Quá trình phê duyệt dự án đầu tư xây dựng Cụm công nghiệp vừa và nhỏ
Để đảm bảo hiệu quả đầu tư, các hình thức và nguồn vốn đầu tư cần phù hợp với Quy hoạch sử dụng đất và Quy hoạch kinh tế – xã hội của địa phương Sở Kế hoạch và Đầu tư sẽ là đơn vị chủ trì lập kế hoạch hàng năm, trình UBND Thành phố phê duyệt nhiệm vụ chuẩn bị cho dự án đầu tư xây dựng Cụm công nghiệp, bao gồm xác định vị trí, quy mô, kế hoạch triển khai và tổ chức thực hiện.
- Về công tác lập, thẩm định, phê duyệt quy hoạch chi tiết (tỷ lệ 1/2000, 1/500):
Sau khi Nhiệm vụ chuẩn bị đầu tư được phê duyệt, các Chủ đầu tư dự án phát triển Cụm công nghiệp cần ưu tiên nghiên cứu lập Quy hoạch chi tiết xây dựng (tỷ lệ 1/2000, 1/500) hoặc Quy hoạch tổng mặt bằng (tỷ lệ 1/500) Đây là cơ sở quan trọng cho việc lập Dự án đầu tư xây dựng, với sự hỗ trợ từ Sở Quy hoạch – Kiến trúc, đơn vị đầu mối giúp UBND Thành phố trong quá trình này.
Địa điểm được giới thiệu, cùng với thỏa thuận về chức năng sử dụng đất, là cơ sở để hướng dẫn Chủ đầu tư triển khai lập Nhiệm vụ và đồ án Quy hoạch chi tiết hoặc Quy hoạch tổng mặt bằng Chủ đầu tư cần lập hồ sơ giới thiệu địa điểm và thỏa thuận chức năng sử dụng đất tại Sở Quy hoạch – Kiến trúc Kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ, các bước tiếp theo sẽ được thực hiện.
Sở Quy hoạch – Kiến trúc có trách nhiệm giải quyết hồ sơ trong thời gian không quá 20 ngày làm việc
Sở Quy hoạch – Kiến trúc có trách nhiệm thẩm định nhiệm vụ thiết kế cho các đồ án thuộc thẩm quyền phê duyệt của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân thành phố Thời gian giải quyết hồ sơ sẽ không quá 30 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ.
Sở Quy hoạch – Kiến trúc có trách nhiệm thẩm định đồ án quy hoạch chi tiết xây dựng, đặc biệt là những đồ án thuộc thẩm quyền phê duyệt của Chủ tịch UBND thành phố Thời gian giải quyết hồ sơ không được vượt quá 30 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ.
- Về công tác lập, thẩm định, phê duyệt dự án đầu tư:
Các dự án đầu tư xây dựng Cụm công nghiệp vừa và nhỏ, Cụm sản xuất làng nghề tập trung được quyết định đầu tư bởi Chủ tịch Uỷ ban nhân dân Thành phố hoặc được uỷ quyền cho cơ quan cấp dưới Cụ thể, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp huyện có thẩm quyền quyết định các dự án với mức vốn không quá 5 tỷ đồng, trong khi cấp xã có thể quyết định các dự án không vượt quá 3 tỷ đồng Đơn vị thẩm định dự án, Sở Kế hoạch và Đầu tư, sẽ gửi hồ sơ dự án đến các Sở, Ban, ngành để lấy ý kiến và có thể mời các chuyên gia tham gia thẩm định.
+ Sở Công nghiệp tổ chức thẩm định Thiết kế cơ sở của các dự án đầu tư xây dựng công trình công nghiệp chuyên ngành
Sở Xây dựng có trách nhiệm thẩm định Thiết kế cơ sở cho các dự án đầu tư xây dựng công trình công nghiệp, ngoại trừ những công trình do Sở Công nghiệp thẩm định Đối với các dự án liên quan đến nhiều chuyên ngành, Sở chủ trì thẩm định sẽ là Sở có chức năng quản lý nhà nước về ngành quyết định tính chất và mục tiêu của dự án, đồng thời phải lấy ý kiến từ các Sở liên quan Đối với các dự án sử dụng vốn khác hoặc vốn hỗn hợp, chủ đầu tư có quyền tự quyết định đầu tư và chịu trách nhiệm về quyết định đó.
Thời gian thẩm định thiết kế cơ sở được quy định như sau: không quá 30 ngày làm việc cho các dự án nhóm A, 15 ngày cho nhóm B và 10 ngày cho nhóm C, tính từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ.
Thời gian thẩm định dự án, bao gồm cả thẩm định thiết kế cơ sở, được quy định không quá 60 ngày làm việc cho dự án nhóm A, 30 ngày cho dự án nhóm B và 20 ngày cho dự án nhóm C, tính từ ngày nhận hồ sơ hợp lệ Trong trường hợp đặc biệt, thời gian thẩm định có thể kéo dài hơn nhưng cần có sự cho phép của người quyết định đầu tư.
Hiện nay, UBND Thành phố đã phân cấp việc lập, thẩm định và phê duyệt Quy hoạch chi tiết cùng Dự án đầu tư xây dựng cho UBND các Quận, Huyện Quy trình phê duyệt đang được nghiên cứu và hoàn thiện, trong khi đó, Ban Quản lý dự án sẽ phối hợp với Phòng Xây dựng của Quận/Huyện để triển khai các nội dung liên quan.
A.2.1 Tổ chức thiết lập các dự án đầu tư cụm công nghiệp vừa và nhỏ:
Lãnh đạo các đơn vị cần tập hợp ý tưởng để hình thành dự án, xác định sự cần thiết đầu tư, mục tiêu lâu dài và ngắn hạn, đồng thời đánh giá hiệu quả đầu tư Ngoài ra, cần xác định hình thức và nguồn vốn đầu tư Tất cả những thông tin này sẽ được báo cáo để UBND Quận, huyện xem xét và chấp thuận.
Kế hoạch và Nhiệm vụ chuẩn bị đầu tư hàng năm cần được trình lên UBND Thành phố cho các dự án thuộc thẩm quyền phê duyệt của Thành phố, hoặc phê duyệt Kế hoạch và Nhiệm vụ chuẩn bị đầu tư cho các dự án thuộc thẩm quyền phê duyệt của cấp huyện.
Phối hợp với các đơn vị chức năng để xây dựng Nhiệm vụ thiết kế, bao gồm quy mô, công suất thiết kế và các yêu cầu về cấp điện, nước, sau đó trình cấp thẩm quyền phê duyệt Cơ quan quản lý xây dựng tại huyện, cụ thể là Phòng Xây dựng, sẽ thẩm định các Nhiệm vụ và đồ án quy hoạch chi tiết thuộc thẩm quyền phê duyệt của Chủ tịch.
Uỷ ban nhân dân Quận/Huyện
Khảo sát địa hình và địa chất tại địa điểm xây dựng là bước quan trọng để phối hợp với đơn vị tư vấn thiết kế, nhằm phát triển phương án thiết kế sơ bộ và xác định các nội dung cần thiết cho Báo cáo nghiên cứu khả thi đầu tư dự án.
- Gửi hồ sơ cho các đơn vị chức năng thẩm định lập Báo cáo kết quả thẩm định, Báo cáo nghiên cứu khả thi đầu tư dự án
- Trên cơ sở kết quả thẩm định, xây dựng tờ trình trình cấp thẩm quyền để xin phê duyệt Báo cáo nghiên cứu khả thi đầu tư dự án
A.2.2 Thiết lập hồ thiết kế kỹ thuật và tổng dự toán:
Dựa trên Báo cáo nghiên cứu khả thi của dự án đầu tư đã được phê duyệt, cần phối hợp với đơn vị tư vấn thiết kế để lập hồ sơ thiết kế kỹ thuật và tổng dự toán.
Giao quyền sử dụng đất
Sau khi hoàn tất quy hoạch chi tiết hoặc tổng mặt bằng (tỷ lệ 1/500) và dự án đầu tư được phê duyệt, Chủ đầu tư sẽ được UBND Thành phố xem xét giao đất hoặc cho thuê đất Đồng thời, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ) sẽ được cấp thông qua Sở Tài nguyên, Môi trường và Nhà đất, hướng tới Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất.
Luật Đất đai quy định rằng thời gian tối đa để người sử dụng đất nhận giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ) không vượt quá 55 ngày làm việc kể từ khi Văn phòng ĐKQSDĐ nhận đủ hồ sơ hợp lệ Trước khi nộp hồ sơ xin cấp GCNQSDĐ, doanh nghiệp cần thu thập thông tin từ bốn cơ quan địa phương khác nhau Sau đó, nhân viên của Sở Tài nguyên, Môi trường và Nhà đất phải thực hiện 20 bước khác nhau đối với hồ sơ Do đó, thời gian tối thiểu để một doanh nghiệp nhận được GCNQSDĐ đất có thể kéo dài đáng kể.
Trong vòng 20 ngày kể từ khi chủ doanh nghiệp nộp đầy đủ hồ sơ đến Sở Tài nguyên, Môi trường và Nhà đất, quá trình cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ) có thể diễn ra Tuy nhiên, trong một số trường hợp, thời gian này có thể kéo dài đến 2 năm hoặc hơn Đặc biệt, thủ tục xin GCNQSDĐ đối với trường hợp giao hoặc thuê đất thường phức tạp và tốn nhiều thời gian hơn.
Các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận nguồn vốn của doanh nghiệp bao gồm tính kịp thời trong việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ), giá trị đất và tính phức tạp của khung thể chế đăng ký bất động sản Những yếu tố này khiến doanh nghiệp gặp khó khăn khi sử dụng đất làm tài sản thế chấp để vay vốn phát triển kinh doanh trong các cụm công nghiệp.
Hà Nội đang dẫn đầu trong việc xây dựng 16 cụm công nghiệp và nghề (CCNV&N) với tổng diện tích lên đến 750 ha, nhưng chỉ có khoảng 130 doanh nghiệp Việt Nam được cấp đất để xây dựng nhà xưởng, một con số rất hạn chế so với nhu cầu thực tế Mỗi CCNV&N chỉ có khả năng đáp ứng cho khoảng 20 doanh nghiệp, dẫn đến tình trạng quá tải Quy trình xét duyệt vào các cụm công nghiệp cũng gặp nhiều khó khăn, yêu cầu doanh nghiệp phải đáp ứng nhiều tiêu chí khác nhau.
25 doanh nghiệp, nhưng nay số đơn hợp lệ đã lên tới hàng trăm nên việc xét chọn cũng rất khó khăn
Mặc dù nhiều dự án đầu tư khu công nghiệp (KCN) và khu chế xuất (KCX) đã được phát triển với hạ tầng hiện đại, nhưng chi phí thuê thường cao và yêu cầu thanh toán một lần cho thời gian dài, đôi khi vượt quá số vốn của doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV).
Theo Bộ Kế hoạch - Đầu tư, việc hỗ trợ mặt bằng cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) đã có nhiều cải thiện so với trước đây Doanh nghiệp giờ đây có thể thuê đất trong các cụm công nghiệp và nông nghiệp lên đến 50 năm, với mức giá thuê đất thấp nhất trong khung quy định.
Kể từ khi Luật Đất đai 2003 có hiệu lực, Chính phủ đã đưa ra các hướng dẫn cụ thể nhằm hỗ trợ doanh nghiệp trong việc giải quyết mặt bằng Điều này bao gồm yêu cầu công khai quy hoạch, cho phép doanh nghiệp lựa chọn hình thức giao đất hoặc thuê đất, cũng như tự thỏa thuận với chủ đất để có mặt bằng sản xuất Công tác công khai quy hoạch đã được triển khai, tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp trong việc xây dựng dự án sản xuất kinh doanh, đặc biệt trong các lĩnh vực như nuôi trồng thủy sản, xuất khẩu và khách sạn - du lịch.
Cấp giấy phép xây dựng
Theo Thông tư 09/2005/TT-BXD ngày 06/5/2005 của Bộ Xây dựng, có một số công trình không cần xin giấy phép xây dựng Thông tư này hướng dẫn chi tiết về các nội dung liên quan đến giấy phép xây dựng, giúp chủ đầu tư nắm rõ các trường hợp được miễn giấy phép.
Các công trình xây dựng trong dự án khu đô thị, khu công nghiệp và khu nhà ở phải tuân thủ quy hoạch chi tiết xây dựng tỷ lệ 1/500 đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt Đồng thời, các công trình này cần có thiết kế cơ sở được thẩm định theo quy định tại Điều 9 của Nghị định 16/CP.
UBND Thành phố Hà Nội đã ban hành Quyết định số 28/2006/QĐ-UB vào ngày 17/3/2006, quy định về việc cấp giấy phép xây dựng cho các công trình trên địa bàn thành phố.
- Ngoài các trường hợp nêu trên: Chủ đầu tư khi có nhu cầu xây dựng, liên hệ với
Để xin cấp Giấy phép xây dựng (GPXD), người dân cần đến "Phòng một cửa" của UBND các quận, huyện, phường, xã, thị trấn hoặc của Sở Xây dựng Hà Nội để được hướng dẫn lập hồ sơ Cơ quan tiếp nhận hồ sơ có trách nhiệm thông báo bằng văn bản trong vòng 7 ngày làm việc nếu hồ sơ cần bổ sung Thời gian hoàn chỉnh hồ sơ sẽ không được tính vào thời gian cấp GPXD, và nếu hồ sơ không đủ điều kiện, cơ quan có thể từ chối tiếp nhận.
Các cụm công nghiệp vừa và nhỏ
Trong những năm gần đây, công nghiệp Hà Nội đã ghi nhận sự tăng trưởng ấn tượng từ 14-15% nhờ vào sự phát triển mạnh mẽ của các khu công nghiệp tập trung và cụm công nghiệp vừa và nhỏ Đặc biệt, tính đến năm 2005, Hà Nội đã có 4 cụm công nghiệp với hạ tầng tương đối hoàn chỉnh, đóng góp vào thành công chung của ngành công nghiệp địa phương.
DN đã bắt đầu hoạt động sản xuất kinh doanh, với 5 CCNV&N (Cầu Giấy, Hai Bà Trưng, Phú Thị, Ngọc Hồi, Hapro) đang hoàn thiện hạ tầng và khảo sát năng lực đầu tư của các doanh nghiệp Hai CCNV&N Ninh Hiệp và Từ Liêm (giai đoạn 2) đã nhận quyết định tạm giao đất để thực hiện dự án đền bù và GPMB Ba cụm công nghiệp: Doanh nghiệp trẻ, Phú Minh (Từ Liêm) và Sóc Sơn hiện đang trong quá trình lập phương án quy hoạch chi tiết và xin tạm giao đất.
Hà Nội đang triển khai 24 dự án phát triển cụm công nghiệp với quy mô khoảng 750ha, thu hút hơn 70 doanh nghiệp đầu tư với tổng vốn gần 750 tỷ đồng Trong số đó, 54 doanh nghiệp đã đi vào sản xuất, 19 doanh nghiệp đang xây dựng và lắp đặt máy móc thiết bị Những khu công nghiệp vừa và nhỏ này không chỉ đáp ứng nhu cầu về mặt bằng sản xuất và di chuyển các doanh nghiệp ra khỏi nội đô mà còn góp phần quan trọng vào việc chuyển đổi cơ cấu kinh tế địa phương Đặc biệt, một số khu công nghiệp chế biến đã được triển khai đồng bộ với khu phụ trợ như Hapro (Gia Lâm) Đến nay, 9 dự án đã hoàn thành hạ tầng kỹ thuật, thu hút 143 doanh nghiệp với tổng vốn đầu tư gần 3.000 tỷ VNĐ.
Bảng thống kê các dự án phát triển Cụm công nghiệp V&N tại Hà Nội (2005) bao gồm nhiều cụm công nghiệp tập trung, như cụm công nghiệp xã Kiêu Kỵ, xã Gia Lâm, xã Vạn Hà, xã Liên Hà, xã Tân Triều, xã Bát Tràng Các cụm này chủ yếu tập trung vào sản xuất tiểu thủ công nghiệp, với mục tiêu thúc đẩy phát triển kinh tế địa phương và tạo ra nhiều cơ hội việc làm cho người dân Cụm công nghiệp thực phẩm Lệ Chi cũng nằm trong danh sách, góp phần vào sự phát triển bền vững của khu vực.
02 c ụ m c ô n g n g h iệp v ĩ n h t u y-t h a n h t r ì c ụ m c ô n g n g h iệp t ừ l iê m mở r ộ n g c ụ m c ô n g n g h iệp n in h h iệp-g ia l âm c ụ m c ô n g n g h iệp ph ú t h ị-g ia l âm c ụ m c ô n g n g h iệp n g ọ c h ồ i-t h a n h t r ì
Cụm công nghiệp ngọc hồ (mở rộng) và cụm công nghiệp lâm giang (kiểu kỵ) đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển các khu công nghiệp tại địa phương Cụm công nghiệp vừa và nhỏ, tập trung vào sản xuất tiểu thủ công nghiệp, đang thúc đẩy nền kinh tế khu vực, đặc biệt là tại hai bà trưng Cụm công nghiệp dệt may nguyên khê-đô và cụm công nghiệp vừa và nhỏ cũng góp phần không nhỏ vào sự phát triển bền vững Các cụm công nghiệp này không chỉ tạo ra việc làm mà còn nâng cao giá trị sản xuất tiểu thủ công nghiệp và công nghiệp nhọ, đồng thời thúc đẩy sự phát triển của ngành công nghiệp phụ minh-từ liệu.
(g ia i đo ạ n 1) q u Ën c Çu g iÊy 18
16 STT kh u / c ụ m c ô n g n g h iệp v ừ a v à n h ỏ ph ú t h ị-g ia l âm
Một số khu công nghiệp có hiệu quả cao bao gồm Khu công nghiệp Bắc Thăng Long, Sài Đồng B, và các cụm công nghiệp vừa và nhỏ như Vĩnh Tuy (Thanh Trì) và Phú Thị (Gia Lâm).
Huyện Gia Lâm đã chứng kiến sự phát triển ổn định của các cụm doanh nghiệp vừa và nhỏ, như Cụm công nghiệp Phú Thị và Cụm sản xuất làng nghề Bát Tràng, với diện tích gần 17 ha đang trong quá trình xây dựng hạ tầng kỹ thuật Các dự án khác, chẳng hạn như Dự án cụm công nghiệp làng nghề Kiêu, cũng đang được triển khai, góp phần vào sự phát triển kinh tế của khu vực.
Cụm công nghiệp Ninh Hiệp với diện tích 63,631 ha đã hoàn thành việc cắm mốc giới và được phê duyệt dự án đầu tư, hiện đang trong quá trình xây dựng hạ tầng Bên cạnh đó, Cụm công nghiệp thực phẩm Hapro tại hai xã Kim Sơn và Lệ Chi đã được đầu tư hệ thống hạ tầng kỹ thuật, trong khi Cụm công nghiệp Lâm Giang tại xã Kiêu Kỵ đang lập dự án đầu tư Các quận, huyện cũng đã phát triển 05 cụm sản xuất trong các làng nghề tiểu thủ công nghiệp truyền thống như Bát Tràng, Triều Khúc, Vân Hà, Liên Hà, Kiêu Kỵ, Tân Triều, góp phần tạo việc làm và chuyển đổi cơ cấu lao động Đồng thời, một số mô hình sản xuất nông nghiệp hiệu quả cao đã xuất hiện, bao gồm mô hình trồng rau an toàn, chuyển đổi ruộng trồng sang nuôi trồng thủy sản, sản xuất hoa tập trung và chăn nuôi theo phương pháp công nghiệp.
Thành phố không chỉ chú trọng đến lợi ích kinh tế từ các cụm công nghiệp (CCN) mà còn tập trung giải quyết những vấn đề phát sinh sau khi hình thành CCN, như phát triển khu nhà ở cho công nhân và xây dựng các công trình hạ tầng xã hội.
Thành phố đã thiết lập các quy định cụ thể nhằm hỗ trợ doanh nghiệp đầu tư vào cụm công nghiệp (CCN), đặc biệt là các CCN vừa và nhỏ Những chính sách này không chỉ tạo điều kiện thuận lợi cho nhà đầu tư trong việc xây dựng và lắp đặt máy móc, mà còn góp phần giải quyết vấn đề việc làm và các vấn đề xã hội liên quan.
Các doanh nghiệp đầu tư vào cụm công nghiệp (CCN) cần cam kết xây dựng hạ tầng cho địa phương và hỗ trợ giải quyết lao động tại chỗ, đặc biệt là những người mất đất do dự án Việc quản lý xây dựng CCN phải phù hợp với quy hoạch chung, đồng thời yêu cầu xây dựng khu nhà cho công nhân, đảm bảo vệ sinh môi trường và xử lý nước thải cũng đã trở thành điều kiện bắt buộc Ban quản lý CCN thực hiện cải cách thủ tục hành chính để tạo thuận lợi cho nhà đầu tư, thường xuyên gặp gỡ và giải quyết kịp thời các khó khăn trong quá trình triển khai dự án.
Thành phố đã triển khai nhiều chính sách ưu đãi nhằm thu hút đầu tư vào các cụm công nghiệp vừa và nhỏ Trong quá trình xây dựng hạ tầng kỹ thuật, các doanh nghiệp sẽ nhận được hỗ trợ tài chính từ Thành phố, bao gồm 30% chi phí giải phóng mặt bằng và 100% chi phí rà phá bom mìn, cũng như xây dựng hạ tầng giao thông, vỉa hè, hàng rào, và cung cấp điện, nước đến tận hàng rào Doanh nghiệp sẽ được đầu tư xây dựng hạ tầng kỹ thuật trong vòng 50 năm cho diện tích thuê, và chỉ phải chi trả phí quản lý hàng năm.
Công tác xây dựng và hoàn chỉnh hạ tầng kỹ thuật trong các CCNV&N của thành phố đang diễn ra chậm và không đồng bộ, ảnh hưởng tiêu cực đến tiến độ và thực hiện dự án của các doanh nghiệp Điều này đặc biệt nghiêm trọng đối với các khu xử lý chất thải rắn và rác thải tập trung, làm tăng nguy cơ ô nhiễm môi trường trong khu vực.
Hình 1: Cụm công nghiệp vừa và nhỏ tại xã Nguyên Khê, huyện Đông Anh
Tình hình các Doanh nghiệp công nghiệp dân doanh
Theo điều tra năm 2005, Hà Nội có ít nhất 2.400 doanh nghiệp công nghiệp dân doanh (DNCNDD) với tổng doanh thu 15 nghìn tỷ đồng và vốn kinh doanh 14 nghìn tỷ đồng, thu hút 90 nghìn lao động Trong 5 năm qua, số lượng doanh nghiệp này đã tăng gấp đôi, giá trị sản xuất tăng 3,9 lần và vốn tăng 5 lần, góp phần quan trọng vào nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh của ngành công nghiệp tại Hà Nội Điều tra của Sở Công nghiệp Hà Nội về hoạt động dịch vụ hỗ trợ cho DNCNDD cho thấy một số vấn đề cần được chú ý.
Yếu tố quan trọng nhất đối với doanh nghiệp khi quyết định đầu tư là thị trường tiềm năng Tiếp theo, hạ tầng cơ sở thuận lợi, an ninh trật tự ổn định, chính quyền địa phương không gây phiền hà và chi phí sản xuất thấp cũng là những yếu tố quyết định Trong khi đó, chính sách hỗ trợ từ Nhà nước không được đánh giá cao như các yếu tố trên Do đó, doanh nghiệp mong muốn Nhà nước tập trung vào việc cải thiện hạ tầng cơ sở, đảm bảo an ninh trật tự và giảm thiểu phiền hà trong quá trình đầu tư.
Vấn đề hiện nay không phải là gia tăng mức hỗ trợ cho doanh nghiệp, mà là nâng cao hiệu quả và chất lượng của các hoạt động hỗ trợ từ Nhà nước đối với doanh nghiệp.
Nhu cầu hỗ trợ từ Nhà nước của các doanh nghiệp công nghiệp dân doanh tại Hà Nội rất đa dạng, phụ thuộc vào quy mô, địa bàn và ngành nghề Ba vấn đề chính mà các doanh nghiệp này đang gặp khó khăn và cần sự hỗ trợ từ Nhà nước bao gồm mặt bằng sản xuất, vốn và chính sách thuế Ngoài ra, các doanh nghiệp cũng rất quan tâm đến các vấn đề như xúc tiến thương mại, phân tích dự báo thị trường, và quy hoạch phát triển ngành công nghiệp.
Các doanh nghiệp lớn thường có nhu cầu cao về thông tin phân tích và dự báo thị trường, cũng như xây dựng thương hiệu và quy hoạch ngành công nghiệp Ngược lại, doanh nghiệp nhỏ lại bức xúc hơn về vấn đề thuế và mặt bằng Doanh nghiệp lớn chú trọng vào kiến thức quản lý tài chính, kinh doanh xuất nhập khẩu, và ý tưởng chất lượng, trong khi doanh nghiệp nhỏ quan tâm đến xúc tiến thương mại, nâng cao chất lượng và tiết kiệm chi phí Hơn nữa, doanh nghiệp nhỏ ít chú ý đến việc lập và quản lý dự án đầu tư, quản lý nhân sự và quản trị doanh nghiệp, trong khi doanh nghiệp lớn lại không mấy quan tâm đến sự hỗ trợ của Nhà nước trong việc đổi mới mẫu mã sản phẩm và hợp lý hóa sản xuất.
Các doanh nghiệp hiện nay rất cần thông tin về hỗ trợ thuế và các khu, cụm công nghiệp, nhưng Thành phố và các ngành chức năng chưa cung cấp đầy đủ và thường xuyên Bên cạnh đó, kiến thức về quản lý tài chính, tiết kiệm chi phí và quản lý thương hiệu lại được nhiều doanh nghiệp quan tâm Họ sẵn sàng đầu tư kinh phí để nhận được thông tin chất lượng cao và kịp thời về nghiệp vụ, chuyên môn, cũng như mặt bằng để mở rộng sản xuất Những thông tin liên quan trực tiếp đến lợi ích doanh nghiệp như mặt bằng sử dụng đất, nguồn vốn và quỹ hỗ trợ cũng rất được chú trọng.
Nhiều doanh nghiệp sẵn sàng đóng góp một phần hoặc toàn bộ kinh phí cho các dịch vụ hỗ trợ chất lượng cao trong các lĩnh vực phức tạp như ứng dụng công nghệ thông tin, kiến thức kinh doanh xuất nhập khẩu và tiếp thị.
Nội dung liên quan đến lợi ích của Nhà nước, như quy định về báo cáo thống kê, bảo vệ môi trường, an ninh trật tự và chế độ kê khai nộp thuế, thường ít được doanh nghiệp quan tâm đầy đủ do ý thức chưa cao.
Tình hình các Cụm sản xuất làng nghề tập trung (Tiểu thủ công nghiệp)
Phát triển Cụm sản xuất làng nghề tập trung là yêu cầu cấp thiết giải quyết mặt bằng
Trong những năm đổi mới làng nghề ở ngoại thành Hà Nội đã có sự phát triển mạnh và đạt được những thành tích đáng ghi nhận, đã là:
(1) Qui mô và GTSX của các làng nghề không ngừng tăng lên qua các năm
Nhiều làng nghề mới đã được hình thành và phát triển thành các xã nghề, vững mạnh trong lĩnh vực sản xuất Số lượng làng nghề và lao động trong các làng nghề đã gia tăng đáng kể Tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất tại các làng nghề trong những năm qua đạt mức cao.
Nhiều làng nghề đã chuyển đổi cơ cấu sản phẩm để phù hợp với yêu cầu thị trường và chú trọng đổi mới công nghệ Sản xuất kinh doanh của các làng nghề được duy trì và phát triển, với một số sản phẩm đã được xuất khẩu ra nước ngoài.
(3) Về tổ chức SX-KD, ở nhiều làng nghề đã có sự đa dạng hoá các hình thức tổ chức SX-KD, thỳc đẩy sản xuất hàng hoá phát triển
Với sự phát triển “khá nóng” như vậy, các làng nghề ở ngoại thành Hà Nội đã nổi lên
2 mâu thuẫn lớn phải giải quyết,đã là:
1- Thiếu mặt bằng cho duy trì và mở rộng SX-KD của các làng nghề
2 Phải xây dựng chiến lược phát triển làng nghề và giải pháp thích hợp để giải quyết ô nhiễm môi trường trong quá trình phát triển làng nghề
Hình thành và phát triển các Cụm sản xuất làng nghề tập trung là giải pháp hiệu quả nhằm giải quyết mâu thuẫn trong quá trình phát triển các làng nghề.
Quá trình hình thành, phát triển Cụm sản xuất làng nghề tập trung & lợi ích của nó: 12 3) Đánh giá tác động môi trường trong quá trình phê duyệt dự án đầu tư xây dựng và tình hình triển khai thực tế
Kể từ khi Chính phủ ban hành quyết định số 132/2000/QĐ-TTg vào ngày 24/11/2000 nhằm khuyến khích phát triển ngành nghề nông thôn, nhiều địa phương đã tích cực triển khai xây dựng và phát triển các cụm công nghiệp làng nghề Đặc biệt, tại các huyện ngoại thành Hà Nội, các nghị quyết của Huyện ủy đã được đề ra kịp thời, dẫn đến việc xây dựng các cụm sản xuất làng nghề tập trung.
Các cụm sản xuất làng nghề được hình thành và phát triển chủ yếu qua hai con đường: thứ nhất, sự tự phát từ các hộ gia đình xây dựng cụm sản xuất, sau đó phát triển thành cụm công nghiệp làng nghề; thứ hai, là việc xây dựng mới các cụm công nghiệp làng nghề.
Hiện nay HN đang tồn tại phổ biến loại Cụm sản xuất làng nghề tập trung đơn nghề
Sau gần 3 năm hoạt động, cụm công nghiệp làng nghề đã chứng minh rõ rệt những ưu điểm và lợi ích của mình trong sản xuất kinh doanh.
- Thúc đẩy phát triển CN–TTCN ở các địa phương, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế các tỉnh
- Tạo mặt bằng cho mở rộng và tăng quy mô sản xuất của nhiều làng nghề
Cụm sản xuất làng nghề tập trung được xem là điểm nhấn quan trọng trong việc phát triển làng nghề tại Hà Nội, giúp nâng cao quy mô sản xuất, giảm thiểu ô nhiễm môi trường và cải thiện chất lượng phát triển cho các làng xã ngoại thành.
(Bản đồ Hà Nội và xã Bát Tràng)
(Ảnh minh hoạ: Tạo dáng sản phẩm gốm bằng bàn xoay tại Làng nghề Bát Tràng)
3) Đánh giá tác động môi trường trong quá trình phê duyệt dự án đầu tư xây dựng và tình hình triển khai thực tế:
Quy định về đánh giá tác động môi trường
Các dự án đầu tư tại Việt Nam, bao gồm đầu tư trong nước, liên doanh, hợp tác kinh doanh với nước ngoài và đầu tư 100% vốn nước ngoài, đều phải tuân thủ các quy định về bảo vệ môi trường Bộ Tài nguyên và Môi trường (TN&MT) phân loại các dự án đầu tư thành hai loại để quản lý và đảm bảo thực hiện các tiêu chuẩn môi trường.
Các dự án loại I phải lập và trình thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường, bao gồm những dự án có khả năng gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng, dễ dẫn đến sự cố môi trường, khó kiểm soát và khó xác định các tiêu chuẩn môi trường.
Tất cả các dự án loại II sẽ được đăng ký đạt tiêu chuẩn môi trường dựa trên báo cáo đánh giá tác động môi trường Quyết định phê chuẩn báo cáo này là căn cứ pháp lý để các cơ quan nhà nước xem xét và cho phép dự án tiến hành các bước tiếp theo Tất cả dự án trên lãnh thổ Việt Nam phải tuân thủ tiêu chuẩn môi trường Nếu tiêu chuẩn môi trường chưa được quy định, chủ dự án có thể xin áp dụng tiêu chuẩn bảo vệ môi trường của các nước tiên tiến với sự cho phép bằng văn bản của Bộ KHCN&MT.
Tình hình triển khai thực tế
a) Đối với các cơ sở hiện có tác động tiêu cực tới môi trường Thành phố:
Theo Quyết định số 64/2003/QĐ-TTg ngày 22 tháng 4 năm 2003 của Thủ tướng Chính phủ, Hà Nội có 16 cơ sở nằm trong danh sách cần phải xử lý triệt để do gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng.
3 công ty dệt, đã là: Công ty Dệt 8)3, Công ty Dệt Hà Nội, Công ty Dệt kim Đông Xuân;
Công ty Bia Hà Nội và Công ty Rượu Hà Nội là hai cơ sở sản xuất rượu bia nổi bật Ngoài ra, có hai nhà máy sản xuất hóa chất, bao gồm Công ty Phân Lân Văn Điển và Công ty Pin Văn Điển Bên cạnh đó, việc xử lý chất thải Kiểu Kỵ cũng được thực hiện Hệ thống y tế bao gồm 6 bệnh viện, trong đó có Bệnh viện K Hà Nội và Bệnh viện Việt Đức, cùng Viện Bảo vệ sức khỏe cộng đồng.
Bệnh viện Phụ sản Hà Nội và Vinamilk Hà Nội đã hoàn thành trạm xử lý nước thải đạt tiêu chuẩn từ tháng 6 năm 2002 Hà Nội đang tích cực thực hiện Quyết định 64 của Chính phủ về bảo vệ môi trường, bao gồm việc di dời các cơ sở sản xuất gây ô nhiễm ra khỏi nội thành theo Quyết định số 74(2003)QĐ-UB Đây là bước đi quan trọng nhằm ứng phó với sự phát triển công nghiệp và đô thị hóa Thành phố chỉ đạo Sở Tài nguyên và Môi trường lập danh sách các cơ sở không còn phù hợp để hỗ trợ cải tiến công nghệ và di chuyển vào khu công nghiệp vừa và nhỏ Hiện tại, Hà Nội đã triển khai 16/24 cụm công nghiệp vừa và nhỏ tại các huyện ngoại thành.
Trong Quyết định phê duyệt quy hoạch chi tiết, cấp thẩm quyền yêu cầu Chủ đầu tư căn cứ vào Thông tư số 10/2000/TT-BXD ngày 8/8/2000 của Bộ Xây dựng để tổ chức lập báo cáo đánh giá tác động môi trường, trình cấp có thẩm quyền xem xét, thẩm định và phê duyệt Đồng thời, Thông tư số 490/1998/TT-BKHCNMT ngày 29/4/1998 của Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường hướng dẫn lập và thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường cho các dự án đầu tư Việc phân cấp thẩm định các báo cáo này và xem xét "Bản đăng ký đạt tiêu chuẩn môi trường" được thực hiện theo Phụ lục II của Thông tư và các dự án đã được phân cấp theo Nghị định số 175/CP ngày 18/10/1994 của Chính phủ.
Theo nguyên tắc, cơ quan đã cấp Quyết định phê chuẩn Báo cáo đánh giá tác động môi trường cho dự án loại I và Phiếu xác nhận "Bản đăng ký đạt tiêu chuẩn môi trường" cho dự án loại II sẽ có trách nhiệm thẩm định Đồng thời, cơ quan này cũng phải kiểm tra và theo dõi các hoạt động bảo vệ môi trường liên quan đến dự án.
4) Mô tả về khả năng thu hồi vốn và hiệu quả của các dự án đầu tư xây dựng:
Khả năng thu hồi vốn đầu tư và hiệu quả của các dự án xây dựng trong các Cụm công nghiệp phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó hai yếu tố quan trọng nhất là khả năng quản lý dự án và tình hình thị trường.
- Một là, phù hợp với định hướng phát triển trong các khu/cụm công nghiệp tại Thành phố
Doanh nghiệp cần khả năng tiếp cận nhanh chóng với nguồn vốn đầu tư và sự kịp thời trong việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để phục vụ cho hoạt động sản xuất và kinh doanh.
Một số cụm công nghiệp vừa và nhỏ phù hợp với định hướng phát triển nhưng thời gian triển khai dự án kéo dài, gây ảnh hưởng tiêu cực đến việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh.
Cụm công nghiệp Dệt May Nguyên Khê, tọa lạc tại xã Nguyên Khê, huyện Đông Anh, Hà Nội, được thành lập theo Quyết định số 79/2002/QĐ-UB của Uỷ ban Nhân dân Thành phố, ban hành ngày 30/5/2002.
Kế hoạch và dự toán chi ngân sách năm 2002 cho các Sở, Ban, Ngành UBND các Quận, Huyện, nay vẫn ở giai đoạn nghiên cứu QHCT tỷ lệ 1/500
Cụm SX Làng nghề tại xã Vân Hà, huyện Đông Anh đã được UBND Thành phố phê duyệt Nhiệm vụ chuẩn bị đầu tư theo Quyết định số 67 QĐ-UB ngày 11/12/2003; tuy nhiên, Quy hoạch chi tiết tỷ lệ 1/500 vẫn chưa được phê duyệt.
- Cụm công nghiệp tập trung tại huyện Sóc Sơn- Hà Nội: Quyết định số 5191/QĐ-
Ngày 29/8/2003, UBND thành phố Hà Nội đã phê duyệt nhiệm vụ chuẩn bị đầu tư cho dự án xây dựng Cụm công nghiệp tập trung tại huyện Sóc Sơn Đến tháng 3/2006, UBND thành phố mới phê duyệt quy hoạch chi tiết tỷ lệ 1/2000, tuy nhiên vẫn chưa thể cắm mốc giao đất.
Khả năng thu hồi vốn và hiệu quả của các dự án đầu tư hiện chưa cao, trong khi nhu cầu mặt bằng để xây dựng công trình của nhiều doanh nghiệp chưa được đáp ứng kịp thời Điều này xảy ra do các chủ đầu tư các cụm công nghiệp vừa và nhỏ chủ yếu là các Ban Quản lý Dự án tại các quận/huyện, không phải là doanh nghiệp.
Định hướng phát triển trong các Cụm công nghiệp vừa và nhỏ tại Hà Nội
Hà Nội tiếp tục phát triển công nghiệp có chọn lọc, ưu tiên lấp đầy các khu công nghiệp tập trung và xây dựng các khu công nghiệp lớn ở ngoại thành để thu hút đầu tư trong và ngoài nước Thành phố chú trọng vào việc lựa chọn các ngành công nghiệp sử dụng công nghệ tiên tiến, phù hợp với tiềm năng và thế mạnh của Thủ đô Đặc biệt, cần tập trung phát triển nhanh các ngành dẫn đường như công nghệ tin học, công nghệ vật liệu mới, và công nghệ chế tạo khuôn mẫu Trong 5 năm tới, Hà Nội sẽ ưu tiên các ngành có hàm lượng chất xám và công nghệ cao, như công nghệ tự động hóa và công nghệ sinh học, nhằm tạo ra sản phẩm công nghiệp có thương hiệu, giữ vai trò đầu tàu trong cả nước, đặc biệt trong lĩnh vực điện, điện tử.
- Xem xét, cải tạo một số khu công nghiệp cũ; kiên quyết đưa nhanh các doanh nghiệp ô nhiễm ra khái nội thành và các khu dân cư
Phát triển các khu và cụm công nghiệp, bao gồm cả khu công nghiệp vừa và nhỏ mới, là một ưu tiên quan trọng Cần khuyến khích mạnh mẽ sự phát triển của các doanh nghiệp vừa và nhỏ thông qua nguồn vốn tư nhân, từ đó tạo ra một mạng lưới vệ tinh sản xuất và xuất khẩu cho các công ty lớn.
Hà Nội cần lựa chọn ngành công nghiệp chủ lực dựa trên xu thế toàn cầu và tiêu chuẩn riêng của thành phố Trong tương lai, các ngành công nghiệp chủ lực sẽ bao gồm điện tử, công nghệ thông tin, công nghệ phần mềm, cơ kim khí và sản xuất vật liệu xây dựng.
Để cải thiện môi trường đầu tư và thu hút hiệu quả nguồn lực cho phát triển kinh tế Thủ đô, cần tiếp tục đẩy mạnh cải cách hành chính và xây dựng các cơ chế, quy chế phù hợp Ưu tiên hàng đầu là thu hút đầu tư và công nghệ từ các tập đoàn xuyên quốc gia, thực hiện chuyển giao công nghệ tiên tiến Song song với việc phát triển khu công nghệ cao, cần nhanh chóng xây dựng các vườn ươm công nghệ để thúc đẩy đổi mới và hiện đại hóa quy trình sản xuất Đồng thời, tập trung phát triển công nghệ thông tin và tự động hóa trong quản lý, sản xuất, cũng như trong các lĩnh vực dịch vụ Cần nhanh chóng phát triển thương mại điện tử và hỗ trợ hạ tầng viễn thông cho các doanh nghiệp phần mềm vừa và nhỏ.
Để nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo tại Thủ đô, cần đẩy mạnh cải cách nhằm phát triển nguồn nhân lực chất lượng phục vụ cho công cuộc đổi mới và hội nhập kinh tế quốc tế Đặc biệt, cần chú trọng đến đào tạo nghề, nhất là các nghề trình độ cao, và khuyến khích sự tham gia của các doanh nghiệp để kết nối đào tạo với nhu cầu sử dụng lao động Đồng thời, cần quan tâm đến việc đào tạo nhằm phục vụ xuất khẩu lao động.
Khả năng thu hồi vốn đầu tư và hiệu quả của các dự án đầu tư xây dựng
Các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận nguồn vốn của doanh nghiệp bao gồm tính kịp thời trong việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, giá trị đất và sự phức tạp của khung thể chế đăng ký bất động sản Những yếu tố này khiến doanh nghiệp cảm thấy khó khăn khi sử dụng đất làm tài sản thế chấp để vay vốn phát triển kinh doanh.
Kết quả phân tích cho thấy thủ tục hành chính là thách thức lớn nhất mà doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNNVV) gặp phải khi tiếp cận đất đai, với thủ tục giao đất, cho thuê đất, chuyển nhượng đất đứng đầu về mức độ khó khăn Mặc dù có sự cải thiện trong việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ), vẫn cần đơn giản hóa các thủ tục hành chính khác Nguyên nhân của những khó khăn này bao gồm quy định pháp luật chưa rõ ràng và mức độ nhận thức về Luật đất đai 2003 còn hạn chế Cải cách hành chính và nâng cao năng lực cán bộ địa phương là cần thiết để giải quyết vấn đề này cho DNNVV Ngoài thủ tục hành chính, các vấn đề khác như tiếp cận khu đất mới, giá đất và quy hoạch sử dụng đất cũng cần được chú trọng.
5) Xác định các vấn đề tồn tại nhằm cải thiện hệ thống:
Những hạn chế và khó khăn
Cơ cấu kinh tế của Thủ đô chưa đạt được sự phát triển ổn định, với chất lượng phát triển và hiệu quả kinh doanh còn thấp Mặc dù tỷ lệ GDP năm 2003 cho thấy dịch vụ chiếm 57,2%, công nghiệp 40,4% và nông nghiệp 2,4%, tạo cảm giác về một nền kinh tế phát triển, nhưng khi xem xét sâu hơn từng ngành, rõ ràng đây vẫn là cấu trúc của một nền kinh tế kém phát triển, đang trong giai đoạn công nghiệp hóa.
Vai trò của các ngành công nghiệp chủ lực trong nền kinh tế thành phố vẫn chưa rõ ràng Từ năm 1995, chỉ có 2 trong 5 ngành công nghiệp chủ lực, cơ-kim khí và điện-điện tử, đạt tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất (GTSX) cao hơn mức trung bình của toàn ngành, lần lượt là 25,2% và 22,6% Trong khi đó, 3 ngành còn lại là dệt may-da giày, chế biến thực phẩm và sản xuất vật liệu xây dựng lại có tốc độ tăng trưởng thấp hơn Đặc biệt, cả hai ngành cơ-kim khí và điện-điện tử có tỷ trọng giá trị gia tăng trên giá trị sản xuất thấp nhất trong số các ngành chủ lực Ngoài ra, từ năm 2001 đến nay, tỷ trọng của 5 nhóm ngành này đã giảm nhẹ từ 70,9% xuống còn 68,3% vào năm 2003.
Việc sắp xếp và nâng cao hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp nhà nước (DNNN) diễn ra chậm, đặc biệt do thiếu hướng dẫn cụ thể từ địa phương Quản lý doanh nghiệp ngoài nhà nước gặp khó khăn trong việc kiểm soát lợi nhuận và thuế Kinh tế hợp tác xã (HTX) vẫn chưa phát triển mạnh mẽ, với nhiều HTX chỉ tồn tại trên giấy tờ Trong giai đoạn 1991-1996, thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Thủ đô tăng trưởng mạnh, nhưng đã chững lại từ 1997-2000 do khủng hoảng kinh tế khu vực; từ năm 2001, tình hình dần được cải thiện.
Trong những năm gần đây, việc thu hút nguồn lực và điều chỉnh cơ cấu đầu tư ra ngoại ô đã trở thành một ưu tiên quan trọng nhằm thu hút dân cư, tạo ra sự phát triển cân bằng và khai thác tiềm năng đất đai Đồng thời, việc này cũng góp phần giải quyết các vấn đề môi trường, thể hiện rõ nét trong chủ trương phát triển đô thị.
Hà Nội lên phía Bắc và Tây Bắc thực hiện còn chậm và thiếu vốn đầu tư
Việc phát triển mạnh mẽ các ngành công nghiệp như dệt may và da giày đã đóng góp quan trọng vào tăng trưởng GDP, kim ngạch xuất khẩu, và ngân sách nhà nước, đồng thời tạo ra nhiều việc làm Tuy nhiên, sự thu hút lao động ngoại tỉnh về Thủ đô cũng gây ra áp lực lớn về hạ tầng xã hội, như nhu cầu về chỗ ở và sinh hoạt, cùng với tình trạng tăng dân số cơ học.
Trong bối cảnh tăng trưởng và phát triển kinh tế, việc giảm chênh lệch giàu nghèo là một vấn đề cần được chú trọng Cần có những biện pháp hiệu quả để khắc phục tình trạng này, nhằm đảm bảo sự công bằng và bền vững trong xã hội.
Phối hợp quản lý Nhà nước giữa Trung ương và địa phương trong phát triển kinh tế vẫn còn thiếu rõ ràng và hiệu quả Quan hệ hợp tác giữa các địa phương trong vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ chủ yếu dừng lại ở mức độ song phương, thiếu sự chỉ đạo thống nhất từ Trung ương Kết quả hợp tác hiện tại chỉ ở giai đoạn đầu và chưa thu hút được sự tham gia mạnh mẽ của các doanh nghiệp, điều này là yếu tố quan trọng hạn chế sự phát triển đồng bộ và hiệu quả.
Nguyên nhân của những hạn chế, yếu kém
Trong thời kỳ đổi mới, kinh tế Việt Nam và Thủ đô Hà Nội vẫn đang ở mức phát triển thấp, với Hà Nội được coi là Thủ đô nghèo Hệ thống hạ tầng kỹ thuật đô thị còn lạc hậu, và khả năng tích lũy từ nội bộ nền kinh tế cho đầu tư phát triển rất hạn chế Nhiều doanh nghiệp gặp khó khăn trong việc huy động vốn để đầu tư vào đổi mới thiết bị và công nghệ.
Trong quá trình đổi mới, chúng ta chưa dự đoán được những diễn biến phức tạp của tình hình thế giới như khủng hoảng kinh tế khu vực, chiến tranh cục bộ, khủng bố và dịch bệnh Những yếu tố này đã hạn chế khả năng thu hút đầu tư nước ngoài vào Việt Nam, đặc biệt là tại Hà Nội.
Nội dung và mô hình công nghiệp hóa - hiện đại hóa vẫn còn nhiều vấn đề chưa được thống nhất giữa Trung ương và địa phương, dẫn đến quá trình thực hiện gặp khó khăn và chậm trễ.
Nguyên tắc phối hợp quản lý theo ngành và lãnh thổ chưa được thực hiện hiệu quả, dẫn đến sự không rõ ràng và chồng chéo trong phân cấp quản lý nhà nước giữa Trung ương và Thành phố.
Một trong những nguyên nhân chính dẫn đến hạn chế trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế của Thủ đô theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa là do các giải pháp và chính sách từ Trung ương đến địa phương chưa đồng bộ và kịp thời với các mục tiêu đề ra Việc xây dựng và triển khai các cơ chế, chính sách khuyến khích phát triển các ngành công nghiệp chủ lực còn thiếu sót và chưa đủ mạnh, dẫn đến việc chưa tạo ra động lực thực sự và sự đột phá trong phát triển các ngành, sản phẩm công nghiệp chủ lực của Thủ đô.
Chúng ta chưa khai thác hiệu quả chủ trương công nghiệp hóa gắn liền với hiện đại hóa, và vẫn chưa tận dụng tốt lợi thế của việc đi sau để phát triển nhanh chóng các ngành công nghiệp sử dụng công nghệ tiên tiến và công nghệ cao.
Việc xác định các nhóm ngành và sản phẩm công nghiệp chủ lực của Thành phố hiện nay còn quá rộng và chưa theo kịp với những biến đổi của tình hình kinh tế trong nước và quốc tế Điều này chủ yếu xuất phát từ khả năng và lợi thế hiện tại của Thành phố.
Hệ thống cơ sở hạ tầng của Hà Nội mặc dù đã có những tiến bộ nhưng vẫn chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu phát triển sản xuất kinh doanh, đặc biệt trong bối cảnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá-hiện đại hoá Doanh nghiệp gặp khó khăn do khả năng vốn hạn chế và thiếu thông tin, nhất là trong khu vực kinh tế ngoài quốc doanh Bên cạnh đó, Hà Nội chưa khai thác triệt để lợi thế ổn định chính trị-xã hội để thu hút đầu tư nước ngoài, trong khi lợi thế về lao động và đất đai đang dần giảm Cuối cùng, cải cách hành chính chưa theo kịp yêu cầu đổi mới và cải cách kinh tế.
Trình độ quản lý và tay nghề lao động hiện nay chưa đáp ứng yêu cầu của quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá Tỷ lệ lao động được đào tạo vẫn còn thấp.
44% và đặc biệt thiếu lao động có chuyên môn kỹ thuật cao sẵn sàng đáp ứng nhu cầu tuyển dụng của các doanh nghiệp
Nhiều doanh nghiệp vẫn chưa chủ động và quyết liệt trong việc đầu tư vào đổi mới trang thiết bị và áp dụng công nghệ tiên tiến Hoạt động khoa học và công nghệ chưa được định hướng rõ ràng để thúc đẩy sự phát triển trong sản xuất và kinh doanh.
Xác định các vấn đề ưu tiên nhằm cải thiện hệ thống
Hà Nội cần tập trung vào hai mục tiêu quan trọng: tăng cường công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước trong khi vẫn đảm bảo bảo vệ môi trường Để thực hiện được hai mục tiêu này, cần xác định các tiêu chí cụ thể nhằm vượt qua những thách thức hiện tại.
Cơ sở hạ tầng kỹ thuật và trang thiết bị bảo vệ môi trường hiện nay đang ở mức thấp kém và lạc hậu, dẫn đến tình trạng ô nhiễm môi trường ngày càng gia tăng Trong khi đó, khả năng đầu tư cho môi trường của Nhà nước và các doanh nghiệp vẫn còn hạn chế Nguồn đầu tư mới chủ yếu được tập trung vào các công trình mang lại lợi ích trực tiếp, trong khi việc tái tạo nguồn tài nguyên và bảo vệ môi trường lại nhận được rất ít sự quan tâm.
Sự gia tăng dân số, tình trạng di cư tự do và nạn đói nghèo đang tạo ra áp lực lớn lên tài nguyên và môi trường.
Nhận thức về môi trường và phát triển bền vững ở Việt Nam còn hạn chế, với tổ chức và năng lực quản lý môi trường chưa đáp ứng được yêu cầu Trình độ khoa học và công nghệ vẫn ở mức trung bình, và quá trình hiện đại hóa chỉ diễn ra trong một số ngành nhất định Thiếu hụt công nghệ hiện đại và thân thiện với môi trường là thách thức lớn mà Việt Nam cần vượt qua để không bị tụt hậu trong cuộc cách mạng khoa học và công nghệ.
Hệ thống pháp luật về môi trường hiện còn thiếu sót, đặc biệt là các văn bản quan trọng như Luật về không khí sạch, Luật an toàn hóa chất và Luật đa dạng sinh học Việc thi hành Luật Bảo vệ môi trường cũng chưa được thực hiện nghiêm túc, dẫn đến tình trạng xem thường và buông lỏng trong một số trường hợp.
Nhiều địa phương hiện nay vẫn chưa giải quyết hiệu quả mâu thuẫn giữa phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường Mặc dù có những nơi được coi là điển hình trong việc bảo vệ môi trường, nhưng vẫn thiếu những cơ hội để phát triển kinh tế đồng thời với việc bảo vệ môi trường.
Trong thời gian qua, việc quản lý các Cụm công nghiệp (CN) tại Hà Nội đã cho thấy sự đa dạng với bốn mô hình khác nhau Thứ nhất, một số Cụm CN được thành lập Ban quản lý trực thuộc UBND quận, huyện Thứ hai, có Cụm CN mà Ban Quản lý dự án huyện làm chủ đầu tư cho toàn bộ dự án, bao gồm cả hạ tầng kỹ thuật trong và ngoài hàng rào Thứ ba, một số Cụm CN được giao đất cho Ban Quản lý dự án quận, huyện để xây dựng hạ tầng ngoài hàng rào, trong khi đất trong hàng rào được giao cho doanh nghiệp phát triển hạ tầng Cuối cùng, doanh nghiệp quản lý đất đã chuyển mục đích sử dụng sang đất công nghiệp có thể trở thành chủ đầu tư cho cả dự án hạ tầng ngoài và trong hàng rào Mặc dù mỗi mô hình quản lý đều có ưu điểm riêng, nhưng hiện nay, các mô hình 1 và 2 đang gặp nhiều bất cập do các Ban quản lý dự án này là đơn vị hành chính sự nghiệp.
+ Trách nhiệm của BQL đối với việc phục vụ cho nhà đầu tư, người đã đãng góp kinh phí xây dựng Cụm CN chưa cao;
+ BQL chưa có nguồn thu, nên chưa có kinh phí chi cho công tác duy tu, bảo dưỡng HTKT chung (bảo vệ trật tự, vệ sinh môi trường…)
+ Chưa được kinh doanh các dịch vụ phục vụ cho các doanh nghiệp và người lao động làm việc trong Cụm CN
Hiện nay, chưa có quy định rõ ràng về việc xử lý các doanh nghiệp đã được thuê đất nhưng chưa thực hiện nghĩa vụ đóng góp vào quỹ duy tu bảo dưỡng hạ tầng và dịch vụ chung của Cụm công nghiệp.
Việc giải quyết thủ tục hành chính tại các Sở, ngành hiện chưa tập trung và chưa thực hiện triệt để quy chế một cửa, dẫn đến trách nhiệm giải quyết nhanh chóng cho nhà đầu tư chưa cao Ngoài ra, vẫn tồn tại sự phân biệt đối xử giữa các thành phần kinh tế và định kiến với khu vực kinh tế tư nhân Hơn nữa, chức năng và tổ chức của bộ máy Nhà nước, đặc biệt là trình độ của đội ngũ công chức, chưa đáp ứng được yêu cầu mới và những đòi hỏi chính đáng của doanh nghiệp.
6) Đề xuất kế hoạch triển khai thực hiện:
Cơ cấu kinh tế Thủ đô Hà Nội mang đặc trưng riêng của một đô thị và thủ đô, với yêu cầu phát triển khác biệt so với các tỉnh thành khác Kinh tế và văn hóa ở Hà Nội không thể tách rời, với văn hóa trở thành động lực thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội Hà Nội cần phải là trung tâm chính trị, hành chính và văn hóa trước khi trở thành trung tâm kinh tế Để chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, cần thống nhất quan điểm rằng các tổ chức, doanh nghiệp và nhân dân đóng vai trò chủ thể, thực hiện dưới tác động của quy luật thị trường định hướng XHCN Nhà nước đóng vai trò hướng dẫn và điều tiết thông qua quy hoạch, cơ chế, chính sách, đầu tư hạ tầng, tạo lập môi trường thuận lợi cho các thành phần kinh tế phát triển, đồng thời quản lý hoạt động kinh tế theo pháp luật mà không can thiệp trực tiếp vào sản xuất, kinh doanh.
Cơ cấu kinh tế Thủ đô Hà Nội được xác định dài hạn với ba lĩnh vực chính: dịch vụ, công nghiệp và nông nghiệp Mặc dù mục tiêu này cần được khẳng định và thống nhất, nhưng trong thời gian tới, công nghiệp vẫn giữ vai trò quan trọng đối với kinh tế Thủ đô và vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ Do đó, việc tiếp tục đầu tư vào các khu, cụm công nghiệp trên địa bàn Thành phố là cần thiết để phát triển lĩnh vực này.
Hà Nội cần tập trung vào mục tiêu hiện đại hóa và nâng cao chất lượng phát triển, thay vì chỉ chú trọng vào phát triển về số lượng.