1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phát triển nguồn nhân lực công nghệ thông tin ở hải phòng trong quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa

100 9 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 100
Dung lượng 0,95 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trước nhu cầu ứng dụng và phát triển CNTT ngày càng trở nên bức thiết, Bộ Chính trị Khoá VIII đã ra Chỉ thị số 58/CT-TW ngày 17/10/2000 về đẩy mạnh ứng dụng và phát triển CNTT phục vụ sự

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ CHÍNH TRỊ

HÀ NỘI - 2015

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ CHÍNH TRỊ

CHƯƠNG TRÌNH ĐỊNH HƯỚNG NGHIÊN CỨU

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS ĐINH QUANG TY

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và chƣa đƣợc sử dụng ở bất kỳ công trình khoa học nào

Tôi xin cam đoan mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã đƣợc cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đã đƣợc chỉ rõ nguồn gốc

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

TRẦN VĂN THẮNG

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Lời đầu tiên, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến Tiến sĩ Đinh Quang

Ty đã nhiệt tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn này

Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến toàn thể các thầy giáo, cô giáo trong Khoa Kinh tế chính trị, Trường đại học Kinh tế - Đại học Quốc gia Hà Nội đã quan tâm, tham gia đóng góp ý kiến và hỗ trợ tôi trong quá trình nghiên cứu, giúp tôi có

cơ sở kiến thức và phương pháp nghiên cứu để hoàn thiện luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn tới các cơ quan như: Cục thống kê Hải Phòng, Sở Khoa học và Công Nghệ Hải Phòng, Sở Lao động, Thương binh và Xã hội Thành phố Hải Phòng và các cơ quan hữu quan khác đã hỗ trợ, cung cấp tài liệu, tạo điều kiện cho tôi có cơ sở số liệu để nghiên cứu hoàn thành luận văn

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 3

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4

4 Những đóng góp mới của đề tài 4

5 Kết cấu của luận văn 5

Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC CÔNG NGHỆ THÔNG TINTRONG QUÁ TRÌNH CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA 6

1.1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 6

1.1.1 Về phát triển nguồn nhân lực nói chung 6

1.1.2 Về nguồn nhân lực CNTT và phát triển nguồn nhân lực CNTT 8

1.2 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC CNTT TRONG QUÁ TRÌNH CNH, HĐH Ở HẢI PHÒNG 10

1.2.1 Các khái niệm cơ bản 10

1.2.2 Vai trò của CNTT với quá trình CNH, HĐH đất nước 20

1.2.3 Chính sách phát triển nguồn nhân lực CNTT 22

1.2.4 Những điều kiện để phát triển nguồn nhân lực CNTT 25

1.3 KINH NGHIỆM PHÁT TRIỂN NNL CNTT Ở MỘT SỐ TỈNH THÀNH PHỐ TRONG NƯỚC 26

1.3.1 Kinh nghiệm của Đà Nẵng 26

1.3.2 Kinh nghiệm của thành phố Hồ Chí Minh 27

1.3.3 Bài học rút ra đối với Hải Phòng 29

Chương 2: PHƯƠNG PHÁP VÀ THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU 30

2.1 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 30

2.1.1 Phương pháp duy vật biện chứng và phương pháp duy vật lịch sử 30

Trang 6

2.1.2 Phương pháp trừu tượng hóa khoa học gắn liền với phương pháp

lịch sử - cụ thể 30

2.1.3 Phương pháp phân tích, tổng hợp 31

2.1.4 Phương pháp nghiên cứu tài liệu 31

2.1.5 Phương pháp thống kê, thu thập và xử lý thông tin 31

2.1.6 Khảo cứu kinh nghiệm 32

2.2 THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU 32

2.2.1 Địa điểm và thời gian thực hiện nghiên cứu 32

2.2.2 Các công cụ được sử dụng để nghiên cứu 33

Chương 3:THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC CÔNG NGHỆ THÔNG TIN Ở HẢI PHÕNG TRONG QUÁ TRÌNH CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA GIAI ĐOẠN 2006-2014 34

3.1 NHỮNG NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC CNTT Ở HẢI PHÒNG 34

3.1.1 Nhân tố giáo dục và đào tạo 34

3.1.2 Trình độ phát triển kinh tế xã hội 34

3.1.3 Cơ chế chính sách của Nhà nước 35

3.1.4 Hội nhập kinh tế quốc tế 36

3.2 CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC CNTT Ở HẢI PHÒNG TRONG QUÁ TRÌNH CNH, HĐH 36

3.3 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC CNTT Ở HẢI PHÒNG 38

3.3.1 Về đào tạo 38

3.3.2 Về chất lượng đào tạo 68

3.3.3 Tình hình tổ chức thực hiện việc đào tạo, bồi dưỡng kiến thức về CNTT cho những người đã tốt nghiệp các trường đại học, cao đẳng và trung học chuyên nghiệp thuộc các chuyên ngành khác 69

Trang 7

3.3.4 Tình hình ứng dụng CNTT trong công tác giáo dục và đào tạo ở các cấp học, bậc học, ngành học; tình hình đào tạo từ xa phục vụ cho nhu cầu học tập của toàn xã hội nhất là mạng máy tính phục vụ cho giáo dục và đào tạo cũng như tình hình kết nối Internet của các cơ sở

giáo dục và đào tạo 70

3.3.5 Tình hình xây dựng và thực hiện chương trình đào tạo, bồi dưỡng giáo viên và sinh viên học tập và nghiên cứu về CNTT 70

3.3.6 Tình hình, cơ chế chính sách khuyến khích và thu hút sử dụng nguồn nhân lực về CNTT thành phố 72

3.4 MỘT SỐ ĐÁNH GIÁ TỔNG QUÁT VỀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC CNTT Ở HẢI PHÒNG 72

3.4.1 Quy mô phát triển nguồn nhân lực CNTT 72

3.4.2 Cơ cấu phát triển nguồn nhân lực CNTT 73

3.4.3 Chất lượng đào tạo và phát triển nguồn nhân lực CNTT 74

3.4.4 Về chương trình đào tạo nguồn nhân lực CNTT 75

3.4.5 Cơ sở vật chất phục vụ việc phát triển nguồn nhân lực CNTT 75

3.4.6 Cơ chế chính sách 76

3.4.7 Nhận xét chung 77

Chương 4: GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC CÔNG NGHỆ THÔNG TIN Ở HẢI PHÕNG GIAI ĐOẠN 2015-2020 VÀ TẦM NHÌN ĐẾN NĂM 2030 79

4.1 GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC CNTT 79

4.1.1 Nhóm giải pháp về đổi mới đào tạo nguồn nhân lực CNTT 79

4.1.2 Phát huy lợi thế và tạo lập môi trường khuyến khích phát triển nguồn nhân lực CNTT 81

4.1.3 Nhóm giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn nhân lực CNTT 81

Trang 8

4.1.4 Nhóm giải pháp tăng cường khả năng thông tin và định hướng phát triển nguồn nhân lực CNTT ở Hải phòng theo nhu cấu thị trường

và xây dựng các tập đoàn CNTT 82

4.1.5 Nhóm giải pháp nâng cao nhận thức của các ngành, các cấp và tăng cường sự quản lý của nhà nước để phát triển nguồn nhân lực CNTT 83

4.2 ĐỀ XUẤT VÀ KIẾN NGHỊ 84

4.2.1 Với nhà nước 84

4.2.2 Với lãnh đạo thành phố 84

KẾT LUẬN CHUNG 85

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 87

Trang 9

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

1 BTTTT Bộ thông tin truyền thông

2 CNH, HĐH Công nghiệp hóa hiện đại hóa

4 KH&CN Khoa học và công nghệ

5 PTNNL Phát triển nguồn nhân lực

Trang 10

DANH MỤC BẢNG

Bảng 1.1 Hệ thống giáo dục và đào tạo CNTT ở TP.HCM 28

Bảng 3.1 Thống kê số lượng sinh viên đang theo họctại các trường đại học, cao đẳng 38

Bảng 3.2 Thống kê số lượng sinh viên chuyên ngành CNTT 39

Bảng 3.3 Thống kê kết quả học tập 40

Bảng 3.4 Hình thức tuyển sinh 41

Bảng 3.5 Điểm chuẩn vào trường cao đẳng đại học các năm gần đây 41

Bảng 3.6 Thống kê hình thức đào tạo 42

Bảng 3.7 Thống kê phòng học giảng dạy CNTT 43

Bảng 3.8 Thống kê tỷ lệ học viên/máy tính 43

Bảng 3.9 Thống kê thiết bị phục vụ cho giảng dạy CNTT 44

Bảng 3.10 Thống kê chương trình đào tạo CNTT ở các trường ĐH, CĐ 45

Bảng 3.11 Giáo trình đào tạo CNTT tại ĐH DL Hải Phòng 46

Bảng 3.12 Thống kê số lượng giáo viên phân theo trình độ đào tạo CNTTở các trường đại học 48

Bảng 3.13 Thống kê số lượng giảng viên theo trường và trình độ đại học 49 Bảng 3.14 Thống kê số lượng giáo viên phân theo trình độ đào tạo CNTTvà độ tuổi của 3 trường Cao đẳng 49

Bảng 3.15 Thống kê Tỷ lệ sinh viên/giáo viên chuyên ngành CNTT 50

Bảng 3.16 Thống kê số lượng học viên trung cấp được đào tạo về CNTT 51 Bảng 3.17 Kết quả học tập của các học viên trung cấp 51

Bảng 3.19 Tỷ lệ học viên/ máy tính ở các trường trung cấp 52

Bảng 3.20 Khung chương trình đào tạo ở các trường trung cấp 52

Bảng 3.21 Số lượng giáo viên tin học của các trường trung cấp 53

Bảng 3.22 Trình độ giáo viên tin học của các trường trung cấp 53

Bảng 3.23 Tỷ lệ học viên/giáo viên của các trường trung cấp 54

Trang 11

Bảng 3.24 Số lượng học viên trong các trung tâm tin học 54

Bảng 3.25 Các loại chứng chỉ được cấp ra từ các trung tâm tin học 55

Bảng 3.26 Hình thức tuyển sinh của các trung tâm tin học 56

Bảng 3.27 Hình thức đào tạo tại các trung tâm tin học 57

Bảng 3.28 Phòng học tại các trung tâm tin học 57

Bảng 3.29 Trang thiết bị phục vu công tác giảng dạy tại các trung tâm 58

Bảng 3.30 Tỷ lệ học viên/máy tính tại các trung tâm 58

Bảng 3.31 Khung chương trình đào tạo tại các trung tâm 59

Bảng 3.32 Số lượng giáo viên tin học của các trung tâm 61

Bảng 3.33 Số lượng học viên cấp phổ thông 62

Bảng 3.34 Mục tiêu phát triển đến hết năm 2015 62

Bảng 3.35 Kết quả học tập của cấp phổ thong 63

Bảng 3.36 Các giải thưởng về CNTT của các học sinh 63

Bảng 3.37 Phòng học phục vụ cho phát triển CNTT ở các cấp học 64

Bảng 3.38 Thống kê thiết bị phục vụ cho giảng dạy CNTT 64

Bảng 3.39 Tỷ lệ học sinh/ máy tính ở các trường phổ thông 65

Trang 12

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Sự phát triển như vũ bão của công nghệ thông tin (CNTT) đã tác động mạnh

mẽ và to lớn đến mọi mặt đời sống kinh tế - xã hội (KTXH) Ngày nay, CNTT đã trở thành một trong những động lực quan trọng nhất của sự phát triển CNTT đang là công cụ quan trọng hàng đầu để thực hiện quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Ứng dụng và phát triển CNTT là yếu tố có tính chiến lược, góp phần tăng trưởng kinh tế, phát triển xã hội và tăng năng suất, hiệu quả lao động Trước nhu cầu ứng dụng và phát triển CNTT ngày càng trở nên bức thiết, Bộ Chính trị (Khoá VIII)

đã ra Chỉ thị số 58/CT-TW ngày 17/10/2000 về đẩy mạnh ứng dụng và phát triển CNTT phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, trong đó chỉ rõ:

"Ứng dụng và phát triển CNTT ở nước ta nhằm góp phần giải phóng sức mạnh vật chất, trí tuệ và tinh thần của dân tộc, thúc đẩy công cuộc đổi mới phát triển nhanh và hiện đại hoá các ngành kinh tế, tăng cường năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp, hỗ trợ có hiệu quả cho quá trình chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân, đảm bảo an ninh, quốc phòng và tạo khả năng

đi tắt đón đầu để thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá".[12]

Việt Nam đang đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hoá, phấn đấu đến năm 2020 đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp hiện đại gắn với phát triển kinh tế tri thức Một trong những tiền đề cơ bản để thực hiện thành công công nghiệp hóa, hiện đại hoá, thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng nhanh và bền vững là phải phát triển nguồn nhân lực Chúng ta phải đi tắt đón đầu, phải cố gắng đi ngay vào công nghệ hiện đại đối với một số lĩnh vực then chốt và từng bước mở rộng ra toàn

bộ nền kinh tế Chú trọng đúng mức việc phát triển công nghệ cao: công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, công nghệ vật liệu tiên tiến và công nghệ năng lượng mới để tạo ra những bước đột phá Công nghệ thông tin là công cụ quan trọng hàng đầu để hình thành xã hội thông tin, rút ngắn quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá Hiện nay, ngành CNTT Việt Nam là ngành liên 2 tục tăng trưởng cao trong nhiều năm Tốc độ tăng trưởng trung bình giai đoạn 2001-2005 là 22,7%, tỉ lệ tăng trưởng rất cao

Trang 13

so với tốc độ tăng trưởng khu vực và thế giới Tuy nhiên, những kết quả trên vẫn

“chưa tương xứng với tiềm năng, thế mạnh của ngành và yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” Sự kiện Việt Nam chính thức gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) ngày 07/11/2006 là một bước ngoặt quan trọng xác định vị thế Việt Nam trên con đường hội nhập toàn cầu CNTT và truyền thông bao gồm 4 trụ cột cấu thành: ứng dụng CNTT, nguồn nhân lực CNTT, công nghiệp CNTT và cơ sở hạ tầng CNTT Đảng và Chính phủ ta đã sớm nhận thức được tầm quan trọng của nguồn nhân lực cho CNTT Đây là yếu tố then chốt, có ý nghĩa quyết định đối với việc ứng dụng

và phát triển CNTT Để phát triển được nguồn nhân lực CNTT chất lương cao, công tác đào tạo được coi là nhiệm vụ hàng đầu

Quyết định 05/2007/QĐ-BTTTT về việc quy hoạch phát triển nguồn nhân lực

CNTT Việt Nam đến năm 2020 đã khẳng định: “Phát triển mạnh nguồn nhân lực CNTT, đảm bảo có đủ nhân lực phục vụ nhu cầu ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin, xây dựng kinh tế tri thức và xã hội thông tin, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và cung cấp nhân lực công nghệ thông tin cho thị trường lao động quốc tế; Hiện đại hóa, nâng cao hiệu quả và năng lực cạnh tranh của hệ thống đào tạo nhân lực CNTT, nâng trình độ đào tạo nhân lực CNTT nước ta tiếp cận trình độ quốc tế và tham gia thị trường đào tạo nhân lực quốc

tế Từng bước trở thành một trong những nước cung cấp nhân lực CNTT chất lượng cao cho các nước trong khu vực và trên thế giới.”[1]

Việc đẩy mạnh ứng dụng CNTT vào chiến lược phát triển kinh tế- xã hội, đặc biệt là góp phần vào quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa là vấn đề cấp thiết không chỉ với các tỉnh thành phố mà còn là vấn đề cấp thiết đối với cả nước Hải Phòng được đánh giá là thành phố có tốc độ phát triển kinh tế -xã hội cao trong cả nước, và yêu cầu đặc biệt quan trọng để đẩy mạnh và nâng cao hiệu quả công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong những năm tới là phải tập trung phát triển nguồn nhân lực công nghệ thông tin

Việc phát triển nguồn nhân lực công nghệ thông tin, Hải Phòng cần có những giải pháp cụ thể như thế nào?

Trang 14

Trong những năm qua, CNTT đã khẳng định được vai trò quan trọng và bước đầu có những đóng góp cho sự phát triển của thành phố Hải Phòng Đặc biệt, sau khi có Chỉ thị số 58/CT-TW của Bộ Chính trị và Quyết định 05/2007/QĐ-BTTTT về việc quy hoạch phát triển nguồn nhân lực CNTT Việt Nam đến năm 2020, Hải Phòng đã có nhiều hoạt động tích cực, tạo bước chuyển biến mới về nhận thức, hành động thực tiễn để phát triển và ứng dụng CNTT trên địa bàn tỉnh phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá Công tác tin học hoá hoạt động của các cơ quan trong hệ thống chính trị, các doanh nghiệp và nhân dân đã đạt được một số kết quả quan trọng Tuy nhiên, việc phát triển nguồn nhân lực công nghệ thông tin ở Hải Phòng phục vụ cho quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa cần có những giải pháp hơn nữa

Xuất phát từ những lý do nêu trên, việc nghiên cứu vấn đề “Phát triển

nguồn nhân lực công nghệ thông tin ở Hải phòng trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá ” là rất cần thiết, có ý nghĩa lý luận và thực tiễn

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

*Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở đánh giá thực trạng phát triển nguồn nhân lực công nghệ thông tin

ở Hải phòng những năm gần đây, luận văn đề xuất các quan điểm và giải pháp mới, góp phần giải quyết tốt hơn các vấn đề về nguồn nhân lực công nghệ thông tin ở Hải phòng trong thời gian tới

*Nhiệm vụ nghiên cứu

Để thực hiện được mục tiêu nghiên cứu đề tài có nhiệm vụ:

- Tổng quan tình hình nghiên cứu

- Thuyết minh về phương pháp và thiết kế nghiên cứu

- Hệ thống hóa, xây dựng cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển nguồn nhân lực công nghệ thông tin

- Phản ánh, phân tích thực trạng phát triển nguồn nhân lực công nghệ thông tin ở Hải Phòng những năm gần đây, từ đó đề xuất những kiến nghị mới có liên quan cho giai đoạn sắp tới

Trang 15

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: là phát triển nguồn nhân lực công nghệ thông tin

trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Hải Phòng

- Phạm vi nghiên cứu:

+ Luận văn giới hạn khảo cứu, phân tích về thực trạng phát triển nguồn nhân lực công nghệ thông tin ở Hải Phòng trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo, đồng thời đưa ra một số phương hướng giải pháp phát triển nguồn nhân lực công nghệ thông tin ở Hải Phòng trong những năm tới

+ Về thời gian, luận văn tập trung nghiên cứu sự phát triển nguồn nhân lực công nghệ thông tin ở Hải Phòng từ năm 2006 đến nay

4 Những đóng góp mới của đề tài

Là một đề tài nghiên cứu mang tính hệ thống về phát triển nguồn nhân lực công nghệ thông tin ở Hải Phòng trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa Luận văn có những đóng góp cả về mặt lý luận và thực tiễn như sau:

- Về lý luận:

+ Trên cơ sở hệ thống hóa, luận văn góp phần làm rõ hơn một số vấn đề lý luận liên quan đến phát triển nguồn nhân lực nói chung và phát triển nguồn nhân lực công nghệ thông tin nói riêng

+ Luận văn đã nghiên cứu và tìm hiểu được kinh nghiệm về vấn đề phát triển nguồn nhân lực công nghệ thông tin ở một số tỉnh thành phố trong nước

Trang 16

+ Kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ là tài liệu tham khảo bổ ích cho các doanh nghiệp thực hiện các biện pháp quản lý nhằm phát triển nguồn nhân lực công nghệ thông tin cho doanh nghiệp Nó cũng là gợi ý để các nhà quản lý tham khảo trong việc xây dựng các chính sách nhằm hỗ trợ đào tạo và phát triển nguồn nhân lực công nghệ thông tin cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa Hơn nữa, nó cũng cung cấp thông tin để cho các tổ chức đào tạo, tư vấn thiết kế chương trình đào tạo, hỗ trợ phát triển nguồn nhân lực công nghệ thông tin phù hợp với nhu cầu cấp thiết của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa

5 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, mục lục, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận văn được trình bày theo 4 chương:

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và những vấn đề cơ bản về phát triển

nguồn nhân lực công nghệ thông tin trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa

Chương 2: Phương pháp nghiên cứu và thiết kế nghiên cứu

Chương 3: Thực trạng phát triển nguồn nhân lực công nghệ thông tin ở Hải Phòng giai đoạn 2006-2014

Chương 4: Giải pháp phát triển nguồn nhân lực công nghệ thông tin ở Hải Phòng giai đoạn 2015-2020 và tầm nhìn đến năm 2030

Trang 17

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN

VỀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG QUÁ TRÌNH CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA

1.1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

1.1.1 Về phát triển nguồn nhân lực nói chung

1.1.1.1 Các tác giả nước ngoài

Nolwen Henaff, Jean Yves Martin (2001), Labour, employment and human resources in Viet Nam after 15 years of renovation (Lao động, việc làm

và nguồn nhân lực Việt nam sau 15 năm đổi mới) Nxb Thế giới, Hà Nội Các tác giả

đã phân tích tình trạng lao động, việc làm và thực trạng nguồn nhân lực của Việt Nam sau 15 năm đổi mới Điều này giúp cho người đọc thấy được thực trạng và giải pháp phát triển nguồn nhân lực nói chung và nguồn nhân lực công nghệ thông tin ở Việt nam là một điều rất cần thiết trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa [26]

John Bernardin (2007), Human resource management (Quản lý nguồn nhân lực) Nxb McGraw-hill, Boston, tác giả đã nêu ra cách thức quản lý và sử dụng

nguồn lực con người, phân tích về các nghề nghiệp, đưa ra các kế hoạch và cách thức tuyển dụng nguồn nhân lực Hơn nữa tác giả chỉ ra các lý do nhằm phát triển nghề nghiệp đối với người lao động và cách thu hút nguồn lực lao động cho quốc gia Cuối cùng thông qua 16 chương của cuốn sách tác giả đã nêu ra vai trò và cách thức để sử dụng nguồn nhân lực một cách an toàn và hợp lý.[19]

William J Rothwell, Robert K Prescott và Maria W Taylor, Vũ Thanh

Vân dịch (2010), Human resources transformation (Chuyển hóa nguồn nhân lực),

Kinh tế Quốc dân, Hà Nội Cuốn sách lấy vấn đề chuyển đổi nhân sự làm trung tâm,

nó lột tả, khám phá và khắc họa chính xác vai trò, nhiệm vụ của nhân sự trong hơn thập kỉ qua và đưa ra dự đoán các xu hướng mới trong tương lai Các tác giả đã dành riêng hai phần đầu trong cuốn sách để dẫn dắt người đọc làm quen với khái niệm chuyển đổi nhân sự thông qua cái nhìn toàn cảnh trong quá khứ, các yếu tố tác động hiện tại, tiền đề của sự đổi mới và xu hướng hình thái cấp tiến của nhân sự

Trang 18

hiện đại Qua đó, ngành nhân sự như được thoát khỏi cái bóng thầm lặng, thụ động trong thành công của tổ chức.Từ đó người đọc sẽ rút ra cho mình những kinh nghiệm, bài học và cách thức thực hiện chuyển đổi nhân sự phù hợp nhất với bối cảnh hiện tại Ngoài ra, trong phần phụ lục, các tác giả còn đưa ra bài nghiên cứu thực tế dựa trên các ý kiến, quan điểm của các nhà quản lý trong việc áp dụng chuyển đổi nhân sự Cùng với đó là Bảng khảo sát dành cho độc giả nhằm xác định, đánh giá mức độ ưu thế nhân sự trong doanh nghiệp để ngay lập tức có thể đề ra chiến lược và phương hướng hành động cho bản thân trong việc chuyển đổi nhân sự

có tác động rất lớn đối với quá trình sử dụng một cách hợp lý nguồn nhân lực.[38]

1.1.1.2 Các tác giả trong nước

PGS.TS Mai Quốc Chánh chủ biên (1999), Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu CNH, HĐH đất nước, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội

Cuốn sách đã phân tích vai trò của nguồn nhân lực và việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, từ đó đề xuất những giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực nước ta đáp ứng yêu cầu CNH, HĐH đất nước.[5]

TS Bùi Thị Ngọc Lan (2002) Nguồn lực trí tuệ trong sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Tác giả đã phân tích rõ vị trí, vai trò,

chức năng của nguồn lực trí tuệ -bộ phận trung tâm, làm nên chất lượng và sức mạnh ngày càng tăng của NLCN và là tài sản vô giá của mỗi quốc gia, dân tộc và của toàn nhân loại Trên cơ sở đó, tác giả đưa ra những phương hướng và giải pháp chủ yếu nhằm phát huy nguồn lực trí tuệ Việt Nam trong công cuộc đổi mới

và xây dựng đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa [23]

TS Phạm Văn Khánh (2011) Trọng dụng nhân tài giáo dục để đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu thời kì mới , Tạp chí Dân số và Phát triển, số 9(101) Tác

giả nêu ra “Sự nghiệp CNH, HĐH đất nước đang đặt ra cho nước ta những yêu cầu mới về nguồn nhân lực chất lượng cao, nghĩa là nguồn nhân lực được đào tạo có kỹ năng lao động, làm việc có kỹ thuật, có trình độ khoa học, công nghệ tiên tiến Trong điều kiện hội nhập, mở cửa thị tường, Việt Nam chủ trương CNH rút ngắn thời gian gắn với phát triển kinh tế tri thức thì yêu cầu lại càng nhiều hơn về số lượng, nâng cao về chất lượng đối với nhân lực để có thể nâng cao năng suất lao

Trang 19

động xã hội, sớm đưa đất nước thoát khỏi nghèo nàn, lạc hậu và nâng cao đời sống nhân dân, nhất là các tầng lớp lao động như nông dân, công nhân, tri thức.[21]

Một yêu cầu của CNH, HĐH là nguồn nhân lực phải có sức khỏe và tiếp thu nhanh kiến thức khoa học, công nghệ mới, có kỹ năng làm việc trong môi trường công nghệ, kỹ thuật ngày càng đổi mới và phát triển Do vậy phát triển nhân lực phải tập trung vào thế hệ trẻ Vấn đề đặt ra là trong điều kiện đẩy mạnh CNH, hội nhập thì giáo dục, đào tạo phải làm sao để thanh niên, thế hệ trẻ trở thành đội quân xung kích đi vào khoa học công nghệ mới Tuy lực lượng lao động trẻ nước ta được xếp vào hạng quốc gia có trình độ học vấn khá, có nhiều học sinh, sinh viên thông minh đạt giải quốc tế, nhưng lại thiếu những nhà kỹ nghệ trẻ tài năng, những doanh nhân, nhà doanh nghiệp trẻ có tài và những lao động tinh thông công nghệ mới”

TS Trần Anh Phương (2011) Phát triển nguồn nhân lực và xây dựng các khu kinh tế biển đảo giải pháp phát triển kinh tế-xã hội và ứng phó với biến đổi khí hậu

Tạp chí Dân số và Phát triển, số 9.(102) Tác giả cho rằng việc quan trọng trước hết chúng ta cần làm ngay, đó là đánh giá và dự báo đúng nhu cầu phát triển qui mô dân

số hợp lý, nâng cao chất lượng dân số và nguồn nhân lực chất lượng cao của các vùng ven biển, vùng biển và hải đảo, trong đó nòng cốt là cán bộ nghiên cứu, cán bộ quản lý, cán bộ chuyên môn, nghiệp vụ, các chuyên gia và đội ngũ lao động chuyên ngành kỹ thuật thuộc lĩnh vực kinh tế biển Trên cơ sở đó lập kế hoạch phát triển nguồn nhân lực có chất lượng cao trung hạn và dài hạn, cùng với việc xây dựng cơ chế, chính sách đào tạo gắn với cơ chế cử tuyển để khuyến khích cán bộ khoa học

và quản lý công tác tại các hải đảo, các vùng ven biển [37]

Các công trình nêu trên đã nghiên cứu cơ sở lý luận về phát triển nguồn nhân lực trong quá trình CNH, HĐH, phân tích thực trạng của nguồn lực con người nói chung hoặc đi sâu về nguồn nhân lực khoa học- công nghệ ở Việt Nam Từ đó, đưa ra hệ thống các giải pháp cơ bản để phát triển nguồn nhân lực trong thời kỳ CNH, HĐH đất nước, góp phần hình thành và phát triển nền kinh tế tri thức ở Việt Nam

1.1.2 Về nguồn nhân lực CNTT và phát triển nguồn nhân lực CNTT

1.1.2.1 Các tác giả nước ngoài

Narendra M Agrawal, Mohan Thite (2003), Human resource issues, challenges and strategies in the Indian software industry (Vấn đề nguồn nhân lực,

Trang 20

thách thức và chiến lược trong ngành công nghiệp phần mềm Ấn Độ) Nxb Đại

họcGriffith, Ấn Độ Thông qua việc nghiên cứu và khảo sát về ngành công nghiệp phần mềm của Ấn Độ, tác giả đã nêu ra thực trạng, thách thức của nhân lực trong nền công nghiệp phần mềm so sánh với các quốc gia khác trên thế giới Từ những nhận định mang tính khoa học, tác giả đã nêu ra các chiến lược nhằm phát triển ngành công nghiệp phân mềm của Ấn Độ Những kinh nghiệm này sẽ giúp ích không nhỏ trong quá trình phát triển nguồn nhân lực CNTT ở Việt nam giai đoạn hiện nay.[25]

Thomas L Friedman (2006), The world is flat (Thế giới phẳng) Nxb Trẻ

Tác giả đã chỉ ra xu thế lớn của thế giới trong giai đoạn hiện nay- xu thế toàn cầu hóa Để thúc đẩy nhanh quá trình toàn cầu hóa thì cần có công nghệ thông tin Khi CNTT bùng nổ với tốc độ mạnh mẽ, điều này sẽ mở ra cho thế giới một thời đại mới, biến cả thế giới thành láng giềng với nhau Khi cả thế giới thành láng giềng với nhau sẽ tạo điều kiện rất lớn đối với sự phát triển của nền kinh tế tri thức.[29]

1.1.2.2 Các tác giả trong nước

Các nhà nghiên cứu ở Việt nam cũng đã có những công trình phân tích vai trò, thực trạng và chỉ ra các giải pháp nhằm phát triển nguồn nhân lực CNTT trong tiến trình CNH, HĐH đất nước Những nghiên cứu này cung cấp những luận cứ khoa học có giá trị tham khảo bổ sung cho luận văn

GS Đặng Hữu (2005), “CNTT - mũi nhọn đột phá đưa loài người vào thời đại kinh tế tri thức”, phân tích về sự bùng nổ của CNTT và sự tác động

của nó đến mọi mặt của đời sống xã hội loài người, đánh giá việc thực hiện Chỉ thị 58-CT/TW của Đảng qua 4 năm (2000 - 2004) về ứng dụng CNTT của Việt Nam

Trang 21

quả bước đầu nhưng vẫn còn nhiều bất cập như: Thiếu cơ chế phối hợp thực hiện, chưa có chế tài trách nhiệm, chưa trọng tâm, chế độ dãi ngộ còn thấp, điều kiện làm việc của các đối tượng thu hút chưa thực sự phù hợp Về chất lượng chuyên gia về công nghệ thông tin chưa có nhiều kinh nghiệm thực tế Các công trình nghiên cứu trên đây chủ yếu tập trung vào việc phân tích, đánh giá thực trạng phát triển nguồn nhân lực khoa học công nghệ hoặc nghiên cứu nguồn nhân lực CNTT phạm vi cả nước hoặc chỉ ở lĩnh vực đào tạo nhân lực CNTT ở một số tỉnh thành phố.[33]

Bộ Thông tin và Truyền thông (2008)“Kỷ yếu Hội thảo quốc gia về đào tạo nguồn nhân lực CNTT và TT theo nhu cầu xã hội”, hội thảo đã tập hợp các bài tham

luận bàn về việc cải tiến chất lượng đào tạo nguồn nhân lực CNTT Việt Nam theo nhu cầu của xã hội Việt Nam và thế giới [2]

Như vậy, cho đến nay, chưa có công trình nào nghiên cứu về phát triển nguồn nhân lực CNTT ở Hải Phòng trong quá trình CNH, HĐH dưới góc độ Kinh

tế chính trị

Trong luận văn này, tác giả sẽ kế thừa những thành quả nghiên cứu của những công trình trong và ngoài nước, đồng thời xây dựng, hệ thống hóa những vấn đề cơ bản về phát triển nguồn nhân lực CNTT trong tiến trình CNH, HĐH đất nước

1.2 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC CNTT TRONG QUÁ TRÌNH CNH, HĐH Ở HẢI PHÕNG

1.2.1 Các khái niệm cơ bản

1.2.1.1 Khái niệm nguồn nhân lực

Theo giáo trình nguồn nhân lực của trường Đại học Lao động - Xã hội do

PGS TS Nguyễn Tiệp chủ biên, in năm 2005 thì:

“Nguồn nhân lực bao gồm toàn bộ dân cư có khả năng lao động” [36.Tr 7]

Khái niệm này chỉ nguồn nhân lực với tư cách là nguồn cung cấp sức lao động cho

xã hội

“Nguồn nhân lực được hiểu theo nghĩa hẹp hơn, bao gồm nhóm dân cư

trong độ tuổi lao động có khả năng lao động” [36 Tr 7,8] Khái niệm này chỉ khả năng đảm đương lao động chính của xã hội

Theo giáo trình kinh tế nguồn nhân lực của trường Đại học Kinh tế Quốc dân

do PGS.TS Trần Xuân Cầu, PGS.TS Mai Quốc Chánh chủ biên, in năm 2008 thì:

Trang 22

“Nguồn nhân lực là nguồn lực con người có khả năng sáng tạo ra của cải

vật chất và tinh thần cho xã hội được biểu hiện ra là số lượng và chất lượng nhất định tại một thời điểm nhất định” [4 Tr 12] “Nguồn nhân lực là một phạm trù dùng để chỉ sức mạnh tiềm ẩn của dân cư, khả năng huy động tham gia vào quá trình tạo ra của cải vật chất và tinh thần cho xã hội trong hiện tại cũng như trong tương lai Sức mạnh và khả năng đó được thể hiện thông qua số lượng, chất lượng

và cơ cấu dân số, nhất là số lượng và chất lượng con người có đủ điều kiện tham gia vào nền sản xuất xã hội” [4 Tr 13]

Nguồn nhân lực là nguồn lực con người lao động tạo ra của cải vật chất cho

xã hội, nhằm thúc đẩy sự phát triển của cá nhân và xã hội

1.2.1.2 Khái niệm công nghệ thông tin

Công nghệ Thông tin (Information Technology) là một nhánh ngành kỹ thuật

sử dụng máy tính và phần mềm máy tính để chuyển đổi, lưu trữ, bảo vệ, xử lý, truyền tải và thu thập thông tin

Theo bài viết “Management in the 1980’s’’ của Harold J Leavitt và Thomas

L Whisler trên tạp chí Harvard Business Review số 11 năm 1958 Thuật ngữ "Công nghệ Thông tin" xuất hiện lần đầu tiên Hai tác giả đã bình luận: "Công nghệ mới chưa thiết lập một tên riêng Chúng ta sẽ gọi là công nghệ thông tin (Information Technology - IT) [16]

Ở Việt Nam, khái niệm Công nghệ Thông tin được hiểu và định nghĩa trong

nghị quyết Chính phủ 49/CP kí ngày 04/08/1993: "Công nghệ thông tin là tập hợp các phương pháp khoa học, các phương tiện và công cụ kĩ thuật hiện đại - chủ yếu

là kĩ thuật máy tính và viễn thông - nhằm tổ chức khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn tài nguyên thông tin rất phong phú và tiềm năng trong mọi lĩnh vực hoạt động của con người và xã hội" [6]

Các lĩnh vực chính của công nghệ thông tin bao gồm quá trình tiếp thu, xử

lý, lưu trữ và phổ biến hóa âm thanh, phim ảnh, văn bản và thông tin số bởi các vi điện tử dựa trên sự kết hợp giữa máy tính và truyền thông Một vài lĩnh vực hiện đại

và nổi bật của công nghệ thông tin như: các tiêu chuẩn Web thế hệ tiếp theo, sinh

Trang 23

tin, điện toán đám mây, hệ thống thông tin toàn cầu, tri thức quy mô lớn và nhiều lĩnh vực khác

1.2.1.3 Khái niệm nguồn nhân lực CNTT

Có nhiều khái niệm khác nhau về nguồn nhân lực CNTT, theo Hiệp hội CNTT Mỹ, nhân lực CNTT là lực lượng lao động thực hiện công việc như nghiên cứu, thiết kế, phát triển, ứng dụng, hỗ trợ và quản lý hệ thống thông tin dựa trên máy tính đặc biệt là những ứng dụng phần mềm và phần cứng máy tính (Computing Research Association,1999) [15]

Theo quan ñiểm của Quyết định số 05/2007/QĐ-BTTTT, ngày 26/10/2007 của BTTTT “Nguồn nhân lực CNTT bao gồm nhân lực làm việc trong các doanh nghiệp viễn thông, doanh nghiệp công nghiệp CNTT; nhân lực cho ứng dụng CNTT; nhân lực cho ñào tạo CNTT, ñiện tử, viễn thông và người dân sử dụng các ứng dụng CNTT [1]

Trong giới hạn nghiên cứu, đề tài sử dụng định nghĩa nguồn nhân lực CNTT của hiệp hội CNTT Mỹ, đồng thời chia nguồn nhân lực CNTT làm 3 nhóm là nguồn nhân lực CNTT trong quản lý nhà nước, nguồn nhân lực CNTT trong công nghiệp CNTT và nguồn nhân lực phục vụ ứng dụng, đào tạo CNTT

1.2.1.4 Khái niệm phát triển nguồn nhân lực CNTT

Về phát triển nguồn nhân lực cũng có nhiều khái niệm khác nhau ở góc độ vĩ

mô và vi mô như sau:

Theo sách Phát triển nguồn nhân lực thông qua giáo dục và đào tạo: Kinh nghiệm Đông Á của Viện Kinh tế thế giới xuất bản năm 2003:

“Phát triển nguồn nhân lực, xét từ góc độ một đất nước là quá trình tạo dựng lực lượng lao động năng động có kỹ năng và sử dụng chúng có hiệu quả, xét từ góc

độ cá nhân là việc nâng cao kỹ năng,năng lực hành động và chất lượng cuộc sống nhằm nâng cao năng suất lao động và thu nhập PTNNL là các hoạt động nhằm nâng cao và khuyến khích đóng góp tốt hơn kiến thức và thể lực của người lao động, đáp ứng tốt hơn cho nhu cầu sản xuất Kiến thức có được nhờ quá trình đào tạo và tiếp thu kinh nghiệm,trong khi đó thể lực có được nhờ chế độ dinh dưỡng, rèn luyện thân thể và chăm sóc y tế” [31 Tr 16-17]

Trang 24

Khái niệm này xem xét phát triển nguồn nhân lực của đất nước, từ đó khuyến nghị cho nhà nước những chính sách về giáo dục, đào tạo, y tế để phát triển nguồn nhân lực ở tầm vĩ mô

Theo GS.TS Bùi Văn Nhơn trong sách Quản lý và phát triển nguồn nhân lực xã hội xuất bản năm 2006:

“Phát triển nguồn nhân lực là tổng thể các hình thức, phương pháp, chính sách và biện pháp nhằm hoàn thiện và nâng cao chất lượng cho nguồn nhân lực (trí tuệ, thể chất, và phẩm chất tâm lý xã hội) nhằm đáp ứng đòi hỏi về nguồn nhân lực cho sự phát triển kinh tế xã hội trong từng giai đoạn phát triển” [24 Tr 98]

Trong khái niệm này chất lượng nguồn nhân lực được giải thích như sau:

“Thể lực của nguồn nhân lực: sức khỏe cơ thể và sức khỏe tinh thần”[24

Tr 99].“Trí lực của nguồn nhân lực: trình độ văn hóa, chuyên môn kỹ thuật và kỹ năng lao động thực hành của người lao động” [24 Tr.102]

“Phẩm chất tâm lý xã hội: kỷ luật, tự giác, có tinh thần hợp tác và tác phong công nghiệp, có tinh thần trách nhiệm cao.vv ” [24 Tr.106]

“Chỉ tiêu tổng hợp: tổ chức phát triển liên hợp quốc đã khuyến nghị và đưa

ra chỉ số để đánh giá sự phát triển con người HDI (HDI được tính từ 0,1-1) Theo phương pháp này thì sự phát triển con người được xác định theo ba yếu tố cơ bản và tổng hợp nhất: sức khỏe: tuổi thọ bình quân của dân số; trình độ học vấn: Tỷ lệ dân

số biết chữ, số năm đi học của một người; và thu nhập: tổng sản phẩm trong nước GDP/người [24.Tr.108]

Theo giáo trình Kinh tế nguồn nhân lực, trường đại học Kinh tế Quốc dân do

PGS.TS Trần Xuân Cầu chủ biên năm 2008:

“Phát triển nguồn nhân lực là quá trình phát triển thể lực, trí lực, khả năng nhận thức và tiếp thu kiến thức tay nghề, tính năng động xã hội và sức sáng tạo của con người; nền văn hoá; truyền thống lịch sử Với cách tiếp cận phát triển từ góc

độ xã hội, phát triển nguồn nhân lực là quá trình tăng lên về mặt số lượng (quy mô) nguồn nhân lực và nâng cao về mặt chất lượng nguồn nhân lực, tạo ra cơ cấu nguồn nhân lực ngày càng hợp lý Với cách tiếp cận phát triển từ góc độ cá nhân, phát triển nguồn nhân lực là quá trình làm cho con người trưởng thành, có năng lực xã hội (thể lực, trí lực, nhân cách) và tính năng động xã hội cao” [4 Tr104]

Trang 25

Khái niệm này chỉ quá trình phát triển nguồn nhân lực để cung cấp nguồn nhân lực có chất lượng cho đất nước nói chung Nếu áp dụng khái niệm này vào trong doanh nghiệp, phát triển nguồn nhân lực là sự thay đổi về số lượng, chất lượng và cơ cấu lao động thì sẽ có trùng lắp với một số biện pháp của quản trị nhân lực trong doanh nghiệp

Theo giáo trình Quản trị nhân lực, trường Đại học Kinh tế quốc dân, (2004):

“Phát triển nguồn nhân lực (theo nghĩa rộng) là tổng thể các hoạt động học tập có tổ chức được tiến hành trong những khoảng thời gian nhất định để nhằm tạo

ra sự thay đổi hành vi nghề nghiệp của người lao động” [14 Tr 161]

Khái niệm này chưa nhấn mạnh đến mục tiêu cuối cùng của phát triển nguồn nhân lực là phát triển tổ chức, phát triển cá nhân người lao động Theo khái niệm này thì nội dung phát triển nguồn nhân lực bao gồm ba loại hoạt động là: giáo dục, đào tạo và phát triển

“Giáo dục: được hiểu là các hoạt động học tập để chuẩn bị cho con người bước vào một nghề nghiệp hoặc chuyển sang một nghề mới, thích hợp hơn trong tương lai

Đào tạo : được hiểu là các hoạt động học tập nhằm giúp cho người lao động

có thể thực hiện có hiệu quả hơn chức năng, nhiệm vụ của mình Đó chính là quá trình học tập làm cho người lao động nắm vững hơn về công việc của mình, là những hoạt động học tập để nâng cao trình độ, kỹ năng của người lao động để thực hiện nhiệm vụ lao động có hiệu quả hơn

Phát triển: là các hoạt động học tập vượt ra khỏi phạm vi công việc trước mắt của người lao động, nhằm mở ra cho họ những công việc mới dựa trên cơ sở những định hướng tương lai của tổ chức” [14 Tr 161]

Như vậy hoạt động giáo dục, đào tạo và phát triển đều được hiểu là các hoạt động học tập với những mục tiêu khác nhau

Theo sách Cẩm nang về phát triển nguồn nhân lực của tác giả Leonard Nadlerin

năm 1984: “Phát triển nguồn nhân lực là các kinh nghiệm học tập có tổ chức được diễn

ra trong những khoảng thời gian nhất định nhằm tăng khả năng cải thiện kết quả thực hiện công việc, tăng khả năng phát triển của tổ chức và cá nhân” [22 Tr.1.3].Khái niệm này được giải thích như sau:

Trang 26

“Các kinh nghiệm học tập có tổ chức Con người học bằng những cách khác nhau Một số học một cách ngẫu nhiên Trong phát triển nguồn nhân lực chúng ta quan tâm đến việc học có chủ định, trong đó người học cam kết học tập với mục tiêu, kế hoạch học tập rõ ràng và có sự chuẩn bị cho việc đánh giá Học có chủ định được tổ chức chính thức, hoặc không chính thức Học chính thức liên quan đến sử dụng trang thiết bị, tài liệu Học không chính thức thường cá nhân hóa hơn là học chính thức Học không chính thức không chỉ giới hạn đối với những người có học vấn cao Đào tạo qua công việc là ví dụ về học không chính thức Để có hiệu quả, đào tạo qua công việc cần được tổ chức"

Để tăng khả năng cải thiện kết quả thực hiện công việc:phát triển nguồn nhân lực không thể hứa rằng kinh nghiệm học tập sẽ thay đổi kết quả thực hiện công việc Kết quả thực hiện công việc bị ảnh hưởng bởi nhiều nhân tố, và nhiều nhân tố nằm ngoài sự quản lý của người làm công tác PTNNL Người quản lý trực tiếp mới là nhân tố hàng đầu trong việc ảnh hưởng đến kết quả thực hiện công việc của người lao động Vì vậy thông qua hoạt động PTNNL chỉ có thể tăng khả năng cải thiện kết quả thực hiện công việc, khả năng phát triển tổ chức” [15 Tr.1.5]

Theo sách Nguyên tắc của phát triển nguồn nhân lực, tác giả là Jerry W

Gilley và các đồng sự năm 2002:

“Phát triển nguồn nhân lực là quá trình thúc đẩy việc học tập có tính tổ chức, nâng cao kết quả thực hiện công việc, và tạo ra thay đổi thông qua việc tổ chức thực hiện các giải pháp (chính thức và không chính thức), các sáng kiến và các hoạt động quản lý nhằm mục đích nâng cao năng lực, hiệu quả hoạt động của tổ chức, khả năng cạnh tranh và đổi mới” [20 Tr 6-7]

Tóm lại, các khái niệm nói trên giải thích phát triển nguồn nhân ở góc độ vĩ

mô nền kinh tế, giải thích về sự phát triển nguồn nhân lực nói chung Từ sự phân tích các khái niệm phát triển nguồn nhân lực trên, tác giả sử dụng kết hợp các khái niệm để nêu ra khái niệm Phát triển nguồn nhân lực công nghệ thông tin như sau:

Phát triển nguồn nhân lực công nghệ thông tin là quá trình thúc đẩy việc giáo dục và đào tạo, thu hút nhân lực, sử dụng nhân lực và có chế độ đãi ngộ nguồn nhân lực về CNTT nhằm nâng cao kết quả thực hiện công việc,

Trang 27

tăng khả năng phát triển của cá nhân và xã hội trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa

Từ khái niệm này cho thấy rằng để phát triển nguồn nhân lực CNTT trong quá trình CNH, HĐH trên địa bàn tỉnh, thành phố là một lĩnh vực rất rộng bao gồm: đẩy mạnh quá trình giáo dục và đào tạo về nguồn nhân lực CNTT; thu hút nguồn nhân lực CNTT; sử dụng nguồn nhân lực CNTT một cách hợp lý và hiệu quả nhất;

có chế độ đãi ngộ nhằm hạn chế tối đa hiện tượng “chảy máu chất xám”

1.2.1.5 Khái niệm CNH, HĐH

Quan niệm về công nghiệp hóa

Vào cuối thế kỷ thứ XVIII, cuộc Cách mạng công nghiệp được diễn ra ở nước Anh với sự xuất hiện “chiếc thoi bay” trong lĩnh vực se sợi Nước Anh trở thành quê hương của Cách mạng công nghiệp, là nước tiến hành CNH đầu tiên Manchester là thành phố công nghiệp đầu tiên trên thế giới Kể từ đây, nhân loại bước vào một giai đoạn phát triển mới – giai đoạn CNH

Sau Anh là lần lượt các nước: Pháp vào đầu thế kỷ XIX, Mỹ và Đức vào giữa thế kỷ XIX, Nhật, Nga và nhiều nước châu Âu khác vào cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ

XX tiến hành CNH và đã lần lượt trở thành nước công nghiệp

Sau Chiến tranh thế giới lần thứ hai (giữa thế kỷ XX), nhiều nước thuộc Thế giới thứ ba tiến hành quá trình này với Chiến lược CNH riêng của mình Một số dựa theo mô hình CNH của Liên xô (cũ), một số dựa theo mô hình của Mỹ Đến nay, một

số nước đã thực hiện CNH rút ngắn thành công, đã trở thành nước công nghiệp Tuy nhiên, còn không ít nước trong đó có Việt Nam vẫn trong tình trạng nền kinh tế nông nghiệp, đang trong giai đoạn tiến hành CNH

Do thời điểm lịch sử tiến hành CNH ở các nước không giống nhau nên đã có những quan niệm khác nhau về CNH Việc nhận thức đúng phạm trù CNH trong một giai đoạn phát triển cụ thể của đất nước là rất cần thiết, nó không chỉ có ý nghĩa về lý luận mà còn có tính thiết thực trong hoạch định và thực thi chính sách phát triển

Thực tế lịch sử cho thấy, những nước đi đầu về CNH như Anh, Pháp và một

số nước Tây Âu khác vào thời điểm cuối thế kỷ XVIII, đầu thế kỷ XIX, đi liền với cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ nhất với công nghệ chủ đạo là máy hơi nước

Trang 28

Trong điều kiện đó, CNH được hiểu là quá trình thay thế lao động thủ công bằng lao động sử dụng máy móc, quá trình chuyển nền kinh tế từ nông nghiệp là chủ yếu lên công nghiệp, biến một nước nông nghiệp truyền thống thành nước công nghiệp

Những biểu hiện đầu tiên của CNH được gắn với nội dung của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ nhất Đó là: (i) Chuyển chỗ làm việc từ gia đình vào các công xưởng trên quy mô lớn; (ii) Tập trung dân cư ở các khu đô thị; (iii) Thay thế

hệ thống kỹ thuật thủ công dựa vào gỗ, sức cơ bắp, sức nước, sức gió và sức kéo động vật bằng một hệ thống kỹ thuật cơ khí với nguồn động lực là máy hơi nước và nguồn nguyên liệu, nhiên liệu và năng lượng mới là sắt và than đá, tạo ra sự đột phá trong phát triển lực lượng sản xuất, tạo bước phát triển vượt bậc của công nghiệp; (iv) Tạo ra những công việc kinh doanh mới nhờ có được những mạng lưới giao thông, vận tải và thông tin liên lạc mới; (v) Tăng mạnh quy mô của thị trường và việc sử dụng tín dụng, ngân hàng và các dịch vụ tài chính có liên quan; và (vi) Áp dụng rộng rãi các phát minh mới Với những biểu hiện đó, CNH còn được hiểu là

quá trình nâng cao tỷ trọng của công nghiệp trong toàn bộ các ngành kinh tế của một vùng hay một nền kinh tế, quá trình chuyển nền kinh tế dựa chủ yếu vào nông nghiệp lên nền kinh tế dựa chủ yếu vào công nghiệp Đây không chỉ là quá trình

chuyển biến về kinh tế mà còn chuyển biến cả về văn hóa và xã hội để đạt tới một

xã hội mới - xã hội công nghiệp

Đến nửa cuối thế kỷ XIX, cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ hai được diễn ra với quy mô và thành quả lớn hơn rất nhiều so với cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ nhất Nhiều công nghệ mới được sản xuất ra và đưa vào sử dụng Điển hình là con người đã sản xuất ra động cơ điện vào năm 1872, sản xuất ra động cơ đốt trong (động cơ diesel) vào năm 1883, sản xuất ra kim loại màu và các hóa phẩm tổng hợp Trong điều kiện đó, quan niệm về CNH có sự thay đổi Nó

không còn đơn thuần là cơ khí hóa, mà còn được gắn với quá trình điện khí hóa, hóa học hóa và cơ giới hóa

Sau chiến tranh thế giới lần thứ hai (khoảng giữa thế kỷ XX), cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ ba được diễn ra trên thế giới với sự phát triển vượt bậc và

có tính đột phá của khoa học và công nghệ Trong giai đoạn này, tuy những quốc

Trang 29

gia đã hoàn thành CNH đang tiến rất mạnh vào nền kinh tế hiện đại, nhưng còn không ít quốc gia vẫn trong tình trạng nền kinh tế lạc hậu, đang hoặc thậm chí có nước còn chưa bước vào giai đoạn CNH Trong bối cảnh đó, việc nhận thức phạm

trù CNH còn được hiểu đó là quá trình tự động hóa sản xuất và phát triển các công nghệ chất lượng cao…

Ngoài những quan niệm trên, trong kho tàng tri thức của nhân loại còn có những quan niệm khác về CNH dựa trên một số mục tiêu nhất định về trình độ phát triển của

tư liệu lao động, phương thức tổ chức sản xuất, thu nhập quốc dân, cơ cấu kinh tế,

cơ cấu công nghiệp, cơ cấu lao động, mức độ phát triển công nghiệp chế tác, loại công cụ sản xuất, các hàm sản xuất cơ bản, phương thức sản xuất

Tuy có những quan niệm khác nhau về CNH, nhưng về cơ bản các quan niệm trên vẫn có những điểm chung và có thể được hiểu theo hai nghĩa:

- Theo nghĩa hẹp, CNH là quá trình chuyển dịch từ kinh tế nông nghiệp (hay

tiền công nghiệp) lên nền kinh tế lấy công nghiệp làm chủ đạo, từ chỗ tỷ trọng lao động nông nghiệp chiếm chủ yếu giảm dần và nhường chỗ cho lao động công nghiệp chiếm tỷ trọng lớn hơn

- Theo nghĩa rộng, CNH là quá trình chuyển dịch từ kinh tế nông nghiệp

(hay tiền công nghiệp) lên kinh tế công nghiệp, từ xã hội nông nghiệp lên xã hội công nghiệp, từ văn minh nông nghiệp lên văn minh công nghiệp Nó không chỉ đơn thuần là những biến đổi về kinh tế mà bao gồm cả các biến đổi về văn hóa và

xã hội từ trạng thái nông nghiệp lên xã hội công nghiệp, tức là trình độ văn minh

cao hơn

Quan niệm về hiện đại hóa

Theo cách hiểu thông thường, hiện đại hóa (HĐH) là quá trình “làm cho mang tính chất của thời đại ngày nay [32, tr 422], Đó là quá trình biến đổi từ tính chất truyền thống cũ lên trình độ tiên tiến của thời đại hiện nay

Theo ý nghĩa về kinh tế - xã hội, HĐH là quá trình chuyển dịch căn bản từ xã hội truyền thống lên xã hội hiện đại, quá trình làm cho nền kinh tế và đời sống xã hội mang tính chất và trình độ của thời đại ngày nay

Trang 30

HĐH về kinh tế vừa có sự thay đổi về tính chất, vừa có tính xác định về thời gian Giai đoạn đầu của hiện đại hóa được xác định trùng với thời kỳ diễn ra cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ nhất (còn gọi là thời kỳ CNH) Trong giai đoạn này, CNH là nội dung cốt lõi của HĐH

Tuy một số nước đi trước đã hoàn thành CNH và đã trở thành nước công nghiệp phát triển, nhưng quá trình HĐH ở các nước đó vẫn tiếp tục diễn ra ở trình

độ cao hơn Thực tế cho thấy, ở mỗi trình độ phát triển khác nhau, HĐH mang những đặc trưng khác nhau

Đối với các nước phát triển, HĐH là quá trình chuyển dịch từ xã hội dựa trên nền kinh tế công nghiệp lên xã hội dựa trên nền kinh tế tri thức

Đối với các nước đang phát triển, HĐH là quá trình tăng tốc, rút ngắn lộ trình phát triển để đuổi kịp các nước đi trước và phát triển hơn Do tiến hành CNH trong bối cảnh mới của thế giới nên bên cạnh việc dựa vào các nguồn lực trong nước, các nước đang phát triển còn tranh thủ các nguồn lực từ bên ngoài thông qua thu hút đầu

tư để tìm kiếm nguồn vốn và công nghệ mới Đây chính là kiểu CNH rút ngắn hiện đại Nó khác với kiểu CNH rút ngắn cổ điển đã từng tiến hành ở các nước như Liên

Xô (cũ) và Nhật Bản vào cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX trước đây

CNH rút ngắn hiện đại là cách thức mà nước đi sau tiến hành CNH khi trên thế giới đã có những quốc gia hoàn thành CNH, những nội dung của CNH đã được triển khai ổn định ở các nước đi trước (gọi là nước công nghiệp phát triển) Do sự biến đổi nhanh chóng của tiến bộ khoa học và công nghệ, nhất là từ khi diễn ra cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại, nên những công nghệ hiện có của các nước này dễ bị lạc hậu Do cạnh tranh trên thị trường, các nước này phải “chiếm lĩnh đỉnh cao công nghệ”, nên họ sẵn sàng chuyển giao công nghệ hiện có của họ cho nước đi sau để bước vào thế hệ công nghệ mới Bởi vậy, nước đi sau có rất nhiều phương án lựa chọn trong phát triển công nghệ mà không nhất thiết phải dựa vào phát minh Đây chính là “lợi thế của nước đi sau” Dựa vào lợi thế này, nước đi sau có thể rút ngắn đáng kể thời gian để sớm trở thành nền kinh tế hiện đại Tại các nước này, quá trình tiến hành CNH được gắn kết với quá trình HĐH

Trang 31

Kế thừa có chọn lọc và phát triển những tri thức của văn minh nhân loại về CNH và căn cứ vào điều kiện lịch sử cụ thể của Việt Nam là một nước đi sau đang trong quá trình phát triển, Đảng cộng sản Việt Nam tại Hội nghị Trung ương lần thứ bảy khóa VII (năm 1994) [7], nêu chủ trương tiến hành xây dựng cơ sở vật chất –

kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam trong giai đoạn mới bằng con đường

CNH, HĐH và nêu quan niệm: “CNH, HĐH là quá trình chuyển đổi căn bản, toàn diện các hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ và quản lý kinh tế - xã hội, từ sử dụng lao động thủ công là chính sang sử dụng một cách phổ biến sức lao động với công nghệ, phương tiện, phương pháp tiên tiến hiện đại, dựa trên sự phát triển của công nghiệp và tiến bộ khoa học công nghệ, tạo ra năng suất lao động xã hội cao”.[9, tr 65]

Theo quan niệm này, quá trình xây dựng cơ sở vật chất – kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam phải kết hợp chặt chẽ hai nội dung CNH và HĐH Nó không chỉ đơn thuần là phát triển công nghiệp mà còn phải thực hiện chuyển dịch

cơ cấu trong từng ngành, lĩnh vực và toàn bộ nền kinh tế quốc dân theo hướng hiện đại Nó không chỉ là một quá trình phát triển tuần tự từ cơ giới hóa lên tự động hóa, tin học hóa mà còn kết hợp giữa thủ công truyền thống với công nghệ hiện đại, tranh thủ đi nhanh vào hiện đại ở những khâu có thể và mang tính quyết định Quan niệm trên không bó hẹp CNH trong phạm vi trình độ các lực lượng sản xuất đơn thuần, kỹ thuật đơn thuần để chuyển lao động thủ công thành lao động cơ khi như cách hiểu trước đây, mà còn là một sự kết hợp với những thành tựu mới nhất về khoa học và công nghệ của nhân loại

1.2.2 Vai trò của CNTT với quá trình CNH, HĐH đất nước

Vai trò của phát triển nguồn nhân lực nói chung trong sự nghiệp CNH, HĐH:

Xuất phát từ quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lê Nin, tư tưởng Hồ Chí Minh về vai trò của con người trong sự nghiệp phát triển đất nước, Đảng và Nhà nước Việt Nam luôn luôn đặt con người vào vị trí trung tâm, lấy mục tiêu và động lực chính của sự phát triển là vì con người và do con người Đề cao vai trò của nhân tố con người là nét nổi bật trong tư tưởng kinh tế của Chủ nghĩa Mác; V.I Lê

Trang 32

Nin : "Lực lượng sản xuất hàng đầu của toàn thể nhân loại là công nhân, là người lao động" [30, Tr430] Chủ tịch Hồ Chí Minh: " Phải biết quý trọng sức người là vốn quý nhất của ta Chúng ta phải hết lòng chăm sóc sức khỏe và sử dụng thật hợp

lý sức lao động của nhân dân ta"[17, Tr364] CNTT có vai trong quan trọng đối với

sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước

- Công nghệ thông tin và truyền thông làm cho kho tri thức của nhân loại giàu lên nhanh chóng, con người tiếp cận với lượng tri thức đó nhanh hơn, dễ hơn,

có tính chọn lọc hơn Điều đó đẩy mạnh sự phát triển của các ngành khoa học, công nghệ hiện đại

- Công nghệ thông tin làm cho những phát mình, phát hiện được phổ biến nhanh hơn, được ứng dụng nhanh hơn, tạo điều kiện thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá

- Công nghệ thông tin làm cho năng suất lao động tăng lên do có điều kiện thuận lợi để kế thừa và cải tiến một số công nghệ sẵn có hoặc nghiên cứu phát minh công nghệ mới

- Công nghệ thông tin tạo ra tính hiện đại, chặt chẽ, kịp thời trong quản lý, làm cho hiệu quả quản lý cao hơn, góp phần giảm những khâu trung gian trong quá trình quản lý kém hiệu quả

Quan điểm của Đảng ta: Nguồn nhân lực là nhân tố quyết định sự phát triển đất nước trong thời kỳ CNH, HĐH

Có thể kết luận rằng nguồn lực chủ yếu nhất trong các nguồn lực để tiến hành CNH, HĐH là nguồn nhân lực Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực là con đường ngắn nhất để tạo ra sức cạnh tranh trong môi trường kinh doanh quốc tế, đặc biệt là trong kinh tế tri thức

Vai trò của phát triển nguồn nhân lực CNTT trong sự nghiệp CNH, HĐH:

- Yếu tố then chốt, có ý nghĩa quyết định đối với việc ứng dụng và phát triển CNTT trong sự nghiệp CNH, HĐH

- Nhân tố thúc đẩy sự hình thành và phát triển kinh tế tri thức

- Nhân tố quan trọng góp phần rút ngắn tiến trình CNH, HĐH đất nước

Trang 33

- Góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng hiện đại, sự phát triển bền vững về mặt kinh tế, xã hội, môi trường

Ngoài ra, việc phát triển nguồn nhân lực công nghệ thông tin còn là phát huy lợi thế của Hải Phòng trong sự nghiệp CNH, HĐH

1.2.3 Chính sách phát triển nguồn nhân lực CNTT

1.2.3.1 Chính sách quốc gia

Xác định rõ vai trò quan trọng của CNTT đối với sự phát triển của đất nước, Đảng và Nhà nước đã chú trọng đến việc thúc đẩy ứng dụng Công nghệ thông tin với nhiều chủ trương, chỉ thị, văn bản, nghị quyết phù hợp với tình hình đất nước trong từng giai đoạn, trong đó có một số nghị quyết quan trọng:

Nghị quyết số 26-NQ/TW, ngày 30/03/1991 của Bộ Chính trị về khoa học và

công nghệ trong sự nghiệp đổi mới đã nêu: “Tập trung sức phát triển của một số ngành khoa học công nghệ mũi nhọn như điện tử, tin học, …” [8]

Nghị quyết số 49/CP ngày 04/08/1993 về “Phát triển công nghệ thông tin ở Việt Nam trong những năm 90”.[11]

Nghị quyết Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương khóa VII, ngày

30/07/1994 xác định: “Ưu tiên ứng dụng và phát triển các công nghệ tiên tiến, như công nghệ thông tin phục vụ yêu cầu điện tử hóa và tin học hóa nền kinh tế quốc dân” [7]

Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ VIII nhấn mạnh: “Ứng dụng công nghệ thông tin trong tất cả các lĩnh vực kinh tế quốc dân, tạo ra sự chuyển biến rõ rệt về năng suất, chất lượng và hiệu quả; hình thành mạng thông tin quốc gia liên kết với một số mạng thông tin quốc tế…”[10]

Đặc biệt là chỉ thị số 58-CT/TW, ngày 17 tháng 10 năm 2000 về đẩy mạnh ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa,

hiện đại hóa Chỉ thị đã nêu rõ “Công nghệ thông tin là một trong các công cụ và động lực quan trọng nhất của sự phát triển, cùng với một số ngành công nghệ cao khác đang làm biến đổi sâu sắc đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội của thế giới hiện đại Ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin ở nước ta nhằm góp phần giải phóng sức mạnh vật chất, trí tuệ và tinh thần của toàn dân tộc, thúc đẩy công cuộc

Trang 34

đổi mới, phát triển nhanh và hiện đại hóa các ngành kinh tế, tăng cường năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp, hỗ trợ có hiệu quả cho quá trình chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân, đảm bảo an ninh, quốc phòng và tạo khả năng đi tắt đón đầu để thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa”.[12]

Đến nay, công nghệ thông tin ở nước ta đã và đang phát triển mạnh mẽ, không chỉ góp phần thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, mà còn trở thành ngành kinh tế mũi nhọn Theo nhận định của Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân tại Hội nghị quốc gia về CNTT-TT năm 2010, tổng kết 10 năm thực

hiện Chỉ thị 58-CT/TW của Bộ Chính trị và triển khai “Đề án đưa Việt Nam sớm trở thành nước mạnh về CNTT-TT” diễn ra vào ngày 03/12 tại Hà Nội “Trong 10 năm tới, ngành CNTT-TT sẽ trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, đóng góp khoảng 10% trong tổng GDP cả nước và đào tạo ra được 1 triệu nhân lực chất lượng cao” Phó Thủ tướng cho rằng ngành CNTT-TT cần tập trung vào 3 điểm đột phá: về quản lý nhà nước; tập trung phát triển các doanh nghiệp và các sản phẩm quốc gia

về CNTT; phát triển nhân lực

Định hướng phát triển công nghệ thông tin và truyền thông giai đoạn 2011 –

2020, Bộ Bưu chính Viễn thông đã ban hành Chỉ thi số 07/CT-BCVT về “Định hướng chiễn lược phát triển công nghệ thông tin và truyền thông Việt Nam giai đoạn 2011 – 2020” (gọi tắt là “Chiến lược cất cánh”).[3]

Chỉ thị đã nêu: “Chiến lược cất cánh” cho giai đoạn 2011 – 2020 sẽ góp phần

“sớm đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển; tạo nền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại, thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức”

1.2.3.2 Chính sách của địa phương

Xác định rõ vai trò của nguồn nhân lực công nghệ thông tin trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Hải Phòng UBND thành phố đã đưa ra Quyết định

số 1439/QĐ-UBND ngày 15 tháng 09 năm 2014 về việc phê duyệt Đề án "Quy hoạch ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin thành phố Hải Phòng đến năm 2020" [27]

Trang 35

Quyết định nhấn mạnh: Phát triển nguồn nhân lực công nghệ thông tin là yếu

tố then chốt có ý nghĩa quyết định đối với việc phát triển và ứng dụng công nghệ thông tin Phát triển nguồn nhân lực công nghệ thông tin phải đảm bảo chất lượng, đồng bộ, chú trọng tăng tỷ lệ nguồn nhân lực chất lượng cao

Phát triển nguồn nhân lực công nghệ thông tin phải gắn chặt chẽ với quá trình đổi mới giáo dục và đào tạo, đặc biệt là đổi mới giáo dục đại học Đổi mới cơ bản và toàn diện đào tạo nhân lực công nghệ thông tin theo hướng hội nhập và đạt trình độ khu vực và quốc tế, tạo được chuyển biến cơ bản về chất lượng đào tạo, đáp ứng yêu cầu phát triển công nghệ thông tin của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập kinh tế quốc tế của thành phố

Đẩy mạnh xã hội hóa và hợp tác quốc tế, phát huy mọi nguồn lực trong nước

và thu hút các nguồn đầu tư nước ngoài cho phát triển nguồn nhân lực công nghệ thông tin

Xác định rõ quy mô, cơ cấu, chương trình đào tạo, công tác biên soạn, cung cấp giáo trình, tài liệu phục vụ đào tạo ở các cấp học, trình độ đào tạo, tuyển sinh theo nhu cầu của xã hội và của thị trường Lấy năng suất, chất lượng và hiệu quả lao động của người học khi tốt nghiệp, làm việc tại các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp làm căn cứ đánh giá kết quả, chất lượng đào tạo

Bên cạnh việc đào tạo, cần có các giải pháp thích hợp tăng cường thu hút nhân lực công nghệ thông tin chất lượng cao từ trung ương và các thành phố lớn

Đảm bảo đủ nhân lực về lượng và chất phục vụ nhu cầu phát triển và ứng dụng công nghệ thông tin, phục vụ cho việc xây dựng nền kinh tế tri thức và xã hội thông tin, sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập kinh tế quốc tế của thành phố

Tạo được bước chuyển biến đột phá về chất lượng trong đào tạo nguồn nhân lực công nghệ thông tin Đào tạo công nghệ thông tin, điện tử, viễn thông ở các trường đại học đạt trình độ và chất lượng tiên tiến trong khu vực các nước Đông Nam Á; có khoảng 30% số lượng sinh viên công nghệ thông tin, điện tử, viễn thông

Trang 36

sau tốt nghiệp ở các trường đại học có đủ khả năng chuyên môn và ngoại ngữ để có thể tham gia thị trường lao động quốc tế

Đảm bảo đủ nhân lực, đáp ứng được cho nhu cầu phát triển của các doanh nghiệp trong lĩnh vực công nghệ thông tin và truyền thông

Phổ cập kiến thức và kỹ năng ứng dụng công nghệ thông tin 100% cán bộ, công chức, viên chức được đào tạo về ứng dụng CNTT trong công việc của mình; 100% cán bộ chuyên trách về CNTT có trình độ cao đẳng hoặc tương đương trở lên, đáp ứng được yêu cầu tham mưu ứng dụng CNTT trong các cơ quan nhà nước

1.2.4 Những điều kiện để phát triển nguồn nhân lực CNTT

Bên cạnh sự phát triển của các ngành kinh tế biển, CNTT hiện là một trong

4 lĩnh vực công nghệ cao, trọng yếu của Hải Phòng (ngoài công nghệ sinh học, công nghệ vật liệu mới, tự động hóa) Hải Phòng mặc dù hiện nay đang đứng thứ 10 trong 63 tỉnh thành trong cả nước về chỉ số ICT nhưng Hải phòng luôn có những lợi thế nhất định trong viện phát triển nguồn nhân lực CNTT, điều này sẽ là đòn bẩy quan trọng cho sự phát triển của nền kinh tế của Hải phòng Hải phòng là cửa ngõ vùng duyên hải Bắc Bộ và Hải phòng có những lợi thế nhất định về phát triển nguồn nhân lực CNTT:

Thứ nhất, Hải Phòng là địa phương ứng dụng CNTT đứng thứ 10 trong cả

nước về chỉ số sẵn sàng CNTT và TT VN (ICT Index) năm 2013

Thứ hai, đây là thị trường CNTT lớn trong nước, bước đầu có thương hiệu

trong lĩnh vực CNTT quốc tế

Thứ ba, Hải Phòng bước đầu đã xây dựng thành công “Một cửa điện tử”,

các công văn liên lạc chủ yếu thông qua hòm thư điện tử thông qua tên miền

“gov.vn” Giúp cải thiện đáng kể về thời gian và mức độ chuẩn xác của thông tin liên lạc

Ngoài ra, Hải Phòng còn là nơi tập trung các trường ĐH, CĐ có đào tạo về CNTT, có thể hợp tác và thu hút lực lượng lao động cao, có cơ sở hạ tầng CNTT

tốt, chính sách thông thoáng

Trang 37

1.3 KINH NGHIỆM PHÁT TRIỂN NNL CNTT Ở MỘT SỐ TỈNH THÀNH PHỐ TRONG NƯỚC

1.3.1 Kinh nghiệm của Đà Nẵng

Sau 10 năm triển khai thực hiện Chỉ thị số 58-CT/TW ngày 17/10/2000 của

Bộ Chính trị về “Đẩy mạnh ứng dụng và phát triển Công nghệ thông tin (CNTT) phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa” và Quyết định số 81/2001/QĐ-TTg ngày 24/5/2001 của Thủ tướng Chính phủ, phê duyệt “Chương trình hành động triển khai Chỉ thị số 58-CT/TW của Bộ Chính trị” là một chặng đường dài đầu tiên có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với CNTT&TT của Đà Nẵng Chính trong giai đoạn này, nền móng CNTT&TT của Thành phố đã được thiết kế và thi công một cách đồng bộ từ cơ sở hạ tầng, ứng dụng, công nghiệp và đào tạo nguồn nhân lực [33]

Trong giai đoạn hiện nay, thành phố Đà Nẵng đặt ra mục tiêu đến năm 2020

là một đô thị hoạt động theo mô hình chính quyền điện tử ở mức tiên tiến và CNTT&TT trở thành ngành kinh tế kỹ thuật quan trọng có tỷ lệ đóng góp lớn vào sự tăng trưởng GDP của Thành phố, với các 4 mục tiêu cụ thể:

Về cơ sở hạ tầng CNTT&TT: Bảo đảm hạ tầng để vận hành tốt cho mô hình Chính quyền điện tử, triển khai thành công nhiều dịch vụ công qua mạng ; số máy tính trong cộng đồng đạt 0,7 máy tính/hộ; 70% hộ gia đình kết nối Internet, tiếp tục triển khai chương trình quang hoá đến với các hộ gia đình tại các các chung cư, các

đô thị mới đạt tỷ lệ 90%

Về ứng dụng CNTT&TT: Bảo đảm cung cấp hầu hết các dịch vụ công của

đề án 30 (tương tác 2 chiều) với 90% ứng dụng ở mức 3; 50% ở mức 4; tỷ lệ 50% các bệnh viện sử dụng bệnh án điện tử, 80% các trường phổ thông sử dụng học bạ điện tử; 80% doanh nghiệp ứng dụng ERP, thương mại điện tử để quản lý và điều hành sản xuất, kinh doanh

Về công nghiệp CNTT&TT: Hình thành và phát triển các khu CNTT tập trung có quy mô vừa, đa dạng trong phương thức đầu tư, phù hợp theo tiêu chuẩn quốc tế, tạo bước phát triển đột phá cho Công nghiệp CNTT của Thành phố trong

Trang 38

những năm tiếp theo Phấn đấu tổng doanh thu công nghiệp phần mềm đạt 1.200 tỷ đồng vào năm 2015 và đến năm 2020 đạt 2.500 tỷ đồng

Về đào tạo nguồn nhân lực CNTT&TT: Bảo đảm cho nhu cầu ứng dụng và phát triển CNTT, đặc biệt nguồn nhân lực cho Khu Công nghệ cao, Khu CNTT tập trung và Đô thị công nghệ cao FPT Phấn đấu đến năm 2015, tổng số nhân lực CNTT&TT (từ trung cấp đến đại học) được đào tạo tại các trường và cơ sở đào tạo trên địa bàn Thành phố đạt từ 4000 đến 5000 người và hướng đến 2020 đạt 8.000 đến 10.000 người/năm, đưa Đà Nẵng trở thành địa chỉ tin cậy trong việc cung cấp nguồn nhân lực chất lượng cao về CNTT&TT cho cả nước và khu vực [33]

Thành phố Đà Nẵng đã có những bước đột phá và mạnh rạn trong quá trình phát triển nguồn nhân lực CNTT Điều này có ý nghĩa rất lớn trong việc học tập kinh nghiệm và giải pháp nhằm phát triển nhanh và bền vững nguồn nhân lực CNTT ở Hải Phòng hiện nay

1.3.2 Kinh nghiệm của thành phố Hồ Chí Minh

Công nghệ thông tin được xác định là 1 trong 4 lĩnh vực công nghệ trong yếu

để góp phần quan trọng trong việc chuyển đổi cơ cấu công nghiệp tại TP.HCM (cơ khí; điện tử- công nghệ thông tin; hóa chất-cao su; chế biến tinh lương thực, thực phẩm và các ngành công nghệ sinh học

Là trung tâm công nghiệp lớn của cả nước TP HCM là nơi phát triển CNTT sớm nhất, với tốc độ nhanh nhất cả nước Cho đến nay, ngành CNTT của TP.HCM

có những bước phát triển khá mạnh, đạt được nhiều thành tựu với đội ngũ cán bộ,

kỹ thuật viên, nhân viên CNTT ngày càng trưởng thành

Hiện nay, nguồn nhân lực CNTT tại TP.HCM trong các đơn vị sản xuất kinh doanh CNTT có hơn 29.000 lao động, trong đó lao động phần cứng khoảng 10.000 người, lao động phần mềm và dịch vụ CNTT khoảng 19.000 người

Số lượng nguồn nhân lực CNTT tại TP HCM chiếm tỷ trọng lớn so với các địa phương khác ở Việt Nam, có nhu cầu không ngừng tăng lên vì đay là thị trường CNTT lớn nhất và cũng là địa phương ứng dụng CNTT mạnh nhất so với cả nước

Trong những năm gần đây đã có một bộ phận nhân lực CNTT có những tiến

bộ đáng kể, đáp ứng được yêu cầu của nhà tuyển dụng, đủ trình độ làm việc với các

Trang 39

công ty nước ngoài hoặc trực tiếp tham gia vào thị trường lao động chất lượng cao của thế giới như Nhật Bản, Singapore, Hoa kỳ và nhiều doanh nghiệp lớn như Intel, Datalogic, Nidee Nguồn nhân lực CNTT của TP.HCM được đánh giá là nguồn nhân lực trẻ và dồi dào, mạnh và nhiệt huyết, năm 2009 đã được Công ty tư vấn gia công Tholons (Mỹ) xếp thứ 4 trong tốp 10 thành phố hấp dẫn nhất về gia công phần mềm trên thế giới

Trên địa bàn TP.HCM, hiện có 24 trường đại học, 22 trường cao đẳng và khoảng trên 200 trường trung cấp nghề và trung tâm đào tạo tin học Như vậy, TP.HCM chiếm gần 50% tổng số các trường đại học, cao đẳng đào tạo về CNTT trong cả nước, hiện đứng đầu cả nước về số lượng các trường đào tạo cử nhân, kỹ

sư CNTT, số trung tâm đào tạo hợp tác với nước ngoài Công viên phần mềm Quang Trung là một nơi làm tốt chức năng đào tạo nguồn nhân lực này [9]

Trong năm 2010, nhân lực ngành CNTT ở TP.HCM đã góp phần để lĩnh vực CNTT đạt được những kết qủa đáng ghi nhận, đóng góp đáng kể cho sự phát triển kinh tế xã hội, quốc phòng, an ninh và xuất khẩu

Bảng 1.1 Hệ thống giáo dục và đào tạo CNTT ở TP.HCM

Bậc đào tạo Số đơn vị Khả năng đào tạo hàng năm (người)

(Nguồn: sở Thông tin và Truyền thông TP.HCM năm 2010)

Là trung tâm lớn nhất cả nước về sản xuất và kinh doanh trong lĩnh vực CNTT, doanh thu từ CNTT trong năm 2010 đạt 57 nghìn 200 tỷ đồng, tăng 44,6%

so với năm 2009, chiếm khoảng 40% tổng doanh thu CNTT của cả nước Đây là địa phương đang đứng đầu cả nước về tỷ lệ thâm nhập máy tính cá nhân và internet trong các hộ gia đình, khoảng 96% gia đình có máy tính cá nhân, mật độ điện thoại đạt 195 máy/100 dân [34]

Nhiều tập đoàn CNTT và truyền thông trên thế giới đã tham gia vào thị trường CNTT ở TP.HCM Đây là nơi đi đầu cả nước trong việc phát triển các khu

Trang 40

phần mềm tập trung (4/5 số khu công viên phần mềm của cả nước), có mật độ doanh nghiệp ngành CNTT thông tin tương đối lớn, tập trung

Dự báo đến năm 2020, số lao động làm việc trong các ngành liên quan đến CNTT ở toàn TP.HCM cần khoảng hơn 67.000 người và cũng vào thời điểm này, các trường đại học, cao đẳng cần tuyển hơn 31.000 sinh viên vào học chuyên ngành

CNTT [34]

Tóm lại, TP.HCM đang "tăng tốc" phát triển CNTT trở thành một ngành kinh tế chủ lực, có hiệu quả kinh tế cao và ứng dụng nhanh, rộng rãi ở mọi lĩnh vực kinh tế- xã hội của thành phố, đây được xem là yếu tố then chốt để nâng cao năng lực cạnh tranh, hiện đại hóa với chi phí thấp nhất, góp phần quan trọng để rút ngắn quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở TP.HCM Để thực hiện thành công sự nghiệp ấy, phát triển nguồn nhân lực CNTT chất lượng cao là yếu tố quyết định nhất và là một đòi hỏi cấp bách hiện nay

1.3.3 Bài học rút ra đối với Hải Phòng

Từ kinh nghiệm của Đà Nẵng và Thành phố Hồ Chí Minh về đào tạo và phát triển nguồn nhân lực CNTT trong quá trình CNH, HĐH có thể rút ra một số bài học cho Hải Phòng

Về vấn đề nhận thức, phải luôn coi trọng vai trò của CNTT đối với sự phát triển của kinh tế -xã hội, đặc biệt trong giai đoạn xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật cho quá trình CNH, HĐH ở Hải Phòng nói riêng và cả nước nói chung Phát triển nguồn nhân lực CNTT là yếu tố then chốt có ý nghĩa quyết định đối với việc phát triển và ứng dụng CNTT của Hải Phòng

Về các biện pháp thực hiện có thể kể đến một số biện pháp như:

Triển khai các chính sách, các chương trình hỗ trợ đào tạo về nguồn nhân lực CNTT đảm bảo đủ số lượng, chất lượng và cơ cấu hợp lý với tốc độ nhanh

Phát triển nguồn nhân lực CNTT phải gắn kết chặt chẽ với quá trình đổi mới giáo dục và đào tạo, đặc biệt là đổi mới giáo dục đại học, đáp ứng nhu cầu của xã hội và của thị trường, yêu cầu của sự nghiệp CNH, HĐH ở Hải Phòng

Tăng cường quá trình huy động các nguồn lực trong nước và nước ngoài trong việc phát triển nguồn nhân lực CNTT

Ngày đăng: 29/06/2021, 09:03

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Thông tin và Truyền thông, 2007.Quyết định số 05/2007/QĐ- BTTTT, ngày 26/10/2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 05/2007/QĐ- BTTTT
2. Bộ Thông tin và Truyền thông, 2008.“Kỷ yếu Hội thảo quốc gia về đào tạo nguồn nhân lực CNTT và TT theo nhu cầu xã hội”. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ Thông tin và Truyền thông, 2008."“Kỷ yếu Hội thảo quốc gia về đào tạo nguồn nhân lực CNTT và TT theo nhu cầu xã hội”
5. Mai Quốc Chánh chủ biên, 1999. Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu CNH, HĐH đất nước, Hà Nội: Nxb Chính trị Quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu CNH, HĐH đất nước
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
9. Chính Phủ Nước CHXNCN VN, 2006. Nghị quyết đại hội đại biểu TP HCM, 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết đại hội đại biểu TP HCM
11. Chính Phủ Nước CHXNCN VN, 1993. Nghị quyết số 49/CP ngày 04/08/1993 về “Phát triển công nghệ thông tin ở Việt Nam trong những năm 90” Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Phát triển công nghệ thông tin ở Việt Nam trong những năm 90
13. Đảng Cộng sản Việt Nam,1994. Văn kiện Hội nghị lần thứ bảy Ban chấp hành Trung ương khóa VII, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứ bảy Ban chấp hành Trung ương khóa VII
14. Trường Đại học Kinh tế quốc dân, 2004. Giáo trình Quản trị nhân lực. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Quản trị nhân lực
16. Harold J. Leavitt và Thomas L. Whisler 1958 ,bài viết “Management in the 1980’s’'', tạp chí Harvard Business Review, số 1117 . Hồ Chí Minh tuyển tập, tập 3,2002. Hà Nội: NXB chính trị quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Management in the 1980’s’''", tạp chí Harvard Business Review, số 11 17 . Hồ Chí Minh tuyển tập, "tập 3
Nhà XB: NXB chính trị quốc gia
18. Đặng Hữu, 2005. “CNTT - mũi nhọn đột phá đưa loài người vào thời đại kinh tế tri thức”. Hà Nội: NXB Chính trị quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: “CNTT - mũi nhọn đột phá đưa loài người vào thời đại kinh tế tri thức”
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
19. John Bernardin, 2007. Human resource management (Quản lý nguồn nhân lực) Nxb McGraw-hill, Boston Sách, tạp chí
Tiêu đề: Human resource management (Quản lý nguồn nhân lực)
Nhà XB: Nxb McGraw-hill
21. Phạm Văn Khánh, 2011. Trọng dụng nhân tài giáo dục để đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu thời kì mới , Tạp chí Dân số và Phát triển, số 9(101).22 . Leonard Nadlerin, 1984. Cẩm nang về phát triển nguồn nhân lực, Hà Nội: NXB Sự Thật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trọng dụng nhân tài giáo dục để đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu thời kì mới" , Tạp chí Dân số và Phát triển, số 9(101). 22. Leonard Nadlerin, 1984. "Cẩm nang về phát triển nguồn nhân lực
Nhà XB: NXB Sự Thật
23. Bùi Thị Ngọc Lan, 2002. Nguồn lực trí tuệ trong sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam, Hà Nội: Nxb Chính trị quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguồn lực trí tuệ trong sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
24. Bùi Văn Nhơn, 2006. Quản lý và phát triển nguồn nhân lực xã hội, Hà Nội: NXB Tƣ Pháp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý và phát triển nguồn nhân lực xã hội
Nhà XB: NXB Tƣ Pháp
3. Bộ Bưu chính Viễn thông, Chỉ thi số 07/CT-BCVT về “Định hướng chiễn lược phát triển công nghệ thông tin và truyền thông Việt Nam giai đoạn 2011 – 2020 Khác
4. Trần Xuân Cầu, PGS.TS. Mai Quốc Chánh chủ biên, 2008. Giáo trình kinh tế nguồn nhân lực, Hà Nội: Đại học Kinh tế Quốc dân Khác
6. Chính Phủ Nước CHXNCN VN, 1993. Nghị quyết Chính phủ 49/CP kí ngày 04/08/1993 Khác
7. Chính Phủ Nước CHXNCN VN, 1991. Nghị Quyết TW7 Khoá VII Khác
8. Chính Phủ Nước CHXNCN VN, 1991. Nghị quyết số 26-NQ/TW, ngày 30/03/1991 của Bộ Chính trị Khác
10. Chính Phủ Nước CHXNCN VN, 1996. Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ VIII Khác
12. Chỉ thị số 58-CT/TW, ngày 17 tháng 10 năm 2000 về đẩy mạnh ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1. Hệ thống giáo dục và đào tạo CNTTở TP.HCM Bậc đào tạo  Số đơn vị  Khả năng đào tạo hàng năm (ngƣời)  - Phát triển nguồn nhân lực công nghệ thông tin ở hải phòng trong quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa
Bảng 1.1. Hệ thống giáo dục và đào tạo CNTTở TP.HCM Bậc đào tạo Số đơn vị Khả năng đào tạo hàng năm (ngƣời) (Trang 39)
Quy mô, đối tƣợng và hình thức đào tạo - Phát triển nguồn nhân lực công nghệ thông tin ở hải phòng trong quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa
uy mô, đối tƣợng và hình thức đào tạo (Trang 49)
Bảng 3.2 Thống kê số lƣợng sinh viên chuyên ngành CNTT - Phát triển nguồn nhân lực công nghệ thông tin ở hải phòng trong quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa
Bảng 3.2 Thống kê số lƣợng sinh viên chuyên ngành CNTT (Trang 50)
Bảng 3.3. Thống kê kết quả học tập - Phát triển nguồn nhân lực công nghệ thông tin ở hải phòng trong quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa
Bảng 3.3. Thống kê kết quả học tập (Trang 51)
Bảng 3.4 Hình thức tuyển sinh - Phát triển nguồn nhân lực công nghệ thông tin ở hải phòng trong quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa
Bảng 3.4 Hình thức tuyển sinh (Trang 52)
Bảng 3.5 Điểm chuẩn vào trƣờng cao đẳng đại học các năm gần đây - Phát triển nguồn nhân lực công nghệ thông tin ở hải phòng trong quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa
Bảng 3.5 Điểm chuẩn vào trƣờng cao đẳng đại học các năm gần đây (Trang 52)
Bảng 3.6 Thống kê hình thức đào tạo - Phát triển nguồn nhân lực công nghệ thông tin ở hải phòng trong quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa
Bảng 3.6 Thống kê hình thức đào tạo (Trang 53)
Bảng 3.7 Thống kê phòng học giảng dạy CNTT - Phát triển nguồn nhân lực công nghệ thông tin ở hải phòng trong quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa
Bảng 3.7 Thống kê phòng học giảng dạy CNTT (Trang 54)
Bảng 3.8 Thống kê tỷ lệ học viên/máy tính - Phát triển nguồn nhân lực công nghệ thông tin ở hải phòng trong quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa
Bảng 3.8 Thống kê tỷ lệ học viên/máy tính (Trang 54)
Bảng 3.10 Thống kê chƣơng trình đào tạo CNTTở các trƣờng ĐH, CĐ - Phát triển nguồn nhân lực công nghệ thông tin ở hải phòng trong quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa
Bảng 3.10 Thống kê chƣơng trình đào tạo CNTTở các trƣờng ĐH, CĐ (Trang 56)
Bảng 3.11 Giáo trình đào tạo CNTT tại ĐH DL Hải Phòng - Phát triển nguồn nhân lực công nghệ thông tin ở hải phòng trong quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa
Bảng 3.11 Giáo trình đào tạo CNTT tại ĐH DL Hải Phòng (Trang 57)
Bảng 3.12 Thống kê số lƣợng giáo viên phân theo trình độ đào tạo CNTT ở các trƣờng đại học  - Phát triển nguồn nhân lực công nghệ thông tin ở hải phòng trong quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa
Bảng 3.12 Thống kê số lƣợng giáo viên phân theo trình độ đào tạo CNTT ở các trƣờng đại học (Trang 59)
Bảng 3.20 Khung chƣơng trình đào tạo ở các trƣờng trung cấp - Phát triển nguồn nhân lực công nghệ thông tin ở hải phòng trong quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa
Bảng 3.20 Khung chƣơng trình đào tạo ở các trƣờng trung cấp (Trang 63)
Bảng 3.19 Tỷ lệ học viên/máy tính ở các trƣờng trung cấp - Phát triển nguồn nhân lực công nghệ thông tin ở hải phòng trong quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa
Bảng 3.19 Tỷ lệ học viên/máy tính ở các trƣờng trung cấp (Trang 63)
Bảng 3.22 Trình độ giáo viên tin học của các trƣờng trung cấp - Phát triển nguồn nhân lực công nghệ thông tin ở hải phòng trong quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa
Bảng 3.22 Trình độ giáo viên tin học của các trƣờng trung cấp (Trang 64)
Bảng 3.21 Số lƣợng giáo viên tin học của các trƣờng trung cấp - Phát triển nguồn nhân lực công nghệ thông tin ở hải phòng trong quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa
Bảng 3.21 Số lƣợng giáo viên tin học của các trƣờng trung cấp (Trang 64)
Bảng 3.23 Tỷ lệ học viên/giáo viên của các trƣờng trung cấp - Phát triển nguồn nhân lực công nghệ thông tin ở hải phòng trong quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa
Bảng 3.23 Tỷ lệ học viên/giáo viên của các trƣờng trung cấp (Trang 65)
Bảng 3.25 Các loại chứng chỉ đƣợc cấp ra từ các trung tâm tin học - Phát triển nguồn nhân lực công nghệ thông tin ở hải phòng trong quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa
Bảng 3.25 Các loại chứng chỉ đƣợc cấp ra từ các trung tâm tin học (Trang 66)
- Hình thức tuyển sinh - Phát triển nguồn nhân lực công nghệ thông tin ở hải phòng trong quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa
Hình th ức tuyển sinh (Trang 67)
Bảng 3.27 Hình thức đào tạo tại các trung tâm tin học - Phát triển nguồn nhân lực công nghệ thông tin ở hải phòng trong quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa
Bảng 3.27 Hình thức đào tạo tại các trung tâm tin học (Trang 68)
- Hình thức đào tạo - Phát triển nguồn nhân lực công nghệ thông tin ở hải phòng trong quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa
Hình th ức đào tạo (Trang 68)
Bảng 3.31 Khung chƣơng trình đào tạo tại các trung tâm - Phát triển nguồn nhân lực công nghệ thông tin ở hải phòng trong quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa
Bảng 3.31 Khung chƣơng trình đào tạo tại các trung tâm (Trang 70)
Bảng 3.32 Số lƣợng giáo viên tin học của các trung tâm - Phát triển nguồn nhân lực công nghệ thông tin ở hải phòng trong quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa
Bảng 3.32 Số lƣợng giáo viên tin học của các trung tâm (Trang 72)
Quy mô, đối tƣợng và hình thức đào tạo - Phát triển nguồn nhân lực công nghệ thông tin ở hải phòng trong quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa
uy mô, đối tƣợng và hình thức đào tạo (Trang 73)
Bảng 3.35 Kết quả học tập của cấp phổ thong - Phát triển nguồn nhân lực công nghệ thông tin ở hải phòng trong quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa
Bảng 3.35 Kết quả học tập của cấp phổ thong (Trang 74)
Bảng 3.37 Phòng học phục vụ cho phát triển CNTTở các cấp học - Phát triển nguồn nhân lực công nghệ thông tin ở hải phòng trong quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa
Bảng 3.37 Phòng học phục vụ cho phát triển CNTTở các cấp học (Trang 75)
Bảng 3.39 Tỷ lệ học sinh/máy tính ở các trƣờng phổ thong - Phát triển nguồn nhân lực công nghệ thông tin ở hải phòng trong quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa
Bảng 3.39 Tỷ lệ học sinh/máy tính ở các trƣờng phổ thong (Trang 76)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w