Nhằm mục tiêu xác định được mức phân bón và mật độ gieo sạ hợp lý để đạt năng suất và hiệu quả kinh tế cao đối với giống lúa Hương Châu 6 tại Quảng Ngãi. Thí nghiệm gồm 2 nhân tố (phân bón và mật độ) được bố trí theo kiểu ô lớn ô nhỏ (Split - Plot Design), 3 lần lặp; nhân tố phụ - phân bón (ô lớn). Mời các bạn tham khảo!
Trang 1NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC MỨC PHÂN BÓN
VÀ MẬT ĐỘ SẠ ĐỐI VỚI GIỐNG LÚA HƯƠNG CHÂU 6
TẠI QUẢNG NGÃI
TÓM TẮT
Nhằm mục tiêu xác định được mức phân bón và mật độ gieo sạ hợp lý để đạt năng suất và hiệu quả kinh tế cao đối với giống lúa Hương Châu 6 tại Quảng Ngãi Thí nghiệm gồm 2 nhân tố (phân bón và mật độ) được bố trí theo kiểu ô lớn ô nhỏ (Split - Plot Design), 3 lần lặp; nhân tố phụ - phân bón (ô lớn), nhân tố chính - mật độ sạ (ô nhỏ), gồm 9 công thức với 3 mức phân bón (kg/ha): P1 (NPK): 100-60-70, P2 (NPK): 120-70-80 và P3 (NPK): 140-80-90 (nền bón 10 tấn phân chuồng hoai + 300 kg vôi bột) và 3 mật độ sạ: M60 (lượng giống sạ
60 kg/ha); M80 (lượng giống sạ 80 kg/ha); M100 (lượng giống sạ 100 kg/ha), tiến hành trong vụ hè thu
2018 và đông xuân 2018-2019 tại Quảng Ngãi Kết quả nghiên cứu đã xác định được đối với giống Hương Châu 6, vụ đông xuân lượng giống gieo sạ 80 kg/ha; lượng phân bón (1 ha): 10 tấn phân chuồng + 120 -140
kg N + 70-80 kg P2O5 + 80-90 kg K2O + 300 kg vôi bột, cho năng suất cao (73,9-75,2 tạ/ha), lãi thuần cao (15.816.000-15.834.000 đồng/ha/vụ); vụ hè thu, lượng giống gieo sạ 60-80 kg/ha và lượng phân bón (1 ha):
10 tấn phân chuồng + 120 kg N + 70 kg P2O5 + 80 kg K2O + 300 kg vôi bột, cho năng suất cao (75,2-76,0 tạ/ha), lãi thuần cao (18.625.000-18.705.000 đồng/ha/vụ)
Từ khóa: Giống lúa Hương châu 6, lượng phân bón và mật độ sạ, năng suất và hiệu quả kinh tế
lương thực quan trọng nhất trên thế giới, sản lượng
đứng sau ngô và lúa mì Cây lúa được phân bố từ 30
vĩ độ Nam đến 40 vĩ độ Bắc, với trên 110 nước sản
xuất, tiêu thụ lúa gạo (Hoàng Kim, 2011)
Ở Việt Nam lúa là cây lương thực quan trọng số
1, ngoài ra lúa gạo còn dùng làm nguyên liệu của các
ngành: công nghiệp, thực phẩm, y tế, chế biến thức
ăn chăn nuôi, sản xuất phân bón và xuất khẩu Năm
2019, diện tích lúa gieo trồng 7477,4 nghìn ha, năng
suất trung bình (TB) 5,82 tấn/ha và sản lượng
43489,0 nghìn tấn (Cục Trồng trọt, 2019) Sau hơn 30
năm đổi mới, Việt Nam không chỉ đảm bảo được an
ninh lương thực quốc gia mà còn là nước xuất khẩu
gạo hàng đầu trên thế giới Năm 2019, Việt Nam xuất
khẩu 6,259 triệu tấn gạo, thu về 2,758 tỷ USD
(USDA, 2019) Tuy vậy, sản xuất lúa gạo ở Việt Nam
đang đứng trước những thách thức do biến đổi khí
hậu toàn cầu, là 1 trong 5 quốc gia trên thế giới bị
ảnh hưởng nặng nề nhất, biểu hiện rõ là phân bố
1
Trung tâm Khảo kiểm nghiệm giống, Sản phẩm cây trồng
miền Trung
2
Trung tâm Khảo kiểm nghiệm giống, Sản phẩm cây trồng
Quốc gia
E.mai: lequytuong@gmail.com
mưa không đều, hạn hán, phèn, mặn, ngập úng với quy mô lớn (Trần Thục, 2011)
Quảng Ngãi là một tỉnh nông nghiệp ở duyên hải Nam Trung bộ (DHNTB) Lúa là cây lương thực quan trọng với nhiều lợi thế so sánh Năm 2019, diện tích lúa của tỉnh là 73,7 nghìn ha, chiếm 13,8% tổng diện tích lúa vùng DHNTB; năng suất TB 5,88 tấn/ha, thấp hơn năng suất TB của DHNTB là 0,8 tạ/ha; sản lượng 433,5 nghìn tấn (Cục Trồng trọt, 2019) Tuy nhiên, việc gieo cấy lúa ở Quảng Ngãi đang đứng trước những khó khăn đó là đất trồng lúa manh mún, chủ yếu là đất trung bình, nghèo dinh dưỡng, đất thường xuyên ngập nước khi gặp mưa bão; một số giống lúa hiện đang gieo trồng trong sản xuất như Khang Dân 18, BC15, MT10, ĐH815-6, OM9636, Hương thơm số 1,… nhưng do canh tác nhiều năm liên tục nên một số giống bị nhiễm sâu bệnh nặng và có xu thế thoái hóa giống Mặt khác do tập quán của nông dân sạ với mật độ cao, lượng phân thiếu cân đối và chưa phù hợp với từng giống nên hiệu quả trồng lúa thấp Vì vậy, nghiên cứu ảnh hưởng của các mức bón phân và mật độ gieo sạ của giống lúa mới triển vọng Hương Châu 6 trước khi đưa giống ra sản xuất đại trà là cần thiết với mục tiêu: xác định mức bón phân và mật độ gieo sạ hợp lý để đạt năng suất cao, ổn định (6,5-7,0 tấn/ha) và đạt hiệu quả kinh tế cao hơn canh tác đại trà từ 8-10%;
Trang 2thích hợp gieo sạ các vụ trồng lúa chính tại Quảng
Ngãi
2 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Vật liệu nghiên cứu
- Giống lúa: Hương Châu 6 là giống lúa thường
trung ngày, do Công ty Cổ phần Giống cây trồng
miền Nam nghiên cứu, chọn tạo và được công nhận
sản xuất thử cho vùng đồng bằng sông Cửu Long,
duyên hải Nam Trung bộ và Tây Nguyên tại Quyết
định số 324/QĐ-TT-VPPN ngày 4/10/2019
- Phân bón: Thí nghiệm sử dụng các loại phân
bón: Phân chuồng được ủ hoai mục; phân vô cơ: đạm
2.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Bố trí thí nghiệm
Thí nghiệm gồm 2 nhân tố (phân bón và mật độ)
được bố trí theo kiểu ô lớn ô nhỏ (Split - Plot Design)
Phân bón (nhân tố phụ) được bố trí trên ô lớn và mật
độ sạ (nhân tố chính) được bố trí trên ô nhỏ; diện tích ô
10 m2
- Phân bón (nhân tố phụ), gồm 3 công thức: P1
(NPK): 100 : 60 : 70; P2 (NPK): 120 : 70 : 80; P3
(NPK): 140 : 80 : 90 Nền: 10 tấn phân chuồng + 300
kg vôi bột
- Mật độ (lượng giống sạ/ha - nhân tố chính),
gồm 3 công thức: M60 - lượng giống sạ 60 kg/ha;
M80 - lượng giống sạ 80 kg/ha; M100 - lượng giống
sạ 100 kg/ha
2.2.2 Công thức thí nghiệm
CT1: P1M60; CT2: P1M80; CT3: P1M100; CT4:
P2M60; CT5: P2M80; CT6: P2M100; CT7: P3M60;
CT8: P3M80; CT9: P3M100
2.2.3 Chỉ tiêu theo dõi và phương pháp đánh giá
- Các chỉ tiêu theo dõi, phương pháp đánh giá và
quy trình kỹ thuật áp dụng theo “Quy chuẩn quốc gia
về Khảo nghiệm giá trị canh tác và giá trị sử dụng”,
QCVN01-55:2011/BNNPTNT
Tính hiệu quả kinh tế các mức bón phân và mật
độ gieo sạ theo hạch toán toàn phần chi phí đầu vào
(tổng chi) và đầu ra sản phẩm (tổng thu)
- Chỉ tiêu theo dõi: Thời gian sinh trưởng; số
chính: Sâu đục thân, bệnh đạo ôn cổ bông, bệnh khô vằn cho điểm theo quy chuẩn 0, 1, 3, 5, 7, 9); số bông
hiệu quả kinh tế của các công thức bón phân và mật
độ gieo sạ
Xử lý số liệu thí nghiệm: theo chương trình Excel và phần mềm (ANOVA) Statistic 9.0
2.3 Địa điểm và thời gian nghiên cứu
- Địa điểm nghiên cứu: Trạm Khảo nghiệm và Hậu kiểm giống cây trồng Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi
- Thời gian nghiên cứu: Vụ hè thu 2018, ngày gieo 5/6/2018, ngày thu hoạch 12/9/2018 và đông xuân 2018-2019, ngày gieo 27/12/2018, ngày thu hoạch 18/4/2019
Đất phù sa không được bồi hàng năm, có độ phì
3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 3.1 Ảnh hưởng của các mức bón phân và mật độ
sạ đến sinh trưởng, phát triển của giống lúa Hương Châu 6
Kết quả số liệu ở bảng 1 cho thấy: Thời gian sinh trưởng (TGST) của các công thức dao động từ 104 -
108 ngày (vụ đông xuân) và từ 92 - 95 ngày (vụ hè thu) Các công thức bón mức phân cao như P3 có TGST dài hơn các công thức bón mức phân P1, P2 từ
2 - 4 ngày Các mật độ sạ khác nhau không ảnh hưởng đáng kể đến TGST của các công thức thí nghiệm
là ở lượng giống 100 kg/ha và thấp nhất là gieo với lượng 60 kg/ha
Chiều cao cây cuối cùng: Các công thức dao động từ 88,7 - 98,3 cm (vụ đông xuân) và từ 105,5 - 117,4 cm (vụ hè thu), trong đó các công thức sạ dày (80-100 kg/ha) có chiều cao cây cao hơn công thức
sạ thưa (60 kg/ha) Chiều cao cây cuối cùng tăng tỷ
lệ thuận với lượng phân bón và đạt cao nhất ở mức phân bón P3
Trang 3Độ tàn lá: Các công thức có mật độ sạ và lượng
phân bón khác nhau không ảnh hưởng đến độ tàn lá
Các công thức thí nghiệm đều có độ tàn lá trung bình (điểm 5)
Bảng 1 Ảnh hưởng của các mức bón phân và mật độ sạ đến sinh trưởng, phát triển của giống lúa Hương
Châu 6 vụ hè thu (HT) 2018 và đông xuân (ĐX) 2018-2019 tại Quảng Ngãi
Độ tàn lá (điểm 1-9)
Ghi chú:Các công thức có cùng kí tự trong một cột sai khác không có ý nghĩa ở mức xác suất 95%
3.2 Ảnh hưởng của mức phân bón và mật độ sạ đến khả năng chống chịu sâu bệnh và chống đổ ngã của giống lúa Hương Châu 6
Bảng 2 Ảnh hưởng của mức bón đạm và mật độ sạ đến khả năng chống chịu sâu bệnh và chống đổ của giống
lúa Hương Châu 6 vụ hè thu 2018 và đông xuân 2018-2019 tại Quảng Ngãi Đạo ôn cổ bông
(điểm 0-9)
Khô vằn (điểm 0-9)
Sâu đục thân (điểm 0-9)
Sâu cuốn lá (điểm 0-9)
Độ cứng cây (điểm 1-9) Công thức
Số liệu ở bảng 2 cho thấy:
- Bệnh đạo ôn cổ bông: Các công thức nhiễm
bệnh đạo ôn cổ bông nhẹ dao động từ điểm 0-3,
trong đó, vụ đông xuân cao hơn vụ hè thu Các công
thức bón mức phân cao (P3) và mật độ sạ cao
(M100) thì mức độ nhiễm bệnh đạo ôn cổ bông cũng
cao hơn công thức sạ thưa (M60) và mức bón thấp
(P1, P2)
- Bệnh khô vằn: Các công thức nhiễm bệnh khô
vằn nhẹ dao động từ điểm 1-3, trong đó, vụ hè thu
mức độ nhiễm cao hơn vụ đông xuân Các công thức bón mức phân cao (P3) và mật độ sạ cao (M100) thì mức độ nhiễm bệnh khô vằn cũng cao hơn công thức
sạ thưa (M60) và mức bón thấp (P1, P2)
- Sâu đục thân: Các công thức nhiễm sâu đục thân nhẹ dao động từ điểm 0-3, trong đó, vụ đông xuân mức độ nhiễm sâu đục thân cao hơn vụ hè thu Các công thức bón mức phân cao (P3) và mật độ sạ cao (M100) thì mức độ nhiễm sâu đục thân cũng cao hơn công thức sạ thưa (M60) và mức bón thấp (P1,
Trang 4P2)
- Sâu cuốn lá: Các công thức nhiễm sâu cuốn lá
nhẹ dao động từ điểm 0-3, trong đó, vụ hè thu mức
độ nhiễm cao hơn vụ đông xuân Các công thức bón
mức phân cao (P3) và mật độ sạ cao (M100) thì mức
độ nhiễm sâu cuốn lá cũng cao hơn công thức sạ
thưa (M60) và mức bón thấp (P1, P2)
- Độ cứng cây: Các công thức có độ cứng cây dao
động từ điểm 1-5, trong đó, vụ hè thu mức độ cứng cây kém hơn vụ đông xuân Các công thức bón phân mức cao (P3) và mật độ sạ cao (M100) thì độ cứng cây cũng kém hơn công thức sạ thưa (M60) và bón thấp (P1, P2)
3.3 Ảnh hưởng của các mức bón phân và mật độ
sạ đến các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất của giống lúa Hương Châu 6
Bảng 3 Ảnh hưởng của các mức bón phân và mật độ sạ đến các yếu tố cấu thành năng suất của giống lúa
Hương Châu 6 vụ hè thu 2018 và đông xuân 2018-2019 tại Quảng Ngãi
Ghi chú:Các công thức có cùng kí tự trong một cột sai khác không có ý nghĩa ở mức xác suất 95%
Bảng 4 Ảnh hưởng của các mức bón phân và mật độ sạ đến năng suất của giống lúa Hương Châu 6 vụ hè thu
2018 và vụ đông xuân 2018-2019 tại Quảng Ngãi
NSLT (tạ/ha) NSTT (tạ/ha)
Ký hiệu Công thức
HT ĐX HT ĐX TB CT1 P1M60 79,5 77,5 68,5bcd
63,2d
65,9 CT2 P1M80 78,5 79,2 67,2cd
65,3cd
66,3 CT3 P1M100 76,1 79,8 65,6d 66,1bcd 65,9
CT4 P2M60 86,3 86,5 75,2abc
71,2abc
73,2 CT5 P2M80 89,5 90,1 76,0ab 73,9a 75,0
CT6 P2M100 85,7 86,8 74,4abc 72,0ab 73,2
CT7 P3M60 81,0 88,1 70,7a-d 72,5ab 71,6
CT8 P3M80 90,5 91,3 76,8a 75,2a 76,0
CT9 P3M100 84,3 86,0 72,3a-d
70,9abc
71,6
Ghi chú:Các công thức có cùng kí tự trong một cột sai khác không có ý nghĩa ở mức xác suất 95%
Số liệu ở bảng 3 cho thấy:
khi tăng lượng giống gieo và đạt cao nhất ở các công thức có lượng giống gieo 100 kg/ha
- Số hạt chắc/bông: Các công thức có số hạt chắc/bông dao động từ 93,5 - 108,3 hạt/bông (vụ
Trang 5đông xuân), trong đó, lượng sạ ở mức thấp (M60,
M80) và bón phân ở mức cao (P2, P3) đạt số hạt
chắc/bông cao hơn sạ lượng giống dày (M100) và
bón mức thấp (P1)
Vụ hè thu, các công thức có số hạt chắc/bông
dao động từ 90,1 - 104,5 hạt/bông, trong đó, lượng sạ
ở mức thấp (M60, M80) và bón phân ở mức cao (P2,
P3) đạt số hạt chắc/bông cao hơn sạ lượng giống dày
(M100) và bón mức thấp (P1)
- Khối lượng 1000 hạt: Các công thức có KL1000
hạt dao động từ 23,3 - 24,3 gam (vụ đông xuân),
trong đó, lượng sạ ở mức thấp (M60, M80) và bón
phân ở mức cao (P2, P3) đạt KL1000 hạt hơi cao hơn
sạ lượng giống dày (M100) và bón mức thấp (P1)
Các công thức có KL1000 hạt dao động từ 22,9-23,7
gam (vụ hè thu), trong đó, lượng sạ ở mức thấp
(M60, M80) và bón phân ở mức cao (P2, P3) đạt
KL1000 hạt hơi cao hơn sạ lượng giống dày (M100)
và bón mức thấp (P1) Nhìn chung, mật độ sạ và mức
bón phân ảnh hưởng không nhiều đến khối lượng
1000 hạt của giống
- Năng suất lý thuyết: các công thức có năng suất
lý thuyết dao động từ 77,5 - 91,3 tạ/ha (đông xuân)
và từ 76,1 - 90,5 tạ/ha (hè thu), trong đó, các công thức có năng suất lý thuyết cao gồm: P2M80 và P3M80
- Năng suất thực thu:
+ Vụ đông xuân 2018-2019: Các công thức thí nghiệm có năng suất dao động từ 63,2 - 75,2 tạ/ha, trong đó, công thức P2M80 đạt năng suất 73,9 tạ/ha
và công thức P3M80 (năng suất 75,2 tạ/ha), cao hơn
có ý nghĩa so với các công thức khác trong xử lý thống kê ở mức sai khác 95%
+ Vụ hè thu 2018: Các công thức có năng suất dao động từ 65,6 - 76,8 tạ/ha, trong đó, công thức P3M80 và P2M80 (năng suất 76,0- 76,8 tạ/ha), cao hơn có ý nghĩa so với các công thức khác trong xử lý thống kê ở mức sai khác 95%
Năng suất trung bình 2 vụ đông xuân 2018-2019
và hè thu 2018 của công thức P3M80 đạt năng suất cao nhất 76 tạ/ha, tiếp đến là công thức P2M80 (năng suất 75,0 tạ/ha)
3.4 Phân tích hiệu quả kinh tế cho giống lúa Hương Châu 6
Bảng 5 Hiệu quả kinh tế của các mức bón phân và mật độ sạ đến năng suất của giống lúa Hương Châu 6 vụ
hè thu 2018 và đông xuân 2018-2019 tại Quảng Ngãi
ĐVT: Nghìn đồng/ha
Ghi chú: Giá phân bón vụ đông xuân 2018-2019: Phân chuồng: 600 vnđ/kg; ure: 9.100 vnđ/kg; lân Văn Điển: 3.500 vnđ/kg; kali: 8.000 vnđ/kg; vôi: 1.500 vnđ/kg Vụ hè thu 2018: Phân chuồng: 500 vnđ/kg; ure: 7.200 vnđ/kg; lân Văn Điển: 3.500 vnđ/kg; kali: 7.000 vnđ/kg; vôi: 1.500 vnđ/kg Giống: 20.000 vnđ/kg; công lao động (làm đất, gieo sạ, chăm sóc, bón phân, phun thuốc, thu hoạch, chế biến): 120.000 vnđ/công; lúa thương phẩm: 6000 vnđ/kg
Số liệu ở bảng 5 cho thấy:
- Vụ hè thu 2018: Các công thức đạt lãi thuần dao
động từ 12.728 - 18.705 nghìn đồng/ha/vụ, trong đó,
lãi thuần cao nhất là công thức CT5- P2M80 (18.705
nghìn đồng/ha/vụ), tiếp theo là công thức CT4-
P2M60 (18.625 nghìn đồng/ha/vụ)
- Vụ đông xuân 2018-2019: Các công thức đạt lãi thuần dao động từ 10.558 - 15.834 nghìn đồng/ha/vụ, trong đó, công thức đạt lãi thuần cao nhất là CT8-P3M80 (15.834 nghìn đồng/ha/vụ), tiếp theo là công thức CT5-P2M80 (15.816 nghìn đồng/ha/vụ)
Trang 64 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ
4.1 Kết luận
Kết quả thực hiện thí nghiệm xác định mức phân
bón và mật độ cho giống lúa thường Hương Châu 6
trong vụ hè thu 2018 và đông xuân 2018-2019 tại
Quảng Ngãi, đã rút ra một số kết luận bước đầu như
sau: Giống Hương Châu 6, vụ đông xuân lượng giống
gieo sạ 80 kg/ha (ít nhất cấp giống xác nhận) và
lượng phân bón (1 ha): 10 tấn phân chuồng + 120
bột, đạt năng suất cao (73,9-75,2 tạ/ha), lãi thuần cao
(15.816.000-15.834.000 đồng/ha/vụ); vụ hè thu,
lượng giống gieo sạ 60-80 kg/ha và lượng phân bón
(75,2-76,0 tạ/ha), lãi thuần cao (18.625.000-18.705.000
đồng/ha/vụ)
4.2 Đề nghị
- Sản xuất thử giống Hương Châu 6 trong vụ
đông xuân và hè thu tại Quảng Ngãi với lượng giống
gieo sạ và lượng phân bón đã như đã nêu ở mục 4.1
- Hoàn thiện quy trình kỹ thuật sản xuất giống lúa Hương Châu 6 trước khi đưa giống ra sản xuất đại trà tại Quảng Ngãi
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Bộ Nông nghiệp và PTNT, 2011 QCVN 01-55:2011/BNNPTNT Quy chuẩn Quốc gia về Khảo nghiệm giá trị canh tác và sử dụng của giống lúa
2 Cục Trồng trọt, 2019 Báo cáo tổng kết ngành trồng trọt năm 2019 và kế hoạch năm 2020
3 Hoàng Kim, 2011 Bài giảng cây lúa Trường Đại học Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh, 298 trang
4 Trần Thục, 2011 Biến đổi khí hậu có xu hướng gia tăng “Climate Change Tends to Increase” Ministry of Natural Resouces and Environment of Viet Nam
5 USDA, 2018 (Bộ Nông nghiệp Mỹ) Thống kê sản xuất ngô ở Việt Nam năm 2018
6 Quyết định số 324/QĐ-TT-VPPN ngày 4/10/2019 của Cục trưởng Cục Trồng trọt ban hành giống cây cây trồng được phép sản xuất thử và giống cây trồng công nhận chính thức tại Việt Nam
STUDY ON THE EFFECTS OF FERTILIZER LEVELS AND SOWING SEED RATES OF
HUONG CHAU 6 RICE VARIETIES IN QUANG NGAI PROVINCE
1Central Center for Plant Testing
2National Center for Plant Testing
Summary
Aiming to identify sutitable fertilizer level and sowing seed rate to achieve high yield and economic efficiency for Huong Chau 6 rice variety in Quang Ngai The experiment with 2 factors (fertilizer and sowing seed rate) arranged in a Split - Plot Design with 3 replications was conducted in the summer-autumn
2018 and winter-spring 2018-2019 in Quang Ngai The main factor was sowing seed rate (small plot) with three treatments: M60 (60 kg/ha of sowing seeds); M80 (80 kg/ha of sowing seeds); M100 (100 kg/ha of sowing seeds) The secondary factor was fertilizer amount (large plot) with three levels: P1 (NPK):
100-60-70, P2 (NPK): 120-70-80 and P3 (NPK): 140-80-90, applied on basal fertilization of 10 tons of decomposed animal manure + 300 kg of powdered lime) The research results showed that, Huong Chau 6 rice variety gave high high yield (73.9-75.2 quintal/ha), high net profit (15,816,000-15,834,000 VND/ha/crop) under the treatment of 80 kg/ha of sowing seeds combined with the fertilizer level of 10 tons/ha of manure + 120 -140
kg N/ha + 70-80 kg P2O5/ha + 80-90 kg K2O/ha + 300 kg/ha of powdered lime in the winter-spring season
In the summer-autumn season high yield (75.2-76.0 quintal/ha) and high net profit (18,625,000-18,705,000 VND/ha/crop) was achieved under the treatment of 60 – 80 kg/ha of sowing seeds combined with the fertilizer levels of 10 tons of manure/ha + 120 kg N/ha + 70 kg P2O5/ha + 80 kg K2O/ha + 300 kg/ha of powdered lime
Keywords: Huong Chau 6 rice variety, fertilizer levels and sowing seed rates, high yield and economic efficiency
Người phản biện: TS Nguyễn Như Hải
Ngày nhận bài: 27/3/2020
Ngày thông qua phản biện: 28/4/2020
Ngày duyệt đăng: 5/5/2020