1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận án Tiến sĩ Y học: Nghiên cứu dị tật bẩm sinh cổ bàn chân và kết quả phục hồi chức năng bàn chân trước khép bẩm sinh

220 12 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 220
Dung lượng 3,86 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN (21)
    • 1.1. Sơ lƣợc giải phẫu chức năng cổ - bàn chân trẻ em (0)
    • 1.2. Sự phát triển và cốt hóa xương bàn chân, cổ chân (21)
      • 1.2.1. Sự phát triển của bàn chân (21)
      • 1.2.2. Cốt hóa xương của bàn chân và cổ chân (22)
      • 1.2.3. Sự khác biệt giữa bàn chân của người trưởng thành và trẻ mới sinh (22)
    • 1.3. Thăm khám lâm sàng trẻ sơ sinh phát hiện dị tật hệ vận động (23)
    • 1.4. Những biến đổi dạng bàn chân chức năng ở trẻ sơ sinh .......................... 1. Cơ chế bệnh sinh5 1.5. Các dị tật bẩm sinh cổ bàn chân hay gặp (23)
      • 1.5.1. Bàn chân khoèo (24)
      • 1.5.2 Bàn chân bẹt (29)
      • 1.5.3. Cổ chân đóng cứng (32)
      • 1.5.4. Xương sên thẳng trục (36)
      • 1.5.5. Dị tật bàn chân có gót chân vẹo ngoài (38)
      • 1.5.6. Các dị tật ngón chân phổ biến (0)
    • 1.6. Bàn chân trước khép (41)
      • 1.6.1. Định nghĩa và hình thái bàn chân trước khép (0)
      • 1.6.2. Chẩn đoán XQ bàn chân trước khép (0)
      • 1.6.3. Siêu âm bàn chân trong chẩn đoán bàn chân trước khép (48)
      • 1.6.4. Lịch sử nghiên cứu và cơ chế bệnh sinh bàn chân trước khép (0)
      • 1.6.5. Điều trị bàn chân trước khép (52)
    • 1.7. Các nghiên cứu về tần suất các dị tật cổ bàn chân tại Việt Nam (0)
  • CHƯƠNG 2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU (60)
    • 2.1. Đối tƣợng nghiên cứu (0)
    • 2.2. Thời gian nghiên cứu (0)
    • 2.3. Địa điểm nghiên cứu (0)
    • 2.4. Phương pháp nghiên cứu (0)
    • 2.5. Cỡ mẫu và cách chọn mẫu (0)
    • 2.6. Biến số và chỉ số (0)
    • 2.7. Công cụ và phương pháp khám can thiệp và thu thập thông tin (0)
      • 2.7.1. Mục tiêu 1 (68)
      • 2.7.2. Mục tiêu 2 (74)
    • 2.8. Sơ đồ nghiên cứu (0)
    • 2.9. Phân tích và xử lý số liệu (0)
    • 2.10. Sai số và biện pháp khắc phục sai số (0)
    • 2.11. Đạo đức trong nghiên cứu (0)
  • CHƯƠNG 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU (88)
    • 3.1. Mô tả dị tật cổ bàn chân tại bệnh viện phụ sản Hà Nội (88)
      • 3.1.1. Đặc điểm chung của trẻ có dị tật cổ bàn chân bẩm sinh (88)
      • 3.1.2. Mô tả DTBS cổ bàn chân ở trẻ sơ sinh (0)
      • 3.1.3. Mô tả dị tật bàn chân trước khép (0)
    • 3.2. Kết quả can thiệp dị tật bàn chân trước khép và các yếu tố liên quan 114 (130)
      • 3.2.1 Kết quả can thiệp DTBS BCTK (130)
      • 3.2.2 Kết quả can thiệp dị tật bàn chân trước khép và một số các yếu tố ảnh hưởng tới kết quả can thiệp (137)
  • CHƯƠNG 4. BÀN LUẬN (143)
    • 4.1. Mô tả dị tật cổ bàn chân tại bệnh viện phụ sản Hà Nội (143)
    • 4.2. Kết quả điều trị PHCN cho nhóm trẻ có DTBS bàn chân trước khép (168)
      • 4.2.1. Kết quả điều trị sau 1 tháng PHCN (168)
      • 4.2.2. Kết quả điều trị sau 2 tháng PHCN (170)
      • 4.2.3. Kết quả điều trị sau 3 tháng PHCN (171)
      • 4.2.4. Các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả điều trị PHCN (176)
  • KẾT LUẬN (181)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (184)
  • PHỤ LỤC (0)

Nội dung

Mục tiêu nghiên cứu đề tài là mô tả đặc điểm dị tật bẩm sinh cổ bàn chân của trẻ sơ sinh sống tại bệnh viện Phụ sản Hà Nội từ 1/3/2018 đến 31/7/2018. Đánh giá kết quả phục hồi chức năng trẻ có dị tật bẩm sinh bàn chân trước khép.

TỔNG QUAN

Sự phát triển và cốt hóa xương bàn chân, cổ chân

1.2.1 Sự phát triển của bàn chân

Bàn chân của trẻ phát triển nhanh chóng trong giai đoạn thơ ấu, đặc biệt là đến 5 tuổi Ở trẻ gái, bàn chân đạt kích thước bằng nửa bàn chân người lớn khi được 1 tuổi, trong khi trẻ trai đạt kích thước này khi được 1 tuổi rưỡi Sau 5 tuổi, tốc độ phát triển của bàn chân giảm dần và đến 12 tuổi ở nữ giới và 16 tuổi ở nam giới, bàn chân sẽ đạt chiều dài như ở tuổi trưởng thành.

Formatted: Font: (Default) Times New Roman,

Formatted: Font: (Default) Times New Roman,

Formatted: Font: (Default) Times New Roman,

Formatted: English (U.S.) Formatted: Centered, Line spacing: 1.5 lines Field Code Changed

Formatted: Not Superscript/ Subscript Formatted: English (U.S.)

Bàn chân của trẻ sơ sinh rất phức tạp với 26 đến 28 xương và thường có dạng bàn chân bẹt Khi mới sinh, trẻ em có lớp đệm dày dưới cung gan chân, lớp đệm này sẽ giảm dần khi bàn chân phát triển Cung gan chân chưa hình thành ngay từ lúc mới sinh và phát triển chậm trong suốt thời thơ ấu, thường hoàn thiện vào khoảng 5 hoặc 6 tuổi Một số trẻ có thể cần thời gian lâu hơn để hình thành cung gan chân mà không gây đau đớn.

1.2.2 Cốt hóa xương của bàn chân và cổ chân

Trong quá trình phát triển bào thai, xương đốt bàn chân bắt đầu cốt hóa từ đầu xa, tiếp theo là khối xương bàn chân, và cuối cùng là đốt ngón chân gần và giữa Ở trẻ sơ sinh bình thường, quá trình cốt hóa diễn ra ở trung tâm của xương gót, xương sên và xương hộp, trong đó xương hộp có thể mất đến 3 tuần để hoàn tất quá trình cốt hóa.

Sự cốt hóa ở mặt bên xương chêm giữa bắt đầu khoảng tháng 4 đến và tháng

Sau sinh 20 tháng, xương chêm bắt đầu cốt hóa vào khoảng 2 tuổi, trong khi phần giữa xương chêm cốt hóa ở độ tuổi 3 Xương ghe sẽ cốt hóa từ 2 đến 5 tuổi Đối với chỏm xương gót, quá trình cốt hóa diễn ra từ 4 đến 6 tuổi ở nữ và từ 5 đến 7 tuổi ở nam.

1.2.3 Sự khác biệt giữa bàn chân của người trưởng thành và trẻ mới sinh 11

Bảng 1.1: Sự khác biệt bàn chân của trẻ sơ sinh và người trưởng thành

Bàn chân Trẻ mới sinhsơ sinh Người trưởng thành

Cung gan chân Mỏng hơn, ít định hình hơn

Thường định hình rõ trừ trong bàn chân bẹt

Tầm vận động khớp ở người trưởng thành có sự khác biệt rõ rệt, với tầm vận động lớn hơn thường gặp ở những người có lượng mô mỡ dưới da ít hơn Trong khi đó, tầm vận động nhỏ hơn thường đi kèm với lượng mô mỡ nhiều hơn Điểm cuối của tầm vận động có thể được xác định là mềm và kín đáo, hoặc cứng và rõ ràng, tùy thuộc vào từng trường hợp cụ thể.

Formatted: Font: Bold Formatted: Centered

Thăm khám lâm sàng trẻ sơ sinh phát hiện dị tật hệ vận động

Thăm khám và đánh giá phát hiện dị tật ở trẻ sơ sinh là một thách thức lớn đối với bác sĩ phục hồi chức năng nhi khoa và nhân viên y tế Việc xác định hệ vận động bình thường ở độ tuổi này rất khó khăn, do đó cần có quy trình thăm khám tỉ mỉ Quy trình này bao gồm việc hỏi kỹ về tiền sử mẹ mang thai, thời gian mang thai, tiền sử sinh và tiền sử gia đình để tránh bỏ sót chẩn đoán Trẻ cần được khám trong môi trường sạch sẽ, ấm áp và ánh sáng dịu nhẹ, nằm ngửa để thực hiện khám toàn trạng, đánh giá sự cân đối cơ thể, cũng như cấu trúc và chức năng tâm thần vận động nhằm phát hiện các dị tật bẩm sinh và bệnh lý tiềm ẩn.

Những biến đổi dạng bàn chân chức năng ở trẻ sơ sinh 1 Cơ chế bệnh sinh5 1.5 Các dị tật bẩm sinh cổ bàn chân hay gặp

Tư thế trong tử cung và thói quen sinh hoạt của trẻ là nguyên nhân chính gây ra biến dạng cổ bàn chân ở trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ Trước khi sinh, trẻ thường có hai háng gấp và xoay ngoài, khớp gối gấp, và bàn chân xoay vào trong Một số tư thế khi ngủ và ngồi trong thời kỳ nhũ nhi có thể tạo ra lực tác động lên chân đang phát triển, ngăn cản khả năng tự điều chỉnh của cổ bàn chân và dẫn đến tình trạng tăng biến dạng xoắn vặn.

Biến dạng chức năng cổ - bàn chân chức năng đƣợc phân làm 3 nhóm:

- Biến dạng chức năng theo vị trí tƣ thế

- Biến dạng về hình học (kích thước)

- Biến dạng chức năng về giải phẫu do có sự xuất hiện của xương vừng ở cổ bàn chân

Biến dạng chức năng có thể xuất hiện ở trẻ em khỏe mạnh, vì vậy việc khám và phát hiện sớm là rất quan trọng Mục tiêu chính của quá trình này là giúp cha mẹ giải tỏa những lo lắng không cần thiết về sức khỏe của con mình.

Formatted: Font: (Default) Times New Roman,

Formatted: Font: (Default) Times New Roman,

Biến dạng bàn chân chức năng có thể tự điều chỉnh một cách tự nhiên hoặc thông qua các biện pháp điều trị cơ bản hiệu quả.

1.5 Các dị tật bẩm sinh cổ bàn chân hay gặp

1.5.1 Bàn chân khoèo (Club foot, congenital talipes equinovarus)

Hình 1.2 Bàn chân khoèo bẩm sinh 2 bên 14 1.5.1.1 Định nghĩa và Hh ình thái học bàn chân khoèo 15 , 16

Bàn chân khoèo có đặc điểm là phần trước và giữa bàn chân khép và nghiêng vào trong, tạo hình dáng giống như thuổng với lòng bàn chân gập lại Mép ngoài của bàn chân cong, có nếp lằn da rõ ràng sau gót và phần giữa bàn chân Khoảng cách giữa mắt cá trong và xương ghe không thể sờ thấy, đồng thời ngón chân cái cũng ngắn hơn, khiến cho việc dùng tay để đưa bàn chân về vị trí trung gian trở nên khó khăn.

Chân khoèo không phải là dị tật bẩm sinh mà là biến dạng trong quá trình phát triển Bàn chân bắt đầu hình thành từ tuần thứ 9 của thai kỳ, khi chồi chi hướng thẳng theo trục cơ thể Trong giai đoạn đầu, hai lòng bàn chân thường đối diện nhau, nhưng từ tuần thứ 14, hai chân bắt đầu xoay vào trong và hình thành hoàn chỉnh Siêu âm có thể phát hiện chân khoèo từ tuần thứ 17, với thời điểm trung bình là khoảng tuần thứ 22 – 23 của thai kỳ.

1.5.1.2 Nguyên nhân, sinh bệnh học và dịch tễ học bàn chân khoèo

Hippocrates là người đầu tiên cho rằng dị tật bàn chân khoèo xuất phát từ áp lực bất thường trong tử cung của mẹ trong thời gian mang thai Các nghiên cứu hiện nay cho thấy rằng tỷ lệ trẻ trai mắc bàn chân khoèo vô căn cao hơn, đặc biệt là ở những trẻ là con đầu lòng.

Nghiên cứu về bàn chân khoèo chỉ ra rằng các yếu tố nguy cơ cao bao gồm: bố hoặc mẹ hút thuốc lá, mẹ béo phì, tiền sử gia đình có bàn chân khoèo, chọc ối, tiếp xúc với thuốc ức chế tái hấp thu serotonin, mẹ đơn thân và tiểu đường thai kỳ Ngoài ra, một số yếu tố ngoại lai như mức oxy thấp trong máu, nhiễm virus, nhiễm vi sinh vật, loạn sản tủy, bại não, bệnh khớp, bệnh thần kinh cơ, bất thường nhiễm sắc thể và hội chứng Larsen cũng có thể ảnh hưởng đến biến dạng bàn chân khoèo.

Boo và cộng sựvà CS (1990) tại bệnh vệ sản Kuala Lumpur báo cáo

Khoảng 4,5/1000 trẻ em mắc tật bàn chân khoèo, trong đó 31,5% bị khoèo ở một chân Tỉ lệ này có mối liên hệ chặt chẽ với cân nặng thấp sau sinh, với pP< 0,001 Nghiên cứu của Asuquo và cộng sự cũng đã báo cáo về tỉ lệ chân khoèo hai bên.

Tần suất phát hiện dị tật bàn chân khoèo bẩm sinh ở trẻ sơ sinh tại các quốc gia có thu nhập trung bình và thấp là từ 0,5 đến 2 trên 1000 trẻ sơ sinh sống, theo số liệu năm 2017.

Việt Nam chưa có báo cáo thống kê cụ thể về tần suất xuất hiện của bàn chân khoèo, tuy nhiên, Viện Nhi Trung Ương ghi nhận mỗi năm có khoảng 70 – 100 trẻ em mắc dị tật này đến khám và điều trị tại khoa PHCN Theo số liệu của bệnh viện Từ Dũ năm 2010, tần suất xuất hiện bàn chân khoèo bẩm sinh là 0,1% trong số trẻ sơ sinh sống Một nghiên cứu dịch tễ học tại thành phố Hồ Chí Minh năm 2012 cho thấy bàn chân khoèo gặp ở 63% nam giới.

Formatted: Space Before: 3 pt, After: 0 pt,

Bàn chân khoèo xuất hiện ở cả hai bên chân mà không phân biệt giới tính, và tỷ lệ này đạt 50% Nguy cơ mắc phải tình trạng này cao hơn ở những bà mẹ trẻ dưới 25 tuổi, đặc biệt là khi có ngôi mông.

1.5.1.3 Các mức độ biến dạng Phân độ nặng của bàn chân khoèo và can thiệp

Hiện nay, thang điểm Pirani, cùng với biến thể cải biên của nó và thang Dimeglio, đang được sử dụng phổ biến để đánh giá mức độ nặng của bàn chân khoèo cũng như hiệu quả của các can thiệp điều trị Việc đánh giá mức độ biến dạng bàn chân khoèo thông qua thang điểm Pirani là rất quan trọng trong việc theo dõi tiến triển của bệnh nhân.

Tính điểm trên sáu dấu hiệu lâm sàng

- Độ cong của bờ ngoài bàn chân

- Nếp gấp ở mặt trong bàn chân

- Mức độ che phủ đầu xương sên

- Nếp gấp phía sau gót chân

- Độ cứng của nhón gót

- Dấu hiệu không thấy gót

0 : Bình thường 0,5 : Bất thường vừa 1 : Bất thường nặng

Điểm số ở phần giữa bàn chân (Midfoot Score) được xác định dựa trên ba dấu hiệu đặc trưng của bàn chân giữa, nhằm đánh giá mức độ biến dạng Điểm số này có thể dao động từ 0 đến 3.

Formatted: Space Before: 3 pt, Line spacing:

Formatted: Indent: Left: 0.83", Space Before:

3 pt, Line spacing: Multiple 1.45 li

Formatted: Indent: Left: 0.29", Space Before:

3 pt, Line spacing: Multiple 1.45 li

Formatted: Space Before: 3 pt, Line spacing:

Hình 1.3: Tính điểm ở phần giữa bàn chân giữa (MS) theo thang điểm

Tính điểm ở phần sau bàn chân sau (HS: Hindfoot Score): Dựa trên

3 dấu hiệu đặc điểm ở bàn chân sau (HS: Hindfoot Score), điểm đƣợc tính từ

0 đến 3 Độ cong của bờ ngoài bàn chân (A) Nếp gấp ở mặt trong bàn chân (B)

Mức độ che phủ đầu xương sên (C)

Nếp gấp phía sau (D) Độ cứng của nhón gót (E)

Phương pháp Ponsetti đã được công nhận là hiệu quả và phổ biến trong điều trị bàn chân khoèo trên toàn thế giới Hình 1.4 minh họa cách tính điểm phần sau bàn chân theo thang điểm Pirani.

Kết quả can thiệp bàn chân khoèo theo Phương pháp Ponseti tại Việt Nam được công bố lần đầu tiên vào năm 2007 bởi tác giả Võ Quang Đình Nam Trong luận án tiến sĩ y khoa năm 2015, tác giả cũng ghi nhận tỷ lệ thành công cao, với 75% kết quả tốt, 22% trung bình và chỉ 3% kết quả không đạt yêu cầu.

Hình 1.5: Áp dụng thang điểm Pirani điều trị bàn chân khoèo 32

Biến dạng bàn chân khoèo áp dụng phương pháp Ponseti

Sửa đƣợc Không sửa đƣợc

Nẹp dang Phác đồ thay đổi

Tái phát Sửa đƣợc Không sửa đƣợc

Chỉnh sửa bằng bó bột và phẫu thuật chuyển gân chày trước Đề kháng

1.5.2 Bàn chân bẹt (Flat foot, Flanovalgus foot defoermity)

Hình 1.6: Bàn chân bẹt linh động 34

1.5.2.1 Định nghĩa và hình thái học bàn chân bẹt

Bàn chân trước khép

1.6.1 Lâm sàng bàn chân trước khép Định nghĩa và hình thái bàn chân trước khép (Metatarsus Adductus, Forefoot Adductus, Hooked forefoot)

Bàn chân trước khép có hình dạng giống hạt đậu với bờ ngoài cong lồi và ngón 1 lệch vào trong, trong khi cử động khớp cổ chân và phần sau bàn chân vẫn bình thường Để chẩn đoán và phân loại tình trạng này, nhiều phương pháp lâm sàng như nghiệm pháp ngón tay chữ V, in bàn chân, và siêu âm đã được áp dụng Tuy nhiên, hiện nay vẫn thiếu các nghiên cứu khẳng định độ tin cậy và giá trị của những phương pháp này, đặc biệt là cho trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ.

1.6.1.1 Nghiệm pháp ngón tay chữ V 2

Nghiệm pháp ngón tay chữ V là một phương pháp sàng lọc hiệu quả để phát hiện bàn chân trước khép ở trẻ sơ sinh Đặc điểm của bàn chân trước khép là bờ ngoài không chạm vào ngón tay giữa, tạo ra khoảng cách giữa phần ngón chân và đầu ngón tay giữa Phương pháp này chỉ nên áp dụng cho trẻ từ sơ sinh đến 3 tháng tuổi, vì sau thời gian này, kích thước bàn chân trẻ thường lớn hơn, gây khó khăn trong việc thực hiện nghiệm pháp một cách chính xác.

Formatted: Font: (Default) Times New Roman,

Formatted: 4, Indent: First line: 0", Space

Formatted: Font: (Default) Times New Roman,

Hình 1.10: Nghiệm pháp ngón tay chữ V 2 1.6.1.2 Nghiệm pháp đường chia gót chân 2

Nghiệm pháp đường chia đôi góc chân được thực hiện bằng cách vẽ một đường thẳng qua chính giữa của góc chân, thường đi qua khe giữa đốt ngón hai và đốt ngón ba của bàn chân.

Nghiệm pháp này đánh giá được mức độ nặng của bàn chân trước khép

Formatted: Line spacing: Multiple 1.4 li

Hình 1.11 Nghiệm pháp đường giữa gót chân 2 1.6.1.3 In dấu bàn chân

Dấu bàn chân là phương pháp ghi lại hình ảnh bàn chân trẻ trên giấy sau khi tô màu, giúp đánh giá mức độ nặng và linh động của bàn chân Bản in này được thực hiện trong trạng thái tự nhiên của chân, sau khi đã kích thích và kéo giãn thụ động Bằng cách áp dụng đường chia đôi gót chân, chúng ta có thể phân loại bàn chân khép trước 74 một cách hiệu quả.

Để chẩn đoán mức độ nặng của bàn chân khép trước, Karami M và cộng sự (2018) đã sử dụng bản in bàn chân qua máy quét, sau đó phân loại theo giá trị MAS Giá trị MAS được tính bằng tỉ lệ giữa bề ngang của phần trước bàn chân và khoảng cách vuông góc từ phần trước bàn chân đến đường thẳng bờ ngoài gót chân (MAS = a/b) Mức độ nặng được phân chia như sau: MAS < 0,07 là bình thường, MAS trong khoảng (0,08; 0,13) là mức độ nhẹ, MAS trong khoảng (0,14; 0,17) là mức độ vừa, và MAS > 0,17 là mức độ nặng Giá trị MAS có độ tin cậy cao và không bị ảnh hưởng bởi ý kiến chủ quan, tuy nhiên, trẻ em cần đủ lớn và hợp tác để thực hiện phép đo này.

Hình 1.13: Hình scan bàn chân và cách tính MAS 75

1.6.1.4 Phân loại bàn chân trước khép bẩm sinh trên lâm sàng 76,77,78 o Phân loại bàn chân trước khép (BCTK) theo Bleck dựa vào đường chia đôi gót chân o Đường chia đôi gót chân bình thường nằm giữa ngón 2 và ngón 3 bàn chân (Hình 1.10)

 BCTK nhẹ: khi đường chia đôi gót đi qua ngón chân 3

 BCTK vừa: khi đường chia đôi gót đi qua vùng giữa ngón chân 3 và ngón 4

 BCTK nặng: khi đường chia đôi gót đi qua vùng giữa ngón 4 và ngón 5 o Phân loại bàn chân trước khép theo tính linh động hay đóng cứng của BCTK

 BCTK linh động: phần trước bàn chân linh động và có thể vận động thụ động hoặc chủ động dạng nghiêng ngoài quá đường giữa

 BCTK bán linh động: phần trước bàn chân bán linh động, có thể chỉnh thụ động dạng nghiêng ngoài quá đường giữa nhưng chủ động chỉ tới đường giữa

 BCTK đóng cứng: phần trước bàn chân đóng cứng không thể điều chỉnh chủ động và thụ động về đường giữa

Trong ba kiểu BCKNT bàn chân trước khép, tầm vận động của khớp cổ chân, phần gót chân và phần giữa bàn chân đều bình thường Phân loại BCTK được thực hiện theo bảng phân loại Berg.

Formatted: Indent: First line: 0", Tab stops:

Formatted: No bullets or numbering, Tab stops: 0.49", Left + Not at 0.69"

Formatted: Indent: First line: 0", Tab stops:

Bulleted + Level: 1 + Aligned at: 0.25" +Indent at: 0.5"

Bảng 1.2: Phân loại DTBS bàn chân khép trước khép theo bảng phân loại

Phân loại BCTK theo bảng phân loại Berg

BCTK đơn giản là tình trạng chỉ ảnh hưởng đến phần trước của bàn chân, trong khi phần giữa và phần sau không bị tổn thương Ngược lại, BCTK phức tạp không chỉ có phần trước khép mà còn có phần giữa bị lệch ra ngoài.

Phần trước khép, phần gót vẹo nghiêng trong

Bàn chân nghiêng lệch phức tạp (Skew foot phối hợp)

Phần trước khép, phần giữa lệch ngoài và phần gót vẹo nghiêng trong

Hầu hết các trường hợp bàn chân trước khép (BCTK) là dạng khép đơn thuần, trong khi các loại bàn chân trước khép khác rất hiếm gặp, chỉ xảy ra với tần suất từ 1 đến 3 ca trên 10.000 trẻ sơ sinh sống.

1.6.2 Chẩn đoán XQXQ bàn chân trước khép

Chụp XQ cổ bàn chân trong tư thế đứng tì chân là một phương pháp thăm khám cận lâm sàng có giá trị chẩn đoán cao, giúp tránh những yếu tố bất lợi như kích thước ảnh bàn chân không đúng thực tế hoặc hình ảnh bị biến dạng.

Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng bàn chân trước khép có vai trò quan trọng trong việc gây ra các tật bàn chân khác như ngón cái vẹo ngoài, gãy xương đốt bàn và các dị tật ở phần sau bàn chân.

Việc tính góc khép ở bàn chân trẻ em gặp khó khăn do sự cốt hóa chưa đầy đủ của các xương cổ bàn chân Trong khi xương ghe, xương gót và xương hộp đã cốt hóa ngay sau sinh, thì xương chêm ngoài cốt hóa từ 4 đến 20 tháng tuổi, xương chêm giữa cốt hóa lúc 2 tuổi và xương chêm trong cốt hóa lúc 3 tuổi Do đó, để thích nghi với tình trạng này, góc khép được xác định là góc giữa trục dọc của xương đốt bàn thứ tư và một cạnh khác.

Formatted: Indent: First line: 0.5" một cạnh là trục dọc của xương gót (với điều kiện là xương gót ở vị trí trung tâm không vẹo lệch) 81

Hình 1.14 Cách tính góc khép của bàn chân trên XQXQ 81

Góc khép của bàn chân trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ dưới 16 tháng bình thường dao động từ 20 đến 25 độ, trong khi góc khép của bàn chân trẻ lớn và người lớn chỉ từ 0 đến 15 độ Đối với trẻ lớn và người lớn, bàn chân trước được phân loại thành nhẹ, vừa và nặng với các góc khép lần lượt từ 15-20 độ, 21-25 độ và trên 25 độ Berg đã phân loại bàn chân khép trước thành 4 loại dựa trên vị trí xương hộp và góc sên – gót.

Bảng 1.3 Phân loại bàn chân trước khép theo phân loại Berg trên XQXQ 76

Loại Xương hộp Góc sên - gót

1 Bàn chân khép trước khép đơn thuầngiản

2 Bàn chân trước khép phức tạp Dạng Bình thường

3 Bàn chân nghiêng lệch (Skew foot) Bình thường >45 0

4 Bàn chân nghiêng lệch phức tạp (Skew foot phức tạp)

1.6.3 Siêu âm bàn chân trong chẩn đoán bàn chân trước khép 84

Siêu âm chẩn đoán mang lại lợi thế vượt trội so với chụp X-quang, vì nó cho phép đánh giá tình trạng mô mềm của bàn chân và thực hiện kiểm tra trong trạng thái động Đây là phương pháp can thiệp không xâm lấn và hoàn toàn an toàn cho trẻ.

Kỹ thuật siêu âm linh hoạt và không gây căng thẳng cho trẻ sơ sinh, cho phép trẻ được dỗ nín hoặc bú trong quá trình siêu âm Trẻ được đặt nằm sấp, với bàn chân được cố định bằng tay của người thực hiện siêu âm ở tư thế trung tâm hoặc tự phát Tần số siêu âm thường sử dụng là từ 5 đến 13 MHz, với độ rộng của bàn chân từ 30 đến 50 mm.

Phân loại bàn chân trước khép qua hình ảnh siêu âm 84

1.6.3.1 Bàn chân trước khép đơn thuầngiản

Các nghiên cứu về tần suất các dị tật cổ bàn chân tại Việt Nam

2.1 2.1 Đối tƣợng nghiên cứu Đối tƣợng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là 8192 trẻ sơ sinh mắc dị tật bẩm sinh cổ bàn chân, được phát hiện và chẩn đoán thông qua quá trình khám sàng lọc tại bệnh viện Phụ.

Sản Hà Nội ngày thứ 2, 32 – 5 sau sinh từ 01/3/2018 đến 31/07/2018

Nhóm trẻ đƣợc khám sàng lọc dị tật cổ bàn châ

Đối tượng nghiên cứu là trẻ sơ sinh được chẩn đoán mắc dị tật bẩm sinh bàn chân trước khép, được đánh giá và can thiệp điều trị lần đầu tại Bệnh viện Phụ sản Hà Nội, đồng thời sẽ được tái khám và can thiệp điều trị khi cần thiết tại bệnh viện này.

 Tiêu chuẩn chọn bệnh cho mục tiêu 1 của đề tài

Tất cả trẻ sơ sinh mắc dị tật bẩm sinh cổ bàn chân được phát hiện từ ngày 01/03/2018 đến 31/07/2018 đã được cha mẹ cho phép thăm khám và đánh giá thể trạng.

Formatted: Space Before: 6 pt Formatted: English (U.S.)

Formatted: Font: (Default) Times New Roman,

Formatted: List Paragraph, Indent: Left: 0",

Hanging: 0.39", Bulleted + Level: 1 + Aligned at: 0.64" + Indent at: 0.89"

Formatted: Font: (Default) Times New Roman,

Formatted: Font: (Default) Times New Roman,

Formatted: Font: (Default) Times New Roman,

Formatted: Font: (Default) Times New Roman,

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

BÀN LUẬN

Ngày đăng: 28/06/2021, 10:16

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Upasani VV, Chambers RC, Mubarak SJ. Analysis of calcaneonavicular coalitions using multi-planar three-dimensional computed tomography.J Child Orthop. 2008;2(4):301-307. doi:10.1007/s11832-008-0111-3 Sách, tạp chí
Tiêu đề: J Child Orthop
2. Connors JF, Wernick E, Lowy LJ, Falcone J, Volpe RG. Guidelines for evaluation and management of five common podopediatric conditions. J Am Podiatr Med Assoc. 1998;88(5):206-222. doi:10.7547/87507315-88- 5-206 Sách, tạp chí
Tiêu đề: J Am Podiatr Med Assoc
3. Wynne-Davies R, Littlejohn A, Gormley J. Aetiology and interrelationship of some common skeletal deformities. (Talipes equinovarus and calcaneovalgus, metatarsus varus, congenital dislocation of the hip, and infantile idiopathic scoliosis). Journal of Medical Genetics. 1982;19(5):321-328. doi:10.1136/jmg.19.5.321 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Journal of Medical Genetics
4. Chotigavanichaya C, Leurmsumran P, Eamsobhana P, Sanpakit S, Kaewpornsawan K. The incidence of common orthopaedic problems in newborn at Siriraj Hospital. J Med Assoc Thai. 2012;95 Suppl 9: S54-61 Sách, tạp chí
Tiêu đề: J Med Assoc Thai
5. Widhe T. Foot Deformities at Birth: A Longitudinal Prospective Study over a 16-Year Period. Journal of Pediatric Orthopaedics.1997;17(1):20–24 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Journal of Pediatric Orthopaedics
6. Mohamed RA. Metatarsus Adductus In Toddler: A Comparison Of Two Different Treatment Approaches. International Journal of Current Research. 2015;7:7 Sách, tạp chí
Tiêu đề: International Journal of Current Research
7. Fleischer AE, Stack R, Klein EE, Baker JR, Weil L, Weil LS. Forefoot Adduction is a Risk Factor for Jones Fracture. J Foot Ankle Surg.2017;56(5):917-921. doi:10.1053/j.jfas.2017.04.017 Sách, tạp chí
Tiêu đề: J Foot Ankle Surg

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w