1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Tài liệu Bồi dưỡng thường xuyên năm học 2016-2017 - Chuyên đề 1: Kỹ năng làm việc với cộng đồng

53 10 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Kỹ Năng Làm Việc Với Cộng Đồng
Trường học Sở Giáo Dục Và Đào Tạo Quảng Bình
Chuyên ngành Giáo Dục Thường Xuyên
Thể loại chuyên đề
Năm xuất bản 2016-2017
Thành phố Quảng Bình
Định dạng
Số trang 53
Dung lượng 0,96 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tài liệu Bồi dưỡng thường xuyên năm học 2016-2017 - Chuyên đề 1: Kỹ năng làm việc với cộng đồng sẽ giúp cho giáo viên GD-DN xác định được các kĩ năng chủ yếu và hình thành các kỹ năng cần thiết để làm việc với cộng đồng. Chuyên đề với các nội dung chủ yếu gồm: cộng đồng và các đặc điểm của cộng đồng; vấn đề cộng đồng và phương pháp tiếp cận giải quyết vấn đề cộng đồng; những kĩ năng cần thiết để giáo viên GDTX làm việc với cộng đồng... Mời các bạn cùng tham khảo.

Trang 1

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO QUẢNG BÌNH

CHUYÊN ĐỀ 1

KỸ NĂNG LÀM VIỆC VỚI CỘNG ĐỒNG

(NỘI DUNG 2 - BDTX NĂM HỌC 2016 - 2017)

Trang 2

ĐẶT VẤN ĐỀ

Từ sau khi Luật Giáo dục (2005) được ban hành, Giáo dục thường xuyên (GDTX) trở thành một bộ phận trong hệ thống giáo dục quốc dân Các cơ sở của GDTX có mặt ở hầu khắp các vùng miền của cả nước, tạo điều kiện thuận lợi cho mọi người dân có cơ hội được học tập thường xuyên, học tập suốt đời Chỉ tính riêng loại hình Trung tâm học tập cộng đồng (TTHTCĐ), tại thời điểm tháng 6 năm 2016, cả nước đã có 11.057 trung tâm học tập cộng đồng (đạt tỷ lệ 99,33% số

xã phường có TTHTCĐ), trong đó có 4650 TTHTCĐ kết hợp với nhà VHTT cấp

xã ( đạt tỷ lệ 42%) Ở tỉnh ta, đến thời điểm này có 159/159 số xã, phường, thị trấn thành lập TTHTCĐ, trong đó, có 39 TTHTCĐ đã kết hợp với nhà VHTT cấp xã trong việc tận dụng cơ sở vật chất, phối hợp để tổ chức các hoạt động ở cộng đồng

Dù mới được thành lập và phát triển nhưng TTHTCĐ đã bước đầu

chứng tỏ là một mô hình giáo dục hữu hiệu trong việc tạo cơ hội học tập suốt đời cho người dân Qua đó, góp phần nâng cao chất luợng cuộc sống người dân và phát triển cộng đồng bền vững

TTGD-DN là cơ sở giáo dục duy nhất trên địa bàn của huyện, thị, thành phố làm công tác GDTX TTGD-DN có đội ngũ cán bộ, giáo viên có trình độ chuyên môn và am hiểu về GDTX, về TTHTCĐ.Vì vậy, không thể ai khác, các TTGD-DN cần và có khả năng trở thành các trung tâm nguồn để hỗ trợ, tư vấn và làm việc với cộng đồng ở các huyện, thị, thành phố

Để đạt kết quả cao trong công tác GD-DN, giáo viên cần phải có các

kĩ năng làm việc với cộng đồng

Chuyên đề này sẽ giúp cho giáo viên GD-DN xác định được các kĩ năng chủ yếu và hình thành các kỹ năng cần thiết để làm việc với cộng đồng

Có được các kỹ năng nói trên, giáo viên GD-DN sẽ biết cách lựa chọn,

sử dụng những kĩ năng phù hợp, hiệu quả và có nhiều thuận lợi hơn khi tiếp cận cộng đồng và kết quả làm việc với cộng đồng sẽ cao hơn

Vì vậy, chuyên đề này có các nội dung chủ yếu sau:

1 Cộng đồng và các đặc điểm của cộng đồng;

2 Vấn đề cộng đồng và phương pháp tiếp cận giải quyết vấn đề cộng đồng;

3 Những kĩ năng cần thiết để giáo viên GDTX làm việc với cộng đồng

Như vậy, sau khi học xong chuyên đề này, cán bộ/GV các TTGD-DN sẽ có một số hiểu biết về cộng đồng, các phương pháp tiếp cận giải quyết vấn đề cộng đồng và những kiến thức, kĩ năng cơ bản, cần thiết để làm việc với cộng đồng, đồng thời biết tiến hành những công việc cần thiết để thực hiện các nhiệm vụ khi làm việc với cộng đồng

Trang 3

A MỤC TIÊU

I MỤC TIÊU CHUNG

- Xác định được lí do và sự cần thiết làm việc với cộng đồng

- Phân tích và thực hành được các kĩ năng cơ bản khi làm việc với cộng đồng

II MỤC TIÊU CỤ THỂ

1 Về kiến thức

- Xác định được lí do, trình bày được sự cần thiết của làm việc với cộng đồng

- Xác định được các vấn dề của cộng đồng và phương pháp tiếp cận giải quyết vấn đề cộng đồng

2 Về kĩ năng

- Nêu được đặc điểm của cộng đồng

- Nêu được một số kĩ năng cần thiết để làm việc với cộng đồng

- Vận dụng được kĩ năng cần thiết để làm việc với cộng đồng

3 Về thái độ

Có thái độ tích cực và có ý thức trách nhiệm khi làm việc với cộng đồng

Trang 4

Xã hội học, Dân tộc học, Y học

Khi nói tới cộng đồng, người ta thường nhắc đến những “nhóm xã hội"

có một hay nhiều đặc điểm cơ bản nào đó, nhấn mạnh đến đặc điểm chung của những thành viên trong cộng đồng

Theo quan điểm mácxít, cộng đồng là mối quan hệ qua lại giữa các cá nhân, được quyết định bởi sự cộng đồng hoá lợi ích giống nhau của các thành viên, về các điều kiện tồn tại và hoạt động của những người hợp thành cộng đồng

đó, bao gồm các hoạt động sản xuất vật chất và các hoạt động khác của họ, sự gần gũi giữa các cá nhân về tư tưởng, tín ngưỡng, hệ giá trị chuẩn mực cũng như các quan niệm chủ quan của họ về các mục tiêu và phương tiện hoạt động

Quan niệm về cộng đồng theo quan điểm mácxít là quan niệm rất rộng,

có tính khái quát cao, mang đặc thù của kinh tế - chính trị Dấu hiệu đặc trưng chung của nhóm người trong cộng đồng này chính là “điều kiện tồn tại và hoạt động”', là “lợi ích” chung, là “tư tưởng”, “giá trị” chung Thực chất đó

là cộng đồng mang tính giai cấp, ý thức hệ

Dấu hiệu/đặc điểm để phân biệt cộng đồng này với cộng đồng khác có thể là điều gì đó thuộc về con người và xã hội loài người: màu da, đức tin, tôn giáo, lứa tuổi, nhu cầu, sở thích, nghề nghiệp Nhưng cũng có thể là vị trí địa lí của khu vực (địa vực), nơi sinh sống của nhóm người đó như làng, xã, quận huyện, quốc gia, châu lục Những dấu hiệu này chính là những ranh giới để phân chia cộng đồng

Số lượng thành viên của cộng đồng có thể là vài chục người, hàng trăm người, cũng có thể là hàng triệu người, tỉ người

Cộng đồng những người dân cùng sống chung trong một thôn, xóm, làng, xã, một quổc gia, và có thể là toàn thế giới, cùng chia sẻ với nhau mảnh

Trang 5

đất sinh sống gọi là cộng đồng thể Có nhiều cộng đồng người, tuy không cùng sống chung một địa vực, nhưng lại có chung những đặc điểm, sở thích, nhu cầu nào đó thì loại cộng đồng đó được coi là cộng đồng tính

Mỗi người, cùng một lúc có thể thuộc nhiều cộng đồng khác nhau: vừa

là thành viên của cộng đồng phường, xã thuộc cộng đồng người Việt Nam (sống trên đất Việt Nam), đồng thời là thành viên của cộng đồng những người

da vàng, cộng đồng yêu chuộng hoà bình, đấu tranh vì hoà bình

Tóm lại, trong đời sống xã hội, cộng đồng là danh từ chung chỉ một tập hợp người nhất định nào đó, với hai dấu hiệu quan trọng: 1) họ cùng tương tác, chia sẻ với nhau; 2) có chung với nhau một hoặc vài đặc điểm vật chất hay tinh thần nào đó

2 Cá nhân trong cộng đồng

Khi xem xét cộng đồng, không thể không kể đến cá nhân, cá nhân và cộng đồng là hai mặt của vấn đề: không có cá nhân thì không thể có cộng đồng, ngược lại, không có cộng đồng thì không có những cá nhân Con người với bản chất xã hội của nó là tương tác: tương tác với tự nhiên, với xã hội và với chính mình để tồn tại và phát triển

Về mối quan hệ của cá nhân với cộng đồng, M Scott Peck đã diễn đạt một cách hình tượng như sau: “Không có rủi ro nào không gây ra sự tổn thương; không có cộng đồng nào không có sự tổn thương, và suy ra, không có

sự sống nào nằm ngoài cộng đồng” Điều này khẳng định rằng mối quan hệ cá nhân với cộng đồng là mối quan hệ tất yếu, không thể thiếu được, như cá cần nước, như người cần không khí Mỗi cá nhân đều thuộc về một cộng đồng nhất định nào đó và mỗi cá nhân đều mang một “dấu ấn" cộng đồng nào đó

Trong phát triển cộng đồng, người ta nghiên cứu, đề cập đến cá nhân

cả hai khía cạnh Khía cạnh thứ nhất cá nhân trong cộng đồng chính là thành viên của cộng đồng; chỉ thông qua sự tương tác của cá nhân trong cộng đồng mới tạo ra cộng đồng” Sự tương tác đó không chỉ tạo ra ý thức cộng đồng trong mỗi cá nhân, mà những hành vi tốt trong quá trình tương tác sẽ được cộng đồng khuyến khích, tích lũy qua thời gian trở thành phong tục, tập quán của cộng đồng, góp phần làm nên truyền thống văn hoá cộng đồng Người ta cùng nghiên cứu vai trò của một số cá nhân trong quá trình tương tác với các thành viên khác trong cộng đồng Khía cạnh thứ hai, trong phát triển cộng đồng, khi nói tới “vấn đề” của cộng đồng, người ta không chỉ đề cập đến “vấn

đề của một tổ chức/cơ quan/một “thực thể" chung, mà người ta còn đề cập đến vấn đề của một số cá nhân/thành viên trong cộng đồng

Trang 6

3 Sự khác biệt giữa “cộng đồng” và “xã hội”

Theo quan niệm của nhà xã hội học James M Henslin, “xã hội” là “tập hợp người cùng chia sẻ với nhau về văn hoá và địa lí”

“Cộng đồng” cũng là những tập hợp người và cũng có thể chia sẻ với nhau địa vực hoặc chia sẻ với nhau những đặc tính, giá trị khác, trong đó có văn hoá

Một điều quan trọng là phải tìm ra được sự khác nhau giữa cộng đồng

và xã hội Chỉ khi nào nhận ra được sự khác biệt giữa cộng đồng với xã hội chúng ta mới có cái nhìn thấu đáo về quan điểm phát triển cộng đồng

Thuật ngữ “cộng đồng" và thuật ngữ “xã hội" gần nghĩa với nhau, bởi chúng có nhiều điểm giống nhau, giao thoa với nhau, nhiều nhóm xã hội trong một cộng đồng, nhiều cộng đồng trong một xã hội

Số lượng người, quy mô của “cộng đồng”, “xã hội” không phải là dấu hiệu chỉ ra sự khác biệt của các phạm trù này Sự khác biệt của các phạm trù này chính là dấu hiệu thứ hai, đó là mức độ/độ đậm đặc trong “sự tương tác/tác động qua lại” Theo nhà xã hội học người Đức Ferdinand Tonnies, sự khác nhau cơ bản của phạm trù này chính là “sự liên kết giữa các thành viên" Theo ông, giữa cộng đồng và xã hội có một sự cách biệt nhất định Xã hội là khái niệm rộng lớn hơn, cộng đồng nằm trong xã hội, nhung cộng đồng có sự gắn kết chặt chẽ hơn, bền vững hơn Thành viên cộng đồng thường thống nhất với nhau bởi ý chí, nguyện vọng (unity of will)

4 Phân loại cộng đồng

Tuỳ theo mục đích nghiên cứu mà người ta phân loại cộng đồng theo những dấu hiệu khác nhau Trong một số tài liệu, người ta chia cộng đồng theo ba nhóm như sau:

* Nhóm cộng đồng theo địa vực: thôn xóm, làng bản, khu dân cư, phường

xã, quận huyện, thị xã, thành phố, khu vực, châu thổ hoặc toàn cầu

Theo quy mô tỉnh, thành phố thì nước ta hiện có 64 tỉnh, thành phố

Theo quy mô xã phường thì tỉnh ta có 159 xã, phường, thị trấn Theo quy mô thôn xóm, khu dân cư (nhỏ hơn xã phường) thì chúng ta có hàng trăm ngàn cộng đồng

* Nhóm cộng đồng theo nền văn hoá: Nhóm này bao gồm cộng đồng theo

hệ tư tưởng, văn hoá, tiểu văn hoá, đa sắc tộc, dân độc thiểu số Nhóm này cũng có thể bao gồm cả cộng đồng theo nhu cầu và bản sắc, như cộng đồng người khuyết tật, cộng đồng người cao tuổi

* Nhóm cộng đồng theo tổ chức: được phân loại từ các tổ chức không chính thức như tổ chức gia đình, dòng tộc, hội cho đến những tổ chức

Trang 7

chính thức chặt chẽ hơn như các tổ chức đoàn thể, các tổ chức chính trị,

tổ chức hành chính nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức hiệp hội nghề nghiệp, xã hội Từ phạm vi nhỏ là một đơn vị hoặc trong phạm vi quốc gia, cho đến phạm vi quốc tế

Có thể phân loại cộng đồng theo đặc điểm khác biệt về kinh tế - xã hội: cộng đồng khu vực đô thị; cộng đồng nông thôn

Trong “phát triển cộng đồng” người ta thường không hạn chế khái niệm cộng đồng, về mặt nguyên lí, phương pháp phát triển cộng đồng đều giống nhau, tuy nhiên, cách áp dụng các phương pháp này có thể khác nhau, phụ thuộc nhiều vào đặc điểm cấu kết cộng đồng Trong chuyên đề này, “cộng đồng” được hiểu là tập hợp người dân cùng chung sống trên một vị trí địa lí cấp cơ sở, có quan hệ với nhau, gắn kết với nhau bằng tình làng nghĩa xóm, chia sẻ với nhau những nhu cầu chung, những mối quan tâm chung

Trong bối cảnh Việt Nam, cộng đồng được hiểu là một chỉnh thể thống nhất bao gồm những người dân sinh sống trong đơn vị hành chính cơ sở (dân cư): xã/phường hay đơn vị hành chính dưới xã/phường là thôn/làng/bản và tổ dân cư/khu dân cư cùng với hệ thống các đoàn thể, tổ chức chính trị-xã hội,

tổ chức kinh tế, tổ chức nghề nghiệp mà những người dân đó là thành viên, dưới sự lãnh đạo của Đảng và sự quản lí của Nhà nước

Theo khái niệm này, cộng đồng là một đơn vị hành chính, kinh tế- xã hội có tính độc lập tương đối so với các cộng đồng khác trong một quốc gia Trong mỗi cộng đồng có các thành viên cộng đồng là cá nhân hoặc gia đình đang sinh sống trên địa bàn, có những tổ chức hành chính nhà nước, tổ chức

xã hội mà các thành viên cộng đồng tham gia sinh hoạt trên địa bàn dân cư; các tổ chức kinh tế, dịch vụ mà thành viên cộng đồng tham gia làm việc (cũng có thể có những thành viên không làm việc ở đó)

Ở Việt Nam hiện nay, các tổ chức chính trị-xã hội đó có thể là các tổ chức trong khối Mặt trận Tổ quốc xã phường: Đoàn Thanh niên Cộng sản Hổ Chí Minh phường/ xã; Hội/ chi hội Phụ nữ; Hội/ chi hội Nguời cao tuổi; Hội/ chi hội Cựu chiến binh; Hội Nông dân (ở địa bàn nông thôn); tổ chức tôn giáo (nếu có) Tổ chức chính quyền: Ủy ban nhân dân; Hội đồng nhân dân; một

sổ tổ chức kinh tế địa phương Các đơn vị sự nghiệp trên địa bàn như trạm y

tế xã/ phường, trường tiểu học, THCS, nhà mẫu giáo, nhà trẻ ; Đảng bộ; chi

bộ Đảng

Khi nói đến sức mạnh cộng đồng là nói tới sức mạnh của người dân và của các tổ chức, các thiết chế có trong cộng đồng, theo một thể thống nhất

Trang 8

1 Đối với mỗi cá nhân

Cộng đồng là đơn vị xã hội gần gũi nhất của con người Cộng đồng để lại “dấu ấn" trong mỗi thành viên của nó: Ngoài gia đình, con người cần có môi trường xã hội để giao tiếp, tiếp nhận kiến thức, kinh nghiệm và áp dụng

nó trong đời sống xã hội Cộng đồng là môi trường gần nhất với mỗi người,

từ khi đứa trẻ rời khỏi mái nhà, đi mẫu giáo trong khu dân cư, rồi đi học ờ trường tiểu học, THCS ở địa phương ; những dấu ấn về cha mẹ, về bạn bè, về những người thân, về cây đa, mái đình Cơ sở của tình yêu quê hương, đất nước chính là tình yêu cộng đồng Tình cảm cộng đồng được hình thành trong thời gian này Nhiều người được may mắn, sinh ra và lớn lên, trưởng thành, đi học và sau khi được đào tạo đã trở về làm việc, cống hiến ở ngay địa phương quê hương

Cộng đồng là nơi mà mỗi con nguòi, mỗi công dân thể hiện mình như một cá thể và như một thành viên xã hội Mỗi người là một thành viên của một hoặc nhiều tổ chức nào đó trong cộng đồng: là hội viên Hội Phụ nữ, hội viên Hội Nông dân, xã viên hợp tác xã tiểu thủ công nghiệp Với các tổ chức

đó, các thành viên có quyền bầu cử, ứng cử vào các cấp lãnh đạo, có quyền tham gia ý kiến, đồng ý hay không đồng ý về một vấn đề gì đó Các thành viên được gia nhập và tham gia hoạt động theo sở thích ở cộng đồng, được đóng góp khả năng của mình cho sự phát triển chung của cộng đồng mà không bị coi rẻ, bị phân biệt, bị lãng quên Thông qua hoạt động tương tác trong cộng đồng mà mỗi cá thể hình thành và phát triển năng lực, tính cách, đạo đức của một người công dân

Cộng đổng là nơi nuôi dưỡng ước mơ, hi vọng của con người và là nơi thực hiện ước mơ, hi vọng đó Đồng thời cộng đồng là nơi đáp ứng những nhu cầu, mong muốn của con người Ước mơ, mong muốn, nhu cầu xuất hiện

ở mỗi người trong quá trình người đó tương tác với tự nhiên, với xã hột với chính cuộc sống của mình Cộng đồng là môi trường làm nảy sinh những mong muốn, nhu cầu từ sự tương tác với xã hội, với tự nhiên, với công việc diễn ra hàng ngày tại cộng đồng Cộng đồng nâng đỡ và hiện thực hoá những ước mơ, nhu cầu đó tuỳ vào tính tích cực và năng lực thực tế của mỗi người Với những người có khó khăn, cộng đồng tạo điều kiện không chỉ bằng tinh thần mà bằng cả vật chất Ví dụ, hiện nay ở Việt Nam, mỗi cộng đồng đều có quỹ “khuyến học, khuyến tài'" nhằm khen thưởng, động viên những học sinh học tốt và trợ giúp cho những học sinh nghèo vượt khó vươn lên Đây là một hình thức rất thiết thực để giúp đỡ những tài năng của đất nuớc

Cộng đồng là nơi chở che, bảo vệ thành viên của nó khỏi những tệ nạn

xã hội và là nơi con người luôn được tha thứ, được đón nhận trở lại khi người

Trang 9

nào đó lầm đường, lạc lối trở về Không có nơi nào tốt hơn gia đình, những người thân thích, cộng đồng bảo vệ lẫn nhau trước những nguy cơ hiểm họa , những rủi ro bất thường trong cuộc sống Cũng tương tự như vậy, khi con nguời có những lỗi lầm nào đó, nơi đầu tiên người ta có thể trở về để mong được tha thứ, đó chính là gia đình và cộng đồng Người Việt Nam có câu “Đánh kẻ chạy đi chứ không ai đánh người quay lại” Điều này nói lên lòng vị tha của cộng đồng, có những người mắc tệ nạn xã hội hoặc phải vào tù, nhưng khi ra tù được gia đình và cộng đồng giúp đỡ đã hối cải và tái hoà nhập cộng đồng

2 Đối với đất nước - quốc gia

Mỗi cộng đồng là một tế bào của đất nước, làm ra của cải vật chất, đóng góp chung vào sự phát triển kinh tế chung của xã hội Không có cộng đồng, không có đất nuớc; cộng đồng không lành mạnh, không thể có đất nước mạnh

Về khía cạnh kinh tế, cộng đồng là đơn vị kinh tế tổng hợp, có thể là nông nghiệp, dịch vụ, công nghiệp Kinh tế cộng đồng đóng góp chung vào nền kinh tế - xã hội nuôi sống con người Cộng đồng là thị trường tiêu thụ hàng hoá, sản phẩm, dịch vụ , sự tiêu dùng đó là động lực, là sự kích thích để sản xuất

Về khía cạnh văn hoá xã hội, mỗi cộng đồng mang một bản sắc văn hoá riêng Những đặc thù và cốt cách của cộng đồng này không hoàn toàn trùng lặp với các cộng đổng khác Sự khác biệt đó làm nên tính đa dạng trong văn hoá của đất nước, “đa dạng trong thống nhất”

Về khía cạnh hành chính nhà nước, an ninh quốc phòng, cộng đồng là đơn vị hành chính công (cấp dịch vụ công: cho nhân dân, bảo vệ trật tự, trị an cho dân, đồng thời là đơn vị cung cấp các nguồn lực, đảm bảo an ninh quốc gia, bảo vệ đất nước khi cần thiết

III CÁC YẾU TỒ TẠO THÀNH CỘNG ĐỒNG

Cộng đồng được hình thành dưới tác động của nhiều yếu tố, bao gồm: địa vực cư trú; kinh tế và văn hoá

1 Yếu tố địa vực

Nói đến cộng đồng là nói đến một tập hợp người định cư trên một vùng đất nhất định, đó là yếu tố địa vực Yếu tố địa vực bao gồm yếu tố vị trí địa lí, điều kiện tự nhiên của khu vực Đây cũng là yếu tố có giá trị tinh thần và tạo nên sự gắn kết tập thể Yếu tố địa vực được xác định trong quá trình lịch sử,

là cơ sở để ta phân biệt cộng đồng này với cộng đồng khác Đường phân chia ranh giới thường lấy một số mốc của tự nhiên như sông núi, đường sá Tuy nhiên, trên thực tế cũng có nhiều nơi đường phân chia ranh giới chỉ là đường

vô hình được các cộng đồng thoả thuận và chấp nhận Ý thức về địa vực là

Trang 10

hạt nhân tạo nên tâm thức chung của cộng đồng, chẳng hạn, tình cảm đồng hương của những người đã từng sinh ra và chung sống trong một địa vực nhất định thường rất sâu nặng, dù họ có còn ở đó hay đã rời đến một nơi ở mới nhưng họ vẫn rất dễ gần với nhau trong quan hệ

Xuất phát từ sự khác biệt đa dạng về nghề nghiệp giữa cộng đồng nông thôn và cộng đồng đô thị nên yếu tố địa vực của hai dạng cộng đồng này là khác nhau Ở nông thôn, do cuộc sống gắn liền với thiên nhiên, ruộng đất, sông, núi, nên ý thức về địa vực rất sâu sắc Trong khi đó, các hoạt động phi nông nghiệp ở các cộng đồng thành thị không tạo nên sự gắn kết chặt chẽ giữa các thành viên trong cộng đồng với các địa vực cư trú

2 Yếu tố kinh tế

Yếu tố kinh tế ở đây chủ yếu nói tới các hoạt động kinh tế hay nghề nghiệp Nó không chỉ tạo ra cho cộng đồng một sự bảo đảm về vật chất để mọi nguời cùng nhau tồn tại mà còn có các ý nghĩa khác sau:

Việc có cùng một nghề hay vài nghề chính trong cộng đồng sẽ liên quan đến sự tương đồng về yếu tố địa vị kinh tế, sở hữu, cách thức làm ăn, thị trường nguyên liệu, sản phẩm tiêu thụ chung, cho đến việc cùng thờ chung một ông tổ làng nghề đã đưa đến cho cộng dồng một lớp vỏ liên kết về tinh thần Các làng nghề tiểu thủ công nghiệp trong xã hội nông thôn nước ta, các phường hội trong các đô thị cổ là những kiểu liên kết cộng đồng dựa trên cơ sở kinh tế

Khi có chung nghề nghiệp thì lợi ích kinh tế được gắn chặt trong hệ thống sản xuất, vốn, sức lao động, tư liệu sản xuất Các yếu tố này đã gắn chặt các thành viên trong cộng đồng với nhau Yếu tố nghề nghiệp ở nông thôn biểu hiện sự gắn kết cộng đồng rõ rệt hơn ở thành thị Ở thành thị, sự gắn kết theo nghề nghiệp là không chặt chẽ vì nghề nghiệp đa dạng, sự chuyển nghề cũng dễ dàng

Do đó, sự liên kết hầu như chỉ xảy ra ở các nhóm có cùng công việc

3 Yếu tố văn hoá, xã hội

Yếu tố văn hoá cộng đồng gồm ba yếu tố chính: tộc người, tôn giáo - tín ngưỡng và hệ giá trị chuẩn mực

Tộc người gồm tộc người chủ thể trong một quốc gia và các tộc người

thiểu số Nhóm tộc người chủ thể không chỉ đóng vai trò liên kết trong tộc người đó, mà còn phải thể hiện vai trò liên kết các tộc người thiểu số khác nhau và với chính họ Chẳng hạn, ở Việt Nam, người Kinh (Việt) chiếm đa

số, ngoài việc tạo mối liên kết trong nhóm người Kinh thì việc tạo mối liên kết giữa người Kinh và người thuộc các dân tộc thiểu số khác và mối liên kết giữa các dân tộc thiểu số với nhau luôn được chú trọng và tạo ra mối liên kết cộng đồng các dân tộc ở Việt Nam

Trang 11

Trên bình diện quốc gia, hệ tư tưởng, các giá trị chuẩn mực và các nghi

lễ là văn hoá của tộc người chủ thể Các dân tộc thiểu số khác, một mặt họ có

ý thức theo nghi lễ chung nhưng mặt khác họ vẫn giữ các nghi lễ riêng của

họ, đó là bản sắc văn hoá riêng

Quá trình di dân trong lịch sử đã chia thành nhiều tộc người sinh sống trên các khu vực địa lí khác nhau, mỗi tộc người có điều kiện sinh thái, kinh

tế, xã hội khác nhau cho dù họ cùng xuất thân từ một nguồn gốc chủng tộc hay nguồn gốc văn hoá Đặc trưng văn hoá thực sự là những yếu tố liên kết cộng đồng được biểu hiện qua ngôn ngữ, phong tục, tập quán, nghi lễ của các tộc người Môi trường xã hội ít có biến đổi thì các yếu tố trên lại càng có vị trí quan trọng và góp phần vào quá trình củng cố, đoàn kết xã hội trong cộng đồng

Một số nét trong bản sắc văn hoá không mang ý nghĩa tích cực cho sự phát triển thì chúng dần bị mai một Những yếu tố bản sắc của dân tộc không làm cản trở đến sự phát triển thì sẽ được duy trì, thừa kế Đây cũng là một trong những căn cứ để trong thập kỷ văn hóa (1937- 1997), UNESCO đã phát động các quốc gia thành viên coi trọng yếu tố văn hoá truyền thống (tộc người) trong sự phát triển

Tôn giáo, tín ngưỡng: Đây là yếu tố củng cố sự liên kết cộng đồng trên

cơ sở niềm tin Thực tế lịch sử cho thấy đây là một yếu tố có tính chất bền vững cho sự tồn tại của các cộng đồng dân cư Bởi vì, khi có chung một niềm tin và tín ngưỡng thì con người dễ chia sẻ được những ước nguyện về mặt tinh thần với nhau

Các tổ chức tôn giáo cũng là các tổ chức tham gia tích cực vào các hoạt động xã hội Các hoạt động xây dựng đạo lí hướng thiện, tu thân của nhiều tôn giáo đã góp phần vào nhiều hoạt động xã hội của cộng đồng bằng các thái độ tự nguyện, dấn thân và không vụ lợi Các hoạt động xã hội của các tổ chức tôn giáo được thiết lập trên cơ sở tín ngưỡng, góp phần củng cố sự liên kết trong cộng đồng

Hệ giá trị, chuẩn mực: Mỗi cộng đồng xác định cho mình một hệ giá trị, chuẩn mục riêng với tinh chất là các định chế xã hội quy định các nhận thức và hành vi của các thành viên trong cộng đồng (luật bất thành văn) Nó quy định cụ thể các thành viên trong cộng đồng phải làm gì, làm như thế nào, các quy chế khen thưởng, xử phạt ra sao

Khi các thành viên tuân theo các giá trị chuẩn mực của cộng đồng thì

sẽ bảo đảm sự thống nhất và đoàn kết trong cộng đồng

Hệ giá trị chuẩn mực của cộng đồng được xây dựng trên cơ sở nhận thức, quan niệm và tập quán của từng cộng đồng Vì vậy, có những quan

Trang 12

niệm mà cộng đồng này chấp nhận và tuân theo, nhưng ở cộng đồng khác lại thấy không thể chấp nhận được

IV NHỮNG YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN SỰ HỘI NHẬP CỦA CỘNG ĐỒNG

Sự hội nhập của cộng đồng ở đây được hiểu là sự gắn kết của các con người riêng biệt lại với nhau để tạo nên một “thực thể thống nhất” hay một

“tổng thể bền chặt”

Những yếu tố địa vực tự nhiên, kinh tế và văn hoá đã là những điều kiện tác động để hình thành cộng đồng Những yếu tố đó là rất cơ bản, rất quan trọng nhưng trong một chừng mực nhất định, mang tính vĩ mô, mang tính lịch sử chúng ta có thể và cần thiết phải xem xét ở các khía cạnh khác như khía cạnh “tâm lí xã hội” để nhìn nhận thấu đáo cơ chế hình thành sự kết dính của cộng đồng, hay là sự “hội nhập" của cộng đồng, tức tác động đến sự liên kết bền chặt của những người dân với nhau để tạo sức mạnh cho họ, để

từ đó làm căn cứ phát triển phương pháp phát triển cộng đồng

Cộng đồng là một tổng thể, các bộ phận của nó quan hệ với nhau, tác động qua lại với nhau, phụ thuộc lẫn nhau Không dễ dàng tách một bộ phận nào của cộng đồng và coi đó là nguyên nhân gây ra những vấn đề của cộng đồng Khó có thể nói đâu là nguyên nhân, đâu là hậu quả của bất cứ một vấn

đề nào nảy sinh trong cộng đồng Các nhà khoa học xã hội, đặc biệt là tâm lí học xã hội đã chỉ ra một số yếu tố sau đây tạo tác động đến sự cấu kết của nhóm xã hội mà cộng đồng là một nhóm xã hội

1 Đoàn kết cộng đồng và ý thức cộng đồng

Đoàn kết cộng đồng là sự gắn kết giữa các thành viên cộng đồng với nhau, giữa các thành viên với lãnh dạo, giữa các tổ chức với thành viên của mình, giữa các tổ chức với nhau vì một mục đích chung nào đó

Đoàn kết cộng đồng luôn được các nhà nghiên cứu cộng đồng coi là đặc tính hàng đầu của mỗi cộng đồng Đây cũng là những mục tiêu mà các cộng đồng mong muốn đạt được và duy trì

Ý thức cộng đồng là ý chí và tình cảm của những thành viên cộng đồng

có những mối liên hệ về mặt huyết thống hoặc mối liên hệ láng giềng Quá trình tổ chức đời sống xã hội bởi các thiết chế xã hội lại càng thống nhất ý thức cộng đồng qua một số giá trị, chuẩn mực và biểu tượng riêng

Ý thức cộng đồng được hình thành và phát triển thông qua nhiều con đường, trong đó có con đường kế thừa truyền thống và quá trình tương tác, giao lưu giữa mọi người với nhau Trong quá trình trưởng thành của con người, mỗi người đều gặp và trải nghiệm, có quan hệ với nhiều người khác

Trang 13

Một đứa trẻ khi mới sinh ra có quan hệ đầu tiên với người mẹ, với gia đình mình, tiếp theo đó là cộng đồng bạn bè trong nhà trẻ, nhà mẫu giáo, lớp học, trường học , những người bạn sống cùng nhau trong địa phương nhỏ như làng xã, thôn xóm Thông qua sự tương tác trong quá trình cùng học, cùng chơi, cùng làm việc, cùng sinh sống, chia ngọt sẻ bùi, lúc vui vẻ cùng như lúc khó khăn làm cho con người gắn bó với nhau bởi trải nghiệm cộng đồng Con người càng trưởng thành, sự tương tác càng nhiều thì ý thức cộng đồng càng được hun đúc, sự gắn bó càng bền chặt bấy nhiêu Cùng với sự trưởng thành, nhận thức về xã hội, về giá trị, về văn hoá, trải nghiệm cộng đồng phát triển dần lên thì ý thức cộng đồng cùng phát triển lớn dần lên về bề rộng và sâu sắc hơn về mức độ Con người trưởng thành biết mình gắn với cộng đồng Từ cảm giác trực thuộc đó, họ mong muốn mình làm được điều gì

đó cho cái cộng đồng mà mình là một bộ phận và đó chính là tình cảm cộng đồng Người ta cho rằng, ý thức cộng đồng bao gồm bốn yếu tố:

Các lệch chuẩn xã hội xuất hiện trong cộng đồng là do mất ý thức cộng đồng, mất đoàn kết xã hội Đi kèm theo sự mất đoàn kết cộng đồng, mất ý thức cộng đồng là sự mất ý thức và nhân cách cá nhân Ngược lại, khi các cá nhân đồng nhất với cộng đồng, hoà mình trong cộng đồng sẽ làm tăng tính đoàn kết xã hội đồng thời cũng làm tăng ý thức và nhân cách cá nhân

Cộng đồng tồn tại được là do thành viên trong các nhóm thành viên của cộng đồng có tiếng nói thống nhất trong các hành động/hoạt động tập thể Khi không còn tâm thức chung thì cộng đồng đó bắt đầu lụi tàn Ví dụ, ở Việt Nam, mỗi khu vực dân cư, nông thôn cũng như thành thị đều có các tổ chức như Đoàn Thanh niên, Hội Phụ nữ, Hội Cựu chiến binh, Hội Nông dân Mỗi khi các thành viên của các nhóm xã hội này có cùng tiếng nói và ý chí thì sức mạnh của các nhóm này tăng lên, các nhóm thành viên đều hướng tới sự lãnh

Trang 14

đạo của Đảng, chính quyền địa phương thì sức mạnh đoàn kết trong cộng đồng được cũng cố và trở thành khu vục dân cư cộng đồng mạnh

2 Nhu cầu của cộng đồng

Giống như là mỗi cá nhân, nhu cầu của cộng đồng là một trong những nguồn gốc nội tại căn bản thúc đẩy hoạt động của cộng đồng, nảy sinh ra tính tích cực của cộng đồng Nhu cầu của cộng đồng không phải là nhu cầu của cá nhân/thành viên của cộng đồng Nhu cầu cộng đồng là trạng thái tâm linh tồn tại ở những người cụ thể đã đồng nhất bản thân mình với cộng đồng mà họ là thành viên Trạng thái tâm lí này xuất hiện khi các thành viên của cộng đồng cảm thấy cần có những điều kiện vật chất hay tinh thần nào đó để cộng đồng

có thể tồn tại và phát triển

Không thể đồng nhất nhu cầu của cộng đồng với nhu cầu của cá nhân Mỗi cá nhân có nhiều loại nhu cầu khác nhau về ăn, mặc, ở, đi lại , các nhu cầu tinh thần, thẩm mĩ, đạo đức Mỗi người đều có các loại nhu cầu đó với mức độ đòi hỏi và đáp ứng khác nhau, tuỳ vào điều kiện và hoàn cảnh khách quan và chủ quan cụ thể Nhu cầu của cộng đồng không phải là tổng thể các nhu cầu của các thành viên Mỗi cộng đồng có nhu cầu, mục đích riêng phục

vụ cho nhu cầu và lợi ích chung của các thành viên cộng đồng Nhu cầu của cộng đồng không tách rời nhu cầu của cá nhân Đây là sự biện chứng giữa cái chung với cái riêng Nhu cầu của cộng đồng và nhu cầu của cá nhân giao thoa với nhau ở một khu vực nhất định nào đó Khu vực giao thoa chung càng lớn thì tinh kết dính của các thành viên cộng đồng càng bền chặt

Nhu cầu của cộng đồng, cũng giống như nhu cầu của cá nhân, bao gồm nhu cầu về vật chất và nhu cầu về tinh thần Nhu cầu vật chất là điều kiện vật chất cần thiết để cộng đồng có thể tồn tại và phát triển như một thực thể độc lập, bao gồm điều kiện tự nhiên, môi trường để người dân trong cộng đồng đi lại, sinh hoạt chung, chúng ta vẫn thường gọi là “cơ sở hạ tầng" của cộng đồng như điện dân dụng, điện thoại, đường giao thông, trường học, trạm y tế, chợ, nước sạch Nhu cầu về tinh thần của cộng đồng và nhu cầu về tinh thần của cá nhân là rất lớn, rất đa dạng Những nhu cầu tinh thần cơ bản có thể thấy là hoà bình, dân chủ, công bằng, bác ái, tự do đi lại, tự do làm ăn cư trú, hội họp, được tôn trọng ngôn ngữ, bản sắc văn hoá, truyền thống văn hoá, không tệ nạn xã hội

Nhu cầu của cộng đồng được hình thành thông qua hai con đường chủ yếu: Thứ nhất, các thành viên trong cộng đồng cùng có chung một hoặc vài nhu cầu nào đó Nhu cầu chung của nhiều thành viên trong cộng đồng trở thành nhu cầu của cộng đồng Thứ hai, một số thành viên “tiên phong", “nòng cốt" nào đó nhận ra nhũng nhu cầu cần thiết cho sự tồn tại và phát triển của cộng đồng

Trang 15

mình Ví dụ như đại bộ phận các thành viên “tiên phong” đó phải tuyên truyền, vận động, thuyết phục, giúp những người khác nhận ra nhu cầu đó Biến những nhu cầu của một bộ phận trở thành nhu cầu chung, có sự đồng thuận của cả cộng đồng

Phát triển nhu cầu cộng đồng, đáp ứng nhu cầu và đoàn kết cộng đồng

là những yếu tố gắn kết chặt chẽ với nhau, tác động qua lại với nhau và thúc đẩy nhau phát triển Nhu cầu cộng đồng càng bức xúc thì cộng đồng càng có động lực để hành động chung, càng hành động chung với nhau thì ý thức cộng đồng, tình cảm cộng đồng, đoàn kết cộng đồng càng được củng cố Ngược lại, khi một cộng đồng yếu, không có nhu cầu chung, không giao tiếp chung thì cấu kết cộng đồng sẽ lỏng lẻo

Phát triển cộng đồng khai thác ở khía cạnh nhu cầu này bằng cách tạo nên nhiều cơ hội để người dân nhận ra nhu cầu chung và hành động cùng nhau để đạt được/thỏa mãn được những nhu cầu chung đó

3 Các thiết chế và thể chế cộng đồng

Cộng đồng có bền vững hay không còn phụ thuộc rất nhiều tới thiết thế

và thể chế của cộng đồng, hay nói cách khác là phụ thuộc vào cấu trúc và các quy định của cộng đồng

Các thiết chế cộng đồng bao gồm gia đình, dòng họ, các tổ chức chính thức

và không chính thức của cộng đồng, cụ thể là các tổ chức hành chính, tổ chức kinh

tế, tổ chức xã hội, tổ chức nghề nghiệp, sở thích Các tổ chức trong cộng đồng càng phát triển và hoạt động càng hiệu quả bao nhiêu thì sự gắn bó của các thành viên đó với tổ chức và gián tiếp với cộng đồng càng bền vững bấy nhiêu

Cộng đồng tồn tại và phát triển có sự quản lí chặt chẽ nhờ có tình thần cộng đồng, nhờ có nhu cầu và hoạt động thoả mãn nhu cầu cộng đồng Một khi không có những giá trị chung, không có những nhu cầu, định hướng để quy tụ nhau hoặc không có những quy tắc ứng xử giữa các thành viên trong cộng đồng thì không có cơ sở xã hội để tạo thành cộng đồng Những nhu cầu, những định hướng, những quy tắc này đuợc hình thành trong các đoàn thể/tổ chức của cộng đồng Chẳng hạn như các hương ước, nội quy, quy chế do làng xã đặt ra Quá trình thể chế hoá giá trị, chuẩn mực trong các tổ chức xã hội tương đương là các bước quan trọng để các liên kết xã hội trong cộng đồng đuợc bền vững và có giá trị đổi với tất cả mọi người, tạo nên sức mạnh của cộng đồng

Phương pháp phát triển cộng đồng khuyến khích mọi người, tăng cường năng lực và tạo quyền cho mọi người, nhưng không thể hành động một cách tuỳ tiện, mà một mặt phải tiếp tục bảo vệ và phát triển các thiết chế cộng đồng theo chiều hướng tích cực, mặt khác phải tôn trọng tất cả những thể chế,

Trang 16

định chế, những quy định, những chính sách của mọi cộng đồng, những chính sách chung của quốc gia, mà cộng đồng đó là thành viên

4 Quản lí, lãnh đạo cộng đồng

Quản lí, lãnh đạo là một quá trình tác động có mục đích của người lãnh đạo nhằm động viên, khuyến khích và tạo không khí hoà thuận, đoàn kết, sẵn sàng thực hiện các mục tiêu đề ra với hiệu quả cao nhất

Trong các lĩnh vực quản lí, lãnh đạo thì lĩnh vực quàn lí, lãnh đạo cộng đồng

là một lĩnh vực khó Cũng như lãnh đạo xã hội nói chung, lãnh đạo cộng đồng tác động đến xã hội thu nhỏ, nhằm mục đích duy trì những đặc điểm về chất, điều chỉnh, hoàn thiện và phát triển những đặc điểm đó của cộng đồng/xã hội

Người lãnh đạo, quản lí cộng đồng là những người có uy tín, được nhân dân trong cộng đồng tín nhiệm cử làm đại diện trong một hoặc một số vấn đề nhất định nào đó Lãnh đạo cộng đồng có thể trùng hợp nhưng cũng

có thể không trùng hợp với lãnh tụ/thủ lĩnh cộng đồng, về mặt nguyên tắc, người lãnh đạo là người được nhân dân lựa chọn, bầu ra và được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt, công nhận như một chức danh chính thức của cộng đồng Trong thực tế, có nhiều người có uy tín nhưng không muốn nhận chức danh chính thức vì nhiều lí do, trong đó có thể là lí do trách nhiệm Ngược lại, trong thực tế, cũng có những người tuy không được dân tín nhiệm, bầu chọn nhưng họ lại đuợc “cấp trên” cử về quản lí lãnh đạo cộng đồng Trong

cả hai trường hợp trên đều sẽ có những khó khăn khi lãnh đạo nhân dân

Lãnh đạo cộng đồng thực ra cũng là một danh từ chung chung vì trên thực tế, có rất nhiều chức danh cụ thể trên lĩnh vực cụ thể, trong một phạm vi

cụ thể: lãnh đạo về chính trị, kinh tế, hành chính, văn hoá, xã hội , lãnh đạo chung, lãnh đạo một số tổ chức của dân trong cộng đồng

Người lãnh đạo cộng đồng giỏi là người biết sử dụng tình cảm cộng đồng, tinh thần cộng đồng, truyền thống cộng đồng kết hợp với hệ thống luật pháp để vận động, phát huy dân chủ, tài năng của người dân để đáp ứng nhu cầu của cộng đồng, thực hiện tốt trách nhiệm là đơn vị kinh tế- xã hội của đất nước, làm cho cộng đồng phát triển và đất nước phát triển, thực hiện mục tiêu của cách mạng Việt Nam là “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh"

Lãnh đạo cộng đồng và lãnh đạo các nhóm/ tổ chức trong cộng đồng đóng vai trò quan trọng tạo sự hội nhập / đánh giá mức độ hội nhập của cộng đồng

Một nhóm lãnh đạo tối ưu bao gồm những người có trình độ, có bản lĩnh; những người tham gia hoạt động cộng đồng theo sở thích của mình, của bạn mình hoặc do tính chất nghề nghiệp; những người có tín nhiệm cao và là đại diện thực sự của nhóm kinh tế - xã hội nào đó; với một tỉ lệ cân đối, phù

Trang 17

hợp giữa những người chính cư, người ngụ cư; những người có quan hệ rộng rãi với nhiều tầng lớp dân cư khác nhau và có khá năng thuyết phục/thu phục để nguời dân hiểu quan điểm của mình; những người tương đồng/ăn ý với nhau nhưng không phải theo kiểu “kéo bè, kéo cánh"; những người nhận thức được tầm quan trọng của những nỗ lực và của những tổ chức không đích thực trong việc vượt qua tính thờ ơ/ lãnh cảm với xã hội, hướng tới những vấn đề của xã hội

Mối quan hệ giữa lãnh đạo cộng đồng với thành viên cộng đồng và giữa các thành viên cộng đồng với nhau là mối quan hệ sống còn, đảm bảo sức mạnh của cộng đồng Nếu không có sức mạnh này sẽ không có sự phát triển cộng đồng

Trong phương pháp phát triển cộng đồng, phát hiện, bồi dưỡng và đưa lãnh đạo cộng đồng vào tiến trình phát triển cộng đồng là một yếu tố cần thiết, không thể thiếu

V CỘNG ĐỒNG Ở VIỆT NAM

Nghiên cứu về cộng đồng và phát triển cộng đồng là nghiên cứu những nguyên lí, nguyên tắc, nội dung, tiến trình chung nhất cho mọi quốc gia, mọi cộng đồng Để đưa được những lí luận đó vào thực tiễn và để thực tiễn đó tồn tại được một cách bền vững thì nhà tổ chức phải nắm được từng cộng đồng cụ thể Để

áp dụng phương pháp phát triển cộng đó vào Việt Nam, phải biết đặc điểm cộng đồng Việt Nam và những quan điểm, những chính sách hiện hành của Nhà nước Việt Nam về phát huy những bản sắc văn hoá, dân chủ hoá đời sống xã hội

Ở Việt Nam, trong quá khứ cũng như trong thời đại hiện nay, trong ngôn ngữ dân gian, thuật ngữ “cộng đồng" để chỉ tập hợp người, ít được sử dụng một cách rộng rãi, phổ biến Thuật ngữ “cộng đồng" được dùng phổ biến để chỉ tính chất “cố kết" của người dân Với bản chất của “cộng đồng" theo cách hiểu là sự liên kết giữa những cư dân cùng sống trong một vị trí địa

lí (quần cư), thì đây là nội dung chủ yếu mà mỗi người dân đều hiểu nếu nhắc tới “làng - xóm; thôn - xóm; làng - bản ” Khi nhắc tới những “hàng- xóm” người ta không chỉ nghĩ đến một vị trí địa lí cụ thể nào đó, mà người ta còn nghỉ ngày đến “tình làng, nghĩa xóm”, đến truyền thống văn hoá, những phong tục, tập quán mà những nhóm người này cùng chia sẻ, cùng vun đáp, cùng phải thực hiện (tính cộng đồng trong làng xã)

Như vậy, có thể thấy rằng, để tìm hiểu “cộng đồng” ở Việt Nam phục

vụ cho phát triển cộng đồng thì phải tìm hiểu về làng, xã, khu dân cư Do những đặc điểm rất khác nhau về điều kiện kinh tế-xã hội ở nông thôn và thành thị nên việc tìm hiểu cộng đồng ở Việt Nam cũng cần tìm hiểu về cộng đồng nông thôn và cộng đồng thành thị

Trang 18

Cộng đồng là toàn thể những người cùng sống, có những quan điểm giống nhau, gắn bó thành một khối trong sinh hoạt xã hội Có thể phân loại thành cộng đồng ngôn ngữ, cộng đồng tộc người, cộng đồng dân cư

Cộng đồng ngôn ngữ bao gồm những người cùng nói một ngôn ngữ nào đó như cộng đồng người nói tiếp Pháp, cộng đồng người nói Ọuổc tế ngữ

Cộng đồng tộc người chỉ những người có đặc trưng về tên gọi, ngôn ngữ, văn hoá giống nhau, có thể gồm một hay nhiều tộc người thân thuộc như: cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài, cộng đồng dân tộc Dao, Mường, Thái, Hmông

Cộng đồng dân cư là tập hợp những cá nhân được gắn kết bởi nhiều mối quan hệ về chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, quốc phòng, an ninh, dân

số, môi trường trong một địa giới nhất định, nhằm duy trì sự tồn tại, phát triển của từng thành viên và của cả cộng đồng Nhiều cá nhân hợp lại thành cộng đồng, các cộng đồng tồn tại bên nhau, hoặc ở trong nhau tạo thành cộng đồng lớn hơn như cộng đồng xóm ấp, cộng đồng làng xã, khu phố, cộng đồng địa phương, cộng đồng quốc gia, cộng đồng khu vực, cộng đồng quốc tế

Trong tài liệu này, từ cộng đồng đứng riêng biệt được hiểu là cộng đồng dân cư Trong cộng đồng dân cư, người ta còn đưa ra khái niệm cộng đồng nông thôn và cộng đồng đô thị Cộng đồng nông thôn là cộng đồng dân

cư sinh sống ở khu vục nông thôn Đây là loại cộng đồng tương đối đơn giản

và thuần nhất về mặt xã hội, hoạt động kinh tế chủ yếu dựa vào sản xuất nông nghiệp Cộng đồng đô thị là cộng đồng dân cư sống ở đô thị Đây là loại cộng đồng không thuần nhất về mặt xã hội, hoạt động kinh tế chủ yếu dựa trên sản xuất công nghiệp và thương mại, dịch vụ

1 Một số đặc điểm của cộng đồng nông thôn việt Nam

Tổ chức nông thôn theo huyết thống: gia đình và gia tộc Đối với người Việt Nam, gia tộc trở thành một cộng đồng gắn bó với vai trò quan trọng, thậm chí còn hơn cả gia đình Họ rất coi trọng các khái niệm liên quan đến gia tộc như trưởng họ, tộc trưởng, nhà thờ họ, từ đường, gia phả, ruộng kị, giỗ họ, giỗ tổ, mừng thọ Không phải ngẫu nhiên mà trong tiếng Việt, khái niệm truyền thống của Việt Nam là “làng nước”, còn nhà nuớc chỉ là sao

Trang 19

phòng khái niệm “quốc gia” của Trung Hoa Ở Việt Nam, làng và gia tộc nhiều khi đồng nhất với nhau Dấu vết hiện tượng “làng là nơi ở của một họ” còn lưu lại trong hàng loạt tên làng: Đặng Xá, Ngó Xá Trong làng, người Việt cho đến giờ vẫn thích sống theo lối “đại gia đình" Nền kinh tế nông nghiệp đã gắn chặt con người với ruộng đất, với làng - xã Làng - xã là nơi người nông dân nói chung và nông dân đồng bằng Bắc Bộ nói riêng sinh ra, lớn lên, sống quây quần cùng ông bà, cha mẹ, anh chị em, họ hàng ruột thịt Làng - xã, tổ tiên là nơi cả dòng họ đời này qua đời khác sinh sống và góp phần xây dựng nên tình cảm gắn bó với quê hương Tổ chức làng xã theo dòng họ này là theo tôn ti Sức mạnh gia tộc thể hiện ở tinh thần đùm bọc, thương yêu nhau Người trong họ có trách nhiệm cưu mang nhau về vật chất,

hỗ trợ nhau về trí tuệ, tinh thần

Tổ chức nông thôn theo địa bàn cư trú xóm và làng: Những người sống gần nhau có xu hướng liên kết chặt chẽ với nhau Sản phẩm của mối liên kết này là khái niệm làng và xóm Khi công xã thị tộc tan rã và chuyển thành công xã nông thôn thì các thành viên của làng không chỉ gắn bó với nhau bằng các quan hệ máu mủ mà còn gắn bó bằng những quan hệ sản xuất Tuy nhiên, những quan hệ sản xuất này ở Việt Nam cũng khác hẳn vói phương Tây Ở phương Tây, các gia đình sống gần nhau cũng có quan hệ với nhau, nhưng họ sống theo kiểu trang trại, quan hệ lỏng lẻo, phần nhiều mang tính chất xã giao Ở Việt Nam thì khác, người Việt Nam liên kết với nhau chặt chẽ tới mức “bán anh em xa, mua láng giềng gần” Nguyên tắc này bổ sung cho nguyên tắc “Một giọt máu đào hơn ao nước lã”: Nguời Việt Nam không thể thiếu được anh em họ hàng nhưng đồng thời cũng không thể thiếu được “bà con hàng xóm” Cách tổ chức nông thôn theo địa bàn cư trú dựa trên quan hệ hàng ngang, theo không gian, là nguồn gốc của tính dân chủ, bởi lẽ muốn giúp đỡ nhau, muốn có quan hệ lâu dài thì phải tôn trọng, bình đẳng với nhau

Đó là hình thức dân chủ sơ khai, dân chủ làng mạc Trong lịch sử, nền dân chủ này có trước nền dân chủ của phương Tây

Tổ chức nông thôn theo nghề nghiệp và sở thích: Phường hội Trong một làng, phần lớn người dân làm nông nghiệp Tuy nhiên, trong nhiều làng

có một bộ phận dân cư sinh sống bằng nghề khác Những người này cùng liên

hệ chặt chẽ với nhau khiến cho nông thôn Việt Nam có thêm một nguyên tắc

tổ chức thứ ba, theo nghề nghiệp, tạo thêm đơn vị gọi là phường ở nông thôn,

để liên kết những người cùng sở thích Những người này tập hợp với nhau thành các hội Cũng như tổ chức nông thôn theo địa bàn cư trú, tổ chức theo

Trang 20

trưng của phường hội là tính dân chủ- những người cùng hội có trách nhiệm tương trợ, giúp đỡ nhau”

Đặc trưng cơ bản của cộng đồng nông thôn Việt Nam là “tính cộng đồng và tính tự trị"

Sự đồng nhất (giống nhau) cũng chính là ngọn nguồn của nếp sống dân chủ - bình đẳng, bộc lộ trong các nguyên tắc tổ chức nông thôn theo địa bàn cư trú, theo nghề nghiệp ”

Bên cạnh mặt tích cực cần phát huy, tính đồng nhất còn những mặt hạn chế nhất định, ảnh hưởng tới cách suy nghĩ cũng như hành vi của người Việt, tính dựa dẫm, ỉ lại vào tập thể: “Nước trôi thuyền trôi, nước nổi thì thuyền nổi” Tệ hại hơn là tình trạng “Cha chung không ai khóc" hoặc “Lắm sãi không ai đóng cửa chùa” Cùng với thói dựa dẫm, ỉ lại là tư tưởng cầu an (an phận thủ thường) và cả nể Một đặc điểm trầm trọng khác nữa là thói cào bằng, đố kị, không muốn cho ai hơn mình: “xấu đều còn hơn tốt lõi”; “Khôn độc không bằng ngốc đàn”; “Chết một đống còn hơn sống một người”

1.3 Tính tự trị

Nông thôn Việt Nam được tổ chức theo kiểu biệt lập, khép kín, kể cả

về vị trí đất đai cho đến sự quản lí xã hội Mọi hoạt động đều diễn ra sau bụi tre làng, làng nào biết làng ấy Mỗi làng là một vuơng quốc nhỏ khép kín với luật pháp riêng (mà các làng gọi là hương ước) Sự biệt lập đó tạo nên truyền thống “phép vua thua lệ làng” Tình trạng này thể hiện quan hệ dân chủ đặc biệt Biểu tượng của tính tự trị là lũy tre Rặng tre bao kín quanh làng, trở thành một thứ thành lũy kiên cố bất khả xâm phạm: đốt không cháy, trèo không được, đào đường hầm thì vướng rễ không qua Tính tự trị chú trọng nhấn mạnh vào sự khác biệt Sự khác biệt giữa làng này với làng khác Sự khác biệt là cơ sở của tính tự trị, tạo nên tinh thần tự lập cộng đồng: mỗi làng, mỗi tập thể phải tự liệu lấy mọi việc Vì phải tự lo liệu nên người Việt Nam

có truyền thống cần cù, đầu tắt mặt tối, bán mặt cho đất, bán lưng cho trời

Nó cũng tạo nên nếp sống tự cấp tự túc, mỗi làng, tự đáp ứng mọi nhu cầu cho cuộc sống của làng mình, mỗi nhà có vườn rau, chuồng gà, ao cá, tự đảm bảo nhu cầu về ăn; có bụi tre; rặng xoan, gốc mít, tự đảm bảo nhu cầu về ở

Trang 21

Khía cạnh tiêu cực có nguồn gốc từ tính tự trị cao nhấn mạnh vào sự khác biệt, cơ sở của tính tự trị là óc tư hữu, ích kỷ “bè ai người nấy chống, ruộng ai người nấy đắp bờ, ai có thân người ấy lo, ai có bò người ấy giữ”,

“thân trâu, trâu lo, thân bò, bò liệu” Biểu hiện tiêu cực khác của tính tự trị

là óc bè phái, địa phương, cục bộ, làng nào biết làng nấy, chỉ lo vun vén cho địa phương mình: “trống làng nào làng ấy đánh, thánh làng nào làng ấy thờ”,

“trâu ta ăn cỏ đồng ta”, “ta về ta tắm ao ta, dù trong dù đục ao nhà vẫn hơn” Một biểu hiện khác của tính khác biệt là óc gia trưởng, tôn ti: “Tính tôn ti là sản phẩm của nguyên tắc tổ chức cộng đồng nông thôn theo huyết thống, tự thân nó không phải là xấu, nhưng khi gắn liền với óc gia trưởng, tạo nên tâm

lí quyền huynh thế phụ, áp đặt ý muốn của mình cho người khác, tạo nên tư tưởng thứ bậc vô lí, sống lâu lên lão làng, thì nó trở thành một lực cản đáng

sợ cho sự phát triển của xã hội”

Tính cộng đồng và tính tự trị là hai đặc trưng cơ bản, chúng là nguồn gốc sản sinh ra hàng loạt ưu điểm và nhược điểm trong tính cách của nguời Việt Nam

Tính cộng đồng Tính tự trị

Chức năng Liên kết các thành viên Xác định sự độc lập của

làng Bản chất Dương tính, hướng ngoại Âm tính, hướng nội

Biểu tượng Sân đình, giếng nước, cây đa Lũy tre

- Sự thủ tiêu vai trò cá nhân - Óc tư hữu, ích kỷ

- Thói dựa dẫm, ỉ lại - Óc bè phái, địa phương

- Thói cào bằng, đố kị - Óc gia trưởng, tôn ti

2 Đặc điểm của cộng đồng thành thị Việt Nam

Ở Việt Nam, nếu như nông thôn làng xã là một tổ chức tự trị vững mạnh thì ngược lại, đô thị trong lịch sử Việt Nam rất kém phát triển, yếu ớt

và lệ thuộc Điều này trái ngược hoàn toàn với phương Tây Ở phương Tây, làng, xã rất rời rạc, còn đô thị là một tổ chức tự trị vững mạnh Xét về nguồn gốc, phần lớn đô thị Việt Nam do nhà nước sản sinh ra, mang tính quy luật tất yếu do sự khác biệt của hai loại hình văn hóa quy định ở nền văn hoá Việt Nam Nông nghiệp được coi trọng, làng xã là trung tâm, cho nên làng xã có

Trang 22

nên đô thị tự trị và có quyền uy Để xem xét đặc điểm đó thì Việt Nam cần xem xét ở hai khía cạnh: đô thị trong quan hệ với quốc gia và trong quan hệ với nông thôn

Trong quan hệ với quốc gia, đô thị Việt Nam có ba đặc điểm:

- Xét về nguồn gốc, phần lớn các đô thị Việt Nam do nhà nước sinh ra Các đô thị lớn nhỏ ra đời ở các giai đoạn khác nhau như Văn Lang, cổ Loa, Thăng Long, Phú Xuân đều hình thành theo con đường như thế

Về chức năng, đô thị Việt Nam thực hiện chức năng hành chính là chủ yếu, trong đô thị có bộ phận làm quản lí và bộ phận làm kinh tế Thường thì

bộ phận quản lí hình thành trước, dần dần bộ phận làm kinh tế mới được hình thành một cách tự phát

Về mặt quản lí, đô thị Việt Nam đều do nhà nước quản lí Nhà nước đặt ra đô thị thì nhà nước phải quản lí và khai thác, đó là điều dễ hiểu Thậm chí, những đô thị hình thành tự phát ở vào những địa điểm giao thông buôn bán thuận tiện như Phố Hiến, Hội An thì ngay sau khi hình thành, Nhà nước cùng lập tức đặt một bộ máy cai trị để nắm trọn quyền kiểm soát và khai thác

Ba đặc điểm trên chính là nguyên nhân làm cho đô thị Việt Nam có diện mạo trái ngược hẳn với đô thị phương Tây đã nói trên đây

Về mối quan hệ giữa đô thị Việt Nam với nông thôn, do sức mạnh của truyền thống văn hoá nông nghiệp, nông thôn không tự chuyển thành đô thị, nên ở Việt Nam, có những làng xã nông thôn thực hiện chức năng kinh tế của

đô thị, đó là làng công thương như làng Bát Tràng, làng Bưởi Nếu ở phương Tây thì những làng như vậy sẽ phát triển dần lên, mở rộng và tự phát chuyển thành đô thị Nhưng ở Việt Nam, chúng không trở thành đô thị được, mọi sinh hoạt vẫn giống như một làng nông nghiệp thông thường Sở dĩ như vậy vì cả làng cùng làm một nghề, có cùng sản phẩm, không buôn bán cho ai trong làng được Mà không có trao đổi hàng hoá nội bộ thì không trở thành

đô thị được Mặt khác, do tính tự trị, dân cư sống tự cấp, tự túc, khép kín, không có nhu cầu buôn bán, giao lưu, đó là lí do thứ hai khiến các làng công thương không thể trở thành đô thị được

Nông thôn Việt Nam không chỉ bị kìm giữ không thể phát triển thành

đô thị mà chi phối cả đô thị, khiến đô thị chịu ảnh hưởng của nông thôn và mang đặc tính nông thôn rất đậm nét Tổ chức hành chính của đô thị Việt Nam được sao phỏng theo tổ chức nông thôn Hậu quả sự chi phối của nông thôn với đô thị cho tới ngày nay vẫn còn sót lại ngay trong lòng các đô thị

Sự chi phối mạnh của nông thôn đối với đô thị khiến cho đô thị Việt Nam truyền thống luôn có nguy cơ bị nông thôn hoá Trong lịch sử, các đô thị

Trang 23

khi không còn được thực hiện chức năng là trung tâm hành chính nữa thì nó thường bị thu hẹp, dần trở lại nguyên hình là nông thôn Tuy là dân thành thị nhưng họ vẫn mang bản chất và tính cách của người nông thôn, nên mỗi khi

có điều kiện là họ bộc lộ

Ngày nay, do tác động của kinh tế thị trường, hội nhập quốc tế, giao lưu văn hoá , cùng với nhiều chính sách phát triển kinh tế, giáo dục, văn hoá, tư tưởng bộ mặt cộng đồng nông thôn và cộng đồng thành thị, đời sống kinh tế, tâm lí, xã hội của người dân ở cả nông thôn và thành thị đã thay đổi nhiều, đã chuyển biến theo hướng phát huy truyền thống văn hoá tích cực, dần khắc phục được những hạn chế Tuy nhiên, sự thay đổi đó đã và sẽ tiếp diễn trong một thời gian dài nữa

Cộng đồng là một thực thể sống/một xã hội thu nhỏ phức tạp được kết cấu bền vững bởi nền tảng văn hoá, truyền thống chung, có gốc rễ sâu xa, bởi nhu cầu, tình cảm và ý thức của những người dân Quá trình tương tác giữa người dân trong cộng đồng là cơ sở nẩy sinh ý thức cộng đồng, nhu cầu cộng đồng và đồng thời cũng là để đáp ứng yêu cầu có một cuộc sống tốt đẹp hơn cho mỗi thành viên cộng đồng, cấu trúc cộng đồng gồm các thành viên là cá nhân, là gia đình, dòng họ, là các tổ chức đại diện của người dân, tổ chức chính quyền Cộng đồng chịu sự tác động từ phía ngoài, chính sách vĩ mô chung của Nhà nước, quốc gia và chịu tác động từ bản thân các mối quan hệ nội tại bên trong cộng đồng

Trang 24

Xuất phát từ tính tổng thể của cộng đồng, giống như nhu cầu cộng đồng, vấn đề cộng đồng là khó khăn, trở ngại, rào cản của một chỉnh thể thống nhất chứ không phải là khó khăn của một hoặc một vài thành viên cộng đồng Vấn đề cộng đồng có thể là vấn đề quản lí điều hành, cũng có thể là vấn đề liên quan đến sự tồn vong, sống còn của cộng đồng, có thể là vấn đề uy tín của cộng đồng

Tuy nhiên, chúng ta biết rằng, không thể nói đến cộng đồng mà không nói đến thành viên cộng đồng, tức là nói đến từng cá nhân, từng gia đình sống trong cộng đồng đó Cũng giống như nhu cầu, vấn đề cộng đồng có thể là vấn

đề chung mà đại bộ phận người dân trong cộng đồng cùng gặp phải Có những vấn đề cộng đồng, ban đầu chỉ là vấn đề của một vài cá nhân, nhưng

có nguy cơ lây lan ra toàn cộng đồng Từ công tác truyền thông, mọi người nhận thấy những vấn đề đó có nguy cơ lan rộng trong cộng đồng, để rồi thừa nhận nó là vấn đề chung của cộng đồng

Tóm lại, vấn đề cộng đồng là những khó khăn mang tính xã hội mà cộng đồng đang phải đối mặt, cản trở sự phát triển của cộng đồng

Những bất bình đẳng trong quyền lợi và nghĩa vụ của công dân, sự thiếu dân chủ trong đời sống xã hội là nguyên nhân sâu xa của nhiều vấn đề cộng đồng

3 Tính cục bộ và tính thời đại của vấn đề cộng đồng

Vấn đề của cộng đồng có tính chất tương đối, cục bộ, không nhất thiết cũng phải là vấn đề của cộng đồng khác Tính cục bộ ở đây có nghĩa là tính

Trang 25

địa phương của vấn đề Tính cục bộ không mâu thuẫn với tính xã hội Tính xã hội là “xã hội" trong phạm vi cộng đồng

Với các nước khác nhau, ở các giai đoạn lịch sử khác nhau thì vấn đề cộng đồng được đặt ra rất khác nhau Ví dụ, nếu như trong thời kì đầu của chủ nghĩa tư bản, các nước phương Tây và Bắc Mĩ phải đối đầu với nạn bần cùng hoá, nghèo đói, bệnh tật, tệ nạn xã hội tràn lan trong cộng đồng, thì ngày nay, mối quan tâm của nhiều cộng đồng phương Tây là vấn đề liên quan đến sự thiếu hụt nguồn lao động trẻ bổ sung do tỉ lệ sinh thấp, tuổi thọ cao hoặc vấn đề an toàn cuộc sống trong bối cảnh khủng bố toàn cầu Với các nước nghèo, các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam, mối quan tâm của toàn xã hội nói chung, của cộng đồng nói riêng là vấn đề phát triển kinh

tế, phát triển xã hội, phát triển con người, trong đó có những vấn đề nổi bật

đe doạ tới an sinh của người dân như nghèo đói, thiên tai, vấn đề tai nạn, thương tích, vấn đề di dân, đô thị hoá và một số tệ nạn xã hội như cờ bạc, rượu chè, bạo lực gia đình, ma tuý, mại dâm

Tính thời đại của vấn đề cộng đồng tức là tính toàn cầu Ví dụ, vấn đề thay đổi khí hậu, sự nóng lên của trái đất, đại dịch HIV/AIDS Đó là vấn đề toàn cầu, đe doạ tất cả mọi cộng đồng Vì thế, tất cả các cộng đồng, không kể nước giàu hay nước nghèo, nước đang phát triển hay đã phát triển, đều phải quan tâm bảo vệ môi trường, phòng chống HIV/AIDS

II PHÂN LOẠI VẤN ĐỀ CỘNG ĐỒNG

Vấn đề cộng đồng có thể được phân loại theo nhiều cách khác nhau, theo bản chất vấn đề, theo quy mô tác động của vấn đề hay theo tính pháp lí của vấn đề Cộng đồng càng nhỏ thì vấn đề càng cụ thể Trong phát triển cộng đồng, người ta thường hay phân loại vấn đề theo những biểu hiện sau đây

1 Nhóm vấn đề cộng đồng liên quan đến quan hệ giữa người với người

Sự thờ ơ, lạnh nhạt trong mối quan hệ giữa người với người, sự thiếu hiệu quả trong giao tiếp giữa các thành viên trong cộng đồng với nhau, giữa thành viên cộng đồng với bộ máy hành chính cơ quan công quyền Tình trạng mất đoàn kết, thiếu tổ chức, cảnh “việc nhà ai nhà ấy làm, đèn nhà ai nhà ấy rạng” hoặc “kêu trời thì trời xa, kêu đất thì đất dày” làm cho con người cảm thấy cô độc, bị xa lánh, vô vọng Thành viên trong cộng đồng không được tổ chức lại hoặc tổ chức một cách hình thức, rời rạc, không chặt chẽ làm giảm khả năng đề kháng, thiếu kĩ năng, mất đoàn kết, không cùng chung hành động mà “trống đánh xuôi, kèn thổi ngược” Đây là vấn đề nẩy sinh trong xã hội công nghiệp, đô thị hoá cao Công nghiệp hoá và đô thị hoá

Trang 26

cộng đồng công nghiệp hoá, đô thị hoá cao dường như không bị ràng buộc bởi những giá trị chung, cơ sở tạo nên sự kết dính, sự liên kết giữa người với người Ví dụ về những vấn đề thuộc nhóm này là bệnh tâm thần, tội phạm vị thành niên, tự tử tập thể, tệ nạn trộm cắp, mất trật tự an ninh, thiếu cơ sở vật chất chăm sóc gia đình, dòng họ, thiếu điều kiện thông tin

Ở Việt Nam, những vấn đề cộng đồng trong nhóm này cũng có sự khác biệt so với một số nước khác trên thế giới ở một vài khía cạnh và có biểu hiện khác nhau giữa cộng đồng nông thôn và cộng đồng thành thị Tuy đã thay đổi nhiều so với những nước khác, nhưng do truyền thống phương Đông ăn sâu vào tiềm thức người dân nên mỗi người, nhìn chung, vẫn còn bị ràng buộc nhiều với gia đình, dòng họ, với cộng đồng Lối sống vị kỉ, sùng bái tự do cá nhân tuy đã xuất hiện nhưng nền nếp gia phong gia đình vẫn còn là một sự kết dính quan trọng gắn kết người Việt trong gia đình, đại gia đình, trong dòng tộc Các bệnh tâm thần, trầm cảm, tìm cuộc sống lặng lẽ, có độc, tự vẫn tập thể do chán ghét xã hội tuy đã có, nhưng chưa nhiều, chưa trở thành

“bệnh lí" chung của cộng đồng Người Việt Nam, sống trọng tình nhiều hơn nên thường “mềm dẻo, uyển chuyển” trong cách ứng xử giữa người với người Truyền thống “thương người như thể thương thân”, “một miếng khi đói bằng một gói khi no” nhìn chung vẫn được phát huy trong việc giúp đỡ đồng bào gặp khó khán, hoạn nạn, gặp cảnh đời bất hạnh

Cộng đồng Việt Nam nhìn chung được tổ chức chặt chẽ, các tổ chức quần chúng được hình thành rộng khắp ở tất cả các cấp Trong chỉ đạo, lãnh đạo, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn luôn coi “Động lực chủ yếu để phát triển đất nước là đại đoàn kết toàn dân” Truyền thống đại đoàn kết dân tộc là một trong những yếu tố quan trọng nhất trong cuộc đấu tranh dựng nước và giữ nước của cộng đồng người Việt Truyền thống này đã được phát huy cao độ, trở thành nguyên lí “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết Thành công, thành công, đại thành công” Đó cũng là nguyên nhân thành công của dân tộc Việt Nam trong các cuộc chiến đấu bảo vệ Tổ quốc Khối đại đoàn kết đó chính là

sự lãnh đạo của Đảng, quản lí chính quyền và sự tham gia của các đoàn thể,

tổ chức quần chúng, tổ chức xã hội Trong sự nghiệp đổi mới, đại đoàn kết toàn dân dựa trên cơ sở phát huy sự năng động, sáng tạo của các tầng lớp nhân dân, các thành phần kinh tế, thống nhất mục tiêu “dân giàu, nước mạnh,

xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”

Đễ đạt được mục tiêu đó, ở cộng đồng, trong những năm qua chính quyền cơ sở cùng các đoàn thể chính trị, các tổ chức xã hội, xã hội nghề nghiệp, tổ chức từ thiện như Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Hội Phụ nữ, Hội

Ngày đăng: 29/06/2021, 10:37

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Tài liệu huấn luyện của APPEAL cho cán bộ giáo dục thường xuyên, tập 8, Sổ tay về phát triển các trung tâm học tập cộng đồng, Văn phòng UNESCO, khu vực châu Á - Thái Bình Dương, Băng Cốc, 1995 Khác
2. Vụ Giáo dục thường xuyên, Bộ Giáo dục và Đào tạo và Hiệp hội Quốc gia các tổ chức UNESCO Nhật Bản (NFUAJ), Phát triển trung tâm học tập cộng đồng, 2004 Khác
3. Viện Chiến lược và Chương trình Giáo dục, Bộ Giáo dục và Đào tạo, UNESCO Hà Nội, Hướng dẫn giáo dục kĩ năng sống ở Trung tâm học tập cộng đồng, Hà Nội, 2006 Khác
4. Viện Chiến lược và Chucmg trình Giáo dục, Bộ Giáo dục và Đào tạo, UNESCO Hà Nội, Giáo dục kĩ năng sống cho trẻ em có hoàn cảnh khó khăn, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2006 Khác
5. Viện Chiến lược và Chương trình Giáo dục, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Kết quả điều, tra thực trạng giáo dục kĩ năng sống ở Trung tâm học tập cộng đồng, Đề tài cấp Bộ, mã số 2005-80-28 Khác
6. Nguyễn Trường, sổ tay huớng dẫn viên để hưởng dẫn học tập hiệu quả, Hiệp hội Quốc gia các tổ chức UNESCO Nhật Bản (NFUAJ), 2003 Khác
7. Bế Hồng Hạnh, Quan niệm về chất lượng và hiệu quả giáo dục kĩ năng sống ở Trung tâm học tập cộng đồng, Đề tài nghiên cứu cá nhân, 2009 Khác
8. Nguyễn Mai Hà, Bước đầu am hiểu một số đặc điểm tâm lí-xã hội của học viên người lớn trong các Trung tâm học tập cộng đồng, Đề tài nghiên cứu cá nhân, 2009 Khác
9. Lê Thị Dung, Bài giảng hoạt động thông tin tuyên truyên tại cơ sở, NXB Lao động- Xã hội, 2003 Khác
10. Nguyễn Thị Thái Lan, Giáo trình công tác xã hội nhóm, NXB Lao động - Xã hội, 2008 Khác
11. Nguyễn Thị Thái Lan, Bùi Thị Xuân Mai. Giáo trình công tác xã hội cá nhân và gia đình, NXB Lao động- Xã hội, 20II Khác
12. Nguyễn Thị Kim Liên, Giáo trình phát triển cộng đồng, NXB Lao động- Xã hội, 2010 Khác
13. Nguyễn Mai Hà, Giáo dục kĩ năng sống trong giáo dục không chính quy tại một số nước vùng châu Á - Thái Bình Dương, Tạp chí Thông tin khoa học, số 112/2004 Khác
14. Thái Xuân Đào, Giáo dục kĩ năng sống trong giáo dục không chính quy, Tạp chí Thông tin khoa học, số 112/2005 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

IV. BA MÔ HÌNH GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ CỘNG ĐỒNG - Tài liệu Bồi dưỡng thường xuyên năm học 2016-2017 - Chuyên đề 1: Kỹ năng làm việc với cộng đồng
IV. BA MÔ HÌNH GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ CỘNG ĐỒNG (Trang 35)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w