1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phòng vệ thương mại bằng công cụ thuế quan ở việt nam

101 8 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 101
Dung lượng 856,04 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • A. PHẦN MỞ ĐẦU (9)
    • 1. Tính cấp thiết của đề tài (9)
    • 2. Tình hình nghiên cứu thuộc lĩnh vực của đề tài trong và ngoài nước (10)
    • 3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu (13)
    • 4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu (13)
    • 5. Cách tiếp cận, phương pháp nghiên cứu (13)
    • 6. Kết cấu đề tài (14)
  • B. PHẦN NỘI DUNG (15)
  • CHƯƠNG 1 (15)
    • 1.1. Pháp luật của quốc tế về phòng vệ thương mại (15)
      • 1.1.1. Khái niệm về phòng vệ thương mại (15)
      • 1.1.2. Căn cứ pháp lý của biện pháp phòng vệ thương mại (15)
      • 1.1.3. Các biện pháp phòng vệ thương mại (16)
        • 1.1.3.1. Biện pháp chống Bán phá giá (17)
        • 1.1.3.2. Biện pháp chống trợ cấp (18)
        • 1.1.3.3. Biện pháp tự vệ (20)
      • 1.1.4. Tính chất và mục đích của công cụ phòng vệ thương mại (22)
    • 1.2. Pháp luật Việt Nam về phòng vệ thương mại (23)
      • 1.2.1. Sự hình thành và phát triển pháp luật Việt Nam về phòng vệ thương mại (23)
      • 1.2.3. Hệ thống văn bản pháp luật hiện hành về phòng vệ thương mại (32)
      • 1.2.4. Một số khái niệm liên quan (32)
    • 1.3. Các công cụ cơ bản trong phòng vệ thương mại (33)
      • 1.3.1. Công cụ thuế quan (33)
        • 1.3.1.1. Thuế nhập khẩu (34)
        • 1.3.1.2. Thuế xuất khẩu (36)
        • 1.3.1.3. Vai trò của thuế quan trong phòng vệ thương mại (37)
      • 1.3.2. Công cụ phi thuế quan (38)
        • 1.3.2.1. Hạn ngạch (38)
        • 1.3.2.2. Hàng rào kỹ thuật (40)
        • 1.3.2.3. Giấy phép nhập khẩu (41)
  • CHƯƠNG 2 (42)
    • 2.1. Phòng vệ thương mại bằng thuế quan đối với hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam (42)
      • 2.1.1. Thực tiễn áp dụng công cụ thuế quan trong phòng vệ thương mại tại Việt (42)
      • 2.1.2. Phân tích một số vụ việc tiêu biểu Việt Nam đã khởi kiện (43)
        • 2.1.2.1. Chống bán phá giá thép không gỉ cán nguội(AD01) (43)
        • 2.1.2.2. Tự vệ đối với phân bón DAP và MAP (SG06) (48)
      • 2.1.3. Đánh giá tác động chung khi sử dụng công cụ thuế quan trong phòng vệ thương mại (51)
        • 2.1.3.1. Nhà nước và cơ cấu kinh tế (51)
        • 2.1.3.2. Ngành sản xuất khởi kiện vụ việc (52)
        • 2.1.3.3. Đơn vị nhập khẩu hàng hóa trong nước (53)
        • 2.1.3.4. Đối với người tiêu dùng trong nước (54)
    • 2.2. Phòng vệ thương mại bằng thuế quan đối với hàng hóa Việt Nam xuất khẩu sang các nước (55)
      • 2.2.1. Số lượng vụ việc hàng hóa Việt Nam xuất khẩu bị kiện Phòng vệ thương mại (tính đến tháng 6/2019) (55)
      • 2.2.2. Phân tích Một số vụ việc tiêu biểu Việt Nam bị kiện (57)
        • 2.2.2.1. Hoa kỳ- Chống bán phá giá – Tôm (58)
        • 2.2.2.2. Malaysia - chống bán phá giá - thép cuộn cán nguội (61)
    • 2.3. Doanh nghiệp Việt Nam trong xu thế hội nhập quốc tế (65)
      • 2.3.1. Tình hình chung doanh nghiệp Việt nam (65)
      • 2.3.3. Hạn Chế, Khó khăn (67)
      • 2.3.4. Nguyên nhân (68)
  • CHƯƠNG 3 (71)
    • 3.1. Dự báo xu hướng sử dụng công cụ thuế quan trong phòng vệ thương mại (71)
      • 3.1.1. Xu hướng thế giới trong thời kỳ hội nhập (71)
      • 3.1.2. Xu hướng Việt Nam trong thời kỳ hội nhập (74)
    • 3.2. Giải pháp nâng cao khả năng sử dụng phòng vệ thương mại bằng công cụ thuế quan tại Việt Nam (76)
      • 3.2.1. Đối với nhà nước (76)
      • 3.2.2. Đối với doanh nghiệp (77)
  • PHỤ LỤC (87)

Nội dung

PHẦN MỞ ĐẦU

Tính cấp thiết của đề tài

Việt Nam đang mở rộng quá trình hội nhập kinh tế thông qua việc ký kết các hiệp định thương mại toàn cầu, đặc biệt là gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) Sự mở cửa này không chỉ mang lại cơ hội phát triển mà còn đặt ra nhiều thách thức cho đất nước.

Sự giao thoa giữa các nền kinh tế ngày càng gia tăng, nhưng tự do hóa thương mại có thể gây tổn hại cho các ngành sản xuất non yếu trong nước Do đó, cần thiết phải tìm ra các biện pháp để ngăn chặn và hạn chế những tác động tiêu cực đến nền sản xuất nội địa.

Theo thống kê, từ khi Việt Nam tham gia các tổ chức thương mại và ký kết các FTA, nhận thức của doanh nghiệp về công cụ phòng vệ thương mại vẫn còn rất hạn chế.

Theo thống kê, 90% doanh nghiệp Việt Nam thiếu kiến thức về phòng vệ thương mại Tuy nhiên, trong 1-2 năm qua, sau khi Việt Nam gặp phải tác động tiêu cực từ việc gia tăng mạnh mẽ hàng hóa nhập khẩu, đặc biệt từ các thị trường láng giềng như Trung Quốc, Malaysia và Indonesia, nhận thức và áp dụng các biện pháp phòng vệ thương mại của doanh nghiệp đã tăng đáng kể.

Công cụ phòng vệ thương mại được xem như "van an toàn" cho các quốc gia nhằm bảo vệ sản xuất nội địa Theo quy định của WTO, có hai công cụ chính trong phòng vệ thương mại: thuế quan và phi thuế quan Trong đó, phòng vệ thương mại bằng thuế quan thường được coi là dễ sử dụng hơn so với các công cụ khác mà WTO cho phép.

Việc áp dụng phòng vệ thương mại bằng thuế quan tại Việt Nam chưa đạt hiệu quả cao, điều này được thể hiện qua thống kê các vụ kiện liên quan Sự hạn chế trong việc sử dụng công cụ này tạo ra bất lợi lớn cho Việt Nam trong bối cảnh hội nhập và phát triển kinh tế.

Việt Nam cần tìm cách sử dụng công cụ phòng vệ thương mại một cách hiệu quả hơn, trong đó thuế quan là một phương tiện quan trọng để nhà nước điều tiết thị trường Nâng cao hiệu quả của công cụ này không chỉ mang lại lợi ích lớn cho doanh nghiệp mà còn khẳng định vị thế của Việt Nam trong quá trình hội nhập quốc tế.

Từ những phân tích ở trên có thể thấy rằng việc nghiên cứu đề tài: “PHÒNG

VỆ THƯƠNG MẠI BẰNG CÔNG CỤ THUẾ QUAN Ở VIỆT NAM” là thực sự có tính thời sự và cấp thiết.

Tình hình nghiên cứu thuộc lĩnh vực của đề tài trong và ngoài nước

Trong bối cảnh nghiên cứu toàn cầu, tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài này đã cho thấy sự phát triển đáng kể, với nhiều công trình và tài liệu có giá trị được công bố Các nghiên cứu này không chỉ cung cấp cái nhìn sâu sắc về các xu hướng hiện tại mà còn chỉ ra những khoảng trống cần được khám phá thêm Danh mục các công trình nghiên cứu có liên quan đã được tổng hợp và sẽ được trích dẫn trong phần đánh giá tổng quan, nhằm giúp người đọc dễ dàng tiếp cận và tham khảo.

- Keith Steele (ed.), Anti-dumping under the WTO: A comparative review (1996): Nhà xuất bản Springer

Bài viết này cung cấp cái nhìn tổng quan về các quy tắc chống bán phá giá mới sau Hiệp định WTO, với chương đầu tiên phân tích sự phù hợp của Bộ luật chống bán phá giá mới với các quy định của WTO và những điểm khác biệt so với bộ luật cũ Các chương tiếp theo khám phá việc thực hiện các quy tắc mới tại Canada, Liên minh châu Âu, Mexico, Hoa Kỳ, cũng như quan điểm của các nhà kinh tế chính tại Australasia, Viễn Đông và Nam Phi.

- Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (2010) Cẩm nang kháng kiện chống bán phá giá – chống trợ cấp tại Liên minh Châu Âu

Cuốn cẩm nang này cung cấp thông tin cơ bản về pháp luật và thực tiễn liên quan đến các vụ kiện chống bán phá giá, chống trợ cấp và tự vệ tại thị trường EU Đây là cuốn thứ hai trong bộ Cẩm nang kháng kiện, tiếp theo cuốn Cẩm nang kháng kiện ở Hoa Kỳ, được biên soạn bởi Hội đồng Tư vấn về Các biện pháp Phòng vệ Thương mại.

Cuốn sách "Pháp luật, thực tiễn và thủ tục vụ kiện chống bán phá giá, chống trợ cấp và tự vệ tại Hoa Kỳ" do Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam phát hành năm 2014, cung cấp cái nhìn sâu sắc về lịch sử và quy định liên quan đến biện pháp phòng vệ thương mại tại Hoa Kỳ Tài liệu này, được biên phiên dịch sang tiếng Việt bởi Ban Pháp chế, nêu rõ vai trò của các tổ chức quản lý biện pháp phòng vệ thương mại và các quy tắc của WTO liên quan đến vấn đề này, bao gồm các Hiệp định về thực thi Điều VI của Hiệp định chung về Thương mại và Thuế quan.

Năm 1994, Hiệp định WTO về Trợ cấp và các Biện pháp Đối kháng cùng với Hiệp định WTO về Tự vệ đã thiết lập khung thủ tục cho các vụ việc phòng vệ thương mại không công bằng tại Hoa Kỳ, đồng thời cũng nảy sinh nhiều tranh cãi liên quan đến quá trình điều tra và thực thi các công cụ này.

3 phòng vệ thương mại; và bao gồm cả những hướng dẫn trên mạng về pháp luật phòng vệ thương mại của Hoa Kỳ

Trung tâm Thương mại Quốc tế (2013) đã xuất bản cuốn "Hướng dẫn về các Biện pháp Phòng vệ Thương mại tại Hoa Kỳ", cung cấp cái nhìn sâu sắc về pháp luật, thực tiễn và thủ tục liên quan đến các vụ kiện chống bán phá giá, chống trợ cấp và tự vệ Tài liệu này do Nhà xuất bản Hồng Đức phát hành tại Hà Nội, là nguồn thông tin hữu ích cho những ai quan tâm đến các biện pháp phòng vệ thương mại tại Mỹ.

Bài viết phân tích lịch sử hình thành các biện pháp phòng vệ thương mại và hành chính tại Hoa Kỳ, đồng thời xem xét vai trò của các tổ chức quản lý và quy tắc của WTO liên quan đến phòng vệ thương mại, bao gồm các Hiệp định về thực thi Điều VI, trợ cấp và tự vệ Nó cũng trình bày khung thủ tục cho các vụ việc phòng vệ thương mại không công bằng, những tranh cãi trong điều tra và thực thi công cụ này, cùng với hướng dẫn pháp luật trực tuyến về phòng vệ thương mại tại Hoa Kỳ Cuối cùng, bài viết cung cấp hướng dẫn về thủ tục phòng vệ thương mại nhằm hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu từ các quốc gia đang phát triển và nền kinh tế chuyển đổi, chú trọng vào pháp luật và thực tiễn tại Hoa Kỳ.

Các nghiên cứu quốc tế thường cung cấp phân tích chi tiết về phòng vệ thương mại, tập trung vào các biện pháp cụ thể và quy định pháp luật liên quan, cũng như quy trình thực hiện hiệu quả Ở Việt Nam, cần đánh giá tình hình nghiên cứu trong lĩnh vực này, liệt kê các công trình và tài liệu liên quan để tạo cơ sở cho việc tổng quan đề tài.

Trong bối cảnh hội nhập quốc tế, việc ký kết hiệp định thương mại và gia nhập tổ chức quốc tế đã khiến vấn đề phòng vệ thương mại trở nên ngày càng quan trọng Các chuyên gia kinh tế và nhà nghiên cứu đang tập trung vào các khía cạnh như pháp luật chống bán phá giá, trợ cấp doanh nghiệp, và việc áp dụng công cụ thuế để đối phó với trợ cấp Bên cạnh đó, kỹ năng kháng kiện trong các vụ việc chống bán phá giá và trợ cấp cũng được đặc biệt chú trọng.

Một số công trình nghiên cứu cụ thể như sau:

Nguyễn Thị Thu Nguyệt (2013) đã nghiên cứu về các biện pháp phòng vệ thương mại trên thế giới và đề xuất các giải pháp pháp lý nhằm ngăn chặn tác động tiêu cực đến hoạt động xuất khẩu của Việt Nam trong luận văn thạc sĩ của mình tại Trường Đại học Quốc gia Hà Nội.

Bài viết tập trung vào việc làm rõ các vấn đề lý luận cơ bản về phòng vệ thương mại, đồng thời phân tích quy định pháp luật liên quan tại Hoa Kỳ, Liên minh Châu Âu và Nhật Bản Tác giả khái quát tình hình thực tiễn tại các quốc gia này và đánh giá một số vụ việc cụ thể Bài viết cũng đưa ra bài học cho doanh nghiệp Việt Nam, phân tích ảnh hưởng của phòng vệ thương mại đến nền kinh tế Việt Nam và đề xuất các giải pháp pháp lý nhằm ngăn ngừa tác động tiêu cực đến xuất khẩu của Việt Nam.

Trung tâm WTO và Hội nhập (2015) đã công bố báo cáo về việc sử dụng các công cụ phòng vệ thương mại trong bối cảnh Việt Nam thực hiện các hiệp định thương mại tự do (FTAs) và tham gia Cộng đồng Kinh tế ASEAN Báo cáo này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc áp dụng các biện pháp phòng vệ để bảo vệ nền kinh tế trong quá trình hội nhập quốc tế, đồng thời nêu rõ các thách thức và cơ hội mà Việt Nam phải đối mặt khi thực hiện các cam kết thương mại.

Báo cáo tập trung vào việc khái quát các rào cản thương mại và công cụ phòng vệ thương mại, phân tích tình hình và khả năng áp dụng các công cụ này của doanh nghiệp Việt Nam Đồng thời, báo cáo đánh giá nguy cơ cạnh tranh không lành mạnh từ hàng hóa nước ngoài tại Việt Nam Trên cơ sở đó, tác giả đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao khả năng sử dụng công cụ phòng vệ thương mại trong bối cảnh thị trường mở cửa.

Nguyễn Ngọc Sơn (2011) đã trình bày trong luận án tiến sĩ của mình về pháp luật chống bán phá giá hàng hóa nhập khẩu và cơ chế thực thi tại Việt Nam, nghiên cứu tại Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh.

Đề tài này tập trung vào việc làm rõ bản chất pháp lý và kinh tế của hiện tượng bán phá giá hàng hóa nhập khẩu Nghiên cứu các quy định pháp luật chống bán phá giá tại Việt Nam nhằm đánh giá thực trạng và đưa ra giải pháp nâng cao khả năng áp dụng pháp luật trong lĩnh vực này Luận án giới hạn việc ứng dụng nguyên lý kinh tế vào khoa học pháp lý để xác định bản chất pháp lý của bán phá giá, đồng thời so sánh với quy định của ADA và pháp luật của các quốc gia tiên phong như Canada, EU và Hoa Kỳ.

Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Công cụ thuế quan đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ thương mại tại Việt Nam hiện nay, giúp điều chỉnh thị trường và bảo vệ sản xuất nội địa Đánh giá tính hiệu quả của công cụ này cho thấy nó có khả năng hỗ trợ phát triển kinh tế bền vững trong tương lai, tuy nhiên cần cải thiện để đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế Để tối ưu hóa hiệu quả, cần kiến nghị các giải pháp như nâng cao năng lực quản lý thuế quan, cải cách thủ tục hành chính và tăng cường hợp tác quốc tế trong lĩnh vực thương mại.

- Đưa ra các giải pháp nâng cao khả năng sử dụng phòng vệ thương mại bằng công cụ thuế quan cho các doanh nghiệp d Nhiệm vụ nghiên cứu

- Hệ thống hóa cơ sở pháp lý về phòng vệ thương mại theo quy định WTO và pháp luật Việt Nam

- Xác định vị trí vai trò công cụ thuế quan trong phòng vệ thương mại

- Thống kê thực trạng sử dụng phòng vệ thương mại ở bằng công cụ thuế quan ở Việt Nam và một số nước trên thế giới

- Đánh giá tính hiệu quả việc áp dụng phòng vệ thương mại bằng công cụ thuế quan ở Việt Nam

- Phân tích các vụ việc tiêu biểu và đánh giá nhận xét.

Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

Nghiên cứu các vấn đề lý luận và thực tiễn về phòng vệ thương mại bằng công cụ thuế quan ở Việt Nam và một số quốc gia

Nghiên cứu này tập trung vào phòng vệ thương mại theo quy định của WTO và pháp luật Việt Nam, với mục tiêu phân tích các quy định và thực tiễn áp dụng trong giai đoạn 2014 – 2018 Bài viết sẽ làm rõ những thách thức và cơ hội mà Việt Nam gặp phải trong việc thực hiện các biện pháp phòng vệ thương mại, đồng thời đánh giá hiệu quả của các chính sách này đối với nền kinh tế quốc dân.

Cách tiếp cận, phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu quy định của WTO về phòng vệ thương mại và công cụ thuế quan tại một số nước phát triển, từ đó so sánh với quy định của Việt Nam Qua đó, rút ra bài học kinh nghiệm nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật phòng vệ thương mại tại Việt Nam.

Nghiên cứu các tài liệu báo cáo và công trình khoa học liên quan đến phòng vệ thương mại là cần thiết để hiểu rõ hơn về lĩnh vực này Đồng thời, việc phân tích các vụ việc tiêu biểu trong nước sẽ giúp rút ra những bài học kinh nghiệm quý giá Từ đó, chúng ta có thể đề xuất các giải pháp hiệu quả nhằm nâng cao khả năng phòng vệ thương mại trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế.

- Phương pháp thống kê, tổng hợp, phân tích (phân tích dựa trên các công trình nghiên cứu, xử lí số liệu khảo sát);

- So sánh (trên cơ sở phân tích, bình luận, xử lí số liệu, tác giả đưa ra một số đánh giá và nhận xét cá nhân);

Phương pháp phân tích của tôi dựa trên việc tìm kiếm thông tin trên internet và xem xét nhiều bài viết từ các tác giả khác nhau Qua đó, tôi nhận thấy có những vấn đề quan trọng mà họ thường thiếu sót và cần được bổ sung để nâng cao chất lượng nội dung.

Trong đó phương pháp phân tích tổng hợp được sử dụng nhiều nhất trong quá trình nghiên cứu.

Kết cấu đề tài

Chương I: Pháp luật WTO và pháp luật Việt Nam về phòng vệ thương mại Chương II: Thực tiễn phòng vệ thương mại bằng công cụ thuế quan ở Việt Nam Chương III: Kiến nghị giải pháp nâng cao hiệu quả phòng vệ thương mại bằng thuế quan cho Việt Nam

Pháp luật của quốc tế về phòng vệ thương mại

1.1.1 Khái niệm về phòng vệ thương mại

Phòng vệ thương mại là các biện pháp nhằm ngăn chặn và hạn chế hàng hóa xuất khẩu giữa các quốc gia, được áp dụng bởi nước nhập khẩu Các quy định về phòng vệ thương mại được quy định trong nhiều Hiệp định thương mại quốc tế, bao gồm Hiệp định GATT 1994, các Hiệp định chống bán phá giá, Hiệp định về biện pháp tự vệ, và Hiệp định về trợ cấp cũng như các biện pháp đối kháng của WTO.

Phòng vệ thương mại là một phần trong chính sách thương mại của quốc gia

Có mục đích nhằm bảo vệ các ngành công nghiệp nội địa khỏi các đối thủ cạnh tranh nước ngoài

Các biện pháp phòng vệ thương mại phổ biến bao gồm: biện pháp chống bán phá giá, biện pháp trợ cấp và biện pháp tự vệ

Các biện pháp phòng vệ thương mại mà một quốc gia áp dụng đối với quốc gia thành viên khác cần tuân thủ các quy định của GATT và các hiệp định liên quan của WTO, bao gồm Hiệp định thực thi Điều VI của GATT (Hiệp định chống bán phá giá - ADA), Hiệp định về trợ cấp và các biện pháp đối kháng (SCM), cùng với Hiệp định Tự vệ (SGA).

1.1.2 Căn cứ pháp lý của biện pháp phòng vệ thương mại

Chống bán phá giá Chống trợ cấp Tự Vệ

1994 Điều IV của GATT 1994 Điều VI và XVI của GATT 1994 Điều XIX của GATT 1994

Hiệp định thực thi điều IV của GATT 1994 (Hiệp định ADA)

Hiệp định trợ cấp và các biện pháp đối kháng (SCM)

Hiệp định Tự vệ (SGA)

Mỗi quốc gia áp dụng quy định riêng về phòng vệ thương mại (PVTM) dựa trên tình hình cụ thể và cách hiểu của mình, trong khi vẫn tuân thủ các nguyên tắc chung của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) Do đó, các vụ điều tra và biện pháp PVTM thực tế tại mỗi quốc gia sẽ phụ thuộc vào quy định nội địa của quốc gia đó.

Biện pháp phòng vệ thương mại (PVTM) được áp dụng để đối phó với hành vi cạnh tranh không lành mạnh và sự gia tăng đột biến của hàng nhập khẩu, với điều kiện cần là phải có hành vi bán phá giá hoặc trợ cấp, cùng với sự gia tăng hàng nhập khẩu Để áp dụng biện pháp này, cần phải chứng minh thiệt hại của ngành sản xuất trong nước, và thiệt hại này phải xuất phát từ các hành vi cạnh tranh không lành mạnh hoặc gia tăng hàng nhập khẩu tương tự Các thành viên không thể áp dụng biện pháp một cách tùy tiện mà phải căn cứ vào mức độ của hành vi cạnh tranh không lành mạnh và thiệt hại của ngành sản xuất Để tăng cường tính công khai và minh bạch trong quá trình điều tra và áp dụng biện pháp, WTO đã thiết lập quy trình và thủ tục nghiêm ngặt mà các nước thành viên phải tuân thủ.

“Cấu trúc các Hiệp định quy định về PVTM gồm:

Các quy định về nội dung bao gồm các điều khoản chi tiết liên quan đến việc xác định tình trạng bán phá giá, trợ cấp và gia tăng hàng nhập khẩu Những quy định này cũng đề cập đến thiệt hại và mối quan hệ nhân quả giữa việc bán phá giá, trợ cấp, gia tăng nhập khẩu và thiệt hại xảy ra.

Các quy định về thủ tục bao gồm các điều khoản liên quan đến quy trình điều tra, thời hạn điều tra, nội dung đơn kiện, thông báo, quyền tố tụng của các bên liên quan, trình tự áp dụng biện pháp tạm thời và quyền khiếu kiện.

Các quy định về thủ tục giải quyết tranh chấp giữa các quốc gia thành viên liên quan đến thuế chống phá giá

Các quy định về thẩm quyền của Ủy ban chống bán phá giá/trợ cấp/tự vệ.” 1

1.1.3 Các biện pháp phòng vệ thương mại

Các biện pháp phòng vệ thương mại giữa các quốc gia phải tuân thủ các quy định của Hiệp định chung về thuế quan và thương mại (GATT) cùng với các hiệp định khác của WTO.

Bài viết của Nguyễn Hằng Nga, Hoàng Thị Hải Hà, Lê Gia Thanh Tùng và cộng sự (2018) cung cấp hướng dẫn chi tiết về việc thực thi các cam kết liên quan đến phòng vệ thương mại và giải quyết tranh chấp Tài liệu này được xuất bản bởi Nhà xuất bản Hồng Đức tại Hà Nội, nhằm hỗ trợ các doanh nghiệp và tổ chức trong việc tuân thủ các quy định và quy trình pháp lý cần thiết.

9 phòng vệ thương mại phổ biến bao gồm: biện pháp chống bán phá giá, biện pháp trợ cấp và biện pháp tự vệ

1.1.3.1 Biện pháp chống Bán phá giá:

Bán phá giá trong thương mại quốc tế là hiện tượng khi hàng hóa được xuất khẩu với giá thấp hơn giá bán tại thị trường nước xuất khẩu Trong khuôn khổ WTO, hành vi này được coi là "cạnh tranh không lành mạnh," gây áp lực lên ngành sản xuất nội địa của nước nhập khẩu.

Cốt lõi của việc xác định bán phá giá là so sánh biên độ chênh lệch giữa giá xuất khẩu và giá thông thường của sản phẩm tại nước xuất khẩu Việc so sánh này cần được thực hiện đối với cùng loại sản phẩm hoặc sản phẩm tương tự.

Vụ kiện chống bán phá giá là quy trình điều tra mà nước nhập khẩu thực hiện đối với hàng hóa từ một hoặc nhiều quốc gia khi nghi ngờ hàng hóa đó bị bán phá giá, gây thiệt hại cho ngành sản xuất nội địa.

Vụ kiện chống bán phá giá là một quy trình hành chính do cơ quan của nước nhập khẩu thực hiện, nhằm giải quyết tranh chấp thương mại giữa ngành sản xuất nội địa và các nhà sản xuất, xuất khẩu nước ngoài Thủ tục này có quy trình tương tự như tố tụng tại tòa án, nên được coi là “thủ tục bán tư pháp” Nếu các bên không đồng ý với quyết định cuối cùng của cơ quan hành chính, họ có quyền khởi kiện ra Tòa án.

Theo quy định của WTO, biện pháp chống bán phá giá chỉ được thực hiện khi cơ quan điều tra của nước nhập khẩu xác nhận sự tồn tại đồng thời của ba yếu tố sau sau khi hoàn tất cuộc điều tra.

“• Hàng hóa nhập khẩu bị bán phá giá (với biên độ phá giá không thấp hơn 2%);

Ngành sản xuất sản phẩm tương tự tại nước nhập khẩu đang phải đối mặt với thiệt hại nghiêm trọng, hoặc có nguy cơ bị thiệt hại đáng kể, cũng như bị cản trở trong việc phát triển ngành sản xuất nội địa.

2 Điều 2.1 Hiệp định về chống bán phá giá (ADA)

3 Nguyễn Tiến Vinh (2007) Chống bán phá giá trong thương mại quốc tế, , xem 26/6/2019

• Có mối quan hệ nhân quả giữa việc hàng nhập khẩu bán phá giá và thiệt hại nói trên.” 4

Cũng theo WTO, “biện pháp chống bán phá giá có thời hạn áp dụng tối đa là

Thời hạn áp dụng quyết định thuế chống bán phá giá là 5 năm, nhưng có thể được gia hạn nhiều lần sau mỗi kỳ rà soát Do đó, thời gian thực tế áp dụng có thể kéo dài lên đến vài chục năm.

Pháp luật Việt Nam về phòng vệ thương mại

1.2.1 Sự hình thành và phát triển pháp luật Việt Nam về phòng vệ thương mại

Trước năm 2002, Việt Nam áp dụng thuế phòng vệ thương mại dưới dạng thuế bổ sung theo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều Luật Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu số 01/1998/QH10 Theo quy định, hàng hóa nhập khẩu sẽ bị đánh thuế bổ sung nếu có giá bán quá thấp so với giá thông thường do bán phá giá, hoặc do sự trợ cấp từ nước xuất khẩu, điều này gây khó khăn cho sự phát triển ngành sản xuất hàng hóa tương tự trong nước.

Hai trường hợp áp dụng thuế bổ sung đối với hàng nhập khẩu chưa được nêu tên cụ thể, nhưng tương ứng với biện pháp chống bán phá giá (CBPG) và biện pháp chống trợ cấp Theo lộ trình gia nhập WTO của Việt Nam, quy định bổ sung trong Luật thuế xuất nhập khẩu 1998 là bước tạm thời để phù hợp với hệ thống pháp luật quốc tế về phòng vệ thương mại Tuy nhiên, các quy định này không đủ cụ thể để áp dụng thực tiễn và còn mâu thuẫn với pháp luật quốc tế, như “giá bán quá thấp” hay “gây khó khăn cho ngành sản xuất”, không phản ánh đúng bản chất của các biện pháp phòng vệ thương mại Do đó, quy định này về cơ bản chưa có giá trị pháp lý và khả năng thực thi tại Việt Nam.

Hệ thống pháp luật về phòng vệ thương mại tại Việt Nam đang được hoàn thiện nhanh chóng nhằm phù hợp với các Hiệp định quốc tế.

Các quy định về phòng vệ thương mại của Việt Nam được xây dựng dựa trên việc nội luật hóa các Hiệp định của WTO, cho thấy sự cam kết của Việt Nam trong việc tuân thủ các quy tắc thương mại quốc tế.

Giai đoạn 2002-2016, hệ thống pháp luật phòng vệ thương mại của Việt Nam đã hoàn thiện với đầy đủ quy định về điều tra và áp dụng các biện pháp phòng vệ thương mại.

Pháp lệnh số 42/2002/PL-UBTVQH, ban hành ngày 25/5/2002 bởi Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về việc áp dụng biện pháp tự vệ trong nhập khẩu hàng hóa nước ngoài vào Việt Nam Pháp lệnh Tự vệ nhằm bảo vệ sản xuất trong nước trước các tác động tiêu cực từ hàng hóa nhập khẩu, đảm bảo sự công bằng trong cạnh tranh và thúc đẩy phát triển kinh tế bền vững.

Pháp lệnh số 20/2004/PL-UBTVQH11, được ban hành vào ngày 29/4/2004 bởi Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về việc chống bán phá giá hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam Pháp lệnh này nhằm bảo vệ sản xuất trong nước và đảm bảo cạnh tranh công bằng trên thị trường.

Pháp lệnh số 22/2004/PL-UBTVQH11, được ban hành vào ngày 29/4/2004 bởi Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về việc chống trợ cấp đối với hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam Pháp lệnh Chống trợ cấp này nhằm bảo vệ ngành sản xuất trong nước và đảm bảo sự công bằng trong thương mại quốc tế.

Nghị định 150/2003/NĐ-CP, ban hành ngày 8/10/2003, của Chính phủ Việt Nam quy định chi tiết thi hành pháp lệnh về tự vệ trong việc nhập khẩu hàng hóa nước ngoài Nghị định này nhằm bảo vệ sản xuất trong nước trước những tác động tiêu cực từ hàng hóa nhập khẩu, đảm bảo sự công bằng trong cạnh tranh và thúc đẩy phát triển kinh tế.

Nghị định số 90/2005/NĐ-CP, ban hành ngày 11/07/2005, quy định chi tiết về việc thi hành một số điều của Pháp lệnh chống bán phá giá hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam, nhằm mục đích bảo vệ sản xuất trong nước và đảm bảo sự công bằng trong thương mại quốc tế Nghị định này là cơ sở pháp lý quan trọng cho việc áp dụng các biện pháp chống bán phá giá, góp phần duy trì ổn định thị trường và phát triển kinh tế.

Ngoài 6 văn bản chính đã đề cập, Chính phủ còn ban hành thêm nhiều văn bản pháp luật liên quan đến việc điều tra và áp dụng các biện pháp phòng vệ thương mại.

Nghị định số 04/2006/NĐ-CP của Chính phủ, ban hành ngày 09/01/2006, quy định về việc thành lập Hội đồng xử lý vụ việc chống bán phá giá, chống trợ cấp và tự vệ, cùng với chức năng, nhiệm vụ và cơ cấu tổ chức của Hội đồng này.

Thông tư 38/2015/TT-BTC quy định chi tiết về thủ tục hải quan, kiểm tra và giám sát hải quan, cũng như các quy định liên quan đến thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu và quản lý thuế đối với hàng hóa xuất khẩu và nhập khẩu.

Pháp luật về phòng vệ thương mại đã có những bước phát triển nhằm tái thiết lập trật tự cạnh tranh giữa hàng hóa nhập khẩu và hàng hóa nội địa, phù hợp với tư duy của chủ nghĩa tự do kinh tế Đồng thời, đây cũng là công cụ quan trọng để bảo vệ ngành sản xuất trong nước trước sự cạnh tranh từ hàng nhập khẩu.

2002, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã ban hành Pháp lệnh số 42/2002/PL-

UBTVQH10 đã quy định về tự vệ trong nhập khẩu hàng hóa nước ngoài vào Việt Nam Năm 2004, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã ban hành Pháp lệnh số 20/2004/PL-UBTVQH11 nhằm chống bán phá giá hàng hóa nhập khẩu và Pháp lệnh số 22/2004/PL-UBTVQH11 để chống trợ cấp đối với hàng hóa nhập khẩu Chính phủ cùng các Bộ, ngành liên quan cũng đã ban hành các nghị định và thông tư hướng dẫn chi tiết thực hiện các quy định trong các pháp lệnh này.

Các công cụ cơ bản trong phòng vệ thương mại

Các công cụ cơ bản trong chính sách vận tải và thương mại (PVTMT) hiện nay thường được hiểu là các quy định về thuế quan và phi thuế quan, nhằm hạn chế việc di chuyển hàng hóa giữa các quốc gia.

Công cụ thuế quan là biện pháp áp dụng thuế đối với từng đơn vị hàng hóa xuất khẩu hoặc nhập khẩu vào quốc gia.

22 Khoản 1 Điều 83 Luật Quản lý ngoại thương 2017

23 Khoản 1 Điều 91 Luật Quản lý ngoại thương 2017

24 Điều 4 Luật Thuế xuất khẩu, Thuế nhập khẩu 2016

Thuế xuất khẩu là loại thuế áp dụng cho hàng hóa xuất khẩu, nhưng hiện nay ít quốc gia thực hiện do cạnh tranh toàn cầu ngày càng khốc liệt Việc miễn thuế xuất khẩu có tác động tích cực trong việc khuyến khích xuất khẩu và nâng cao khả năng cạnh tranh của hàng hóa Thông thường, thuế xuất khẩu chỉ được áp dụng đối với các sản phẩm liên quan đến an ninh quốc gia hoặc những hàng hóa bị hạn chế xuất khẩu, chủ yếu là nguyên liệu không tái tạo và sản phẩm quý hiếm.

Thuế nhập khẩu là loại thuế áp dụng cho hàng hóa nhập khẩu vào quốc gia, đóng vai trò là rào cản trong thương mại quốc tế Hiện nay, nhiều quốc gia đang dần loại bỏ thuế nhập khẩu thông qua các Hiệp định Thương mại Tự do (FTA), giúp giảm chi phí cho hàng hóa giữa các đối tác FTA Để được hưởng mức thuế ưu đãi, hàng nhập khẩu cần tuân thủ quy tắc xuất xứ theo từng FTA Ngoài ra, thuế quan trong phòng vệ thương mại bao gồm các loại thuế nhập khẩu bổ sung, áp dụng khi có biện pháp phòng vệ thương mại, yêu cầu hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam phải chịu thêm thuế trong một khoảng thời gian nhất định.

Thuế nhập khẩu là loại thuế mà các quốc gia áp dụng đối với hàng hóa nhập khẩu từ nước ngoài Khi hàng hóa đến cửa khẩu, hải quan sẽ kiểm tra và tính thuế dựa trên tờ khai hải quan Nguyên tắc chung là thuế nhập khẩu cần được nộp trước khi hàng hóa được thông quan để đưa vào lưu thông nội địa, trừ khi có chính sách đặc biệt Do đó, thuế nhập khẩu được coi là loại thuế dễ thu và chi phí thu cũng tương đối thấp.

Thuế nhập khẩu có những đặc điểm sau 25 :

Tài liệu và ebook là nguồn tài nguyên quý giá cho học sinh, sinh viên trong việc học tập và nghiên cứu Chúng bao gồm các giáo trình, đồ án, luận văn và tài liệu tham khảo đa dạng Các danh mục tài liệu được phân chia theo các môn học khác nhau như Kỹ Thuật, Kinh Tế, và Xã Hội Ngoài ra, thư viện tài liệu cũng cung cấp nhiều bài giảng và thông tin hữu ích về sức khỏe, giáo dục, và kỹ năng mềm Việc truy cập và sử dụng các tài liệu này giúp nâng cao kiến thức và kỹ năng cho người học.

Thuế nhập khẩu áp dụng cho các hàng hóa được phép vận chuyển qua biên giới, trong khi đó, các loại hình dịch vụ không chịu tác động của thuế này.

Thuế nhập khẩu có tính chất phức tạp, không hoàn toàn thuộc loại thuế trực thu hoặc gián thu Khi nhà nhập khẩu nộp thuế và tiêu dùng hàng hóa nhập khẩu, khoản thuế này được xem là thuế trực thu Ngược lại, nếu nhà nhập khẩu đã nộp thuế và bán hàng hóa cho người khác, khoản thuế này sẽ mang tính chất thuế gián thu.

Thuế nhập khẩu đóng vai trò quan trọng trong quản lý hoạt động kinh tế đối ngoại của mỗi quốc gia, đặc biệt trong bối cảnh ngoại thương là một trong những hoạt động chủ chốt của nền kinh tế Công cụ này giúp Nhà nước kiểm soát và điều chỉnh các giao dịch thương mại quốc tế, từ đó góp phần vào sự phát triển kinh tế bền vững.

Thuế nhập khẩu chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố, đặc biệt là quá trình hội nhập kinh tế quốc gia Các yếu tố chính ảnh hưởng đến chính sách thuế bao gồm nhu cầu thu ngân sách nhà nước, thực trạng kinh tế xã hội, và sự phù hợp của chính sách thuế nhập khẩu với chiến lược phát triển kinh tế của Nhà nước.

Thuế quan nhập khẩu giúp các nhà sản xuất trong nước mở rộng quy mô sản xuất và tiêu thụ sản phẩm, nhờ vào việc giảm bớt sự cạnh tranh từ hàng nhập khẩu Điều này không chỉ tạo ra thêm công ăn việc làm mà còn nâng cao chất lượng cuộc sống trong xã hội.

+ Thuế quan nhập khẩu làm tăng nguồn thu cho ngân sách nhà nước

+ Thuế quan nhập khẩu tạo điều kiện cho những ngành công nghiệp còn non trẻ, có khả năng cạnh tranh còn yếu trên thị trường quốc tế phát triển

+ Thuế quan nhập khẩu có thể điều chỉnh hàng hóa từ thị trường nước ngoài vào thị trường trong nước

Thuế quan nhập khẩu ảnh hưởng đến việc phân phối thu nhập giữa các tầng lớp dân cư, chuyển giao lợi ích từ người tiêu dùng sản phẩm nội địa sang nhà sản xuất trong nước và chính phủ Chính phủ có thể sử dụng nguồn thu từ thuế quan để thực hiện các chương trình phúc lợi xã hội, góp phần cải thiện đời sống cho người nghèo.

Thuế nhập khẩu làm tăng giá hàng hóa trong nước, khiến người tiêu dùng phải gánh chịu chi phí cao hơn so với hàng nhập khẩu Hệ quả là nhu cầu tiêu dùng đối với hàng nhập khẩu giảm, dẫn đến hạn chế mức nhập khẩu và ảnh hưởng tiêu cực đến quyền lợi của người tiêu dùng.

Thuế quan nhập khẩu có thể khuyến khích những doanh nghiệp sản xuất kém hiệu quả trong nước, dẫn đến tổn thất cho các nhà sản xuất và ảnh hưởng tiêu cực đến sự phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia.

Thuế quan nhập khẩu, nếu duy trì lâu dài, có thể dẫn đến tình trạng buôn lậu và trốn thuế, làm giảm hiệu quả của sản xuất nội địa và ảnh hưởng tiêu cực đến đời sống xã hội.

Ngày đăng: 29/06/2021, 10:59

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w