiêu phát triển
y tế và kinh tế gắn với bảo vệ và phát triển rừng, bảo
tồn và phát triển nguồn gen dược liệu quý, có giá trị
kinh tế cao Trong giai đoạn hiện nay, việc nghiên
cứu xây dựng và hoàn thiện pháp luật về hợp đồng
cho thuê môi trường rừng để phát triển dược liệu là
cần thiết nhằm tạo cơ sở pháp lý vững chắc để sử
dụng môi trường rừng nuôi trồng một số loài thực vật
bản địa làm dược liệu, phục vụ cho mục tiêu phát
triển y – dược, kinh tế - xã hội, gắn với bảo vệ rừng,
bảo tồn tài nguyên rừng và đa dạng sinh học
LỜI CẢM ƠN
Xin chân thành cảm ơn Tổng cục Lâm nghiệp,
Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã phối
hợp, cung cấp tài liệu cho nghiên cứu này thông qua
dự thảo đề án thí điểm cho thuê môi trường rừng để
nuôi trồng, phát triển cây dược liệu
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Bộ Nông nghiệp và PTNT (2018) Thông tư số
32/2018/TT-BNNPTNT ngày 16/11/2018 quy định
phương pháp định giá rừng; khung giá rừng
2 Bộ Nông nghiệp và PTNT (2020) Quyết định
số 1423/QĐ-BNN-TCLN ngày 15/4/2020 công bố
hiện trạng rừng toàn quốc năm 2019
3 Bộ Nông nghiệp và PTNT (2020) Báo cáo số
5546/BC-BNN-TCLN tiếp thu, giải trình ý kiến góp ý
nội dung ̣đề án thí điểm cho thuê môi trường rừng để
nuôi trồng, phát triển cây dược liệu
4 Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam (2010)
Nghị định 02/2010/NĐ - CP ngày 8 tháng 01 năm
2010 về khuyến nông
5 Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam (2017)
Nghị định số 65/2017/NĐ - CP ngày 19 tháng 5 năm
2017 về chính sách đặc thù về giống, vốn và công
nghệ trong phát triển nuôi trồng, khai thác dược liệu
6 Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam (2017)
Nghị định số 02/2017/NĐ - CP ngày 9 tháng 01 năm
2017 về cơ chế, chính sách hỗ trợ sản xuất nông
nghiệp để khôi phục sản xuất vùng bị thiệt hại do thiên tai, dịch bệnh
7 Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam (2018)
ngày 17 tháng 4 năm 2018 về cơ chế, chính sách khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn
8 Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam (2018) Nghị định số 156/2018/NĐ - CP ngày 16 tháng 11 năm 2018 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Lâm nghiệp
9 Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam (2019) Nghị định số 06/2019/NĐ - CP ngày 22 tháng 01 năm 2019 về quản lý thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm và thực thi công ước về buôn bán quốc tế các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp
10 Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam, khóa XIII (2013) Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2013)
11 Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam (2015)
Bộ Luật Dân sự
12 Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam (2017) Luật Lâm nghiệp
13 Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam (2013) Luật Đất đai
14 Sở Nông nghiệp và PTNT tỉnh Hà Giang (2018) Báo cáo số 562/BC - NNPTNT ngày 28 tháng
11 năm 2018
15 Sở Nông nghiệp và PTNT tỉnh Lai Châu (2018) Báo cáo số 1310/BC - NNPTNT ngày 29 tháng 11 năm 2018
16 Sở Nông nghiệp và PTNT tỉnh Quảng Nam (2018) Báo cáo số 2030/BC - NNPTNT ngày 3 tháng
12 năm 2018
17 Sở Nông nghiệp và PTNT tỉnh Kon Tum (2018) Báo cáo số 2038/BC - NNPTNT ngày 17 tháng 12 năm 2018
18 Thủ tướng Chính phủ (2013) Quyết định số 1976/QĐ-TTg ngày 30 tháng 10 năm 2013, phê duyệt quy hoạch tổng thể phát triển dược liệu đến năm
2020 và định hướng đến năm 2030
19 Uỷ ban Nhân dân tỉnh Quảng Nam (2018) Quyết định số 760/QĐ-UBND ngày 28/2/2018 quy định cho thuê môi trường rừng để trồng cây dược
Trang 10liệu, lâm sản ngoài gỗ và kinh doanh du lịch sinh thái
trên địa bàn tỉnh Quảng Nam
20 Ủy ban Nhân dân tỉnh Kon Tum (2018)
Quyết định số 1006/QĐ-UBND ngày 24 tháng 9 năm
2018 phê duyệt phương án giao rừng, cho thuê rừng
để bảo vệ và phát triển rừng bền vững kết hợp với
kinh doanh cảnh quan du lịch, sản xuất nông lâm
nghiệp dưới tán rừng trên địa bàn tỉnh Kon Tum
21 Văn phòng Chính phủ (2017) Thông báo số 220/TB-VPCP ngày 12/5/2017 về kết luận của Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc tại Hội nghị toàn quốc về phát triển dược liệu Việt Nam
22 Văn phòng Chính phủ (2018) Thông báo số 369/TB - VPCP ngày 24/9/2018 về kết luận của Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc tại Hội nghị về đầu tư phát triển sâm Ngọc Linh và các dược liệu khác tại tỉnh Kon Tum
CURRENT STATUS OF LEGISLATION ON LEASING FOREST ENVIRONMENT TO DEVELOP MEDICINES - WAYS TO FINETUNING LEGISLATION ON CONTRACTS FOR LEASING FOREST
ENVIRONMENT
Le Thi Luyen1
1Department of Civil - Economic Law, Ministry of Justice
Summary
Vietnam has a diverse and rich source of natural medicinal plants growing in the forest environment Leasing the forest environment to develop medicinal herbs is an activity of current interest in Vietnam forests Some forested provinces have established models of raising and developing medicinal herbs in the forest environment However, the current legal policies on the use of forest environment to grow and develop herbal resources are inadequate, and do not specify the form of leasing the forest environment for agroforestry production is a type of forest environmental service defined in Article 61 of the Law on Forestry, 2017 This article deals with the development of medicinal herbs in the forest environment, thereby proposing the direction of completing the law on forest environment lease contracts to develop medicinal herbs in forested localities
Keywords: Medicine, forest environment leasing, contract, law
Người phản biện: TS Bùi Thị Minh Nguyệt
Ngày nhận bài: 25/8/2020
Ngày thông qua phản biện: 25/9/2020
Ngày duyệt đăng: 02/10/2020