Muốn làm được điều đó, cần phải có những nghiên cứu định lượng về sự tác động của cú sốc chính sách tiền tệ đến các yếu tố vĩ mô của nền kinh tế, làm nền tảng cơ sở khoa học cho các nhà
GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
Vấn đề nghiên cứu
Với đặc tính linh hoạt và khả năng ảnh hưởng sâu rộng đến tổng thể nền kinh tế, chính sách tiền tệ được xem là một công cụ có vai trò quan trọng hàng đầu trong hệ thống các công cụ điều tiết vĩ mô Trong khi chính sách tài khóa bộc lộ những hạn chế trong việc ổn định nền kinh tế bởi tính không kịp thời trong việc thực thi chính sách và vấn đề thâm hụt ngân sách, thì chính sách tiền tệ đã khẳng định được vị trí của mình trong việc điều tiết vĩ mô, đưa nền kinh tế vượt qua những cơn khủng hoảng tài chính toàn cầu, thúc đẩy tăng trưởng bền vững với mức lạm phát vừa phải Bởi lẽ đó, mà việc nghiên cứu về chính sách tiền tệ luôn tạo sức hấp dẫn đặc biệt cho các nhà nghiên cứu học thuật trên toàn thế giới
Năm 1995, Việt Nam tham gia vào cộng đồng Asean; năm 2007, Việt Nam chính thức trở thành thành viên của tổ chức thương mại thế giới WTO và mới đây nhất trong những ngày cuối năm 2015, Việt Nam gia nhập Hiệp Định Đối Tác Xuyên Thái Bình Dương – TPP Trong bối cảnh kinh tế thế giới diễn biến phức tạp và khó lường, nền kinh tế Việt Nam ngày càng hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế giới và gặp nhiều trở ngại, công tác điều hành chính sách tiền tệ trong những năm tới chắc chắn sẽ tiếp tục phải đối mặt với những khó khăn, thách thức Để điều tiết thành công nền kinh tế bằng chính sách tiền tệ, các nhà hoạch định chính sách cần phải nhận biết được cách thức mà chính sách tiền tệ tác động tới nền kinh tế; hay ảnh hưởng của cú sốc chính sách tiền tệ đến các yếu tố kinh tế vĩ mô
Xuất phát từ sự cần thiết kể trên, đề tài đã tiến hành nghiên cứu sự phản ứng của các yếu tố vĩ mô trước các cú sốc chính sách tiền tệ, thông qua việc mô hình hóa chính sách tiền tệ tại Việt Nam theo hướng tiếp cận SVAR, dựa vào mô hình nền kinh tế nhỏ mở của trường phái New Keynes Từ đây tạo được nền tảng khoa học cho một số vấn đề chính trong điều hành chính sách tiền tệ như: Đâu là ảnh hưởng thực sự của chính sách tiền tệ? Cơ chế truyền dẫn từ những mục tiêu chính sách đến các biến số thực của nền kinh tế là gì? Bên cạnh đó, đề tài cũng xem xét sự phản ứng của các yếu tố vĩ mô trước các cú sốc khác, đó là cú sốc trong tổng cầu, tổng cung và tỷ giá; để xác định xem cú sốc nào có tác động mạnh đến các yếu tố vĩ mô Trên cơ sở kết quả nghiên cứu, đề tài góp phần nâng cao tính hiệu quả cho các quyết định chính sách được đưa ra
Trong khi hầu hết các công trình nghiên cứu trước đây ở Việt Nam, thường chỉ phân tích chính sách tiền tệ trong mối quan hệ tương tác giữa các biến số vĩ mô mà không xem xét tới vai trò của nền tảng vi mô; đề tài đặt chính sách tiền tệ trong một mô hình thu nhỏ của nền kinh tế, nơi các chủ thể có khả năng tác động đến tình hình nền kinh tế thông qua sự kỳ vọng hợp lý của mình; từ đó tác giả tìm ra cơ chế truyền dẫn, cũng như mức độ ảnh hưởng của chính sách tiền tệ đến các yếu tố vĩ mô trong mối quan hệ tổng thể Điều này khá hợp lý cho trường hợp ở Việt Nam, khi mà yếu tố kỳ vọng đóng một vai trò không nhỏ trong việc chuyển hướng các mục tiêu chính sách ban đầu Cách thức nghiên cứu này nhằm hướng tới ước lượng các tham số cấu trúc sâu, các tham số không đổi trước sự biến đổi trong chính sách, mang lại những phân tích hiệu quả trong môi trường chính sách mới.
Mục tiêu nghiên cứu
Đề tài hướng tới các mục tiêu:
Tìm hiểu về cách phản ứng, mức độ phản ứng và thời gian phản ứng của các yếu tố vĩ mô trước các cú sốc trong chính sách tiền tệ, cùng với các cú sốc khác trong nền kinh tế
Lượng hóa mức độ ảnh hưởng, tầm quan trọng theo thời gian của mỗi cú sốc đối với sự biến động trong các yếu tố vĩ mô; cụ thể theo thời gian sản lượng, lạm phát, tỷ giá và lãi suất chịu ảnh hưởng bởi cú sốc nào là chủ yếu
Tìm hiểu xem có hay không sự ảnh hưởng của yếu tố kỳ vọng lên hành vi của các chủ thể kinh tế, đồng thời kiểm định về hiệu lực điều tiết vĩ mô của công cụ chính sách tiền tệ trong nền kinh tế Việt Nam Để đạt được các mục tiêu trên, đề tài xây dựng một mô hình nền kinh tế nhỏ mở của trường phái New Keynes theo cách tiếp cận SVAR, mô hình thể hiện sự tương tác giữa các cú sốc cấu trúc cùng với hành vi kỳ vọng của các chủ thể trong nền kinh tế Căn cứ vào mô hình SVAR ước lượng được, đề tài trả lời các câu hỏi:
Các yếu tố vĩ mô, bao gồm lỗ hổng sản lượng, lạm phát, tỷ giá hối đoái và lãi suất sẽ có phản ứng như thế nào khi có những cú sốc trong chính sách tiền tệ ?
Các yếu tố vĩ mô, bao gồm lỗ hổng sản lượng, lạm phát, tỷ giá hối đoái và lãi suất sẽ có phản ứng như thế nào khi có những cú sốc trong tỷ giá ?
Các yếu tố vĩ mô, bao gồm lỗ hổng sản lượng, lạm phát, tỷ giá hối đoái và lãi suất sẽ có phản ứng như thế nào khi có những cú sốc trong tổng cầu ?
Các yếu tố vĩ mô, bao gồm lỗ hổng sản lượng, lạm phát, tỷ giá hối đoái và lãi suất sẽ có phản ứng như thế nào khi có những cú sốc trong tổng cung ?
Trong các cú sốc: chính sách tiền tệ, tỷ giá hối đoái, tổng cầu và tổng cung, cú sốc nào giữ vai trò chủ đạo trong việc giải thích cho sự biến động trong các yếu tố vĩ mô (bao gồm lỗ hổng sản lượng, lạm phát, tỷ giá hối đoái và lãi suất) ?
Hệ số ước lượng của yếu tố kỳ vọng trong mô hình nghiên cứu có ý nghĩa thống kê hay không?
Câu trả lời cho những câu hỏi kể trên sẽ là cơ sở cho tác giả đưa ra các hàm ý chính sách.
Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là sự tác động của cú sốc chính sách tiền tệ đến các yếu tố vĩ mô, bên cạnh các cú sốc khác trong tổng cầu, tổng cung và tỷ giá, trên nền tảng các chủ thể trong nền kinh tế có kỳ vọng hợp lý và hướng về tương lai.
Phạm vi nghiên cứu
Đề tài thực hiện nghiên cứu cho trường hợp nền kinh tế Việt Nam, giai đoạn từ 1998Q1 đến 2015Q4 Các chuỗi số liệu được sử dụng trong đề tài bao gồm: lỗ hổng sản lượng (Sản lượng tiềm năng được tính bằng phương pháp lọc HP), tỷ giá hối đoái VND/USD, CPI của Việt Nam, lãi suất tiền gửi kỳ hạn 3 tháng của Việt Nam, chỉ số giá tiêu dùng của Mỹ, lãi suất quỹ liên bang Mỹ Dữ liệu được thu thập từ các nguồn: Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế (IMF-IFS), Ngân Hàng Phát Triển Châu Á (ADB), Tổng Cục Thống Kê (GSO), Hội Đồng Thống Đốc Cục Dự Trữ Liên Bang
Phương pháp nghiên cứu
Đề tài chọn mô hình nền kinh tế mở của trường phái New Keynes với hướng tiếp cận SVAR, đây là một mô hình nhận được nhiều sự quan tâm của giới nghiên cứu học thuật trong thời gian gần đây, bởi nó nhấn mạnh tới hành vi tối ưu hóa của các chủ thể kinh tế, cùng với đó là sự kết hợp của hiện tượng giá cả cứng nhắc Các mối quan hệ tổng hợp được sử dụng trong kết cấu của mô hình SVAR phát sinh từ mô hình cân bằng tổng thể động, nơi mà ngân hàng trung ương và các chủ thể kinh tế tư nhân được giả định là thực hiện hành vi hợp lý và có kỳ vọng hướng về tương lai Mô hình cấu trúc bao gồm: một phương trình tổng cầu (IS) dựa trên hành vi tối ưu hóa hữu dụng của các chủ thể, một phương trình tổng cung (AS) hay đường cong Phillips theo trường phái New Keynes dựa trên mô hình giá cả của Calvo (1983), một phương trình thể hiện sự cân bằng lãi suất không phòng ngừa và một phương trình thể hiện chính sách tiền tệ thực hiện theo nguyên tắc hướng về tương lai
Tác giả thiết lập một mô hình SVAR bằng cách gắn kết cấu trúc đồng thời theo mô hình của trường phái New Keynes với tính động ngắn hạn không bị giới hạn Ngân hàng trung ương và các chủ thể tư nhân được giả định là có nguồn thông tin như nhau trong khuôn mẫu hình thành nên kỳ vọng tương lai Để xác định mô hình SVAR dưới điều kiện kỳ vọng hợp lý, tác giả ước lượng tham số cấu trúc sâu theo phương pháp mà Keating (1990) đề xuất
Dựa vào kết quả ước lượng tham số cấu trúc đạt được, nhằm đo lường mức độ và thời gian phản ứng của các biến số trước các cú sốc thay đổi chính sách tiền tệ cũng như tầm quan trọng của từng cú sốc đến biến động của một biến trong mô hình, tác giả sử dụng 2 hàm chức năng chính, là hàm phản ứng đẩy và chức năng phân rã phương sai trong việc phân tích.
Ý nghĩa của đề tài
Đề tài nghiên cứu cơ chế truyền dẫn chính sách tiền tệ đến nền kinh tế - một chủ đề không mới nhưng luôn được quan tâm và không ngừng được khai thác, theo một phương pháp chưa phổ biến đối với trường hợp Việt Nam Bằng việc mô hình hóa nền kinh tế nhỏ mở dựa trên nền tảng lý thuyết kinh tế học rõ ràng, đề tài có những phân tích kỹ lưỡng về cách thức tác động của chính sách tiền tệ đến nền kinh tế trong mối tương quan giữa các yếu tố vĩ mô bên cạnh hành vi kỳ vọng của các chủ thể kinh tế Đề tài góp phần làm đa dạng thêm các nghiên cứu về chính sách tiền tệ cho nền kinh tế Việt Nam; qua đó giúp các nhà hoạch định chính sách có thêm cơ sở cho việc lựa chọn chính sách tiền tệ phù hợp trong từng giai đoạn; giúp các nhà đầu tư có những quyết định đúng đắn trước những thay đổi trong chính sách
Mục tiêu của chính sách tiền tệ là điều tiết các yếu tố vĩ mô như việc làm, lạm phát và sản lượng của nền kinh tế Trong khi các công cụ chính sách tiền tệ chỉ có ảnh hưởng gián tiếp đến các yếu tố vĩ mô, thì chúng lại có tác động trực tiếp và ngay lập tức tới thị trường tài chính Từ góc nhìn của nhà hoạch định chính sách, kết quả nghiên cứu của đề tài mang đến sự hiểu biết về mối quan hệ năng động giữa chính sách tiền tệ và thị trường tài chính, mà dựa vào đó các nhà hoạch định chính sách có thể đưa ra những chính sách tiền tệ làm ảnh hưởng lên thị trường tài chính để đạt được các mục tiêu kinh tế vĩ mô của mình Ngoài ra, từ góc nhìn của nhà đầu tư, kết quả định lượng của đề tài là cơ sở khoa học, giúp cho các nhà đầu tư gia tăng khả năng dự đoán thành công các hệ quả mà chính sách tiền tệ sẽ tác động đến nền kinh tế, qua đó giúp họ thực hiện được các giao dịch có lợi nhuận cao.
Kết cấu đề tài
Ngoài phần danh mục các hình và bảng biểu, tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận văn gồm 5 chương:
Chương 1: Giới thiệu đề tài
Vấn đề nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, đối tượng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, ý nghĩa của đề tài và kết cấu đề tài
Chương 2: Tổng quan khuôn khổ lý thuyết và các nghiên cứu thực nghiệm Trình bày nội dung chính của các mô hình lý thuyết kinh tế học chuẩn tắc liên quan tới chính sách tiền tệ trong nền kinh tế mở, cùng với giới thiệu tổng quan về các kênh truyền dẫn chính sách tiền tệ Bên cạnh đó, tóm lượt các nghiên cứu thực nghiệm trong và ngoài nước cho chủ để chính sách tiền tệ
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu và dữ liệu
Trình bày phương pháp định lượng và dữ liệu được sử dụng trong nghiên cứu
Chương 4: Kết quả nghiên cứu
Trình bày kết quả tham số ước lượng cho mô hình nghiên cứu, kết quả hàm phản ứng xung cho từng cú sốc và phân rã phương sai
Chương 5: Kết luận và hàm ý chính sách
Từ kết quả đã trình bày ở chương 4, chương 5 đưa ra kết luận và những nhận xét về các kết quả nghiên cứu, từ đó đề xuất các kiến nghị chính sách, đồng thời nêu lên hạn chế của đề tài.
TỔNG QUAN KHUÔN KHỔ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM
Khuôn khổ New Keynesian trong phân tích chính sách tiền tệ
Cách tiếp cận New Keyensian trong phân tích chính sách tiền tệ nổi lên trong những năm gần đây như một công cụ kinh tế lượng có tầm ảnh hưởng rộng lớn nhất
Nó cung cấp cho nhà nghiên cứu một khuôn khổ kết hợp giữa lý thuyết chu kỳ kinh tế (RBC) với các thành phần của trường phái Keynes như thị trường cạnh tranh không hoàn hảo và tính cứng nhắc trong giá cả danh nghĩa Khuôn khổ này cũng trở thành một nền tảng cho các phát triển mới trong việc mô hình hóa nền kinh tế tại các ngân hàng trung ương, và được sử dụng ngày càng nhiều cho mục đích ước lượng, cũng như dự báo
Trong các mô hình của trường phái New Keynes, những nội dung về thất bại thị trường và tính không linh hoạt của giá cả thuộc về trường phái Keynes, cùng với giả thuyết tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên, cũng như tính đề cao chính sách tiền tệ thuộc trường phái trọng tiền, khái niệm kỳ vọng hợp lý, tất cả được kết hợp lại tạo nên một khuôn khổ lý thuyết có nền tảng vi mô từ các mô hình chu kỳ kinh tế (RBC) Các nhà nghiên cứu sử dụng các mô hình New Keynesian trong việc việc phát triển các mô hình tiên tiến và đa dạng hơn, mà trong đó sự thất bại của thị trường được phát sinh bởi các cá nhân khi họ tìm cách tối đa hóa hữu dụng của mình (Chứ không đơn thuần là giả thuyết liên quan tới hành vi) với mục tiêu là đạt được những hiểu biết cần thiết để cải thiện sự bất hoàn hảo của thị trường và một phần thất bại thị trường trong chu kỳ kinh doanh
Một cách khái quát, các mô hình New Keynesian hướng tới xác định sâu rộng nền tảng kinh tế vi mô, thay vì chấp nhận chúng và chỉ xem xét các vấn đề vĩ mô như các mô hình Keynesian trước đó Theo Rotheim (1998), mô hình của trường phái New Keynes tập trung vào sự phản ứng của các chủ thể kinh tế trước những thay đổi trong các biến số danh nghĩa quan sát được từ sản lượng, thị trường vốn và thị trường lao động, chẳng hạn như sự dao động nguồn lực trong sản lượng và việc làm Một khía cạnh quan trọng trong các mô hình New Keynesian là khái niệm tính cứng nhắc của giá cả và tiền lương, theo Roberts (1995), “Giá cả cứng nhắc là một phần quan trọng của các mô hình tiền tệ theo chu kỳ kinh doanh Những năm gần đây, một sự đồng thuận trong giới nghiên cứu được hình thành xung quanh nền tảng vi mô của các mô hình về giá cả cứng nhắc, và sự đồng thuận này là một phần quan trọng trong nền kinh tế theo trường phái New Keynes” Để lý giải cho vấn đề giá cả cứng nhắc, trường phái New Keynes đã ứng dụng những thành tựu mới nhất trong kinh tế vĩ mô như lý thuyết về thị trường không hoàn hảo, thông tin không hoàn hảo hoặc những đặc điểm thể chế trên thị trường lao động như ảnh hưởng của nghiệp đoàn Trường phái New Keynes hiện nay đưa ra ba lý luận chính bao gồm: hợp đồng dài hạn, tiền công hiệu suất và chi phí thực đơn
Lý luận về hợp đồng lao động dài hạn: Giả thuyết này cho rằng để giữ lao động làm việc cho mình lâu dài, giới chủ thường ký những hợp đồng làm việc dài hạn Chính vì vậy mà lương theo hợp đồng không thể có sự điều chỉnh đột ngột Trong trường hợp có thay đổi hợp đồng, vì không thể tất cả các doanh nghiệp và các ngành trong nền kinh tế cùng thay đổi hợp đồng vào cùng một thời điểm, nên chỉ có một bộ phận lao động là được thay đổi tiền công Xét bình quân toàn nền kinh tế, thì tiền công vẫn không đổi
Lý luận về tiền công hiệu suất: Để khuyến khích lao động nhiệt tình và giữ lao động lành nghề, ngay cả trong thời điểm thất nghiệp phát sinh, giới chủ vẫn có thể không cắt giảm tiền công Khi mà tiền công không bị cắt giảm (cũng có nghĩa là giá cả lao động không hạ xuống), thì thất nghiệp (dư cung lao động) vẫn không được giải quyết, thị trường lao động vẫn mất cân bằng
Lý luận về chi phí thực đơn: Vì thị trường có tình trạng cạnh tranh không hoàn hảo, nên dù thị trường có biến động thì xí nghiệp chưa chắc đã thay đổi giá bán của mình Lý do là chi phí để điều chỉnh thông báo về giá bán (giống như chi phí in lại thực đơn) có thể cao hơn lợi ích mà xí nghiệp thu được do điều chỉnh giá
Hiện nay, các mô hình New Keynesian ngày càng đa dạng để phục vụ cho những mục đích nghiên cứu khác nhau, và trong đề tài “Ảnh hưởng của cú sốc chính sách tiền tệ đến các yếu tố vĩ mô của nền kinh tế Việt Nam”, tác giả sẽ sử dụng một mô hình New Keynesian đơn giản Mô hình này giả định nền kinh tế gồm có 3 thành phần: hộ gia đình, các doanh nghiệp và chính phủ (ngân hàng trung ương) Các thành phần kinh tế luôn tối đa hóa hàm mục tiêu của họ đi kèm với một số ràng buộc Mô hình cũng giả định hàng hóa khác biệt và cạnh tranh độc quyền, cho phép các doanh nghiệp định giá Một giả định xa hơn là việc điều chỉnh tính cứng nhắc của giá cả - chỉ có một tỷ lệ công ty nhất định có thể điều chỉnh giá theo từng thời kỳ, điều này làm cho chính sách tiền tệ sẽ không còn mang tính trung lập nữa Mô hình bao gồm ba phương trình cho trường hợp nền kinh tế đóng, gồm đường cong IS xác định sản lượng; đường cong Phillips xác định lạm phát; và quy tắc lãi suất xác định hành vi của chính sách tiền tệ Trong trường hợp nền kinh tế mở, mô hình có thêm phương trình thể hiện tỷ giá đồng nội tệ theo quy tắc cân bằng lãi suất không phòng ngừa
Mô hình New Keynesian nói chung có lý thuyết dễ dàng ứng dụng trong công việc nghiên cứu, tương ứng cấu trúc trong mô hình truyền thống IS/LM nhưng được bắt đầu xác định từ kinh tế vi mô với các yếu tố đại diện được tối ưu hóa Để tránh được những phê bình của Lucas – sự kỳ vọng là hợp lý và thay đổi theo những thay đổi trong chính sách Hơn nữa, mô hình này tập trung trên chính sách lãi suất, điều này thì ngược với truyền thống thường tập trung vào những thay đổi trong tiền tệ cơ sở Điều này phù hợp với thực tế hiện nay, bởi vì những nhà làm chính sách của ngân hàng trung ương tập trung chủ yếu vào sự thay đổi của lãi suất danh nghĩa mục tiêu liên ngân hàng qua đêm, và từ bỏ việc vận dụng tiền cơ sở tác động đến các chuyên gia giao dịch để đạt được những mục tiêu đó Chính sách tiền tệ trong mô hình này tác động đến sản lượng trực tiếp thông qua lãi suất thực và tác động gián tiếp đến lạm phát thông quan sản lượng Được xây dựng dựa trên một nền tảng lý thuyết rõ ràng, không chỉ kế thừa lý luận truyền thống mà còn xem xét cả những hiện tượng thực tế trên thị trường, mô hình New Keynesian đã được nhiều nhà nghiên cứu sử dụng trong việc phân tích chính sách tiền tệ trong nền kinh tế Có thể kể đến những nghiên cứu tiêu biểu như:
Gali và Monacelli (2005) thiết lập một mô hình tối ưu cho nền kinh tế nhỏ mở với giá cả có tính cứng nhắc (theo Calvo), và thể hiện cách thức để các quan hệ tổng thể động có thể được đơn giản hóa trong việc biểu diễn lạm phát nội địa, cũng như lỗ hổng sản lượng Các nhà nghiên cứu lần lượt sử dụng mô hình thiết lập được vào phân tích các tác động vĩ mô trong ba chế độ chính sách cho nền kinh tế nhỏ mở: chế độ thứ nhất có lạm phát nội địa dựa trên quy tắc Taylor, chế độ thứ hai có CPI dựa trên quy tắc Taylor và chế độ thứ ba có tỷ giá thả nổi có kiểm soát Nghiên cứu cho thấy điểm khác biệt chính giữa ba chế độ này nằm ở mức độ biến động tỷ giá hối đoái mà chúng đòi hỏi Nghiên cứu cũng thảo luận về một trường hợp đặc biệt, trong đó lạm phát mục tiêu hình thành nên chính sách tối ưu, nơi mà việc ước lượng xấp xỉ mức hữu dụng của người tiêu dùng có thể thực hiện và được sử dụng trong đo lường tổn thất phúc lợi liên quan tới các quy tắc tối ưu hóa
Soderstrom và các đồng sự (2005) cho rằng các nhà nghiên cứu thường sử dụng mô hình hiệu chỉnh bởi vì các giải pháp phân tích thường không có sẵn mô hình, nên cho dù số liệu là phù hợp thì cũng chưa chắc mô hình đó phù hợp để phân tích chính sách Do đó, mục đích của bài viết là kiểm tra xem mô hình New Keynesian có thể được hiệu chỉnh để phù hợp với các đặc thù của dữ liệu Mỹ Nhà nghiên cứu xem xét các quyết định của ngân hàng trung ương ảnh hưởng đến các đặc tính thời gian của lạm phát và lỗ hổng sản lượng như thế nào và cũng hiệu chỉnh mô hình để phù hợp với một số sự kiện biến động lớn trong nền kinh tế Mỹ Nghiên cứu đưa ra kết luận rằng quy tắc Taylor thật sự có một số lỗi trong ước tính và mô hình hiệu chỉnh theo Keynes cho ra kết quả hợp lý hơn với hành vi vi mô của các công ty thật sự có tác động đến chính sách tiền tệ hướng tới mục tiêu tương lai
Blanchard và Gali (2010) xây dựng một mô hình hữu ích dựa trên biến động giá danh nghĩa và thất nghiệp với những rào cản thị trường lao động, tiền lương thực tế cứng nhắc để giải thích biến động tỷ lệ thất nghiệp, những tác động của các cú sốc năng suất đến nền kinh tế, và vai trò của chính sách tiền tệ trong việc hình thành những hiệu ứng Kết quả cho thấy rằng, khi có sự hiện diên của giá cả cứng nhắc được thiết lập bởi các doanh nghiệp, ngân hàng trung ương phải đối mặt với việc cân bằng giữa lạm phát và ổn định tình trạng thất nghiệp Lạm phát và thất nghiệp phụ thuộc vào đặc điểm của thị trường lao động Điều này cho ngụ ý, tùy theo đặc điểm thị trường, ổn định lạm phát có thể không phải là chính sách tiền tệ tốt nhất Ổn định lạm phát nghiêm ngặt có thể dẫn đến biến động không thuận lợi và liên tục của tỷ lệ thất nghiệp trong phản ứng với những cú sốc năng suất
Hossein và Yazdan (2012) cho rằng thói quen tiêu dùng đã được sử dụng trong việc hình thành nên hình dạng cái bướu của đường sản lượng phản ứng trước các cú sốc chính sách tiền tệ trong nền kinh tế có giá cả cứng nhắc của trường phái New Keynes, thế nhưng lại có rất ít phân tích về sự tác động của thói quen (được xem xét như một yếu tố độc lập) lên chính sách tối ưu Vậy nên trong nghiên cứu của mình, Hossein và Yazdan cân nhắc tới sự ảnh hưởng của thói quen bên ngoài lên chính sách tiền tệ tối ưu, khi mà các thói quen này tồn tại ở mức độ giỏ hàng hóa tổng thể hoặc ở mức độ các hàng hóa đơn lẻ Nghiên cứu cho thấy những thói quen bên ngoài làm gia tăng thêm sự méo mó trong nền kinh tế, điều này ngụ ý sự cân bằng giá cả linh hoạt sẽ không còn hiệu quả nữa và chính sách đó phải đối mặt với vấn đề cân bằng giữa các yếu tố trong nền kinh tế, cũng như những lệch lạc tiềm năng Bên cạnh đó, nghiên cứu chỉ ra rằng hành vi tăng giá nội sinh, nổi bật khi yếu tố thói quen tồn tại sâu rộng trong tiêu dùng, cũng ảnh hưởng có ý nghĩa đến phản ứng của chính sách tối ưu trước những cú sốc, cũng như ảnh hướng đáng kể tới tính ổn định của các quy tắc đơn giản chuẩn Các nhà nghiên cứu đã thảo luận hàng loạt các bài học liên quan tới việc thiết kế và thực hiện chính sách tiền tệ mà chúng đã xuất hiện công trình nghiên cứu của trường phái New Keynes Những bài học này bao gồm lợi ích của giá cả ổn định, lợi ích về cam kết chính sách trong tương lai, tầm quan trọng của các biến tự nhiên như các tiêu chuẩn cho chính sách, và lợi ích của việc thiết lập một trường phái chống lạm phát đáng tin cậy.
Mô hình lý thuyết cơ sở Mundell Fleming trong phân tích nền kinh tế mở
Mô hình lý thuyết cơ sở tiêu biểu trong phân tích ảnh hưởng của chính sách tiền tệ lên tổng thể nền kinh tế là mô hình Mundell Fleming, do 2 nhà kinh tế học là Robert Mundell và John Marcus Fleming thiết lập, dựa trên các lý luận của trường phái Keynes truyền thống Mô hình kinh tế vĩ mô này sử dụng 3 đường IS, LM và BP để phân tích tác động của các chính sách kinh tế vĩ mô được thực hiện trong một nền kinh tế mở cửa Dù rằng mô hình lý thuyết Mundell Fleming ra đời cách nay đã nhiều năm, và có không ít lý thuyết mới ra đời sau đó, nhưng mô hình này vẫn giữ được vai trò quan trọng trong nghiên cứu chính sách Dựa trên mô hình Mundell Fleming, nhiều mô hình định lượng đã được xây dựng để đo lường mức độ tác động của chính sách, cũng như kiểm chứng chiều hướng tác động của chính sách trong thực tế so với lý thuyết Vì vậy, trước khi đi vào mô hình New Keynesian được sử dụng trong đề tài, tác giả sẽ trình bày những nội dung chính của mô hình Mundell Fleming về sự tác động của chính sách tiền tệ tới nền kinh tế mở, làm nền tảng lý thuyết cho các phân tích định lượng của đề tài.
2.2.1 Thị trường hàng hoá và đường IS
2.2.1.1 Khái niệm Đường IS là tập hợp các phối hợp khác nhau giữa lãi suất và sản lượng mà tại đó thị trường hàng hoá cân bằng Đường IS phản ánh tác động của lãi suất đến sản lượng cân bằng trên thị trường hàng hoá
2.2.1.2 Sự hình thành đường IS
Hàm tổng cung hàng hoá có dạng: AS = y
Hàm tổng cầu hàng hoá có dạng: AD = C + I + G + B
Hình 2.1: Đường IS phản ánh thị trường hàng hoá cân bằng
Với y là tổng thu nhập quốc gia, C là chi tiêu hộ gia đình, I là đầu tư, G là chi tiêu chính phủ ròng và B là xuất khẩu ròng trong tài khoản vãng lai của cán cân thương mại (B = Xuất khấu – Nhập khẩu)
Thị trường hàng hoá chỉ cân bằng khi sản lượng cung ứng (AS) đúng bằng tổng cầu dự kiến (AD) của nền kinh tế:
⇔ Tiết kiệm − I − B = G (2.1) Biểu thức trên được viết lại dưới dạng: b y + z r − h Q = G 0 (2.2) Với y là sản lượng, r là lãi suất, Q là tỷ giá hối đoái thực, G 0 là chi tiêu chính phủ b, z, h là các tham số hành vi, hệ số ước lượng chưa biết trong phương trình, tất cả có giá trị dương Thứ nhất, vế trái của phương trình (2.2) thể hiện sự phụ thuộc của yếu tố tiết kiệm và yếu tố nhập khẩu vào mức độ hoạt động của nền kinh tế; thứ hai, đó là mối quan hệ thuận chiều giữa lãi suất và giá trị ròng giữa tiết kiệm và đầu tư của khu vực tư nhân; và thứ ba, vế trái phương trình (2.2) cho thấy tài khoản vãng lai là một hàm của tỷ giá hối đoái thực Còn vế phải của phương trình là một biến ngoại sinh đại diện cho chính sách, biến G được cố định ở mức G 0
Phương trình (2.2) biểu diễn trạng thái cân bằng trong thị trường hàng hoá Nói cách khác, nó thể hiện mối quan hệ cần được duy trì giữa ba biến, y, r và Q, để không có tình trạng cầu hàng hoá, dịch vụ vượt quá mức Để việc phân tích được đơn giản, biến Q được gắn một giá trị cố định Q 0 , tức một mức tỷ giá cho trước; phương trình (2.2) được viết lại như sau: b y + z r = G 0 + h Q 0 (2.3)
Dễ dàng nhận thấy có rất nhiều sự kết hợp khả thi giữa y và r thoả mãn phương trình (2.3) Sau đây, một đồ thị có trục hoành là y, trục tung là r sẽ biểu diễn các kết hợp giữa y và r thoả mãn phương trình (2.3)
Với mức lãi suất là r 0 , để thị trường hàng hoá cân bằng, mức sản lượng sẽ là y 0 Hay hai giá trị y 0 và r 0 thoả phương trình: b y 0 + z r 0 = G 0 + h Q 0 (2.4)
Sự kết hợp (y 0 , r 0 ) xác định điểm A trên đồ thị Tương tự, với mức lãi suất là r 1 , để thị trường hàng hoá cân bằng, mức sản lượng sẽ là y 1 Hay hai giá trị y 1 và r 1 thoả phương trình: b y 1 + z r 1 = G 0 + h Q 0 (2.5)
Sự kết hợp (y 1 , r 1 ) xác định điểm B trên đồ thị Giả sử đường IS có dạng hàm tuyến tính, nối 2 điểm A, B, đường IS được thiết lập tại mức chi tiêu chính phủ G 0 và tỷ giá hối đoái Q 0
Tại mọi điểm nằm trên đường IS, thị trường hàng hoá cân bằng, AD = AS Những điểm nằm ngoài đường IS thể hiện thị trường hàng hoá không cân bằng, nền kinh tế sẽ tự điều chỉnh cho đến khi đạt trạng thái cân bằng Ví dụ, xét điểm C(y 0 , r 1 ) nằm bên trái và bên dưới đường IS Tại điểm B: với mức lãi suất r 1 thì sản lượng cân bằng là y 1 Nhưng tại điểm C, với lãi suất r 1 mà sản lượng y 0 thấp hơn sản lượng cân bằng y 1 thể hiện tổng cung nhỏ hơn tổng cầu, hàng hoá thiếu hụt Các doanh nghiệp phải tăng sản lượng cho tới khi bằng y 1 Như vậy nền kinh tế sẽ di chuyển từ điểm
C đến điểm B ∈ IS Đường IS thường dốc xuống về phía bên phải, điều này thể hiện mối quan hệ nghịch biến giữa lãi suất và sản lượng cân bằng; nghĩa là khi lãi suất giảm xuống, để cho thị trường hàng hoá tiếp tục cân bằng thì sản lượng phải tăng lên và ngược lại
Hình 2.2: Sự hình thành và dịch chuyển đường IS
2.2.1.3 Sự dịch chuyển đường IS Ở mục 2.2.1.2, tác giả đã trình bày cách thức hình thành đường IS với giá trị bên vế phải của phương trình (2.3) là G 0 + h Q 0 Câu hỏi đặt ra là, nếu vế phải của phương trình (2.3) thay đổi, đường cong IS sẽ thay đổi như thế nào? Có thể nhận thấy rằng, một sự gia tăng trong chi tiêu chính phủ ròng sẽ làm vế phải của phương trình (2.3) lớn hơn Tương tự một sự gia tăng tỷ giá hối đoái Q, với tham số h có giá trị dương, sẽ mở rộng thặng dư tài khoản vãng lai, vì hàng hoá trong nước trở nên rẻ tương đối, tức có tính cạnh tranh cao hơn hàng hoá nước ngoài, do đó làm vế phải của phương trình (2.3) tăng lên Một sự sụt giảm tỷ giá hối đoái sẽ làm giảm vế phải của phương trình (2.3) bằng cách làm hàng hoá trong nước ít tính cạnh tranh hơn Khi vế phải của phương trình (2.3) tăng, để duy trì sự cân bằng, vế trái của phương trình (2.3) cũng phải tăng Ví dụ, giả sử chi tiêu chính phủ tăng từ G 0 lên G 1 , hoặc tỷ giá hối đoái tăng từ Q 0 lên Q 1 , với mức lãi suất r 0 , để thị trường hàng hoá cân bằng, mức sản lượng sẽ là y 3 (lớn hơn y 0 ), tức 2 giá trị r 0 và y 3 thoả phương trình: b y 3 + z r 0 = G 1 + h Q 0 hoặc b y 3 + z r 0 = G 0 + h Q 1 (2.6)
Sự kết hợp (y 3 , r 0 ) xác định điểm A ′ trên đồ thị Tương tự, với mức lãi suất r 1 , để thị trường hàng hoá cân bằng, mức sản lượng sẽ là y 4 (lớn hơn y 1 ), tức 2 giá trị r 1 và y 4 thoả phương trình: b y 4 + z r 1 = G 1 + h Q 0 hoặc b y 4 + z r 1 = G 0 + h Q 1 (2.7)
Sự kết hợp (y 4 , r 1 ) xác định điểm B ′ trên đồ thị Nối 2 điểm A ′ và B ′ , đường IS mới được thiết lập Có thể kết luận rằng đường IS sẽ tịnh tiến sang phải khi có sự thay đổi theo chiều tăng trong chi tiêu chính phủ và trong tỷ giá hối đoái Một cách khái quát hơn, khi các thành phần trong tổng cầu tăng (ngoại trừ yếu tố nhập khẩu) thì đường
IS sẽ tịnh tiến sang phải
2.2.2 Thị trường tiền tệ và đường LM
2.2.2.1 Khái niệm Đường LM là tập hợp các tổ hợp khác nhau giữa lãi suất và sản lượng mà tại đó thị trường tiền tệ cân bằng, tương ứng với mức cung tiền tệ thực không đổi
2.2.2.2 Sự hình thành đường LM
Hàm tổng cung tiền tệ có dạng : S M = M S
Hàm tổng cầu tiền tệ có dạng : L M = M d
P = k y − l r k, l > 0 (2.9) Trong đó, M d là cầu tiền danh nghĩa, M s là cung tiền danh nghĩa, P là chỉ số giá tại một thời điểm, M d
P là cầu tiền thực; y là tổng thu nhập quốc gia thực, r là lãi suất; k và l là hai tham số dương
Biểu thức (2.9) thể hiện tổng cầu tiền tệ của nền kinh tế phụ thuộc vào các nhân tố chủ yếu là thu nhập quốc gia và lãi suất Về thu nhập quốc gia (y), khi sản lượng hay thu nhập quốc gia càng lớn, thì nhu cầu về tiền càng nhiều để đáp ứng cho những chi tiêu thông thường (giao dịch) và đặc biệt (dự phòng) cao hơn Tức cầu tiền cho quan hệ thuận chiều với thu nhập quốc gia Về lãi suất (r), khi giữ tiền, người nắm tiền phải chịu chi phí cơ hội của việc giữ tiền – đó là lãi suất bị mất đi khi giữ tài sản ở dạng tiền chứ không phải ở dạng tài sản sinh lời khác Bù lại, lợi ích của việc giữ tiền là rất thuận lợi, sẵn sàng thực hiện mọi giao dịch ở mọi lúc mọi nơi ta muốn, mà các tài sản khác không thể thực hiện được Khi lãi suất tăng, chi phí cơ hội của việc giữ tiền tăng, do đó làm giảm cầu tiền Hay cầu tiền có mối quan hệ ngược chiều với lãi suất Thị trường tiền tệ cân bằng chỉ khi tổng cung tiền tệ bằng tổng cầu tiền tệ: r y
Hình 2.3: Đường LM phản ánh thị trường tiền tệ cân bằng
Mô phỏng mô hình New Keynesian trong nền kinh tế nhỏ mở
Tác giả mô tả một nền kinh tế nhỏ mở theo mô hình của trường phái New Keynes, mô hình này phù hợp với hành vi tối ưu hóa liên thời gian của các chủ thể trong nền kinh tế Những mối quan hệ tổng thể được sử dụng cho việc phân tích nền kinh tế Việt Nam xuất phát từ khung lý thuyết cân bằng tổng thể động, nơi mà các chủ thể được giả định là có kỳ vọng hợp lý và hướng về tương lai Các mối liên hệ vĩ mô của nền kinh tế được mô tả bởi hệ phương trình gồm: Một phương trình tổng cầu
IS, một phương trình tổng cung AS (Hay một đường cong Phillips), một phương trình cân bằng lãi suất không phòng ngừa, và một phương trình thể hiện chính sách tiền tệ hướng về tương lai
2.3.1 Phương trình tổng cầu IS
Phương trình IS cho nền kinh tế mở được hình thành dựa trên cơ sở đặc điểm kĩ thuật của đường tổng cầu do McCallum và Nelson (1999, 2000) mô tả Một nền kinh tế nhỏ mở được hình thành bởi các hộ gia đình Trong đó, các hộ gia đình tối đa hóa giá trị hữu dụng kỳ vọng liên quan tới tiêu dùng và số dư tiền thực
Với σ > 0, γ > 0, σ ≠ 1, γ ≠ 1, và β ∈ (0,1) Biến tiêu dùng tổng hợp xuất hiện ở biểu thức (2.17) là một chỉ số được thiết lập bởi Dixit và Stiglitz (1977) :
C t = [∫ C 0 1 zt θ−1 θ ⁄ dz] θ θ−1 ⁄ (2.18) Với C zt là mức tiêu thụ hàng hóa z trong thời kỳ t của hộ gia đình và θ > 1 là độ co giãn theo giá của cầu đối với mỗi hàng hóa khác nhau Chỉ số giá là:
P t = [∫ P 0 1 zt 1−θ dz] 1 1−θ ⁄ (2.19) Với P zt là giá của hàng hóa z M t ⁄P t là lượng tiền thực được nắm giữ vào cuối kỳ, và
E t biểu diễn sự kỳ vọng được xác định dựa trên cơ sở các thông tin có sẵn trong thời kỳ t
Hàm sản xuất của hộ gia đình tuân theo đường cong chuyển đổi công nghệ (CES) cố định (liên quan tới lao động và các hàng hóa trung gian được nhập khẩu) và được biểu diễn như sau:
Y t = [α(A t N t ) + (1 − α)(IM t ) v ] 1 ⁄ v (2.20) Với α ∈ (0,1] và v ∈ (−∞, ∞) Trong biểu thức (2.20), Y t là tổng sản lượng hiện hành, A t là cú sốc công nghệ ngoại sinh được đưa vào hàm sản xuất của hộ gia đình,
N t là số lượng nhân công được thuê bởi hộ gia đình, và IM t là số lượng hàng hóa do nước ngoài sản xuất được mua bởi hộ gia đình mà chúng được sử dụng như một yếu tố đầu vào của quy trình sản xuất Mỗi hộ gia đình là một nhà sản xuất độc quyền, họ định ra mức giá bán hàng hóa do họ sản xuất P zt , trong khi đó mức giá tổng thể P t , tỷ giá hối đoái danh nghĩa S t , và mức giá nước ngoài P t ∗ được cho trước S t được biểu diễn là số đơn vị nội tệ trên mỗi đơn vị ngoại tệ và P t ∗ được xem là mức giá tính bằng ngoại tệ cho mỗi đơn vị hàng hóa nước ngoài Hộ gia đình đối mặt với cầu hàng hóa nội địa và cầu hàng hóa từ phần còn lại của thế giới (tức xuất khẩu ra nước ngoài) lần lượt được biểu diễn bởi D t và EX t Khi mà hộ gia đình không thể phân biệt giá giữa người mua nội địa và người mua nước ngoài, giá mà họ bán hàng hóa ra nước ngoài là P zt ⁄S t Tổng lượng hàng hóa xuất khẩu của nền kinh tế nội địa được giả định là không mấy đáng kể đối với mức tiêu dùng của người nước ngoài, và vì thế nên không có tác động đến chỉ số tiêu dùng của nền kinh tế quốc tế Đây là một cách mô tả nền kinh tế nhỏ mở trong nước
Nguồn lao động được cho là cố định giữa các quốc gia, và mỗi hộ gia đình trong mỗi thời kỳ thì có một đơn vị thời gian làm việc tiềm năng, điều đó có nghĩa là thị trường lao động nội địa không co giãn Các hộ gia đình trong mỗi quốc gia có quyền tham gia vào thị trường chứng khoán riêng, nơi các trái phiếu được định danh bởi các đơn vị sản lượng của chính quốc gia đó Các hộ gia đình nội địa có thể bán hoặc mua một trái phiếu nội địa, được biểu thị bởi B t , với giá (1 + r t ) −1 đơn vị sản lượng ở thời điểm t, và mua lại hoặc bán ra với giá 1 đơn vị sản lượng ở thời điểm t + 1, với r t đại diện cho lãi suất thực trong nước Người nước ngoài chỉ bán và mua một trái phiếu được định danh bằng đơn vị sản lượng của nước họ, được biểu thị bởi
B t+1 ∗ , họ có thể mua với giá (1 + r t ∗ ) −1 đơn vị sản lượng nước ngoài và bán lại với giá một đơn vị sản lượng nước ngoài sau một thời kỳ; các hộ gia đình nội địa cũng có thể mua trái phiếu nước ngoài Mức giá mà hộ gia đình cần trả để mua trái phiếu nước ngoài (Được biểu diễn bằng số đơn vị sản lượng nước ngoài) là
(1 + K t ) −1 (1 + r t ∗ ) −1 ; với r t ∗ là lãi suất thực nước ngoài và K t đại diện cho phần bù rủi ro ngẫu nhiên
Trong khi thực hiện tối đa hoá hữu dụng, các hộ gia đình phải tuân theo sự ràng buộc ngân sách được thể hiện qua biểu thức:
(1+K t )(1+r t ∗ ) (2.21) Với W t là tiền lương danh nghĩa, Q t ≡ (S t P t ∗ ⁄ ) là lãi suất thực, và NP t t s biểu thị cung lao động, TR t là toàn bộ tổng chuyển giao danh nghĩa 1
Qua các biến đổi toán học cơ bản, tác giả có được phương trình tổng cầu IS, được xây dựng dựa trên hành vi tối đa hoá giá trị hữu dùng kỳ vọng của các hộ gia đình (được biểu diễn bởi biểu thức (2.17)), tuân theo những ràng buộc về hàm sản xuất cũng như giới hạn trong ngân sách (được biểu diễn bởi biểu thức (2.20) và (2.21)): x t = α 0 + E t x t+1 − α 1 (i t − E t π t+1 ) + α 2 (s t + p t ∗ − p t ) + ε t x (2.22)
Với x t = y t − 𝑦̅ 𝑡 là lỗ hổng sản lượng, y t là sản lượng thực, 𝑦̅ 𝑡 là sản lượng tiềm năng; i t là lãi suất ngắn hạn danh nghĩa; π t là tỷ lệ lạm phát; s t là tỷ giá hối đoái – số nội tệ trên một đơn vị ngoại tệ; p t là chỉ số giá; E t là giá trị kỳ vọng dựa trên các thông tin có sẵn của các chủ thể kinh tế tại thời điểm t
Phương trình (2.22) là một đường cong IS của nền kinh tế mở hướng về tương lai, nó mô tả tổng cầu của nền kinh tế; với ε t x được diễn giải như một cú sốc tổng cầu
1 Chi chuyển giao là khoản tiền mà chính phủ chi cho một đối tượng nào đó mà không cần có hàng hoá và dịch vụ đối ứng, gồm chi trợ cấp thất nghiệp, trợ cấp học bổng,…Đây là cách thức mà chính phủ thực hiện phân phối lại thu nhập, giúp cân bằng xã hội. đến nền kinh tế Điểm khác biệt chính của phương trình (2.22) so với đường cong IS truyền thống là sự phụ thuộc của mức sản lượng hiện tại vào mức sản lượng tương lai được kỳ vọng Giá trị E t x t+1 được thêm vào, làm gia tăng mức sản lượng của kỳ hiện tại khi giá trị kỳ vọng của mức sản lượng tương lai cao hơn, bởi vì người tiêu dùng muốn đạt được danh mục tiêu dùng cân bằng Người tiêu dùng dự đoán trước một mức tiêu dùng cao hơn trong kỳ kế tiếp bởi vì sản lượng kỳ vọng cao hơn, điều này khiến cho người tiêu dùng tiêu dùng nhiều hơn trong hôm nay để làm bằng phẳng đường tiêu dùng liên thời gian Lãi suất thực tác động lên sản lượng hiện tại theo chiều âm, phản ánh sự thay thế tiêu dùng liên thời gian Một sự gia tăng trong giá trị tỷ giá hối đoái được kỳ vọng là làm tăng sản lượng hiện tại thông qua hiệu ứng chuyển đổi chi tiêu
2.3.2 Phương trình tổng cung AS
Chủ đề chính của khung lý thuyết New Keynesian liên quan tới việc điều chỉnh giá cả là để kết hợp tính cứng nhắc danh nghĩa và hành vi tối ưu hóa của các doanh nghiệp, từ đó sinh ra lạm phát động hướng về tương lai Đường cong Phillips theo trường phái New Keynes xuất phát từ mô hình thiết lập giá danh nghĩa của Calvo
(1983) được biểu diễn như sau: π t = β 0 + β 1 E t π t+1 + β 2 x t + ε t π (2.23)
Trong mỗi thời kỳ, một phần nhỏ các công ty cạnh tranh độc quyền được phép điều chỉnh giá của họ theo một xác suất nhất định (1 − 𝜔); khoảng thời gian giữa các lần điều chỉnh giá là 1 (1 − 𝜔)⁄ Vì thế 𝜔 đo lường mức độ cứng nhắc trong giá cả trong nền kinh tế Mỗi doanh nghiệp thiết lập mức giá một cách tối ưu bằng cách tối thiểu hàm số bình phương lỗ, hàm số này phụ thuộc vào sự khác biệt giữa mức giá thực của doanh nghiệp trong thời kỳ t với mức giá tối ưu của doanh nghiệp ε t π là một phần nhiễu ngẫu nhiên, nó mô tả những thành phần của mức giá tối ưu khác với tổng sản lượng và mức giá ε t π cao hơn ngụ ý các doanh nghiệp điều chỉnh hướng lên mức giá thực để tối thiểu chi phí điều chỉnh, vì thế ε t π được xem như một cú sốc lạm phát Một điểm khác biệt chính của phương trình (2.23) so với đường cong Phillips chuẩn là lạm phát tương lai kỳ vọng, E t π t+1 , được thêm vào để thay thế cho lạm phát hiện tại kỳ vọng, E t−1 π t
2.3.3 Phương trình cân bằng lãi suất không phòng ngừa
Một đặc tính chuẩn trong hầu hết các mô hình nền kinh tế mở là có đưa vào sự cân bằng lãi suất không phòng ngừa Định nghĩa lãi suất nước ngoài thực như sau: π t ∗ = i t ∗ − E t π t+1 ∗ , với i t ∗ là lãi suất nước ngoài danh nghĩa và π t+1 ∗ = p t+1 ∗ − p t ∗ là mức lạm phát nước ngoài Phương trình cân bằng lãi suất không phòng ngừa có dạng như sau: s t = E t s t+1 − (i t − i t ∗ ) + ε t s (2.24)
Phần bù rủi ro liên thời gian ε t s = K t phản ánh điểm đến tạm thời từ cân bằng lãi suất không phòng ngừa
2.3.4 Phương trình quy tắc chính sách tiền tệ hướng về tương lai
Mô hình dùng trong bài nghiên cứu này được tác giả hoàn thành với việc đưa vào quy tắc chính sách tiền tệ hướng về tương lai như sau: i t = γ 0 + π t + γ 1 (E t π t+1 − π T ) + γ 2 x t + ε t i (2.25)
Với π T là mức lạm phát mục tiêu và ε t i biểu thị cú sốc chính sách tiền tệ Taylor
Tổng quan về các kênh truyền dẫn chính sách tiền tệ
Chính sách tiền tệ được xem là hệ thống các quy tắc và hành động của ngân hàng trung ương nhằm đạt được một số mục tiêu kinh tế nhất định Thông qua các công cụ chính sách truyền dẫn qua các kênh và tác động đến sản lượng, giá cả trong nền kinh tế Ở hầu hết các nước công nghiệp có thị trường tài chính phát triển, đặc biệt là những nước đang theo đuổi khuôn khổ lạm phát mục tiêu, công cụ phổ biến nhất của chính sách tiền tệ là lãi suất Việc thay đổi lãi suất điều hành của ngân hàng trung ương sẽ tác động đến sản lượng và giá cả theo bốn kênh chủ yếu: kênh lãi suất thị trường, kênh tỷ giá, kênh tín dụng và kênh thị trường tài sản
2.4.1 Các kênh truyền dẫn chính sách tiền tệ
Theo Mishkin (2006), chính sách tiền tệ mở rộng (M tăng) làm cho lãi suất thực giảm (ir giảm), có nghĩa là chi phí vốn được hạ xuống Sự sụt giảm trong lãi suất thực làm cho các doanh nghiệp tăng chi tiêu về đầu tư (I tăng) và người tiêu dùng cũng tăng chi tiêu về nhà ở và các khoản chi phí lâu dài, đó cũng được xem như chi tiêu đầu tư Sự gia tăng chi tiêu đầu tư lần lượt dẫn đến sự gia tăng tổng cầu và tăng sản lượng (Y tăng) Các nhà kinh tế đã nhấn mạnh vai trò của lãi suất trong việc phản ứng trước những thay đổi của chính sách tiền tệ cũng như trong việc tác động tới các hoạt động kinh tế thực Ngoài ra Taylor (1995) nghiên cứu cho thấy có bằng chứng tin cậy lãi suất tác động lên chi tiêu đầu tư và tiêu dùng
Những nghiên cứu cho thấy lãi suất thực tác động lên chi tiêu chứ không phải là lãi suất danh nghĩa đã tạo nên một cơ chế quan trọng về việc chính sách tiền tệ có thể kích thích nền kinh tế, ngay cả khi lãi suất danh nghĩa về mức bằng 0 trong giai đoạn giảm phát Với lãi suất danh nghĩa bằng 0, sự mở rộng trong cung tiền có thể làm tăng mức giá kỳ vọng (P e tăng) làm cho lạm phát tăng (π e tăng), do đó lãi suất thực giảm (ir giảm) ngay cả khi lãi suất danh nghĩa giữ ở mức bằng 0 Cơ chế được thể hiện như sau:
Cơ chế này lý giải tại sao chính sách tiền tệ vẫn có hiệu lực thậm chí khi lãi suất danh nghĩa bằng 0 Những bằng chứng thực tế cho thấy, sau khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008, Mỹ duy trì lãi suất danh nghĩa rất thấp gần bằng 0 một thời gian dài, và tăng cung tiền nhằm kích thích nền kinh tế tăng trưởng và đã đạt kết quả tích cực
Theo Mishkin (2006), chính sách tiền tệ mở rộng làm lãi suất thực trong nước giảm Do đó, tài sản được tính bằng nội tệ trở nên kém hấp dẫn hơn so với các tài sản bằng ngoại tệ, dẫn đến sự mất giá của đồng nội tệ Sự mất giá của đồng nội tệ làm cho hàng hóa trong nước tương đối rẻ hơn so với hàng hóa nước ngoài, do đó làm cho xuất khẩu ròng tăng (NX tăng) và dẫn đến sản lượng tăng
Ngoài ra biến động tỷ giá hối đoái còn ảnh hưởng đến giá trị tài sản được xác định bằng ngoại tệ trên bảng cân đối kế toán của các chủ thể kinh tế như các ngân hàng, chính phủ, cá nhân, doanh nghiệp,…Do đó các chủ thể này sẽ dựa vào xu hướng biến động tỷ giá để ra quyết đinh chi tiêu Ở những quốc gia theo chế độ tỷ giá cố định, chính sách tiền tệ có thể tác động lên tỷ giá thực thông qua biến động giá cả trong nước từ đó sẽ ảnh hưởng đến xuất khẩu ròng và sản lượng Tuy nhiên mức độ ảnh hưởng và thời gian tác động tương đối thấp và chậm Với những nền kinh tế nhỏ và mở kèm theo một chế độ tỷ giá linh hoạt, với hiệu quả truyền dẫn tương đối cao, kênh tỷ giá được đánh giá là kênh truyền dẫn đặc biệt quan trọng, nó không chỉ tác động đến tổng cầu mà còn tác động tới tổng cung Hơn nữa, nếu các tài sản trong nước và nước ngoài không hoàn toàn thay thế cho nhau, thì vẫn có sự chênh lệch lãi suất trong nước và quốc tế Vì vậy, nếu tỷ giá danh nghĩa cố định thì chính sách tiền tệ vẫn có thể tác động đến tỷ giá thực thông qua mức giá
Cơ chế truyền dẫn qua kênh tỷ giá được tóm tắt như sau:
M ↑ → ir ↓ → giá trị đồng nội tệ ↓ → NX ↑ → Y ↑
Kênh này tập trung vào các vấn đề phát sinh từ các thông tin bất đối xứng và các ràng buộc tốn kém của các hợp đồng giữa người cho vay và đi vay trong thị trường tài chính Kênh tín dụng hoạt động thông qua hai kênh chính, đó là kênh tín dụng ngân hàng và kênh bảng cân đối kế toán
Thứ nhất, kênh tín dụng ngân hàng phát triển cùng với sự phát triển của thị trường tài chính, vai trò trung gian của các ngân hàng ngày càng quan trọng, là cầu nối giữa người đi vay và người cho vay Kênh tín dụng đặc biệt quan trọng với những doanh nghiệp nhỏ không đủ khả năng tìm nguồn vốn cho mình bằng cách phát hành cổ phiếu và trái phiếu Khi thắt chặt chính sách tiền tệ, cung tiền giảm dẫn đến việc giảm khả năng tiếp cận nguồn vốn của các doanh nghiệp, do đó làm giảm đầu tư và cuối cùng là sụt giảm trong tổng cầu Ở các nước có thị trường tín dụng tư nhân kém phát triển hoặc sự can thiệp của chính phủ, tác động của chính sách tiền tệ đến tổng cầu thông qua việc thay đổi khối lượng tín dụng còn lớn hơn là thông qua lãi suất Khi các điều kiện tiền tệ bị thắt chặt, các ngân hàng không muốn chỉ dựa vào việc tăng lãi suất để hạn chế khối lượng tín dụng đầu tư vào các dự án rủi ro, chính điều này làm giảm cung tín dụng Mô tả truyền dẫn chính sách tiền tệ qua kênh tín dụng như sau: M ↑ → Tiền gửi ↑ → Cho vay ↑ → I ↑ → Y ↑
Thứ hai, kênh bảng cân đối kế toán hoạt động thông qua giá trị thực của công ty, với những ảnh hưởng của các lựa chọn bất lợi và rủi ro đạo đức Sự suy giảm trong giá trị ròng của công ty hàm ý người chủ sở hữu đang có ít vốn chủ sở hữu hơn, điều này có thể khuyến khích họ đưa ra quyết định đầu tư rủi ro và làm cho người cho vay (Ngân hàng / tổ chức tín dụng) gánh chịu nhiều rủi ro hơn Kết quả là ngân hàng sẽ hạn chế cho vay chi đầu tư, vì vậy chi tiêu đầu tư của doanh nghiệp giảm (Theo Mishkin, 2006) Một chính sách tiền tệ thắt chặt sẽ dẫn đến sự sụt giảm trong giá cổ phần làm giảm giá trị ròng các doanh nghiệp, dẫn tới vấn đề của lựa chọn bất lợi và rủi ro đạo đức kết quả là ngân hàng thận trọng hơn khi cho doanh nghiệp vay, vì cho vay đối với chi đầu tư giảm Ngoài ra, Mishkin còn nói, khi giảm lãi suất danh nghĩa, chính sách tiên tệ làm cải thiện bảng tổng kết tài sản của doanh nghiệp, vì làm tăng dòng tiền Sự gia tăng trong tiền mặt góp phần cải thiện bảng tổng kết tài sản vì giúp tăng thanh khoản của doanh nghiệp Từ việc tìm hiểu thông tin về người đi vay tốt hơn và giảm vấn đề lựa chọn tiêu cực và rủi ro đạo đức, tổng quy mô cho vay sẽ tăng tốt hơn Cơ chế truyền dẫn tiền tệ theo kênh khác của bảng cân đối kế toán như sau:
M ↑ → i ↓ → dòng tiền ↑ → lựa chọn đối nghịch và rủi ro đạo đức ↓ → Cho vay ↑
2.4.1.4 Kênh thị trường tài sản
Kênh thị trường tài sản bao gồm 2 bộ phận chính: tỷ số Tobin’s Q và hiệu ứng giàu có (wealth effects) Tobin’s Q là sự mở rộng của lí thuyết về đầu tư, trong đó:
Q = Giá trị vốn hóa thị trường Chi phí sử dụng vốn thay thế Nếu tỷ số Q cao thì các doanh nghiệp sẽ gia tăng đầu tư vì chi phí vốn biên tế sẽ có xu hướng giảm dần Ngược lại, khi Q có giá trị thấp thì họ sẽ cắt giảm đầu tư Một chính sách tiền tệ mở rộng sẽ làm gia tăng giá trị của tỷ số Q Bởi vì, việc lãi suất thị trường có xu hướng giảm sẽ dẫn đến việc đầu tư vào các sản phẩm tài chính thay thế khác trở nên kém hấp dẫn, hoặc cũng có thể là vì người dân nắm giữ nhiều tiền hơn và họ sẽ có xu hướng sử dụng số tiền này vào việc đầu tư nhiều hơn vào cổ phiếu của các công ty Giá cổ phiếu tăng (làm tăng giá trị vốn hóa thị trường) nghĩa là Q tăng và đồng thời đầu tư cũng gia tăng
Hiệu ứng giàu có (wealth effects) là một thành phần của kênh thị trường tài sản, nổi lên khá mạnh mẽ trong thời kì bùng nổ của thị trường chứng khoán và sự sụp đổ của nó vào thời kì 1999-2000 Sự gia tăng cung tiền kéo theo tăng giá cổ phiếu sẽ làm gia tăng sự giàu có của các hộ gia đình và dẫn đến các cá nhân sẽ chi tiêu nhiều hơn Trường hợp này cũng có nghĩa một mức cầu cổ phiếu tăng cao sẽ làm giá tăng giá trị của các công ty, cho phép các công ty này vay mượn cũng như chi tiêu nhiều hơn Nhà kinh tế học Mishkin đã chỉ ra rằng: một trong những điểm quan trọng nhất của hiệu ứng giàu có là đến từ thị trường bất động sản Một mức lãi suất thấp đồng nghĩa với việc lãi suất thế chấp sẽ thấp hơn và điều này đến lượt nó sẽ làm gia tăng cầu về nhà ở và đẩy giá nhà đất lên cao Bởi vì thường thì tài sản lớn nhất mà các hộ gia đình nắm giữ là nhà của họ nên kênh truyền dẫn này có vai trò rất quan trọng thông qua việc hình thành hiệu ứng giàu có
Sự hoạt động của kênh truyền dẫn này được khái quát qua sơ đồ sau :
M ↑ → Pe↑ → sự giàu có của người dân ↑ → tiêu dùng ↑ → sản lượng (Y) ↑
2.4.2 Mối liên hệ giữa nguyên tắc chính sách tiền tệ với cơ chế truyền dẫn
Chính sách tiền tệ là một công cụ để ngân hàng trung ương tác động đến thị trường nhằm đạt được những mục tiêu kinh tế nhất định, có thể là ổn định giá cả, hay nhằm toàn dụng lao động, hoặc đảm bảo trạng thái hệ thống tài chính ổn định
Những thay đổi trong chính sách tiền tệ bắt nguồn từ việc nền kinh tế phản ứng trở lại với các cú sốc bên trong và bên ngoài, điều này gây sức ép lên người làm chính sách vì họ thường phải đảm bảo nền kinh tế đạt được những mục tiêu nhất định Ngân hàng trung ương thực hiện thay đổi chính sách qua điều chỉnh các công cụ cơ bản của mình, có thể điều chỉnh lãi suất ngắn hạn, cung tiền, cung tín dụng hay tỷ giá
Cơ chế truyền dẫn chính sách tiền tệ qua các kênh khác nhau có mức độ và thời gian khác nhau, do đó việc nhận dạng được các kênh truyền dẫn này là điều đặc biệt quan trọng vì nó quyết định đến tính hiệu quả của việc thiết lập các công cụ chính sách
Các nghiên cứu thực nghiệm về cơ chế truyền dẫn chính sách tiền tệ
Cơ chế truyền dẫn chính sách tiền tệ là một nội dung quan trọng trong phân tích chính sách tiền tệ, là quá trình mà chính sách tiền tệ ảnh hưởng đến các yếu tố vĩ mô trọng yếu như tổng tiêu dùng, giá cả, đầu tư và sản lượng Giới học thuật trên thế giới nói chung và trong nước Việt Nam nói riêng đã có không ít các nghiên cứu về cơ chế truyền dẫn chính sách tiền tệ, bởi sự hiểu biết về cơ chế đó có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong điều hành chính sách cũng như các quyết định đầu tư, tài chính
Hình 2.12: Mối liên hệ giữa nguyên tắc chính sách và cơ chế truyền dẫn
2.5.1 Các nghiên cứu nước ngoài
Mala Raghavan và Param Silvapulle (2008) sử dụng mô hình SVAR để nghiên cứu các khuôn khổ chính sách tiền tệ của một nền kinh tế nhỏ mở Malaysia Nghiên cứu quan tâm đến phản ứng của nền kinh tế năng động đối với cung tiền, lãi suất, tỷ giá và các cú sốc nước ngoài Sau cuộc khủng hoảng tài chính vào tháng 7/1997, Malaysia đã áp dụng chế độ tỷ giá cố định vào tháng 9/1998 Nghiên cứu tìm hiểu cơ chế truyền dẫn chính sách tiền tệ ở Malaysia đã thay đổi trong thời kỳ hậu khủng hoảng bằng cách phân tích cường độ các phản ứng của các biến trong nước đối với những cú sốc tiền tệ khác nhau Các kết quả thực nghiệm cho thấy sự khác biệt đáng chú ý: (1) Trong kỳ trước khủng hoảng cú sốc chính sách tiền tệ, tỷ giá hối đoái ảnh hưởng đáng kể đến sản lượng, giá cả, lãi suất và tỷ giá hối đoái; và (2) Trong thời kỳ hậu khủng hoảng chỉ có những cú sốc tiên tệ có ảnh hưởng mạnh hơn đến sản lượng Hơn nữa, chính sách tiền tệ trong nước dễ bị tổn thương hơn trước những cú sốc nước ngoài đặc biệt là các cú sốc giá hàng hoá thế giới và sốc sản lượng trong giai đoạn hậu khủng hoảng Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra cuộc khủng hoảng đã thay đổi vài trò của các kênh truyền dẫn chính sách tiền tệ ở Malaysia
Pagan, Catão và Laxton (2008) xây dựng một mô hình cấu trúc kết hợp các tính năng quan trọng của sự truyền dẫn tiền tệ trong nền kinh tế thị trường mới nổi điển hình, bao gồm một kênh ngân hàng-tín dụng và vai trò của sự tích lũy nợ nước ngoài trên phí bảo hiểm rủi ro quốc gia, cùng với tính động của tỷ giá hối đoái Pagan, Catão và Laxton sử dụng mô hình SVAR để nghiên cứu sự truyền dẫn chính sách tiền tệ ở Brazil Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng sự thay đổi lãi suất có tác động đến sản lượng và lạm phát ở Brazil mau lẹ hơn so với các nền kinh tế tiên tiến, đồng thời tính động của tỷ giá hối đoái đóng một vai trò quan trọng trong sự kết nối này Quan trọng hơn, phản ứng của lạm phát đối với cú sốc trong chính sách tiền tệ đã phát triển mạnh mẽ hơn và sự cân bằng giữa sản lượng - lạm phát được cải thiện kể từ khi lạm phát mục tiêu được thiết lập
Ncube và Ndou (2011) nghiên cứu sự ảnh hưởng của chính sách tiền tệ đến các biến số thực qua các kênh gián tiếp, tập trung vào sự truyền dẫn của chính sách tới tiêu dùng Nghiên cứu cho thấy tầm quan trọng của yếu tố lãi suất thông qua kênh tài sản nhà và kênh tín dụng tác động lên chi tiêu thực Trước một chính sách tiền tệ thắt chặt, khi mà lãi suất gia tăng thì tiêu dùng nhà ở suy giảm, nhất là đối với nhà ở có diện tích lớn Như vậy, chính sách tiền tệ thắt chặt có thể làm suy yếu áp lực lạm phát phát sinh từ tiêu dùng quá mức thông qua kênh tài sản nhà và kênh tín dụng
Acosta-Ormaechea và Coble (2011) thực hiện nghiên cứu so sánh sự truyền dẫn chính sách tiền tệ trong các nền kinh tế có hiện tượng đô la hóa (Peru và Uruguay) và các nền kinh tế không có hiện tượng đô la hóa (Chile và New Zealand) Kết quả cho thấy kênh lãi suất truyền thống đóng vai trò quan trọng ở Chile và New Zealand, trong khi kênh tỷ giá hối đoái lại giữ vị trí trọng yếu hơn trong việc kiểm soát lạm phát ở Peru và Uruguay Kết quả nghiên cứu cũng chỉ ra rằng quá trình làm giảm sự lệ thuộc vào đồng đô la ở Peru và Uruguay làm mạnh dần sự truyền dẫn chính sách tiền tệ qua kênh lãi suất
Leu (2011) xây dựng mô hình SVAR theo hướng tiếp cận của trường phái New
Keynes cho nền kinh tế Úc giai đoạn từ năm 1984 đến năm 2009, nhằm phân tích tác động của chính sách tiền tệ đến các biến số vĩ mô trong mối quan hệ tổng thể của nền kinh tế Bên cạnh việc nghiên cứu sự ảnh hường của cú sốc trong chính sách tiền tệ thông qua lãi suất, Leu còn xem xét tới các cú sốc khác Đó là cú sốc tổng cầu dựa vào mô hình tối đa hóa hữu dụng của chủ thể tư nhân; cú sốc tổng cung dựa vào đường cong Keynes Phillips mới; cú sốc tỷ giá theo điều kiện cân bằng lãi suất theo tỷ giá kỳ vọng Cấu trúc đồng thời của mô hình SVAR mà Leu xây dựng được hình thành dựa trên mô hình nền kinh tế nhỏ mở, nơi mà các chủ thể kinh tế có kỳ vọng hợp lý và hướng tới tối ưu hóa hữu dụng kỳ vọng Kết quả nghiên cứu cho thấy:
Một cú sốc chính sách tiền tệ dương có tác động thu hẹp đáng kể sản lượng và lạm phát Lãi suất trong nước tương đối cao gây ra tác động gia tăng tỷ giá hối đoái
Trong trường hợp có một cú sốc dương trong phần bù rủi ro lên việc nắm giữ đồng nội tệ, tỷ giá hối đoái giảm và ngân hàng trung ương gia tăng lãi suất nhằm phản ứng với sản lượng và lạm phát cao hơn Mặc dù tỷ giá hối đoái danh nghĩa không được cân nhắc rõ ràng trong quy tắc chính sách tiền tệ, nhưng sự biến động tỷ giá hối đoái lớn có thể gây tác động xấu gián tiếp lên sản lượng thực
Trước một cú sốc dương trong tổng cầu, sản lượng và lạm phát gia tăng, ngân hàng trung ương thắt chặt chính sách cho phù hợp Điểm thú vị là, tỷ giá hối đoái gia tăng, điều này cho thấy cú sốc trong tổng cầu gắn liền với sự gia tăng trong lượng cầu từ nước ngoài đối với hàng hóa Úc
Một cú sốc ngược chiều trong tổng cung thể hiện một tình huống tiến thoái lưỡng nan cho các ngân hàng trung ương khi nền kinh tế trải qua tình trạng lạm phát Phân tích hàm phản ứng xung cho thấy ngân hàng trung ương không vội vàng trong hành động chính sách ở giai đoạn đầu của cú sốc Ngân hàng trung ương dần dần thực hiện tăng lãi suất danh nghĩa để chống lại áp lực lạm phát, nhưng cho phép các mức lãi suất thực giảm nhằm khắc phục lỗ hổng sản lượng bị âm Đây là bài nghiên cứu gốc mà tác giả áp dụng (phương pháp nghiên cứu) cho đề tài luận văn của mình
Bjornland (2011) phân tích cơ chế truyền dẫn chính sách tiền tệ trong nền kinh tế nhỏ mở Na Uy thông qua mô hình VAR Nhà nghiên cứu cho rằng một sự hiểu biết về cơ chế truyền tải chính sách tiền tệ là bắt buộc để thực hiện một chiến lược chính sách tiền tệ hiệu quả Đối với một nền kinh tế nhỏ mở, tỷ giá đóng một vai trò trung tâm trong mối quan hệ chính sách tiền tệ Nhiều nước khi theo đuổi lạm phát mục tiêu đã phải bỏ chế độ tỷ giá cố định và chuyển sang tỷ giá thả nổi Kết quả của Na
Uy cho thấy sự phụ thuộc lẫn nhau đáng kể giữa chính sách tiền tệ và tỷ giá hối đoái Đặc biệt, sau một cú sốc chính sách tiền tệ thắt chặt, tỷ giá hối đoái thực ngay lập tức tăng cao, sau đó dần dần giảm trở lại đường cơ sở Các kết quả tìm thấy được cho là phù hợp với các lý thuyết trước đó Đối với các biến khác, cú sốc chính sách tiền tệ làm giảm sản lượng và có tác dụng chậm chạp nhưng tiêu cực đến lạm phát giá tiêu dùng Khi so sánh với thời kỳ trước, sự biến động tỷ giá hối đoái đối với những cú sốc chính sách tiền tệ tăng lên trong giai đoạn lạm phát mục tiêu Bên cạnh đó, bằng cách bổ sung phân tích VAR cho giai đoạn lạm phát mục tiêu, nghiên cứu tìm thấy bằng chứng hỗ trợ thêm cho thực tế tỷ giá, cũng như giá cả tài sản khác, phản ứng ngay lập tức với tin tức tại thời điểm đó
Mohanty (2012) nghiên cứu về kênh truyền dẫn lãi suất ở Ấn Độ Bằng cách sử dụng mô hình SVAR và dữ liệu theo quý, nghiên cứu tìm thấy bằng chứng cho thấy chính sách tăng lãi suất có ảnh hưởng trái chiều đến tăng trưởng sản lượng với độ trễ 2 quý và tác động giảm nhẹ lạm phát với độ trễ 3 quý Thời gian đạt trạng thái cân bằng kéo dài khoảng 8-10 quý Kết quả này được xác định là có tính vững khi tác giả thay đổi nhiều thước đo khác nhau cho các biến số sản lượng, lạm phát và tính thanh khoản Thêm vào đó, mối quan hệ nhân quả không trực tiếp có ý nghĩa thống kê được tìm thấy từ chính sách lãi suất tác động lên sản lượng, lạm phát và các thước đo khác nhau của tính thanh khoản, ngoại trừ lượng tiền rộng (M3); điều này cho thấy vai trò của lãi suất như là một công cụ chính sách tiền tệ hữu hiệu
Bhuiyan (2012) xây dựng một mô hình BSVAR cho Bangladesh với mẫu hình một nền kinh tế nhỏ mở nhằm ước lượng sự ảnh hưởng của các cú sốc trong chính sách tiền tệ lên hàng loạt biến số vĩ mô Để gia tăng độ chính xác của việc nhận dạng mô hình, Bhuiyan cho phép các biến số vĩ mô trong mô hình tương tác đồng thời với nhau Kết quả của nghiên cứu cho thấy ảnh hưởng thanh khoản và ảnh hưởng tỷ giá của cú sốc trong chính sách tiền tệ được nhận biết ngay lập tức, trong khi sản lượng công nghiệp phản ứng với độ trễ nửa năm, và lạm phát thì phản ứng với độ trễ hơn một năm Bhuiyan cũng nhận thấy các cú sốc trong chính sách tiền tệ không phải là nguyên nhân chính tạo nên sự biến động trong sản lượng công nghiệp của Bangladesh
Vinayagathasan (2013) cố gắng xác định các chỉ số chính sách tiền tệ nhằm tìm lời giải thích tốt hơn cho cơ chế truyền dẫn chính sách tiền tệ ở Sri Lanka Nghiên cứu này cũng ước lượng xem những cú sốc xuất phát từ chính sách tiền tệ nước ngoài và giá dầu ảnh hưởng như thế nào đến các biến kinh tế vĩ mô trong nước Để thực hiện được điều đó, Vinayagathasan đã xây dựng một mô hình SVAR gồm 7 biến, từ dữ liệu chuỗi thời gian hàng tháng của Sri Lanka trong giai đoạn từ tháng 1 năm 1978 đến tháng 12 năm 2011 Hàm phản ứng đẩy và chức năng phân rã phương sai được nhà nghiên cứu sử dụng để mô tả mối quan hệ giữa các biến Kết quả thực nghiệm cho thấy rằng những cú sốc lãi suất đóng một vai trò quan trọng và giải thích sự chuyển động của các biến số kinh tế tốt hơn so với những cú sốc trong tổng lượng tiền hay các cú sốc trong tỷ giá hối đoái Đồng thời, nghiên cứu cho thấy khá rõ ràng rằng các cú sốc chính sách tiền tệ nước ngoài và các cú sốc giá dầu dường như không ảnh hưởng đến nền kinh tế trong nước