Mục tiêu của đề tài là xác định các yếu tố ảnh hưởng đến sự lựa chọn trường mẫu giáo cho con của phụ huynh tại Tp.HCM; điều chỉnh và kiểm định thang đo các yếu tố ảnh hưởng đến sự lựa chọn trường mẫu giáo của phụ huynh tại Tp.HCM... Mời các bạn cùng tham khảo nội dung chi tiết.
CƠ SỞ LÝ THUYẾT
Lý thuyết về dịch vụ
Theo Zeithaml và Bitner (1996) (dẫn theo Vũ Nhân Vương, 2012), dịch vụ được định nghĩa là những hành vi và quy trình tạo ra giá trị cho khách hàng, nhằm đáp ứng và thỏa mãn nhu cầu của họ.
Những đặc điểm của dịch vụ:
Dịch vụ có tính vô hình, nghĩa là chúng không thể được sờ mó hay nắm bắt như các sản phẩm hữu hình Người tiêu dùng không thể nhìn thấy, nếm thử hay ngửi thấy dịch vụ trước khi quyết định mua, điều này tạo ra một thách thức trong việc đánh giá giá trị của dịch vụ.
Tính không đồng nhất trong dịch vụ thể hiện qua sự khác biệt về chất lượng từ kém đến hoàn hảo, phụ thuộc vào người phục vụ, cảm nhận của khách hàng và thời gian phục vụ Sự biến thiên trong dịch vụ xảy ra thường xuyên hơn so với sản phẩm hữu hình do tính chất tương tác con người cao, làm cho việc chuẩn hóa dịch vụ trở nên khó khăn.
Tính không thể tách rời của dịch vụ thể hiện qua sự khó khăn trong việc phân biệt giữa giai đoạn tạo ra và giai đoạn sử dụng Khách hàng thường tham gia vào quá trình tạo thành dịch vụ, điều này khác với sản phẩm hữu hình, nơi khách hàng chỉ sử dụng sản phẩm ở giai đoạn cuối Do đó, việc tạo ra và sử dụng dịch vụ thường xảy ra đồng thời, tạo nên một trải nghiệm liền mạch cho người tiêu dùng.
Dịch vụ không thể lưu giữ như hàng hóa hữu hình, điều này tạo ra thách thức lớn cho các nhà cung cấp trong việc quản lý cung và cầu Khi nhu cầu của khách hàng thay đổi, họ cần tìm ra giải pháp để điều chỉnh cung ứng dịch vụ cho phù hợp.
Lý thuyết về hành vi tiêu dùng
Theo Philip Kotler (2007), hành vi tiêu dùng nghiên cứu cách mà người tiêu dùng quyết định sử dụng tài sản của họ để mua sắm hàng hóa và dịch vụ Trong bối cảnh này, hàng hóa và dịch vụ đề cập đến dịch vụ chăm sóc trẻ tại các trường mẫu giáo, với người mua là các bậc phụ huynh.
2.2.2 Các yếu tố ảnh hưởng hành vi người tiêu dùng
Tuổi và giai đoạn sống
Nhóm tham khảo Gia đình Vai trò và địa vị
TÂM LÝ Động cơ Nhận thức Hiểu biết Niềm tin và thái độ Người mua
Hình 2.1 Các yếu tố ảnh hưởng hành vi tiêu dùng
Văn hóa đóng vai trò quan trọng trong hành vi mua sắm của người tiêu dùng thông qua ba hình thức chính: nền văn hóa, nhánh văn hóa và tầng lớp xã hội Sự khác biệt trong nền văn hóa sẽ dẫn đến những cách thức mua sắm khác nhau giữa các cá nhân.
Hành vi của người tiêu dùng bị tác động mạnh mẽ bởi các yếu tố xã hội, bao gồm các nhóm tham khảo, ảnh hưởng từ gia đình, cũng như vai trò và địa vị xã hội của cá nhân.
Nhóm tham khảo là những nhóm có ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến thái độ và hành vi của cá nhân, bao gồm gia đình, bạn bè, hàng xóm và đồng nghiệp.
Gia đình đóng vai trò quan trọng trong hành vi mua sắm của người tiêu dùng, với các thành viên như vợ, chồng và con cái có ảnh hưởng lớn đến quyết định mua hàng Là tổ chức mua sắm chủ yếu trong xã hội, việc hiểu rõ vai trò và sự ảnh hưởng của từng thành viên trong gia đình đối với các sản phẩm và dịch vụ khác nhau là rất cần thiết Điều này giúp xác định ai là người có ảnh hưởng lớn hơn trong việc lựa chọn sản phẩm.
Vai trò và địa vị của một người được xác định qua sự tham gia vào nhiều nhóm, câu lạc bộ và tổ chức Trong từng nhóm, vị trí của họ phản ánh vai trò và địa vị cá nhân Họ thường lựa chọn sản phẩm và địa điểm mua sắm để thể hiện rõ ràng vai trò và địa vị của mình.
Quyết định mua hàng của người tiêu dùng bị ảnh hưởng bởi các yếu tố cá nhân như tuổi tác, giới tính, giai đoạn trong chu kỳ sống, nghề nghiệp và hoàn cảnh kinh tế của họ.
Tuổi tác và giai đoạn chu kỳ sống ảnh hưởng lớn đến hành vi tiêu dùng của con người, khi mà họ có xu hướng mua sắm những hàng hóa và dịch vụ khác nhau trong từng giai đoạn của cuộc đời Sự thay đổi này trong tiêu dùng được định hình bởi các nhu cầu và sở thích riêng biệt của mỗi giai đoạn sống.
Nghề nghiệp có ảnh hưởng lớn đến hành vi tiêu dùng của con người, với sự khác biệt giữa các nhóm nghề nghiệp dẫn đến những thói quen mua sắm khác nhau Do đó, việc xác định các nhóm nghề nghiệp có mức độ quan tâm cao hơn đối với sản phẩm và dịch vụ của bạn là rất quan trọng.
Hoàn cảnh kinh tế của một cá nhân bao gồm các yếu tố như thu nhập, tài sản, tiền tiết kiệm, nợ nần và khả năng vay mượn, cũng như thái độ đối với chi tiêu và tiết kiệm Dựa vào các chỉ số kinh tế, các doanh nhân điều chỉnh giá cả sản phẩm và dịch vụ để phù hợp với nhu cầu của người tiêu dùng.
Lối sống của một người phản ánh cách sống qua hoạt động, sự quan tâm và ý kiến của họ Hành vi mua sắm và sự lựa chọn sản phẩm chính là biểu hiện rõ nét nhất của lối sống người tiêu dùng.
Nhân cách là tập hợp các đặc điểm tâm lý của mỗi cá nhân, tạo ra những phản ứng nhất quán và bền vững đối với môi trường xung quanh Ý niệm về bản thân gắn liền với nhân cách, thể hiện cách mà một người nhận thức và đánh giá chính mình trong mối quan hệ với thế giới.
Các yếu tố cá nhân của phụ huynh sẽ được phân tích để hiểu rõ ảnh hưởng của chúng đến quyết định lựa chọn trường mẫu giáo cho con cái.
Tổng quan về dịch vụ mầm non tại Tp Hồ Chí Minh
Trước đây, dịch vụ mầm non chỉ do Nhà nước cung cấp, nhưng từ khi có chính sách xã hội hóa giáo dục mầm non, nhiều tổ chức và cá nhân đã tham gia vào lĩnh vực này Dịch vụ giáo dục mầm non hiện nay bị ảnh hưởng bởi quy luật cung cầu của thị trường.
Hiện nay, sự cải tiến về chất lượng và cơ sở vật chất của các trường mầm non công lập đã tạo dựng niềm tin cho phụ huynh, khiến họ mong muốn gửi con vào những trường này Do đó, các trường mầm non dân lập cần nâng cao chất lượng giáo dục để thu hút sự quan tâm của phụ huynh.
2.3.1 Các loại hình trường mầm non
Theo Điều 3 của Điều lệ trường mầm non (2008), các cơ sở giáo dục mầm non bao gồm trường mầm non, trường mẫu giáo, nhà trẻ, nhóm trẻ và lớp mẫu giáo độc lập được tổ chức dưới ba loại hình: công lập, dân lập và tư thục.
Nhà trường, nhà trẻ, nhóm trẻ và lớp mẫu giáo công lập được thành lập và đầu tư xây dựng bởi cơ quan Nhà nước, nhằm đảm bảo cơ sở vật chất và kinh phí cho các nhiệm vụ chi thường xuyên.
Nhà trường, nhà trẻ, nhóm trẻ và lớp mẫu giáo dân lập được thành lập bởi cộng đồng dân cư tại địa phương, với sự đầu tư xây dựng cơ sở vật chất và đảm bảo kinh phí hoạt động, đồng thời nhận được sự hỗ trợ từ chính quyền địa phương.
Nhà trường, nhà trẻ, nhóm trẻ và lớp mẫu giáo tư thục được thành lập bởi các tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tổ chức kinh tế, hoặc cá nhân, với mục tiêu đầu tư xây dựng cơ sở vật chất và đảm bảo kinh phí hoạt động từ nguồn vốn ngoài ngân sách nhà nước.
2.3.2 Điều kiện thành lập trường mầm non
Nhà trường, nhà trẻ được cấp có thẩm quyền quyết định thành lập hoặc cho phép thành lập khi đảm bảo các điều kiện sau:
Bài viết nhấn mạnh tầm quan trọng của việc phát triển mạng lưới cơ sở giáo dục phù hợp với quy hoạch, nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội của địa phương Điều này không chỉ tạo điều kiện thuận lợi cho trẻ em trong việc đến trường mà còn góp phần nâng cao chất lượng giáo dục và phát triển bền vững cho cộng đồng.
- Có từ ba nhóm trẻ, lớp mẫu giáo trở lên với số lƣợng ít nhất 50 trẻ em và có không quá 15 nhóm trẻ, lớp mẫu giáo
- Có đủ cán bộ quản lý, giáo viên và nhân viên theo tiêu chuẩn
- Có cơ sở vật chất, trang thiết bị theo quy định
2.3.3 Phâncấp quản lý nhà nước đối với dịch vụ mầm non Điều lệ trường mầm non (2008) đưa ra quy định về việc quản lý nhà nước đối với dịch vụ mầm non nhƣ sau:
- Ủy ban nhân dân quận, huyện, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh quản lý nhà trường, nhà trẻ công lập trên địa bàn
Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn có trách nhiệm quản lý các cơ sở giáo dục như trường học, nhà trẻ dân lập, trường tư thục, cùng với các nhóm trẻ và lớp mẫu giáo độc lập trong khu vực.
Phòng giáo dục và đào tạo chịu trách nhiệm quản lý nhà nước về giáo dục cho tất cả các loại hình trường học, bao gồm trường tiểu học, nhà trẻ, nhóm trẻ và lớp mẫu giáo độc lập trong khu vực.
2.3.4 Phân lớp theo độ tuổi
Trẻ em tại các trường mầm non được phân lớp theo độ tuổi, theo Điều lệ trường mầm non năm 2008 Các trẻ được chia thành hai nhóm chính: nhóm trẻ và lớp mẫu giáo Nhóm trẻ bao gồm trẻ em từ 3 tháng đến 36 tháng tuổi, và số lượng trẻ tối đa trong mỗi nhóm được quy định cụ thể.
- Nhóm trẻ từ 3 - 12 tháng tuổi: 15 trẻ;
- Nhóm trẻ từ 13 - 24 tháng tuổi: 20 trẻ;
Trẻ em từ 25 đến 36 tháng tuổi: 25 trẻ Đối với lớp mẫu giáo, trẻ em từ ba đến sáu tuổi được tổ chức thành các lớp mẫu giáo, với số trẻ tối đa trong mỗi lớp được quy định cụ thể.
- Lớp mẫu giáo 3 - 4 tuổi: 25 trẻ;
- Lớp mẫu giáo 4 - 5 tuổi: 30 trẻ;
- Lớp mẫu giáo 5 - 6 tuổi: 35 trẻ
Lứa tuổi mẫu giáo này chính là phân khúc nghiên cứu của luận văn
2.3.5 Thực trạng mầm non tại Tp.HCM
Theo thống kê của Sở Giáo dục TP.HCM, tính đến năm 2013, thành phố có tổng cộng 755 trường mầm non và mẫu giáo, trong đó có 414 trường công lập (chiếm 55%) và 341 trường tư thục (chiếm 45%) Ngoài ra, còn có 1.106 nhóm trẻ gia đình và lớp mẫu giáo tư thục đáp ứng nhu cầu gửi trẻ của phụ huynh.
Bảng 2.1 Thống kê trường mầm non/mẫu giáo Tp.HCM
(Nguồn: Sở giáo dục và đào tạo Tp.HCM)
TỔNG SỐ TRƯỜNG VÀ NHÓM LỚP
Từ số liệu thống kê giáo dục mẫu giáo của Tổng cục thống kê, năm học 2012-
Năm 2013, cả nước có 3.551.100 trẻ đến trường và 188.200 giáo viên nuôi dạy trẻ, trong đó Tp.HCM có 253.800 trẻ và 12.765 giáo viên Từ 2010 đến 2012, tỷ lệ tăng giáo viên mầm non tại Tp.HCM thấp hơn tỷ lệ tăng học sinh, dẫn đến tình trạng thiếu 1.258 giáo viên mầm non trong năm học 2012 - 2013 Bà Trương Thị Việt Liên, Phó trưởng phòng Mầm non Sở GD-ĐT Tp.HCM, cho biết nhiều giáo sinh tốt nghiệp không muốn làm việc lâu dài tại các trường mầm non Nguyên nhân bao gồm sự thiếu đam mê, tình trạng miễn cưỡng chọn nghề, và áp lực từ việc kiêm nhiệm công việc bảo mẫu Hơn nữa, việc không có quy định về chức danh bảo mẫu đã làm cho việc tuyển dụng trở nên khó khăn, dẫn đến thu nhập thấp và không có biên chế cho họ.
Bảng 2.2 Số liệu thống kê giáo dục mẫu giáo trên toàn quốc
(Nguồn: Tổng cục thống kê)
Số lớp học - Nghìn lớp 119,4 118 122
Số giáo viên - Nghìn người 157,5 174 188,2
Số học sinh - Nghìn học sinh 3061,3 3320,3 3551,1
Số học sinh bình quân/lớp học - Học sinh 26 28 29
Số học sinh bình quân/giáo viên - Học sinh 19 19 19
Bảng 2.3 Số liệu thống kê mẫu giáo tại Tp.HCM
(Nguồn: Tổng cục thống kê)
Số lớp học - Nghìn lớp 14,973 7,259 7,923
Số giáo viên - Nghìn người 10,703 11.983 12,765
Số học sinh - Nghìn học sinh 214,7 241,5 253,8
Tỷ lệ tăng học sinh so với năm trước 12.48% 10.20%
Tỷ lệ tăng giáo viên so với năm trước 11.60% 6.53%
Tại TP HCM, ngành giáo dục mầm non đang đối diện với nghịch lý khi con em gia đình khá giả được học tại các trường công lập chất lượng cao với học phí thấp nhờ vào sự đầu tư của Nhà nước, trong khi trẻ em nghèo phải học tại các cơ sở tư thục có mức học phí cao nhưng chất lượng không đảm bảo và không nhận được hỗ trợ Để khắc phục tình trạng này, Sở GD-ĐT TP HCM đã đề xuất tăng cường xây dựng các trường công lập nhằm đáp ứng nhu cầu học tập Ngoài ra, Nhà nước cũng cần hỗ trợ các trường tư thục để giảm bớt gánh nặng tài chính cho học sinh, từ đó tạo ra sự công bằng trong giáo dục cho tất cả trẻ em.
Các nghiên cứu nước ngoài về sự lựa chọn trường mẫu giáo
2.4.1 Nghiên cứu của Tung-Sheng Kuo và Ling-Ling Lin (2008)
Nghiên cứu của Tung-Sheng Kuo và Ling-Ling Lin (2008) về thị trường mẫu giáo tại thành phố Yunlin, Đài Loan, đã khảo sát 338 bậc phụ huynh và xác định năm yếu tố chính ảnh hưởng đến sự lựa chọn trường mẫu giáo Các yếu tố này bao gồm: môi trường học và sự tiện nghi của cơ sở vật chất, chương trình đào tạo, đội ngũ giáo viên, nền tảng dịch vụ nhà trường, và chi phí cùng sự thuận tiện.
Môi trường và sự tiện nghi
Chi phí và sự thuận tiện
Nền tảng dịch vụ Đội ngũ giáo viên chuyên nghiệp và có bằng cấp
Lựa chọn trường mẫu giáo cho con
Hình 2.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến sự lựa chọn trường mẫu giáo tại Yunlin
(Nguồn: ghi nhận từ nghiên cứu Tung-Sheng Kuo & Ling-Ling Lin (2008))
2.4.2 Nghiên cứu của Kathryn E.Grogan (2011)
Nghiên cứu của Kathryn E Grogan (2011) về "Sự lựa chọn trường mẫu giáo của cha mẹ: phương pháp tiếp cận giao dịch" đã được thực hiện trên 203 phụ huynh tại Mỹ Các nhân tố chính tác động đến sự lựa chọn trường mẫu giáo của phụ huynh bao gồm chất lượng giáo dục, sự gần gũi với nhà ở, và chi phí học phí Nghiên cứu này cung cấp cái nhìn sâu sắc về quyết định của cha mẹ trong việc chọn trường cho con em mình.
Sự thuận tiện Đặc điểm của trẻ
An toàn và sức khỏe Đội ngũ giáo viên, nhân viên
Lựa chọn trường mẫu giáo cho con
Hình 2.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến sự lựa chọn trường mẫu giáo tại Mỹ
(Nguồn: ghi nhận từ nghiên cứu Kathryn E.Grogan, 2011)
Mô hình nghiên cứu đề xuất
Dựa trên các nghiên cứu của Tung-Sheng Kuo & Ling-Ling Lin (2008) và Kathryn E.Grogan (2011), cùng với kết quả nghiên cứu định tính, tác giả đề xuất mô hình nghiên cứu gồm 6 yếu tố ảnh hưởng đến sự lựa chọn trường mẫu giáo cho con của phụ huynh tại Tp.HCM.
Chi phí và sự thuận tiện
Sự an toàn và sức khỏe của trẻ
Chương trình đào tạo Đội ngũ giáo viên, nhân viên
Lựa chọn trường mẫu giáo
Hình 2.6 Mô hình nghiên cứu đề xuất của tác giả
Nghiên cứu của Tung-Sheng Kuo và Ling-Ling Lin (2008) xác định các yếu tố nền tảng dịch vụ thông qua các biến quan sát như sự tham gia của cha mẹ trong đào tạo, uy tín của người lãnh đạo, hình ảnh tích cực của trường, dịch vụ theo dõi sức khỏe định kỳ và hạn chế sĩ số lớp Những biến quan sát này đã được đề cập trong nghiên cứu của Kathryn E Grogan (2011), vì vậy tác giả không đưa chúng vào mô hình nghiên cứu của mình.
Nghiên cứu của Kathryn E Grogan (2011) nêu bật các đặc điểm và tính cách của trẻ, từ đó giúp cha mẹ định hướng phát triển phù hợp cho con Những đặc điểm này sẽ hỗ trợ phụ huynh trong việc lựa chọn trường học thích hợp Tuy nhiên, trong quá trình phỏng vấn, các phụ huynh tại Tp.HCM cho rằng không có nhiều trường chuyên biệt đáp ứng nhu cầu này, vì vậy tác giả đã quyết định không đưa yếu tố này vào mô hình nghiên cứu.
Các thành phần trong mô hình:
Cơ sở vật chất là yếu tố quan trọng mà phụ huynh có thể quan sát ngay khi đến trường, phản ánh mức đầu tư của trường vào dịch vụ giáo dục Theo nghiên cứu của Tung-Sheng Kuo & Ling-Ling Lin (2008), yếu tố này được gọi là "Môi trường và sự tiện nghi", nhằm đo lường các biến như phòng học, sân chơi và dụng cụ dạy học Tuy nhiên, trong quá trình phỏng vấn, nhóm tham gia đã đề xuất đổi tên yếu tố này thành "cơ sở vật chất" để phù hợp hơn với bối cảnh Việt Nam.
Yếu tố “Đội ngũ giáo viên và nhân viên” đóng vai trò quan trọng trong việc chăm sóc trẻ em tại trường mẫu giáo, dựa trên nghiên cứu của Kathryn E.Grogan (2011) và Tung-Sheng Kuo & Ling-Ling Lin (2008) Sự chuyên môn của giáo viên, cùng với lòng tận tâm và thái độ tích cực đối với phụ huynh, là những yếu tố then chốt Ở lứa tuổi mẫu giáo, thời gian trẻ được chăm sóc bởi giáo viên thường nhiều hơn thời gian ở bên cha mẹ, vì vậy mọi hoạt động như ăn, ngủ, vệ sinh, và học tập đều phụ thuộc vào giáo viên Tuy nhiên, những vụ bạo hành trẻ em gần đây đã làm dấy lên nỗi lo ngại cho phụ huynh khi gửi con vào trường mẫu giáo, khiến họ phải cân nhắc kỹ lưỡng về tính cách và thái độ của giáo viên trước khi quyết định gửi gắm con em mình Sự tin tưởng vào giáo viên là điều kiện tiên quyết để phụ huynh cảm thấy an tâm về sự an toàn của trẻ.
Chương trình đào tạo, dựa trên nghiên cứu của Kathryn E Grogan (2011) và Tung-Sheng Kuo & Ling-Ling Lin (2008), đề cập đến các phương pháp giáo dục trẻ em trong trường học Yếu tố này bao gồm sỉ số lớp học, lịch học, các hoạt động ngoại khóa và kỹ năng giao tiếp của học sinh với mọi người.
Nghiên cứu tại Đài Loan và Mỹ cho thấy phụ huynh có sự quan tâm đến việc tham gia vào các chương trình học và hoạt động ngoại khóa của trẻ Tuy nhiên, qua phỏng vấn định tính, nhiều phụ huynh lại cho rằng yếu tố này không thực sự quan trọng đối với họ.
Theo phụ huynh, giáo dục đạo đức cho trẻ quan trọng hơn giáo dục kiến thức trong giai đoạn này, giúp trẻ hòa đồng và lễ phép với người lớn Chương trình đào tạo cần đạt mục tiêu cuối độ tuổi mẫu giáo theo tiêu chuẩn của bộ giáo dục, đồng thời chuẩn bị tâm lý tốt cho trẻ khi bước vào lớp một.
Yếu tố "Sự an toàn và sức khỏe của trẻ" được kế thừa từ nghiên cứu của Kathryn E Grogan (2011), phản ánh mối quan tâm của phụ huynh về an toàn cho trẻ khi học tại trường Điều này bao gồm các khía cạnh như an toàn vệ sinh thực phẩm, vệ sinh môi trường, kiểm tra sức khỏe định kỳ và sự tăng cân của trẻ.
Trẻ em ở lứa tuổi mẫu giáo chưa đủ nhận thức về những mối nguy hiểm xung quanh, và những sự việc tưởng chừng đơn giản có thể gây ra hậu quả nghiêm trọng Gần đây, đã có nhiều vụ tai nạn thương tâm như trẻ bị ngạt nước trong nhà vệ sinh ở Bình Dương, điện giật ở Kiên Giang, và té vào hố ga ở Hà Tĩnh Những sự kiện này đã khiến phụ huynh ngày càng cảnh giác hơn và họ thường xem xét kỹ lưỡng các mối nguy hiểm trước khi quyết định gửi con vào trường mẫu giáo.
Yếu tố "Chi phí và sự thuận tiện" được kế thừa từ nghiên cứu của Kathryn E Grogan (2011) và Tung-Sheng Kuo & Ling-Ling Lin (2008) Trong khi nghiên cứu của Kathryn E Grogan chỉ tập trung vào sự thuận tiện, nghiên cứu của Kuo & Lin lại kết hợp hai yếu tố này thành một Qua quá trình phỏng vấn, nhóm nghiên cứu đã đề xuất tách riêng hai thành phần, nhưng tác giả vẫn quyết định giữ nguyên yếu tố kết hợp của Kuo & Lin.
Ling-Ling Lin (2008) đã nghiên cứu để xác định xem hai yếu tố này có tách biệt hay không Yếu tố đầu tiên đo lường các chi phí mà phụ huynh phải chi trả cho trường học khi gửi trẻ, trong khi yếu tố thứ hai liên quan đến sự thuận tiện mà phụ huynh nhận được, bao gồm việc dễ dàng di chuyển đến trường, dịch vụ giữ trẻ ngoài giờ và xe đưa đón tận nhà.
Yếu tố “Thông tin tham khảo” được tác giả khám phá trong quá trình phỏng vấn định tính, như đã được Kathryn E.Grogan (2011) đề cập Mặc dù đây là một yếu tố tích cực, nhưng Kathryn E.Grogan đã không đưa yếu tố này vào mô hình nghiên cứu của mình.
Khi có nhu cầu gửi trẻ, phụ huynh thường tìm kiếm thông tin từ nhiều nguồn khác nhau như người thân, bạn bè, quảng cáo và internet Tiếp theo, họ thường cho trẻ học thử để trải nghiệm dịch vụ Sau quá trình tham khảo và trải nghiệm, phụ huynh sẽ cân nhắc quyết định gửi con vào trường hay không.
Theo lý thuyết của Philip Kotler (2007), hành vi tiêu dùng, đặc biệt trong lĩnh vực dịch vụ mẫu giáo, chịu ảnh hưởng từ nhiều nhóm khác nhau, bao gồm gia đình và bạn bè Thông tin thu thập từ các cuộc phỏng vấn định tính đã xác nhận điều này, cho thấy sự phù hợp với lý thuyết của Kotler Từ đó, tác giả đề xuất bổ sung yếu tố "Thông tin tham khảo" vào mô hình nghiên cứu.
Các giả thuyết nghiên cứu:
H1: Cơ sở vật chất nhà trường có tác động cùng chiều với sự lựa chọn trường của phụ huynh
H2: Đội ngũ giáo viên, nhân viên có tác động cùng chiều với sự lựa chọn trường của phụ huynh
H3: Chương trình đào tạo có tác động cùng chiều với sự lựa chọn trường của phụ huynh
H4: Sự an toàn và sức khỏe của trẻ có tác động cùng chiều với sự lựa chọn trường của phụ huynh
H5: Sự thuận tiện và chi phí có tác động cùng chiều với sự lựa chọn trường của phụ huynh
H6: Thông tin tham khảo có tác động cùng chiều với sự lựa chọn trường của phụ huynh
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu được thực hiện qua hai bước chính: (1) nghiên cứu sơ bộ và (2) nghiên cứu chính thức
Nghiên cứu sơ bộ định tính
Nghiên cứu sơ bộ định tính được thực hiện thông qua phỏng vấn 20 ý kiến, bao gồm phỏng vấn tay đôi và phỏng vấn nhóm Mục tiêu chính của nghiên cứu này là khám phá, điều chỉnh và bổ sung các biến quan sát để nâng cao độ chính xác và tính khả thi của nghiên cứu.
Chúng tôi đã tiến hành phỏng vấn 20 ý kiến từ 25 phụ huynh thông qua bảng câu hỏi mở, nhằm tìm hiểu những yếu tố mà họ cho là ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn trường mẫu giáo cho con (Xem phụ lục 1).
Bảng câu hỏi phỏng vấn tay đôi được xây dựng dựa trên thang đo của các nghiên cứu trước kết hợp với kết quả phỏng vấn khám phá Tác giả đã tiến hành phỏng vấn trực tiếp 21 phụ huynh bằng các câu hỏi mở để thu thập ý kiến và tìm ra những quan điểm chung Sau khi phân tích, nhận thấy có trên 80% ý kiến lặp lại, tác giả quyết định dừng quá trình phỏng vấn tay đôi.
Tác giả đã thực hiện phỏng vấn nhóm với hai nhóm phụ huynh, gồm 8 nam và 8 nữ, để thu thập ý kiến về các yếu tố quan trọng khi chọn trường mẫu giáo cho con Các câu hỏi mở được đưa ra nhằm tìm hiểu thêm quan điểm của phụ huynh Sau đó, tác giả yêu cầu phụ huynh xếp hạng mức độ quan trọng của từng yếu tố theo thứ tự từ quan trọng nhất đến không quan trọng Thông tin này giúp xác định các biến quan sát có thể loại bỏ trong bảng câu hỏi chính thức Kết quả phỏng vấn cho thấy một số yếu tố đã bị loại bỏ do không được coi là quan trọng, trong khi một số yếu tố khác được bổ sung vào nghiên cứu chính thức vì được đánh giá cao bởi các thành viên.
Nghiên cứu định lƣợng sơ bộ
Mục đích của nghiên cứu định lượng sơ bộ là đánh giá độ tin cậy và điều chỉnh thang đo cho phù hợp với nghiên cứu của tác giả Thang đo này sẽ được áp dụng trong nghiên cứu chính thức.
Dựa trên kết quả nghiên cứu định tính, tác giả đã xây dựng bảng câu hỏi chi tiết với thang đo Likert 5 mức độ để tiến hành nghiên cứu sơ bộ định lượng Mẫu nghiên cứu này gồm 150 mẫu, được chọn theo phương pháp lấy mẫu thuận tiện Tác giả áp dụng phương pháp phân tích độ tin cậy (Cronbach Alpha) và phân tích nhân tố (EFA) để loại bỏ các biến không phù hợp và điều chỉnh các biến trong bảng câu hỏi cho các nghiên cứu tiếp theo.
Xác định mẫu nghiên cứu
Nghiên cứu này được tiến hành tại Thành phố Hồ Chí Minh, sử dụng phương pháp lấy mẫu thuận tiện Đối tượng khảo sát là các phụ huynh có con trong độ tuổi từ 3 đến 5 tuổi, hiện đang gửi hoặc chuẩn bị gửi trẻ đến mẫu giáo.
Theo Hair & ctg (2006) dẫn theo Nguyễn Đình Thọ (2012), khi sử dụng phân tích nhân tố khám phá (EFA), kích thước mẫu tối thiểu cần đạt 50, tốt nhất là 100, với tỷ lệ quan sát trên biến đo lường là 5:1 Nghiên cứu chính thức có 35 biến quan sát độc lập, do đó, số mẫu tối thiểu cần là 165 Để đảm bảo mức độ tin cậy cao, số lượng bảng khảo sát phát ra trong nghiên cứu định lượng chính thức là 320 mẫu, với tỷ lệ hồi đáp dự kiến đạt 80%.
Phương pháp phân tích dữ liệu
Dữ liệu từ các bảng khảo sát được nhập vào SPSS sau khi loại bỏ những bảng không đạt yêu cầu Tác giả thực hiện kiểm định độ tin cậy thang đo bằng Cronbach Alpha, phân tích nhân tố EFA và phân tích hồi quy Ngoài ra, t-TEST và ANOVA được sử dụng để so sánh sự khác biệt giữa các nhóm phụ huynh, phân nhóm theo giới tính, độ tuổi, trình độ học vấn, mức thu nhập, cũng như giữa phụ huynh có con duy nhất và phụ huynh có từ hai con trở lên.
Quy trình nghiên cứu đƣợc trình bày đƣợc trình bày qua hình 3.1
Trong quá trình nghiên cứu sơ bộ, tác giả đã thực hiện nhiều phương pháp khác nhau để thu thập dữ liệu, bao gồm 25 mẫu phỏng vấn khám phá, 21 mẫu phỏng vấn tay đôi, 16 mẫu phỏng vấn nhóm từ 2 nhóm, và 150 mẫu cho nghiên cứu định lượng sơ bộ.
- Nghiên cứu chính thức: 259 mẫu
Nghiên cứu định lƣợng sơ bộ
- Phân tích nhân tố (EFA)
Hình 3.1 Quy trình nghiên cứu
Xây dựng thang đo sơ bộ
Trong nghiên cứu này, chúng tôi đã xác định 6 yếu tố quan trọng, bao gồm: (1) Cơ sở vật chất; (2) Đội ngũ giáo viên và nhân viên; và (3) Chương trình đào tạo.
(4) Sự an toàn và sức khỏe của trẻ; (5) Chi phí và sự thuận tiện; (6) Thông tin tham khảo
Kế thừa các thang đo từ nghiên cứu của Tung-Sheng Kuo và Ling-Ling Lin (2008) cùng với Kathryn E Grogan (2011), tác giả đã điều chỉnh thang đo thông qua phỏng vấn khám phá, phỏng vấn tay đôi và phỏng vấn nhóm để phù hợp với môi trường giáo dục mầm non tại Việt Nam Bảng câu hỏi khảo sát sơ bộ được thiết kế bao gồm 3 phần.
- Phần 1: Câu hỏi để lọc đối tƣợng khảo sát
Phần 2 của bài viết trình bày các câu hỏi nhằm thu thập đánh giá từ phụ huynh về những yếu tố ảnh hưởng đến sự lựa chọn trường mẫu giáo Tổng cộng có 41 câu hỏi tương ứng với 41 biến quan sát, trong đó 35 biến quan sát đầu tiên được sử dụng để đo lường các yếu tố độc lập ảnh hưởng đến quyết định chọn trường mẫu giáo 6 biến quan sát còn lại được thiết kế để đánh giá sự lựa chọn trường mẫu giáo của phụ huynh.
- Phần 3: Thu thập thông tin cá nhân của phụ huynh
Thang đo sơ bô được xây dựng dưới dạng thang đo Likert 5 bậc (1 hoàn toàn không đồng ý đến 5 là hoàn toàn đồng ý)
Thang đo yếu tố cơ sở vật chất và dịch vụ nhà trường (ký hiệu VC)
- VC1: Cơ sở vật chất của trường X khang trang
- VC2: Trường X có trang thiết bị dạy học hiện đại
- VC3: Trường X có trang trí đẹp để trẻ thích đến trường
- VC4: Phòng học trường X có đủ ánh sáng tự nhiên
- VC5: Trường X có sân chơi ngoài trời
Thang đo yếu tố đội ngũ giáo viên, nhân viên nhà trường (ký hiệu GV)
- GV1: Giáo viên trường X hiểu tính nết của con anh/chị để chăm sóc chu đáo
- GV2: Giáo viên trường X thông báo tình hình con anh/chị sau mỗi buổi học
- GV3: Người lãnh đạo tạo được sự tin tưởng cho anh/chị gửi con
- GV4: Giáo viên trường X có bằng cấp chuyên môn mầm non
- GV5: Nhân viên trường X nhiệt tình với anh/chị
- GV6: Nhân viên trường X biết tiếp thu ý kiến đóng góp của anh/chị
Thang đo yếu tố chương trình đào tạo ( ký hiệu DT)
- DT1: Trường X thường tổ chức các hoạt động ngoại khóa
- DT2: Trường X có lịch học cụ thể cho phụ huynh biết
- DT3: Chương trình học kích thích trẻ khám phá thế giới xung quanh
- DT4: Chương trình học trường X giúp con anh/chị giao tiếp tốt
- DT5: Sỉ số học sinh trong lớp thấp
Thang đo sự an toàn và sức khỏe ( ký hiệu AT)
- AT1: Con anh/chị tăng cân tốt khi học tại trường X
- AT2: Trường X có dịch vụ theo dõi sức khỏe định kỳ
- AT3: Trường X đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm
- AT4: Trường X có chế độ dinh dưỡng hợp lý
- AT5: Dụng cụ dạy học, đồ chơi trường X được vệ sinh định kỳ
- AT6: Trường X có thực đơn hàng tuần cho anh/chị biết
- AT7: Trường X không có các mối nguy hiểm cho trẻ
Thang đo về sự thuận tiện và chi phí ( ký hiệu TT)
- TT1:Trường X nhận giữ trẻ ngày thứ bảy
- TT2: Giờ nhận/trả trẻ của trường X linh hoạt
- TT3: Trường X nằm ở vị trí thuận tiện cho việc đưa đón
- TT4: Trường X có xe đưa đón con anh/chị tận nhà
- TT5: Học phí của trường X thấp
- TT6: Chi phí tiền ăn của trường X phù hợp
- TT7: Tiền bồi dưỡng cho giáo viên trường X hợp lý
- TT8: Các khoản phụ thu của trường X hợp lý
Thang đo thông tin tham khảo
- TK1: Người thân có ảnh hưởng đến sự lựa chọn trường mẫu giáo cho con của anh/chị
- TK2: Thông tin từ các diễn đàn internet về trường X ảnh hưởng đến sự lựa chọn trường cho con của anh/chị
- TK3: Các thông tin quảng cáo về trường X ảnh hưởng tới sự lựa chọn trường cho con của anh/chị
- TK4: Thông tin từ phụ huynh đã từng gửi con vào trường X ảnh hưởng tới sự lựa chọn của anh/chị
Thang đo sự lựa chọn trường mẫu giáo ( ký hiệu LC)
- LC1: Nhìn chung, anh/chị lựa chọn trường cho con vì trường có cơ sở vật chất tốt
- LC2: Nhìn chung, anh/chị lựa chọn trường cho con vì trường có đội ngũ giáo viên tốt
- LC3: Nhìn chung, anh/chị lựa chọn trường cho con vì chương trình đào tạo của trường tốt
- LC4: Nhìn chung, anh/chị lựa chọn trường cho con vì trường đảm bảo sức khỏe và sự an toàn cho con anh/chị
- LC5: Nhìn chung, anh/chị lựa chọn trường cho con vì trường thuận tiện cho các anh/chị
- LC6: Nhìn chung, anh/chị lựa chọn trường cho con có sự ảnh hưởng từ các thông tin tham khảo
Kiểm định thang đo sơ bộ
Mục đích của kiểm định thang đo sơ bộ là đánh giá độ tin cậy và điều chỉnh thang đo cho nghiên cứu chính thức Quá trình khảo sát sơ bộ được thực hiện bằng phương pháp lấy mẫu thuận tiện với kích thước mẫu 150 Dữ liệu nghiên cứu sơ bộ được kiểm tra bằng hệ số Cronbach Alpha và phân tích nhân tố khám phá (EFA) để loại bỏ các biến quan sát không phù hợp.
Hệ số alpha của Cronbach, theo Hoàng Trọng và Chu Nguyễn Mộng Ngọc (2008), là một phương pháp thống kê dùng để kiểm tra mức độ liên kết giữa các mục hỏi trong thang đo.
Theo Nguyễn Đình Thọ (2012), để tính hệ số Cronbach alpha cho một thang đo, cần có ít nhất 3 biến đo lường Hệ số này nằm trong khoảng [0,1] và giá trị càng cao thể hiện độ tin cậy của thang đo Nếu Cronbach alpha lớn hơn 0.95, điều này cho thấy hiện tượng trùng lắp trong đo lường Thang đo được coi là có độ tin cậy tốt khi giá trị Cronbach alpha nằm trong khoảng [0.7-0.8], và có thể chấp nhận nếu giá trị này ≥ 0.6 Ngoài ra, phân tích Cronbach alpha cũng yêu cầu hệ số tương quan biến tổng hiệu chỉnh của biến đo lường phải ≥ 0.3.
Để một thang đo đạt yêu cầu kiểm định, hệ số Cronbach alpha cần đạt tối thiểu 0.6, trong khi đó, để xét một biến đo lường, hệ số tương quan biến tổng hiệu chỉnh phải lớn hơn hoặc bằng 0.3.
Sau khi thực hiện kiểm định Cronbach alpha cho dữ liệu thu thập từ khảo sát sơ bộ, tất cả các thang đo đều đạt yêu cầu với hệ số Cronbach alpha lớn hơn 0.6 Trong đó, thang đo về Đội ngũ giáo viên và nhân viên có độ tin cậy cao nhất với giá trị 0.835, trong khi thang đo Chi phí và sự thuận tiện có độ tin cậy thấp nhất với giá trị 0.702 Do đó, các biến quan sát này có thể được sử dụng cho các bước tiếp theo trong nghiên cứu.
Kết quả kiểm định Cronbach alpha với dữ liệu thu thập đƣợc trình bày trong bảng 3.1 (xem kết quả chi tiết ở phụ lục 6)
Bảng 3.1 Cronbach alpha sơ bộ
(Nguồn: Xử lý số liệu của tác giả)
Trung bình thang đo nếu loại biến
Phương sai thang đo nếu loại biến
Cronbach Alpha nếu loại biến
Thang đo Cơ sở vật chất: Cronbach alpha = 0.809
Thang đo Đội ngũ giáo viên, nhân viên: Cronbach alpha = 0.835
Thang đo Chương trình đào tạo: Cronbach alpha = 0.786
Thang đo Sự an toàn và sức khỏe của trẻ: Cronbach alpha = 0.803
Chi phí và sự thuận tiện: Cronbach alpha = 0.701
Trung bình thang đo nếu loại biến
Phương sai thang đo nếu loại biến
Cronbach Alpha nếu loại biến
Thang đo Thông tin tham khảo: Concronbach alpha = 0.702
Thang đo Sự lựa chọn trường mẫu giáo : Cronbach alpha = 0.819
Phân tích nhân tố (EFA) là một phương pháp thuộc nhóm phân tích đa biến, không phân biệt giữa biến phụ thuộc và biến độc lập, mà dựa vào mối tương quan giữa các biến Phương pháp này không chỉ giúp rút gọn tập biến quan sát mà còn được sử dụng để đánh giá giá trị hội tụ và giá trị phân biệt của thang đo.
Các tiêu chuẩn đƣợc sử dụng khi phân tích EFA:
Kiểm định Bartlett (Bartlett’s test of sphericity) được sử dụng để xác định xem ma trận tương quan có phải là ma trận đơn vị I hay không, tức là ma trận có các thành phần (hệ số tương quan giữa các biến) bằng không và đường chéo (hệ số tương quan với chính nó) Nếu kết quả kiểm định Bartlett cho giá trị p < 0.05, điều này cho thấy các biến có mối quan hệ với nhau (Nguyễn Đình Thọ, 2012).
- Kiểm định KMO (Kaiser-Meyer-Olkin measure of sampling adequacy) dùng để xem xét sự thích hợp của phân tích nhân tố KMO nằm trong khoảng 0.5 và
Để phân tích nhân tố bằng phương pháp EFA, điều kiện cần thiết là chỉ số KMO phải lớn hơn 0.50 Theo Hoàng Trọng và Chu Nguyễn Mộng Ngọc (2008), KMO ≥ 0.90 được coi là rất tốt, KMO ≥ 0.70 là đạt yêu cầu, KMO ≥ 0.60 là tạm chấp nhận, KMO ≥ 0.50 là xấu, và KMO dưới 0.50 là không thể chấp nhận.
Theo nghiên cứu của Theo Hair và cộng sự (1998, theo Nguyễn Ngọc Duy Hoàng 2011), hệ số tải nhân tố (Factor Loading) ≥ 0.5 được coi là có ý nghĩa thực tiễn Các biến quan sát có hệ số tải nhân tố ≤ 0.5 sẽ bị loại khỏi phân tích.
- Thang đo sẽ được chấp nhận khi phương sai trích (Cumulative) ≥ 50 (Nguyễn Ngọc Duy Hoàng, 2011)
Theo nghiên cứu của Hoàng Trọng và Chu Nguyễn Mộng Ngọc (2008), eigenvalue là đại lượng thể hiện mức độ biến thiên được giải thích bởi các nhân tố trong phân tích Chỉ những nhân tố có eigenvalue lớn hơn 1 mới được giữ lại trong phân tích, trong khi các nhân tố có eigenvalue nhỏ hơn 1 không cung cấp thông tin tóm tắt tốt hơn so với biến gốc.
Hệ số tải nhân tố của một biến quan sát cần có sự khác biệt rõ rệt giữa các nhân tố, với giá trị tối thiểu là 0.3, nhằm đảm bảo giá trị phân biệt giữa các nhân tố.
Sau khi đánh giá độ tin cậy bằng chỉ số Cronbach's Alpha, tác giả đã đưa tất cả các biến đạt tiêu chuẩn vào phân tích EFA Kết quả của phân tích EFA sơ bộ sẽ được trình bày chi tiết trong tài liệu tham khảo số 76.
Phân tích EFA các biến độc lập:
- Phân tích EFA lần 1: thực hiện với 35 biến quan sát độc lập Hệ số
KMO = 0.783 và kiểm định Barlett = 0 thỏa điều kiện phân tích nhân tố
Bảng 3.2 Kết quả EFA sơ bộ lần 1
(Nguồn: Xử lý số liệu của tác giả)
Bảng hệ số KMO và kiểm định Bartlett
Hệ số Kaiser-Meyer-Olkin 783
Kiểm định Bartlett Chi-Square tương đương
Ma trân xoay nhân tố
GV5 746 050 -.235 143 -.086 -.019 091 GV1 739 217 188 018 -.037 -.042 -.005 GV6 712 204 121 219 017 055 041 GV2 679 087 223 031 -.087 008 037 GV4 675 139 214 010 -.051 076 086 GV3 619 170 286 192 -.072 077 -.048 AT5 153 796 131 203 036 100 038 AT7 266 727 035 -.077 -.059 068 042 AT3 -.021 644 217 063 069 -.001 139 AT1 -.049 633 090 220 -.081 -.032 044 AT4 194 623 -.064 159 -.006 032 -.077 AT6 245 621 015 071 -.043 113 -.018
VC3 133 172 747 108 002 115 -.057 VC5 090 119 719 108 -.035 000 -.032 VC1 106 023 703 276 042 -.012 017 VC2 139 011 656 193 081 -.032 012 VC4 211 127 629 286 032 -.062 052 DT4 126 233 123 757 -.100 082 032 DT5 210 057 152 693 141 043 041 DT2 049 011 212 682 -.005 019 -.044 DT3 -.094 099 303 656 -.195 -.044 051 DT1 222 251 144 609 -.002 045 060 TK1 084 064 020 -.075 774 059 -.030 TK3 -.044 -.130 -.034 -.115 752 -.024 -.066
1 2 3 4 5 6 7 TK2 -.140 068 000 090 696 045 125 TK4 -.134 -.025 107 016 630 -.028 122 TT2 -.047 118 -.022 043 034 772 -.071 TT3 017 019 -.017 044 -.121 754 036 TT1 033 -.037 -.100 -.078 149 713 130 TT4 165 175 293 161 021 558 153 TT5 026 -.029 -.034 124 101 -.094 801 TT6 084 094 032 -.038 -.040 146 762
Kết quả phân tích cho thấy có 7 yếu tố được xác định với eigenvalue 1.482, chiếm 56.525% phương sai Trong lần phân tích này, hai biến AT2 “Trường X có dịch vụ theo dõi sức khỏe định kỳ” và TT7 “Tiền bồi dưỡng cho giáo viên trường X hợp lý” có hệ số tải nhân tố lần lượt là 0.439 và 0.495, không đáp ứng tiêu chí kiểm định, trong khi các biến còn lại đều đạt yêu cầu với hệ số tải nhân tố ≥ 0.5.
Phân tích EFA lần 2 được thực hiện với 34 biến độc lập sau khi loại bỏ biến AT2 “Trường X có dịch vụ theo dõi sức khỏe định kỳ” Kết quả cho thấy hệ số KMO đạt 0.777 và kiểm định Bartlett có giá trị bằng 0, điều này cho thấy các điều kiện cần thiết cho phân tích nhân tố đã được thỏa mãn.
Bảng 3.3 Kết quả phân tích EFA sơ bộ lần 2
(Nguồn: Xử lý số liệu của tác giả)
Bảng hệ số KMO và kiểm định Bartlett
Hệ số Kaiser-Meyer-Olkin 777
Kiểm định Bartlett Chi-Square tương đương
Ma trân xoay nhân tố
Kết quả phân tích cho thấy có 7 yếu tố được rút trích với eigenvalue 1.457 và phương sai trích đạt 56.970% Biến TT7 "Tiền bồi dưỡng cho giáo viên trường X hợp lý" có hệ số tải nhân tố là 0.496, thấp hơn mức yêu cầu, trong khi các biến còn lại đều đáp ứng điều kiện với hệ số tải nhân tố ≥ 0.5.
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Thông tin mẫu nghiên cứu
Nghiên cứu được thực hiện thông qua phương pháp lấy mẫu thuận tiện, với đối tượng khảo sát là phụ huynh có con đang hoặc chuẩn bị gửi vào trường mầm non Trong tổng số 320 bảng khảo sát phát ra, 279 bảng đã được thu về, và 259 bảng là hợp lệ Thông tin chi tiết về mẫu được trình bày trong bảng 4.1.
Bảng 4.1 Thống kê mô tả mẫu
(Nguồn: Xử lý số liệu của tác giả) Đặc điểm Tần số Phần trăm
Trung cấp/cao đẳng 106 40.90% Đại học 48 18.50%
Trên 10 triệu 50 19.30% Đã từng gửi con vào mầm non Đang gửi mầm non 108 41.70% Đang gửi mẫu giáo 100 38.60%
Đánh giá thang đo
Dữ liệu từ các bảng khảo sát được mã hóa và làm sạch trước khi tác giả tiến hành phân tích qua nhiều bước.
- Đánh giá độ tin cậy qua hệ số Cronbach Alpha
- Phân tích nhân tố EFA
4.2.1 Kiểm định thang đo bằng hệ số tin cậy Cronbach alpha
Hệ số Cronbach Alpha được sử dụng để kiểm tra mức độ liên kết giữa các mục hỏi trong thang đo Một thang đo có hệ số Cronbach Alpha từ 0.6 trở lên được coi là tin cậy Ngoài ra, phân tích cũng xem xét hệ số tương quan biến tổng hiệu chỉnh; nếu hệ số này đạt từ 0.3 trở lên thì thang đo được xem là đạt yêu cầu.
Tác giả đã thực hiện kiểm định hệ số Cronbach alpha cho từng thành phần trong mô hình nghiên cứu, và tất cả đều đạt yêu cầu kiểm định Trong đó, thành phần Đội ngũ giáo viên, nhân viên có hệ số tin cậy cao nhất là 0.806, trong khi thành phần Sự thuận tiện có hệ số tin cậy thấp nhất là 0.698 Các biến quan sát đều có tương quan biến tổng hiệu chỉnh ≥ 0.3, cho thấy tất cả các biến đo lường đều phù hợp cho bước phân tích tiếp theo Kết quả kiểm định được trình bày trong bảng 4.2.
Bảng 4.2 Kết quả kiểm định Cronbach alpha chính thức
(Nguồn: Xử lý số liệu của tác giả)
Trung bình thang đo nếu loại biến
Phương sai thang đo nếu loại biến
Cronbach Alpha nếu loại biến
Thang đo Cơ sở vật chất: Cronbach alpha = 0.787
Thang đo Đội ngũ giáo viên, nhân viên: Cronbach alpha = 0.806
Thang đo Chương trình đào tạo: Cronbach alpha = 0.742
Thang đo Sự an toàn và sức khỏe của trẻ: Cronbach alpha = 0.726
Thang đo Sự thuận tiện: Cronbach alpha = 0.698
Trung bình thang đo nếu loại biến
Phương sai thang đo nếu loại biến
Cronbach Alpha nếu loại biến
Thang đo Chi phí: Cronbach alpha = 0.709
Thang đo Thông tin tham khảo: Concronbach alpha = 0.750
Thang đo Sự lựa chọn trường mẫu giáo : Cronbach alpha = 0.735
4.2.2 Phân tích nhân tố khám phá EFA
Trong nghiên cứu sơ bộ, tác giả đã áp dụng phương pháp phân tích EFA nhằm rút gọn số lượng nhân tố và kiểm tra giá trị phân biệt cũng như giá trị hội tụ của thang đo Các tiêu chí đánh giá trong EFA được tác giả nhấn mạnh để đảm bảo tính chính xác của kết quả phân tích.
- Kiểm định Bartlett (Bartlett’s test of sphericity) p 0.50 mới sử dụng được phương pháp EFA
Theo nghiên cứu của Hair và ctg (1998, dẫn theo Nguyễn Ngọc Duy Hoàng 2011), hệ số tải nhân tố (Factor Loading) trong phân tích EFA cần đạt giá trị ≥ 0.5 để được coi là có ý nghĩa thực tiễn.
- Thang đo sẽ được chấp nhận khi phương sai trích (Cumulative) ≥ 50 (Nguyễn Ngọc Duy Hoàng 2011)
Theo Hoàng Trọng và Chu Nguyễn Mộng Ngọc (2008), eigenvalue là đại lượng thể hiện mức độ biến thiên được giải thích bởi các nhân tố Trong phân tích, chỉ những nhân tố có eigenvalue lớn hơn 1 mới được giữ lại, trong khi những nhân tố có eigenvalue nhỏ hơn 1 không cung cấp thông tin tóm tắt tốt hơn so với biến gốc.
- Khác biệt hệ số tải nhân tố của một biến quan sát giữa các nhân tố ≥ 0.3 để đảm bảo giá trị phân biệt giữa các nhân tố
4.2.2.1 Phân tích EFA đối với biến độc lập
Phân tích EFA với 33 biến quan sát độc lập đã xác định được 7 yếu tố, với eigenvalue đạt 1.456 và phương sai trích là 54.541% Hệ số KMO là 0.809, cùng với mức ý nghĩa sig = 0.000 trong kiểm định Barlett’s test, cho thấy các hệ số đã thỏa mãn điều kiện kiểm định EFA.
Tại lần phân tích này, có 3 biến vi phạm điều kiện:
- Biến AT1 “Con anh/chị tăng cân tốt khi học tại trường X” có sự khác biệt tải nhân tố < 0.3 (0.518 và 0.295)
- Biến DT2 “Trường X có lịch học cụ thể cho phụ huynh biết” có sự khác biệt tải nhân tố < 0.3 (0.545 và 0.346)
- Biến TT4 “Trường X có xe đưa đón con anh/chị tận nhà” có hệ số tải nhân tố là 0.468 < 0.5 và sự khác biệt tải nhân tố < 0.3 (0.468 và 0.288)
Bảng 4.3 Phân tích EFA lần 1
(Nguồn: Xử lý số liệu của tác giả)
Bảng hệ số KMO và kiểm định Bartlett Test
Hệ số Kaiser-Meyer-Olkin 809
Kiểm định Bartlett Chi-Square tương đương
Ma trận xoay nhân tố
Phân tích EFA với 32 biến quan sát độc lập sau khi loại bỏ biến TT4
Trường X cung cấp dịch vụ xe đưa đón học sinh tận nhà, với kết quả phân tích cho thấy có 7 yếu tố được xác định tại eigenvalue 1.451 Phương sai trích đạt 55.270%, hệ số KMO là 0.807 và mức ý nghĩa sig = 0.000 trong kiểm định Barlett’s test, cho thấy các hệ số đã đáp ứng yêu cầu kiểm định EFA.
Tại lần rút trích này, hai biến vi phạm điều kiện:
- Biến AT1 “Con anh/chị tăng cân tốt khi học tại trường X” có sự khác biệt tải nhân tố < 0.3 (0.522 và 0.295)
- Biến DT2 “Trường X có lịch học cụ thể cho phụ huynh biết” có sự khác biệt tải nhân tố < 0.3 (0.546 và 0.340)
Bảng 4.4 Phân tích EFA lần 2
(Nguồn: Xử lý số liệu của tác giả)
Bảng hệ số KMO và kiểm định Bartlett
Hệ số Kaiser-Meyer-Olkin 807
Kiểm định Bartlett Chi-Square tương đương
Ma trận xoay nhân tố
Phân tích EFA với 31 biến quan sát, sau khi loại bỏ biến AT1 “Con anh/chị tăng cân tốt khi học tại trường X”, đã trích ra 7 nhân tố với eigenvalue = 1.440 và phương sai trích đạt 56.049% Kết quả kiểm định KMO là 0.805 và mức ý nghĩa sig=0.000 từ kiểm định Barlett’s test cho thấy các hệ số đã thỏa mãn điều kiện kiểm định EFA.
Tại lần rút trích này, chỉ còn biến DT2 “Trường X có lịch học cụ thể cho phụ huynh biết” có sự khác biệt tải nhân tố < 0.3 (0.546 và 0.352)
Bảng 4.5 Phân tích EFA lần 3
(Nguồn: Xử lý số liệu của tác giả)
Bảng hệ số KMO và kiểm định Bartlett
Hệ số Kaiser-Meyer-Olkin 805
Kiểm định Bartlett Chi-Square tương đương
Ma trận xoay nhân tố
Phân tích EFA lần 4 (lần cuối):
Phân tích EFA với 30 biến quan sát sau khi loại biến Biến DT2 “Trường X có lịch học cụ thể cho phụ huynh biết” (xem kết quả ở phụ lục 9)
Kết quả phân tích cho thấy có 7 nhân tố được trích ra với eigenvalue = 1.415 và phương sai trích đạt 56.626% KMO = 0.795 và mức ý nghĩa sig = 0.000 từ kiểm định Barlett’s test cho thấy các hệ số thỏa mãn điều kiện kiểm định EFA Tất cả các biến quan sát đều đạt yêu cầu với hệ số tải nhân tố ≥ 0.5 và sự khác biệt hệ số tải nhân tố ≥ 0.3, do đó tác giả đã dừng phân tích EFA với các biến độc lập.
Bảng 4.6 Phân tích EFA lần 4
(Nguồn: Xử lý số liệu của tác giả)
Hệ số Kaiser-Meyer-Olkin 795
Kiểm định Bartlett Chi-Square tương đương
Tổng phương sai trích tích lũy
Hệ số eigenvalue ban đầu
Tổng hệ số tải bình phương trích
Tổng hệ số tải bình phương xoay
Ma trận xoay nhân tố
4.2.2.2 Phân tích EFA đối với biến phụ thuộc
Phân tích EFA cho thấy có 6 biến quan sát phụ thuộc, với 1 nhân tố được rút trích tại eigenvalue = 2.587 Kết quả KMO đạt 0.812 và kiểm định Barlett’s test cho thấy mức ý nghĩa sig = 0.000, chứng tỏ các hệ số đã thỏa mãn điều kiện kiểm định EFA (xem chi tiết ở phụ lục 9).
Bảng 4.7 Phân tích EFA đối với biến phụ thuộc
(Nguồn: Xử lý số liệu của tác giả)
Hệ số Kaiser-Meyer-Olkin 0.812
Kiểm định Bartlett Chi-Square tương đương 258.521 df 15
Tổng phương sai trích tích lũy
Hệ số eigenvalue ban đầu Tổng hệ số tải bình phương trích
Tổng cộng % của phương sai Tích lũy %
% của phương sai Tích lũy %
Phân tích hồi quy
4.3.1 Mô hình hồi quy bội
Phương pháp hồi quy bội (MLR) được sử dụng để phân tích tác động của nhiều biến độc lập định lượng lên một biến phụ thuộc định lượng, theo Nguyễn Đình Thọ (2012) Mô hình này giả định rằng các biến phụ thuộc có phân phối chuẩn cho bất kỳ sự kết hợp nào của các biến độc lập (Hoàng Trọng và Chu Nguyễn Mộng Ngọc, 2008) Phương trình của mô hình hồi quy tuyến tính bội có dạng cụ thể, giúp xác định mối quan hệ giữa các biến.
- X pi : giá trị của biến độc lập thứ p tạo quan sát thứ i
- β k : hệ số hồi quy riêng phần
- e i : biến độc lập ngẫu nhiên có phân phối chuẩn với trung bình là 0 và phương sai không đổi σ 2
Hình 4.1 Mô hình hồi quy bội
Tác giả áp dụng mô hình hồi quy tuyến tính bội để kiểm định và giải thích các giả thuyết, đồng thời xác định mối quan hệ giữa các biến độc lập và biến phụ thuộc Sau khi thực hiện phân tích nhân tố EFA, tác giả đã phát hiện 7 nhân tố ảnh hưởng đến sự lựa chọn trường mẫu giáo của phụ huynh Giả định rằng các yếu tố này có tương quan tuyến tính, phương trình hồi quy được áp dụng vào mô hình nghiên cứu như đã nêu.
LC = β 0 + β 1 VC + β 2 GV + β 3 DT + β 4 AT + β 5 TT + β 6 CP + β 7 TK + e i
- βk : Hệ số hồi quy riêng phần của từng biến độc lập
- LC: Giá trị của sự lựa chọn trường mẫu giáo
- VC: Giá trị cơ sở vật chất và dịch vụ nhà trường
- GV: Giá trị đội ngũ giáo viên và nhân viên
- DT: Giá trị chương trình đào tạo
- AT: Giá trị sự an toàn và sức khỏe
- TT: Giá trị sự thuận tiện
- CP: Gía trị chi phí
- TK: Giá trị thông tin tham khảo
4.3.2 Phân tích các giả thuyết trong mô hình
Nhƣ đã trình bày trong phần cơ sở lý thuyết và điều chỉnh thang đo, tác giả đề xuất 7 giả thuyết nghiên cứu trong đề tài:
H1: Cơ sở vật chất nhà trường có tác động cùng chiều với sự lựa chọn trường của phụ huynh
H2: Đội ngũ giáo viên, nhân viên có tác động cùng chiều với sự lựa chọn trường của phụ huynh
H3: Chương trình đào tạo có tác động cùng chiều với sự lựa chọn trường của phụ huynh
H4: Sự an toàn và sức khỏe của trẻ có tác động cùng chiều với sự lựa chọn trường của phụ huynh
H5: Sự thuận tiện có tác động cùng chiều với sự lựa chọn trường của phụ huynh
H6: Chi phí có tác động cùng chiều với sự lựa chọn trường của phụ huynh
H7: Thông tin tham khảo có tác động cùng chiều với sự lựa chọn trường của phụ huynh
Các giả thuyết này sẽ được kiểm định bằng phương pháp hồi quy tuyến tính
4.3.2.1 Kiểm định độ phù hợp của mô hình
Tác giả đã sử dụng phân tích hồi quy tuyến tính qua công cụ Regression\Linear của phần mềm SPSS 20 để nghiên cứu sự lựa chọn trường mẫu giáo Các biến độc lập được đưa vào phân tích bao gồm cơ sở vật chất và dịch vụ nhà trường, đội ngũ giáo viên và nhân viên, chương trình đào tạo, sự an toàn và sức khỏe, sự thuận tiện, chi phí, và thông tin tham khảo Biến phụ thuộc trong nghiên cứu là sự lựa chọn trường mẫu giáo.
Kiểm định F (bảng ANOVA) với giá trị sig = 0.000 < 0.05 cho thấy các biến đưa vào mô hình có ý nghĩa thống kê ở mức 0.05 Điều này chứng tỏ rằng các biến độc lập trong mô hình có mối quan hệ với biến phụ thuộc LC.
Bảng 4.8 Kiểm định độ phù hợp của mô hình
(Nguồn: Xử lý số liệu của tác giả)
Model Sum of Squares df Mean Square F Sig
4.3.2.2 Kiểm định các giả thuyết nghiên cứu
Trong phần này, chúng ta sẽ phân tích ý nghĩa của các hệ số hồi quy riêng phần trong mô hình bằng cách thực hiện kiểm định t, với giả thuyết H0 rằng hệ số hồi quy của các biến độc lập βk = 0 Điều này có nghĩa là không có mối liên hệ tuyến tính giữa các biến độc lập và biến phụ thuộc.
Dựa vào kết quả hồi quy từ bảng 4.9, tác giả đã kiểm định 7 giả thuyết nghiên cứu, với điều kiện kiểm định là giá trị P value (Sig) trong bảng trọng số hồi quy nhỏ hơn 0.05.
Bảng 4.9 Trọng số hồi quy
(Nguồn: Xử lý số liệu của tác giả)
Hệ số chưa chuẩn hóa Hệ số chuẩn hóa t Sig
B Độ lệch chuẩn Beta Độ chấp nhận Độ phóng đại
Bảng 4.10 Kết quả kiểm định giả thuyết
Giả thuyết Nội dung P value(Sig) Kết quả
H1 Cơ sở vật chất nhà trường có tác động cùng chiều với sự lựa chọn trường của phụ huynh 0.000 < 0.05 Chấp nhận
H2 Đội ngũ giáo viên, nhân viên có tác động cùng chiều với sự lựa chọn trường của phụ huynh 0.000 < 0.05 Chấp nhận
H3 Chương trình đào tạo có tác động cùng chiều với sự lựa chọn trường của phụ huynh 0.000 < 0.05 Chấp nhận
H4 Sự an toàn và sức khỏe của trẻ có tác động cùng chiều với sự lựa chọn trường của phụ huynh 0.000 < 0.05 Chấp nhận
H5 Sự thuận tiện có tác động cùng chiều với sự lựa chọn trường của phụ huynh 0.002 < 0.05 Chấp nhận
H6 Chi phí có tác động cùng chiều với sự lựa chọn trường của phụ huynh 0.044< 0.05 Chấp nhận
H7 Thông tin tham khảo có tác động cùng chiều với sự lựa chọn trường của phụ huynh 0.135 > 0.05 Bác bỏ
Theo bảng 4.10, các giả thuyết H1, H2, H3, H4, H5, H6 đều được chấp nhận, trong khi giả thuyết H7 không được chấp nhận do giá trị P value (Sig) > 0.05 Kết quả chỉ ra rằng các yếu tố ảnh hưởng đến sự lựa chọn trường mẫu giáo cho con của phụ huynh tại Tp.HCM bao gồm cơ sở vật chất, đội ngũ giáo viên và nhân viên, chương trình đào tạo, sự an toàn và sức khỏe của trẻ, sự thuận tiện và chi phí.
Sau khi kiểm định các giả thuyết, nghiên cứu đã xác định các yếu tố ảnh hưởng đến sự lựa chọn trường mẫu giáo của phụ huynh tại TP.HCM.
Lựa chọn trường mẫu giáo
Sự an toàn và sức khỏe của trẻ Chương trình đào tạo Đội ngũ giáo viên, nhân viên
Hình 4.2 Mô hình nghiên cứu điều chỉnh
4.3.2.3 Xác định tầm quan trọng của nhân tố
Sau khi thực hiện kiểm định hồi quy lần đầu, yếu tố thông tin tham khảo không đáp ứng yêu cầu kiểm định Tác giả đã tiến hành phân tích hồi quy một lần nữa sau khi loại bỏ yếu tố này, và kết quả hồi quy được trình bày trong phụ lục 10.
Hệ số Beta chuẩn hóa trong bảng 4.12 chỉ ra tầm quan trọng của các yếu tố ảnh hưởng đến sự lựa chọn trường mẫu giáo của phụ huynh Tất cả các hệ số beta đều dương, cho thấy các nhân tố này có tác động tích cực đến biến phụ thuộc Hệ số beta lớn hơn đồng nghĩa với mức độ ảnh hưởng cao hơn Dữ liệu cho thấy, hai yếu tố quan trọng nhất là AT “Sự an toàn và sức khỏe của trẻ” với hệ số beta 0.327 và VC “Cơ sở vật chất và dịch vụ” với hệ số beta 0.296, có tác động mạnh nhất đến quyết định của phụ huynh trong việc chọn trường mẫu giáo Yếu tố GV cũng có sự ảnh hưởng đáng kể tiếp theo.
Đội ngũ giáo viên và nhân viên, chương trình đào tạo, cùng với sự thuận tiện có hệ số beta lần lượt là 0.268, 0.192 và 0.146, cho thấy tác động mạnh mẽ đến sự lựa chọn trường mẫu giáo của phụ huynh tại TP.HCM Trong khi đó, yếu tố chi phí chỉ có tác động yếu với hệ số beta chuẩn hóa 0.084 Hệ số R² hiệu chỉnh đạt 0.601 cho thấy 60.1% biến thiên trong sự lựa chọn trường được giải thích bởi các biến trong mô hình.
Bảng 4.11 Kiểm định độ phù hợp của mô hình sau khi loại yếu tố TK
(Nguồn: Xử lý số liệu của tác giả)
R 2 hiệu chỉnh Sai số chuẩn
Bảng 4.12 Trọng số hồi quy sau khi loại yếu tố thông tin tham khảo(TK)
(Nguồn: Xử lý số liệu của tác giả)
Hệ số chưa chuẩn hóa Hệ số chuẩn hóa t Sig
B Độ lệch chuẩn Beta Độ chấp nhận
Dựa trên kết quả phân tích từ bảng 4.12, phương trình hồi quy được xác định phản ánh ảnh hưởng của các yếu tố đến sự lựa chọn trường mẫu giáo của phụ huynh.
LC: Sự lựa chọn trường mẫu giáo
AT: Sự an toàn và sức khỏe của trẻ
VC: Cơ sở vật chất và dịch vụ
GV: Đội ngũ giáo viên, nhân viên
DT: Chương trình đào tạo
LC = 0.327AT + 0.296VC + 0.268GV + 0.192DT + 0.146TT + 0.084 CP
Khi giá trị của AT tăng 1 đơn vị, sự lựa chọn của phụ huynh tăng lên 0.327 đơn vị, trong khi đó, khi các yếu tố VC, GV, DT, TT, và CP lần lượt tăng 1 đơn vị, sự lựa chọn của phụ huynh tăng lên 0.296, 0.268, 0.192, 0.146, và 0.084 đơn vị, với điều kiện các nhân tố khác không thay đổi.
Phân tích ảnh hưởng của các biến định tính đến sự lựa chọn trường mẫu giáo
4.4.1 Ảnh hưởng của giới tính
Tác giả đã áp dụng phương pháp kiểm định Independent - Samples T - test để phân tích sự khác biệt trong lựa chọn trường cho con giữa nam và nữ Kết quả cho thấy giá trị sig là 0.307, lớn hơn 0.05, điều này cho thấy không có sự khác biệt đáng kể giữa hai giới trong việc chọn trường mẫu giáo cho trẻ.
4.4.2 Ảnh hưởng của độ tuổi Để kiểm định sự khác biệt theo độ tuổi, tác giả sử dụng kiểm định ANOVA với mức ý nghĩa 0.05 Kết quả từ bảng ANOVA cho thấy giá trị Sig = 0.066 > 0.5 chứng tỏ không có sự khác biệt về sự lựa chọn trường mẫu giáo cho con giữa các nhóm tuổi khác nhau (xem chi tiết phụ lục 12)
4.4.3 Ảnh hưởng của số lượng con trong gia đình
Kết quả kiểm định ANOVA cho biến số lượng con trong gia đình cho thấy hệ số Sig trong kiểm định Levene là 0.403, lớn hơn 0.05, cho thấy không có sự khác biệt về phương sai Tuy nhiên, hệ số Sig trong ANOVA là 0.031, nhỏ hơn 0.05, cho thấy có sự khác biệt giữa các nhóm phụ huynh có số lượng con khác nhau khi lựa chọn trường mẫu giáo cho con.
Phân tích Post hoc sử dụng phương pháp Tukey cho thấy có sự khác biệt đáng kể trong việc lựa chọn trường mẫu giáo giữa phụ huynh có một con và phụ huynh có hai con, với giá trị Sig = 0.035 Tuy nhiên, không có sự khác biệt giữa các nhóm còn lại (xem phụ lục 12).
4.4.4 Ảnh hưởng của trình độ học vấn
Tác giả đã áp dụng kiểm định ANOVA để phân tích sự khác biệt trong việc lựa chọn trường giữa các nhóm phụ huynh dựa trên trình độ học vấn Kết quả cho thấy giá trị Sig là 0.020, nhỏ hơn 0.05, xác nhận sự khác biệt tồn tại Đồng thời, kiểm định Levene cho thấy giá trị Sig là 0.089, lớn hơn 0.05, chỉ ra không có sự khác biệt về phương sai giữa các nhóm Để xác định sự khác biệt cụ thể hơn, tác giả đã sử dụng phương pháp Post Hoc Test với phương pháp Tukey.
Kết quả nghiên cứu chỉ ra sự khác biệt rõ rệt trong việc lựa chọn trường mẫu giáo cho con giữa nhóm phụ huynh có trình độ phổ thông và nhóm phụ huynh có trình độ đại học.
= 0.026) Giữa các nhóm còn lại không có sự khác biệt (xem 12)
4.4.5 Ảnh hưởng của thu nhập
Nghiên cứu sử dụng kiểm định ANOVA để phân tích sự khác biệt trong lựa chọn trường học của các nhóm phụ huynh theo thu nhập Kết quả cho thấy giá trị Sig = 0.254, lớn hơn 0.05, điều này chỉ ra rằng không có sự khác biệt đáng kể trong sự lựa chọn trường giữa các nhóm phụ huynh có mức thu nhập khác nhau.
Chương 4 tác giả đã trình bày kết quả nghiên cứu gồm: thông tin mẫu nghiên cứu, kiểm định thang đo, điều chỉnh mô hình nghiên cứu và các giả thuyết nghiên cứu, phân tích hồi quy Kết quả nghiên cứu cũng chỉ ra được mức độ ảnh hưởng của từng yếu tố đến sự lựa chọn trường của phụ huynh Những kết quả rút ra từ chương này là cơ sở cho một số đề xuất và kết luận mà tác giả sẽ trình bày ở chương sau.