Giáo trình Điều trị đau – Cơ sở sinh học và bệnh học gồm 6 chương với các nội dung cơ chế đau; các thuốc điều trị đau; điều trị đau bằng phong bế và tiêm tại chỗ; điều trị đau bừng các phương pháp vật lý; điều trị đau bằng y học cổ truyền; bệnh học đau.
Nhiệt lạnh
1 Tác dụng của nhiệt lạnh
Có hai cách sử dụng nhiệt lạnh:
Sử dụng nhiệt lạnh kéo dài có thể làm co mạch máu nhỏ, dẫn đến giảm tốc độ dòng máu và tuần hoàn tại chỗ, từ đó giảm chuyển hóa, tiêu thụ oxy, tính thấm thành mạch và khả năng xuyên mạch của bạch cầu Điều này giúp giảm phù nề, giảm phản ứng viêm và đau cấp, cũng như giảm trương lực cơ Do đó, liệu pháp nhiệt lạnh hiệu quả trong việc giảm phù nề và đau cấp.
Tác động nhiệt lạnh không liên tục, như chà xát đá, có thể gây ra co mạch ban đầu, sau đó dẫn đến giãn mạch xung huyết Điều này giúp tăng lưu lượng tuần hoàn, cải thiện tầm vận động khớp cho bệnh nhân co cứng khớp và giảm co giật cơ.
- Các chứng đau cấp nh−: đau ngay sau chấn th−ơng, đau răng, đau đầu
- Hạn chế xuất huyết, phù nề ở nông
- Hạ thân nhiệt khi sốt cao
- Giảm đau trong một số tr−ờng hợp tổn th−ơng thần kinh ngoại vi, đau co cứng cơ
3 Các ph−ơng pháp điều trị nhiệt lạnh
- Chườm đá: là phương pháp hay dùng nhất, có thể cho đá lạnh vào túi rồi đắp lên vùng điều trị, để giảm đau cấp
- Chà xát đá: để giảm đau co cứng cơ
- Ngâm lạnh: ph−ơng pháp này chỉ áp dụng với chân và tay
- Bình xịt thuốc tê lạnh Kelen: dùng trong chấn th−ơng thể thao.
Nhiệt nóng
Nhiệt dẫn truyền - Paraffin
Paraffin là một hỗn hợp hydrocarbon tinh khiết, không độc, có màu trắng, được chiết xuất từ dầu hỏa Trong điều trị, paraffin thường được pha trộn với một lượng nhỏ dầu paraffin để tăng cường độ dẻo, giúp sản phẩm không bị giòn gãy.
Paraffin có nhiệt dung cao, khi 1g paraffin nguội từ 52°C xuống 45°C sẽ giải phóng 4,9 calo (với nhiệt dung riêng là 0,7) Ngoài ra, khi chuyển từ thể lỏng sang thể rắn, paraffin giải phóng thêm 39 calo, tổng cộng là 43,9 calo So với nước, khi 1g nước từ 42°C xuống 35°C chỉ giải phóng 7 calo Hơn nữa, lớp ngoài cùng của paraffin nguội trước và tạo thành màng ngăn, giúp nhiệt độ giảm chậm, cho phép truyền nhiệt lớn cho cơ thể trong thời gian dài Do đó, nhiệt do paraffin truyền có thể vào tương đối sâu.
Nhiệt do paraffin cung cấp là nhiệt ẩm, giúp kích thích tăng tiết mồ hôi khi ép miếng paraffin nóng vào da Mồ hôi này giữ lại trên bề mặt da, tạo cảm giác ẩm, mềm mại và tăng tính đàn hồi Điều này khác biệt với các phương pháp nhiệt khác, khi mà mồ hôi bốc hơi sẽ khiến da trở nên khô và giòn.
Điều trị bằng paraffin an toàn và không gây bỏng nhờ vào đặc tính của nó Khi paraffin nóng chảy ở nhiệt độ 52-53 độ C tiếp xúc với da, lớp paraffin ngay lập tức đông lại và tạo thành một lớp màng bảo vệ, giúp giảm nhiệt độ và ngăn cách paraffin nóng với da Điều này khác biệt hoàn toàn với nước nóng, khi nhiệt độ trên 42 độ C có thể gây bỏng do không có tính chất bảo vệ như paraffin.
1.2 Các ph − ơng pháp sử dụng paraffin:
Đun paraffin cần được thực hiện ở nhiệt độ dưới 100°C để tránh làm giảm chất lượng do cháy vàng Có hai phương pháp đun: sử dụng nồi điện chuyên dụng duy trì nhiệt độ khoảng 60°C hoặc đun cách thủy.
Để thực hiện liệu pháp đắp paraffin, đầu tiên, đổ paraffin nóng chảy vào khay men dày 3cm và để nguội tự nhiên cho đến khi paraffin đông mềm đều, đạt nhiệt độ khoảng 43-45 độ C Sau đó, ủ miếng paraffin trong chăn hoặc tủ nhiệt để chuẩn bị cho quá trình điều trị Khi sử dụng, tách miếng paraffin ra và đắp trực tiếp lên vùng da cần điều trị, lót một lớp nylon và phủ chăn bên ngoài để giữ nhiệt Thời gian điều trị mỗi lần là 20 phút.
Nhúng paraffin là phương pháp thường được áp dụng cho các bộ phận như ngón tay, bàn tay, ngón chân và bàn chân, nơi khó thực hiện việc đắp paraffin Đầu tiên, đổ paraffin nóng chảy vào ca hoặc chậu, sau đó nhúng nhanh bộ phận cần điều trị vào và rút ra ngay, để tạo thành một lớp paraffin mỏng bám vào da Tiếp tục nhúng thêm 3-4 lần để lớp paraffin bên ngoài dày lên như một khối Cuối cùng, dùng khăn ủ trong 20-30 phút để đạt hiệu quả điều trị đau.
1.3 Các ph − ơng pháp nhiệt dẫn truyền khác
1.3.1 Các loại túi nhiệt (hot pack):
Các túi cao su hoặc polymer chứa chất tạo nhiệt được sử dụng để chườm đắp vào vị trí đau Những chất tạo nhiệt phổ biến thường được sử dụng bao gồm…
Túi paraffin là phương pháp đơn giản để sử dụng paraffin hiệu quả Để sử dụng, bạn chỉ cần cho paraffin vào túi, đuổi hết không khí và dán kín lại Khi cần sử dụng, hãy ngâm túi vào nước nóng 80 độ C cho đến khi paraffin hoàn toàn chảy Sau đó, lấy túi ra và để một lát cho lớp ngoài nguội bớt trước khi sử dụng.
Túi nước là một phương pháp đơn giản để giảm đau, chỉ cần sử dụng túi sắn, đổ nước ấm từ 40-54 độ C vào túi, bịt miệng túi lại và chườm lên vùng đau.
Túi silicat được chế tạo bằng cách cho silicat khô vào túi vải Khi ngâm trong nước, các phân tử silicat hút ẩm, làm túi phồng lên Để sử dụng, cần đun túi trong nước ở nhiệt độ 50-60 độ C Sau khi điều trị, treo túi ở nơi khô thoáng để cát khô lại.
Túi gel đặc biệt chứa một loại gel lỏng với nút bấm kích hoạt phản ứng sinh nhiệt Khi bấm nút, túi sẽ nóng lên và gel chuyển thành bột mềm Sau khi sử dụng, túi có thể được đun trong nước sôi để gel trở lại trạng thái lỏng ban đầu, sẵn sàng cho lần sử dụng tiếp theo.
Sử dụng nước nóng nhân tạo hoặc nước nóng tự nhiên từ suối nước nóng để ngâm tắm toàn thân không chỉ cải thiện chức năng tuần hoàn, hô hấp, và giúp thư giãn thần kinh, mà còn là biện pháp hiệu quả trong điều trị các chứng đau mạn tính như viêm da dây thần kinh và viêm đa khớp.
Nhiệt bức xạ - hồng ngoại
Bức xạ hồng ngoại là ánh sáng không nhìn thấy với bước sóng từ 400.000nm đến 760nm, và nó phát ra nhiều hơn khi nguồn phát có nhiệt độ cao Loại bức xạ này, còn được gọi là bức xạ nhiệt, chủ yếu tác động đến cơ thể thông qua nhiệt, làm giãn mạch máu và có tác dụng giảm đau, chống viêm mạn tính, cũng như thư giãn cơ Tuy nhiên, độ xuyên sâu của bức xạ hồng ngoại vào cơ thể chỉ đạt khoảng 1-3mm.
Trong điều trị, đèn hồng ngoại dây tóc với bóng thủy tinh tráng lớp màu đỏ thường được sử dụng, có công suất từ 100W đến 1000W Đèn có loa để tập trung ánh sáng, giúp chiếu thẳng góc vào vùng da cần điều trị Đối với đèn 250W, khoảng cách lý tưởng là 50cm và thời gian điều trị khoảng 20 - 25 phút.
Nội nhiệt - sóng ngắn và vi sóng
3.1 Khái niệm sóng ngắn: Điều trị đau - Bs Mai Trung Dũng 147
Sóng ngắn là bức xạ điện từ có bước sóng tính bằng mét, thường được gọi là sóng radio cao tần Trong điều trị, sóng ngắn thường có bước sóng 11m (tần số 27,12KHz) và 22m (tần số 13,56KHz) Để tạo ra sóng ngắn, người ta sử dụng dòng điện siêu cao tần chạy qua các điện cực kim loại như điện cực cứng hình đĩa, điện cực mềm, điện cực cáp và điện cực kim Những điện cực này phát ra bức xạ điện từ với tần số tương ứng với tần số dòng điện trong mạch.
3.2 Tác dụng vật lý của sóng ngắn:
3.2.1 Các ph − ơng thức tác dụng của sóng ngắn:
Phương thức tụ điện (hình 4.1-a) liên quan đến việc kết nối hai bản điện cực với máy cao tần, tạo ra một tụ điện và một điện trường cao tần giữa chúng Khi tổ chức cơ thể được đặt trong điện trường này, nhiệt độ của tổ chức sẽ tăng lên, với tổ chức mỡ hấp thụ nhiệt nhiều hơn so với tổ chức cơ và tạng Các loại điện cực đôi, như điện cực hình đĩa và điện cực mềm bằng cao su, được sử dụng để tạo hiệu ứng tụ điện trong quá trình này.
Tõ tr−êng cao tÇn b
Tụ điện (điện cực đôi) Điện tr−ờng cao tần a
Hình 4.1 Ph−ơng thức tác dụng của sóng ngắn
Phương thức cảm ứng sử dụng dòng điện cao tần qua dây dẫn hoặc cuộn dây cảm ứng để tạo ra từ trường cao tần, làm nóng tổ chức đặt trong từ trường này Nhiệt sinh ra chủ yếu ở tổ chức nhiều nước và điện giải như cơ và tạng, ít hơn ở tổ chức mỡ Các loại điện cực đơn tương ứng với phương thức này bao gồm cuộn dây cảm ứng, ví dụ như điện cực dòng xoáy (circuplode) và điện cực dòng xoáy 3 chiều (flexiplode).
Khi cơ thể hoặc các vật dẫn điện được đặt trong điện từ trường của dòng điện cao tần, các phân tử lưỡng cực như phân tử nước sẽ xoay theo sự đảo chiều của dòng điện Tần số xoay này tương ứng với tần số của dòng điện, dẫn đến việc động năng của các phân tử chuyển hóa thành nhiệt năng, làm tăng nhiệt độ của tổ chức.
Nhiệt do sóng ngắn tạo ra là nhiệt sâu, hay còn gọi là nhiệt khối, khác với các phương pháp nhiệt bề mặt chỉ tác dụng ở nông Nhiệt khối giúp cơ thể dễ chịu hơn và khả năng sinh nhiệt của tổ chức phụ thuộc vào hằng số điện môi và dung kháng của chúng Tổ chức có nhiều nước và điện giải sẽ có khả năng sinh nhiệt cao hơn, trong khi tổ chức có hàm lượng nước và điện giải thấp thì khả năng này kém Chẳng hạn, khi sử dụng dòng cao tần 2450MHz, nhiệt độ của các tổ chức tăng lên như sau: mô cơ đạt 50-52°C, mô gan 43-45°C, và mô da 40-43°C.
3.2.3.Tác dụng tăng chuyển hóa:
Sóng ngắn tạo ra nhiệt, làm tăng các phản ứng hóa học và thúc đẩy quá trình chuyển hóa Theo định luật Vant Hoff, khi nhiệt độ tăng thêm 1 độ C, tỷ lệ chuyển hóa sẽ tăng lên 13%.
Nhiệt sóng ngắn có khả năng ức chế các sợi dẫn truyền cảm giác đau và tác động lên các hạch giao cảm cổ và thắt lưng, giúp giảm căng thẳng cho hệ thần kinh thực vật Nhờ vào việc tăng tuần hoàn cục bộ, nhiệt giúp thải trừ các sản phẩm chuyển hóa và tái hấp thu dịch tiết bị tích tụ, đồng thời làm giãn và giảm trương lực cơ vân, mang lại hiệu quả giảm đau cho nội tạng.
Sóng ngắn có khả năng tăng cường bạch cầu đến vùng tổ chức viêm, từ đó nâng cao khả năng di chuyển và thực bào của các tế bào miễn dịch, mang lại hiệu quả chống viêm mạnh mẽ.
3.3.3 Tác dụng đối với mạch máu:
Liều điều trị nhiệt khối có tác dụng giãn mạch, giảm ứ đọng và tăng cường lưu lượng máu Tuy nhiên, liều mạnh và thời gian điều trị kéo dài có thể dẫn đến co mạch, thậm chí gây nguy cơ tắc mạch.
3.3.4 Tác dụng lên hệ thần kinh vận động:
Khi kết hợp điều trị băng sóng ngắn với vận động liệu pháp, quá trình dẫn truyền thần kinh vận động sẽ được tăng cường nhanh chóng, mang lại hiệu quả cao trong phục hồi chức năng.
3.4 Các ph − ơng pháp điều trị bằng sóng ngắn
3.4.1 Ph − ơng pháp dùng điện cực tụ:
- Đặt 2 điện cực đối diện:
Hai điện cực có diện tích bằng nhau và khoảng cách tương đương đến da sẽ tạo ra mật độ năng lượng phân bố đều ở cả hai bên Khi các điện cực được đặt xa da, mật độ năng lượng sẽ tập trung sâu hơn, trong khi nếu chúng gần da, mật độ sẽ tập trung ở lớp nông hơn.
Hai điện cực có diện tích bằng nhau nhưng khoảng cách đến da khác nhau sẽ dẫn đến mật độ năng lượng tập trung cao hơn ở lớp nông gần điện cực hơn.
+ Hai điện cực diện tích khác nhau đặt khoảng cách tới da cân xứng thì bên điện cực nhỏ tập trung nhiều năng l−ợng hơn (Hình 4.2-4)
- Đặt 2 điện cực trên một mặt phẳng: năng l−ợng tập trung ở lớp nông giữa hai điện cùc (H×nh 4.2-5)
- Hai điện cực tạo với nhau một góc: năng l−ợng tập trung ở góc tạo bởi hai điện cực (Hình 4.2-6)
Hình 4.2 Cách đặt điện cực sóng ngắn và sự phân bố năng l−ợng.
3.4.2 Ph − ơng pháp dùng điện cực cảm ứng
Đặt điện cực đơn flexiplode, hay còn gọi là điện cực cuộn cảm hình đĩa hoặc điện cực Faucault, cùng với điện cực vi sóng theo hướng vuông góc với vùng điều trị Điện cực vi sóng nên được đặt cách da từ 1-5cm để đảm bảo mật độ năng lượng phân bổ đều từ nông đến sâu.
- Đặt điện cực cáp (hay điện cực circuplode): Chú ý có ph−ơng tiện tách biệt
Hai dây cáp không tiếp xúc nhau, với điện cực được quấn quanh vùng điều trị nhiều vòng Khoảng cách trung bình giữa các vòng là 15cm; khi các vòng gần nhau hơn, năng lượng tập trung sẽ lớn hơn.
3.4.3 Ph − ơng pháp dùng điện cực dạng kim
Một điện cực dạng kim được đưa vào cơ thể để kiểm soát cấu trúc thần kinh cần thiết, với bệnh nhân được gây tê hoàn toàn Kim điện cực được bọc cách điện, chỉ để lộ phần chóp dài từ 2 - 15mm tiếp xúc trực tiếp với cấu trúc thần kinh Súng ngắn phát ra từ mỏy qua kim điện cực dựa trên hai hiệu ứng: nhiệt độ và tác động sinh học, giúp kiểm soát dẫn truyền thần kinh trong cơ chế đau.
Nhiệt cơ học - siêu âm
4.1.1 Khái niệm Điều trị đau - Bs Mai Trung Dũng 152 Âm là những giao động cơ học của vật chất trong môi trường giãn nở Tai người có thể nghe đ−ợc những sóng âm trong phạm vi giải tần từ 20-20.000Hz Những âm có tần số d−ới 20Hz gọi là hạ âm, trên 20.000Hz gọi là siêu âm là 2 vùng âm mà tai ng−ời không thể nghe đ−ợc Trong điều trị ng−ời ta dùng siêu âm có tần số từ 0,7-3MHz, trong chẩn đoán có thể dùng tần số tới 10MHz
4.1.2 Nguồn tạo ra siêu âm
Trong y học, siêu âm được tạo ra từ máy phát điện siêu cao tần, tác động lên các bản thạch anh hoặc gốm đa tinh thể Những vật liệu này phát ra sóng âm với tần số tương ứng với tần số của dòng điện, tạo ra ứng dụng quan trọng trong chẩn đoán và điều trị y tế.
4.1.3 Các tính chất của siêu âm
Sóng siêu âm là sóng dọc, tức là chúng giao động cùng chiều với chiều lan truyền Chúng chỉ có thể truyền trong môi trường giãn nở, ngoại trừ chân không Sóng âm tạo ra sức ép làm thay đổi áp lực môi trường, với áp lực tăng trong nửa chu kỳ đầu và giảm trong nửa chu kỳ sau, gây ra hiệu ứng cơ học đặc trưng Sự chênh lệch áp suất giữa hai pha này rất lớn và tỷ lệ với tần số siêu âm Nước và các tổ chức cơ thể dễ bị tổn thương do biến thiên áp suất ở pha giãn nở, dẫn đến hiệu ứng tạo lỗ.
Tốc độ lan truyền của siêu âm chịu ảnh hưởng bởi bản chất và nhiệt độ của môi trường truyền âm, trong khi tần số không có tác động đến tốc độ này Cụ thể, tốc độ truyền âm trong không khí chỉ đạt khoảng 342m/s, trong khi trong cơ thể con người, tốc độ này tăng lên đáng kể, đạt khoảng 1540m/s.
Năng lượng siêu âm là động năng dao động và thế năng đàn hồi của các phần tử trong môi trường, được đo bằng đơn vị W Công thức tính năng lượng siêu âm là ε = 1/2 ρ ω² a² = k a² f², trong đó ε là năng lượng siêu âm, ρ là mật độ môi trường, ω = 2πf là tần số siêu âm, f là tần số và a là biên độ siêu âm.
- Cường độ siêu âm: là năng lượng siêu âm truyền qua một đơn vị diện tích đặt vuông góc với phương truyền sóng:
I = ω v = k a 2 f 2 v I: cường độ siêu âm (W/cm 2 ); v: vận tốc truyền âm
Như vậy cường độ siêu âm tỷ lệ thuận với bình phương của tần số và bình phương của biên độ sóng
Chùm siêu âm được chia thành hai vùng: vùng gần (hay vùng Fresnel) với các tia siêu âm song song và vùng xa (hay vùng Fraunhofer) nơi các tia siêu âm phân kỳ Tác dụng điều trị chủ yếu diễn ra ở vùng gần Độ dài của vùng gần phụ thuộc vào bán kính đầu phát và tần số siêu âm, được tính bằng công thức l = (r^2) / (λ * v), trong đó λ là bước sóng siêu âm, f là tần số, và v là vận tốc siêu âm.
Siêu âm hoạt động như một dạng năng lượng cơ học, tạo ra hiệu ứng sinh học khi được tổ chức hấp thu Độ xuyên sâu của siêu âm ảnh hưởng đến mức độ hấp thu năng lượng, dẫn đến sự giảm dần của năng lượng theo độ sâu trong tổ chức Hệ số hấp thu có thể được tính toán bằng công thức α = k.f η ω².
3 ρ v 2 α : hệ số hấp thu; η : độ nhớt của môi trường; k: hệ số không đổi đối với một môi trường
Hệ số hấp thu trong cùng một môi trường tỷ lệ thuận với bình phương tần số siêu âm Khi tần số siêu âm tăng, năng lượng cũng tăng, nhưng hệ số hấp thu lớn dẫn đến khả năng xuyên sâu giảm Trong thực hành, độ sâu hiệu quả được xác định là 1/2 giá trị, tức là độ sâu mà cường độ siêu âm chỉ còn lại 1/2 so với mức ban đầu.
Sự phản xạ của siêu âm xảy ra tại ranh giới giữa hai môi trường, với năng lượng phản xạ phụ thuộc vào trị số kháng âm của từng môi trường Trong cơ thể, sự khác biệt chủ yếu nằm giữa tổ chức mềm và xương Cụ thể, khi siêu âm truyền từ đầu phát vào không khí, tỷ lệ phản xạ đạt 100%, trong khi từ đầu phát vào chất gel chỉ đạt 60%.
Để đảm bảo hiệu quả trong điều trị, cần lót một lớp gel hoặc mỡ giữa đầu phát và da, do âm thanh phản xạ 100% giữa đầu phát và không khí.
4.2 Tác dụng điều trị của siêu âm
Siêu âm trong tổ chức có tác dụng cơ học nhờ vào sự lan truyền của sóng siêu âm, gây ra những thay đổi áp lực tương ứng với tần số siêu âm, tạo nên hiện tượng "xoa bóp vi thể" Tần số siêu âm càng lớn (3MHz) thì sự thay đổi áp lực xảy ra nhanh hơn so với tần số thấp (1MHz) Những thay đổi áp lực này dẫn đến nhiều hiệu ứng quan trọng trong điều trị.
- Thay đổi thể tích tế bào
- Thay đổi tính thấm màng tế bào
Tác dụng cơ học phụ thuộc vào cường độ siêu âm (W/cm 2 ) và chế độ liên tục hay xung
Sự sinh nhiệt trong tổ chức do siêu âm gây ra là do hiện tượng cọ xát, chuyển đổi năng lượng cơ học thành năng lượng nhiệt Siêu âm có khả năng tác động tới độ sâu từ 3-5cm, và để làm tăng nhiệt độ mô mềm ở độ sâu trên 8cm, cần sử dụng siêu âm với cường độ lớn hơn 1,5w/cm² Đối với độ sâu dưới 8cm, cường độ 1w/cm² là đủ Nghiên cứu cho thấy, trong việc tăng nhiệt độ khớp háng, chỉ siêu âm mới có hiệu quả điều trị rõ rệt.
So với các phương pháp vật lý khác, siêu âm có khả năng làm tăng nhiệt độ ở mô sâu hiệu quả hơn và có phạm vi chống chỉ định hẹp hơn Khi sử dụng siêu âm liên tục với cường độ 1,5w/cm² trong 5 phút, nhiệt độ của tổ chức phần mềm tăng 3,3°C, khớp háng tăng 6,3°C, và xương tăng 9,3°C, với sự gia tăng nhiệt độ mạnh mẽ tại ranh giới giữa các tổ chức có trị số phản xạ âm khác nhau Siêu âm liên tục tạo ra mức tăng nhiệt độ cao hơn so với siêu âm chế độ xung, điều này cần lưu ý khi điều trị các tổ chức như khớp và vùng xương gần sát da, vì vậy nên ưu tiên sử dụng siêu âm xung Cần thận trọng với cường độ trên 4w/cm², vì có thể gây hiện tượng tạo lỗ và làm tổn thương cấu trúc tế bào, dẫn đến hư hại cho màng xương và sụn khớp.
Từ tác dụng cơ học và tác dụng sinh nhiệt dẫn đến hàng loạt tác dụng sinh học tạo nên hiệu quả siêu âm điều trị là:
- Tăng tuần hoàn và dinh d−ỡng do tăng nhiệt độ, tăng tính thấm của mạch máu và tổ chức
- Giãn cơ do kích thích trực tiếp của siêu âm lên các thụ cảm thể thần kinh
- Tăng tính thấm của màng tế bào
- Kích thích quá trình tái sinh tổ chức
- Tác dụng lên hệ thần kinh ngoại vi
Liều điều trị phụ thuộc vào các yếu tố sau:
- Tần số càng cao thì năng l−ợng càng lớn
Trong cùng một khoảng thời gian, liều lượng trong chế độ liên tục sẽ cao hơn so với chế độ xung Chế độ xung thường được tính theo tỷ lệ 1:5 (20%), có nghĩa là trong 2ms có siêu âm và 8ms là thời gian nghỉ.
Cường độ siêu âm được định nghĩa là năng lượng siêu âm truyền qua một đơn vị diện tích môi trường (W/cm²), trong khi công suất siêu âm là tích của cường độ với diện tích vùng bức xạ hiệu quả (W) Chẳng hạn, nếu đầu phát có diện tích 5cm² và cường độ phát là 1W/cm², thì công suất sẽ là 5W (5cm² x 1W/cm²) Đối với chế độ liên tục, cường độ siêu âm không nên vượt quá 0,6W/cm², trong khi ở chế độ xung, có thể áp dụng các liều khác nhau.
0,3-1,2 w/cm 2 là liều trung bình
- Thời gian điều trị càng lâu thì liều càng lớn, tối đa 15 phút tuỳ diện tích và chế độ Điều trị đau - Bs Mai Trung Dũng 155
- Đợt điều trị: th−ờng mỗi ngày một lần, các tr−ờng hợp mạn tính có thể 2-3 lần mỗi tuần Trung bình 10-15 lần một đợt
4.4 Chỉ định và chống chỉ định
- Tổn th−ơng x−ơng, khớp và cơ sau chấn th−ơng: bầm tím, bong gân, sai khớp, gãy x−ơng
- Viêm khớp dạng thấp mãn, thoái khớp, bạnh Bachterew, viêm bao hoạt dịch, viêm cơ
- Đau thần kinh ngoại vi, đau l−ng do thoát vị đĩa đệm
- Rối loạn tuần hoàn: bệnh Raynaud, Buerger, Sudeck, phù nề
- Các vết th−ơng, vết loét, sẹo xấu, sẹo lồi
- Không điều trị siêu âm các cơ quan dễ tổn th−ơng: mắt, tim, thai nhi, não, tủy, tinh hoàn
- Không siêu âm vào cột sống ở vùng mới mổ cắt cung sau đốt sống
- Vùng da mất cảm giác
- U, viêm tắc tĩnh mạch, viêm nhiễm khuẩn, đái tháo đường, người mang máy tạo nhịp…
Dòng điện một chiều đều
1.1 Tác dụng lên các ion
- Dòng điện một chiều đều (còn gọi là dòng Galvanic) là dòng điện có cường độ và chiều không đổi theo thời gian (Hình 4.3)
Trong cơ thể, thành phần chính là nước và các chất điện giải dưới dạng ion như Na+, K+ và Cl- Khi dòng điện một chiều đi qua tổ chức cơ thể, hiện tượng điện ly xảy ra, khiến ion âm di chuyển về cực dương và ion dương di chuyển về cực âm.
- Do đó nếu để điện cực kim loại trực tiếp tiếp xúc với da sẽ gây ra bỏng hóa học:
+ Tại cực dương là bỏng do acid HCl gây ra, có đặc điểm bỏng sâu và sẹo cứng
+ Tại cực âm là bỏng do kiềm NaOH gây ra, có đặc điểm bỏng nông và sẹo mÒm
Khi thực hiện điều trị, cần phải đặt một lớp điện cực vải đệm thấm - ớt giữa điện cực kim loại và da để các chất acid và kiềm có thể bám vào hiệu quả.
H 2 O → H + + OH - Tại cực d−ơng Tại cực âm
Cl - + H + → HCl Na + + OH - → NaOH Điện cực kim loại Điện cực vải đệm
Da và tổ chức d−ới Hình 4.3 Dòng điện một chiều đều.
Hình 4.4 Điện cực vải đệm.
1.2 Tác dụng gi ∙ n mạch Điều trị đau - Bs Mai Trung Dũng 157
Khi đặt điện cực lên vùng da có vải đệm, hiện tượng đỏ da do giãn mạch có thể xảy ra và kéo dài hàng giờ Tác dụng giãn mạch này giúp tăng cường tuần hoàn, dinh dưỡng, thúc đẩy chuyển hóa và chống viêm, nhờ vào cơ chế mà dòng điện tác động trực tiếp lên hệ thần kinh vận mạch.
1.3 Tác dụng lên hệ thần kinh
- Tác dụng tại các điện cực:
• Cực d−ơng: có tác dụng giảm đau, giảm co thắt, giảm tr−ơng lực cơ
• Cực âm: có tác dụng kích thích, làm tăng tr−ơng lực cơ
- Tác dụng lên cảm giác: có 3 ng−ỡng kích thích:
• Ng−ỡng cảm giác: gây cảm giác lăn tăn châm chích nh− kiến bò
• Ng−ỡng kích thích: gây cảm giác châm chích, cắn rứt nh− kiến cắn
• Ng−ỡng đau: gây cảm giác đau rát, buốt
Các ng−ỡng trên khác nhau ở mỗi ng−ời, trên cùng một ng−ời thì mỗi vị trí khác nhau lại có ng−ỡng khác nhau
Điện di thuốc (electrophoresis) là phương pháp sử dụng dòng điện một chiều để vận chuyển các ion thuốc điều trị vào cơ thể hoặc loại bỏ các ion thuốc có hại ra khỏi cơ thể.
Nguyên lý của phương pháp điện di dựa trên sự tương tác giữa các điện tích: điện tích cùng dấu sẽ đẩy nhau, trong khi điện tích trái dấu sẽ hút nhau Khi một dung dịch điện ly, chứa chất hòa tan có khả năng phân ly thành các ion, được đưa vào điện cực và có dòng điện một chiều chạy qua, các ion cùng dấu với điện cực sẽ được đẩy ra khỏi điện cực và đi vào cơ thể Ngược lại, để loại bỏ một ion có hại, như ion kim loại nặng, cần sử dụng phương pháp điện di để thu hồi chúng một cách hiệu quả.
Khi muốn loại bỏ ion Ca+ ra khỏi cơ thể, chúng ta cần đặt điện cực trái dấu vào vùng da có ion nhiễm Điện cực này sẽ hút các ion Ca+ ra khỏi cơ thể về phía nó.
2.2 Đặc điểm tác dụng của điện di thuốc
Điện di thuốc có hai tác dụng chính: tác dụng do dòng điện một chiều và tác dụng do ion thuốc Tác dụng của ion thuốc khi được đưa vào cơ thể qua phương pháp điện di mạnh mẽ hơn nhiều so với các phương pháp khác Dưới đây là một số ion thuốc thường được sử dụng trong điện di.
Dung dịch thuốc Ion tác dụng Cực Tác dụng điều trị
Kali-Natri iodure (INaIK) 5% I – – Làm mềm tổ chức sẹo
Natri clorua (NaCl) 5% Cl – – Tạo phản xạ chống viêm khớp Kali-Natri bromua (BrNa-BrK) Br – – An thÇn
Natri salicylat 5% Salicylat – – Chống viêm giảm đau Điều trị đau - Bs Mai Trung Dũng 158
Hydrocortison acetat Hydrocortison + + Chống viêm
Nivalin Nivalin + + T¨ng c−êng dÉn truyÒn thÇn kinh
Khi cần sử dụng ion thuốc, chỉ cần đưa ion đó vào, trong khi các thành phần khác sẽ bị giữ lại ở điện cực, giúp tránh tình trạng phù nề tổ chức như khi tiêm truyền thống.
- Không gây tổn th−ơng da, không gây đau, không gây khó chịu và không gây lây truyền các bệnh đ−ờng máu nh− khi tiêm
Tại vị trí đặt điện cực đưa thuốc, nồng độ thuốc cao rất hiệu quả cho các tổ chức có ít mạch máu như sẹo, trong khi các phương pháp đưa thuốc khác thường ít mang lại tác dụng.
2.3 Các yếu tố ảnh h − ởng đến điện di thuốc
Thuốc dùng để điện di cần hòa tan trong nước và có khả năng phân ly thành các ion mà không bị dòng điện phá hủy Khi vào cơ thể, các ion thuốc này phải có khả năng tái hợp lại Do đó, số lượng thuốc phù hợp cho phương pháp điện di là khá hạn chế.
Dung dịch thuốc cần được đảm bảo tinh khiết, và các điện cực vải đệm phải được giữ sạch sẽ để tránh sự xuất hiện của ion ký sinh Điều này rất quan trọng trong quá trình điều trị, vì ion ký sinh có thể làm choán chỗ hoặc vô hiệu hóa ion thuốc, ảnh hưởng đến hiệu quả điều trị.
- Đặt thuốc đúng điện cực có ý nghĩa quyết định: theo nguyên tắc cho thuốc vào điện cực cùng dấu với ion tác dụng
Nồng độ dung dịch cần đạt tối ưu để đảm bảo hiệu quả cao trong quá trình điều trị Nếu nồng độ quá thấp, hiệu quả sẽ giảm sút, trong khi nồng độ quá cao có thể cản trở sự di chuyển của ion thuốc trong tổ chức.
Điện cực bao gồm điện cực kim loại và vải đệm Điện cực kim loại có thể gây hại cho thuốc, vì vậy cần tránh để thuốc tiếp xúc với chúng Điện cực vải đệm dày khoảng 1cm và nên được giặt sạch dưới vòi nước chảy Để đảm bảo hiệu quả, tốt nhất là sử dụng mỗi tấm điện cực cho một loại thuốc riêng biệt.
Liều lượng trong điện di bao gồm cường độ và thời gian, với cường độ điện áp từ 0,01-0,2mA/cm² Thời gian thực hiện không nên vượt quá 20 phút để tránh hiện tượng cực hóa làm giảm hiệu quả điện di Liều thuốc được tính theo công thức D = I x S x E x T, trong đó D là liều thuốc (mg), I là cường độ dòng điện (mA), E là điện tích của ion (Q), và T là thời gian điện di (phút).
3 Chỉ định và chống chỉ định
Giảm đau hiệu quả cho các tình trạng đau do nguyên nhân thần kinh, chấn thương, và co mạch, bao gồm chứng co thắt mạch ngoại vi, hội chứng Raynaud, viêm tắc động mạch và viêm tắc tĩnh mạch.
- Chống viêm mạn nh− viêm khớp, viêm dây thần kinh, viêm da, viêm màng tiếp hợp… Điều trị đau - Bs Mai Trung Dũng 159
- Tăng dinh d−ỡng và tuần hoàn tại chỗ điều trị vết th−ơng vết loét lâu liều, sẹo xơ cứng, teo cơ
Dòng điện xung
Xung điện là dòng điện không liên tục, bao gồm các xung ngắn và khoảng nghỉ giữa chúng Dòng điện xung được tạo ra từ nhiều xung điện liên tiếp, mang lại hiệu quả trong các ứng dụng điện tử và công nghiệp.
Dòng điện xung không đổi hướng là dòng điện xung một chiều, dòng xung luôn đổi h−ớng gọi là dòng điện xung xoay chiều
1.2 Các đặc tr − ng của dòng điện xung
Hình dạng xung thường được sử dụng bao gồm xung tam giác, xung chữ nhật và xung hình sin Ngoài ra, còn có các dạng xung cải biên như xung hình thang, hình lưỡi cày và xung mũ Mỗi hình dạng xung có mức độ tác dụng kích thích hoặc ức chế khác nhau.
Xung tam giác Xung chữ nhật Xung hình sin Xung hình l−ỡi cày Xung hình thang
Hình 4.5 Hình dạng các dòng điện xung
- Các thành phần của một xung, bao gồm:
+ Thời gian dốc lên: ta
+ Thời gian đỉnh xung: ti
+ Thêi gian dèc xuèng: tb
+ Thêi gian xung: tx = ta + ti + tb tx tp t
+ Thêi gian mét chu kú xung T = tx + tp Điều trị đau - Bs Mai Trung Dũng 160
Sự thay đổi các cấu phần của một xung điện có ảnh hưởng đến tác dụng sinh lý và điều trị
Tần số xung (F), được đo bằng số chu kỳ xung trong một giây (F=1/T) với đơn vị là Hz, đóng vai trò quan trọng trong điều trị bằng dòng điện xung Dòng điện xung được sử dụng trong điều trị bao gồm dòng xung thấp tần (dưới 1000Hz) và dòng xung trung tần (1000-10000Hz) Cụ thể, với tần số dưới 20Hz, dòng điện xung gây co cơ từng cái một; từ 20-50Hz, co cơ diễn ra liên tục; trên 50Hz, co cơ theo kiểu răng cưa; và khi tần số vượt quá 1000Hz, không có hiện tượng co cơ xảy ra.
Cường độ xung (I) là điểm biên độ xung cao nhất, trong khi cường độ xung trung bình là giá trị bình quân theo thời gian, luôn thấp hơn biên độ đỉnh xung Phương pháp điều trị bằng dòng điện xung kết hợp các yếu tố này để tác động lên cơ thể, nhằm đạt được những đáp ứng mong muốn.
1.3 Các loại dòng điện xung th − ờng dùng
- Xung tam giác, hay gai nhọn (Faradic)
- Xung hình chữ nhật (Leduc): là xung một chiều đều
Dòng gai nhọn và chữ nhật có khả năng kích thích thần kinh cơ, đặc biệt hiệu quả trong điều trị liệt tại cực âm, đồng thời cũng được ứng dụng trong chẩn đoán điện cổ điển.
- Xung l−ỡi cày (Lapique): dốc lên nhanh, dốc xuống từ từ Có tác dụng giảm đau mạnh
- Xung hình sin Diadynamic hay Bernard, bao gồm:
+ Dòng xung một pha cố định 50Hz MF (monophase fixe)
+ Dòng xung hai pha cố định 100Hz DF (diphase fixe)
+ Dòng chu kỳ ngắn CP (courtes périodes): 1giây MF + 1 giây DF
+ Dòng chu kỳ dài LP (longues périodes): 6 giây MF + 6 giây DF (Hình
Hình 4.7 Các loại dòng Diadynamic.
Trong đó nhóm xung 6 giây 100Hz có thể biến điệu cường độ Điều trị đau - Bs Mai Trung Dũng 161
Dòng Diadynamic có khả năng giảm đau nhanh chóng và hiệu quả, đặc biệt khi kết hợp với CP và LP Để tối ưu hóa tác dụng kích thích thần kinh cơ, người ta thường kết hợp các nhóm này trong quá trình điều trị.
MF theo nhịp cách: cứ 1 giây MF xen kẽ với 1 giây nghỉ (dòng thể dục điện)
Dòng xung Trọbert (dòng 2-5, hay còn gọi là dòng Ultra Reiz - UR) là dòng xung hình chữ nhật một chiều với thời gian xung 2ms và thời gian nghỉ 5ms, tương đương tần số khoảng 143Hz Dòng xung này có hiệu quả trong việc giảm đau nhanh chóng và kéo dài, nhưng cần lưu ý rằng đây là dòng cố định, do đó trong quá trình điều trị, cần phải tăng cường độ dòng liên tục để đạt được hiệu quả tốt nhất.
Trong thực hành người ta sử dụng dòng 2-5 theo phản xạ đốt đoạn tại vùng cột sống nh− sơ đồ sau (Hình 4.9):
Vùng gáy Vùng liên bả Vùng l−ng Vùng thắt l−ng θ đau đầu, cổ θ đau vai tay θ đau thần kinh liên s−ờn θ đau thắt l−ng hông
Xung một chiều trung tần (ID: intermittent current) là loại xung một chiều có tần số từ 4000 đến 8000Hz, được sử dụng trong điện di thuốc, giúp cải thiện hiệu quả sinh lý và đạt được cường độ cao hơn so với dòng một chiều đều.
- Xung kÝch thÝch thÇn kinh (TENS – Transcutanous Electro Neuro
Stimulation): gồm 3 loại nh− sau (Hình 4.11):
Dòng TENS đối xứng Dòng TENS không đối xứng Dòng TENS xoay chiều
Hình 4.9 Các cách đặt điện cực theo phản xạ khi điều trị bằng dòng 2-5
Hình 4.10 Dòng một chiều trung tần.
Hình 4.11 Các loại dòng TENS. Điều trị đau - Bs Mai Trung Dũng 162
Dòng TENS là phương pháp hiệu quả trong việc kích thích thần kinh cơ, thường được áp dụng trong điều trị phục hồi chức năng Khi tần số của dòng TENS được điều biến theo nhóm xung (Burst - TENS), nó trở thành dòng kích thích thần kinh bột phát, mang lại tác dụng giảm đau mạnh mẽ.
- Dòng điện xung trung tần xoay chiều (AMF Amplitude Modulated
Tần số dòng điện xung xoay chiều nằm trong khoảng từ 1000-10000Hz Theo Wedenski, cơ không thể đáp ứng với các xung trung tần, do đó cần biến điệu để tạo ra các nhóm xung tần số thấp Tần số của nhóm xung có thể được điều chỉnh theo yêu cầu, vì vậy nó còn được gọi là dòng biến điệu biên độ theo nhịp AMF hoặc xung bọc, có tác dụng kích thích chọn lọc sợi thần kinh dày.
Xung bọc AMF thấp tần
Dòng AMF có khả năng điều biến thông qua việc thay đổi tần số xung bọc trong một khoảng tần số quét nhất định Chương trình quét là phương pháp biến đổi tần số AMF trong khoảng tần số này, với nhiều chương trình quét khác nhau được áp dụng.
Hình 4.12 Dòng trung tần xoay chiều biến điệu AMF
Hình 4.13 Các ch−ơng trình quét của dòng AMF
+ Ngoài ra dòng AMF còn có thể biến điệu theo độ sâu điều biến: 25%, 50%, 75% và 100% (Hình 4.14):
Hình 4.14 Các kiểu biến điệu của dòng AMF
Dòng điện xung giao thoa (IF-interferential), hay còn gọi là dòng Nemec, được tạo ra khi hai dòng điện xung xoay chiều trung tần với tần số khác nhau, chẳng hạn như 4000Hz và 4200Hz, tác động vào một vùng cơ thể Hiện tượng giao thoa giữa hai dòng điện này tạo ra một dòng xung mới với tần số nền là 4100Hz và tần số nhóm xung là 200Hz Dòng giao thoa này có khả năng điều biến tương tự như dòng AMF, mang lại hiệu quả trong việc điều trị đau.
- Dòng xung kích thích kiểu Nga: (RS: Russian stimulation):
Dòng xung xoay chiều với tần số 2500Hz được ngắt quãng thành nhóm xung 50Hz, có chu kỳ xung 20ms với tỷ lệ thời gian xung và thời gian nghỉ là 1/1 và 1/5 Dòng Nga được ứng dụng phổ biến trong phục hồi cơ trong chỉnh hình và chống teo cơ.
Hình 4.15 Dòng kích thích kiểu Nga.
- Vi dòng: là xung xoay chiều có cường độ rất thấp (μA), điện thế rất cao, hay dùng ở Mỹ
2 Tác dụng sinh lý của dòng điện xung
2.1 Tác dụng ức chế: giảm đau và giảm tr − ơng lực cơ
Sử dụng các dòng điện xung với cường độ tăng dần và tần số cao như Diadynamic, Trọbert, và Burst - TENS có hiệu quả rõ rệt trong việc giảm đau, giảm trương lực cơ co thắt và thư giãn cơ Tác dụng giảm đau của các dòng điện xung được giải thích qua nhiều cơ chế khác nhau.
- Theo thuyết cổng kiểm soát của Melzack và Wall (xem trang 13):
Kích thích đau được truyền theo sợi Aδ và C vào sừng sau tủy sống, tiếp xúc với tế bào vận chuyển T mà không gây tổn thương cho neuron liên hợp, do đó không làm ức chế dẫn truyền trước synap của cả hai loại sợi này.
Aδ và sợi C (cổng mở), nên xung động đ−ợc dẫn truyền lên đồi thị cho ta thấy cảm giác đau