TỔNG QUAN
Một số định nghĩa và các khái niệm trong sốc nhiễm khuẩn
1.1.1 Các định nghĩa cũ về nhiễm khuẩn huyết và sốc nhiễm khuẩn
Nhiễm khuẩn huyết, hay còn gọi là Sepsis, là thuật ngữ có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp cổ, mang ý nghĩa là sự phân hủy của động vật hoặc thực vật do tác động của vi khuẩn.
Từ “sepsis” đã đƣợc sử dụng trong các bài thơ của Homer, một nhà thơ nổi tiếng tại
Trong thời kỳ cổ đại, từ “septo” trong tiếng Hy Lạp có nghĩa là “tôi đã suy tàn” Hippocrates đã sử dụng thuật ngữ sepsis với từ “septidon”, mang ý nghĩa “sự biến dạng, phân rã của một cấu trúc”, vào khoảng những năm 460 – 730 trước Công nguyên.
Y học hiện đại (thế kỷ XX) [9]
Trong thế kỷ XX, nhiều thuật ngữ liên quan đến nhiễm khuẩn huyết như infection, bacteremia, sepsis, septicemia, septic syndrome và septic shock đã được sử dụng Điều này dẫn đến sự nhầm lẫn trong việc hiểu và phân loại giữa bác sĩ lâm sàng và nhà nghiên cứu, cũng như gây khó khăn trong việc so sánh kết quả của các thử nghiệm lâm sàng do thiếu sự thống nhất trong định nghĩa Định nghĩa về sepsis được đưa ra vào năm 1991 đã phản ánh những vấn đề này.
Hầu hết các nhà thực hành lâm sàng đều nhận thấy sự thiếu đồng thuận trong định nghĩa sepsis, dẫn đến việc điều trị thường bắt đầu muộn Để cải thiện chẩn đoán sớm, cần có các dấu hiệu nhạy hơn Vào tháng 8 năm 1991, tại Northbrook, Illinois, Hoa Kỳ, Hiệp Hội Các Thầy Thuốc Lồng Ngực Hoa Kỳ (ACCP) và Hiệp Hội Chăm Sóc Tích Cực (SCCM) đã họp và đưa ra hai thuật ngữ mới: Hội chứng đáp ứng viêm hệ thống (SIRS) và Hội chứng rối loạn chức năng đa cơ quan (MODS) Hội nghị cũng nhấn mạnh rằng sepsis là một quá trình liên tục, diễn tiến từ hội chứng đáp ứng viêm hệ thống đến nhiễm khuẩn huyết, nhiễm khuẩn huyết nặng, sốc nhiễm khuẩn và cuối cùng là hội chứng rối loạn chức năng đa cơ quan.
Hội chứng đáp ứng viêm hệ thống (SIRS) là một phản ứng viêm toàn thân xảy ra do nhiều tổn thương lâm sàng khác nhau, với ít nhất hai trong các tiêu chuẩn sau đây được đáp ứng.
- Nhịp thở >20 lần/phút hoặc PaCO 2 12.000/mm 3 , 10% bạch cầu non
Nhiễm khuẩn huyết (Sepsis) là hội chứng đáp ứng viêm toàn thân (SIRS) với tình trạng nhiễm khuẩn
Nhiễm khuẩn huyết nặng (Severe sepsis) là tình trạng nhiễm khuẩn huyết gây suy chức năng đa cơ quan
Sốc nhiễm khuẩn (Sepsis shock) là tình trạng tụt huyết áp dai dẳng kháng trị dù đã đƣợc truyền dịch thích hợp
Những ƣu điểm và nhƣợc điểm của định nghĩa Sepsis 1:
+ Thuật ngữ dễ sử dụng Từ tháng 1/1992 đến tháng 5/2002 đã có 800 bài báo khoa học sử dụng thuật ngữ SIRS
+ Định nghĩa này có độ nhạy cao, giúp chẩn đoán sớm, can thiệp sớm và cải thiện đƣợc hậu quả
Định nghĩa và tiêu chuẩn chẩn đoán nhiễm khuẩn huyết hiện tại quá nhạy và kém đặc hiệu, không phản ánh đúng bản chất sinh lý bệnh Nhiều tình huống có triệu chứng tương tự nhiễm khuẩn huyết nhưng không phải do nhiễm khuẩn gây ra Nhiễm khuẩn huyết không chỉ đơn thuần là phản ứng tiền viêm với nhiễm khuẩn, và sự gia tăng tần suất nhiễm khuẩn huyết có thể liên quan đến tình trạng "nhiễu" trong báo cáo.
Một nghiên cứu về kiến thức và nhận thức của bác sĩ về nhiễm khuẩn huyết đã phỏng vấn 529 bác sĩ chuyên khoa, cho thấy chỉ 22% bác sĩ hồi sức và 5% bác sĩ chuyên khoa khác sử dụng định nghĩa nhiễm khuẩn huyết năm 1991 Đặc biệt, 71% bác sĩ cho biết không có định nghĩa thống nhất nào về tình trạng này.
+ Khó xác định đƣợc ranh giới giữa “nhiễm khuẩn” và “nhiễm khuẩn huyết” Định nghĩa Sepsis 2 năm 2001 [80]
Vào năm 2001, các tổ chức y tế hàng đầu như Hiệp Hội Các Thầy Thuốc Lồng Ngực Hoa Kỳ (ACCP), Hiệp Hội Chăm Sóc Tích Cực (SCCM), Hiệp hội Y Học Chăm Sóc Chuyên Sâu Châu Âu (ESICM) và Hiệp Hội Nhiễm Khuẩn Phẫu Thuật đã tổ chức cuộc họp đồng thuận thứ hai Mục tiêu của cuộc họp là xem xét các điểm mạnh và hạn chế trong định nghĩa nhiễm khuẩn huyết và các tình trạng liên quan, đồng thời xác định các giải pháp để cải thiện định nghĩa này Ngoài ra, hội nghị cũng tìm kiếm các phương pháp để đánh giá độ chính xác, độ tin cậy và ứng dụng lâm sàng của chẩn đoán nhiễm khuẩn huyết.
Định nghĩa SIRS có độ đặc hiệu thấp và cần bổ sung danh sách các triệu chứng đáp ứng viêm toàn thân với nhiễm trùng, được phân thành các nhóm: thông số chung, thông số viêm, thông số huyết động, thông số suy cơ quan và thông số tưới máu mô Đồng thời, các khái niệm nhiễm khuẩn huyết, nhiễm khuẩn huyết nặng và sốc nhiễm khuẩn vẫn được giữ nguyên.
Hội chứng đáp ứng viêm với nhiễm khuẩn
+ Sốt: nhiệt độ trung tâm >38,3 0 C
+ Hạ thân nhiệt: nhiệt độ trung tâm 90 lần/phút hoặc >2 lần độ lệch chuẩn giá trị bình thường theo tuổi
+ Phù rõ hoặc cân bằng dịch dương tính (>20 ml/kg/24 giờ)
+ Tăng đường huyết: đường huyết >110mg/dL hoặc 7,7 mM/L mà không kèm theo đái tháo đường
+ Tăng bạch cầu: số lƣợng bạch cầu >12.000/àL
+ Hạ bạch cầu: số lƣợng bạch cầu 10% bạch cầu non
+ CRP >2 lần độ lệch chuẩn giá trị bình thường
+ Procalcitonin >2 lần độ lệch chuẩn giá trị bình thường
Hạ huyết áp được định nghĩa là huyết áp tâm thu dưới 90 mmHg, huyết áp trung bình dưới 70 mmHg, hoặc huyết áp tâm thu giảm hơn 40 mmHg ở người trưởng thành, hoặc thấp hơn 2 lần độ lệch chuẩn bình thường theo độ tuổi.
+ Độ bão hòa oxy máu tĩnh mạch trộn (SvO2) >70%
+ Chỉ số cung lƣợng tim >3,5 l/phút/m 2
- Thông số rối loạn cơ quan:
+ Thiếu oxy máu động mạch PaO 2 /FiO 2 60 giây
+ Liệt ruột: không có nhu động ruột
+ Giảm tiểu cầu: số lƣợng tiểu cầu 4 mg/dL hoặc 70 mmol/L
- Thông số tưới máu mô:
+ Giảm đổ đầy mao mạch
Nhiễm khuẩn huyết bao gồm hội chứng đáp ứng viêm với nhiễm trùng và nghi ngờ hoặc có bằng chứng nhiễm trùng rõ ràng
Nhiễm khuẩn huyết nặng là tình trạng nhiễm khuẩn huyết gây biến chứng suy đa cơ quan
Sốc nhiễm trùng là một tình trạng nghiêm trọng do nhiễm khuẩn, đi kèm với suy tuần hoàn cấp tính, đặc trưng bởi hạ huyết áp động mạch kéo dài không do nguyên nhân khác.
Hạ huyết áp được xác định khi huyết áp tâm thu dưới 90 mmHg, hoặc ở trẻ em, khi huyết áp thấp hơn 2 lần độ lệch chuẩn so với giá trị bình thường theo độ tuổi Hơn nữa, huyết áp động mạch trung bình cũng là một yếu tố quan trọng trong việc chẩn đoán tình trạng này.
Huyết áp giảm xuống dưới 60 mmHg hoặc giảm hơn 40 mmHg so với mức huyết áp nền, mặc dù đã được bù dịch đầy đủ và không có nguyên nhân khác gây hạ huyết áp.
Định nghĩa Sepsis 2, được đưa ra tại Hội nghị đồng thuận năm 2001, vẫn giữ lại các khái niệm như hội chứng đáp ứng viêm toàn thân, nhiễm khuẩn huyết, nhiễm khuẩn huyết nặng và sốc nhiễm khuẩn từ định nghĩa Sepsis 1, đồng thời bổ sung thêm triệu chứng và xét nghiệm Tuy nhiên, các tiêu chuẩn này lại khó nhớ và không có biểu hiện nào đặc hiệu cho nhiễm khuẩn huyết.
1.1.2 Định nghĩa mới nhất về sốc nhiễm khuẩn và nhiễm khuẩn huyết nặng 1.1.2.1 Tại sao cần phải thay đổi định nghĩa về nhiễm khuẩn huyết
Theo định nghĩa cũ, nhiễm khuẩn huyết được chẩn đoán khi có hội chứng đáp ứng viêm toàn thân kèm theo nhiễm trùng Có hai kịch bản lâm sàng phổ biến: Thứ nhất, nhiều bệnh nhân với tình trạng nhiễm trùng đơn giản cũng đáp ứng tiêu chuẩn của hội chứng đáp ứng viêm toàn thân, dẫn đến việc tất cả các tình trạng nhiễm trùng đều được chẩn đoán là nhiễm khuẩn huyết Thứ hai, những bệnh nhân có rối loạn chức năng cơ quan nhưng không rõ ổ nhiễm trùng cũng được chẩn đoán là nhiễm khuẩn huyết Thuật ngữ nhiễm khuẩn huyết và nhiễm khuẩn huyết nặng thường bị nhầm lẫn trong thực hành lâm sàng.
Dịch tễ học
Tuổi tác có ảnh hưởng đáng kể đến tỷ lệ mắc bệnh và tỷ lệ tử vong Cụ thể, nguy cơ tử vong gia tăng theo độ tuổi, với nhóm bệnh nhân trên 50 tuổi có tỷ lệ tử vong cao nhất.
Tử vong thường xảy ra nhiều hơn ở nam giới so với nữ giới, một phần do nam giới thường mắc nhiều bệnh lý kèm theo như bệnh phổi mạn tính và viêm gan mạn tính do rượu, trong khi phụ nữ có khả năng kháng viêm tốt hơn.
Nguy cơ nhiễm khuẩn huyết ở người da trắng thấp hơn 2 lần so với người da màu, với tỷ lệ cao nhất ở người da đen Điều này phần nào được giải thích bởi sự khác biệt trong chất lượng chăm sóc y tế giữa các nước phát triển, nơi mà sức đề kháng của cơ thể cũng được cải thiện hơn.
1.2.2 Tần suất mắc bệnh nhiễm khuẩn huyết và sốc nhiễm khuẩn:
Các nghiên cứu dịch tễ học về nhiễm khuẩn huyết và sốc nhiễm khuẩn đã đƣợc thực hiện ở một số quốc gia:
Từ năm 1979 đến năm 2000, tỷ lệ mắc bệnh khuẩn tại Mỹ đã tăng gấp ba lần, từ 83 lên 240 trường hợp mỗi năm trên 100.000 dân Theo ước tính của Angus vào năm 1995, có khoảng 300 trường hợp nhiễm khuẩn nặng mỗi năm, tương đương với khoảng 750.000 ca, trong đó 2/3 xảy ra ở những bệnh nhân nhập viện vì các bệnh lý không do nhiễm khuẩn.
Nghiên cứu của Padkin tại Anh, xứ Wales và Bắc Alien thấy tỉ lệ thấp hơn là
51 trường hợp/100.000 dân (năm 1997), trong đó 27,1% nhiễm khuẩn nặng trong 24 giờ đầu [86]
Từ nghiên cứu của Brunkhort tại Đức trong giai đoạn 2003-2004, tỷ lệ sốc nhiễm khuẩn ở 2075 khoa hồi sức tích cực của 1380 bệnh viện được ghi nhận là khoảng 11% trong số bệnh nhân điều trị, với mức cao nhất lên tới 18% vào tháng 5-6 Ước tính hàng năm có khoảng 75.000 trường hợp, tương đương với 110 bệnh nhân sốc nhiễm khuẩn trên 100.000 dân.
Tại Pháp, nghiên cứu của Annane về 100.554 bệnh nhân tại ICU từ 1993 đến 2000 cho thấy 59% bệnh nhân mắc nhiễm khuẩn nặng, trong đó sốc nhiễm khuẩn chiếm 25% Tỉ lệ sốc nhiễm khuẩn là 8,2 trường hợp trên 100 bệnh nhân nhập viện, với xu hướng tăng từ 7,0 trường hợp trên 100 bệnh nhân trong năm trước đó.
Theo nghiên cứu năm 1993, tỷ lệ bệnh nhân nhập viện do nhiễm khuẩn đã tăng lên 9,7/100 bệnh nhân vào năm 2000 Tại Na Uy, Flaatten đã phân loại mã bệnh theo tiêu chuẩn quốc tế và ghi nhận tỷ lệ mắc nhiễm khuẩn là 1,49 trường hợp/1000 dân Trong số bệnh nhân nhập viện, tỷ lệ nhiễm khuẩn và nhiễm khuẩn nặng lần lượt là 9,5 và 3,0 trường hợp/1000 bệnh nhân, với tỷ lệ tử vong tăng theo độ tuổi.
Nghiên cứu BASE của Silva tại Brazil cho thấy tỷ lệ nhiễm khuẩn, nhiễm khuẩn nặng và sốc nhiễm khuẩn ở bệnh nhân lớn tuổi lần lượt là 305, 174 và 147 trường hợp/1000 bệnh nhân vào viện Tỷ lệ tử vong tương ứng cho SIRS, nhiễm khuẩn, nhiễm khuẩn nặng và sốc nhiễm khuẩn là 24,2%, 33,9%, 46,9% và 52,2%.
Tại Việt Nam, chưa có nghiên cứu dịch tễ học chính thức nào về nhiễm khuẩn nặng và sốc nhiễm khuẩn ở người lớn, nhưng tỷ lệ tử vong được ước tính là khá cao, đặc biệt trong trường hợp có suy đa tạng.
Sự gia tăng bệnh lý hiện nay có nhiều nguyên nhân, bao gồm việc sử dụng các thủ thuật xâm lấn như catheter trong mạch máu và thở máy, cùng với việc áp dụng rộng rãi thuốc ức chế miễn dịch và thuốc độc tế bào trong điều trị ung thư và ghép tạng Ngoài ra, tuổi thọ của dân số và bệnh nhân mắc bệnh mạn tính như ung thư và tiểu đường cũng góp phần làm tăng nguy cơ nhiễm trùng huyết Thêm vào đó, sự gia tăng nhiễm trùng do vi khuẩn kháng thuốc và tác động của đại dịch AIDS cũng là những yếu tố quan trọng cần được xem xét.
Ti lệ từ vong của sốc nhiễm khuẩn thay đổi theo từng quốc gia:
Tại Mỹ, tỷ lệ tử vong do nhiễm khuẩn nặng là 28,6%, tương đương 3/1.000 dân và 2,26/100 bệnh nhân ra viện, trong đó 56% ca tử vong là do sốc nhiễm khuẩn.
Tại Đức, tỷ lệ tử vong ở ICU đạt 47% và tỷ lệ tử vong trong bệnh viện là 54%, với khoảng 40.000 ca tử vong mỗi năm Sốc nhiễm khuẩn là nguyên nhân tử vong phổ biến thứ ba.
Tại Pháp, tỷ lệ tử vong do sốc nhiễm khuẩn đã giảm từ 63% vào năm 1993 xuống còn 58% vào năm 2000, với mức trung bình trong 8 năm là 60,1% Nguyên nhân cho sự cải thiện này là nhờ vào khả năng điều trị sốc ngày càng tốt hơn và trang thiết bị hiện đại hơn, cùng với việc sử dụng nhiều máy xét nghiệm tối tân giúp giảm tỷ lệ sốc nhiễm khuẩn không rõ nguyên nhân So với các bệnh nhân không nhiễm khuẩn, nguy cơ tử vong do sốc nhiễm khuẩn là 25,7 (95% CI, 24-27,3), với tỷ lệ odds (OR) là 3,9 (95% CI, 3,5-4,3).
Tại Việt Nam, tỷ lệ tử vong do suy đa tạng và sốc nhiễm khuẩn vẫn ở mức cao Nghiên cứu của Trần Minh Tuấn năm 2006 tại khoa hồi sức tích cực - chống độc bệnh viện Bạch Mai cho thấy tỷ lệ tử vong của suy đa cơ quan lên đến 80% Đặc biệt, tỷ lệ tử vong do suy đa tạng liên quan đến sốc nhiễm khuẩn có lọc máu liên tục là 66% Ngược lại, nếu không thực hiện lọc máu, tỷ lệ thoát sốc sẽ thấp và thời gian sử dụng thuốc vận mạch sẽ kéo dài hơn.
1.2.4 Đặc điểm vi khuẩn học
Bất cứ vị trí nhiễm khuẩn nào cũng có thể gây ra nhiễm khuẩn huyết Một số vị trí thường gặp gây nhiễm khuẩn huyết là:
- Nhiễm khuẩn phổi chiếm tỉ lệ cao nhất 52%, xu hướng ngày càng tăng
- Nhiễm khuẩn đường tiêu hóa, chân catheter và từ da chiếm hàng thứ hai khoảng 15%
- Nhiễm khuẩn tiết niệu – sinh dục có tỉ lệ thấp khoảng 7% và xu hướng ngày càng giảm
- Từ nhiều vị trí nhiễm khuẩn: chiếm tỉ lệ nhỏ còn lại
Khoảng 1/5 bệnh nhân nhiễm khuẩn có vị trí không rõ ràng, tỷ lệ này đang giảm nhờ tiến bộ trong xét nghiệm vi khuẩn Ở bệnh nhân có sức đề kháng bình thường, vị trí nhiễm trùng thường dễ xác định, nhưng ở bệnh nhân giảm bạch cầu hạt, chỉ dưới 50% trường hợp nhiễm khuẩn huyết có thể tìm ra nguyên nhân Nguyên nhân có thể do ổ nhiễm khuẩn nhỏ và không rõ ràng, dẫn đến vi khuẩn xâm nhập vào dòng máu Các yếu tố thuận lợi cho nhiễm khuẩn huyết do vi khuẩn Gram âm bao gồm đái tháo đường, bệnh lý tăng sinh mô bạch huyết, xơ gan, bỏng và các thủ thuật xâm lấn Trong khi đó, nhiễm khuẩn huyết do vi khuẩn Gram dương thường liên quan đến việc đặt catheter, dụng cụ cơ học trong cơ thể, bỏng và tiêm tĩnh mạch Nhiễm khuẩn huyết do nấm thường gặp ở bệnh nhân suy giảm miễn dịch và giảm bạch cầu hạt, thường xảy ra sau khi điều trị kháng sinh phổ rộng.
1.2.4.2 Đặc điểm hình thái vi khuẩn [8]
Sinh lý bệnh học sốc nhiễm khuẩn
Sốc nhiễm khuẩn là giai đoạn nghiêm trọng nhất trong quá trình nhiễm trùng, bắt đầu từ nhiễm trùng tại chỗ, tiến triển qua nhiễm khuẩn huyết và dẫn đến sốc nhiễm khuẩn ở bệnh nhân phức tạp Đáp ứng miễn dịch trong sốc nhiễm khuẩn diễn ra qua hai giai đoạn: giai đoạn đầu là phản ứng mạnh để bảo vệ cơ thể khỏi tác nhân nhiễm trùng, và giai đoạn sau là điều hòa đáp ứng, gây ức chế miễn dịch Nếu tình trạng này kéo dài, sẽ dẫn đến rối loạn chức năng cơ quan, suy đa tạng và cuối cùng là tử vong.
Vi trùng có thể tăng sinh tại ổ nhiễm trùng và xâm nhập vào dòng máu, dẫn đến cấy máu dương tính, hoặc phát triển tại chỗ và phóng thích các thành phần cấu trúc như kháng nguyên acid teichoic và nội độc tố Ngoài ra, chúng cũng có thể tổng hợp và phóng thích các ngoại độc tố như toxic shock syndrome toxin Những sản phẩm này kích thích cơ thể sản sinh một lượng lớn chất trung gian hóa học như TNF-α, IL-1, Interferon γ, IL-8, NO, và PAF từ các tế bào như bạch cầu đơn nhân và đại thực bào Tác động của các hóa chất này gây ra các triệu chứng lâm sàng như sốt, mệt mỏi, chán ăn, và tăng số lượng bạch cầu trong máu.
Các chất trung gian có tác dụng tích cực trong việc điều hòa chức năng miễn dịch, tiêu diệt vi khuẩn và khử độc sản phẩm vi trùng khi được tiết ra với lượng nhỏ Tuy nhiên, nếu tiết ra quá mức, chúng có thể gây ra các vấn đề nghiêm trọng như rối loạn chức năng cơ quan, sốc nhiễm khuẩn và thậm chí dẫn đến tử vong.
Sốc được định nghĩa là tình trạng tưới máu mô không đủ, dẫn đến rối loạn chức năng tế bào và có thể gây chết tế bào nếu kéo dài Định nghĩa này bao gồm các loại sốc như sốc do giảm thể tích, sốc tim và sốc nghẽn mạch, tất cả đều gây ra giảm cung lượng tim và tưới máu mô kém Trong các dạng sốc này, kháng lực mạch máu hệ thống tăng lên như một cơ chế bù trừ để duy trì huyết áp, trong khi lượng oxy trong máu động mạch phổi giảm, cho thấy tình trạng giảm tưới máu ở mô ngoại biên và gia tăng chiết xuất oxy từ hồng cầu.
Nhiễm khuẩn huyết có thể dẫn đến một dạng sốc phức tạp hơn, với tình trạng giảm thể tích tuần hoàn ở cả nhiễm khuẩn huyết và sốc nhiễm khuẩn Hiện tượng này được giải thích bởi hai cơ chế chính.
Hiện tượng dãn mạch quá mức dẫn đến tăng dung tích hệ tĩnh mạch, gây ứ máu trong hệ thống này Hệ quả là thể tích tuần hoàn hiệu dụng giảm nhanh chóng, gây ra tình trạng thiếu dịch tương đối trong lòng mạch.
Hiện tượng tăng tính thấm thành mạch xảy ra do tổn thương lớp tế bào nội mô, dẫn đến tình trạng thất thoát dịch ra khoảng kẽ và gây ra tình trạng thiếu dịch tuyệt đối trong lòng mạch.
Hồi sức dịch đóng vai trò quan trọng trong điều trị nhiễm khuẩn huyết và sốc nhiễm khuẩn, giúp cải thiện tỷ lệ tử vong Tuy nhiên, việc bồi hoàn dịch quá mức có thể dẫn đến giảm kháng lực mạch máu hệ thống, tăng cung lượng tim và nhịp tim nhanh, tạo ra tình trạng sốc phân bố Trước khi bồi hoàn thể tích đầy đủ, bệnh nhân thường gặp phải sốc hỗn hợp, bao gồm cả sốc giảm thể tích và sốc phân bố Hiện tượng giảm kháng lực mạch máu hệ thống cho thấy sự hiện diện của dãn mạch toàn thân, trong khi một số vùng mạch máu vẫn bị co mạnh Hai giả thuyết đã được đưa ra để giải thích hiện tượng này.
Các bất thường về mạch máu như dãn mạch, co mạch, sự kết cụm bạch cầu đa nhân trung tính và rối loạn chức năng tế bào nội mô dẫn đến tình trạng giảm tưới máu mô, làm cho oxy không thể đến được các mô.
Hóa chất trung gian có tác động trực tiếp đến việc rối loạn chuyển hóa tế bào, dẫn đến suy giảm khả năng nhận oxy của tế bào Điều này có nghĩa là tế bào không thể sử dụng oxy hiệu quả.
Mặc dù cung lượng tim ở bệnh nhân sốc nhiễm trùng có thể bình thường hoặc tăng sau khi đã bù dịch đầy đủ, nhưng hoạt động tim vẫn bất thường với giảm phân suất tống máu, giảm sức co bóp cơ tim và dãn buồng thất cuối tâm trương và cuối tâm thu Các bệnh nhân sống sót thường hồi phục chức năng tim trong vòng 5 – 10 ngày sau sốc Ngược lại, ở những trường hợp tử vong, rối loạn chức năng cơ quan tiến triển thành suy đa cơ quan, bao gồm rối loạn chức năng cơ tim nặng hơn, hội chứng suy hô hấp tiến triển ở người lớn (ARDS), suy thận cấp, suy gan và đóng máu nội mạch lan tỏa (DIC), dẫn đến tử vong do tụt huyết áp tiến triển hoặc suy toàn bộ một hoặc nhiều cơ quan.
Bảng 1.1: Các giai đoạn của sốc nhiễm khuẩn [8]
Đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng SNK
1.4.1 Tầm soát nhiễm khuẩn huyết
Trong hội nghị đồng thuận về định nghĩa sepsis 3 năm 2016 [50], đã đề xuất bảng điểm SOFA nhanh gọi tắt là qSOFA giúp tầm soát nhiễm khuẩn huyết (bảng
1.2) Nếu tổng điểm qSOFA ≥2 thì nghi ngờ nhiễm khuẩn huyết và rối loạn chức năng cơ quan
1 Thay đổi tri giác (Glasgow 400 301 – 400 201 – 300 101 – 200 < 101 Thận:
> 4.9 Tim mạch (HATT, mmHg), không vận mạch
Thang điểm SOFA là công cụ quan trọng để đánh giá diễn biến suy tạng, hiệu quả của phương pháp điều trị mới, cũng như kết quả điều trị và tiên lượng tử vong Khi tổng điểm SOFA tăng ≥2 điểm một cách cấp tính, bệnh nhân được xác định là mắc suy đa cơ quan.
Bảng 1.3: Thang điểm SOFA [50] Điểm SOFA 1 2 3 4
PaO 2 /FiO 2 (mmHg)