1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận án Tiến sĩ Y học: Đặc điểm dịch tễ học và ứng dụng mô hình toán học để dự báo bệnh tiêu chảy tại tỉnh Hà Tĩnh

177 10 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đặc Điểm Dịch Tễ Học Và Ứng Dụng Mô Hình Toán Học Để Dự Báo Bệnh Tiêu Chảy Tại Tỉnh Hà Tĩnh
Tác giả Phan Đăng Thân
Người hướng dẫn PGS.TS. Nguyễn Ngọc Sáng, PGS.TS. Lê Thị Phương Mai
Trường học Viện Vệ Sinh Dịch Tễ Trung Ương
Chuyên ngành Dịch Tễ Học
Thể loại luận án
Năm xuất bản 2020
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 177
Dung lượng 3,77 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • Chương 1. TỔNG QUAN (18)
    • 1.1. Bệnh tiêu chảy và căn nguyên gây bệnh (18)
    • 1.2. Các yếu tố liên quan tới bệnh tiêu chảy (25)
    • 1.3. Ảnh hưởng của yếu tố thời tiết đến bệnh tiêu chảy (30)
    • 1.4. Mô hình toán học dự báo và mô hình chuỗi thời gian dự báo bệnh tiêu chảy dựa trên các yếu tố thời tiết (0)
    • 1.5. Đặc điểm địa điểm nghiên cứu (50)
  • Chương 2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU (55)
    • 2.1. Mục tiêu 1 (55)
    • 2.2. Mục tiêu 2 (64)
    • 2.3. Mục tiêu 3 (67)
    • 2.4. Đạo đức trong nghiên cứu (73)
  • Chương 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU (74)
    • 3.1. Mô tả đặc điểm dịch tễ học bệnh tiêu chảy tại một xã khu vực bị hạn hán của tỉnh Hà Tĩnh, 2014 – 2015 (74)
    • 3.2. Mối liên quan giữa một số yếu tố thời tiết và bệnh tiêu chảy giai đoạn (95)
    • 3.3. Ứng dụng mô hình động thái SARIMA-X dự báo bệnh tiêu chảy (110)
  • Chương 4. BÀN LUẬN (125)
    • 4.1. Đặc điểm dịch tễ học bệnh tiêu chảy tại Hà Tĩnh (125)
    • 4.2. Mối liên quan giữa một số yếu tố thời tiết và bệnh tiêu chảy (139)
    • 4.3. Ứng dụng mô hình toán học dự báo bệnh tiêu chảy tại Hà Tĩnh (143)
    • 4.4. Hạn chế của luận án (150)
  • KẾT LUẬN (152)
    • 1. Đặc điểm dịch tễ học bệnh tiêu chảy (152)
    • 2. Về mối liên quan giữa bệnh tiêu chảy và một số yếu tố thời tiết tại tỉnh Hà Tĩnh giai đoạn 1992 đến năm 2015 (0)
    • 3. Mô hình toán học dựa vào yếu tố thời tiết dự báo bệnh tiêu chảy tại tỉnh Hà Tĩnh (0)

Nội dung

Nghiên cứu này nhằm mục tiêu cung cấp bức tranh toàn diện về dịch tễ học bệnh tiêu chảy tại cộng đồng dân cư. Nghiên cứu cũng xác định xu hướng bệnh, mối liên quan với các yếu tố thời tiết và sử dụng số liệu giám sát thường quy bệnh tiêu chảy và các yếu tố thời tiết trong công tác dự báo.

TỔNG QUAN

Bệnh tiêu chảy và căn nguyên gây bệnh

Tỷ suất mới mắc của một bệnh phản ánh tốc độ xuất hiện các trường hợp bệnh mới trong một quần thể xác định trong một khoảng thời gian nhất định Ngược lại, tỷ lệ hiện mắc cho biết số trường hợp đang mắc bệnh trong quần thể đó tại một thời điểm cụ thể.

Tỷ lệ mắc mới tích lũy là chỉ số đo lường tần suất xuất hiện của các trường hợp mới mắc bệnh trong một quần thể trong khoảng thời gian nhất định Chỉ số này thường được thể hiện dưới dạng số trường hợp mới mắc trên 1.000 hoặc 100.000 người, giúp đánh giá mức độ ảnh hưởng của bệnh trong cộng đồng.

Báo cáo ca bệnh tiêu chảy hàng tháng cung cấp số lượng ca mắc mới trên 100.000 dân theo từng tháng và năm Dữ liệu này được tổng hợp từ hệ thống giám sát bệnh truyền nhiễm của Cục Y tế dự phòng – Bộ Y tế, bao gồm thông tin về số ca mắc và tử vong trên 100.000 dân theo từng tỉnh và được công bố hàng năm.

Gánh nặng bệnh tật tiêu chảy

Bệnh tiêu chảy là nguyên nhân gây tử vong hàng đầu thứ hai ở trẻ em dưới 5 tuổi, với khoảng 1,5 triệu trẻ em trên toàn thế giới chết mỗi năm do căn bệnh này Tiêu chảy có thể kéo dài nhiều ngày, dẫn đến mất nước và muối, và nếu không được điều trị kịp thời, có thể dẫn đến tử vong Trẻ em bị suy dinh dưỡng hoặc có hệ miễn dịch yếu là những đối tượng dễ bị ảnh hưởng nhất bởi bệnh tiêu chảy.

Tiêu chảy là tình trạng đi ngoài phân lỏng hoặc toé nước từ 3 lần một ngày trở lên, thường là triệu chứng của nhiễm trùng đường tiêu hóa do vi khuẩn, virus hoặc ký sinh trùng Nhiễm khuẩn có thể lây truyền qua thực phẩm hoặc nước uống bị ô nhiễm, hoặc từ người sang người do vệ sinh kém Đây là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong và bệnh tật ở trẻ em trên toàn thế giới, với phần lớn trường hợp liên quan đến nguồn thức ăn và nước uống không an toàn Hiện nay, khoảng 1 tỷ người không có nước sạch và 2,5 tỷ người không có điều kiện vệ sinh cơ bản.

Tại Việt Nam, từ năm 2000 đến 2010, tỷ lệ mắc bệnh tiêu chảy đã giảm nhẹ, từ 12.369 ca/100.000 dân xuống còn 9.588 ca/100.000 dân, cùng với tỷ lệ tử vong giảm từ 0,1 ca/100.000 dân năm 2001 xuống 0,01 ca/100.000 dân năm 2010 Trong giai đoạn 2014 – 2015, khu vực Miền Trung có tỷ lệ mắc bệnh cao hơn các khu vực khác, với 725,57 ca/100.000 dân và 591,29 ca/100.000 dân Đặc biệt, kết quả điều tra cho thấy 8,6% trẻ em dưới 5 tuổi đã bị tiêu chảy trong vòng 2 tuần trước khi điều tra.

Hình 1.1 Tỷ lệ mắc, chết của bệnh tiêu chảy tại Việt Nam giai đoạn 2000 – 2010 [13]

Hình 1.2 Tỷ lệ mắc tiêu chảy trung bình theo tháng trong 10 năm giai đoạn 2000 – 2010 [13]

Từ năm 2000 đến 2010, tỷ lệ mắc bệnh tiêu chảy cao nhất vào các tháng 5-7, với 104-111 ca/100.000 dân, trong khi thấp nhất là vào tháng 1, chỉ với 84 ca/100.000 dân Nguyên nhân chính gây ra bệnh tiêu chảy là do vi khuẩn.

Bệnh tiêu chảy do phẩy khuẩn tả

Bệnh tả là một loại nhiễm trùng đường ruột cấp tính do vi khuẩn Vibrio cholerae gây ra, thường lây truyền qua thực phẩm và nước uống ô nhiễm Thời gian ủ bệnh ngắn, bệnh nhân có thể gặp phải tình trạng tiêu chảy nặng, dẫn đến mất nước nghiêm trọng và nguy cơ tử vong nếu không được điều trị kịp thời Ngoài ra, triệu chứng nôn mửa cũng thường xuất hiện ở bệnh nhân.

Hầu hết những người nhiễm vi khuẩn tả không có triệu chứng bệnh, mặc dù vi khuẩn có thể tồn tại trong phân từ 7-14 ngày Khi mắc bệnh, 80-90% trường hợp thường nhẹ hoặc trung bình, khó phân biệt với các loại tiêu chảy cấp tính khác Chỉ dưới 20% bệnh nhân thể hiện các triệu chứng điển hình của bệnh tả, như dấu hiệu mất nước từ mức độ vừa đến nặng.

Bệnh tả vẫn là một vấn đề y tế công cộng nghiêm trọng trên toàn cầu, với nhiều vụ dịch lớn xảy ra gần đây ở Haiti, Việt Nam và Zimbabwe Khoảng 1,4 tỷ người sống ở các quốc gia có bệnh tả lưu hành đang đối mặt với nguy cơ mắc bệnh, dẫn đến 2,8 triệu ca mắc hàng năm, trong khi chỉ có 78.000 trường hợp ở các nước không có dịch tả Mỗi năm, bệnh tả gây ra khoảng 91.000 ca tử vong tại các quốc gia có dịch, và 2.500 ca tử vong ở các nước không có dịch tả.

Bệnh tiêu chảy cấp do Shigella

Bệnh lây qua đường tiêu hóa, gây viêm đại tràng lan tỏa với loét nông và nhiều điểm xuất huyết Triệu chứng lâm sàng bao gồm sốt cao, mệt mỏi, đau đầu, và hội chứng lỵ với đau bụng dọc theo khung đại tràng, đặc biệt là đau quặn ở hố chậu trái Người bệnh thường gặp tiêu chảy nhiều lần trong ngày, có triệu chứng mót rặn, phân lỏng, nhầy và có máu lẫn, giống như nước rửa thịt hoặc nước rửa cá, không dính bô Xét nghiệm cho thấy bạch cầu trung tính tăng cao, và bệnh có thể diễn biến kéo dài nếu không được điều trị kịp thời.

Báo cáo tổng quan về gánh nặng của tiêu chảy do Shigella năm 2016 ước tính rằng có 74.420 ca tử vong có nguyên nhân do Shigella đối với người trên

Tiêu chảy là nguyên nhân gây tử vong hàng đầu ở người trên 70 tuổi, chiếm 30% tổng số ca tử vong Nghiên cứu trên 600.000 người tại Bangladesh, Trung Quốc, Pakistan, Indonesia, Việt Nam và Thái Lan trong giai đoạn 2000-2004 cho thấy tiêu chảy do Shigella chiếm 5% tổng số ca tiêu chảy, với tỷ lệ mắc cao ở trẻ em dưới 5 tuổi.

Tại Việt Nam, tỷ lệ tiêu chảy do Shigella chiếm 4% tổng số ca mắc tiêu chảy ở mọi lứa tuổi, trong đó trẻ em dưới 5 tuổi có tỷ lệ mắc là 4,9/1000 trẻ.

Bệnh tiêu chảy do Salmonella

Bệnh thương hàn, do vi khuẩn Salmonella typhi gây ra, lây truyền qua thực phẩm hoặc nước uống nhiễm phân hoặc nước tiểu của người bệnh Triệu chứng có thể từ nhẹ đến nặng, xuất hiện sau 1-3 tuần tiếp xúc với mầm bệnh, bao gồm sốt cao, đau đầu, táo bón hoặc tiêu chảy Mặc dù kháng sinh có thể điều trị bệnh, nhưng tỷ lệ kháng thuốc cao là một vấn đề phổ biến Thương hàn vẫn là nguyên nhân chính gây gánh nặng bệnh tật toàn cầu, đặc biệt ở các quốc gia thu nhập thấp và trung bình Nghiên cứu tại 5 quốc gia cho thấy tỷ lệ mắc thương hàn khác nhau, với Ấn Độ và Pakistan có tỷ lệ cao, trong khi Việt Nam và Trung Quốc có tỷ lệ thấp hơn Tại Indonesia, tỷ lệ mắc thương hàn hàng năm ở nhóm tuổi 5-15 là 180,3 trên 100.000 người, trong khi Pakistan và Ấn Độ lần lượt là 412,9 và 493,5 Ước tính năm 2010 có 13,5 triệu ca mắc thương hàn trên toàn cầu, với tỷ lệ cao nhất ở khu vực tiểu Sahara châu Phi và Nam Á Tổ chức Y tế Thế giới ước tính năm 2000 có tới 21.650.974 ca mắc và 216.510 ca tử vong do thương hàn trên toàn thế giới.

Bệnh tiêu chảy có nguyên nhân do vi rút Rota và các vi rút khác

Tiêu chảy cấp do vi rút Rota là nguyên nhân tử vong của 128515 trẻ năm

Năm 2016, bệnh tiêu chảy chiếm 27% tổng số tử vong toàn cầu, đặc biệt phổ biến ở trẻ nhỏ với các triệu chứng như nôn ói, tiêu chảy và đau bụng, có thể dẫn đến mất nước, trụy mạch và tử vong nếu không được điều trị kịp thời Virus Rota là nguyên nhân chính gây bệnh, chỉ lây truyền qua người và có thể làm ô nhiễm môi trường, nguồn nước, thực phẩm và các vật dụng khác Virus này lây truyền chủ yếu qua đường phân-miệng và có khả năng lây lan qua đường hô hấp, với trẻ nhỏ dưới 2 tuổi, đặc biệt là dưới 12 tháng, có nguy cơ cao mắc bệnh Tiêu chảy do virus Rota phổ biến ở các nước có khí hậu nhiệt đới và ôn đới, với 258 triệu lượt trẻ dưới 5 tuổi mắc bệnh trong năm 2016 Ngoài ra, Tổ chức Y tế Thế giới ước tính virus Noro là nguyên nhân hàng đầu gây bệnh lây truyền qua thực phẩm, với 125 triệu trường hợp mắc, trong khi Campylobacter spp gây ra 96 triệu trường hợp.

Các yếu tố liên quan tới bệnh tiêu chảy

Bệnh tiêu chảy có thể bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố khác nhau, được chia thành một số nhóm chính như tình trạng kinh tế xã hội, cơ sở vật chất và điều kiện vệ sinh sống, chế độ dinh dưỡng, hành vi vệ sinh cá nhân, cũng như sự nhiễm vi sinh vật gây bệnh đường ruột.

1 Tình trạng kinh tế xã hội

Các chỉ số của người chăm sóc trẻ

Nghề nghiệp, học vấn, tình trạng hôn nhân

Các chỉ số hộ gia đình

(số người trong một phòng)

2 Cơ sở vật chất, điều kiện sống và điều kiện vệ sinh

Cơ sở hạ tầng và vệ sinh

Cung cấp nước (nguồn gốc, chất lượng nước sinh hoạt), xử lý nước thải.xử lý rác thải Điều kiện sống hộ gia đình

Loại nhà ở, chất lượng nền nhà, nhà vệ sinh, số trẻ dưới 5 tuổi

Cân nặng sơ sinh; Thời gian bú sữa mẹ; Chỉ số nhân chủng học

5 Nhiễm vi sinh vật gây bệnh tiêu chảy

Tỷ lệ mắc bệnh tiêu chảy Hình 1.3 Một số yếu tố liên quan bệnh tiêu chảy

Tình trạng kinh tế xã hội

Tình trạng kinh tế xã hội, bao gồm chỉ số về hộ gia đình, nghề nghiệp và trình độ học vấn của người chăm sóc trẻ, có ảnh hưởng lớn đến bệnh tiêu chảy, đặc biệt ở trẻ em Yếu tố này không chỉ tác động trực tiếp đến bệnh tiêu chảy mà còn gián tiếp qua các yếu tố như điều kiện vệ sinh, dinh dưỡng và nhiễm ký sinh trùng Nghiên cứu cho thấy trẻ em từ gia đình có thu nhập trung bình và khá ít bị tiêu chảy hơn 33-38% so với trẻ em từ gia đình thu nhập thấp Ngoài ra, điều kiện kinh tế xã hội cũng ảnh hưởng đến khả năng tìm kiếm dịch vụ chăm sóc sức khỏe; thiếu tiền và nhận thức về mức độ nghiêm trọng của bệnh là những yếu tố chính gây trì hoãn trong việc tìm kiếm dịch vụ Sự lựa chọn trung tâm y tế để xử trí tiêu chảy còn phụ thuộc vào trình độ học vấn của người chăm sóc; những người có trình độ học vấn cao có khả năng lựa chọn trung tâm y tế tốt hơn Tỷ lệ mắc tiêu chảy ở trẻ em cũng liên quan đến trình độ học vấn của các bà mẹ, với những bà mẹ có trình độ học vấn cao hơn có tỷ lệ mắc bệnh thấp hơn, nhờ vào kiến thức tốt hơn về vệ sinh và dinh dưỡng.

Cơ sở vật chất và điều kiện vệ sinh

Cơ sở vật chất và điều kiện vệ sinh, bao gồm hệ thống cung cấp nước, cống rãnh, thu gom rác thải, và chất lượng nhà ở, có tác động lớn đến tỷ lệ mắc bệnh tiêu chảy Bệnh tiêu chảy thường lây qua nguồn nước bị nhiễm phân, do đó, cải thiện vệ sinh và chất lượng nước có thể giúp phòng ngừa bệnh này Cải thiện chất lượng cung cấp nước có thể giảm tỷ lệ bệnh tiêu chảy tới 21%, trong khi nâng cao hệ thống vệ sinh và quản lý rác thải có thể giảm tới 37,5% Nghiên cứu trên 192 quốc gia cho thấy cải thiện vệ sinh môi trường nông thôn là yếu tố quan trọng nhất để giảm tỷ lệ bệnh tiêu chảy, và nếu đáp ứng nhu cầu vệ sinh cho 65% vùng nông thôn, có thể cứu sống 1,2 triệu ca tử vong mỗi năm Nhiều nghiên cứu can thiệp gần đây cũng chỉ ra rằng việc cung cấp nước sạch và nhà tiêu hợp vệ sinh đã giảm tỷ lệ mắc tiêu chảy ở nhiều quốc gia, như nghiên cứu tại Bắc Nicaragua và Kenya cho thấy sự cải thiện rõ rệt trong tình hình sức khỏe cộng đồng.

Số lượng trẻ em trong một hộ gia đình là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến tỷ lệ mắc tiêu chảy, với nguy cơ mắc bệnh này gia tăng khi có nhiều trẻ sống chung trong gia đình.

Dinh dưỡng có ảnh hưởng lớn đến nguy cơ mắc bệnh tiêu chảy, đặc biệt ở trẻ em Trẻ em bị suy dinh dưỡng có nguy cơ cao hơn khi mắc tiêu chảy, và tình trạng suy dinh dưỡng sẽ trở nên nghiêm trọng hơn sau mỗi lần bệnh Điều này tạo thành một vòng luẩn quẩn giữa suy dinh dưỡng và tiêu chảy Hiện tại, khoảng 129 triệu trẻ em dưới 5 tuổi ở các nước đang phát triển bị thiếu cân so với tuổi, trong đó 80% tập trung ở châu Phi và Nam Á.

Vệ sinh cá nhân, gia đình và môi trường sống đóng vai trò quan trọng trong việc ngăn ngừa lây truyền vi khuẩn, virus và ký sinh trùng gây bệnh tiêu chảy, từ đó giảm tỷ lệ mắc bệnh Các thực hành vệ sinh như rửa tay bằng xà phòng, xử lý rác thải, xử lý phân, và bảo đảm vệ sinh nguồn nước và thực phẩm là những biện pháp chính để giảm bệnh lây truyền qua đường tiêu hóa Nhiều nghiên cứu dịch tễ học đã chỉ ra mối liên hệ giữa xử lý phân và bệnh tiêu chảy ở trẻ em, cho thấy việc xử lý phân không đúng cách có thể làm tăng tỷ lệ mắc bệnh lên tới 63% ở Philippines và 54% ở Sri Lanka Nếu thực hành xử lý phân giảm từ 91% xuống 50%, có thể phòng tránh ít nhất 12% số ca bệnh đường tiêu hóa So với nhóm xử lý phân an toàn, nhóm không an toàn có tỷ lệ nhập viện do tiêu chảy cao hơn 50%.

Rửa tay là biện pháp quan trọng để ngăn ngừa bệnh tiêu chảy, nhưng việc thực hiện đúng cách không hề đơn giản Một nghiên cứu tại Guatemala cho thấy, các bà mẹ được yêu cầu rửa tay sau nhiều hoạt động như sử dụng nhà vệ sinh, thay bỉm cho trẻ, và trước khi ăn, dẫn đến trung bình 32 lần rửa tay mỗi ngày, tiêu tốn khoảng 20 lít nước và hàng giờ thời gian.

Nhiều nghiên cứu dịch tễ học đã chứng minh rằng việc rửa tay có thể phòng ngừa bệnh tiêu chảy, với một nghiên cứu ở Indonesia cho thấy tỷ lệ mắc bệnh giảm tới 89% sau khi thực hiện rửa tay bằng xà phòng, đặc biệt là sau khi xử lý phân Một nghiên cứu can thiệp khác ghi nhận tỷ lệ mắc thương hàn giảm 84% và các bệnh tiêu chảy khác giảm 37% nhờ rửa tay bằng xà phòng sau khi đi vệ sinh và trước khi ăn Các nghiên cứu tại Bangladesh và Thái Lan cũng khẳng định hiệu quả của các can thiệp rửa tay bằng xà phòng trong việc giảm số ca mắc tiêu chảy tại các quốc gia này.

Nhiễm khuẩn gây bệnh đường ruột

E.coli và vi rút Rota là hai loại vi trùng gây bệnh tiêu chảy phổ biến nhất ở các nước đang phát triển [128] TCYTTG ước tính rằng vi rút Rota là nguyên nhân của 40% tổng số ca nhập viện do tiêu chảy ở trẻ em dưới 5 tuổi trên toàn thế giới Vi rút Rota là nguyên nhân của hơn 100 triệu ca mắc tiêu chảy cấp và gây tử vong cho khoảng 350.000 đến 600.000 trẻ em mỗi năm, tập trung chủ yếu ở châu Á và châu Phi [127] Tại Việt Nam, vi rút Rota cũng là nguyên nhân phổ biến nhất của các ca nhập viện do tiêu chảy ở trẻ em

Nghiên cứu tại Hàn Quốc cho thấy vi khuẩn E.coli là tác nhân gây tiêu chảy phổ biến nhất, xuất hiện cả ở khu vực nông thôn lẫn thành phố, tiếp theo là các chủng Staphylococcus.

Salmonella [26] Vi khuẩn Cryptosporidium là nguyên nhân quan trọng của các vụ dịch tiêu chảy do nhiễm khuẩn ở trẻ em tại các nước đang phát triển

Vào mùa xuân năm 1993, Malawi đã ghi nhận vụ dịch tiêu chảy với 403.000 người bị ảnh hưởng, nguyên nhân do Cryptosporidium xâm nhập vào hệ thống lọc nước sạch của một nhà máy nước tại thành phố.

Ảnh hưởng của yếu tố thời tiết đến bệnh tiêu chảy

Một số khái niệm và định nghĩa

Mưa lớn là hiện tượng khi tổng lượng mưa vượt quá 50mm trong 24 giờ Trong đó, mưa từ 51mm đến 100mm được coi là mưa to, còn mưa có tổng lượng trên 100mm trong 24 giờ được gọi là mưa rất to.

- Rét đậm/rét hại dạng thời tiết đặc biệt xảy ra trong mùa đông ở miền Bắc khi nhiệt độ không khí trung bình ngày xuống dưới 15 0 C/13 0 C

Độ ẩm tuyệt đối là lượng hơi nước tính bằng gam trong 1m³ không khí tại một thời điểm cụ thể Mỗi không khí chỉ có khả năng chứa một lượng hơi nước nhất định, được gọi là độ ẩm bão hòa Độ ẩm bão hòa thay đổi theo nhiệt độ, với nhiệt độ cao hơn cho phép không khí chứa nhiều hơi nước hơn.

Nhiệt độ mặt nước biển (SST) là chỉ số chính phản ánh hiện tượng El Nino, La Nina và ENSO Khi nhiệt độ bề mặt nước biển ở khu vực Đông và trung tâm xích đạo Thái Bình Dương tăng cao trên diện rộng và kéo dài khoảng một năm, hiện tượng này được gọi là El Nino Ngược lại, trong giai đoạn lạnh đi, được gọi là La Nina, nhiệt độ bề mặt biển Thái Bình Dương xích đạo sẽ giảm so với mức bình thường.

Sự nóng lên toàn cầu đã làm thay đổi các yếu tố khí hậu như nhiệt độ, lượng mưa và mực nước biển, dẫn đến hiện tượng thời tiết khắc nghiệt Những thay đổi này ảnh hưởng trực tiếp đến sự gia tăng bệnh truyền nhiễm, đặc biệt là bệnh tiêu chảy Theo Tổ chức Y tế Thế giới (TCYTTG), vào năm 2000, các yếu tố khí hậu và thời tiết đã góp phần gây ra gần 2,4% ca bệnh tiêu chảy ở các quốc gia có thu nhập trung bình trên toàn cầu.

Thay đổi thời tiết (nhiệt độ, độ ẩm, lượng mưa…)

Biến đổi về sinh học Động lực học của tác nhân gây bệnh:

Khả năng lây truyền Độc lực

Biến đổi về hệ sinh thái học

Mất đa dạng sinh học

- Thay đổi chu trình dưỡng chất

Biến đổi về xã hội học

- Di cư/di chuyển/sử dụng đất

- Điều kiện vệ sinh/ điều kiện sống

- Điều kiện kinh tế/ hành vi cộng đồng

Biến đổi về dịch tễ học

Các bệnh lây qua nước và thực phẩm:

- Tỷ lệ mắc bệnh và tử vong

- Thay đổi theo khu vực địa lý, thời gian, mùa

Các biện pháp kiểm soát/ thích ứng/ giảm thiểu

Hình 1.4 Khung đánh giá mối liên quan giữa biến đổi khí hậu và các bệnh lây truyền qua đường tiêu hoá

Nghiên cứu cho thấy nhiệt độ môi trường có mối liên hệ tích cực với tỷ lệ sinh sản và tồn tại của vi khuẩn, vi sinh vật gây bệnh tiêu chảy lây truyền qua thực phẩm Sự gia tăng nhiệt độ làm tăng khả năng sống sót của các loài vi khuẩn gây viêm đường tiêu hóa trong thực phẩm ô nhiễm.

Nhiệt độ tăng có thể ảnh hưởng gián tiếp đến hành vi con người, dẫn đến việc sử dụng nước nhiều hơn và điều kiện vệ sinh kém, từ đó làm gia tăng khả năng lây truyền bệnh do Escherichia Coli.

Nhiều nghiên cứu toàn cầu đã xác nhận mối liên hệ giữa sự gia tăng nhiệt độ và tỷ lệ mắc bệnh tiêu chảy Cụ thể, một nghiên cứu tại Bangladesh cho thấy mỗi khi nhiệt độ trung bình tăng thêm 1°C, số ca nhập viện do thương hàn, lỵ và vi rút Rota tăng 5,6% Tương tự, một nghiên cứu gần đây ở tỉnh Gansu, Trung Quốc cũng đã chỉ ra tác động của sự gia tăng nhiệt độ đối với bệnh lỵ.

Số ca mắc lỵ tăng lên có mối liên hệ tích cực với nhiệt độ trung bình hàng tháng và nhiệt độ tối cao Đặc biệt, ở những khu vực chịu ảnh hưởng mạnh từ sự nóng lên toàn cầu, hệ số tương quan này còn cao hơn.

Nhiệt độ môi trường có ảnh hưởng lớn đến sự phát triển của Salmonella trong chuỗi thức ăn, từ thực phẩm tươi sống đến quá trình vận chuyển và lưu trữ Biến đổi khí hậu, với sự gia tăng nhiệt độ, đã được nghiên cứu liên quan đến ngộ độc thực phẩm do Salmonella ở nhiều quốc gia Một nghiên cứu tại 10 quốc gia châu Âu chỉ ra rằng có mối liên hệ giữa nhiệt độ tăng và số ca ngộ độc thực phẩm Cụ thể, ở Estonia, số ca ngộ độc tăng 18,3% khi nhiệt độ ngoài trời tăng 1°C trên ngưỡng 13°C, trong khi ở Thụy Sỹ, con số này là 9,3% khi nhiệt độ vượt ngưỡng 7°C.

Tả là một bệnh lây truyền qua đường tiêu hóa, đặc biệt nhạy cảm với các yếu tố thời tiết do sự tương tác phức tạp giữa các yếu tố môi trường và sinh học.

Biến đổi khí hậu (BĐKH) có ảnh hưởng lớn đến sự bùng phát dịch tả, với nghiên cứu tại Huế cho thấy rằng nhiệt độ bề mặt nước biển tăng 3,6°C dẫn đến sự gia tăng 15% ca mắc tả Tại Nha Trang, mỗi khi lượng mưa tăng thêm 121mm, ca mắc tả cũng tăng 9,8%, và khi mực nước sông Cái tăng thêm 61mm, tỷ lệ mắc tả có khả năng tăng thêm 8,8%.

Nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng sự biến động của lượng mưa có ảnh hưởng trực tiếp đến bệnh tiêu chảy Khi lượng mưa giảm, dòng chảy bị hạn chế, dẫn đến ô nhiễm do nước đọng lại ở cống rãnh và hệ thống xử lý nước, gây mất vệ sinh và ô nhiễm ở ao hồ Điều này tạo áp lực lên nguồn nước sinh hoạt, đặc biệt tại những khu vực phụ thuộc vào nguồn nước tự nhiên, khiến người dân buộc phải sử dụng nước nhiễm bẩn, từ đó gia tăng bệnh lây truyền qua nước Ngược lại, lượng mưa tăng có thể làm ô nhiễm nguồn nước do cuốn trôi chất thải và phân bón, đồng thời mưa lớn còn gây lụt lội, phá hủy các nhà máy xử lý nước và hệ thống thu gom nước thải, làm trầm trọng thêm tình trạng ô nhiễm.

Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra mối liên hệ giữa lượng mưa và các bệnh tiêu chảy trên toàn cầu Cụ thể, một nghiên cứu tại Bangladesh cho thấy, khi lượng mưa tăng thêm 10mm trên ngưỡng trung bình 52mm, số ca mắc tiêu chảy không phải do bệnh tả tăng lên 5,1% (95%CI: 3,3-6,8) Ngược lại, khi lượng mưa giảm 10mm dưới ngưỡng 52mm, tỷ lệ mắc bệnh này cũng tăng 3,9% (95%CI: 0,6-7,2) Thêm vào đó, một nghiên cứu khác tại Bangladesh phát hiện rằng, với mỗi 10mm mưa tăng thêm trên ngưỡng trung bình 45mm, số ca mắc bệnh tả gia tăng tới 14% (95%CI: 10,1-18,9), và tăng 24% khi lượng mưa vượt quá ngưỡng này.

Mưa lớn và lũ lụt có thể dẫn đến sự bùng phát của các bệnh lây truyền qua nước, đặc biệt là khi hệ thống vệ sinh kém hoặc nguồn nước bị ô nhiễm Một ví dụ điển hình là vụ dịch tiêu chảy do Cryptosporidium xảy ra vào năm 1993 tại Milwaukee sau những trận mưa lớn.

Wisconsin đã ghi nhận 403.000 trường hợp tiêu chảy do nguồn nước bị ô nhiễm Độ ẩm có mối liên hệ chặt chẽ với nhiệt độ và lượng mưa, ảnh hưởng đến sự bùng phát các bệnh lây truyền qua đường tiêu hóa Độ ẩm có thể góp phần từ 10-45% vào số ca mắc tiêu chảy, tùy thuộc vào nhóm đối tượng Nghiên cứu tại Kolkata cho thấy, nhiễm khuẩn tả gia tăng khi độ ẩm vượt quá 80%, kết hợp với nhiệt độ 29°C và lượng mưa trung bình 100mm.

Các hiện tượng thời tiết cực đoan

Đặc điểm địa điểm nghiên cứu

Đặc điểm kinh tế xã hội [11]

Hà Tĩnh, nằm ở Bắc miền Trung, có diện tích 6.055,6 km² và dân số 1.280.782 người (năm 2015) Tỉnh này giáp Nghệ An ở phía bắc, Quảng Bình ở phía nam, Lào ở phía tây, và biển Đông ở phía đông với bờ biển dài 137 km Địa hình của Hà Tĩnh rất đa dạng, bao gồm đồi núi, trung du, đồng bằng và biển, trong đó đồng bằng có diện tích nhỏ và bị chia cắt bởi các dãy núi và sông suối Tỉnh có tới 14 con sông lớn nhỏ cùng nhiều hồ nước, nằm trong khu vực nhiệt đới với khí hậu gió mùa nóng ẩm và lượng mưa lớn.

Hà Tĩnh là tỉnh có dân số chủ yếu là người Việt (Kinh), chiếm tới 99% tổng số dân Ngoài ra, tại một số xã thuộc huyện Hương Khê, Hương Sơn, Vũ Quang, còn có sự hiện diện của các dân tộc thiểu số như Thái, Mường, và Chứt, với số lượng chỉ vài trăm đến vài chục nghìn người Điều này tạo nên sự đa dạng văn hóa trong bối cảnh điều kiện tự nhiên của tỉnh.

Hà Tĩnh có địa hình chạy dài theo hướng Tây Bắc - Đông Nam, với độ dốc trung bình 1,2% và có nơi lên đến 1,8% Địa hình nơi đây bị chia cắt bởi các sông suối nhỏ của dãy Trường Sơn, tạo nên nhiều dạng địa hình chuyển tiếp đa dạng Phía Tây là sườn Đông của dãy Trường Sơn với độ cao trung bình khoảng 1500m, tiếp theo là đồi bát úp và một dãy đồng bằng hẹp có độ cao trung bình 5m, thường bị núi cắt ngang Cuối cùng, khu vực ven biển có dãy cát bị chia cắt bởi nhiều cửa lạch Tổng thể, Hà Tĩnh có bốn dạng địa hình cơ bản.

Vùng núi cao phía Đông dãy Trường Sơn bao gồm các xã thuộc huyện Hương Sơn, Hương Khê, Kỳ Anh, với địa hình dốc và bị chia cắt mạnh Nơi đây hình thành các thung lũng nhỏ hẹp chạy dọc theo triền sông lớn của hệ thống sông Ngàn Phố, Ngàn Sâu và Rào Trổ.

- Vùng trung du và bán sơn địa: Đây là vùng chuyển từ vùng núi cao xuống vùng đồng bằng Vùng này chạy dọc phía Tây Nam đường Hồ Chí

Minh bao gồm các xã vùng thấp của huyện Hương Sơn và các xã thượng Đức Thọ, thượng Can Lộc, cùng với ven Trà Sơn của các huyện Thạch Hà, Cẩm Xuyên, Kỳ Anh Địa hình nơi đây có sự xen lẫn giữa các đồi trung bình và thấp, cùng với những diện tích đất ruộng phong phú.

Vùng đồng bằng chạy dọc hai bên Quốc lộ 1A, bao gồm các xã giữa huyện Đức Thọ, Can Lộc, thị xã Hồng Lĩnh, Thạch Hà, thành phố Hà Tĩnh, Cẩm Xuyên và Kỳ Anh Địa hình ở đây tương đối bằng phẳng nhờ quá trình bồi tụ phù sa từ các sông và phù sa biển trên các lớp đất phong hóa Feralit và trầm tích biển.

Vùng ven biển phía Đông Quốc lộ 1A bao gồm các xã thuộc huyện Nghi Xuân, Lộc Hà, Thạch Hà, Cẩm Xuyên, Kỳ Anh, với địa hình đa dạng gồm đụn cát, vùng trũng và đầm phá Các dãy đụn cát chạy dài tạo thành bãi biển và hình thành phù sa Khu vực này còn có các dãy núi sót ven biển do sự kiến tạo của dãy Trường Sơn Bắc, cùng với nhiều bãi ngập mặn từ các cửa sông và lạch.

Nhóm trẻ em dưới 5 tuổi và người cao tuổi gặp nhiều vấn đề sức khỏe nhất, với số ngày ốm trung bình lần lượt là 17,8 và 15,3 ngày/người/năm, trong khi các nhóm khác chỉ từ 1,8 đến 3,3 ngày/người/năm Tai nạn thương tích ảnh hưởng đến tất cả các nhóm tuổi, với tỷ suất mới mắc tích lũy dao động từ 3,1% đến 5,5% Nhóm người cao tuổi có tỷ suất mới mắc cao nhất (5,5%), tiếp theo là nhóm từ 5-15 tuổi (4,2%) và nhóm 45-60 tuổi (4,1%), trong khi nhóm 15-25 tuổi có tỷ suất thấp nhất (3,1%).

Trẻ em thường gặp các triệu chứng như chảy nước mũi, ho, sốt và tiêu chảy, với trung bình mỗi trẻ bị ảnh hưởng khoảng 15,3 ngày do chảy nước mũi, 11,6 ngày do ho, 7,1 ngày do sốt và 1,6 ngày do tiêu chảy mỗi năm Trong khi đó, các dấu hiệu liên quan đến đường tiết niệu ít phổ biến hơn ở trẻ em.

Nhóm bệnh đường hô hấp và tiêu hóa là những bệnh phổ biến nhất ở trẻ em, với tỷ lệ mắc mới cao, đạt 121% mỗi năm đối với trẻ em và 54% mỗi năm đối với trẻ một tuổi.

Người cao tuổi thường gặp phải các triệu chứng như đau khớp và đau đầu, với trung bình 54,6 ngày và 16,1 ngày mỗi năm tương ứng Ngoài ra, đau ngực và ho có đờm cũng là những triệu chứng phổ biến, với trung bình 4,38 ngày và 4,23 ngày mỗi người trong một năm.

Tỷ suất mắc mới hàng năm của nhóm triệu chứng xương khớp cao nhất đạt 98% trên 100.000 người, trong khi nhóm bệnh tâm thần kinh ghi nhận tỷ suất 78% trên 100.000 người Nhóm bệnh đường hô hấp đứng thứ ba với tỷ suất mắc mới 61% trên 100.000 người.

Phụ nữ từ 15 tuổi trở lên trung bình mắc bệnh 5,09 ngày mỗi năm, với tỷ lệ mới mắc là 33% mỗi năm Các triệu chứng phổ biến nhất bao gồm đau khớp, đau đầu và ho, với số ngày có triệu chứng này lần lượt là 15,2, 9,11 và 3,07 ngày mỗi người trong năm.

Tỷ suất mật độ mới mắc triệu chứng tâm thần kinh cao nhất đạt 72% mỗi năm trên mỗi người, tiếp theo là triệu chứng hô hấp và xương khớp với tỷ suất 54% mỗi năm Ngoài ra, triệu chứng phụ khoa cũng khá phổ biến với tỷ suất mới mắc là 30% mỗi năm trên mỗi người.

Tại xã Kỳ Hải (Hà Tĩnh), người dân tộc trung bình mắc bệnh 6,7 ngày mỗi năm, với tỷ lệ mới mắc là 47% Phụ nữ thường gặp các triệu chứng như đau khớp, đau đầu và ho, với số ngày có triệu chứng lần lượt là 15,4; 5,4 và 4,0 ngày mỗi năm Tỷ lệ mới mắc triệu chứng hô hấp cao nhất đạt 77% mỗi năm, tiếp theo là triệu chứng tâm thần kinh với 72%, và triệu chứng xương khớp đứng thứ ba với 53%.

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

BÀN LUẬN

Ngày đăng: 29/06/2021, 09:28

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
3. Nguyễn Hữu Quyền, Simelton Elisabeth, Bùi Tân Yên và cộng sự, (2019), Phân vùng khí hậu và đánh giá sự phù hợp của cây trồng trên địa bàn huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh, Báo cáo hoạt động số 253, Chương trình nghiên cứu Biến đổi khí hậu, Nông nghiệp và An ninh lương thực Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân vùng khí hậu và đánh giá sự phù hợp của cây trồng trên địa bàn huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh, Báo cáo hoạt động số 253
Tác giả: Nguyễn Hữu Quyền, Simelton Elisabeth, Bùi Tân Yên và cộng sự
Năm: 2019
4. Nguyễn Thanh Thảo và Lê Thị Tài (2014), "Tình hình bệnh tiêu chảy tại Việt Nam giai đoạn 2002-2011", Tạp chí Y học dự phòng, Tập XXIV(Số 7), tr. 156 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình hình bệnh tiêu chảy tại Việt Nam giai đoạn 2002-2011
Tác giả: Nguyễn Thanh Thảo và Lê Thị Tài
Năm: 2014
5. Nguyễn Thị Thắng (2017), Thực trạng và yếu tố ảnh hưởng tới sự khác biệt trong sử dụng dịch vụ khám chữa bệnh ở một số tỉnh thuộc các vùng kinh tế xã hội Việt nam năm 2015, Y tế công cộng, Viện Vệ sinh dịch tễ trung ương, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng và yếu tố ảnh hưởng tới sự khác biệt trong sử dụng dịch vụ khám chữa bệnh ở một số tỉnh thuộc các vùng kinh tế xã hội Việt nam năm 2015
Tác giả: Nguyễn Thị Thắng
Năm: 2017
6. Phạm Thị Bích Ngọc (2012), "Biến đổi khí hậu, nước biển dâng ở Hà Tĩnh", Tạp chí Tài nguyên và Mội trường, 383(7187), tr. 15 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Biến đổi khí hậu, nước biển dâng ở Hà Tĩnh
Tác giả: Phạm Thị Bích Ngọc
Năm: 2012
14. Viện Vệ sinh dịch tễ Trung ương (2015), Nghiên cứu ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến sức khỏe một số một số cộng đồng dễ bị tổn thương ở Việt Nam và giải pháp ứng phó.Tiếng Anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến sức khỏe một số một số cộng đồng dễ bị tổn thương ở Việt Nam và giải pháp ứng phó
Tác giả: Viện Vệ sinh dịch tễ Trung ương
Năm: 2015
15. Akanda, A.S., Jutla, A.S., and Colwell, R.R. (2014), "Global diarrhoea action plan needs integrated climate-based surveillance", Lancet Glob Health, 2(2), pp. e69-70 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Global diarrhoea action plan needs integrated climate-based surveillance
Tác giả: Akanda, A.S., Jutla, A.S., and Colwell, R.R
Năm: 2014
16. Ali, M., Lopez, A.L., You, Y.A., et al. (2012), "The global burden of cholera", Bull World Health Organ, 90(3), pp. 209-218A Sách, tạp chí
Tiêu đề: The global burden of cholera
Tác giả: Ali, M., Lopez, A.L., You, Y.A., et al
Năm: 2012
17. Allard, R. (1998), "Use of time-series analysis in infectious disease surveillance", Bull World Health Organ, 76(4), pp. 327-33 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Use of time-series analysis in infectious disease surveillance
Tác giả: Allard, R
Năm: 1998
18. Anders, K.L., Thompson, C.N., Thuy, N.T., et al. (2015), "The epidemiology and aetiology of diarrhoeal disease in infancy in southern Vietnam: a birth cohort study", Int J Infect Dis, 35, pp. 3-10 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The epidemiology and aetiology of diarrhoeal disease in infancy in southern Vietnam: a birth cohort study
Tác giả: Anders, K.L., Thompson, C.N., Thuy, N.T., et al
Năm: 2015
19. Aremu, Q., Lawoko, S., Moradi, R., et al. (2011), "Socio-economic determinants in selecting childhood diarrhoea treatment options in Sub- Saharan Africa: A multilevel model", Italian Journal ò Pediatrics, 37(13) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Socio-economic determinants in selecting childhood diarrhoea treatment options in Sub- Saharan Africa: A multilevel model
Tác giả: Aremu, Q., Lawoko, S., Moradi, R., et al
Năm: 2011
20. Ball, F., Britton, T., House, T., et al. (2015), "Seven challenges for metapopulation models of epidemics, including households models", Epidemics, 10, pp. 63-7 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Seven challenges for metapopulation models of epidemics, including households models
Tác giả: Ball, F., Britton, T., House, T., et al
Năm: 2015
21. Baltazar, J.C. and Solon, F.S. (1989), "Disposal of faeces of children under two years old and diarrhoea incidence: a case-control study", Int J Epidemiol, 18(4 Suppl 2), pp. S16-9 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Disposal of faeces of children under two years old and diarrhoea incidence: a case-control study
Tác giả: Baltazar, J.C. and Solon, F.S
Năm: 1989
22. Bannick, M.S., McGaughey, M., and Flaxman, A.D. (2019), "Ensemble modelling in descriptive epidemiology: burden of disease estimation", Int J Epidemiol Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ensemble modelling in descriptive epidemiology: burden of disease estimation
Tác giả: Bannick, M.S., McGaughey, M., and Flaxman, A.D
Năm: 2019
23. Bennett, A., Epstein, L.D., Gilman, R.H., et al. (2012), "Effects of the 1997-1998 El Nino episode on community rates of diarrhea", Am J Public Health, 102(7), pp. e63-9 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Effects of the 1997-1998 El Nino episode on community rates of diarrhea
Tác giả: Bennett, A., Epstein, L.D., Gilman, R.H., et al
Năm: 2012
24. Bhaskaran, K., Gasparrini, A., Hajat, S., et al. (2013), "Time series regression studies in environmental epidemiology", Int J Epidemiol, 42(4), pp. 1187-95 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Time series regression studies in environmental epidemiology
Tác giả: Bhaskaran, K., Gasparrini, A., Hajat, S., et al
Năm: 2013
25. Bhatnagar, S., Lal, V., Gupta, S.D., et al. (2012), "Forecasting incidence of dengue in Rajasthan, using time series analyses", Indian J Public Health, 56(4), pp. 281-5 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Forecasting incidence of dengue in Rajasthan, using time series analyses
Tác giả: Bhatnagar, S., Lal, V., Gupta, S.D., et al
Năm: 2012
26. Brown, J.M., Proum, S., and Sobsey, M.D. (2008), "Escherichia coli in household drinking water and diarrheal disease risk: evidence from Cambodia", Water Sci Technol, 58(4), pp. 757-63 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Escherichia coli in household drinking water and diarrheal disease risk: evidence from Cambodia
Tác giả: Brown, J.M., Proum, S., and Sobsey, M.D
Năm: 2008
27. Buckle, G.C., Walker, C.L., and Black, R.E. (2012), "Typhoid fever and paratyphoid fever: Systematic review to estimate global morbidity and mortality for 2010", J Glob Health, 2(1), p. 10401 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Typhoid fever and paratyphoid fever: Systematic review to estimate global morbidity and mortality for 2010
Tác giả: Buckle, G.C., Walker, C.L., and Black, R.E
Năm: 2012
28. Cairncross, S., Hunt, C., Boisson, S., et al. (2010), "Water, sanitation and hygiene for the prevention of diarrhoea", International Journal of Epidemiology, 39(suppl 1), pp. i193-i205 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Water, sanitation and hygiene for the prevention of diarrhoea
Tác giả: Cairncross, S., Hunt, C., Boisson, S., et al
Năm: 2010
29. Carlton, E.J., Eisenberg, J.N., Goldstick, J., et al. (2014), "Heavy rainfall events and diarrhea incidence: the role of social and environmental factors", Am J Epidemiol, 179(3), pp. 344-52 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Heavy rainfall events and diarrhea incidence: the role of social and environmental factors
Tác giả: Carlton, E.J., Eisenberg, J.N., Goldstick, J., et al
Năm: 2014

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w