Bài viết trình bày kết quả nghiên cứu tập trung vào việc phân tích cơ chế hình thành, nguồn gốc đất đai, các yếu tố ảnh hưởng đến từng mô hình; đánh giá thực trạng các mô hình tập trung đất đai, ứng dụng công nghệ cao tại 4 vùng kinh tế trọng điểm và 4 tỉnh đặc thù; phân tích những tồn tại, vướng mắc đối với từng mô hình cũng như một số vướng mắc về các quy định có liên quan; xác định các nguyên nhân để đề xuất các giải pháp hoàn thiện về chính sách pháp luật về đất đai.
Trang 1THỰC TRẠNG CÁC MÔ HÌNH TẬP TRUNG ĐẤT NÔNG
NGHIỆP TẠI CÁC VÙNG KINH TẾ TRỌNG ĐIỂM VIỆT NAM
Thái Thị Quỳnh Như1
TÓM TẮT
Lý luận và thực tiễn đều đã khẳng định tập trung đất đai trong nông nghiệp là một xu thế tất yếu để đưa sản
xuất nông nghiệp lên sản xuất hàng hóa, tập trung có quy mô lớn, có liên kết chặt chẽ, có kế hoạch và phân
phối lợi ích hài hòa giữa sản xuất và tiêu thụ nông sản hàng hóa Đối với các vùng kinh tế trọng điểm thì
việc tập trung đất đai cho sản xuất nông nghiệp là hướng đi hoàn toàn phù hợp với mục tiêu phát triển Kết
quả nghiên cứu tập trung vào việc phân tích cơ chế hình thành, nguồn gốc đất đai, các yếu tố ảnh hưởng
đến từng mô hình; đánh giá thực trạng các mô hình tập trung đất đai, ứng dụng công nghệ cao tại 4 vùng
kinh tế trọng điểm và 4 tỉnh đặc thù; phân tích những tồn tại, vướng mắc đối với từng mô hình cũng như
một số vướng mắc về các quy định có liên quan; xác định các nguyên nhân để đề xuất các giải pháp hoàn
thiện về chính sách pháp luật về đất đai
1 ĐẶT VẤN ĐỀ8
Việt Nam là một nước có thế mạnh về sản xuất
nông nghiệp, sản xuất nông nghiệp tại Việt Nam
được thực hiện dưới các hình thức khác nhau như hộ
nông nghiệp, trang trại, doanh nghiệp nông
nghiệp,…Có khoảng 90% đất nông nghiệp thuộc các
hộ nông nghiệp, các trang trại và 6% thuộc các doanh
nghiệp, số còn lại thuộc các cơ sở khác Nhóm có
quy mô sản xuất nhỏ dưới 0,2 ha chiếm khoảng 35%;
nhóm có quy mô trên 2 ha chiếm khoảng 6% [5] Với
nguyên tắc “bảo đảm đoàn kết, ổn định nông thôn,
thúc đẩy sản xuất phát triển; thực hiện chính sách
bảo đảm cho người làm nông nghiệp, nuôi trồng thuỷ
sản có đất sản xuất” khi triển khai Nghị định số 64 -
CP ngày 27 tháng 9 năm 1993 của Chính phủ về việc
giao đất nông nghiệp cho hộ gia đình, cá nhân sử
dụng ổn định, lâu dài vào mục đích sản xuất nông
nghiệp đã gây nên tình trạng manh mún ruộng đất;
quy mô diện tích đất theo hộ thấp [1] Điều này dẫn
đến tình trạng là hiệu quả sản xuất không cao, hạn
chế khả năng đổi mới và ứng dụng các tiến bộ khoa
học kỹ thuật, ứng dụng các quy trình kỹ thuật đồng
nhất Tăng quy mô diện tích đất đai là phương thức
làm giảm chi phí, tăng sản lượng, giảm giá thành,
tăng khả năng cạnh tranh giúp người nông dân tăng
thu nhập, cải thiện đời sống [4]
Vấn đề phát triển các vùng kinh tế trọng điểm đã
1
Tổng cục Quản lý đất đai, Bộ Tài nguyên và Môi trường
Email: ttqnhu@gdla.gov.vn
được khẳng định trong các văn kiện của Đảng và Nhà nước Tính đến nay, trên cả nước có 4 vùng kinh
tế trọng điểm (KTTĐ) là vùng KTTĐ Bắc bộ, KTTĐ miền Trung, KTTĐ phía Nam và vùng KTTĐ đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) với tổng số 24 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương [2] Các vùng kinh
tế trọng điểm được xác định là các vùng động lực làm đầu tàu lôi kéo sự phát triển của các vùng khác trên cả nước Tuy nhiên, việc triển khai các mô hình tập trung đất đai tại các vùng KTTĐ thực sự chưa đạt được kết quả như mong muốn, đã có nhiều mô hình không thành công do thiếu chính sách quy định, hoặc khi triển khai vào thực tế có nhiều vướng mắc nảy sinh Để xây dựng được một mô hình tập trung đất đai phù hợp cần phải có sự phối hợp chặt chẽ của các cơ quan từ Trung ương đến địa phương, đặc biệt
là công tác tuyên truyền về chủ trương, chính sách, pháp luật cho người dân để cùng tham gia
“Nghiên cứu thực trạng các mô hình sử dụng đất tập trung, quy mô lớn, phục vụ sản xuất nông nghiệp công nghệ cao tại các vùng kinh tế trọng điểm Việt Nam” là cần thiết nhằm đáp ứng mục tiêu đánh giá thực trạng sử dụng đất tập trung quy mô lớn, hiệu quả, bền vững tại các vùng kinh tế trong cả nước và khả năng ứng dụng công nghệ cao trong sản xuất nông nghiệp, tạo cơ chế sử dụng đất ổn định, thu hút các doanh nghiệp đầu tư, ứng dụng công nghệ cao, tăng sức cạnh tranh và hội nhập kinh tế quốc tế hướng tới một nền nông nghiệp chất lượng, nâng cao giá trị kinh tế đất, tăng nguồn thu cho ngân sách nhà nước và phát triển bền vững
Trang 22 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
- Phương pháp thu thập tài liệu, số liệu thứ
cấp: Thu thập các tài liệu, số liệu có liên quan đến
vấn đề nghiên cứu như báo cáo thống kê, bài báo,
văn bản pháp luật…
- Phương pháp điều tra số liệu sơ cấp: Địa bàn
tiến hành điều tra nghiên cứu của đề tài gồm 20 tỉnh,
trong đó có 16 tỉnh thuộc 4 vùng kinh tế trọng điểm
(vùng KTTĐ Bắc bộ, vùng KTTĐ miền Trung, vùng
KTTĐ phía Nam và vùng KTTĐ ĐBSCL) và 4 tỉnh
đặc thù (Sơn La, Nghệ An, Đắc Nông, Lâm Đồng), 4
tỉnh này trong thực tế đang triển khai nhiều mô hình
sử dụng đất tập trung, quy mô lớn, có ứng dụng công
nghệ cao trong sản xuất nông nghiệp:
+ Phương pháp điều tra nhanh nông thôn (PRA):
Điều tra, phỏng vấn 50 hộ gia đình, cá nhân sử dụng
đất nông nghiệp tập trung (danh sách các hộ được
điều tra do Phòng Nông nghiệp và PTNT; cán bộ xã
và trưởng thôn giới thiệu) và 5 tổ chức (chủ trang
trại, chủ doanh nghiệp, hợp tác xã, câu lạc bộ, tổ hợp
tác sản xuất nông nghiệp…)
+ Phương pháp điều tra xã hội học: Điều tra,
phỏng vấn 15 nhà quản lý công tác tại các cơ quan
(Phòng Nông nghiệp và PTNT; Trạm Khuyến nông;
Phòng Tài nguyên và Môi trường; Sở Tài nguyên và
Môi trường)
- Phương pháp thống kê và xử lý số liệu: Sau
khi có số liệu điều tra thứ cấp và sơ cấp, tiến hành xử
lý số liệu và thống kê thành các bảng biểu, chỉ tiêu và tiêu chí phục vụ cho mục đích nghiên cứu
- Phương pháp phân tích, đánh giá: Phân tích, đánh giá số liệu, thông tin thu thập được Từ đó đề xuất giải pháp phù hợp nhằm nâng cao hiệu quả tập trung đất đai để sản xuất nông nghiệp quy mô lớn, ứng dụng công nghệ cao
3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 3.1 Thực trạng các mô hình sử dụng đất tập trung quy mô lớn tại các vùng kinh tế trọng điểm
3.1.1 Cơ chế hình thành và nguồn gốc đất đai của các mô hình tập trung đất đai
Tập trung đất sản xuất để tạo ra các vùng sản xuất tập trung, hàng hóa quy mô lớn, từng bước áp dụng tiến bộ kỹ thuật, ứng dụng công nghệ cao là nhu cầu cấp thiết trong thực tế Tuy nhiên, việc hình thành các mô hình sản xuất tập trung có quy mô lớn
có thể có nhiều cách khác nhau, có thể qua các cách thức của cơ chế hành chính, tức là được chính quyền trực tiếp chỉ đạo, điều hành, lập phương án và trực tiếp thực hiện như dồn điền đổi thửa, như chính quyền cho doanh nghiệp, nông dân thuê đất nhưng cũng có cách theo cơ chế dân sự, tức là người nông dân, doanh nghiệp tự thương thảo với nhau trong khuôn khổ luật pháp quy định Nhà nước chỉ là người đưa ra các chính sách, các quy định và bảo đảm tính hợp pháp của những thỏa thuận đó (Bảng 1)
Bảng 1 Tổng hợp cơ chế hình thành mô hình tập trung đất đai
Chỉ tiêu
Cơ chế hành
Cơ chế hỗn hợp (hành chính và dân sự)
Ý kiến khác Tổng
số (phiếu) Tổng
số (phiếu)
Tỷ lệ (%)
Tổng
số (phiếu)
Tỷ lệ (%)
Tổng
số (phiếu)
Tỷ lệ (%)
Tổng
số (phiếu)
Tỷ lệ (%) Địa bàn điều tra
(Nguồn: Tổng hợp từ số liệu điều tra của đề tài)
Nghiên cứu này chỉ tập trung nghiên cứu về cơ
chế hành chính gồm các hình thức sau: hình thức
dồn điền đổi thửa và hình thức thuê đất (doanh
nghiệp thuê qua một đơn vị của Nhà nước); cơ chế dân sự bao gồm các hình thức: nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất; thuê đất (doanh nghiệp trực tiếp
Trang 3thuê đất của người dân), góp vốn bằng giá trị quyền
sử dụng đất, hợp tác sản xuất và cánh đồng mẫu lớn
Bảng 1 cho thấy, cơ chế hỗn hợp chiếm tỉ lệ cao
hơn hẳn (trung bình là 41,8%), trong đó vùng KTTĐ
miền Trung chiếm tỉ lệ cao nhất 50,7%, sau đó là
vùng KTTĐ Bắc bộ 47,3%, các vùng KTTĐ khác thì
tỷ lệ cũng gần như nhau Điều này phản ánh đúng
thực trạng người sử dụng đất đã vận dụng khéo léo,
uyển chuyển kết hợp giữa thỏa thuận dân sự với các
quy định hành chính để đạt được hiệu quả cao nhất
Cơ chế dân sự trong tình hình hiện tại cũng chiếm
một tỉ lệ tương đối cao (trung bình toàn quốc là
34,5%), cao nhất là tại 4 tỉnh đặc thù 41,0% Hình
thành mô hình tập trung đất đai thông qua cơ chế
hành chính chiếm tỉ lệ thấp nhất đã phản ánh đúng
thực tế hiện nay là chính sách của Nhà nước và các
cơ chế có liên quan cũng như cách thức tổ chức thực
hiện còn nhiều vướng mắc, bất cập đã thành rào cản
trong việc tập trung đất đai có sản xuất nông nghiệp
và hạn chế khả năng ứng dụng công nghệ cao để
nâng cao hiệu quả sản xuất, hướng tới một nền nông
nghiệp hàng hóa, quy mô lớn Vùng KTTĐ Bắc bộ,
mô hình tập trung đất thông qua cơ chế hành chính
chỉ chiếm 14,7% đây là vùng KTTĐ do lịch sử quản lý
đất đai và sử dụng đất để lại có một số tồn tại như
quỹ đất nông nghiệp trên đầu người thấp, diện tích
đất manh mún, đất giao cho các hộ gia đình, cá nhân
nhiều thửa ở cách xa nhau Nên mặc dù đã có chủ
trương, chính sách của Nhà nước nhưng thực tế phải vận động người dân và cần có sự tham gia tích cực của các tổ chức đoàn thể, cũng như sự phối hợp của các cơ quan chuyên môn như: đo đạc, thống kê, kiểm
kê, cấp giấy chứng nhận để tạo cơ sở pháp lý rõ ràng cho người sử dụng đất yên tâm khi chuyển đổi đất cho nhau, cũng như trong trường hợp thông qua đơn
vị nhà nước để cho các doanh nghiệp thuê đất sản xuất nông nghiệp
Kết quả nghiên cứu cho thấy, tại thời điểm trước khi Luật Đất đai 2013 có hiệu lực, nguồn gốc hình thành đất của hộ khá đa dạng: có 34% mảnh đất của hộ được Nhà nước giao; 23% mảnh do thừa kế; 35% mảnh được mua hoặc thuê lại đất Sau 3 năm, thị trường quyền sử dụng đất, đặc biệt là thị trường thuê đất giữa các hộ đã sôi động hơn nhiều Tại thời điểm năm 2017, nguồn gốc đất do thừa kế và Nhà nước giao đã giảm xuống, thay vào đó là các mảnh đất thuê và mua Trong giai đoạn từ 2014 - 2017 có đến 75% số mảnh đất hình thành thêm là do thuê và 16%
là do mua đất từ hộ khác Đối lập với các tỉnh khảo sát ở miền Bắc và miền Trung, tỷ lệ mảnh đất mua ở các tỉnh khảo sát ở miền Nam và Tây Nguyên cao hơn nhiều và tỷ lệ đất thuê lại thấp hơn Trước năm
2014, tỷ lệ mảnh đất mua chiếm tỷ lệ rất cao ở khu vực này, tỷ lệ đất thuê chiếm tỷ lệ rất thấp, đến giai đoạn sau năm 2014 tỷ lệ đất thuê có tăng nhưng vẫn chiếm tỷ trọng thấp hơn so với đất mua (Bảng 2) Bảng 2 Tổng hợp về nguồn gốc đất đai của các mô hình tập trung đất đai
Chỉ tiêu
Tổng số (phiếu) Tổng số
(phiếu) Tỷ lệ (%)
Tổng số (phiếu) Tỷ lệ (%)
Tổng số (phiếu)
Tỷ lệ (%) Địa bàn điều tra
(Nguồn: Tổng hợp từ số liệu điều tra của đề tài)
Đối với 4 vùng KTTĐ và 4 tỉnh đặc thù của địa
bàn điều tra, hiện trạng thì tỷ lệ Nhà nước giao đất và
thuê đất của Nhà nước thì tương đối ngang nhau
(Nhà nước giao là 39,6%, còn thuê đất của Nhà nước
là 37,1%) Tuy nhiên trong quá trình thực hiện điều
tra, khảo sát cho thấy có tới 23,3% là hình thức khác
bao gồm: góp vốn; nhận chuyển nhượng quyền sử
dụng đất; hợp tác xã; cánh đồng mẫu lớn
3.1.2 Một số yếu tố ảnh hưởng đến mô hình sử dụng đất tập trung quy mô lớn tại các vùng kinh tế trọng điểm Việt Nam
Xu hướng tập trung đất đai để sản xuất nông nghiệp tại Viêt Nam có thể nói được hình thành và phát triển đầu tiên là mang tính tự phát, chủ yếu được thực hiện tại các khu vực có quỹ đất nông
Trang 4nghiệp tương đối lớn, các loại cây trồng ít chủng loại
và có truyền thống lâu đời Sau này, tại một số vùng
chuyên canh các loại cây nông nghiệp do yêu cầu tập
trung đất đai có chủ trương dồn điền, đổi thửa trong
xây dựng nông thôn mới Dần dần, do yêu cầu thực
tiễn các mô hình tập trung đất đai hình thành phát
triển rộng hơn, hình thức cũng đa dạng hơn rất
nhiều Kết quả đạt được từ các mô hình tập trung đất
đai tại các địa phương cũng không giống nhau do phụ thuộc vào rất nhiều các yếu tố bao gồm cả khách quan và chủ quan Tổng hợp cho thấy có các nhóm yếu tố sau ảnh hưởng đến việc sử dụng đất của các
mô hình tập trung đất đai, ứng dụng công nghệ cao trong sản xuất nông nghiệp: các yếu tố về pháp lý, kinh tế, xã hội, kỹ thuật, tự nhiên và một số yếu tố khác (Bảng 3)
Bảng 3 Các yếu tố ảnh hưởng đến mô hình sử dụng đất tập trung, quy mô lớn, ứng dụng công nghệ cao trong
sản xuất nông nghiệp
Chỉ tiêu Các yếu tố
pháp lý
Các yếu tố về kinh tế
Các yếu tố
xã hội
Các yếu tố kỹ thuật
Các yếu tố về
tự nhiên Ý kiến khác
Tổng
số (phiếu) Tổng
số (phiếu)
Tỷ lệ (%)
Tổng
số (phiếu)
Tỷ lệ (%)
Tổng
số (phiếu)
Tỷ lệ (%)
Tổng
số (phiếu)
Tỷ lệ (%)
Tổng
số (phiếu)
Tỷ lệ (%)
Tổng
số (phiếu)
Tỷ lệ (%)
Địa bàn điều
tra
Vùng KTTĐ
Vùng KTTĐ
Vùng KTTĐ
Vùng KTTĐ
Một số tỉnh
(Nguồn: Tổng hợp từ số liệu điều tra của đề tài)
Kết quả nghiên cứu cho thấy các yếu tố kinh tế
có ảnh hưởng lớn nhất, sau đó đến các yếu tố kỹ
thuật và thấp nhất là các yếu tố tự nhiên Điều này
phản ánh đúng với tình hình thực tế là phục vụ nhu
cầu phát triển kinh tế thì mục tiêu doanh thu cao
được đặt lên hàng đầu Xét theo các vùng, tùy vào
đặc điểm của từng vùng sự ảnh hưởng của các yếu tố
cũng không đồng đều Tuy nhiên, cũng không có
chênh lệch nhiều giữa các vùng KTTĐ Đối với vùng
kinh tế trọng điểm phía Nam, do quỹ đất nông
nghiệp còn nhiều và các loại hình sử dụng đất cho
mô hình tập trung đất đai thường là các loại cây ăn
quả, cây công nghiệp nên sự ảnh hưởng của các yếu
tố về kinh tế là cao nhất so với các vùng khác
(33,0%) Các yếu tố kỹ thuật nhìn chung cũng đã
được đánh giá ở mức độ ảnh hưởng khá cao, đặc biệt
đối với vùng KTTĐ Bắc bộ do lịch sử để lại số lượng
dân cư đông, tình trạng đất nông nghiệp ít, manh
mún nên yêu cầu về kỹ thuật cao hơn các vùng khác
(22,0%)
3.1.3 Thực trạng các mô hình sử dụng đất tập trung tại các vùng kinh tế trọng điểm
Mô hình dồn điền, đổi thửa: Trước đây, các hộ thường có 5 - 7 mảnh, thậm chí có nơi tới 10 - 12 mảnh Với sự hỗ trợ, giúp đỡ của hợp tác xã, chính quyền thôn, xã, các hộ đã tự nguyện hoán đổi các thửa ruộng đất với nhau (có thể trả tiền chênh lệch do vị trí hoặc
độ màu mỡ) để giảm số thửa và tăng diện tích các thửa của hộ “Dồn điền, đổi thửa” tập trung chủ yếu vào 2 giai đoạn 2008 - 2010 và 2012 - 2014 và chủ yếu đối với đất lúa tại đồng bằng sông Hồng, Bắc Trung
bộ và duyên hải Nam Trung bộ [4] Kết quả điều tra cho thấy việc dồn điền đổi thửa diễn ra phổ biến ở các tỉnh thuộc vùng kinh tế trọng điểm Bắc bộ (Hưng Yên, Hải Dương, Vĩnh Phúc, Sơn La) và vùng kinh tế trọng điểm miền Trung (Thừa Thiên - Huế, Quảng Nam và Quảng Ngãi)
Trang 5Mô hình hợp tác sản xuất: Ở nhiều địa phương,
các hộ gia đình tự nguyện liên kết thành lập hợp tác
xã nông nghiệp Tham gia hợp tác xã, nhưng các hộ
vẫn tự chủ canh tác trên ruộng đất của mình Hợp tác
xã làm dịch vụ cho hộ các khâu làm đất, tưới tiêu
nước, cấy trồng, phun thuốc trừ sâu, thu hoạch; cung
cấp cho hộ giống cây trồng, phân bón, thuốc bảo vệ
thực vật bảo đảm chất lượng, giá thành thấp Tuy
nhiên, số hợp tác xã thực hiện liên kết với các doanh
nghiệp để đầu tư sản xuất, chế biến, tiêu thụ nông
sản còn hạn chế Theo số liệu điều tra cho thấy, hình
thức hợp tác sản xuất tập trung chủ yếu ở vùng kinh
tế trọng điểm miền Nam và vùng kinh tế trọng điểm
đồng bằng sông Cửu Long Điều này cho thấy mô
hình quản lý kinh tế theo hướng thị trường có vai trò
quyết định tương đối lớn đối với mô hình này Trong
những năm gần đây, hình thức doanh nghiệp liên kết
sản xuất với hộ gia đình phát triển khá nhiều Các hộ
gia đình vẫn canh tác trên diện tích đất của mình
theo sự hướng dẫn kỹ thuật của doanh nghiệp; doanh
nghiệp bỏ vốn cung ứng giống, phân bón, thuốc bảo
vệ thực vật và mua lại sản phẩm do hộ sản xuất ra
Các hộ canh tác theo quy trình kỹ thuật tiên tiến,
năng suất cao hơn và không phải lo tiêu thụ sản
phẩm Hình thức này thể hiện rõ trong mô hình
“Cánh đồng mẫu lớn” ở An Giang Tại tỉnh Đồng
Tháp, Công ty Cổ phần Tập đoàn Lộc Trời đã thực
hiện liên kết sản xuất lúa giống với nhiều hộ nông
dân, thu được những lợi ích rất đáng quan tâm
Mô hình thức thuê đất: Xuất phát từ nhu cầu
giao dịch giữa người nắm quyền sử dụng đất và
người có nhu cầu thuê quyền sử dụng đất Thông
qua hợp đồng thuê, cá nhân hoặc tổ chức, doanh
nghiệp thuê đất được chủ động hoàn toàn việc sản
xuất, canh tác trên đất trong một thời gian nhất định
theo hợp đồng thuê đã được ký kết Một số hình thức
thuê đất chủ yếu sau:
+ Hộ nông dân thuê đất của các hộ khác để mở
rộng sản xuất: Hình thức này diễn ra khá phổ biến
Cách làm này giúp tăng quy mô, đưa ruộng đất đến
tay người sử dụng hiệu quả hơn, và qua đó giúp tăng
năng suất, chất lượng, hiệu quả của sản xuất nông
nghiệp Người nông dân cho thuê ruộng vẫn giữ
được quyền sử dụng đất của mình mà đất nông
nghiệp lại không bị bỏ hoang, tránh lãng phí tài
nguyên của xã hội Thêm vào đó chi phí thuê đất
nông nghiệp rẻ hơn rất nhiều so với chi phí mua đất
nông nghiệp Đây là một hình thức mang đến cả hiệu
quả về mặt kinh tế và xã hội, đồng thời khả năng áp dụng và nhân rộng lại cao vì khung pháp lý cho hoạt động này cũng đã tương đối hoàn thiện
+ Doanh nghiệp thuê đất của hộ nông dân:
Doanh nghiệp có nhu cầu kinh doanh và sản xuất hàng hóa nông nghiệp quy mô lớn mà chưa có vùng nguyên liệu ổn định sẽ đứng ra ký hợp đồng thuê đất với các hộ nông dân không có nhu cầu sản xuất nông nghiệp để tập trung thành vùng sản xuất nông nghiệp tập trung Doanh nghiệp với tiềm lực của mình có thể áp dụng khoa học - công nghệ, cơ giới hóa, chủ động được vùng nguyên liệu để đầu tư đồng
bộ bảo đảm yêu cầu về chất lượng của hàng hóa nông nghiệp Tương tự như hình thức nông dân thuê đất của nông dân, chi phí của hình thức này cũng tương đối thấp Thủ tục để thuê đất của người dân tương đối đơn giản, người nông dân vừa giữ được quyền sử dụng đất của mình, vừa có thêm thu nhập Bước đầu, hình thức doanh nghiệp thuê đất nông nghiệp của các hộ gia đình, cá nhân để sản xuất nông nghiệp được địa phương đánh giá là giải pháp tương đối phù hợp với điều kiện hiện nay của Việt Nam, đảm bảo cho người nông dân được hưởng lợi từ cho thuê đất mà ít phải đối mặt với các rủi ro Hình thức trả tiền thuê ruộng đất có thể theo từng vụ, từng năm hoặc cho cả thời gian thuê Thời gian cho thuê được thỏa thuận ổn định để người thuê tính toán phương
án sản xuất Với hình thức này, người nông dân vẫn nắm quyền sử dụng đất, có thể có thu nhập cao hơn trước đây thông qua được hưởng tiền thuê đất Nông dân có cơ hội làm việc cho doanh nghiệp Khi hết thời hạn cho thuê, người nông dẫn vẫn còn quyền sử dụng đất Mô hình này khá “an toàn” đối với người nông dân
+ Nhà nước thuê đất của hộ nông dân rồi cho doanh nghiệp thuê lại: Để khắc phục hạn chế trong việc thỏa thuận giữa doanh nghiệp và nhiều hộ nông dân trong nhiều trường hợp rất khó khăn, mất nhiều thời gian, chi phí; thỏa thuận vừa chậm, vừa khó thành công do thiếu lòng tin giữa bên cho thuê và đi thuê; tại một số địa phương, chính quyền đã có cách làm sáng tạo như: chính quyền địa phương đứng ra thuê của dân và cho doanh nghiệp thuê lại Tổng hợp
số liệu điều tra của đề tài cho thấy, hình thức doanh nghiệp trực tiếp thuê đất của nông dân chiếm tỷ lệ 19,8%, còn hình thức Nhà nước thuê đất của nông dân và cho doanh nghiệp thuê lại tại các vùng kinh tế trọng điểm chỉ chiếm 8,5% Phân theo các vùng kinh
Trang 6tế thì vùng kinh tế trọng điểm đồng bằng sông Cửu
Long và một số tỉnh đặc thù được điều tra chiếm tỷ lệ
cao hơn cả
Bảng 4 Tổng hợp số liệu điều tra về các mô hình tập trung đất, quy mô lớn
Nguồn: Tổng hợp từ số liệu điều tra
Các mô hình sử dụng đất tập trung quy mô lớn
Dồn điền, đổi thửa
Hợp tác sản xuất
Thành lập hợp tác xã nông nghiệp
Nhà nước thuê đất của nông dân rồi cho doanh nghiệp thuê lại
Doanh nghiệp trực tiếp thuê đất của nông dân
Nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất nông nghiệp
Tham gia cánh đồng mẫu lớn
Các hình thức khác
Tổng
số (phiếu)
Tỷ lệ (%)
Tổng
số (phiếu)
Tỷ
lệ (%)
Tổng
số (phiếu)
Tỷ
lệ (%)
Tổng
số (phiếu)
Tỷ
lệ (%)
Tổng
số (phiếu)
Tỷ
lệ (%)
Tổng số (phiếu)
Tỷ
lệ (%)
Tổng
số (phiếu)
Tỷ
lệ (%)
Tổng
số (phiếu)
Tỷ
lệ (%)
Vùng
kinh tế
trọng
điểm
Tỉnh điều
tra
Hải
Vùng
KTTĐ
Bắc bộ
Vĩnh
Thừa
Thiên -
Huế
Quảng
Vùng
KT TĐ
miền
Trung
Quảng
Bình
Bình
Vùng
KTTĐ
phía
Nam
Tiền
Kiên
Vùng
KTTĐ
ĐBSCL
TP Hồ
Đắk
Một số
tỉnh đặc
thù
Lâm
12,0
0
Trang 7- Hình thức góp vốn quyền sử dụng đất: Đây là
hình thức tập trung đất đai thông qua việc những
người nông dân tự nguyện góp đất cùng tiến hành tổ
chức sản xuất, kinh doanh và cùng hưởng lợi thành
quả sản xuất Hình thức này có 2 dạng cơ bản: (i)
Người có đất liên kết, hợp tác với người sử dụng đất
để sản xuất, kinh doanh; trong mô hình này, doanh
nghiệp, hợp tác xã đóng vai trò đầu mối cung cấp vật
tư, giống, khoa học công nghệ và bao tiêu đầu ra
Nông dân vẫn sản xuất trên ruộng đất của mình
nhưng tự hình thành nhóm hộ sản xuất, áp dụng
đồng bộ các tiến bộ kỹ thuật từ giống, canh tác, cơ
giới hóa…tập trung ruộng đất để tạo thành các vùng
sản xuất lớn, chuyên canh, áp dụng cơ giới hóa vào
sản xuất Mô hình này khá phù hợp do các bên tham
gia mô hình đều có lợi ích (ii) Người có đất góp vốn
bằng quyền sử dụng đất để sản xuất kinh doanh;
theo đó, đất đai được định giá để xác định vốn góp
trong giá trị doanh nghiệp Trên địa bàn cả nước mới
chỉ có một vài mô hình đang thực hiện thí điểm về
việc nông dân góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng đất,
ví dụ như mô hình góp đất trồng cao su ở các tỉnh Sơn
La, Lai Châu
- Một số mô hình tập trung đất khác:
+ Các hộ nhận chuyển nhượng quyền sử dụng
đất nông nghiệp của các hộ khác để mở rộng sản
xuất, trở thành trang trại hoặc các hộ có quy mô lớn
Hình thức này diễn ra nhiều ở các tỉnh phía Nam, đặc
biệt vùng đồng bằng sông Cửu Long Việc nhận
chuyển nhượng quyền sử dụng đất nông nghiệp giúp
hộ yên tâm đầu tư phát triển lâu dài
+ Hình thức doanh nghiệp nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất nông nghiệp của hộnông dân để
mở rộng sản xuất Hình thức này chưa được triển khai nhiều bởi doanh nghiệp thường không chủ động mua đất nông nghiệp của hộ để sản xuất quy
mô lớn vì giá mua đất nông nghiệp cao nên khó tạo
ra lợi nhuận đủ hấp dẫn so với số vốn bỏ ra ban đầu
để mua đất nếu chỉ sản xuất nông nghiệp Vấn đề thỏa thuận giá với mỗi người dân để hình thành quy
mô đất đủ lớn quá phức tạp và tốn thời gian nên hình thức này vẫn chưa phổ biến Về phía người dân, vấn
đề lớn nhất là phải tạo được việc làm và sinh kế mới cho hàng loạt hộ chuyển nhượng quyền sử dụng đất nông nghiệp cho doanh nghiệp trên quy mô lớn Mặc
dù có nhiều nỗ lực của các cấp chính quyền, từ Trung ương đến địa phương, nhưng quá trình tập trung ruộng đất thời gian qua diễn ra rất chậm là trở ngại lớn cho phát triển nông nghiệp theo hướng hiện đại
- Sản xuất nông nghiệp theo mô hình cánh đồng lớn:theo số liệu điều tra tại 16 tỉnh thuộc 4 vùng kinh
tế trọng điểm và 4 tỉnh đặc thù, mô hình tập trung đất theo hình thức cánh đồng mẫu lớn do đặc thù của
sử dụng đất nên hình thức này tập trung chủ yếu tại vùng kinh tế trọng điểm miền Nam (Long An, Tiền Giang) và các tỉnh vùng kinh tế trọng điểm đồng bằng sông Cửu Long (An Giang, Kiên Giang và Cà Mau)
3.1.4 Thực trạng ứng dụng công nghệ cao trong sản xuất nông nghiệp của các mô hình sử dụng đất tập trung quy mô lớn
Bảng 5 Tổng hợp việc ứng dụng công nghệ cao trong sản xuất nông nghiệp tại các vùng kinh tế trọng điểm ở
Việt Nam
Chỉ tiêu
Sử dụng đất tập trung, quy mô lớn
Sử dụng đất tập trung, quy mô lớn, có ứng dụng CN cao
Hình thức khác Tổng
số (phiếu)
Tổng số (phiếu) Tỷ lệ (%)
Tổng số (phiếu) Tỷ lệ (%)
Tổng số (phiếu)
Tỷ lệ (%) Địa bàn điều tra
Nguồn: Tổng hợp từ số liệu điều tra
Trang 8Sản xuất nông nghiệp công nghệ cao là hình
thức sản xuất nông nghiệp tập trung, trên một quy
mô rộng lớn Các hoạt động canh tác, sản xuất nông
nghiệp áp dụng theo các quy trình hiện đại, sử dụng
kỹ thuật tiên tiến, sản phẩm đảm bảo các yêu cầu về
anh toàn chất lượng và bảo vệ môi trường Theo đó,
đến năm 2020, định hướng đến năm 2030 cả nước có
22 khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao [3]
Mục tiêu đến năm 2020 xây dựng 10 khu nông
nghiệp ứng dụng công nghệ cao, bao gồm: 2 khu
nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao Hậu Giang và
khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao Phú Yên
đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt; 8 khu sẽ
thành lập mới đến năm 2020 tại các tỉnh/thành:
Thái Nguyên, Quảng Ninh, Thanh Hóa, Khánh Hòa,
Lâm Đồng, thành phố Hồ Chí Minh, Bình Dương và
thành phố Cần Thơ; đó là các mô hình sản xuất rau
an toàn, trồng hoa, cây cảnh tại thành phố Hồ Chí
Minh, Bắc Ninh, Lâm Đồng; sản xuất nấm quy mô
trang trại tại Vĩnh Phúc; vùng trồng chè theo công
nghệ trồng, chế biến chè của Đài Loan (Trung
Quốc) ở Thái Nguyên Tuy nhiên, nếu xét theo tiêu
chí về tỷ lệ ứng dụng công nghệ, tỷ lệ cơ giới hóa;
khả năng đầu tư về vốn và hiệu quả thu được thì hầu
hết tại các tỉnh điều tra đều chưa đạt được so với
yêu cầu (Bảng 5)
Tổng hợp số liệu tại bảng 5 cho thấy, trong tổng
số 1.000 phiếu điều tra tại 20 tỉnh về các mô hình sử
dụng đất tập trung quy mô lớn, thì chỉ có 35,60% các
mô hình có ứng dụng công nghệ cao trong sản xuất
nông nghiệp Tập trung chủ yếu tại vùng kinh tế
trọng điểm miền Trung (cây công nghiệp) và vùng
kinh tế trọng điểm miền Nam (cây ăn quả) Tại một
số tỉnh đặc thù thù Nghệ An có mô hình cây màu
(phục vụ cho chăn nuôi) và Đắk Nông (cây công
nghiệp: cao su, cà phê, chè, hạt điều)
3.2 Một số tồn tại, vướng mắc
3.2.1 Tại các mô hình tập trung đất đai
Mô hình dồn điền, đổi thửa: Việc dồn điền đổi
thửa đã thu được kết quả ban đầu song chưa thực sự
thành công, chủ trương tuy được các địa phương
hưởng ứng, nhưng cách làm mỗi địa phương một
khác nên kết quả thu được khác nhau Sau dồn điền
đổi thửa, các hộ nông dân đã có thể tập trung chuyên
canh sản xuất, tuy nhiên, quy mô ruộng đất vẫn còn
nhỏ bé, rất khó cho các hộ áp dụng cơ giới hoá, áp
dụng khoa học kỹ thuật và sản xuất hàng hoá
Mô hình hợp tác sản xuất: Tuy nhiên, hình thức này cũng gặp trở ngại, đó là đất của các hộ tham gia liên kết với doanh nghiệp nằm xen kẽ với đất của các
hộ không tham gia liên kết, ảnh hưởng đến việc xây dựng hệ thống giao thông, thủy lợi, cải tạo đồng ruộng cũng như các điều kiện bảo đảm chất lượng sản phẩm; ngoài ra, còn có hiện tượng một số hộ bán sản phẩm ra ngoài khi có giá cao hơn thỏa thuận ban đầu với doanh nghiệp
Hình thức thuê đất:
+ Hộ nông dân thuê đất của các hộ khác để mở rộng sản xuất: Khó khăn lớn nhất là người đi thuê đất phải đàm phán với nhiều hộ nông nghiệp để có quy
mô đủ lớn do đặc thù đất đai nước ta khá manh mún
và thường gặp phải rủi ro vỡ hợp đồng khi người cho thuê đòi lại đất Về phía người cho thuê đất, cơ hội kiếm việc làm phi nông nghiệp vẫn còn hạn chế nên nguồn cung cho thuê bị giới hạn Về phía người đi thuê đất, người nông dân với đặc điểm nguồn lực về vốn hạn chế nên chi phí để thuê đất quy mô lớn vẫn còn tương đối cao trong khi chưa có cơ chế để họ có thể thế chấp đất thuê, tạo nguồn vốn cho sản xuất, kinh doanh
+ Doanh nghiệp thuê đất của hộ nông dân: Trên thực tế, tỷ lệ doanh nghiệp thuê đất nông nghiệp còn thấp hơn cả mức độ hộ nông dân thuê đất nông nghiệp của hộ nông dân Một phần là do tỷ lệ doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp của Việt Nam tương đối thấp (chiếm tỷ lệ chưa tới 1% so với tổng số doanh nghiệp trên cả nước) Doanh nghiệp đi thuê đất phải làm thủ tục hợp đồng với quá nhiều đối tượng với những điều kiện và yêu cầu khác nhau để đạt được một diện tích đủ lớn, gây tốn kém và rủi ro cho doanh nghiệp Chi phí đầu tư tương đối lớn mà doanh nghiệp lại không thể thế chấp được đất thuê
+ Nhà nước thuê đất của hộ nông dân rồi cho doanh nghiệp thuê lại: Cách làm này phần nào giải quyết được bất cập trên nhưng lại không đảm bảo tính pháp lý do trong quy định của pháp luật Việt Nam chưa có quy định về vấn đề này [6] Hơn nữa, tính pháp lý của nguồn lực tài chính mà chính quyền địa phương dùng để trả tiền thuê đất của dân cũng chưa rõ ràng; mặt khác rất dễ phát sinh tình trạng tham nhũng về đất đai Đồng thời, chưa có khung pháp lý và chính sách đủ mạnh để phát triển các tổ chức trung gian (một doanh nghiệp công ích của Nhà nước đứng ra thuê đất của nông dân rồi cho doanh nghiệp khác thuê lại)
Trang 9Hình thức góp vốn quyền sử dụng đất: Hình thức
này chưa phát triển mạnh do nhiều khó khăn và rủi
ro Trong trường hợp doanh nghiệp làm ăn thua lỗ
hoặc doanh nghiệp cố tình gạt người góp đất ra khỏi
quá trình sản xuất kinh doanh thông qua tăng vốn
điều lệ, người nông dân rất dễ rơi vào tình trạng mất
đất (hiện nay, một số công ty cao su có sự tham gia
góp đất của nhiều hộ gia đình ở các tỉnh Tây Bắc chưa
thành công, ảnh hưởng đến cuộc sống của các hộ góp
đất vào công ty như những cổ đông) Doanh nghiệp
không thể thế chấp quyền sử dụng đất cũng như vốn
hóa giá trị quyền sử dụng đất để vay vốn đầu tư sản
xuất Khả năng áp dụng của hình thức này hiện nay
rất thấp do khó có một khung pháp lý đồng bộ cho các
hợp đồng góp vốn của doanh nghiệp và nông dân và
doanh nghiệp trong khi khâu quản lý doanh nghiệp
còn rất hạn chế
Một số mô hình tập trung đất khác:
+ Các hộ nhận chuyển nhượng quyền sử dụng
đất nông nghiệp của các hộ khác để mở rộng sản
xuất, trở thành trang trại hoặc các hộ có quy mô lớn:
Số hộ muốn bán quyền sử dụng đất không nhiều,
nhất là các tỉnh phía Bắc; họ chỉ bán đất khi hoàn
cảnh bắt buộc, bởi tâm lý lo ngại công việc không ổn
định, không bảo đảm cuộc sống khi chuyển nghề
Hơn nữa, đất đai còn là tài sản mà các hộ muốn để lại
cho con cháu Việc mua, bán quyền sử dụng đất
nhiều trường hợp chỉ được xác nhận bằng giấy viết
tay, cơ sở pháp lý không vững chắc Một trở ngại nữa
là một số hộ có đất vượt quá hạn mức được nhận
chuyển nhượng quyền sử dụng đất, phải nhờ nhiều
người khác đứng tên một phần diện tích đất của
mình, rất dễ phát sinh tranh chấp
+ Hình thức doanh nghiệp nhận chuyển nhượng
quyền sử dụng đất nông nghiệp của hộnông dân để
mở rộng sản xuất: Vấn đề thỏa thuận giá với mỗi
người dân để hình thành quy mô đất đủ lớn quá phức
tạp và tốn thời gian nên hình thức này vẫn chưa phổ
biến Một số địa phương doanh nghiệp đầu tư vào
nông nghiệp lại là doanh nghiệp nước ngoài (Hà
Nam, Hưng Yên, Lâm Đồng), pháp luật về đất đai ở
Việt Nam hiện không cho phép doanh nghiệp nước
ngoài được nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất
nông nghiệp
3.2.2 Một số tồn tại chủ yếu trong các quy định
pháp luật về đất đai có liên quan
- Quy định về hạn mức nhận chuyển quyền sử
dụng đất trồng cây hằng năm, đất nuôi trồng thủy sản không quá 10 lần hạn mức giao đất Hộ gia đình,
cá nhân không được nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất lúa, nếu không trực tiếp sản xuất nông nghiệp hoặc đất nông nghiệp trong khu rừng phòng
hộ, trong phân khu bảo vệ nghiêm ngặt, phân khu phục hồi sinh thái rừng đặc dụng nếu không sinh sống trong khu rừng [6] cũng đã gây nhiều khó khăn cho các hộ gia đình và các tổ chức trong việc tập trung đất nông nghiệp để sản xuất với quy mô lớn tạo khả năng ứng dụng công nghệ cao trong sản xuất nông nghiệp
- Các quy định pháp luật về “dồn điền, đổi thửa”,
về xác định giá trị của quyền sử dụng đất khi tham gia góp vốn; quy định về Luật Hợp tác xã năm 2012 còn hạn chế, đặc biệt trong năng lực quản trị và tiếp cận vốn tín dụng
- Chưa có chính sách hiệu quả thu hút doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn Doanh nghiệp có đủ tiềm lực về vốn, công nghệ có nhu cầu sản xuất nông nghiệp không được nhận chuyển nhượng đất lúa, đất rừng phòng hộ Việc tiếp cận đất nông nghiệp của các doanh nghiệp còn gặp khó khăn
do công tác công bố, công khai quỹ đất dành cho phát triển nông nghiệp trong quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất chưa rõ ràng
- Điều kiện để doanh nghiệp được giao đất, cho thuê đất thực hiện dự án quy mô lớn trong nông nghiệp còn rất khó khăn và phức tạp, chưa có quy định trong việc hỗ trợ doanh nghiệp thuê lại hoặc nhận góp vốn bằng quyền sử dụng đất nông nghiệp của nông dân nên việc triển khai các dự án đầu tư của doanh nghiệp sản xuất nông nghiệp quy mô lớn còn gặp khó khăn
3.2.3 Tồn tại trong ứng dụng công nghệ cao vào sản xuất nông nghiệp của các mô hình sử dụng đất tập trung quy mô lớn
Ở Việt Nam, các doanh nghiệp không muốn mạo hiểm đầu tư vào nông nghiệp vì cho rằng, việc đầu tư vào lĩnh vực này có xác suất rủi ro khá cao, bởi phụ thuộc quá nhiều vào thiên nhiên, vốn đầu tư lớn, thu hồi chậm Vì vậy, cách duy nhất thay đổi bức tranh nông nghiệp lạc hậu và lối tư duy cũ trên là đưa công nghệ cao vào sản xuất nông nghiệp Tuy nhiên cần phải có những nghiên cứu, khảo sát kỹ thực tiễn của địa phương và yêu cầu của loại hình sử dụng đất
để áp dụng công nghệ phù hợp
Trang 103.3 Đề xuất một số giải pháp về các chính sách
pháp luật đất đai
- Luật Đất đai năm 2013 chính thức được áp
dụng từ ngày 01/7/2014, đã có nhiều điểm mới
khuyến khích tập trung ruộng đất, nhất là thời hạn
giao đất và hạn mức nhận chuyển quyền sử dụng đất
đã quy định mở hơn Tuy nhiên, hiện nay chính sách
“hạn điền” vẫn được coi là cản trở đối với quá trình
tập trung ruộng đất, cần được tháo gỡ
- Cần có những quy định về thời hạn để đất trống
không sản xuất thì thu hồi quyết định giao đất, cho
thuê đất (nếu được Nhà nước giao và cho thuê), bắt
buộc thực hiện chuyển quyền sử dụng đất (đối với
đất mua); đánh thuế vào những đối tượng tập trung
ruộng đất không “trực canh” hoặc không được sử
dụng cho sản xuất nông nghiệp ; giảm thuế, phí liên
quan đến chuyển nhượng đất nông nghiệp; xây dựng
cơ chế cho phép chuyển đổi linh hoạt và phân quyền
cho địa phương thẩm định phương án chuyển đổi
mục đích sử dụng giữa đất trồng lúa, đất trồng cây
hằng năm, đất trồng cây lâu năm, đất cho chăn nuôi,
đất nuôi trồng thủy sản theo quy hoạch và bảo đảm
các điều kiện về môi trường; bảo đảm quyền tài sản
trên đất của những nhà đầu tư vào khu vực nông
nghiệp, nông thôn
- Cần phối hợp với các cơ quan chức năng liên
quan ban hành các chính sách về góp vốn trong sản
xuất nông nghiệp (xác định giá trị của quyền sử
dụng đất) Xem xét, sửa đổi chính sách về các doanh
nghiệp nước ngoài thuê đất của người dân để sản
xuất nông nghiệp trên cơ sở mục đích sản xuất nông
nghiệp phải phù hợp, thu hút lao động của địa
phương và có khả năng kế thừa, chuyển giao công
nghệ
4 KẾT LUẬN
Cơ chế tập trung đất đai được thông qua cơ chế
hành chính, cơ chế dân sự và cơ chế hỗn hợp Mỗi
vùng miền có những điều kiện khác nhau về đất đai,
về phong tục tập quán, dân trí nên sẽ có mức độ
thích hợp với từng loại cơ chế khác nhau
Thông qua kết quả thu thập tài liệu và kết quả
điều tra trên địa bàn 16 tỉnh thuộc 4 vùng KTTĐ và 4
tỉnh đặc thù đã tổng hợp đánh giá được những ưu
điểm và hạn chế riêng của từng mô hình tập trung
đất đai Vì vậy, cần phải có chính sách, quy định
riêng phù hợp để có thể ứng dụng công nghệ cao
một cách hiệu quả, đưa sản xuất nông nghiệp dần trở
thành nền nông nghiệp hiện đại, mang lại giá trị gia
tăng cao
Để phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao đạt hiệu quả, cần xây dựng mô hình điểm sinh động có tính toán cụ thể về các điều kiện tự nhiên, xã hội, khả năng về vốn và đầu ra cho sản phẩm (có khả năng sơ chế hoặc chế biến tại chỗ), đặc biệt quan tâm đến việc nhân rộng mô hình, chuyển giao công nghệ cho nông dân Bước đầu đề xuất một số chính sách pháp luật về đất đai có liên quan nhằm đáp ứng được yêu cầu, tạo ra những đột phá mới trong sản xuất nông nghiệp, tạo cơ sở chuyển nhanh nền nông nghiệp nước ta theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa
LỜI CẢM ƠN
Bài báo có sự hỗ trợ nguồn dữ liệu của đề tài nghiên cứu khoa học cấp Quốc gia “Nghiên cứu cơ
sở khoa học, thực tiễn đề xuất mô hình sử dụng đất tập trung, quy mô lớn, hiệu quả, bền vững đáp ứng yêu cầu ứng dụng công nghệ cao trong sản xuất nông nghiệp tại các vùng kinh tế trọng điểm Việt Nam”, mã số BĐKH.35/16-20
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Chính phủ (1993) Nghị định số 64 - CP ngày
27 tháng 9 năm 1993 về việc ban hành bản quy định
về việc giao đất nông nghiệp cho hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định lâu dài vào mục đích sản xuất nông nghiệp
2 Chính phủ (1997, 1998, 2009) Các Quyết định
số 747/TTg ngày 11 tháng 9 năm 1997; Quyết định
số 1018/1997/QĐ - TTg, ngày 29 tháng 11 năm 1997; Quyết định số 44/1998/QĐ - TTg, ngày 23 tháng 02 năm 1998 và Quyết định số 492/QĐ - TTg ngày 16 tháng 4 năm 2009 về việc thành lập các vùng kinh tế trọng điểm
3 Chính phủ (2015) Quyết định số 575/QĐ - TTg ngày 04 tháng 5 năm 2015 về việc phê duyệt quy hoạch tổng thể khu và vùng nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao đến năm 2020, định hướng đến năm
2030
4 Hoàng Xuân Phương và cộng sự (2014)
Nghiên cứu thực trạng và đề xuất giải pháp tích tụ, tập trung đất trong nông nghiệp Đề tài cấp Bộ, Viện Quy hoạch và Thiết kế Nông nghiệp, Bộ Nông nghiệp và PTNT
5 Tổng cục Thống kê Niên giám Thống kê các năm 2017, 2018
6 Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam (2013) Luật Đất đai 2013