Phạm Văn Beo là những hành vi bị cầm trái với quy định của pháp luật hành động hoặc không hành động, có lỗi cố ý hoặc vô ý xâm phạm quyền được tôn trọng và bảo vệ về tính mạng của người
Trang 1CHƯƠNG 1 NHẬN THỨC CHUNG VỀ TỘI GIẾT NGƯỜI TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
Quyền được sống là quyền không thể tách rời trong quy định về nhân quyền và dân quyền trong mỗi quốc gia Con người luôn giữ vai trò quan trọng trong xã hội, chính vì vậy đây là chủ thể được pháp luật bảo vệ, đặc biệt là bảo vệ tính mạng 1.1 Vài nét về tội xâm phạm đến tính mạng của con người
1.1.1 Khái niệm về tội xâm phạm đến tính mạng con người
Trước hết cần tìm hiểu về khái niệm tội phạm Theo quy định hiện hành thì tội phạm là hành vi gây nguy hiểm cho xã hội và phải chịu các hình phạt theo quy định của pháp luật Chủ thể thực hiện phải chịu các biện pháp cưỡng chế, nghiêm khắc nhất là hình phạt Tất cả những hành vi bị coi là phạm tội đều có cùng bản chất xã hội và những đặc điểm nhất định Đây là hiện tượng xã hội và trái với chuẩn mực xã hội so với các hiện tượng lệch chuẩn khác
Xâm phạm tính mạng con người là hành vi gây tổn hại đến người khác thể hiện dưới dạng vật chất đó là tính mạng của con người Tội xâm phạm đến tính mạng con người theo cách định nghĩa của TS Phạm Văn Beo là những hành vi bị cầm trái với quy định của pháp luật (hành động hoặc không hành động), có lỗi (cố ý hoặc vô ý) xâm phạm quyền được tôn trọng và bảo vệ về tính mạng của người khác Như vậy, tội xâm phạm tính mạng con người là hành vi vi phạm pháp luật và
bị trừng trị với mức hình phạt thích đáng đối với loại tội phạm đặc biệt nguy hiểm này
1.1.2 Đặc điểm về tội xâm phạm đến tính mạng con người
Tội xâm phạm đến tính mạng con người là tội đặc biệt nghiêm trọng có đặc điểm riên biệt so với các tội khác:
Mức độ gây nguy hiểm đặc biệt cho xã hội rất cao nó có thể gây tổn hại vật chất lẫn tinh thần cho gia đình của nạn nhân, của người phạm tội, gây sự hoang mang
và lo sợ cho người dân và xã hội
Có tính trái pháp luật : Hành vi được thực hiện với những quy định trái pháp luật, làm những việc mà pháp luật cấm, ngoài phạm vi cho phép của pháp luật Có hành
vi xâm phạm đến tính mạng của con người được pháp luật bảo vệ
Hậu quả làm chết người, làm thiệt hại về tính mạng của người khác
Trang 21.1.3 Dấu hiệu pháp lý về tội xâm phạm tính mạng con người
1.1.3.1 Khách thể của các tội xâm phạm đến tính mạng con người
Khách thể của nhóm tội này là một trong những khách thể vô cùng quan trọng được pháp luật hình sự bảo vệ Đó là quyền được sống, quyền được tôn trọng và bảo vệ tính mạng của mỗi người
Đối tượng của nhóm tội này là những chủ thể có quyền được tôn trọng và bảo vệ tính mạng Đó là những người đang sống, đang tồn tại độc lập trong xã hội với tư cách là một con người, một thực thể tự nhiên và xã hội Như vậy bào thai và xác chết không phải là đối tượng của những hành vi phạm tội thuộc nhóm tội này
1.1.3.2 Chủ thể của các tội xâm phạm tính mạng con người
Chủ thể của hầu hết của các tội xâm phạm tính mạng con người là chủ thể thường Chỉ có một số tội là có chủ thể đặc biệt như:
Tội làm chết người trong khi thi hành công vụ (Điều 127 Bộ luật hình sự Việt Nam 2015): Trong trường hợp này chỉ có những chủ thể được giao thực hiện nhiệm vụ, công vụ của Nhà nước (có thể là cán bộ , công nhân viên chức Nhà nước hoặc những chủ thể khác được giao thực hiện nhiệm vụ, công vụ Nhà nước) mới trở thành chủ thể của tội phạm này
Tội bức tử (Điều 130 Bộ luật hình sự Việt Nam 2015): Trong trường hợp này chủ thể là người mà nạn nhân có mối quan hệ lệ thuộc đặc biệt như cha, mẹ, người nuôi dưỡng, người yêu,…bất kỳ người nào có năng lực trách nhiệm hình sự
1.2 Khái niệm và đặc điểm tội giết người
1.2.1 Khái niệm về tội giết người
Trong Bộ luật hình sự Việt Nam không nêu ra bất kỳ khái niệm hoặc định nghĩa nào về tội giết người, theo điều 123 của Bộ luật hình sự 2015 có quy định cụ thể về định tội danh, khung hình phạt và các tình tiết tăng nặng, điều luật chỉ quy định giết người mà không quy định cố ý giết người, vì từ giết người bao hàm cả sự cố ý
Do đó nếu có trường hợp nào khác tước đoạt đi tính mạng của người khác không phải do cố ý thì không phải là tội giết người Điều luật cũng không miêu tả cụ thể dấu hiệu của tội giết người nhưng về lý luận và thực tiễn có thể nêu ra khái niệm như sau: giết người là hành vi trái pháp luật cố ý làm chết người ngoài ý muốn của nạn nhân
Trang 3Tội giết người là một trong những tội nguy hiểm nhất và có khung hình phạt cao nhất là tử hình
Hậu quả của hành vi trái pháp luật này là làm chết người, chấm dứt sự sống của họ
và hậu quả chết người là dấu hiệu trong cấu thành tội phạm của tội này Như vậy, tội giết người chỉ được xem là tội phạm hoàn thành khi có hậu quả chết người, nếu hậu quả chết người không xảy ra vì nguyên nhân khách quan thì hành vi giết người được xem là phạm tội chưa đạt (khi có lỗi cố ý trực tiếp) hoặc là tội cố ý gây
thương tích (khi có lỗi cố ý gián tiếp) Mục đích và động cơ phạm tội không phải là dấu hiệu của cấu thành tội giết người và được quy định là tình tiết khung tăng nặng hình phạt
Một số hành vi khác làm chết người, nhưng không coi là hành vi của tội giết người như:
Hành vi không trái pháp luật: hành vi gây ra cái chết cho người khác được pháp luật cho phép (phòng vệ chính đáng, thi hành án tử hình…)
Hành vi trái luật: hành vi làm chết người khi đang thi hành công vụ, hành vi vô ý làm chết người, hành vi bức tử, hành vi xúi giục hoặc giúp người khác tự sát, hành
vi giết con mới đẻ, hành vi giết người do tinh thần bị kích động mạnh, giết người
do vượt qua giới hạn phòng vệ chính đáng
1.2.2 Đặc điểm của tội giết người
Giết người là hành vi trái pháp luật cố ý làm chết người ngoài ý muốn của nạn nhân, hành vi làm chết người được hiểu là hành vi có khả năng gây ra cái chết cho con người, chấm dứt sự sống của ho
Tội giết người về địa điểm gây án rất phức tạp nó có thể xảy ra ở bất kì đâu nhưng chủ yếu tập trung ở ngoài đường phố, trong thôn xóm, nơicông cộng hoặc nơi ở của chính nạn nhân…
- Về thời gian của tội giết người xảy ra nhiều nhất từ khoảng từ 6 giờ đến18 giờ và thường xảy ra vào các ngày lễ, ngày nghỉ cuối tuần đây là thời điểm tập trung nhiều người, các hoạt động sinh hoạt xã hội và sự căng thẳng trong va chạm, mâu thuẫn giữa các thành viên trong xã hội
.- Tội giết người về công cụ, phương tiện gây án khá phong phú, đa dạngnhưng chủ yếu phổ biến vẫn là:dao, côn gỗ, gậy gộc, gạch đá, axít thậmchí là súng và thuốc nổ
Trang 4- Về nạn nhân trong vụ án giết người phần lớn là nam giới nguyên nhânchủ yếu Là
do mâu thuấn bộc phát va chạm nhỏ nhặt nạn nhân khôngkiểm chế được uống rượu, bia say bị kính thích mạnh dẫn đến thiếu bìnhtĩnh không làm chủ được bản thân dẫn đến có lời nói xúc phạm ngườiphạm tội
- Về nhân thân người phạm tội qua nghiên cứu thực tiễn cho thấy chủ yếulà nam giới đa số ở đọ tuổi 18-30 tuổi, người chưa thành niên phạm tộichiếm tỷ lệ rất thấp, chủ yếu là những người có trình độ văn hóa thấpkhông nghề nghiệp hoàn cảnh gia đình khó khăn
Việc nghiên cứu đặc điểm hình sự của tội giết người có ý nghĩa quan trọng Đây là căn cứ định hướng cho cơ quan điều tra, điều tra viên đề raphương pháp tổ chức các hoạt động điều tra loại án này có hiệu quả nhanhtróng tìm ra tội phạm
Để xác định một người có phạm tội giết người hay không phải căn cứ vào nhiều yếu tố như mục đích, lỗi, hoàn cảnh, điều kiện, thực tế xảy ra và hậu quả xảy ra… Trên phương diện khoa học hình sự thì để quy kết một người phạm tội giết người phải căn cứ vào những dấu hiệu sau cơ bản sau:
Thứ nhất, người phạm tội phải là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự (đủ 14 tuổi trở lên), thể hiện ở hành vi khách quan của tội phạm bao gồm cả hành động và không hành động
Thứ hai, về mức độ nguy hiểm cho xã hội thì hành vi đó phải làhành vi tước đoạt tình mạng của người khác trái pháp luật (điều này để phân biệt với việc giết người
ở dạng khác như khi thực hiện nhiệm vụ: thi hành án tửhình )
Thứ ba, về lỗi hành vi tước đoạt tính mạng người khác là hành vi được thựchiện do
cố ý, có nghĩa là người phạm tội nhận thức rõ hành động (không hànhđộng) của mình tất yếu gây ra cái chết của nạn nhân
Thứ tư, chủ thể là nạn củahành vi giết người phải là người còn sống, vì tội giết người là tội xâm phạmđến tính mạng con người (khác với xâm phạm thi thể, mồ mả…)
Đặc điểm hình sự của tội giết người luốn là vấn đề quan trọng để xácđịnh khung hình phạt và định tội danh tạo điều kiện thuận lợi cho các cơ quan tiến hành tố tụng giải quyết vụ án một cách hiệu quả đạt kết quả cao nhất trong giải quyết vụ án
Trang 51.3 Khái quát tội giết người trong lịch sử pháp luật hình sự nước ta
Pháp luật nói chung và pháp và pháp luật hình sự nói riêng – một trong những yếu
tố hợp thành kiến trúc thượng tầng, xuất hiện cùng với nhà nước trong từng giai đoạn lịch sử nhất định và là công cụ sắc bén để nhà nước duy trì trật tự xã hội Có thể thấy qua mỗi giai đoạn lịch sử nhất định, pháp luật nói chung và pháp luật hình
sự nói riêng trong đó có các chế định quy định về tội giết người có những đặc trưng khác nhau Tuy nhiên, qua mỗi giai đoạn phát triển lịch sử xã hội ở nước ta, các nhà làm luật đã có sự kế thừa và phát huy có chọn lọc những ưu điểm của pháp luật trước đó về chế định tội giết người để hoàn thiện hơn trong pháp luật hình sự với mục đích cuối cùng là đấu tranh có hiệu quả đối với các tội phạm giết người, bảo vệ các quyền cơ bản của con người, trong đó có quyền được sống của con người và đảm bảo trật tự an ninh, an toàn xã hội
1.4 Ý nghĩa của việc nghiên cứu tội giết người trong Bộ luật hình sự Việt Nam Trong suốt quá trình lịch sử, con người luôn đóng vai trò quan trọng trong xã hội
Ở bất kì thời đại nào thì tính mạng con người luôn được nhà nước bảo vệ, bằng những biện pháp thích đáng để trừng phạt thích đáng cho tội ác giết người mà người phạm tội đã thực hiện
Tình hình tội phạm giết người trong những năm gần đây có xu hướng gia tăng do nhiều nguyên nhân khác nhau, có những vụ đặc biệt nghiêm trọng do hành vi của người phạm tội vô cùng dã man, tàn ác Việc xem phim trên màn ảnh nhỏ, internet, game online…với những cành chém giết, đâm, bắn súng đã ảnh hưởng không nhỏ đến tinh thần, lối sống, tính cách và hành động của một bộ phận giới trẻ, liên tiếp những vụ giết người dã man xảy ra trong thời gian qua gây chấn động trong xã hội Xét về bản chất của tội giết người đây là loại tội phạm đặc biệt nghiêm trọng, xâm phạm đến tính mạng người khác Xuất phát từ tính nghiêm trọng đó việc quy định tội giết người vào trong Bộ luật hình sự Việt Nam có ý nghĩa rất quan trọng Bằng những hình phạt đã cụ thể trong Bộ luật hình sự đã cụ thể hóa hình phạt đối với tội giết người, trong các hình phạt thì hình phạt tử hình là hình phạt cao nhất và
nghiêm trọng nhất trong các hình phạt đã được quy định để áp dụng cho tội giết người Từ đó cho thấy hình phạt không chỉ để trừng phạt người phạm tội mà còn giáo dục họ trở thành người có ích cho xã hội, có ý thức tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống xã hội chủ nghĩa, ngăn ngừa họ phạm tội mới Hình phạt còn nhằm giáo dục người khác tuân theo pháp luật, đấu tranh phòng ngừa và tố giác tội phạm
Trang 6Việc nghiên cứu tội giết người còn có ý nghĩa giúp người thực thi pháp luật phân biệt những dấu hiệu đặc trưng của tội giết người với các tội khác được quy định trong Bộ luật hình sự, giúp chúng ta trong việc phân loại xử lý, định tội đúng, chọn khung hình hình phạt, áp dụng các chế định khác của luật, đảm bảo xử lý đúng người đúng tội, tránh oan sai, sót tội Từ đó tìm ra chính xác các nguyên nhân của tội giết người, đảm bảo cung cấp chính xác các số liệu về tội giết người xảy ra trong địa phương và trong phạm vi cả nước, xây dựng hệ thống các biện pháp phòng ngừa, đấu tranh phòng chống tội phạm có hiệu quả cao hơn, góp phần làm
ổn định tình hình an ninh trật tự ở địa phương
Hành vi giết người không phải chỉ mới xuất hiện những năm gần đây mà có thể nói
đó là loại hành vi đã có lịch sử từ rất lâu Đây là loại tội phạm mà các quốc gia trong đó có Việt Nam, luôn mong muốn khống chế, đẩy lùi, triệt xóa Góp phần vào quá trình phòng, chống những hành vi xâm phạm tính mạng con người, xâm phạm cao nhất của con người Có thể thấy việc nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn về hành vi giết người trong luật hình sự Việt Nam thật sự rất cần thiết Bởi vì, thông qua việc nghiên cứu có thể tìm ra hướng hoàn thiện những quy định của pháp luật hình sự trong việc góp phần nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm giết người và tiến tới hạn chế, đẩy lùi loại tội phạm này
Trang 7CHƯƠNG 2
QUY ĐỊNH VỀ TỘI GIẾT NGƯỜI TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM HIỆN HÀNH
Quy định pháp luật liên quan đến tội giết người là một nội dung rất quan trọng trong pháp luật hình sự Việt Nam Việc nghiên cứu và phân tích các quy định này
là quá trình cần thiết giúp chúng ta có cái nhìn tổng quát về loại tội phạm này Tội giết người được quy định tại điều 123 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung
2017 quy định
1 Người nào giết người thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ
12 năm đến 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình:
a) Giết 02 người trở lên;
b) Giết người dưới 16 tuổi;
c) Giết phụ nữ mà biết là có thai;
d) Giết người đang thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân;
đ) Giết ông, bà, cha, mẹ, người nuôi dưỡng, thầy giáo, cô giáo của mình;
e) Giết người mà liền trước đó hoặc ngay sau đó lại thực hiện một tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng;
g) Để thực hiện hoặc che giấu tội phạm khác;
h) Để lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân;
i) Thực hiện tội phạm một cách man rợ;
k) Bằng cách lợi dụng nghề nghiệp;
l) Bằng phương pháp có khả năng làm chết nhiều người;
m) Thuê giết người hoặc giết người thuê;
n) Có tính chất côn đồ;
o) Có tổ chức;
p) Tái phạm nguy hiểm;
q) Vì động cơ đê hèn
Trang 82 Phạm tội không thuộc các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này, thì bị phạt
tù từ 07 năm đến 15 năm
3 Người chuẩn bị phạm tội này, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm
4 Người phạm tội còn có thể bị cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm, phạt quản chế hoặc cấm cư trú từ 01 năm đến 05 năm
Tội giết người là một trong những tội có tính nguy hiểm ở mức độ đặc biệt nghiêm trọng, khi nói đến tội giết người cần tìm hiểu các dấu hiệu tội phạm và từng tình tiết giết người cụ thể áp dụng hình phạt cho các trường hợp phạm tội tương ứng với khung hình phạt theo quy định pháp luật hình sự Việt Nam hiện hành về tội giết người
2.1 Dấu hiệu pháp lý của tội giết người
Tội giết người là một trong những tội đặc biệt nghiêm trọng, khi nói đến tội giết người cần tìm hiểu các dấu hiệu tội phạm và từng tình giết người cụ thể để áp dụng cho từng trường hợp với với các hình phạt tương ứng theo quy định của pháp luật hình sự Việt Nam hiện hành về tội giết người
Dấu hiệu pháp lý của tội giết người được thể hiện đầy đủ 4 yếu tố gồm: khách thể của tội phạm, mặt khách quan của tội phạm, mặt chủ quan của tội phạm và chủ thể của tội phạm
2.1.1 Khách thể tội giết người
Theo các ý kiến thống nhất hiện nay, tội giết người xâm phạm tới quyền sống – một trong những quyền nhân thân của con người, quyền sống là quyền thiêng liêng
và cao quý, không quyền gì có thể so sánh và thay thế được Bởi lẽ, con người là mục tiêu và là động lực của sự phát triển Khi quyền sống của con người bị xâm phạm thì mục tiêu phấn đấu sẽ trở nên vô nghĩa, động lực phát triển của xã hội sẽ
bị triệt tiêu Con người là chủ thể của quan hệ xã hội, nếu quyền sống của con người bị xâm phạm thì các quan hệ xã hội sẽ bị phá vỡ Chính vì vậy mục tiêu bảo
vệ quyền sống của con người luôn đặt lên hàng đầu đối với mọi dân tộc, mọi quốc gia, mọi thời kỳ và mọi chế độ Cũng chính vì đặc biệt nghiêm trọng của quyền sống của con người mà các nhà làm luật đã quy định ngay sau tội xâm phạm an ninh quốc gia là các quy định về tội xâm phạm nhân thân Trong số các tội xâm phạm xâm phạm quyền nhân thân thì tội giết người được quy định đầu tiên và hình phạt cũng nghiêm khắc nhất nhất là tử hình Điều này càng khẳng định quyền sống
Trang 9vô cùng thiêng liêng, cao cả và bất khả xâm phạm Bất cứ ai xâm phạm đều bị trừng trị ngiêm khắc theo quy định của pháp luật
2.1.2 Mặt khách quan của tội giết người
Hành vi khách quan của tội giết người là hành vi dùng mọi thủ đoạn nhằm làm cho người khác chấm dứt cuộc sống.Tuy nhiên, cần phân biệt với các trường hợp: nếu làm chết chính bản thân mình thì bị coi là tự tử hoặc tự sát; nếu vì vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng mà làm chết người khác thì cấu thành tội giết người do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng
Hành vi làm chết người được thực hiện thông qua các hình thức hành động hoặc không hành động:Hành động thể hiện qua việc người phạm tội đã chủ động thực hiện các hành vi mà pháp luật không cho phép như: dùng dao đâm, dùng súng bắn, dùng gậy đánh, dùng gạch ném tác động vào thân thể nạn nhân nhằm tước bỏ tính mạng người đó; không hành động là việc người phạm tội không thực hiện nghĩa vụ phải làm (phải hành động) để đảm bảo sự an toàn tính mạng của người khác nhằm giết người khác Thông thường tội phạm được thực hiện trong trường hợp (bằng cách) lợi dụng nghề nghiệp
Hành vi của người phạm tội giết người có thể có hoặc không sử dụng vũ khí, hung khí:Không sử dụng vũ khí hoặc hung khí là trường hợp người phạm tội chủ yếu sử dụng sức mạnh cơ thể của mình tác động lên cơ thể của nạn nhân hoặc đẩy nạn nhân vào điều kiện không thể sống được như đấm, đá, bóp cổ hoặc dùng các thủ đoạn khác như đẩy xuống sông ; có sử dụng vũ khí, hung khí hoặc các tác nhân gây chết người khác Trường họp này người phạm tội có sử dụng các công cụ phạm tội như: Súng, lựu đạn, bom, mìn, dao, búa, gậy gộc, hoặc các tác nhân gây chết khác như thuốc độc, điện
Hành vi giết người được thể hiện dưới hình thức dùng vũ lực hoặc không dùng vũ lực: dùng vũ lực là trường hợp người phạm tội đã sử dụng sức mạnh vật chất (có hoặc không có công cụ, phương tiện phạm tội) tác động lên thân thể nạn nhân.Việc dùng vũ lực có thể được thể hiện bằng các hình thức: trựctiếp dùng tay, chân để đánh đá, bóp cổ, ; thực hiện gián tiếp thông qua phương tiện vật chất (có công cụ, phương tiện phạm tội) như: Dùng dao để đâm, chém, dùng súng bắn ;Không dùng
vũ lực nghĩa là dùng các thủ đoạn khác mà không sử dụng sức mạnh vật chất để tác động lên cơ thể nạn nhân như: Dùng thuốc độc để đầu độc nạn nhân, gài bẫy điện
để nạn nhân vướng vào
Trang 10Hậu quả do hành vi của tội phạm giết người gây ra là làm người khác chết (tức là chấm dứt sự sống của người khác) Tuy nhiên chỉ cần hành vi mà người phạm tội
đã thực hiện có mục đích làm chấm dứt sự sống của người khác (hay làm cho người khác chết) thì được coi là cấu thành tội giết người cho dù hậu quả chết người
có xảy ra hay không Một số trường hợp, việc dùng vũ lực không gây ra hậu quả trực tiếp làm nạn nhân chết mà chỉ có tác dụng đẩy nạn nhân vào tình trạng nguy hiểm đến tính mạng và tử vong (như xô nạn nhân xuống sông và bỏ mặc cho đến chết hoặc đạp nạn nhân ra ngoài đường đang có nhiều xe ôtô chạy dẫn đến bị xe cán chết ) vẫn phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội giết người nếu chứng minh được người thực hiện hành vi đó có mục đích giết người Đây có thể xem là hậu quả gián tiếp
2.1.3 Mặt chủ quan của tội giết người
Người phạm tội giết người luôn thực hiện tội phạm này với lỗi cố ý (cố ý trực tiếp hoặc cố ý gián tiếp)
Giết người với lỗi cố ý trực tiếp là trường hợp một người nhận thức hành vi của mình là nguy hiểm, nhận thức hậu quả chết người sẽ xảy ra và mong muốn cho hậu quả chết người xảy ra
Giết người với lồi cố ý gián tiếp là trường hợp một người nhận thức được hành vi của mình là nguy hiểm, nhận thức được hậu quả chết người có thể xảy ra, tuy không mong muốn nhưng bỏ mặc cho hậu quả xảy ra
2.1.4 Chủ thể của tội giết người
Chủ thể của tội giết người là chủ thể thường Nghĩa là bất kỳ người nào từ 14 tuổi trở lên và có năng lực trách nhiệm hình sự đều có thể trở thể của tội giết
người.Theo quy định tại Điều 12 của Bộ luật hình sự, thì người từ đủ 14 tuổi trở lên có năng lực trách nhiệm hình sự về tội rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội đặc biệt nghiêm trọng Từ 16 tuổi trở lên chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm 2.2 Một số trường hợp phạm tội cụ thể
Từ quy định trong từng tình tiết của tội giết người tại điều 123 Bộ luật hình sự năm
2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 đều có những đặc điểm pháp lý riêng, người viết
sẽ đi phân tích cụ thể