1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Tài liệu Sự Thần kỳ Đông Á Tăng trưởng chính sách công doc

38 835 6
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Sự Thần Kỳ Đông Á Tăng Trưởng Chính Sách Công
Trường học Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Kinh tế phát triển
Thể loại Bài đọc
Năm xuất bản 2004-2005
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 38
Dung lượng 491,89 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các nền kinh tế đang phát triển đã không bắt kịp các nền kinh tế đã phát triển; hơn 70% các nền kinh tế đang phát triển đã tăng trưởng chậm hơn so với mức trung bình của các nền kinh tế

Trang 1

NGÂN HÀNG THẾ GIỚI - 1993

SỰ THẦN KỲ ĐÔNG Á

TĂNG TRƯỞNG VÀ CHÍNH SÁCH CÔNG

CHƯƠNG 1 TĂNG TRƯỞNG, CÔNG BẰNG VÀ THAY ĐỔI VỀ KINH TẾ

Tám nền kinh tế mà chúng ta nghiên cứu (HPAE)* là những nền kinh tế khác biệt nhau về tài nguyên thiên nhiên, văn hóa và thể chế chính trị Nhật Bản, không giống như những nước khác, đã là một nền kinh tế công nghiệp khá trưởng thành ngay từ lúc bắt đầu của thời kỳ hậu chiến Hơn nữa, tám nền kinh tế này còn khác biệt nhau về mức độ can thiệp của chính quyền vào nền kinh tế và cách thức mà những nhà lãnh đạo định hình và thực hiện chính sách của họ Ví dụ, những nhà làm chính sách ở Hàn Quốc đã can thiệp khá sâu vào thị trường công nghiệp, lao động, và tín dụng; trong khi đó những nhà lập chính sách ở Hồng Kông thì luôn khoanh tay không can thiệp

Tuy nhiên, bất kể nhiều khác biệt, tám nền kinh tế này có khá nhiều điểm tương đồng Xét theo nhiều mặt, ta có thể xếp các nền kinh tế này vào cùng một nhóm dựa vào quá trình phát triển của họ sau chiến tranh Đặc tính chung rõ nhất của họ là tốc độ tăng trưởng kinh tế trung bình khá cao Trong cùng một thời gian, bất bình đẳng về thu nhập giảm bớt, đôi khi giảm rất nhiều Hai kết quả này - tăng trưởng nhanh và bất bình đẳng giảm - là các đặc tính cơ bản của điều được xem là sự thần kỳ về kinh tế ở Đông Á

Tám nền kinh tế còn có chung sáu đặc trưng phân biệt nữa Khi so với hầu hết các nền kinh tế đang phát triển khác, tất cả tám nền kinh tế đều có:

• Tổng sản phẩm quốc dân và năng suất trong khu vực nông nghiệp tăng nhanh hơn

• Tốc độ tăng trưởng cao hơn trong xuất khẩu công nghệ phẩm

• Tỷ lệ sinh sản giảm sớm hơn và nhanh hơn

• Tốc độ tăng trưởng vốn vật chất cao hơn, hỗ trợ bởi tỷ lệ tiết kiệm nội địa cao hơn

• Mức độ khởi đầu và tốc độ tăng trưởng nguồn vốn con người cao hơn

• Tốc độ tăng trưởng năng suất nhìn chung cao hơn

Tất cả những đặc tính này đều liên quan đến tăng trưởng nhanh và công bằng hơn của họ Một số đặc tính là nguồn gốc của tăng trưởng, một số là kết quả của tăng trưởng, và một số khác lại là đặc tính duy nhất của sự tăng trưởng của nhóm nước HPAE, tuy nhiên, hầu hết đều rơi vào từ hai phân loại trở lên của cách phân loại này

* Tám nền kinh tế bao gồm Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, Hồng Kông, Singapore, Malaysia, Indonesia và Thái Lan Trong báo cáo, các nước này được gọi là các nền kinh tế châu Á có thành tự kinh tế cao, viết tắt là HPAE (high-performing Asian econonomies)

Trang 2

TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ NHANH VÀ BỀN VỮNG

Tám nền kinh tế HPAE này tăng trưởng nhanh hơn và nhất quán hơn so với bất kỳ

các nhóm nước khác trên thế giới từ 1960 đến 1990 Họ đạt được tốc độ tăng trưởng trung

bình hàng năm về thu nhập thực bình quân đầu người là 5,5%, hơn hẳn các nền kinh tế tại

châu Mỹ La tinh và các nước châu Phi hạ Sahara (ngoại trừ Botswana giàu có kim cương)

Trung Quốc, một nền kinh tế khác ở Đông Á, đã tăng trưởng 5,8%/năm kể từ năm 1965 và

có thể đòi hỏi được xếp vào hàng ngũ các nước HPAE.1

Hình 1.1 cho thấy mối quan hệ giữa mức thu nhập so với Mỹ trong năm 1960 và tốc

độ tăng trưởng thu nhập bình quân đầu người của 119 nền kinh tế trong giai đoạn

1960-1985 Các nền kinh tế đang phát triển đã không bắt kịp các nền kinh tế đã phát triển; hơn

70% các nền kinh tế đang phát triển đã tăng trưởng chậm hơn so với mức trung bình của

các nền kinh tế có thu nhập cao.2 Rắc rối hơn nữa là, trong mười ba nền kinh tế đang phát

triển, thu nhập bình quân đầu người đã sụt giảm thực sự Tăng trưởng của tám nước HPAE

thì hoàn toàn khác Tốc độ tăng trưởng của họ cao hơn đáng kể so với mức trung bình của

các nền kinh tế có thu nhập cao Không giống như hầu hết phần còn lại của thế giới đang

phát triển, các nền kinh tế HPAE đã bắt kịp các nền kinh tế công nghiệp Hồng Kông,

Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore và Đài Loan là những trường hợp đáng chú ý

Hình 1.1 Tốc độ tăng trưởng GDP thời gian 1960-85, và GDP bình quân đầu người 1960

Ghi chú: Trên hình có biểu diễn hàm hồi quy: GDPG = 0,013 + 0,062RGDP60 - 0,061RGDP602 N = 119; R 2 = 0,036

Nguồn: Summers and Heston (1991); Barro (1989); số liệu của Ngân hàng Thế giới

Những nền kinh tế đang phát triển khác đã tăng trưởng nhanh trong một số năm,

đặc biệt là trước thập niên 80, nhưng rất ít trong số đó đạt được tốc độ tăng trưởng cao, bền

vững trong vòng ba thập niên liền.3 Hình 1.2 cho thấy tốc độ tăng trưởng về thu nhập bình

quân đầu người của 119 nền kinh tế trong hai thời kỳ, 1960-1970 và 1970-1985 11 nền

kinh tế đã đạt được tăng trưởng nhanh trong cả hai thời kỳ là những nền kinh tế ở góc đông

Tốc độ tăng trưởng GDP (%, bình quân, 1960-85)

GDP b/q đầu người so sánh (tính theo tỷ lệ % GDP b/q đầu người của Mỹ, 1960)

Các nến kinh tế thu nhập cao Tám nền kinh tế HPAE Các nến kinh tế đang phát triển khác

Trang 3

bắc (của Hình 1.2) Trong số đó, có năm nước là gương thành công điển hình ở khu vực Đông Á: Hồng Kông, Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore và Đài Loan Rõ ràng là Nhật bản đã chuyển từ nước có tốc độ tăng trưởng vô cùng cao trong thập niên 60 thành nước có tốc độ tăng trưởng đặc trưng hơn của các nước có thu nhập cao trong thập niên 70 Ba nền kinh tế HPAE khác - Indonesia, Malaysia và Thái Lan - đều cho thấy sự tăng trưởng gia tốc, với tốc độ tăng trưởng cao hơn trong thời kỳ thứ hai so với thời kỳ đầu Indonesia là một trong ba nền kinh tế duy nhất di chuyển từ vị trí cuối lên vị trí hàng đầu trong bảng xếp hạng tốc độ tăng trưởng giữa hai thời kỳ

Hình 1.2 Tốc độ tăng trưởng được duy trì

Ghi chú: Các ô là vùng 75% của tốc độ tăng trưởng trong từng thời kỳ

Nguồn: Summers and Heston (1991); Barro (1989); số liệu của Ngân hàng Thế giới.

BẤT BÌNH ĐẲNG VỀ THU NHẬP ĐANG GIẢM và NGHÈO ĐÓI ĐƯỢC THU HẸP

Các nước HPAE cũng có mức độ bất bình đẳng về thu nhập thấp lạ thường và ngày càng giảm Điều này trái lại với các kinh nghiệm trong lịch sử và các bằng chứng hiện hữu ở những khu vực khác (Kuznets 1955) Quan hệ đồng biến giữa sự tăng trưởng và mức độ bất bình đẳng thấp về thu nhập ở các nước HPAE, và sự tương phản với các nền kinh tế khác, được minh họa ở Hình 1.3 Bốn mươi nền kinh tế được xếp hạng dựa vào tỷ số giữa phần thu nhập của một phần năm dân số giàu nhất với phần thu nhập của một phần năm dân số nghèo nhất, và sự tăng trưởng thực GDP bình quân đầu người trong thời gian 1965-

89 Góc tây bắc của Hình 1.2 cho thấy các nền kinh tế có tốc độ tăng trưởng cao (GDP bình quân đầu người tăng cao hơn 4,0%) và độ bất bình đẳng về thu nhập khá thấp (tỷ số của phần thu nhập của nhóm một phần năm đầu với phần thu nhập của nhóm một phần năm cuối là nhỏ hơn 10) Có bảy nền kinh tế đạt tốc độ tăng trưởng cao và mức độ bất

Tốc độ tăng trưởng GDP (%) 1970-85

Tốc độ tăng trưởng GDP (%) 1960-70

Các nến kinh tế thu nhập cao Tám nền kinh tế HPAE Các nến kinh tế đang phát triển khác

Trang 4

bình đẳng về thu nhập thấp Tất cả đều là các nước Đông Á; chỉ có Malaysia có chỉ số chênh lệch thu nhập trên 15, được loại ra

Khi các nền kinh tế Đông Á được phân chia nhóm theo tốc độ tăng trưởng, thì phân phối thu nhập tại các nước tăng trưởng nhanh có mức quân bình cao hơn nhiều (Birdsall and Sabot 1993b) Đối với tám nước HPAE, tăng trưởng nhanh và mức độ bất bình đẳng về thu nhập giảm là những ưu điểm chung, như minh họa bởi so sánh về bình đẳng và tăng trưởng theo thời gian bằng cách sử dụng hệ số Gini (xem Hình 3 trong phần tổng quan của cuốn sách) Các nước đang phát triển HPAE rõ ràng hơn hẳn các nền kinh tế có thu nhập trung bình khác ở điểm họ có mức độ bất bình đẳng về thu nhập thấp hơn và mức tăng trưởng cao hơn Hơn thế nữa, như ở các hình A1.7-A1.9 ở cuối chương cho thấy, những tiến bộ trong phân phối thu nhập thường trùng khớp với thời kỳ tăng trưởng nhanh

Hình 1.3 Bất bình đẳng về thu nhập và tăng trưởng GDP, 1965-89

Ghi chú: Sự chênh lệch thu nhập được đo bằng tỷ phần thu nhập của 20% dân số giàu nhất với tỷ phần thu nhập của 20%

dân số nghèo nhất

Nguồn: Số liệu của Ngân hàng Thế giới

Tốc độ tăng trưởng GDP b/q đầu người (%) 1970-85

Bất bình đẳng về thu nhập

Trang 5

Ở đây, cần lưu ý hai điểm Trước hết, một vài nghiên cứu về Hàn Quốc cho thấy sự bất bình đẳng gia tăng trong những năm gần đây; tuy nhiên, hầu hết là do giá trị tài sản tăng lên, đặc biệt là đất đai, chứ không phải mức chênh lệch thu nhập gia tăng Thứ hai, mức độ giảm thiểu bất bình đẳng ở Thái Lan tương đối không đáng kể so với các nước khác trong HPAE, mặc dù thành tựu của Thái Lan vẫn tốt hơn hầu hết các nước đang phát triển khác

Với tăng trưởng nhanh và bất bình đẳng giảm, những nền kinh tế này tất nhiên đã thành công vượt bậc trong xóa đói giảm nghèo Bảng 1.1 so sánh các mức giảm thiểu nghèo đói trong một vài nước HPAE và các nền kinh tế khác được chọn (thời gian thay đổi tùy theo số liệu sẵn có) (Nghèo đói được định nghĩa là không có khả năng đạt được mức sống tối thiểu - Ngân hàng Thế giới 1990b) Mức gia tăng tuổi thọ cũng lớn hơn so với bất kỳ khu vực nào khác (xem Bảng 1.2)

Bảng 1.1: Những Thay Đổi trong các Chỉ Số về Nghèo Đói

Phần trăm dân số Số lượng người nghèo sống dưới mức nghèo đói (triệu)

_

Các nước khác

Ghi chú: Bảng này sử dụng mức nghèo đói cụ thể cho từng nền kinh tế Khi có số liệu, mức nghèo đói chính thức hay

thường dùng được sử dụng Trong các trường hợp khác, mức nghèo đói được định ở mức 30% thu nhập hoặc chi tiêu tối thiểu Mức nghèo đói, được tính theo mức chi tiêu của thành viên trong gia đình và dưới tính theo dollar ngang giá sức mua (PPP), xê dịch trong khoảng $300-$700/năm trong 1985 ngoại trừ Costa Rica ($960), Malaysia ($1,420), Singapore ($860) Trừ khi được chỉ định khác đi, bảng này dựa trên cơ sở chi tiêu của từng thành viên hộ gia đình

a Số liệu của các nước này sử dụng thu nhập hơn là chi tiêu

b Số liệu của các mục này dựa vào hộ gia đình hơn là thành viên hộ

Nguồn: Ngân hàng Thế giới (1990b, bảng 3.2 và 3.3)

Trang 6

Bảng 1.2 Tuổi thọ bình quân 1960 và 1990

Tuổi thọ bình quân (năm)

Các nền kinh tế thu nhập trung bình 49 66

Các nền kinh tế công nghiệp phát triển 70 77

_

Ghi chú: Trị số trung bình của khu vực được tính theo tỷ trọng

a Không kể Trung Quốc và Ấn Độ

Nguồn: Số liệu của Ngân hàng Thế giới

CÁC KHU VỰC NÔNG NGHIỆP NĂNG ĐỘNG

Nhìn chung, khi nền kinh tế phát triển, tỷ trọng nông nghiệp trong nền kinh tế suy giảm Sáu nước HPAE với khu vực nông nghiệp đáng kể - Indonesia, Nhật Bản, Hàn Quốc, Malaysia, Thái Lan, và Đài Loan - đã thực hiện sự chuyển đổi này nhanh hơn so với các nền kinh tế đang phát triển khác.4 Tuy nhiên việc giảm tầm quan trọng tương đối của nông nghiệp trong các nước HPAE không phải là do khu vực nông nghiệp kém năng động

Ở khắp các khu vực đang phát triển, tỷ trọng sản lượng và lao động nông nghiệp trong nền kinh tế đã giảm nhiều nhất và nhanh nhất tại nơi mà sản lượng và năng suất nông nghiệp gia tăng nhiều nhất (xem Bảng 1.3) Từ 1965 đến 1988, tăng trưởng cả về sản lượng lẫn năng suất nông nghiệp ở khu vực Đông Á cao hơn so với các khu vực khác Nhiều yếu tố góp phần vào sự thành công trong nông nghiệp tại các nước này Cải cách ruộng đất (rõ ràng nhất là ở Hàn Quốc và Đài Loan), dịch vụ khuyến nông, hạ tầng cơ sở tương đối tốt (đặc biệt tại các nước thuộc địa cũ của Nhật Bản) và việc đầu tư mạnh vào khu vực nông thôn (rõ nhất ở Indonesia) tất cả đã giúp tạo kết quả này

Trang 7

Bạng 1.3 Toẫc ñoô taíng thu nhaôp, lao ñoông vaø tyû tróng sạn löôïng nođng nghieôp, 1965-1988 (%)

Tyû phaăn nođng nghieôp Toẫc ñoô taíng tröôûng trong toơng sạn löôïng trung bình haøng naím

_

Nguoăn: Turnham (1993) Veă caùc soâ lieôu tyû tróng sạn löôïng nođng nghieôp: soâ lieôu cụa Ngađn haøng Theâ giôùi

Chính quyeăn caùc nöôùc Ñođng AÙ ñaõ hoê trôï tích cöïc cho hoát ñoông nghieđn cöùu vaø caùc dòch vú khuyeân nođng ñeơ thuùc ñaơy söï phoơ bieân caùc cođng ngheô cụa cuoôc Caùch máng Xanh Ñaău tö ñaùng keơ cụa caùc nöôùc ngaøy veă thụy lôïi vaø caùc há taăng cô sôû khaùc ôû nođng thođn ñaõ ñaơy nhanh vieôc aùp dúng caùc gioâng cađy coù naíng suaât cao, vú môùi, vaø vieôc söû dúng caùc nguyeđn lieôu nhaôp löôïng nhö phađn boùn, vaø thieât bò maùy moùc, ñeơ troăng trót Tái Ñaøi Loan, trong thaôp nieđn 50, 45% möùc taíng tröôûng nođng nghieôp laø do gia taíng naíng suaât, maø phaăn lôùn laø keât quạ cụa caùc chöông trình nhaø nöôùc (xem Ranis 1993)

Coù raât ít thođng tin veă vieôc phađn boơ ñaău tö nhaø nöôùc giöõa khu vöïc nođng thođn vaø ñođ thò vaø cuõng khoù coù ñöôïc so saùnh ñuùng giöõa caùc neăn kinh teâ, tuy nhieđn nhöõng soâ lieôu saün coù cho thaây raỉng caùc nöôùc HPAE ñaõ phađn boơ phaăn ñaău tö nhaø nöôùc cụa mình vaøo khu vöïc nođng thođn lôùn hôn so vôùi caùc neăn kinh teâ thu nhaôp thaâp vaø trung bình Veă khía cánh naøy, vieôc xađy döïng cô sôû há taăng – caău, ñöôøng, vaôn tại, ñieôn, nöôùc vaø veô sinh - mang yù nghóa raât lôùn Bạng 1.4 cho thaây coù söï cađn baỉng giöõa ñaău tö nhaø nöôùc ôû nođng thođn vaø ñođ thò trong heô thoâng caâp nöôùc vaø veô sinh ôû Indonesia, Haøn Quoâc vaø Thaùi Lan hôn so vôùi caùc neăn kinh teâ ñang phaùt trieơn khaùc Soâ lieôu veă ñieôn khí hoaù nođng thođn cuõng cho thaây raỉng, tính trung bình, caùc nöôùc HPAE ñaõ cung caâp ñieôn naíng moôt caùch hieôu quạ hôn cho khu vöïc nođng thođn Töø ñaău thaôp nieđn 80, ñieôn ñaõ phoơ bieân trong khu vöïc nođng thođn tái Haøn Quoâc vaø Ñaøi Loan Malaysia vaø Thaùi Lan ñaõ coù böôùc tieân ñaùng keơ trong vieôc ñieôn khí hoùa nođng thođn Indonesia tuy khođng laøm ñöôïc toât nhö vaôy nhöng söï cheđnh leôch giöõa khu vöïc nođng thođn vaø ñođ thò cuõng nhoû hôn so vôùi söï cheđnh leôch ôû caùc neăn kinh teâ khaùc coù cuøng thu nhaôp bình quađn ñaău ngöôøi (Bolivia vaø Liberia) hoaịc cuøng soâ dađn (Brazil) [Xem bạng 1.4]

Khođng keùm phaăn quan tróng laø thueâ tröïc thu vaø giaùn ñaùnh vaøo nođng nghieôp ôû khu vöïc Ñođng AÙ thöôøng coù möùc thaâp Trong ba thaôp nieđn qua, haøng chúc chính quyeăn tái caùc khu vöïc khaùc, vì thieât tha thuùc ñaơy taíng tröôûng cođng nghieôp, ñaõ chuyeơn thaịng dö trong nođng nghieôp sang cođng nghieôp thođng qua thueâđ khoùa, kieơm soaùt giaù cạ thöïc phaơm vaø phađn boơ ñaău tö nhaø nöôùc theo höôùng öu ñaõi cođng nghieôp Döôùi hình thöùc ít cođng khai hôn, chính quyeăn ôû nhieău nöôùc öu ñaõi caùc nhaø sạn xuaât vaø gađy taùc ñoông xaâu cho nođng nghieôp khi ñònh giaù quaù cao ñoăng noôi teô cuõng nhö bạo hoô caùc ngaønh cođng nghieôp noôi ñòa sạn xuaât tö lieôu cho nođng nghieôp vaø haøng hoaù tieđu duøng cụa caùc hoô nođng dađn Tyû giaù hoâi ñoaùi hình thaønh

do hán cheâ nhaôp khaơu laøm giạm soâ tieăn thu baỉng noôi teô cụa caùc maịt haøng nođng sạn xuaât

Trang 8

khẩu Bảo hộ công nghiệp có tác động như một loại thuế ẩn ngầm đánh vào nông nghiệp,

làm tăng giá nguyên liệu đầu vào của nông nghiệp để trợ cấp cho công nghiệp Hình 1.4 đối chiếu ba nước HPAE có khu vực kinh tế nông thôn lớn với ba nền kinh tế Nam Á để minh họa việc đánh thuế nông nghiệp nhẹ hơn ở Đông Á Biện pháp can thiệp trực tiếp của nhà nước vào nông nghiệp bao gồm thuế xuất khẩu và kiểm soát giá cả Còn can thiệp

gián tiếp là các chính sách bảo hộ công nghiệp và việc định tỷ giá hối đoái thực quá cao Cả Hàn Quốc và Malaysia đều thu thuế nông nghiệp thấp hơn nhiều so với các quốc gia đối chiếu Ở Hàn Quốc, khu vực nông nghiệp còn được bảo hộ Thuế nông nghiệp ở Thái

Lan tương tự như mức thuế ở các quốc gia Nam Á vào những năm 60 và 70, nhưng trong những năm 80 thì giảm xuống trong khi ở Nam Á thuế lại tăng lên

Bảng 1.4 So sánh đầu tư nhà nước vào khu vực nông thôn và thành thị

Cách biệt giữa nông thôn và đô thị về dịch vụ hạ tầng, 1987-90

(100 = cân bằng giữa nông thôn và thành thị )

Tỷ lệ dân số nông thôn và đô thị được cấp điện

_

Trang 9

Nguồn: Bảng trên: UNDP (các năm khác nhau); Bảng dưới: Munasinghe (1987)

Chúng tôi không có ý nói rằng các nước HPAE tránh không chuyển bất kỳ nguồn lực nào từ nông nghiệp sang công nghiệp Nói đúng hơn, thì các quốc gia này chuyển ít nguồn lực hơn so với một số nền kinh tế đang phát triển khác Ngoài ra, việc chuyển dịch nguồn lực thường là tự nguyện - ví dụ như dưới tiết kiệm tài chính - và thường được giới hạn ở mức không bóp chết đà tăng trưởng của nông nghiệp

Hình 1.4 Can thiệp và tăng trưởng trong khu vực nông nghiệp

Nguồn: Schiff (1993)

TĂNG TRƯỞNG NHANH CỦA XUẤT KHẨU

Một nét nổi bật khác của các nước HPAE là thành quả xuất khẩu cao Điều này được phản ánh bởi tỷ trọng gia tăng đều đặn của các quốc gia trên trong kim ngạch xuất khẩu của thế giới (xem bảng 1.5) Xét chung cả nhóm, thì các quốc gia HPAE đã tăng tỷ trọng trong kim ngạch xuất khẩu thế giới từ 8% năm 1965 lên 13% năm 1980 và 18% năm

1990, trong đó chủ yếu dựa vào xuất khẩu công nghiệp chế biến Từ 1965 đến 1990, Nhật Bản nổi lên thành nước xuất khẩu lớn nhất về hàng công nghiệp chế biến, với thị phần trên thị trường thế giới tăng từ khoảng 8% đến 12% Vào những năm 70 và 80, trung tâm tăng trưởng đã chuyển sang bốn con hổ châu Á với thị phần hàng công nghiệp chế biến của những nước này tăng nhanh gần gấp bốn lần Nhật Bản (xem bảng 1.5) Bắt đầu vào khoảng năm 1980, ba nước HPAE ở Đông Nam Á (Indonesia, Malaysia và Thái Lan) trước

Mức bảo hộ GDP b/q đầu người (%)

Tốc độ tăng trưởng nông nghiệp(%)

Trang 10

đây phụ thuộc vào xuất khẩu hàng nông sản cũng đã đạt được những thành quả tương tự

như bốn con hổ nhưng tốc độ tăng xuất khẩu hàng công nghiệp có kém hơn

Bảng 1.5 Mức độ thâm nhập xuất khẩu của một số nền kinh tế Đông Á

Tỷ trọng trong xuất khẩu Tỷ trọng trong xuất khẩu của toàn thế giới của các nước đang phát triển

Xuất khẩu c/nghiệp chế biến

- Không có số liệu

N.A Không áp dụng được

a Hàn Quốc, Hồng Kông, Singapore và Đài Loan

b Indonesia, Malaysia và Thái Lan

Nguồn: Số liệu từ các hệ thống thương mại của LHQ (U.N Trade systems data)

Một số nhà phân tích về sau đã giải thích các thành quả trên đạt được là do các

điều kiện về văn hóa và địa lý đặc biệt của các quốc gia trên Nhưng nếu xét ở khởi điểm

thì có rất ít dấu hiệu là các nền kinh tế Đông Á sẽ đạt những kết quả ngoạn mục như thế

Vào những năm 1950, ngay những người lạc quan về ngoại thương cũng hết sức bi quan về

xuất khẩu và không hề dự đoán rằng kim ngạch xuất khẩu của Hàn Quốc, trong suốt 30

năm sau, đã tăng nhanh gấp 4 lần so với mức bình quân toàn thế giới (vd, xem Little

1982)

Một tác động hiển nhiên của tăng trưởng xuất khẩu nhanh là sự gia tăng rõ nét mức

mức độ mở của nền kinh tế, cũng như sự gia tăng tỷ trọng kim ngạch xuất cộng nhập khẩu

trong GDP (xem bảng 1.6) Malaysia đã có nền kinh tế dựa chủ yếu vào ngoại thương

suốt thời gian sau khi giành được độc lập, còn Hàn Quốc, Thái Lan và Đài Loan có những

chỉ số thiên hướng ngoại thương trung bình cho đến năm 1965, nhưng từ đó đã vượt trội

hẳn tiêu chuẩn thông thường của quốc tế Indonesia, vốn có một nền kinh tế rộng lớn và

chỉ mới có nỗ lực xuất khẩu gần đây, có chỉ số thiên hướng ngoại thương đạt trên mức

trung bình của thế giới một ít, nhưng đang tăng lên

Trang 11

Bảng 1.6 Tỷ lệ tổng kim ngạch thương mại so với GDP

Ghi chú: Tỷ trọng tổng kim ngạch thương mại = kim ngạch xuất khẩu cộng kim ngạch

nhập khẩu rồi chia cho GDP

Nguồn: Số liệu của Ngân hàng Thế giới Đài Loan, số liệu các lần xuất bản khác nhau

Thống kê Tài khoản Quốc gia: Phân tích các chỉ số tổng hợp, 1988089 (Liên Hợp Quốc)

NHỮNG CHUYỂN ĐỔI NHANH VỀ NHÂN KHẨU HỌC

Chuyển đổi về nhân khẩu học trong đó tỷ suất sinh và tỷ suất chết giảm từ mức cao xuống mức thấp đã bắt đầu ở châu Âu và Bắc Mỹ với cuộc Cách mạng Công nghiệp và phải mất gần hai thế kỷ mới hoàn thành Một chuyển đổi như thế đang xảy ra với tốc độ nhanh hớn nhiều ở các nước đang phát triển Thực tế ở hầu hết các nền kinh tế, tỷ suất chết đã giảm rõ rệt sau thế chiến thứ hai; còn tỷ suất sinh ở tất cả các nước, ngoại trừ châu Phi hạ Sahara, cũng đã giảm đáng kể (xem bảng 1.7) Tuy nhiên, so sánh với các vùng đang phát triển khác ở Đông Á, việc chuyển đổi sang tỷ suất sinh thấp đã bắt đầu sớm hơn (vào thập niên 60 ở phía Bắc, đầu thập niên 70 ở phía Nam - và sớm hơn thế nữa là ở Nhật Bản) và vẫn đang tiếp tục

Trong thời kỳ 1965-80, tất cả các nước đang phát triển trên thế giới đều kinh qua một sự sụt giảm rõ về tỷ suất chết (xem bảng 1.7) Mức giảm thường thấy ở đa số các nền kinh tế là 30-40% và không biến thiên nhiều quá giữa các vùng Tuy nhiên, trên thực tế, vẫn còn một sự khác biệt đáng kể giữa các khu vực về mức độ tỷ suất sinh giảm có thể hạn chế một sự bùng nổ tiềm năng về dân số do tỷ suất chết giảm nhanh Ở châu Phi hạ Sahara, trong thời kỳ này, tỷ suất sinh giảm đi khoản 2-10%; ở Nam Á là 10-30%; ở Mỹ

La tinh là 30-40% Tỷ lệ giảm cao nhất là ở Đông Á, từ 40% đến 50% Kết quả là mức gia tăng dân số giảm ở tất cả các nền kinh tế Đông Á, trong một vài trường hợp, giảm rất nhanh Ví dụ ở Hàn Quốc, tỷ lệ này giảm từ 2,6%/năm trong giai đoạn 1960-70 xuống còn 1,1%/năm trong giai đoạn 1980-90; ở Hồng Kông, từ 2,5%/năm xuống còn 1,4%/năm; và ở Thái Lan, từ 3,1%/năm xuống 18,6%/năm Ở châu Mỹ La tinh, mức giảm tỷ suất sinh cũng đủ để giảm tỷ lệ gia tăng dân số, tuy xét tổng quát vẫn chưa đạt đến mức như ở Đông

Trang 12

Á Kết quả ở Nam Á không đồng nhất Bangladesh có tỷ suất sinh giảm đủ để hạn chế đà tăng dân số, nhưng Nepal và Pakistan thì không Ở miền Nam Sahara, Phi châu, tỷ suất chết giảm nhiều trong khi tỷ suất sinh giảm rất ít, từ đó khiến cho dân số tăng đáng kể - chẳng hạn, tăng từ 2,3%/năm trong thời kỳ 1960-70 lên 3,4%/năm trong thời kỳ 1980-90 ở Ghana, còn ở Kenya thì tỷ lệ này tăng từ 3,2% lên 3,8%

Bảng 1.7 Sự chuyển đổi về nhân khẩu học

Thay đổi tỷ Thay đổi tỷ Tổ độ tăng suất sinh thô suất chết thô dân số bình quân

- Không có số liệu

Nguồn: số liệu của Ngân hàng Thế giới

MỨC TIẾT KIỆM VÀ ĐẦU TƯ CAO

Đầu tư vật chất bao gồm tất cả phần sản lượng của nền kinh tế không được tiêu thụ trực tiếp hoặc sử dụng để sản xuất ra các hàng hóa khác Máy móc, nhà xưởng và hạ tầng

cơ sở là vốn vật chất, nhưng các thành phần vốn lưu động, như hàng tồn kho, cũng quan trọng không kém Các nhà kinh tế vẫn xem đầu tư là một trong những động lực thúc đẩy

Trang 13

tăng trưởng kinh tế Trong một nền kinh tế khép kín, tiết kiệm là nguồn đầu tư duy nhất, và theo định nghĩa, tiết kiệm và đầu tư phải bằng nhau Nhưng trong một nền kinh tế mở, đầu tư còn có thể thực hiện bằng cách vay mượn của nước ngoài, nghĩa là bằng tiết kiệm của nước ngoài Nhưng ngay cả trong trường hợp này, tiết kiệm trong nước không đủ sau cùng vẫn sẽ làm giảm mức đầu tư, bằng cách ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp do những hạn chế vay thêm nợ nước ngoài mà kết cuộc phải dùng tiết kiệm nội địa để hoàn trả

Từ 1960 đến 1990, cả tiết kiệm và đầu tư đã tăng đáng kể ở các nước HPAE, bỏ xa các nước đang phát triển khác (xem hình 1.5) Năm 1965, mức tiết kiệm tại các nước HPAE đang phát triển thấp hơn các nước châu Mỹ La tinh, nhưng đến năm 1990 mức tiết kiệm ở các nước HPAE lại vượt các nước Châu Mỹ La tinh đến gần 20% Vào năm 1965, mức đầu tư ở châu Mỹ La tinh và Đông Á gần như bằng nhau; nhưng đến năm 1990, mức đầu tư ở Đông Á lại gần gấp đôi mức bình quân ở châu Mỹ La tinh, và đã vượt xa mức đầu

tư ở Nam Á và châu Phi hạ Sahara Các nước HPAE là nhóm nước đang phát triển duy nhất có mức tích lũy cao hơn đầu tư, nhờ đó họ trở thành các quốc gia xuất khẩu vốn

Hình 1.5 Tỷ trọng tiết kiệm và đầu tư torng GDP

Ghi chú: Mức bình quân theo khu vực không được tính trọng số

Nguồn: Số liệu của Ngân hàng Thế giới

Khi so sánh từng nước HPAE riêng rẽ với cả 118 nước mà chúng ta có số liệu đầu

tư thì bức tranh còn phức tạp hơn (xem hình 1.6) Trong thời kỳ 1960-1985, mức đầu tư ở các nước HPAE nằm trong tứ phân vị đầu của các nền kinh tế có thu nhập trung bình và thu nhập thấp, nhưng điều này không có gì đáng kể, vì mức đầu tư thường tăng theo thu nhập Điều đáng kể là tỷ lệ đầu tư tư nhân cao của họ Hình 1.7 so sánh tỷ trọng trung bình trong GDP của đầu tư nhà nước và đầu tư tư nhân trong giai đoạn 1970-1980 giữa các nước HPAE và các nước có thu nhập trung bình khác Đầu tư tư nhân ở các nước HPAE cao hơn 7% so với các nước có thu nhập trung bình khác Mức này tăng từ 15% GDP năm

1970 lên đến 22% năm 1974, sau đó giảm, rồi đứng ở mức 18% trong thời gian 1975 đến

1984 Từ 1984 đến 1986, đầu tư tư nhân giảm đáng kể phản ánh suy thoái kinh tế toàn cầu, rồi sau đó tăng dần trở lại vào năm 1988 Ngược lại, ở các nước có thu nhập trung bình, đầu tư tư nhân tương đối ổn định ở mức khoảng 11% GDP

Tổng tiết kiệm nội địa Tổng đầu tư nội địa

Trang 14

Hình 1.6 Tỷ lệ đầu tư/GDP bình quân, 1960-1985 và GDP bình quân đầu người, 1960

Ghi chú: Phương trình hồi quy là: GDPG = 10,125 + 59,120RGDP60 – 51,881RGDP602 N = 119; R 2 = 0,295

Nguồn: Summers and Heston (1991); Barro (1989); số liệu của Ngân hàng Thế giới

Bức tranh hoàn toàn khác đối với đầu tư nhà nước Vào thập niên 70, tổng mức đầu

tư nhà nước không khác biệt gì mấy giữa các nước HPAE và các nước đang phát triển khác Trong suốt thập niên này, đầu tư nhà nước tăng từ 7% đến 10% trong mọi nền kinh tế (xem hình 1.7) Nhưng, trong suốt những năm 80, các nước HPAE và các nước đang phát triển khác đã tách biệt nhau Ở các nền kinh tế đang phát triển khác, mức ngân sách suy giảm do các điều chỉnh về kinh tế vĩ mô được thể hiện qua tỷ lệ đầu tư nhà nước thấp hơn Ngược lại, ở các nước HPAE, tỷ lệ đầu tư nhà nước trong thực tế đã tăng lên từ năm

1979 đến 1982 và giữ ở mức gần 4% cao hơn mức bình quân của những năm 70 Chỉ sau năm 1986, tỷ lệ này mới bắt đầu giảm dần xuống mức bình quân của thập niên 70 Tóm lại, khác biệt với các nơi khác, đầu tư nhà nước ở các nền kinh tế Đông Á vào năm 80-87 vận động ngược với xu hướng đầu tư tư nhân

TẠO LẬP VỐN CON NGƯỜI

Tại hầu hết các nền kinh tế tăng trưởng nhanh ở Đông Á, sự phát triển và chuyển đổi hệ thống giáo dục đào tạo trong ba thập niên qua diễn ra rất sâu sắc, số lượng trẻ em đến trường tăng lên đồng thời với việc cải tiến đáng kể chất lượng trường lớp và chất lượng đào tạo tại nhà Ngày nay, trình độ nhận thức của học sinh tốt nghiệp cấp trung học tại một số nước Đông Á đã ngang bằng, thậm chí cao hơn ở các nước có thu nhập cao (xem phụ lục 1.2)

Tỷ lệ đầu tư bình quân (tính theo %GDP, 1960-85)

GDP b/q đầu người so sánh (tính theo tỷ lệ % GDP b/q đầu người của Mỹ, 1960)

Các nến kinh tế thu nhập cao Tám nền kinh tế HPAE Các nến kinh tế đang phát triển khác

Trang 15

Hình 1.7 Đầu tư nhà nước và đầu tư tư nhân

Ghi chú: LMIE là các nền kinh tế có thu nhập thấp và trung bình

Nguồn: Số liệu của Ngân hàng Thế giới

Hình 1.8 và 1.9 trình bày tóm tắt kết quả nổi bật của hồi qui tỷ lệ đi học tiểu học và trung học theo thu nhập bình quân đầu người của hơn 90 nền kinh tế đang phát triển trong hai năm 1965 và 1987.7 Tỷ lệ đi học có mức cao hơn ở những nước có thu nhập bình quân đầu người cao hơn Tuy nhiên, tỷ lệ này ở những nước HPAE có xu hướng vượt mức dự đoán tính theo thu nhập bình quân đầu người của các nước này Vào năm 1965, Hồng Kông, Hàn Quốc và Singapore đã hoàn tất phổ cập tiểu học, vượt xa các nền kinh tế đang phát triển khác Ngay cả Indonesia, nước rất đông dân, cũng có tỷ lệ đi học tiểu học trên 70%.8 Vào năm 1987, sự vượt trội của hệ thống giáo dục Đông Á còn thể hiện ở bậc trung học Indonesia có tỷ lệ đi học trung học là 46%, hơn hẳn so với các nước khác có cùng thu nhập Tỷ lệ này ở Hàn Quốc đã tăng từ 35% lên 88%, dẫn đầu xét về thành tích tương đối

Tỷ lệ đầu tư tư nhân/GDP (%)

Tỷ lệ đầu tư nhà nước/GDP (%)

Trang 16

Chỉ riêng Thái Lan có tỷ lệ đi học trung học là 28%, thấp hơn nhiều so với dự đoán 36% và so với mức bình quân 54% của các nước có thu nhập trung bình.9 Trong những năm gần đây, người ta đã thấy kết quả giáo dục yếu kém ở Thái Lan, khi sự thiếu thốn trầm trọng lao động có trình độ học vấn đã bắt đầu đe dọa sự tăng trưởng ổn định ở mức độ rất cao hiện nay Một phần của thành công về giáo dục là do các nước Đông Á cũng đi trước trong việc xoá bỏ cách biệt giữa tỷ lệ đi học ở nam và nữ (xem hộp 1.1)

Hình 1.8 Hồi quy tỷ lệ đi học tiểu học giữa các nền kinh tế, 1965 và 1987

Ghi chú: Số liệu trong ngoặc đơn là tỷ lệ đi học; số liệu trong ngoặc vuông là phần dư

Nguồn: Behrman và Schneider (1992)

Hình 1.9 Hồi quy tỷ lệ đi học trung học giữa các nền kinh tế, 1965 và 1987

Tỷ lệ đi học tiểu học

Thu nhập bình quân đầu người (theo giá USD năm 1988)

Tỷ lệ đi học tiểu học

Thu nhập bình quân đầu người (theo giá USD năm 1988)

Trang 17

Ghi chú: Số liệu trong ngoặc đơn là tỷ lệ đi học; số liệu trong ngoặc vuông là phần dư

Nguồn: Behrman và Schneider (1992)

HỘP 1.1 ĐÔNG Á ĐI NHANH HƠN TRONG VIỆC

XÓA KHOẢNG CÁCH VỀ GIỚI TÍNH TRONG GIÁO DỤC

Xét về mặt lịch sử, hầu hết các xã hội đều cung cấp cơ hội giáo dục cho nam giới trước, rồi sau đó dần dần mới đến nữ giới Khoảng cách về giới tính trong giáo dục có thể ảnh hưởng sâu rộng đến quá trình phát triển nếu, ví dụ, trình độ học vấn kém của nữ giới sẽ làm giảm khả năng cải thiện điều kiện dinh dưỡng và vệ sinh tại nhà của họ, cũng như giảm năng suất lao động của họ ngoài xã hội Các nước HPAE thu hẹp khoảng cách này nhanh hơn những nước đang phát triển khác, mặc dù truyền thống văn hóa của họ là chú trọng việc giáo dục nam giới và trong một số trường hợp không khuyến khích việc giáo dục nữ giới (xem hình 1.1 trong hộp) Nhìn chung, thu hẹp khoảng cách về giới tính là kết quả của việc đẩy mạnh giáo dục cho mọi người hơn là chú tâm nhiều vào việc giáo dục nữ giới Tuy thế, như lập luận dưới đây, lợi ích cụ thể của giáo dục nữ giới cho thấy rất quan trọng

Khoảng cách giới tính (nam hơn nữ) trong tỷ lệ đi học tiểu học và trung học có xu hướng giảm dần khi thu nhập tăng lên (xem hình A1.10 và A1.11 ở cuối chương) Vào năm 1965, khoảng cách giới tính ở tất cả các nước Đông Á,

ở cấp tiểu học, nhỏ hơn người ta dự đoán Vào năm 1987, theo thống kê, bốn nền kinh tế Đông

Á đã phổ cập tiểu học toàn bộ cho nữ giới, điều đó có nghĩa là không còn khoảng cách giới tính ở cấp tiểu học Những khoảng cách giới tính khá lớn trong giáo dục vẫn còn rất phổ biến ở các nềân kinh tế có thu nhập thấp (chứ không phải là ngoại lệ) và đã kéo dài suốt ba thập niên qua cho dù các hệ thống giáo dục đã được mở rộng nhanh chóng (Hill và King 1991) Ví dụ, trong 40 nền kinh tế với GNP bình quân đầu người thấp hơn $500, khoảng cách giới tính giữa nam và nữ trong giáo dục ở bậc tiểu học trung bình là 20%, và hiện nay con số đó cũng không thấp hơn so với năm 1960

Vào năm 1965, các nước HPAE (trừ Thái Lan) có khoảng cách về giới tính trong giáo dục

ở bậc trung học cao hơn mức dự đoán Thực ra, việc tăng cơ hội hơn cho nữ giới theo học trung học đã là một thách thức đối với các nước HPAE trong thập niên 70 và đầu thập niên 80, giống như đối với các nước đang phát triển khác trên toàn thế giới ngày nay Một phần do các nền kinh tế Đông Á đã gặt hái nhiều thành công trong việc nâng cao số lượng học sinh đến trường, khoảng cách giới tính đã được thu hẹp và không lớn hơn mức dự đoán theo thu nhập bình quân đầu người vào năm 1987 (hình A1.11) Tất cả các nền kinh tế ở Đông Á được nghiên cứu (ngoại trừ Indonesia) đều có tỷ lệ nữ giới đi học trung học cao, thậm chí còn cao hơn cả nam giới Ngay cả ở Indonesia, khoảng cách giới tính trong giáo dục ở nước này cũng đã giảm đáng kể

Một phương pháp thông dụng, dù không hoàn hảo, để đo chất lượng giáo dục là chi tiêu trên đầu học sinh Giữa những năm 1970-1989, mức chi tiêu thực trên đầu học sinh ở bậc tiểu học tăng 335% ở Hàn quốc Còn tại Mêxico và Kenya, tốc độ tăng tăng lần lượt là

Hình trong Hộp 1.1 Tỷ lệ số năm

đi học của nữ giới so với nam giới

Nguồn: Barro và Lee (1993)

Trang 18

64% và 38% trong cùng thời kỳ Tại Pakistan, tốc độ tăng là 13% từ năm 1970 đến 1985 (Birsall và Sabot 1993b) Những cách biệt lớn này phản ánh hầu hết những khác biệt trong tăng trưởng thu nhập và tỷ lệ đi học, mà cả hai chỉ tiêu này đều cao ở các nước Đông

Á Một phương pháp tốt hơn để đo lường chất lượng giáo dục là kiểm tra kỹ năng nhận thức của học sinh theo các bài kiểm tra được tiêu chuẩn hóa giữa các nước Qua so sánh kết qủa thu được từ những cuộc kiểm tra như thế trên thế giới, trẻ em Đông Á có kết quả học tập tốt hơn trẻ em ở các nước đang phát triển khác - và gần đây, còn tốt hơn cả trẻ em

ở các nước có thu nhập cao.10

Khối lượng học tập của trẻ em còn tùy thuộc vào môi trường học tập ở gia đình Một lần nữa, trẻ em ở Đông Á có được thuận lợi hơn vào những năm 70 và 80 Dùng chỉ tiêu đơn giản: số lượng bà mẹ có học vấn và số lượng trẻ em tại mỗi gia đình, chúng ta tính toán được rằng môi trường học tập tại Hàn Quốc trong suốt 20 năm cao hơn 114% so với

Brazil và 147% so với Pakistan (Birdsall và Sabot 1993b)

TĂNG TRƯỞNG NHANH VỀ NĂNG SUẤT

Đặc điểm nổi bật sau cùng của HPAE là sự tăng trưởng nhanh chóng về năng suất Năng suất lao động tại HPAE tăng nhanh là quá hiển nhiên: sự tăng trưởng GDP bình quân đầu người chủ yếu phụ thuộc vào sự tăng trưởng sản lượng trên mỗi công nhân Một phần của sự gia tăng năng suất là do gia tăng vốn vật chất trên mỗi công nhân (chẳng hạn như tăng thêm máy móc) và một phần khác là do gia tăng vốn con người (chẳng hạn như công nhân có học vấn cao hơn) Tuy nhiên, gia tăng năng suất lao động còn có thể là kết quả của việc gia tăng hiệu quả sản xuất và của những thay đổi trong cách thức sản xuất giúp gia tăng sản lượng trong khi vẫn sử dụng cùng một khối lượng vốn vật chất và vốn con người Chúng ta gọi phần gia tăng năng suất mà không thể giải thích được bằng những gia tăng đo được của các nhập lượng là tăng trưởng tổng năng suất nhân tố (TFP-total factor productivity).11 Trong số những yếu tố góp phần tạo nên TFP ta có thể kể đến công nghệ tốt hơn, tổ chức quản lý tốt hơn, kết quả của chuyên môn hóa và những cải tiến kỹ thuật ở phân xưởng

Như chứng minh dưới đây, khoảng hai phần ba mức tăng trưởng thần kỳ của Đông

Á là nhờ vào quá trình tích lũy nhanh, có nghĩa là do sự gia tăng nhanh của vốn vật chất và vốn con người Một phần ba của tăng trưởng còn lại không thể nào lý giải bằng quá trình tích lũy và vì thế người ta cho là do hiệu quả gia tăng hay là TFP So với các nền kinh tế khác, phần gia tăng này có mức độ lớn, xét cả về trị số tuyệt đối lẫn tỷ trọng trong tăng trưởng sản lượng, và do đó giải thích được phần nào lý do các nền kinh tế này bắt kịp các nền kinh tế công nghiệp hóa, trong khi hầu hết các nền kinh tế đang phát triển khác thì không Trong hộp 1.2, chúng ta xem xét hai cách lý giải tổng quát về quan hệ giữa tích lũy và gia tăng sản lượng và sự liên kết giữa việc thay đổi năng suất và việc bắt kịp công nghệ tiên tiến

Trang 19

BẰNG CHỨNG TỪ CÁC HỒI QUY TĂNG TRƯỞNG

THU NHẬP BÌNH QUÂN ĐẦU NGƯỜI GIỮA CÁC NỀN KINH TẾ

Trong phần này, hai công cụ thống kê được sử dụng đề khảo sát mối quan hệ giữa tích lũy và gia tăng sản lượng Mô hình thứ nhất là hồi quy giữa các nền kinh tế trong đó chúng ta xác định mối quan hệ giữa tỷ lệ gia tăng thu nhập thực tế bình quân đầu người và tỷ trọng đầu tư trong GDP, và hai đo lường về thành quả giáo dục, với các biến kiểm soát là tốc độ tăng trưởng của dân số tham gia hoạt động kinh tế và cách biệt tương đối của thu nhập bình quân đầu người so với Mỹ vào năm 1960, tính theo giá USD năm 1980.12 Đo lường về thành quả giáo dục được chọn là tỷ lệ đi học tiểu học và trung học vào năm 1960 – đây là khía cạnh tích lũy vốn con người rất khác biệt ở HPAE so với các nước có thu nhập thấp và trung bình khác

Kết quả phân tích thống kê của 113 nước được nêu trong Bảng 1.8 và cho thấy tích lũy nhân tố sản xuất là quan trọng Đầu tư vào vốn vật chất lẫn giáo dục đã đóng góp rất lớn vào tăng trưởng kinh tế.13 Một sự gia tăng tỷ lệ đầu tư trong GDP lên 10% - gần bằng với sự khác biệt về đầu tư tư nhân giữa HPAE với các nước thu nhập thấp và trung bình khác – làm tăng tốc độ tăng trưởng GDP bình quân đầu người lên 0,5% Tỷ lệ đi tiểu học và trung học tăng lên 10% làm gia tăng thu nhập bình quân đầu người lên 0,3%

Ngoài việc tích lũy vốn vật chất và vốn con người, mức thu nhập ban đầu cũng có mối quan hệ có ý nghĩa với tăng trưởng thu nhập bình quân đầu người Những nền kinh tế tương đối nghèo vào năm 1960 đã tăng trưởng nhanh hơn nhiều so với các nước giàu, sau khi đã tính tới khác biệt về giáo dục và đầu tư Mặc dù vậy, như đã đề cập ở trên, tính bình quân thì những nước nghèo không làm tốt hơn nước giàu được (tức là mức thu nhập của các nước không hội tụ) Một phần của nguyên nhân là do các nước nghèo đầu tư ít hơn Nhưng những nước có thu nhập bình quân đầu người bằng một nửa của Mỹ vào năm

1960 và có mức giáo dục và đầu tư trung bình sẽ tăng trưởng nhanh hơn Mỹ 2,1% Vấn đề này được gọi là hội tụ có điều kiện vì các nền kinh tế với tỷ lệ đầu tư và tỷ lệ đi học thấp sẽ không thể nào đuổi kịp các nước giàu dù cho họ có lợi thế là nước tương đối nghèo

HỘP 1.2 MÔ HÌNH HÓA TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ

Các kinh tế gia đã giới thiệu khái quát hai cách lý giải mối liên hệ giữa tích lũy và tăng trưởng sản lượng, quan điểm tân cổ điển (neoclassical view) và phương pháp tăng trưởng nội sinh (endogenous growth approach)

Ra đời sớm hơn, quan điểm của trường phái tân cổ điển được dựa trên giả thiết rằng khi vốn vật chất và vốn con người được tích lũy, phần đóng góp tăng thêm của chúng vào sản lượng giảm dần Nếu điều này là đúng, thì các nước nghèo, nơi mà lượng vốn vật chất và vốn con người trên mỗi lao động ít hơn, sẽ tăng trưởng nhanh hơn các nền kinh tế phồn thịnh, nếu có cùng một mức đầu tư vào vốn vật chất và vốn con người Sự tăng trưởng kinh tế giống như một cuộc chạy đua có chấp; tỷ suất sinh lợi đối với cùng một nỗ lực tích lũy của các nước nghèo là lớn hơn Các mô hình tăng trưởng theo quan điểm tân cổ điển dự báo rằng các nền kinh tế của các nước nghèo sẽ bắt kịp các đàn anh giàu có, nếu tỷ lệ tích lũy ở cả hai gần như nhau Điều này có nghĩa là thu nhập bình quân sẽ hội tụ về mức gần ngang nhau

Nhìn chung, tốc độ tăng trưởng thu nhập bình quân đầu người ở các nước có nền kinh tế có mức thu nhập thấp và trung bình không hơn tốc độ ở các nước có mức thu nhập cao; tính trung

Ngày đăng: 15/12/2013, 19:15

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1 cho thấy mối quan hệ giữa mức thu nhập so với Mỹ trong năm 1960 và tốc - Tài liệu Sự Thần kỳ Đông Á Tăng trưởng chính sách công doc
Hình 1.1 cho thấy mối quan hệ giữa mức thu nhập so với Mỹ trong năm 1960 và tốc (Trang 2)
Hình 1.2  Tốc độ tăng trưởng được duy trì - Tài liệu Sự Thần kỳ Đông Á Tăng trưởng chính sách công doc
Hình 1.2 Tốc độ tăng trưởng được duy trì (Trang 3)
Hình 1.3  Bất bình đẳng về thu nhập và tăng trưởng GDP, 1965-89 - Tài liệu Sự Thần kỳ Đông Á Tăng trưởng chính sách công doc
Hình 1.3 Bất bình đẳng về thu nhập và tăng trưởng GDP, 1965-89 (Trang 4)
Hình 1.4  Can thiệp và tăng trưởng trong khu vực nông nghiệp - Tài liệu Sự Thần kỳ Đông Á Tăng trưởng chính sách công doc
Hình 1.4 Can thiệp và tăng trưởng trong khu vực nông nghiệp (Trang 9)
Hình 1.5  Tỷ trọng tiết kiệm và đầu tư torng GDP - Tài liệu Sự Thần kỳ Đông Á Tăng trưởng chính sách công doc
Hình 1.5 Tỷ trọng tiết kiệm và đầu tư torng GDP (Trang 13)
Hình 1.6  Tỷ lệ đầu tư/GDP bình quân, 1960-1985 và GDP bình quân đầu người, 1960 - Tài liệu Sự Thần kỳ Đông Á Tăng trưởng chính sách công doc
Hình 1.6 Tỷ lệ đầu tư/GDP bình quân, 1960-1985 và GDP bình quân đầu người, 1960 (Trang 14)
Hình 1.7  Đầu tư nhà nước và đầu tư tư nhân - Tài liệu Sự Thần kỳ Đông Á Tăng trưởng chính sách công doc
Hình 1.7 Đầu tư nhà nước và đầu tư tư nhân (Trang 15)
Hình 1.8  Hồi quy tỷ lệ đi học tiểu học giữa các nền kinh tế, 1965 và 1987 - Tài liệu Sự Thần kỳ Đông Á Tăng trưởng chính sách công doc
Hình 1.8 Hồi quy tỷ lệ đi học tiểu học giữa các nền kinh tế, 1965 và 1987 (Trang 16)
Hình 1.9  Hồi quy tỷ lệ đi học trung học giữa các nền kinh tế, 1965 và 1987 - Tài liệu Sự Thần kỳ Đông Á Tăng trưởng chính sách công doc
Hình 1.9 Hồi quy tỷ lệ đi học trung học giữa các nền kinh tế, 1965 và 1987 (Trang 16)
Bảng 1.8  Các kết quả cơ bản của hồi quy giữa các nền kinh tế - Tài liệu Sự Thần kỳ Đông Á Tăng trưởng chính sách công doc
Bảng 1.8 Các kết quả cơ bản của hồi quy giữa các nền kinh tế (Trang 21)
Hình 1.11  Tăng trưởng tổng năng suất nhân tố và - Tài liệu Sự Thần kỳ Đông Á Tăng trưởng chính sách công doc
Hình 1.11 Tăng trưởng tổng năng suất nhân tố và (Trang 28)
Hình A1.1  Tốc độ tăng trưởng GDP và tỷ trọng đầu tư trung bình - Tài liệu Sự Thần kỳ Đông Á Tăng trưởng chính sách công doc
nh A1.1 Tốc độ tăng trưởng GDP và tỷ trọng đầu tư trung bình (Trang 32)
Hình A1.2  Tăng trưởng GDP bình quân đầu người và tăng trưởng vốn, 1960-89 - Tài liệu Sự Thần kỳ Đông Á Tăng trưởng chính sách công doc
nh A1.2 Tăng trưởng GDP bình quân đầu người và tăng trưởng vốn, 1960-89 (Trang 34)
Hình A1.3  So sánh các ước lượng tăng trưởng tổng năng suất nhân tố - Tài liệu Sự Thần kỳ Đông Á Tăng trưởng chính sách công doc
nh A1.3 So sánh các ước lượng tăng trưởng tổng năng suất nhân tố (Trang 35)
Hình A1.4  So sánh các ước lượng tăng trưởng tổng năng suất nhân tố - Tài liệu Sự Thần kỳ Đông Á Tăng trưởng chính sách công doc
nh A1.4 So sánh các ước lượng tăng trưởng tổng năng suất nhân tố (Trang 35)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w