1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu thực trạng các chỉ số hình thái và thị lực của học sinh trung học phổ thông ở thị trấn Bình Dương, huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định

6 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 2,42 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong bài báo này, trình bày việc thảo luận về các chỉ số hình thái và thị giác của học sinh trung học ở Thị xã Bình Dương, tỉnh Bình Định. Kết quả nghiên cứu đã đánh giá kịp thời các và tình trạng thị giác của học sinh trung học. Đây là cơ sở để đề xuất một số giải pháp giáo dục nhằm nâng cao thể lực và hạn chế tật khúc xạ ở học sinh.

Trang 1

NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG CÁC CHỈ SỐ HÌNH THÁI VÀ THỊ LỰC CỦA HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG Ở THỊ TRẤN BÌNH DƯƠNG,

HUYỆN PHÙ MỸ, TỈNH BÌNH ĐỊNH

Võ Văn Toàn, Võ Thị Hồng Phượng - Trường Đại học Quy Nhơn Trương Nguyễn Thúy Kiều - Trường Trung học phổ thông Bình Dương, huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định

Ngày nhận bài: 26/06/2018; ngày sửa chữa: 10/07/2018; ngày duyệt đăng: 19/07/2018.

Abstract: Research results on 1,420 high school students in Binh Duong town, Binh Dinh

province showed that the morphological index increased gradually over ages with uneven level in

male and female The percentage of students with refractive errors tends to increase over ages and

this rate in women is higher than in men Moreover, many students suffer myopia at high rate In

this article, authors discuss about morphological and visual indicators of high school students in

Binh Duong town, Binh Dinh province The results of the study have evaluated timely the physical

and visual status of high school students This is the basis for proposing some educational solutions

to improve physical strength and limit the refraction in students

Keywords: Morphology index, high school students, weight, height, eyesight.

1 Mở đầu

Ở nước ta, “Đề án tổng thể phát triển thể lực, tầm vóc

người Việt Nam giai đoạn 2011-2030” đang được tập

trung triển khai và đặc biệt quan tâm tới lứa tuổi học

đường bởi đây là giai đoạn có thể can thiệp tốt nhất Thực

tế hiện nay cho thấy, xã hội ngày càng phát triển, mức

sống và chế độ dinh dưỡng ngày một cải thiện nên chiều

cao của người Việt cũng có khuynh hướng gia tăng, các

chỉ số sinh học cũng thay đổi Bên cạnh đó, sự phát triển

không ngừng của khoa học hiện đại đã đặt ra thử thách

lớn gây áp lực tác động đến giới trẻ, các em tăng thời gian

học, thu hẹp không gian và thời gian vui chơi cũng như

thể dục thể thao ngoài trời; tăng thời gian sử dụng

Internet trong học tập, thư giãn giải trí qua màn hình vi

tính, tivi, điện thoại,… ngay cả trong giờ ăn và giờ ngủ

Điều này đã góp phần làm suy giảm thị lực, tăng tỉ lệ trẻ

mắc tật khúc xạ và gia tăng tình trạng béo phì Sự thay

đổi các chỉ số hình thái, thị lực của trẻ có sự chênh lệch

khác nhau giữa các vùng miền, vì vậy, việc tìm hiểu thực

trạng các chỉ số sinh học của học sinh (HS) để nhà

trường, gia đình và xã hội có những giải pháp thiết thực

nhằm nâng cao thể lực và trí tuệ cho trẻ là điều cần thiết

Bài viết đề cập các chỉ số hình thái và thị lực của HS

trung học phổ thông (THPT) ở thị trấn Bình Dương,

huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định Kết quả nghiên cứu phản

ánh đúng thực trạng thể lực, thị lực của HS THPT trong

khu vực, góp phần làm phong phú kho dữ liệu về giá trị

sinh học người Việt Nam, là cơ sở để đề xuất một số giải

pháp giáo dục nhằm nâng cao thể lực, cũng như hạn chế

tình trạng mắc tật khúc xạ của HS

2 Nội dung nghiên cứu

2.1 Đối tượng và phương pháp nghiên cứu

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu: 1.420 HS từ 16-18 tuổi ở 3

khối lớp 10, 11, 12 thuộc các trường THPT Số 2 Phù Mỹ

và THPT Bình Dương tại thị trấn Bình Dương, huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định Thời gian nghiên cứu: từ tháng 9/2017 đến tháng 6/2018

2.1.2 Phương pháp nghiên cứu:

- Cỡ mẫu: Tiến hành nghiên cứu theo phương pháp

mô tả cắt ngang Chọn mẫu theo phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên và mẫu cỡ lớn được áp dụng trong điều tra cơ bản các chỉ số sinh học về người như chiều cao, cân nặng, vòng ngực…

- Áp dụng công thức:

2 2 2

Z * p(1 p) n

d

 Trong đó:

n: Số cá thể cần lấy d: Khoảng cách sai lệch giữa tỉ lệ thu được và tỉ lệ trong quần thể (0,05);

α: Mức ý nghĩa thống kê (0,05);

= (1,96)2với độ tin cậy 95%;

P: Khả năng có thể xảy ra của tổng mẫu nghiên cứu

là 50%

Vậy, ta có n = [(1,96)2* 0,5*(1-0,5)]/(0,05)2= 384,16

Có 3 độ tuổi cần nghiên cứu nên tổng số mẫu cần lấy

là 384,16*3 = 1152,48 Chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu trên 1.420 mẫu là đảm bảo độ tin cậy

- Chiều cao đứng: Sử dụng thước gỗ đo chiều cao đứng của UNICEF, chính xác đến 0,1cm

Trang 2

- Cân nặng: Được xác định bằng cân y tế có độ chính

xác đến 0,1 kg

- Vòng ngực: Được xác định bằng thước dây không

giãn của Trung Quốc, chính xác đến 0,1 cm

- Chỉ số BMI được tính theo công thức: BMI = Cân

nặng (kg)/(Chiều cao (m)2)

- Thị lực: Dùng bảng Landolt với vòng hở chữ C để

tiến hành đo thị lực xa cho tất cả các HS của các khối lớp

để phát hiện HS bị giảm thị lực Sau đó dùng máy khúc

xạ kế tự động để xác định độ cận thị, viễn thị và loạn thị

Phát phiếu điều tra về hành vi hoạt động của HS liên quan

tới mắt

- Phương pháp tính tuổi sinh học: Được tính từ ngày

tháng năm sinh đến ngày tháng năm điều tra, sau đó phân

nhóm tuổi thống nhất theo khuyến nghị của Tổ chức Y

tế thế giới áp dụng ở Việt Nam: từ X năm 1 ngày đến X

năm 365 ngày là (X+1) tuổi

Với điều kiện thực tế của đề tài, thời gian nghiên cứu

diễn ra từ đầu năm học (tháng 9/2017) đến cuối năm học

(tháng 6/2018) nên tuổi của HS THPT được xác định

tương đối với lứa tuổi tương ứng: lớp 10 là 16 tuổi; lớp

11 là 17 tuổi; lớp 12 là 18 tuổi

- Xử lí mẫu bằng phần mềm Microsoft Excel và

SPSS

2.2 Kết quả nghiên cứu

2.2.1 Chiều cao đứng của học sinh trung học phổ thông

theo tuổi và giới tính (xem bảng 1)

Bảng 1 cho thấy, chiều cao trung bình của HS THPT

thay đổi theo lứa tuổi Lúc 16 tuổi, HS cao trung bình

là 156,62 ±7,43 cm nhưng đến 18 tuổi đã đạt 158,88 ± 7,26 cm Trung bình mỗi năm HS cao thêm 1,13 cm Tốc

độ tăng chiều cao của HS ở các độ tuổi không đồng đều

và tốc độ tăng chiều cao của nam cao nhanh hơn nữ Điều này có thể lí giải: nữ dậy thì bắt đầu sớm và kết thúc sớm hơn so với nam Ở tuổi 16 lên 17, các em có tốc độ tăng chiều cao trung bình là 2,48 cm, chiều cao của nam tăng 3,95cm, chiều cao của nữ tăng 2,48 cm Đặt biệt, HS 17 tuổi có chiều cao trung bình là 159,1 ± 7,14 cm, cao hơn

HS 18 tuổi có chiều cao trung bình là 158,88 ± 7,26 cm

Sự khác biệt này đều xảy ra ở cả 2 giới nam và nữ Điều này đã chứng tỏ chiều cao của trẻ ngày càng được cải thiện Trong cùng một lứa tuổi, nam luôn có chiều cao cao hơn nữ (p < 0,05) So sánh kết quả thu được trong nghiên cứu của chúng tôi với nghiên cứu trước của một

số tác giả như Trần Thị Loan (2012) [1], Lương Thị Cẩm Cúc (2014) [2] và Phan thị Bích Tuyền (2015) [3] thì chiều cao của HS trong nghiên cứu của chúng tôi có chiều cao tương đương Sự khác nhau về thời điểm nghiên cứu cho biết chiều cao trung bình của HS THPT

ở thị trấn Bình Dương là còn thấp và chưa thể đáp ứng được mục tiêu của đề án 641 Vì vậy, cần thay đổi chế độ dinh dưỡng cũng như rèn luyện thể lực cho HS

2.2.2 Cân nặng của học sinh trung học phổ thông theo tuổi và giới tính (xem bảng 2)

Bảng 2 Cân nặng của HS THPT theo tuổi và giới tính

Tuổi

Cân nặng (kg)

ĐTB(1) - ĐTB(2) P(1-2)

SL ĐTB SD Tăng SL ĐTB SD Tăng SL ĐTB SD Tăng

Bảng 1 Chiều cao đứng của HS THPT theo tuổi và giới tính

Tuổi

Chiều cao đứng trung bình (cm)

ĐTB(1) -ĐTB(2) P(1-2)

Số lượng

(SL)

Điểm trung

bình (ĐTB)

Độ lệch chuẩn

18 201 164,54 5,42 -0,67 248 154,29 4,97 -0,49 449 158,88 7,26 -0,22 10,25 p<0,05

Trang 3

Bảng 2 cho thấy, cân nặng trung bình của HS THPT

tăng dần theo tuổi Lúc 16 tuổi, HS nặng trung bình là

45,8 ± 7,08 kg nhưng đến 18 tuổi đã đạt 47,48 ± 7,59 kg

Mức tăng trung bình mỗi năm là 0,84 kg Tốc độ tăng

cân của HS ở các độ tuổi không đồng đều, giai đoạn

16-17 tuổi có tốc độ tăng cân lớn hơn giai đoạn 17-18

tuổi Tốc độ tăng cân trung bình của nam tăng nhanh hơn

nữ, nam tăng 1,59 kg/năm, nữ tăng 0,84 kg/năm Trong

cùng một lứa tuổi thì HS nam luôn có cân nặng lớn hơn

HS nữ (p<0,05) So sánh kết quả thu được trong nghiên

cứu của chúng tôi phù hợp với kết quả nghiên cứu của

Đoàn Yên - Trịnh Bỉnh Dy [4], nhưng so với nghiên cứu

của Lương Thị Cẩm Cúc [2] thì cân nặng của HS trong

nghiên cứu của chúng tôi thấp hơn Sự khác nhau này có

thể lí giải là do HS được nghiên cứu ở hai khu vực nông

thôn và thành thị có điều kiện KT-XH khác nhau

2.2.3 Vòng ngực trung bình của học sinh trung học phổ

thông theo tuổi và giới tính (xem bảng 3)

Bảng 3 cho thấy, vòng ngực trung bình của HS

THPT tăng dần theo tuổi Lúc 16 tuổi, HS có vòng ngực

trung bình là 76,56 ± 5,24 cm, nhưng đến 18 tuổi đã đạt

79,22 ± 4,99 cm Mức tăng trung bình mỗi năm là 1,33

cm Tốc độ tăng vòng ngực của HS ở các độ tuổi không

đồng đều Giai đoạn 16-17 tuổi, có tốc độ tăng vòng ngực

lớn hơn và đạt trung bình 2,06 cm, trong đó nam tăng cao

hơn nữ Ở giai đoạn 17-18 tuổi, tốc độ tăng vòng ngực

chỉ đạt 0,61cm, trong đó nữ tăng cao hơn nam Trong cùng một lứa tuổi thì sự khác biệt về kích thước vòng ngực giữa nam và nữ rõ nhất ở tuổi 16, nữ đạt 77,12 ± 4,5 cm lớn hơn nam đạt 75,96 ±5,88 (p<0,05) Ở lứa tuổi

17 và 18, HS nam và nữ có kích thước vòng ngực tương đương nhau (p>0,05) Vòng ngực trung bình của HS trong nghiên cứu của chúng tôi tương đương với kết quả nghiên cứu của Trần Thị Loan [1], nhưng lại thấp hơn so với kết quả nghiên cứu của Lương Thị Cẩm Cúc [2]

2.2.4 Chỉ số BMI của học sinh trung học phổ thông theo tuổi và giới tính (xem bảng 4)

Bảng 4 cho thấy, chỉ số BMI của HS THPT thay đổi

theo tuổi Lúc 16 tuổi, chỉ số BMI trung bình là 18,63 ± 2,21 và đến 18 tuổi là 18,77 ± 2,38 kg/m2 Tốc độ tăng BMI trung bình mỗi năm là 0,07 kg/m2 Tốc độ tăng BMI

ở các độ tuổi không đồng đều, BMI trung bình ở tuổi 16 cao hơn tuổi 17 Sự thay đổi chỉ số BMI qua mỗi năm cũng khác nhau ở nam và nữ, nam thì tăng dần còn nữ thì giảm dần qua mỗi năm Sự thay đổi này có thể là do chiều cao của nữ tăng nhanh hơn cân nặng của nữ qua mỗi năm

Ở cả ba lứa tuổi, BMI của nam đều cao hơn nữ nhưng chỉ thể hiện sự khác biệt rõ nhất ở lứa tuổi 18, BMI của nam cao hơn nữ là 0,63 (p<0,05) So sánh kết quả thu được trong nghiên cứu của chúng tôi phù hợp với kết quả nghiên cứu của Mai Văn Hưng - Trần Long Giang [5] đối với HS cùng lứa tuổi ở khu vực nông thôn

Bảng 3 Vòng ngực trung bình của HS THPT theo tuổi và giới tính

Tuổi

Vòng ngực trung bình (cm)

ĐTB(1) - ĐTB(2) P(1-2)

SL ĐTB SD Tăng SL ĐTB SD Tăng SL ĐTB SD Tăng

Bảng 4 Chỉ số BMI của HS THPT theo tuổi và giới tính

Tuổi

Chỉ số BMI (kg/m2)

ĐTB(1) - ĐTB (2) P(1-2)

SL ĐTB SD tăng SL ĐTB SD tăng SL ĐTB SD tăng

Trang 4

2.2.5 Tình trạng dinh dưỡng của học sinh trung học phổ

thông theo tuổi và giới tính (xem bảng 5)

Bảng 5 cho thấy, tình trạng dinh dưỡng của HS THPT

thay đổi theo tuổi Ởcả 3 lứa tuổi, tình trạng dinh dưỡng của

HS tập trung chủ yếu ở mức bình thường (45,28%) và gầy

nhẹ (32,89%), mức gầy vừa (14,37%) và mức quá gầy

(5,85%), mức thừa cân ở các cấp độ (1,62%) Nếu gộp

chung thành 3 mức dinh dưỡng gầy (gầy vừa, gầy nhẹ, quá

gầy), bình thường, thừa cân (độ I, II, III) thì tình trạng dinh

dưỡng có sự thay đổi khác nhau theo tuổi và giới tính HS ở

lứa tuổi 16-18 có tình trạng gầy giảm dần, tình trạng thừa

cân tăng dần qua mỗi lứa tuổi Trong đó, tỉ lệ gầy ở nữ cao

hơn nam và tỉ lệ nam thừa cân lại cao hơn nữ Điều đáng quan tâm là tỉ lệ HS có tình trạng dinh dưỡng bình thường

đạt 45,28% thấp hơn tỉ lệ HS có tình trạng dinh dưỡng gầy các mức là 53,1%, chứng tỏ chế độ dinh dưỡng còn thấp chưa đủ đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng của cơ thể So sánh kết quả thu được trong nghiên cứu của chúng tôi phù hợp với kết quả nghiên cứu của Mai Văn Hưng - Trần Long Giang [5], so với nghiên cứu của Lương Thị Cẩm Cúc [2] thì tỉ lệ HS trong nghiên cứu của chúng tôi có mức dinh dưỡng gầy cao hơn, béo phì thấp hơn

2.2.6 Thị lực của học sinh trung học phổ thông theo tuổi

và giới tính (xem bảng 6) Bảng 6 Thị lực của HS THPT theo tuổi và giới tính

16 (Lớp 10)

17 (lớp 11)

Bảng 5 Tình trạng dinh dưỡng của HS THPT theo tuổi và giới tính

Tuổi Giới tính SL

Quá gầy (<16) (16-16,99)Gầy vừa (17-18,49)Gầy nhẹ Bình thường(18,5-24,99) Thừa cân độ I(25-29,99) Thừa cân độII, III (≥30)

16

(lớp 10)

17

(lớp 11)

18

(lớp 12)

Tổng

Trang 5

Chung 449 356 79,29 93 20,71 82 18,26 28 6,24 1 0,22 Tổng

p = 0,000459

Bảng 6 cho thấy, tình trạng thị lực của HS THPT thay

đổi theo tuổi Tỉ lệ HS mắc tật khúc xạ ở ba lứa tuổi là

19,3% Trong đó, HS mắc tật cận thị chiếm tỉ lệ khá cao

là 16,41%; 5,21% loạn thị và 0,35% viễn thị Tỉ lệ HS

mắc tật khúc xạ qua mỗi lứa tuổi có xu hướng tăng dần,

16 tuổi có 17,02%; 17 tuổi có 20,48%; 18 tuổi có

20,71% Tỉ lệ HS nữ mắc tật khúc xạ cao hơn HS nam

(p<0,05), chứng tỏ giới tính có ảnh hưởng đến tình trạng

tật khúc xạ Kết quả nghiên cứu của chúng tôi phù hợp

với nghiên cứu của Hoàng Ngọc Chương - Hoàng Hữu

Khôi [6] So sánh với kết quả nghiên cứu của Nguyễn

Thanh Triết [7] có tỉ lệ HS mắc tật khúc xạ ở cấp 3 là

41% thì nghiên cứu của chúng tôi cho kết quả thấp hơn

Điều này cho biết HS ở nông thôn có tỉ lệ mắc tật khúc

xạ thấp hơn HS ở thành thị

2.2.7 Các yếu tố liên quan đến tật khúc xạ học sinh trung

học phổ thông

Có rất nhiều yếu tố về di truyền, về môi trường sống

như dinh dưỡng, điều kiện chăm sóc sức khỏe, phương

pháp học tập… có liên quan đến tình trạng mắc tật khúc

xạ Trong phạm vi của bài viết, chúng tôi đã tiến hành

khảo sát một số hành vi hoạt động hằng ngày của HS có

liên quan đến tật khúc xạ và thu được kết quả ở bảng sau

(bảng 7):

Bảng 7 cho thấy, trong 274 HS mắc tật khúc xạ, HS có

hành vi không tốt cho mắt chiếm tỉ lệ cao như thường

xuyên chơi game 24,88%; thường xuyên xem tivi 21,36%;

không tham gia các hoạt động thể thao ngoài trời 32,3%

Xét trong mỗi hành vi, HS có hành vi không tốt chiếm tỉ

lệ cao hơn nhiều so với HS có hành vi tốt cho mắt

(p<0,001) Qua phân tích chứng tỏ tật khúc xạ của HS có liên quan đến hành vi hoạt động hằng ngày của HS như chơi game, xem tivi, chơi thể thao ngoài trời Điều này phù hợp với kết quả nghiên cứu của các tác giả như Hoàng Ngọc Chương - Hoàng Hữu Khôi [6] Như vậy, HS sử dụng thiết bị điện tử ngày càng nhiều và sử dụng thiếu khoa học, hạn chế thời gian vui chơi ngoài trời là yếu tố góp phần tác động đến sự gia tăng tình trạng mắc tật khúc

xạ ở tuổi học đường

3 Kết luận

Kết quả khảo sát cho thấy: HS từ 16-18 tuổi ở thị trấn Bình Dương, huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định có chiều cao tăng dần theo tuổi và tốc độ tăng không đều; cân nặng của HS cũng tăng theo lứa tuổi, tốc độ tăng cân trung bình của nam tăng nhanh hơn nữ; vòng ngực tăng cao ở giai đoạn 16-17 tuổi Chỉ số BMI ở nam tăng dần còn nữ thì giảm dần qua mỗi năm Ở cả 3 khối lớp, chỉ số BMI

ở mức gầy đều cao hơn mức bình thường HS ở lứa tuổi 16-18 có tình trạng gầy giảm dần, tình trạng thừa cân tăng dần qua mỗi lứa tuổi Tỉ lệ HS mắc tật khúc xạ chiếm tỉ

lệ khá cao, trong đó tật khúc xạ chủ yếu là cận thị có xu hướng tăng dần và nữ cao hơn nam HS mắc tật khúc xạ thường có hành vi không tốt cho mắt như thường xuyên chơi game, xem ti vi, không tham gia các hoạt động thể thao ngoài trời

Từ thực trạng trên, cần có một số biện pháp để nâng cao thể lực, tầm vóc cũng như hạn chế tình trạng mắc tật khúc xạ của HS Đối với nhà trường, cần đổi mới phương pháp dạy học nhằm giảm áp lực học tập cho HS; giáo dục cho HS phương pháp học tập và thư giãn khoa học đối

Bảng 7 Mối liên quan giữa hành vi của HS với tỉ lệ mắc tật khúc xạ

Chơi game thường xuyên Không chơiCó chơi 596824 20569 11,5824,88 p<0,001 Xem tivi thường xuyên Không xemCó xem 1105315 23638 12,0621,36 p<0,001 Tham gia hoạt động thể thao ngoài trời Không tham giaCó tham gia 903517 107167 11,8532,30 p<0,001

Trang 6

với mắt; lồng ghép có hiệu quả các hoạt động ngoại khóa;

giáo dục rèn luyện thể dục, thể chất; giáo dục kĩ năng

sống; giáo dục dinh dưỡng giúp HS có hành vi tốt cho

sức khỏe và có kĩ năng tự rèn luyện và bảo vệ sức khỏe

cho chính mình Bên cạnh đó, nhà trường cũng cần phối

hợp chặt chẽ với gia đình để có những biện pháp hợp lí

giúp thanh, thiếu niên phát triển cơ thể hài hòa, cân đối

và trở thành thanh niên có sức khỏe, tầm vóc tốt

Tài liệu tham khảo

[1] Trần Thị Loan - Lê Thị Tám (2012) Nghiên cứu một số

chỉ số thể lực của học sinh từ 12 đến 18 tuổi ở huyện

Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang Báo cáo khoa học về

nghiên cứu và giảng dạy sinh học ở Việt Nam, Trường

Đại học Sư phạm Hà Nội, tr 147-154

[2] Lương Thị Cẩm Cúc - Nguyễn Thị Tường Loan - Võ

Văn Toàn (2014) Các chỉ số về chiều cao, cân nặng, thị

lực và tình trạng dinh dưỡng của học sinh trường trung

học phổ thông Trưng Vương, TP Quy Nhơn, tỉnh Bình

Định Kỉ yếu Hội nghị Sinh viên nghiên cứu khoa học

các trường đại học sư phạm toàn quốc, lần thứ VII, tập

2, tr 485-489

[3] Nguyễn Thị Tường Loan - Võ Văn Toàn - Phan Thị

Bích Tuyền (2015) Nghiên cứu một số chỉ tiêu sinh học

của học sinh trung học phổ thông huyện Tuy Hòa, tỉnh

Phú Yên Kỉ yếu Hội thảo Sinh học vì sự phát triển bền

vững ở Phú Yên và khu vực Trung bộ-Tây Nguyên”, tr

60-68

[4] Đoàn Yên - Trịnh Bỉnh Dy - Đào Phong Tần (1993)

Biến động một số thông số hình thái và sinh lí qua các

lứa tuổi - Một số vấn đề lí luận và thực tiễn về lão khoa

cơ bản Bộ Y tế, Hà Nội

[5] Mai Văn Hưng - Trần Long Giang (2013) Nghiên cứu

một số đặc điểm nhân trắc cơ bản của học sinh trung

học phổ thông tại Hà Nội Tạp chí Khoa học, Đại học

Quốc gia Hà Nội, số 11, tr 39-47

[6] Hoàng Ngọc Chương-Hoàng Hữu Khôi-Nguyễn Tịnh

Anh (2010) Đánh giá tình hình thị lực và tật khúc xạ

của học sinh, sinh viên năm thứ nhất Trường Cao đẳng

Kĩ thuật Y tế II Tạp chí Khoa học và Công nghệ, Đại

học Đà Nẵng, số 2 (37), tr 198-204

[7] Nguyễn Thanh Triết (2012) Đánh giá tỉ lệ tật khúc xạ

và các nguyên nhân giảm thị lực ở học sinh tại thành

phố Quy Nhơn, Bình Định Kỉ yếu Hộinghị Nhãn khoa

toàn quốc 2012, Hà Nội ngày 12-13/10/2012, tr 82-86

[8] Vũ Quang Dũng (2008) Nghiên cứu thực trạng và một

số giải pháp phòng ngừa cận thị ở học sinh khu vực trung

du tỉnh Thái Nguyên Luận án tiến sĩ Y học, Trường Đại

học Y - Dược - Đại học Thái Nguyên

[9] Nguyễn Thanh Triết-Nguyễn Văn Thành (2012).Đánh

giá tỉ lệ tật khúc xạ và các nguyên nhân giảm thị lực ở

học sinh tại thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định Tạp chí Nhãn khoa Việt Nam, số 23, tr 10-17

[10] Hoàng Hữu Khôi (2017).Nghiên cứu tật khúc xạ và mô hình can thiệp ở học sinh trung học cơ sở thành phố Đà Nẵng Luận án tiến sĩ Y học, Đại học Huế

[11] Trúc Quân (2014) Chăm sóc thị lực cho trẻ NXB

Phụ nữ

[12] Đỗ Như Hơn (2012) Nhãn khoa tập 1 NXB Y học.

THỰC TRẠNG GIÁO DỤC

(Tiếp theo trang 15)

Như vậy, KNS chỉ có thể hình thành khi HS tương tác với bạn bè và những người xung quanh thông qua các HĐGDTN bằng các tình huống thực tế trong cuộc sống Đặc biệt, đối với HS THPT chuyên, GD KNS lại càng cần thiết để có thể cân bằng cuộc sống và phát triển toàn diện bản thân

Tài liệu tham khảo

[1] Bộ GD-ĐT (2009) Chỉ thị số 4899/CT-BGDĐT

ngày 04/8/2009 về nhiệm vụ trọng tâm của giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, giáo dục thường xuyên và giáo dục chuyên nghiệp năm học 2009-2010.

[2] Nguyễn Thanh Bình (2011) Giáo trình chuyên đề giáo

dục kĩ năng sống NXB Đại học Sư phạm.

[3] Huỳnh Văn Sơn (2009) Nhập môn về kĩ năng sống.

NXB Giáo dục Việt Nam

[4] Nguyễn Quang Uẩn (2008) Khái niệm kĩ năng sống xét

theo góc độ tâm lí học Tạp chí Tâm lí học, số 6, tr 2-4.

[5] Nguyễn Thị Mỹ Lộc - Đinh Thị Kim Thoa - Trần Văn

Tính- Vũ Phương Liên (2013) Giáo dục giá trị sống và

kĩ năng sống cho học sinh trung học phổ thông NXB

Đại học Quốc gia Hà Nội

[6] Viện Ngôn ngữ học (2003) Từ điển Tiếng Việt.

NXB Đà Nẵng [7] Đinh Thị Kim Thoa (2015) Tài liệu tập huấn kĩ năng xây dựng và tổ chức các hoạt động trải nghiệm sáng tạo trong trường trung học Chương trình phát triển giáo dục trung học

[8] Nguyễn Thanh Bình (2008) Xây dựng và thực nghiệm một số chủđề giáo dục kĩ năng sống cơ bản cho học sinh trung học phổ thông Đề tài Khoa học công nghệ cấp Bộ

- Mã số B2007-17-57

[9] Nguyễn Thị Liên (2016) Tổchức hoạtđộng trải nghiệm sáng tạo trong nhà trường phổ thông NXB Giáo dục Việt Nam

[10] Hà Nhật Thăng (2004) Công tác giáo viên chủ nhiệm lớp ở trường phổ thông NXB Giáo dục

Ngày đăng: 28/06/2021, 10:19

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm