Luận văn nghiên cứu những ảnh hưởng của niềm tin kinh doanh của doanh nghiệp và niềm tin của người tiêu dùng nhằm xem xét sự ảnh hưởng của 2 nhân tố này đến sự biến động của chỉ số giá cổ phiếu và nhân tố nào có ảnh hưởng lớn hơn nhằm đưa ra những giải pháp phù hợp cho sự phát triển của thị trường chứng khoán Việt Nam.
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ Tp.HCM
-
PHẠM THỊ BÍCH THẢO
PHÂN TÍCH TÁC ĐỘNG NIỀM TIN KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP VÀ NIỀM TIN CỦA NGƯỜI TIÊU DÙNG ĐẾN CHỈ SỐ GIÁ CỔ PHIẾU TẠI
SỞ GIAO DỊCH CHỨNG KHOÁN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Chuyên ngành: Tài chính Ngân hàng
Mã số: 60340201
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS THÂN THỊ THU THỦY
TP Hồ Chí Minh – Năm 2014
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng luận văn “ Phân tích tác động niềm tin kinh doanh của doanh nghiệp và niềm tin của người tiêu dùng đến chỉ số giá cổ phiếu tại Sở giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh ” là công trình nghiên cứu của riêng tôi
được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của TS Thân Thị Thu Thủy Luận văn
là kết quả c ủa việc nghiên cứu độc lập, không sao chép toàn bộ hay một phần công trình của bất cứ ai khác Các số liệu trong luận văn được sử dụng trung thực từ các nguồn hợp pháp và đáng tin cậy
T.P Hồ Chí Minh, ngày tháng năm 2014
Tác giả luận văn
Phạm Thị Bích Thảo
Trang 3MỤC LỤC
TRANG BÌA PHỤ
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 1
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
4 Phương pháp nghiên cứu 2
5 Kết cấu của đề tài 2
6 Ý nghĩa của đề tài 3
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN SỰ TÁC ĐỘNG NIỀM TIN KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP VÀ NIỀM TIN CỦA NGƯỜI TIÊU DÙNG ĐẾN CHỈ SỐ GIÁ CỔ PHIẾU TẠI SỞ GIAO DỊCH CHỨNG KHOÁN 4
1.1.Tổng quan về niềm tin kinh doanh của doanh nghiệp 4
1.1.1 Niềm tin kinh doanh của doanh nghiệp (BC- Bussiness Confidence) 4
1.1.1.1.Khái niệm 4
1.1.1.2.Các nhân tố tác động đến niềm tin kinh doanh của doanh nghiệp 5
1.1.1.3 Mục tiêu khảo sát niềm tin kinh doanh của doanh nghiệp 7
1.1.2.Chỉ số niềm tin kinh doanh của doanh nghiệp (BCI-Bussiness Confidence Index) 8
1.1.2.1.Khái niệm 8
1.1.2.2.Phương pháp đo lường 9
Trang 41.1.2.3 Ý nghĩa chỉ số niềm tin kinh doanh của doanh nghiệp 10
1.2.Tổng quan về niềm tin của người tiêu dùng 10
1.2.1.Niềm tin của người tiêu dùng (CC-Consumer Confidence) 10
1.2.1.1.Khái niệm 10
1.2.1.2.Các nhân tố tác động đến niềm tin của người tiêu dùng 11
1.2.1.3 Mục tiêu khảo sát niềm tin của người tiêu dùng 12
1.2.2.Chỉ số niềm tin của người tiêu dùng (CCI-Consumer Confidence Index) 13
1.2.2.1.Khái niệm 13
1.2.2.2.Phương pháp đo lường 14
1.2.2.3 Ý nghĩa của chỉ số niềm tin của người tiêu dùng 15
1.3 Chỉ số giá cổ phiếu 16
1.3.1 Nguồn gốc ra đời 16
1.3.2 Khái niệm 17
1.3.3 Phân loại chỉ số giá cổ phiếu 18
1.3.4 Đặc điểm chỉ số giá cổ phiếu 18
1.3.5 Phương pháp tính chỉ số giá cổ phiếu 19
1.3.6 Các nhân tố ảnh hưởng đến chỉ số giá cổ phiếu 22
1.4 Các nghiên cứu trên thế giới về sự tác động của niềm tin kinh doanh của doanh nghiệp và niềm tin của người tiêu dùng đến chỉ số giá cổ phiếu tại thị trường chứng khoán 23
1.4.1.Nghiên cứu về sự tác động niềm tin kinh doanh của doanh nghiệp đến chỉ số giá cổ phiếu tại thị trường chứng khoán 23
1.4.2 Nghiên cứu về sự tác động niềm tin của người tiêu dùng đến chỉ số giá cổ phiếu tại thị trường chứng khoán 23
1.4.3.Nghiên cứu về sự tác động niềm tin kinh doanh của doanh nghiệp và niềm tin của người tiêu dùng đến chỉ số giá cổ phiếu tại thị trường chứng khoán 25
1.5 Sự cần thiết của nghiên cứu niềm tin kinh doanh của doanh nghiệp và niềm tin của người tiêu dùng ảnh hưởng đến chỉ số giá cổ phiếu tại thị trường chứng khoán 26
Trang 51.5.1 Sự cần thiết của nghiên cứu niềm tin kinh doanh của doanh nghiệp ảnh hưởng
đến chỉ số giá cổ phiếu tại thị trường chứng khoán 26
1.5.2 Sự cần thiết của nghiên cứu niềm tin của người tiêu dùng ảnh hưởng đến chỉ số giá cổ phiếu tại thị trường chứng khoán 26
Kết luận chương 1: 27
CHƯƠNG 2: PHÂN TÍCH TÁC ĐỘNG NIỀM TIN KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP VÀ NIỀM TIN CỦA NGƯỜI TIÊU DÙNG ĐẾN CHỈ SỐ GIÁ CỔ PHIẾU TẠI SỞ GIAO DỊCH CHỨNG KHOÁN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 28
2.1.Thực trạng biến động của chỉ số giá cổ phiếu tại Sở giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh 28
2.1.1 Diễn biến của thị trường chứng khoán Việt Nam 28
2.1.2 Thực trạng các cổ phiếu niêm yết tại Sở giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh 30
2.1.3 Thực trạng biến động của chỉ số giá cổ phiếu tại Sở giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh 34
2.2 Thực trạng niềm tin kinh doanh của doanh nghiệp và niềm tin của người tiêu dùng tại Việt Nam 35
2.2.1 Thực trạng niềm tin kinh doanh của doanh nghiệp Việt Nam 35
2.2.2 Thực trạng niềm tin của người tiêu dùng Việt Nam 37
2.3 Phân tích tác động của niềm tin kinh doanh của doanh nghiệp và niềm tin của người tiêu dùng đến chỉ số giá cổ phiếu tại Sở giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh 40
2.3.1 Mô hình và phương pháp nghiên cứu 40
2.3.1.1 Mô hình nghiên cứu 40
2.3.1.2 Phương pháp nghiên cứu 41
2.3.2 Chọn mẫu dữ liệu 41
2.3.3 Kết quả hồi quy theo phương pháp OLS 45
2.3.4.Kết quả nội suy số liệu theo phương pháp trung bình di động 2 tháng 47
Trang 62.4 Đánh giá sự tác động của niềm tin kinh doanh của doanh nghiệp và niềm tin của người tiêu dùng đến chỉ số giá cổ phiếu tại Sở giao dịch chứng khoán
Thành phố Hồ Chí Minh 50
Kết luận chương 2: 52
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP NÂNG CAO NIỀM TIN KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP VÀ NIỀM TIN CỦA NGƯỜI TIÊU DÙNG NHẰM TĂNG CHỈ SỐ GIÁ CỔ PHIẾU TẠI SỞ GIAO DỊCH CHỨNG KHOÁN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 54
3.1 Định hướng phát triển TTCK Việt Nam 54
3.2 Giải pháp nâng cao niềm tin kinh doanh của doanh nghiệp nhằm tăng chỉ số giá cổ phiếu 56
3.2.1.Về phía Chính phủ 56
3.2.1.1 Phục hồi và ổn định nền kinh tế 56
3.2.1.2 Kiểm soát lạm phát 57
3.2.1.3 Chính sách lãi suất từ NHNN 58
3.2.1.4 Thực hiện kích cầu giải quyết đầu ra cho doanh nghiệp 58
3.2.1.5 Ổn định tỷ giá và tăng dự trữ ngoại hối 59
3.2.1.6 Giảm thuế thu nhập doanh nghiệp 60
3.2.2 Về phía doanh nghiệp 61
3.2.2.1 Cắt giảm chi phí sản xuất 61
3.2.2.2.Nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp 61
3.2.2.3 Tạo niềm tin với người tiêu dùng 63
3.3 Giải pháp nâng cao niềm tin của người tiêu dùng nhằm tăng chỉ số giá cổ phiếu 64
3.3.1 Giảm chi phí thiết yếu 64
3.3.2.Cải thiện thị trường lao động và gia tăng thu nhập 64
3.3 Các giải pháp hỗ trợ 66
3.3.1 Nâng cao tính minh bạch trên thị trường 66
3.3.2 Nâng cao chất lượng và đa dạng hóa các loại chứng khoán 67
Trang 73.3.3 Thu hút nhà đầu tư tổ chức tham gia thị trường chứng khoán 67
Kết luận chương 3: 69 KẾT LUẬN 70 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 8DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
SGDCK TPHCM : Sở giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh
UBCKNN : Ủy ban chứng khoán Nhà nước
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU
Bảng 2.1: Khối lượng và giá trị cổ phiếu niêm yết trên SGDCK TPHCM giai đoạn quý
3/2008 - quý 2/2013 28
Bảng 2.2: Giá trị giao dịch của cổ phiếu niêm yết tại SGDCK TPHCM giai đoạn quý 3/2008 - quý 2/2013 29
Bảng 2.3: Niềm tin kinh doanh của doanh nghiệp Việt Nam giai đoạn quý 3/2008 - quý 2/2013 33
Bảng 2.4: Niềm tin của người tiêu dùng Việt Nam giai đoạn quý 3/2008 - quý 2/2013 35
Bảng 2.5: Thống kê mô tả số quan sát, giá trị trung bình và độ lệch chuẩn của các biến 43 Bảng 2.6: Kiểm định tính dừng của chuỗi dữ liệu 44
Bảng 2.7: Liệt kê kết quả kiểm định tính dừng các chuỗi dữ liệu 45
Bảng 2.8 Bảng trình bày các hệ số trong mô hình hồi quy theo dữ liệu tháng 45
Bảng 2.9: Kết quả kiểm định đa cộng tuyến của mô hình 46
Bảng 2.10: Thống kê mô tả dữ liệu số quan sát, giá trị trung bình và độ lệch chuẩn của các biến theo phương pháp trung bình di động 2 tháng 47
Bảng 2.11: Kiểm định tính dừng của chuỗi dữ liệu theo phương pháp trung bình di động 2 tháng 48
Bảng 2.12: Liệt kê kết quả kiểm định tính dừng các chuỗi dữ liệu theo phương pháp trung bình di động 2 tháng 48
Bảng 2.13: Kết quả hồi quy chuỗi dữ liệu theo phương pháp trung bình di động 2 tháng 49 Bảng 2.14: Kiểm định đa cộng tuyến theo phương pháp trung bình di động 2 tháng 49
Trang 10
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 2.1: Giá trị niêm yết cổ phiếu giai đoạn quý 3/2008 - quý 2/2013 29 Biểu đồ 2.2: Giá trị giao dịch cổ phiếu giai đoạn quý 3/2008 - quý 2/2013 30 Biểu đồ 2.3: VN-Index giai đoạn quý 3/2008 - quý 2/2013 35 Biểu đồ 2.4: Chỉ số niềm tin kinh doanh của doanh nghiệp Việt Nam giai đoạn quý 3/2008 - quý 2/2013 34 Biểu đồ 2.5: Chỉ số niềm tin của người tiêu dùng Việt Nam giai đoạn quý 3/2008 - quý 2/2013 36
Trang 11LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Cùng với quá trình hội nhập và phát triển nền kinh tế Việt Nam đã mở ra nhiều
cơ hội đầu tư phát triển trong mọi lĩnh vực của đời sống kinh tế xã hội Sự phát triển kinh tế đòi hỏi ngày càng nhiều vốn đầu tư và thị trường chứng khoán chính là một trong những kênh huy động vốn thông dụng và hiệu quả nhất, với tầm quan trọng
đó cùng với nhiều nỗ lực năm 2000 thị trường chứng khoán Việt Nam được thành lập
Từ ngày thành lập đến nay, trải qua hơn 13 năm hoạt động và phát triển bên cạnh những thành tựu đạt được, thị trường chứng khoán Việt Nam luôn hướng đến mục tiêu tăng trưởng về quy mô, chất lượng và gia tăng tính thanh khoản nhằm thu hút ngày càng nhiều nhà đầu tư trong nước cũng như nhà đầu tư nước ngoài đặc biệt
là nhà đầu tư tổ chức tham gia thị trường Tuy nhiên, thực tế cho thấy, thời gian vừa qua hoạt động của nhà đầu tư bị chi phối nhiều bởi tâm lý đám đông và điều này đã làm chỉ số giá cổ phiếu liên tục biến động tăng giảm và sự biến động này sẽ làm ảnh hưởng đến tính lành mạnh và ổn định của thị trường cũng như tâm lý nhà đầu tư
Từ thực tế trên, để hiểu rõ mức độ tác động của các nhân tố đến chỉ số giá cổ phiếu qua đó có thể xây dựng chính sách, định hướng nhằm gia tăng chỉ số giá cổ phiếu góp phần tạo sự ổn định, phát triển cho thị trường chứng khoán Việt Nam đồng thời giúp cho nhà đầu tư có thêm công cụ khi tham gia thị trường nhằm đưa ra quyết định đầu tư nhằm gia tăng lợi nhuận và hạn chế rủi ro, tác giả chọn đề tài nghiên cứu “ Phân tích tác động niềm tin kinh doanh của doanh nghiệp và niềm tin của người tiêu dùng đến chỉ số giá cổ phiếu tại Sở giao dịch chứng khoán Thành
phố Hồ Chí Minh”
2 Mục tiêu nghiên cứu
Nghiên cứu những ảnh hưởng của niềm tin kinh doanh của doanh nghiệp và niềm tin của người tiêu dùng nhằm xem xét sự ảnh hưởng của 2 nhân tố này đến sự biến động của chỉ số giá cổ phiếu và nhân tố nào có ảnh hưởng lớn hơn nhằm đưa ra những giải pháp phù hợp cho sự phát triển của thị trường chứng khoán Việt Nam
Trang 123 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: nghiên cứu ảnh hưởng của yếu tố niềm tin kinh doanh của doanh nghiệp và niềm tin của người tiêu dùng đến chỉ số giá cổ phiếu tại Sở giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh - VN-Index
- Phạm vi nghiên cứu: hai yếu tố là niềm tin kinh doanh của doanh nghiệp
được thể hiện bằng chỉ số niềm tin kinh doanh và yếu tố niềm tin của người tiêu
dùng được thể hiện bằng chỉ số niềm tin tiêu dùng ảnh hưởng đến VN-Index Các
yếu tố khác không thuộc phạm vi nghiên cứu của đề tài
- Thời gian nghiên cứu trong giai đoạn từ quý 3/2008 đến hết quý 2/2013
4 Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu sử dụng kết hợp phương pháp nghiên cứu định tính và phương pháp nghiên cứu định lượng nhằm làm rõ các vấn đề cần nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu định tính: thu thập, tổng hợp, phân tích, đánh giá sự tác động của niềm tin kinh doanh của doanh nghiệp và niềm tin của người tiêu dùng đến chỉ số giá cổ phiếu
- Phương pháp định lượng: sử dụng phương pháp ước lượng OLS và dựa trên
đề xuất nghiên cứu của Vichet Sum năm 2012, từ đó ước lượng tham số của nhân tố chỉ số giá cổ phiếu
5 Kết cấu của đề tài
Ngoài phần lời mở đầu và kết luận, luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Tổng quan sự tác động niềm tin kinh doanh của doanh nghiệp và niềm tin của người tiêu dùng đến chỉ số giá cổ phiếu tại Sở giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh
Chương 2: Phân tích tác động của niềm tin kinh doanh của doanh nghiệp và niềm tin của người tiêu dùng đền chỉ số giá cổ phiếu tại Sở giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh
Chương 3: Giải pháp nâng cao niềm tin kinh doanh của doanh nghiệp và niềm tin của người tiêu dùng nhằm gia tăng chỉ số giá cổ phiếu tại Sở giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh
Trang 13Ngoài ra, luận văn còn có 23 phụ lục bao gồm những nội dung cấn thiết nhằm minh họa và bổ trợ cho nội dung luận văn
6 Ý nghĩa của đề tài
Đề tài nghiên cứu phân tích được sự tác động niềm tin kinh doanh của doanh nghiệp và niềm tin của người tiêu dùng đến VN-Index thông qua một ước lượng cụ thể về sự tác động đến chỉ số giá cổ phiếu Từ đó, thực hiện đánh giá, tìm được hạn chế, đề xuất các giải pháp gia tăng niềm tin kinh doanh của doanh nghiệp và niềm tin của người tiêu dùng với mục đích nhằm làm gia tăng chỉ số giá cổ phiếu tại thị trường chứng khoán Việt Nam
Trang 14CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN SỰ TÁC ĐỘNG NIỀM TIN KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP VÀ NIỀM TIN CỦA NGƯỜI TIÊU DÙNG ĐẾN CHỈ SỐ
GIÁ CỔ PHIẾU TẠI SỞ GIAO DỊCH CHỨNG KHOÁN
1.1.Tổng quan về niềm tin kinh doanh của doanh nghiệp
1.1.1 Niềm tin kinh doanh của doanh nghiệp (BC- Bussiness Confidence) 1.1.1.1.Khái niệm
Niềm tin kinh doanh luôn tác động trực tiếp đến lợi nhuận kinh doanh, một trong những mục tiêu hàng đầu mà DN hướng đến Đặc biệt, trong bối cảnh thị trường hậu khủng hoảng hiện nay, cạnh tranh diễn ra ngày càng quyết liệt, niềm tin kinh doanh càng đóng vai trò quan trọng quyết định tới sự thành bại trong cuộc chiến để
khẳng định sự tồn tại và sức mạnh của DN
Niềm tin kinh doanh của DN có thể được hiểu là nhận định của DN đối với nền kinh tế, với các chính sách vĩ mô của Chính phủ… là cơ sở, đồng lực để DN phục hồi, mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh và thông qua chiến lược và các hoạt động truyền thông để đưa đến cái nhìn rõ hơn về thực trạng và tương lai của DN cho TTCK Đây được xem như bước đi khôn ngoan mà các DN đang thực hiện để tạo những bước chuyển biến tích cực cho giá cổ phiếu góp phần vào sự gia tăng chỉ
số giá cổ phiếu trên thị trường chứng khoán
Hiện nay, niềm tin kinh doanh tại các nước trên thế giới được hiểu theo nhiều nghĩa, cụ thể:
- Theo Financial Times Lexicon: “Niềm tin kinh doanh là một chỉ số kinh tế
đo lường mức độ lạc quan hoặc bi quan mà các nhà quản lý kinh doanh về triển vọng của các công ty hoặc tổ chức của họ Nó cũng cung cấp một cái nhìn tổng quan về tình trạng của nền kinh tế”
- Tại Mỹ, niềm tin kinh doanh của Mỹ đo lường mức độ lạc quan của các chủ doanh nghiệp về hoạt động của nền kinh tế và triển vọng của doanh nghiệp Các điều tra khảo sát niềm tin kinh doanh có thể cung cấp những dấu hiệu tin cậy về điều kiện hiện tại của nền kinh tế, bởi vì các doanh nghiệp luôn có thông tin về nhu cầu của người tiêu dùng sớm hơn các nhà nghiên cứu thống kê hay Chính phủ
Trang 15- Tại Nhật Bản, Ngân hàng Trung ương Nhật Bản tiến hành cuộc điều tra khảo sát niềm tin kinh doanh với tên gọi cuộc Khảo sát Tankan Khảo sát Tankan hỏi các doanh nghiệp về môi trường kinh doanh để giúp quyết định chính sách tiền tệ Tankan đưa lại cái nhìn thấu suốt về hướng đi tương lai của chi tiêu đầu tư và việc định giá cũng như triển vọng của doanh nghiệp về việc làm và toàn bộ nền kinh tế Chỉ số này được các nhà đầu tư quốc tế sử dụng như cửa sổ để nhìn vào nền kinh tế Nhật Bản, và quan trọng hơn, để NHTW Nhật Bản quyết định chính sách tiền tệ Vậy niềm tin kinh doanh của DN có thể hiểu đo lường sự lạc quan hay bi quan của các nhà quản lý DN về triển vọng của các công ty hoặc tổ chức và được các chủ
DN thể hiện thông qua việc mở rộng hay thu hẹp hoạt động sản xuất, hoạt động đầu
tư và đồng thời niềm tin kinh doanh cũng cung cấp một cái nhìn tổng quan về tình trạng của nền kinh tế
Giảm niềm tin kinh doanh cho thấy tâm lý bi quan của các DN trước các vấn đề
về tăng trưởng kinh tế Vì vậy, các DN sẽ giảm đầu tư, ngược lại khi các DN cảm thấy lạc quan hơn về nền kinh tế, đồng nghĩa với niềm tin kinh doanh tăng sẽ thực hiện đầu tư, sản xuất kinh doanh được đẩy mạnh
1.1.1.2.Các nhân tố tác động đến niềm tin kinh doanh của doanh nghiệp
Niềm tin kinh doanh cung cấp một cái nhìn tổng quan về tình trạng nền kinh tế nên chịu tác động chi phối bởi:
- Lạm phát: một khi nền kinh tế chưa thật sự kiểm soát tốt lạm phát và lạm phát tăng luôn là dấu hiệu cho thấy rằng sự tăng trưởng của nền kinh tế sẽ không bền vững Biểu hiện của lạm phát là giá cả hàng hoá tăng, sản lượng bán ra thấp làm khả năng thu lợi nhuận của DN bị hạ thấp, đối với DNNY điều này bất lợi vì ảnh hưởng đến giá cổ phiếu và khi nền kinh tế lạm phát tăng sẽ ảnh hưởng đến niềm tin của DN vào hoạt động sản xuất, vào nền kinh tế Lạm phát càng thấp thì càng có nhiều khả năng cổ phiếu sẽ tăng giá cùng với đó niềm tin kinh doanh của DN tăng
- Khủng hoảng tài chính toàn cầu: gây ra những bất ổn trong nền kinh tế vĩ
mô, lạm phát khó kiểm soát, nợ xấu gia tăng, quá trình tái cơ cấu nền kinh tế diễn ra chậm… những thông tin bất lợi làm ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh
Trang 16của DNNY, hậu quả làm cho tổng cầu giảm, tồn kho của nền kinh tế tăng cao, các
DN không tiêu thụ được đầu ra, hoạt động kinh doanh bị ngưng trệ, niềm tin kinh doanh của DN giảm những điều này sẽ tác động tiêu cực làm ảnh hưởng đến giá cổ phiếu trên TTCK Bên cạnh đó, hoạt động sản xuất của DN bị thu hẹp làm cho thu nhập người lao động giảm, thất nghiệp gia tăng như vòng xoáy đi xuống không có lối ra NĐT tham gia TTCK bị tác động rất lớn bởi thông tin tiêu cực làm cho hoạt động của thị trường trở nên kém hấp dẫn và ít thu hút sự tham gia của NĐT
- Lãi suất cho vay của các ngân hàng: khi các kênh huy động vốn như huy động vốn ngắn hạn qua ngân hàng, huy động vốn qua TTCK, huy động vốn quốc tế… gặp khó khăn, do vậy DN chỉ còn tìm đến ngân hàng, vì DN quá phụ thuộc vào ngân hàng nên khi có sự thay đổi trong chính sách tiền tệ sẽ tác động đến hoạt động sản xuất của DN, đặc biệt trong chính sách lãi suất vay vốn, với các khoản vay trung dài hạn chịu lãi suất cao từ trước khiến các DN điêu đứng, lãi suất tăng làm tăng chi phí vay đối với DN, chi phí này được chuyển cho các cổ đông vì sẽ hạ thấp lợi nhuận mà DN dùng để thanh toán cổ tức Cùng lúc đó, cổ tức hiện có từ cổ phiếu thường sẽ tỏ ra không mấy cạnh tranh đối với NĐT tìm lợi tức, sẽ làm họ chuyển hướng sang tìm nguồn thu nhập tốt hơn ở bất cứ nơi nào có lãi suất cao bên cạnh đó lãi suất tăng còn gây tổn hại cho triển vọng phát triển của DN vì nó khuyến khích
DN giữ lại tiền mặt nhàn rỗi hơn là liều lĩnh dùng số tiền đó khuếch trương kinh doanh Tuy nhiên, sự dao động của lãi suất không phải luôn được tiếp theo bởi sự phản ứng tương đương và trái ngược của chỉ số giá cổ phiếu Chỉ khi nào lãi suất phản ánh xu hướng chủ đạo trong lạm phát thì mới trở thành thước đo hiệu quả sự dao động của TTCP Lãi suất có xu hướng giảm khi lạm phát giảm và lạm phát giảm khiến giá cổ phiếu tăng cao hơn Ngược lại, lạm phát tăng cùng với lãi suất, chỉ số giá cổ phiếu sẽ giảm Nhưng nếu lạm phát không phải là một vấn đề nghiêm trọng và lãi suất tăng, đầu tư vào TTCP thường mang lại nhiều lãi Bởi vì trong trường hợp này, lãi suất tăng là do nền kinh tế tăng trưởng Nhưng trong thực tế NHNN liên tục có những chính sách giảm lãi suất vay tạo thêm tín hiệu tốt cho DN nhưng việc tiếp cận nguồn vốn của DN gặp nhiều khó khăn, chính những điều trên
Trang 17làm cho hoạt động sản xuất gặp khó khăn và niềm tin kinh doanh bị giảm sút và ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh cũng như giá cổ phiếu.
- Chỉ số giá tiêu dùng (CPI): nhân tố tác động rất lớn đến hoạt động sản xuất
DN, niềm tin của DN Sự tác động thông qua khi chỉ số CPI tăng, nguyên nhân gây
ra lạm phát, làm cho chi phí đầu vào tăng do giá cả các yếu tố đồng loạt tăng, sản phẩm sản xuất khó cạnh tranh do giá thành cao điều này gây khó khăn cho DN trong sản xuất, làm cho niềm tin của DN giảm Do vậy, CPI luôn được kiểm soát nhằm ngăn chặn sự gia tăng
- Nhân tố khác: giá cả hàng hóa trong nước cao hơn hàng hóa nhập khẩu, hàng hóa trong nước không cạnh tranh được với hàng hóa nhập khẩu, người tiêu dùng sẽ hướng đến dùng hàng nhập, không khuyến khích được sản xuất trong nước, tồn kho
DN tăng, sản xuất bị ngưng trệ làm cho niềm tin kinh doanh của DN giảm
1.1.1.3 Mục tiêu khảo sát niềm tin kinh doanh của doanh nghiệp
Thực tế cho thấy việc khảo sát niềm tin kinh doanh của DN đóng một vai trò rất quan trọng đối với DN, với nhà hoạch định chính sách và cả đối với NĐT tham gia trên TTCK vì những lý do:
- Niềm tin kinh doanh của DN thể hiện mức độ lạc quan hay bi quan của DN về hoạt động kinh doanh trong cả hiện tại và tương lai, thông qua xu hướng về kế hoạch mở rộng hay thu hẹp đầu tư trong thời gian tới, đặc biệt với các DNNY hoặc các DN trong cùng ngành từ đó giúp NĐT có thêm thông tin để ra quyết định đầu
tư DN mở rộng hoạt động kinh doanh, làm ăn có lãi thì giá cổ phiếu sẽ tăng, góp phần gia tăng chỉ số giá cổ phiếu của toàn thị trường
- Niềm tin kinh doanh được khảo sát từ các DN thuộc các lĩnh vực, ngành nghề chủ chốt, đứng đầu quốc gia về thương hiệu, tổng tài sản, tổng doanh thu và số lượng nhân viên nhằm tổng hợp nhận định của các DN về tình trạng nền kinh tế, về doanh thu, lợi nhuận, những khó khăn hiện tại của DN và những giải pháp DN sẽ thực hiện nhằm tháo gỡ khó khăn, chẳng hạn như DN cho biết tiếp tục gặp khó khăn trong tiếp cận nguồn vốn cho sản xuất kinh doanh Theo đó, DN sẽ lựa chọn vay tín dụng ngân hàng, hoặc lựa chọn hình thức tìm kiếm đối tác liên doanh, liên kết, hoặc
Trang 18sẽ vay tín dụng thương mại; hoặc đi thuê tài chính, hoặc phát hành cổ phiếu và phát hành trái phiếu tùy vào tình hình thực tế của từng DN, thông qua đó nhà hoạch định chính sách nắm được tình trạng nền kinh tế; DN có thông tin về các DN trong cùng lĩnh vực và nhà hoạch định chính sách và NĐT sẽ có thêm thông tin về tình hình sản xuất kinh doanh về DN, cổ phiếu đang đầu tư để ra quyết định đầu tư đúng đắn góp phần tăng tính ổn định cho TTCP
1.1.2.Chỉ số niềm tin kinh doanh của doanh nghiệp (BCI-Bussiness Confidence Index)
- Theo Deloitte:” Chỉ số niềm tin kinh doanh của DN để đo lường nhận thức của khu vực DN về tình hình kinh tế hiện nay dựa trên cuộc khảo sát hàng tháng của các giám đốc điều hành của các DN hàng đầu tại Ecuado
- Tại Pháp, chỉ số niềm tin kinh doanh của Pháp là thước đo niềm tin của các lãnh đạo doanh nghiệp Pháp Chỉ số này được xây dựng dựa trên một khảo sát hỏi
về triển vọng các đơn hàng mới và cả nhận về tình hình kinh tế chung Chỉ số này tăng thường đi kèm với việc đầu tư sẽ tăng lên, dẫn tới sản lượng tăng
- Tại CHLB Đức, chỉ số niềm tin kinh doanh của Đứcđược xây dựng dựa trên một cuộc khảo sát hàng tháng gồm 7000 doanh nghiệp, đo lường mức độ lạc quan
mà các nhà điều hành doanh nghiệp có về tình hình kinh tế và cảm nhận của họ về triển vọng của doanh nghiệp Khảo sát niềm tin kinh doanh có thể cung cấp những
Trang 19dấu hiệu hữu ích về tình hình hiện tại của nền kinh tế, vì các công ty thường có thông tin về cầu tiêu dùng sớm hơn so với các nhà thống kê của Chính phủ
- Đối với Trung Quốc, chỉ số niềm tin kinh doanh của Trung Quốc đo lường
sự hiểu biết, quan điểm và dự đoán của các nhà kinh doanh, có thang điểm từ 0-200 Chỉ số cao hơn 100 chỉ ra sự lạc quan về bùng nổ kinh tế.Nhưng khi thấp hơn 100,
nó chỉ ra kỳ vọng về suy giảm kinh tế
Tại Việt Nam, chỉ số niềm tin kinh doanh của DN thông qua cuộc khảo sát hàng quý của công ty dịch vụ thông tin tài chính và có thể định nghĩa: Chỉ số niềm tin kinh doanh của DN là chỉ số được thiết kế để đo lường mức độ lạc quan về tình trạng của nền kinh tế được thể hiện thông qua các hoạt động đầu tư và chi tiêu của các DN Chỉ số niềm tin kinh doanh của DN được công bố hàng quý, thông qua kết quả của cuộc khảo sát kinh doanh được thực hiện trên các DN và các tổ chức đứng đầu về thương hiệu, doanh thu, tổng tài sản và tổng số lượng nhân viên
1.1.2.2.Phương pháp đo lường
Đo lường chỉ số niềm tin kinh doanh của DN đóng một vai trò rất quan trọng vừa giúp cho cộng đồng doanh nghiệp, vừa giúp Chính phủ nhận diện rõ điều kiện kinh doanh và xác định những nhu cầu và vấn đề chung của doanh nghiệp hoạt động, trên cơ sở đó có những chính sách và chiến lược phù hợp, kịp thời để giám sát hoặc trợ giúp hoạt động kinh doanh cũng như quản lý và điều hành tốt nền kinh tế
Đo lường chỉ số niềm tin kinh doanh của DN được thực hiện bằng bảng câu hỏi
và thực hiện thống kê để đưa ra kết luận về việc tăng hoặc giảm chỉ số từ đó đưa ra đánh giá và giải pháp nhằm gia tăng chỉ số
Câu hỏi đo lường: được thiết kế nhằm đánh giá tháng hoặc quý hiện tại và sử dụng cho việc đánh giá tháng hoặc quý tới:
(1) Điều kiện hiện tại của nền kinh tế
(2) Dự đoán tình hình kinh tế trong 12 tháng tiếp theo
(3) Kế hoạch về tăng nguồn nhân lực trong thời gian tới
(4) Kế hoạch về đầu tư cho tài sản cố định
(5) Dự đoán về sự tăng trưởng doanh thu trong 12 tháng tiếp theo
Trang 20(6) Dự đoán sự tăng trưởng lợi nhuận
1.1.2.3 Ý nghĩa chỉ số niềm tin kinh doanh của doanh nghiệp
- Đối với nền kinh tế chỉ số niềm tin kinh doanh của DN sẽ cho biết xu thế của
nền kinh tế, cuộc khảo sát lần đầu tiên được thực hiện vào một quývà có mức điểm
là 100 điểm, dùng làm chuẩn so sánh cho các kết quả khảo sát của các quý tiếp theo Nếu chỉ số tương lai nhỏ hơn 100 sẽ dự báo xu thế giảm đi của nền kinh tế và ngược lại nếu lớn hơn 100 sẽ dự báo xu thế phát triển của nền kinh tế
- Đối với các cơ quan chức năng chỉ số niềm tin kinh doanh của DN là cơ sở để
có thể tham khảo nhằm hỗ trợ công tác hoạch định chính sách, dự báo nền kinh tế trong ngắn hạn để từ đó có những ứng xử phù hợp
- Đối với các DN chỉ số niềm tin kinh doanh của DN là cơ sở để có những hoạch định phát triển phù hợp, lập kế hoạch hay ra quyết định kinh doanh phù hợp như tăng tỷ lệ đầu tư tài sản cố định, tăng số lượng lao động, phát triển dịch vụ, sản phẩm mới, quản lý chi phí kinh doanh hiệu quả hơn Đặc biệt đối với DN niêm yết trên TTCP thì chỉ số niềm tin của DN càng có vai trò quan trọng, tạo động lực cho
DN thúc đẩy hoạt động sản xuất kinh doanh, thu hút thêm nguồn vốn thông qua TTCK
- Đối với NĐT chứng khoán chỉ số niềm tin kinh doanh của DN cho biết sự lạc quan hay bi quan của DN về tình trạng của nền kinh tế và thể hiện thông qua hoạt động sản xuất kinh doanh từ đó NĐT có thể ra quyết định đầu tư, lựa chọn cổ phiếu phù hợp
1.2.Tổng quan về niềm tin của người tiêu dùng
1.2.1.Niềm tin của người tiêu dùng (CC-Consumer Confidence)
1.2.1.1.Khái niệm
Niềm tin kinh doanh của DN đóng một vai trò quan trọng đối với hoạt động sản xuất kinh doanh, niềm tin kinh doanh của DN tăng đồng nghĩa với DN đang lạc quan về tình trạng nền kinh tế sẽ mở rộng sản xuất, đầu tư thì niềm tin của người tiêu dùng nhằm theo dõi lòng tin của người tiêu dùng về sự lạc quan đối với triển vọng của nền kinh tế, tình hình tài chính cá nhân và công ăn việc làm và nhằm xem xét sự tác động của nhân tố này đến TTCK và chỉ số giá cổ phiếu
Trang 21Niềm tin của người tiêu dùng đo lường mức độ lạc quan của người tiêu dùng cảm nhận về tình trạng tổng thể của nền kinh tế và tình hình tài chính cá nhân Niềm tin của người tiêu dùng và ý kiến người tiêu dùng là hai cách nói về thái độ người tiêu dùng
Niềm tin của người tiêu dùng tăng đồng nghĩa với người tiêu dùng đang cảm nhận lạc quan về tình trạng nền kinh tế, tình trạng việc làm qua đó người tiêu dùng
sẽ tăng chi tiêu và thay vì tiết kiệm thì sẽ hướng đến đầu tư vào các kênh sinh lợi như chứng khoán, các quỹ tương hỗ… lúc này TTCK thu hút được thêm nhiều NĐT tham gia, tạo động lực để thúc đẩy sự gia tăng chỉ số giá cổ phiếu Ngược lại, khi có những cảm nhận bi quan về tình trạng nền kinh tế, việc làm, người tiêu dùng sẽ hạn chế chi tiêu thay vào đó gia tăng tiết kiệm và không chú trọng đến hoạt động đầu tư
sẽ làm cho TTCK giảm số lượng NĐT và không tạo động lực thúc đẩy thị trường phát triển và gia tăng chỉ số giá cổ phiếu
1.2.1.2.Các nhân tố tác động đến niềm tin của người tiêu dùng
Niềm tin của người tiêu dùng đo lường mức độ lạc quan của người tiêu dùng cảm nhận về tình trạng tổng thể của nền kinh tế và tình hình tài chính cá nhân, do vậy nhóm nhân tố tác động đến niềm tin của người tiêu dùng bao gồm:
- Nền kinh tế: có ảnh hưởng rất lớn đến niềm tin của người tiêu dùng, nền kinh
tế có những dấu hiệu không tích cực như lạm phát tăng, giá cả hàng hóa thiết yếu tăng, tỷ lệ thất nghiệp tăng…những triển vọng không tốt của nền kinh tế, người tiêu dùng sẽ cảm thấy ít lạc quan dẫn đến niềm tin người tiêu dùng giảm
sẽ giảm chi tiêu, hướng đến xu hướng tiết kiệm nhiều hơn và cũng không chú trọng đến hoạt động đầu tư sinh lợi khác, thông qua đó TTCK cũng trở nên kém hấp dẫn trong suy nghĩ của của người tiêu dùng và thị trường cũng không có động lực gia tăng chỉ số giá cổ phiếu
- Tỷ giá ngoại hối: tác động này thể hiện rất rõ, một khi niềm tin của người tiêu dùng tăng so với kỳ vọng và trước đó, cho thấy hoạt động tiêu dùng đang tăng trưởng mạnh, kích thích sự tăng trưởng mở rộng của nền kinh tế và từ đó đồng nội tệ được hỗ trợ tăng giá dẫn đến tỷ giá tăng và một khi tỷ giá đồng nội tệ ổn
Trang 22định và tăng là một trong những điều kiện để thu hút sự quan tâm và tham gia của NĐT mà cụ thể người tiêu dùng đến TTCK tác động làm gia tăng chỉ số giá
cổ phiếu Ngược lại, khi niềm tin của người tiêu dùng với kết quả hiện tại giảm
so với kỳ vọng và kỳ trước, nền kinh tế trượt dốc, từ đó phản ánh sự sụt giảm trong sức chi tiêu của người tiêu dùng, theo đó đồng nội tệ sẽ chịu áp lực giảm giá dẫn đến tỷ giá giảm và người tiêu dùng giảm niềm tin vào tiền đồng cũng như quan tâm đến TTCK
- Tình trạng về công ăn việc làm: tác động rất lớn đến niềm tin của người tiêu dùng cụ thể là trong chi tiêu và tiết kiệm, một khi người tiêu dùng cảm thấy lạc quan hơn về thị trường việc làm sẽ kích thích nhu cầu mua sắm và tiêu dùng cá nhân từ đó thúc đẩy hoạt sản xuất kinh doanh của DN phát triển Bên cạnh đó, một khi người tiêu dùng cảm thấy lạc quan nhu cầu đầu tư vào thị trường chứng khoán và các quỹ tương hỗ tăng đáng kể, kích thích sự gia tăng giá cổ phiếu DN
và góp phần tăng trưởng chỉ số giá cổ phiếu và gia tăng huy động vốn qua TTCK của DN
- Chi phí sinh hoạt: thể hiện niềm tin của người tiêu dùng vào nền kinh tế, khi niềm tin tăng, cảm thấy lạc quan vào triển vọng phát triển của nền kinh tế sẽ hướng đến tăng chi tiêu dùng và giảm tiết kiệm
- Đầu tư nước ngoài và mức sống cá nhân: khi niềm tin người tiêu dùng tăng, người tiêu dùng cảm thấy lạc quan về tình hình tài chính cá nhân, sẽ tăng mức sống cá nhân thông qua tăng chi tiêu và mua sắm, bên cạnh đó người tiêu dùng
sẽ quan tâm đến các kênh sinh lợi khác chẳng hạn như đầu tư vào cổ phiếu và các quỹ tương hỗ nhằm tìm thêm cơ hội đầu tư và gia tăng thu nhập, chính những hoạt động này sẽ góp phần gia tăng số lượng NĐT tham gia TTCK và là tín hiệu giúp gia tăng chỉ số giá cổ phiếu của thị trường
1.2.1.3 Mục tiêu khảo sát niềm tin của người tiêu dùng
Trên cơ sở nhóm nhân tố tác động đến niềm tin tiêu dùng cho thấy việc khảo sát niềm tin của người tiêu dùng có ý nghĩa quan trọng:
Trang 23- Đối với nền kinh tế thông qua hoạt động tiêu dùng, đầu tư của người tiêu dùng
sẽ giúp nhận diện được những tín hiệu tốt hoặc xấu về thực trạng hiện tại và tương lai của nền kinh tế, thông qua đó sẽ có những tác động tích cực bằng những chính sách cụ thể nhằm gia tăng niềm tin tiêu dùng góp phần ổn định nền kinh tế, tăng hoạt động chi tiêu để đẩy mạnh hoạt động DN, kích thích sự đầu tư của người tiêu dùng thay vì hướng đến tiết kiệm
- Đối với DN thì khảo sát niềm tin tiêu dùng rất cần thiết, vì thực tế DN có mở rộng được hoạt động sản xuất kinh doanh hay huy động vốn được qua TTCK phụ thuộc rất lớn vào niềm tin tiêu dùng Một khi có niềm tin tiêu dùng, người tiêu dùng sẽ cảm nhận lạc quan, hoạt động chi tiêu sẽ mở rộng, gia tăng đầu tư
và khi người tiêu dùng đóng vai trò là NĐT thì sẽ giúp DN vừa huy động vốn qua TTCK, vừa mở rộng sản xuất, gia tăng giá cổ phiếu DN và gia tăng chỉ số giá cổ phiếu toàn thị trường
- Đối với TTCK thì khi niềm tin của người tiêu dùng tăng đồng nghĩa với người tiêu dùng cảm nhận lạc quan sẽ đóng vai trò quan trọng trong việc gia tăng hoạt động đầu tư trên thị trường, gia tăng chỉ số giá cổ phiếu và ngược lại niềm tin của người tiêu dùng giảm sẽ ảnh hưởng lớn đến hoạt động đầu tư trên thị trường
Do vậy, việc khảo sát là rất cần thiết như là thước đo về việc thu hút NĐT tham gia thị trường, về hoạt động đầu tư trên thị trường
1.2.2.Chỉ số niềm tin của người tiêu dùng (CCI-Consumer Confidence Index)
có những tác động phù hợp nhằm điều chỉnh theo hướng tốt hơn
Tại Mỹ, chỉ số niềm tin của người tiêu dùng được định nghĩa: “Chỉ số niềm tin của người tiêu dùng là một chỉ số được thiết kế để đo lường sự tự tin của người tiêu
Trang 24dùng vê mức độ lạc quan về tình trạng của nền kinh tế mà người tiêu dùng thể hiện qua hoạt động tiết kiệm và chi tiêu.”
Vậy chỉ số niềm tin của người tiêu dùng là chỉ số không chỉ đo lường sự lạc quan hay bi quan của người tiêu dùng vào bối cảnh hiện tại và tương lai của nền kinh tế mà chỉ số này còn phản ánh mức độ hài lòng hay lo âu về việc làm, thu nhập hiện tại và tương lai của người lao động, trong đó có xét đến các chỉ số kinh tế khác Chỉ số niềm tin của người của người tiêu dùng tăng khi tỷ lệ thất nghiệp thấp và GDP tăng cao
Chỉ số niềm tin của người tiêu dùng được tính theo thang điềm, thang điểm
có mức thang từ 0 đến 200 điểm Ý nghĩa của lại thang điểm này được hiểu là nếu chỉ số niềm tin tiêu dùng dưới 100 điểm, phản ánh sự bi quan; nếu chỉ số niềm tin tiêu dùng là 100 điểm, phản ánh mức trung bình và nếu chỉ số niềm tin tiêu dùng trên 100 điểm, phản ánh sự lạc quan
1.2.2.2.Phương pháp đo lường
Đo lường chỉ số niềm tin của người tiêu dùng nhằm phân tích và đánh giá thông tin về người tiêu dùng Các cuộc khảo sát được thu thập theo quý tập trung vào 3 vấn đề sau: đánh giá độ nhạy cảm tiêu dùng và niềm tin của người tiêu dùng trong tương lai về nền kinh tế, tiêu dùng và tiết kiệm là các vấn đề quan tâm chính thông thường các cuộc khảo sát được tiến hành với một số lượng người nhằm tổng kết niềm tin, các quan ngại và xu hướng mua sắm của người tiêu dùng Các câu hỏi được thực hiện:
(1) Triển vọng nghề nghiệp trong thời gian sắp tới
(2) Tình hình tài chính cá nhân trong vòng 12 tháng tới
(3) Đất nước của bạn có đang gặp khủng hoảng kinh tế
(4) Anh/chị có kế hoạch sử dụng tiền nhàn rỗi vào các mục đích khác như tiết kiệm, mua sắm, đầu tư vào chứng khoán hoặc quỹ tương hỗ, du lịch, nâng cấp hàng điện tử sau khi trang trải các chi phí sinh hoạt thiết yếu
(5)Các vấn đề quan ngại chủ yếu của bạn
(6)Nhu cầu và mong muốn tiêu dùng trong 12 tháng tới
Trang 25(7)Đất nước của anh/chị có thể thoát khỏi suy thoái kinh tế trong vòng 12 tháng tới
(8)Anh/chị có thay đổi chi tiêu để tiết kiệm chi phí sinh hoạt
(9) Anh/chị đã thay đổi chi tiêu để tiết kiệm chi phí sinh hoạt như khí đốt và điện, giải trí ngoài gia đình, chi phí điện thoại, thay thế hoặc nâng cấp các vật dụng chủ yếu trong nhà
(10)Khi nền kinh tế được cải thiện, công việc vẫn tiếp tục làm
Chỉ số niềm tin của người tiêu dùng được sử dụng trong các nghiên cứu niềm tin của người tiêu dùng của toàn thị trường, quan tâm đến tài chính cá nhân, tài chính quốc gia, tình hình chung của nền kinh tế, các kỳ vọng, nhìn nhận mang tính dự báo
1.2.2.3 Ý nghĩa của chỉ số niềm tin của người tiêu dùng
Chỉ số niềm tin của người tiêu dùng là một chỉ số kinh tế -xã hội quan trọng được xây dựng trên cơ sở xử lý kết quả các thông tin từ hoạt động khảo sát một số lượng người nhất định Chỉ số này được nhiều nước sử dụng không chỉ để đo lường mức độ lạc quan hay bi quan của người tiêu dùng vào bối cảnh hiện tại và tương lai của nền kinh tế, mà còn phản ánh mức độ hài lòng hay lo âu về việc làm, thu nhập hiện tại và tương lai của người lao động
Khi sự lạc quan của người tiêu dùng vào hiện tại và triển vọng của nền kinh tế thì xu hướng tăng chi tiêu của người tiêu dùng sẽ trở lên phổ biến, bởi sự lạc quan này phản ánh thu nhập khá ổn định hoặc xu hướng tăng thu nhập của người tiêu dùng lúc này người tiêu dùng sẽ gia tăng chi tiêu và quan tâm đến việc đầu tư vào các kênh khác, đặc biệt vào TTCK, tạo thêm tính thanh khoản cho thị trường, thu hút thêm NĐT và gia tăng chỉ số giá cổ phiếu Ngược lại, khi người tiêu dùng thiếu
sự lạc quan vào bối cảnh hiện tại và tương lai của nền kinh tế thì xu hướng giảm chi tiêu sẽ xuất hiện, thay vào đó là ý định gia tăng xu hướng tiết kiệm, bởi sự thiếu lạc quan này phản ánh thu nhập bấp bênh hoặc xu hướng giảm thu nhập và những quan ngại về xu hướng nền kinh tế trong tương lai Nói cách khác, niềm tin của người
Trang 26tiêu dùng có tính chất quyết định đến mức chi tiêu của cá nhân và gia đình và việc đầu tư vào TTCK và các kênh tài chính khác
1.3 Chỉ số giá cổ phiếu
1.3.1 Nguồn gốc ra đời
Chỉ số giá cổ phiếu ra đời sớm nhất và được nhiều người biết đến là số trung bình Dow Jones của Mỹ, ra đời vào năm 1896, chỉ số này hiện nay là chỉ số giá chung của 65 chứng khoán đại diện, thuộc nhóm hàng đầu trong các chứng khoán được niêm yết tại Sở giao dịch chứng khoán New York Chỉ số Dow Jones bao gồm
3 chỉ số thuộc 3 nhóm ngành:
- Dow Jones công nghiệp (DJIA - Dow Jones Industrial Average), bao gồm giá cổ phiếu của 30 công ty hàng đầu ngành công nghiệp, được công bố trên tờ báo Wall Street từ tháng 1 năm 1929
- Dow Jones vận tải (DJTA - Dow Jones Transportation Average), bao gồm giá cổ phiếu của 20 công ty hàng đầu thuộc ngành giao thông vận tải Chỉ số DJTA được công bố đầu tiên vào ngày 26/10/1896 và cho đến 2/1/1970 vẫn mang tên chỉ
số công nghiệp đường sắt, vì thời gian này vận tải đường sắt là chủ yếu và được niêm yết tại Sở giao dịch chứng khoán New York
- Dow Jones dịch vụ (DJUA - Dow Jones Utilities Average), bao gồm giá cổ phiếu của 15 công ty hàng đầu thuộc ngành dịch vụ gồm ngành khí đốt và điện Đây cũng là chỉ số lâu đời nhất ở Mỹ do ông Charles H.Dow cùng với công ty mang tên ông thu thập giá đóng cửa của chứng khoán để tính ra và công bố trên Wall Street Journal từ năm 1896 Lúc đầu công ty chỉ tính giá bình quân số học của 12 cổ phiếu,ngày tính đầu tiên là ngày 26/5/1896 với mức giá bình quân là 40.94$ Đến năm 1916 mở rộng ra 20 cổ phiếu và năm 1928 tăng lên 30 cổ phiếu và số lượng này được giữ ổn định cho đến ngày nay Trong suốt quá trình đó thường xuyên có
sự thay đổi các công ty trong nhóm 30 và mỗi khi có công ty chứng tỏ là không thuộc tiêu chuẩn nhóm 30 của các cổ phiếu hàng đầu nữa thì sẽ có công ty khác chiếm vị thế đó thay thế, chỉ có công ty duy nhất còn lại từ ngày đầu đến nay là công ty General Electric
Trang 27Để biết được tình hình phát triển kinh tế gần đây người ta xây dựng thêm một số tiêu chuẩn khác, đó là các giới hạn và điểm liệt, chẳng hạn điểm giới hạn của Dow Jones là 800 thì điểm liệt là 700, nếu hàng ngày chỉ số Dow Jones vượt quá 800 điểm chung cho thấy nền kinh tế đang đi lên, nếu dưới 800 điểm cho biết nguy cơ suy thoái kinh tế
Tiếp theo sau sự ra đời của chỉ số Dow Jones của Mỹ là chỉ số giá cổ phiếu tại các quốc gia khác và mỗi quốc gia đều có một chỉ số giá cổ phiếu mang đặc điểm riêng như chỉ số Nikkie 225 của Nhật Bản, chỉ số giá Hangseng của Hồng
Kông, VN-Index của Việt Nam…
1.3.2 Khái niệm
Chỉ số giá cổ phiếu là chỉ báo giá cổ phiếu phản ánh xu hướng phát triển của thị trường cổ phiếu, thể hiện xu hướng thay đổi của giá cổ phiếu và tình hình giao dịch trên thị trường hay đơn giản, chỉ số giá cổ phiếu là thông tin thể hiện giá cổ phiếu bình quân hiện tại so với giá bình quân thời kỳ gốc đã chọn, giá bình quân thời kỳ gốc thường được lấy 100 hoặc 1000
Chỉ số giá cổ phiếu là chỉ tiêu phản ánh sự thay đổi của giá cổ phiếu theo thời gian và được coi là phong vũ biểu thể hiện tình hình hoạt động của TTCK Đây là thông tin rất quan trọng đối với hoạt động của thị trường, đối với NĐT và đánh giá kinh tế Chỉ số giá cổ phiếu phản ánh tình hình hoạt động của các công ty niêm yết trên thị trường, nếu công ty làm ăn có lãi, giá cổ phiếu tăng kéo theo chỉ số giá của thị trường cổ phiếu tăng và ngược lại chỉ số giá cổ phiếu giảm Dựa vào chỉ số giá
cổ phiếu NĐT có thể xác định được hiệu quả của một cổ phiếu hoặc một danh mục
cổ phiếu để đầu tư
Chỉ số giá cổ phiếu được tính cho:
- Từng cổ phiếu và có thông báo trên báo chí
- Tất cả cổ phiếu thuộc thị trường của một quốc gia như: chỉ số giá Hangseng của Hồng Kông, chỉ số giá cổ phiếu tổng hợp của Hàn Quốc
- Từng ngành, nhóm ngành, như chỉ số giá cổ phiếu ngành công nghiệp của Mỹ
- Thị trường quốc tế như chỉ số Hangseng Châu Á, chỉ số Dow Jones quốc tế
Trang 28Mỗi một TTCK thiết lập một chỉ số chứng khoán riêng, phản ánh tình trạng hoạt động của chính TTCK đó
1.3.3 Phân loại chỉ số giá cổ phiếu
Chỉ số giá cổ phiếu được phân loại theo nhiều cách khác nhau:
- Chỉ số giá cổ phiếu toàn thị trường phản ánh hoạt động của toàn bộ một thị trường chứng khoán và từ đó phản ánh cảm nhận của NĐT về tình trạng của nền kinh tế
- Chỉ số giá cổ phiếu của một phân khúc thị trường không chỉ đánh giá về khúc thị trường đó mà còn chịu sự tác động bởi những nhân tố khác
1.3.4 Đặc điểm chỉ số giá cổ phiếu
- Chỉ số giá cổ phiếu luôn lôi cuốn sự quan tâm của hầu hết NĐT, bởi là đại lượng chỉ ra mức giá của toàn bộ cổ phiếu hoặc một nhóm cổ phiếu trong một ngày hay một thời điểm cụ thể so với mức giá cả tại thời điểm gốc Có thể nói, không thể
có thị trường cổ phiếu hoạt động lành mạnh và minh bạch mà không có thông tin về chỉ số giá cổ phiếu
- Chỉ số giá cổ phiếu tăng có nghĩa là nhiều NĐT đã đầu tư đúng và có lợi, thị
trường và nền kinh tế đang hoạt động tốt và ngược lại Tuy nhiên, chỉ số giá cổ phiếu tăng nhanh trong một thời gian ngắn cho thấy thị trường đang tăng trưởng nhanh, ngược lại nếu giảm trong một thời gian dài là giai đoạn thị trường sụt giảm, điều này cho thấy chỉ số giá cổ phiếu như là một dụng cụ đo nhiệt kế của thị trường
cổ phiếu nhưng nếu chỉ số giá cổ phiếu được phản ánh thông qua sự tăng điểm quá nhanh hoặc sự giảm điểm quá nhanh cho thấy sự phát triển không ổn định và đúng bản chất thị trường Chỉ trong trường hợp, chỉ số giá cổ phiếu phản ánh được giá trị thực trên khả năng tạo ra lợi nhuận của DN mới thể hiện được tính bền vững của thị trường cũng như chỉ số giá cổ phiếu
- Ngoài việc thể hiện tổng quát về biểu hiện của thị trường cổ phiếu, chỉ số giá
cổ phiếu còn được dùng làm công cụ để đánh giá tình hình đầu tư, cụ thể là so sánh kết quả của danh mục đầu tư với chỉ số để biết được việc đầu tư khả quan hơn hay đang tiến triển xấu hơn so với mức trung bình của thị trường
Trang 29- Chỉ số giá cổ phiếu còn là cơ sở cho sự ra đời của hợp đồng giao sau về chỉ số chứng khoán và NĐT lập biểu đồ chỉ số giá cổ phiếu để dự báo giá cổ phiếu trong tương lai và chọn thời điểm giao dịch tối ưu.
- Chỉ số giá cổ phiếu là chỉ tiêu để phản ánh sự thay đổi giá cổ phiếu theo thời gian, không chỉ phản ánh sự thay đổi giá trong quá khứ mà ở chừng mực nào đó nó còn thể hiện tình hình tăng giảm giá cổ phiếu trong tương lai, vì trên thực tế, luôn
có sự quan hệ giữa giá và khối lượng, chỉ số giá là một chỉ tiêu cố gắng thoát ra khỏi ảnh hưởng của khối lượng
- Đối với NĐT chỉ số giá cổ phiếu là thông tin rất quan trọng bởi nó thể hiện tình hình hoạt động của thị trường cổ phiếu. Tùy vào đặc điểm của mỗi thị trường chứng khoán cũng như mục đích của chỉ số giá mà mỗi thị trường đưa ra và xây dựng các phương pháp xác định chỉ số giá khác nhau
1.3.5 Phương pháp tính chỉ số giá cổ phiếu
Hiện nay các nước trên thế giới dùng các phương pháp để tính chỉ số giá cổ
phiếu, đó là: phương pháp bình quân số học, phương pháp số bình quân giản đơn,
phương pháp bình quân có trọng số, phương pháp tính chỉ số tổng hợp gồm phương
pháp Passcher, phương pháp Laspeyres
- Phương pháp bình quân số học
Phương pháp này được xác định bằng cách lấy tổng thị giá của các loại cổ phiếu cần tính toán chia cho số loại cổ phiếu
Trong đó Ip : chỉ số giá bình quân số học
Pi : thị giá của cổ phiếu i
N : số loại cổ phiếu cần tính
- Phương pháp số bình quân giản đơn
Ngoài các phương pháp trên, phương pháp tính giá bình quân giản đơn cũng thường được áp dụng
(1.1)
(1.2)
Trang 30Trong đó: I : chỉ số giá bình quân
Pi : giá của chứng khoán i thời kỳ nghiên cứu
Po : giá chứng khoán i thời kỳ gốc
Có hai chỉ số nổi tiếng áp dụng phương pháp này là chỉ số trung bình công nghiệp Dow Jones của Mỹ; Nikei 225 của Nhật Phương pháp này sẽ tốt khi mức giá của các cổ phiếu tham gia niêm yết khá đồng đều, hay độ lệch chuẩn ( ) thấp Tuy nhiên nhược điểm của phương pháp bình quân số học là không phản ánh được
xu thế dài hạn của giá cổ phiếu, vì giá cổ phiếu sẽ không được thể hiện một cách liên tục khi tách hoặc gộp cổ phiếu, tăng hoặc giảm vốn… ngoài ra, những cổ phiếu
có giá cao sẽ có tác động lớn đến bình quân số học
- Phương pháp tính chỉ số tổng hợp
Phương pháp này so sánh giá trị thị trường hiện tại với một mức giá tham chiếu, hay còn gọi là giá trị cơ sở tại một thời điểm xác định trước đó gọi là kỳ gốc hay kỳ cơ sở và thông thường kỳ cơ sở được chọn là 100
Chỉ số giá tổng hợp được tính toán dựa trên các biến về giá và số lượng cổ phiếu đang lưu hành, chỉ số này được xác định như sau
(1.3)
(1.4)
Trang 31Hiện nay, có hai phương pháp thường được dùng để tính chỉ số này là phương pháp Paascher và phương pháp Laspeyres
*Phương pháp Passcher
Đây là phương pháp tính chỉ số giá cổ phiếu thông dụng nhất và là chỉ số giá bình quân gia quyền giá trị với quyền số là số lượng chứng khoán niêm yết thời kỳ tính toán Kết quả tính sẽ phụ thuộc vào cơ cấu quyền số thời kỳ tính toán:
Trong đó: Ip : chỉ số giá Passcher
P1 : giá hiện hành chứng khoán
P0 : giá thời kỳ gốc
Q1 : khối lượng (quyền số) thời kỳ báo cáo hoặc cơ cấu
khối lượng thời kỳ báo cáo
Chỉ số giá bình quân Passcher là chỉ số giá bình quân gia quyền giá trị lấy quyền số là quyền số thời kỳ tính toán, vì vậy kết quả tính sẽ phụ thuộc vào cơ cấu quyền số là cơ cấu chứng khoán niêm yết thời tính toán
Các chỉ số KOSPI của Hàn quốc; S&P 500 của Mỹ; FT-SE 100 của Anh; TOPIX của Nhật; CAC của Pháp; TSE của Đài Loan; Hangseng của Hồng Kông); các chỉ số của Thuỵ Sỹ, và VN-Index ở Việt Nam hiện nay cũng dùng phương pháp này
* Phương pháp Laspeyres
Chỉ số giá bình quân Laspeyres là chỉ số giá bình quân gia quyền giá trị, lấy quyền số là số cổ phiếu niêm yết thời kỳ gốc Như vậy kết quả tính sẽ phụ thuộc vào
cơ cấu quyền số thời kỳ gốc:
Trong đó: IL : chỉ số giá Laspeyres
P1 : giá hiện hành chứng khoán
(1.5)
(1.6)
Trang 32P0 : giá thời kỳ gốc
Q0 : khối lượng chứng khoán (quyền số) thời gốc hoặc cơ
cấu khối lượng thời kỳ gốc Trong thực tế có rất ít nước áp dụng phương pháp này, đó là chỉ số FAZ và DAX
của Úc
1.3.6 Các nhân tố ảnh hưởng đến chỉ số giá cổ phiếu
Chỉ số giá cổ phiếu là một chỉ tiêu rất nhạy cảm với những biến động của nền
kinh tế vĩ mô, hoạt động sản xuất kinh doanh của DN, hoạt động của NĐT tham gia
TTCK… Xét một cách tổng thể có rất nhiều nhân tố tác động đến chỉ số giá cổ
phiếu và được phân chia thành các yếu tố kinh tế vĩ mô, các yếu tố thuộc về công ty
niêm yết và yếu tố tâm lý của NĐT
- Các yếu tố kinh tế vĩ mô: phụ thuộc rất lớn vào các chính sách điều tiết vĩ mô của
Chính phủ và NHNN nhằm ổn định nền kinh tế là những yếu tố tích cực vừa tạo
niềm tin cho DN, người tiêu dùng, NĐT, tạo điều kiện thúc đẩy sự phát triển của
TTCK, qua đó làm gia tăng chỉ số giá cổ phiếu Ngược lại, nếu các chính sách vĩ
mô không phát huy tác dụng sẽ có tác động tiêu cực đến hoạt động của thị trường và
sẽ phản ánh lên chỉ số giá cổ phiếu
- Các yếu tố thuộc về công ty niêm yết: chỉ số giá cổ phiếu cũng ảnh hưởng rất lớn
từ các công ty niêm yết, vì thực tế chỉ số giá cổ phiếu tăng hoặc giảm dựa trên sự
tăng hoặc giảm của giá cổ phiếu của các công ty niêm yết Tuy nhiên, để giá cổ
phiếu DN tăng đòi hỏi DN hoạt động có lãi và đi kèm là các thông tin tích cực từ
hoạt động sản xuất của DN và làm được điều này DN cần có động lực để đẩy mạnh
và mở rộng hoạt động sản xuất đó chính là niềm tin, nguồn vốn, yếu tố đầu ra…
- Yếu tố tâm lý NĐT: được xem là nhân tố có ảnh hưởng rất lớn đến chỉ số giá cổ
phiếu, sự tác động thể hiện khá rõ, nhiều khi chỉ mới có dấu hiệu tăng trưởng của
nền kinh tế nếu là mức lạc quan cao thì NĐT đua nhau đi mua cổ phiếu, sức mua
tăng, tạo áp lực đẩy giá lên cao Ngược lại, có khi tình hình kinh tế có dấu hiệu
giảm nhưng mang tâm lý bi quan, NĐT đã hoảng hốt bán tháo cổ phiếu làm giá
giảm mạnh, kéo theo sự sụt giảm của chỉ số giá cổ phiếu của toàn thị trường
Trang 331.4 Các nghiên cứu trên thế giới về sự tác động của niềm tin kinh doanh của doanh nghiệp và niềm tin của người tiêu dùng đến chỉ số giá cổ phiếu tại thị trường chứng khoán
1.4.1.Nghiên cứu về sự tác động niềm tin kinh doanh của doanh nghiệp đến chỉ số giá cổ phiếu tại thị trường chứng khoán
Nghiên cứu của Cevik Kormaz năm 2012
Cevik, Korkmaz và Atukeren (2012) nghiên cứu ảnh hưởng của niềm tin kinh doanh của DN tác động đến lợi nhuận chứng khoán ở Mỹ với nhân tố đại diện là chỉ
số niềm tin kinh doanh Đồng thời tác giả cũng nghiên cứu để kiểm tra khả năng ảnh hưởng của các yếu tố phổ biến đến lợi nhuận cổ phiếu và niềm tin kinh doanh của DN trong lĩnh vực sản xuất công nghiệp tại Mỹ, thực hiện ước lượng bằng mô hình chuyển đổi với các khoảng thời gian khác nhau và bằng các phương trình chuyển tiếp Thông qua nghiên cứu, tác giả đã chứng minh được tại Mỹ chỉ số niềm tin kinh doanh của DN có ảnh hưởng riêng biệt đến TTCK trong các giai đoạn của thị trường ở cả xu thế tăng giá và xu thế giảm giá, đồng nghĩa với niềm tin kinh doanh của DN có tác động đến lợi nhuận chứng khoán tại Mỹ
1.4.2 Nghiên cứu về sự tác động niềm tin của người tiêu dùng đến chỉ số giá
cổ phiếu tại thị trường chứng khoán
Nghiên cứu của Chen năm 2011
Bài nghiên cứu tập trung vấn đề liên quan giữa việc thiếu niềm tin của người tiêu dùng với lợi nhuận chứng khoán, khi thị trường biến động Với việc sử dụng
mô hình Markov-chuyển đổi, tập trung thảo luận cú sốc đến niềm tin của người tiêu dùng có hiệu ứng bất đối xứng với lợi nhuận chứng khoán Đồng thời, kiểm tra việc giảm niềm tin có đẩy TTCK rơi vào sự sụt giá chứng khoán hay không
Với việc sử dụng bằng chứng thực nghiệm là lợi nhuận hàng tháng trên chỉ số giá S&P 500, nghiên cứu đã chỉ ra rằng:
- Thiếu niềm tin của người tiêu dùng có ảnh hưởng bất đối xứng đến lợi nhuận TTCK và sự tác động là lớn hơn thông qua sự tăng điểm của chỉ số giá cổ phiếu
Trang 34- Khi thị trường trở nên bi quan hơn, xác suất chuyển đổi của thị trường diễn
ra nhanh chóng, thị trường sẽ chuyển từ xu thế tăng giá sang xu thế giảm giá
- TTCK trở nên bi quan hơn dễ chuyển đến ranh giới xu thế giảm giá và khả năng thị trường tồn tại trong xu thế giảm giá là dài hơn, có tác động lớn hơn đến lợi nhuận chứng khoán trong cả thị trường
-Nghiên cứu của Dale Bremmer năm 2008
Bài nghiên cứu mối quan hệ giữa niềm tin của người tiêu dùng và 9 chỉ số giá
cổ phiếu khác nhau, tuy nhiên có hai quan đểm khác biệt, những nhà phân tích giản đơn mong đợi một mối quan hệ trực tiếp giữa niềm tin tiêu dùng và chỉ số giá cổ phiếu, họ cho rằng một khi người tiêu dùng lạc quan, chi tiêu nhiều hơn sẽ tác động làm tăng lợi nhuận của các DN và nâng cao giá cổ phiếu của DN, nhưng những nhà phân tích phức tạp lập luận rằng các thị trường hiệu quả thì kết quả chỉ số giá chứng khoán đã thể hiện những thay đổi trong niềm tin tiêu dùng dự kiến và bên cạnh đó những thay đổi bất ngờ trong niềm tin tiêu dùng có ảnh hưởng đến giá cổ phiếu Để phân tích những câu hỏi này, tác giả xem xét các mối quan hệ giữa niềm tin của người tiêu dùng và một tập hợp của 9 chỉ số chứng khoán khác nhau là chỉ số Công nghiệp Dow Jones, chỉ số S & P 500, chỉ số NASDAQ, chỉ số Nasdaq 100, chỉ số S
& P 100, chỉ số Russell 1000, 2000 và 3000, và chỉ số 5000 Wilshire Thông qua nghiên cứu, tác giả đã đưa ra kết quả thực nghiệm như sau:
- Niềm tin của người tiêu dùng và 9 chỉ số giá chứng khoán khác nhau là không đổi với chuỗi thời gian đơn vị
- Kiểm định đồng liên kết của trường Đại học Michigan xác nhận rằng không
có mối quan hệ dài hạn giữa chỉ số chứng khoán khác nhau với đo lường niềm tin của người tiêu dùng
- Liên quan đến mối quan hệ ngắn hạn giữa các chỉ số cổ phiếu và niềm tin của người tiêu dùng, kiểm tra quan hệ nhân quả Granger, cho thấy chỉ giá cổ phiếu ảnh hưởng đến niềm tin của người tiêu dùng, nhưng ngược lại niềm tin của người tiêu dùng không ảnh hưởng đến chỉ số giá cổ phiếu
Trang 35- Trong khi những thay đổi dự kiến trong niềm tin của người tiêu dùng không ảnh hưởng trên giá cổ phiếu, nhưng những thay đổi bất ngờ trong niềm tin của người tiêu dùng liên quan trực tiếp đến những thay đổi trong chỉ số giá
cổ phiếu
1.4.3.Nghiên cứu về sự tác động niềm tin kinh doanh của doanh nghiệp và niềm tin của người tiêu dùng đến chỉ số giá cổ phiếu tại thị trường chứng khoán
Nghiên cứu của Vichet Sum năm 2012
Nghiên cứu của Vichet Sum năm 2012 điều tra những ảnh hưởng chung ngẫu nhiên của cả niềm tin kinh doanh của DN và niềm tin của người tiêu dùng trên lợi nhuận của cổ phiếu
Tác giảphân tích dựa trên sắp xếp dữ liệu chéo theo thời gian hàng tháng từ 31 quốc gia sau đó thực hiện hồi quy dữ liệu Kết quả cho thấy lợi nhuận thị trường chứng khoán tăng trung bình 154 điểm cơ bản khi sự thay đổi niềm tin kinh doanh của DN tăng theo thời gian và giữa các quốc gia bởi một đơn vị và niềm tin của người tiêu dùng được giữ cố định là hệ số Tương tự như vậy, sự thay đổi niềm tin của người tiêu dùng tăng theo thời gian và giữa các quốc gia bởi một đơn vị, lợi nhuận TTCK tăng trung bình 468 điểm cơ bản khi niềm tin kinh doanh của DN được giữ cố định là hệ số Những phát hiện này cung cấp bằng chứng thực nghiệm
về sự tác động ngẫu nhiên niềm tin kinh doanh của DN và niềm tin của người tiêu dùng trên TTCK Đồng thời, kết quả nghiên cứu cung cấp ý nghĩa quan trọng đối với định giá TTCK, đầu tư và quản lý rủi ro NĐT tham gia trên thị trường có thể theo dõi những biến động về niềm tin kinh doanh của DN và niềm tin của người tiêu dùng thông qua nhân tố định lượng là chỉ số niềm tin kinh doanh và chỉ số niềm tin tiêu dùng để đưa ra quyết định đầu tư
Trang 361.5 Sự cần thiết của nghiên cứu niềm tin kinh doanh của doanh nghiệp và niềm tin của người tiêu dùng ảnh hưởng đến chỉ số giá cổ phiếu tại thị trường chứng khoán
1.5.1 Sự cần thiết của nghiên cứu niềm tin kinh doanh của doanh nghiệp ảnh hưởng đến chỉ số giá cổ phiếu tại thị trường chứng khoán
Nghiên cứu niềm tin kinh doanh của DN để đánh giá về tâm lý lạc quan hay
bi quan của DN đối với thị trường, thông qua việc tăng, giảm chỉ số niềm tin kinh doanh cho biết sự tăng trưởng hay sự thay đổi của môi trường kinh doanh cũng như
đo lường và dự báo môi trường kinh tế trong tương lai gần Niềm tin kinh doanh của DN tăng thể hiện thông qua sự lạc quan tin tưởng vào nền kinh tế của DN, DN
sẽ mở rộng sản xuất kinh doanh, tăng cường các hoạt động quảng bá về hình ảnh của DN, về chiến lược kinh doanh và các sản phẩm mới của DN, để có thể có đạt được các mục tiêu tài chính của DN trên TTCK Bên cạnh đó, nhằm mục đích tác động đến niềm tin của các NĐT nhằm giúp NĐT hiểu rõ hơn về thực trạng và tương lai của DN, qua đó tác động đến sự biến động của TTCK cả về giá trị giao dịch lẫn
phiếu về trung và dài hạn
1.5.2 Sự cần thiết của nghiên cứu niềm tin của người tiêu dùng ảnh hưởng đến chỉ số giá cổ phiếu tại thị trường chứng khoán
Nghiên cứu niềm tin của người tiêu dùng có vai trò rất quan trọng, thường có tác động trực tiếp tới TTCK Trên thực tế,chi tiêu của người tiêu dùng chiếm hơn 2/3 chi tiêu nền kinh tế vì vậy thị trường luôn muốn nắm bắt được thái độ và phản ứng của người tiêu dùng đối với các biến động kinh tế tác động trực tiếp lên giá cả, hàng hóa Chi tiêu tiêu dùng phản ánh lên niềm tin của người tiêu dùng Khi người tiêu dùng tỏ ra lạc quan hơn đối với thực trạng nền kinh tế và thu nhập cá nhân thì
sẽ mạnh dạn chi tiêu nhiều hơn, đây là dấu hiệu tích cực có ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động sản xuất kinh doanh của DN và đà tăng trưởng kinh tế Đối với TTCK, đà tăng trưởng kinh tế có sức ảnh hưởng rất lớn đến thị trường, nếu đà tăng trưởng kinh tế mạnh sẽ củng cố lợi nhuận của DN, dẫn đến giá trị cổ phiếu của các DN
Trang 37tăng theo góp phần tạo tín hiệu tích cực cho TTCK, cùng với các thông tin kinh tế
vĩ mô tích cực làm cho chỉ số giá cổ phiếu tăng
Kết luận chương 1:
Luận văn tập trung nêu các lý thuyết về niềm tin kinh doanh của DN, niềm tin của người tiêu dùng, chỉ số giá cổ phiếu cũng như các nghiên cứu của một số tác giả trên thế giới về sự tác động của niềm tin kinh doanh của DN và niềm tin của người tiêu dùng đến chỉ số giá cổ phiếu tại TTCK và các nghiên cứu cho thấy có sự tác động của niềm tin kinh doanh của DN và niềm tin của người tiêu dùng không chỉ đến lợi nhuận của TTCK mà còn tác động đến chỉ số giá cổ phiếu
Trang 38CHƯƠNG 2: PHÂN TÍCH TÁC ĐỘNG NIỀM TIN KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP VÀ NIỀM TIN CỦA NGƯỜI TIÊU DÙNG ĐẾN CHỈ SỐ
GIÁ CỔ PHIẾU TẠI SỞ GIAO DỊCH CHỨNG KHOÁN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 2.1.Thực trạng biến động của chỉ số giá cổ phiếu tại Sở giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh
2.1.1 Diễn biến của thị trường chứng khoán Việt Nam
Trải qua gần 13 năm phát triển kể từ ngày đầu thành lập đến nay, TTCK Việt Nam đã trải qua những giai đoạn thăng trầm Năm 2000, với 02 công ty niêm yết khi đưa TTGDCK TP.HCM vào hoạt động, thị trường đã có mức tăng trưởng nhanh
về giá do nguồn cung hàng hóa khan hiếm, VN-Index tăng liên tục và đạt tới đỉnh điểm là 571,04 điểm ngày 25/6/2001 Thị trường đã liên tục sụt giảm trong suốt 3 năm sau đó, trước khi tăng mạnh trở lại vào cuối năm 2003 Năm 2005, TTGDCK
Hà Nội đi vào hoạt động đưa tổng số các công ty niêm yết trên thị trường là 44 công
ty và tổng giá trị niêm yết là 4,94 nghìn tỷ đồng Trong giai đoạn 2000-2002, TPCP
là hàng hóa niêm yết chủ đạo trên SGDCK Tp.HCM, tuy nhiên, số lượng không nhiều (40 mã chứng khoán) Trong giai đoạn này, TPCP tương đối kém thanh khoản, giá trị giao dịch bình quân cũng rất thấp, với khoảng 2% giá trị TPCP niêm yết Nhìn chung, giai đoạn 2000-2005 là giai đoạn hoạt động khá trầm của TTCK Việt Nam
Từ năm 2006 đến nay, TTCK Việt Nam bắt đầu khởi sắc và đã có bước tăng trưởng mạnh mẽ cả về số lượng công ty niêm yết lẫn doanh số giao dịch Nếu như năm 2005, bình quân có 667.600 cổ phiếu được giao dịch một phiên, thì năm 2006, con số này tăng lên 2,6 triệu đơn vị (tăng 3,93 lần), tiếp tục tăng lên 9,79 triệu và 18,07 triệu trong hai năm sau đó Tính đến cuối năm 2009, đã có 541 doanh nghiệp niêm yết cổ phiếu trên cả hai SGDCK và 4 chứng chỉ quỹ đại chúng niêm yết, với tổng giá trị niêm yết đạt 127,489 nghìn tỷ đồng Giai đoạn 2006-2009 cũng chứng kiến những kỷ lục của TTCKVN Tháng 3/2007, các chỉ số chứng khoán đạt được mức cao nhất VN-Index đạt mức 1,170.67 điểm và HASTC-Index đạt 459.36 điểm
Trang 39Trong khi đó, xét về khối lượng giao dịch, tháng 5/2009 là tháng có khối lượng giao dịch lớn nhất, bình quân có 77 triệu cổ phiếu được giao dịch mỗi phiên, với giá trị đạt 2.270,57 tỷ đồng Đồng thời, với sự mở rộng của các thị trường chính thức, có
sự quản lý với số lượng ngày càng lớn các tổ chức đăng ký niêm yết, đăng ký giao dịch là sự thu hẹp của thị trường tự do (thị trường OTC) Thị trường chứng khoán
đã có sự tăng trưởng không chỉ về quy mô niêm yết mà cả về tính thanh khoản của thị trường Trước năm 2006, cổ phiếu được giao dịch đồng thời tại cà 2 sàn Tuy nhiên, từ ngày 24/9/2009, hệ thống giao dịch chuyên biệt với gần 30 thành viên, trong đó, có nhiều ngân hàng thương mại và các công ty chứng khoán lớn đã chính thức hoạt động Hệ thống này tách biệt khỏi hệ thống giao dịch cổ phiếu có những bước phát triển nhảy vọt
Từ năm 2010 đến quý 2/2013, giao dịch trên thị trường cũng như chỉ số giá
cổ phiếu không có những biến động như trước đây, thị trường khá trầm lắng Cuối năm 2012 và những tháng đầu năm 2013 giao dịch trên thị trường sôi động trở lại
do sự hỗ trợ tích cực từ các tin tức vĩ mô Tuy nhiên, cuối quý 2 năm 2013 thị trường chứng kiến đợt giảm điểm mạnh do sự rút vốn của các quỹ đầu tư nước ngoài
Về số lượng các nhà đầu tư tham gia TTCK ngày càng đông đảo Số lượng nhà đầu tư cá nhân và tổ chức, trong nước và nước ngoài đã gia tăng đáng kể Từ khoảng gần 3000 tài khoản nhà đầu tư tham gia khi mới mở cửa thị trường vào năm
2000, tính đến nay đã có trên 1,2 triệu NĐT
Qua 13 năm hoạt động, thị trường chứng khoán Việt Nam đã có được những bước tiến lớn, vững vàng với vai trò là một kênh huy động vốn trung và dài hạn cho việc phát triển kinh tế đất nước Tuy nhiên, hệ thống nhà đầu tư của chúng ta chưa
đa dạng, cấu trúc cầu đầu tư hiện tại chưa bảo đảm sự tăng trưởng một cách bền vững Hệ thống nhà đầu tư tổ chức chưa phát triển làm hạn chế sự phát triển của TTCK đặc biệt là thị trường TTCP Bên cạnh đó, hàng hóa niêm yết trên TTCK chưa đa dạng, chất lượng chưa cao, chưa đáp ứng nhu cầu đầu tư và phòng ngừa rủi
ro của nhà đầu tư (chưa có các sản phẩm phái sinh, các sản phẩm đầu tư tập thể)
Trang 40Tuy nhiên, xuất phát từ nghiên cứu nhân tố tác động đến VN-Index nên luận văn trình bày chi tiết về thực trạng biến động chỉ số giá tại SGDCK TPHCM giai đoạn từ quý 3/2008 đến quý 2/2013 nhằm đảm bảo tương thích về mặt dự liệu giữa các nhân tố
2.1.2 Thực trạng các cổ phiếu niêm yết tại Sở giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh
- Quy mô và chủng loại
Tính đến cuối quý 2/2013, trải qua hơn 13 năm hình thành và phát triển,
SGDCK TPHCM hiện có 302 loại cổ phiếu giao dịch, thị trường đã chứng kiến sự
tăng nhanh về lượng hàng hóa cổ phiếu giao dịch so với thời điểm thành lập vào năm 2000 chỉ có 2 loại cổ phiếu niêm yết là REE và SAM, đặc biệt hoạt động niêm yết cổ phiếu tại SGDCK TPHCM của các công ty tăng mạnh mẽ vào các năm từ
2006 đến năm 2010 đã làm cho cổ phiếu niêm yết trở nên đa dạng và phong phú hơn so với thời điểm trước đây, bao gồm nhiều lĩnh vực, trong cùng một lĩnh vực có nhiều loại cổ phiếu của các công ty nhằm đáp ứng nhu cầu đầu tư của NĐT trong và ngoài nước Tuy nhiên, nhu cầu đầu tư ngày càng gia tăng nên số lượng và chủng loại cổ phiếu trên SGDCK TPHCM hiện tại vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu đầu tư hiện tại cũng như những NĐT tiềm năng
Hoạt động niêm yết cổ phiếu trên SGDCK TPHCM đã có những chuyển biến tích cực không chỉ ở số lượng mà ở cả chất lượng cổ phiếu Đặc biệt, năm 2012 với
sự ra đời của chỉ số VN30, bao gồm 30 cổ phiếu hàng đầu niêm yết trên SGDCK TPHCM có giá trị vốn hóa lớn, chiếm 80% giá trị vốn hóa thị trường và có tính thanh khoản cao, chiếm 60% về giá trị giao dịch thị trường nhằm phản ánh diễn biến những phân khúc khác nhau của thị trường và làm tiền đề để cho việc ra đời các sản phẩm tài chính như ETF là một hình thức quỹ đầu tư thụ động mô phỏng theo một chỉ số cụ thể và các sản phẩm phái sinh giúp cho nhà đầu tư có thêm kênh thông tin để tham khảo xu hướng thị trường
- Giá trị niêm yết và giá trị giao dịch
Tính từ quý 3/2008 các công ty niêm yết đã bắt đầu huy động vốn qua thị